Phần 05-2/2 : Sau Tết

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p140

bằng cách phát động những cuộc tấn công vào Đà Nẵng như là một phần của giai đoạn thứ ba của việc lên kế hoạch cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân ban đầu. Các lực lượng Mỹ và QĐVNCH trong khu vực đã kiên trì, qua việc nghiền nát từng mỗi cuộc công kích một, tiếp tục một mô hình đều đặn của thắng lợi trên chiến trường mà qua đó tạo nên những hy vọng vươn lên xa hơn bao giờ hết của QĐVNCH.
Giữa cuộc chiến đấu khắp Quân đoàn I, Sư đoàn 1 QĐVNCH đóng một phần vai đáng kể, đặc biệt là trong sự phối hợp với ba lữ đoàn của Sư đoàn 1 Kỵ Binh Hoa Kỳ và những phần tử của Sư đoàn Dù 101. Những nhiệm vụ kết hợp của họ gồm hai phần: phản đối sự tiếp cận đổi mới của QĐBV đến vụ mùa thu hoạch lúa gạo của các vùng đồng bằng ở phía bắc thành phố Huế và tung ra những hoạt động tấn công vào trong các khu căn cứ còn lại của QĐBV ở những vùng cao nguyên. Sau khi vừa mới giao tranh qua ngày tết, các trận chiến ở Quảng Điền, và Chiến dịch Delaware, Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 1 của QĐVNCH hiện thời nhận lãnh một hoạt động khó khăn và dai dẳng nhất của nó cho đến nay, Chiến dịch Lam Sơn 225, một cuộc đột nhập năm tháng vào trong Khu Căn cứ 114 của QĐBV ở khu rừng nhiệt đới có ba tầng tán lá trong những vùng cao nguyên gồ ghề ở phía tây thành phố Huế.
Vào ngày 18 tháng Năm, những phần tử của Lữ đoàn 3 QĐVNCH, bao gồm 2/3 của anh Đính, và Kỵ Binh 1 của Hoa Kỳ, trận đánh công kích vào trong Khu Căn cứ 114 trong và xung quanh Bãi đáp Jose. Một lần nữa sau khi đã bắt gặp các lực lượng đối phương mất cảnh giác, những đơn vị liên minh càn quét qua một trụ sở trung đoàn từ bị từ bỏ vội vàng của QĐBV vốn được xây dựng bằng hàng trăm hầm trú và chứa nhiều tấn đạn dược và một mô hình của thành phố Huế. Những hoạt động tiếp tục chống lại chỉ là sự kháng cự lẻ tẻ cho đến ngày 12 tháng Sáu, khi 2/3 thực hiện cuộc chạm trán với những phần tử thuộc Trung đoàn 803 của QĐBV vốn là những người kiên quyết bảo vệ khu căn cứ chính của họ. Sau khi gọi đến những cuộc không kích và pháo binh, anh Đính và ông Bolt dẫn 2/3 qua ba ngày của một trận chiến mệt nhoài, qua việc chiến đấu từ hầm trú nầy đến hầm trú khác xuyên qua một hệ thống phức tạp, sử dụng những quả lựu đạn cá nhân để phá hủy các vị trí của đối phương từ cự ly gần. Cuộc chiến thắng đánh bắt được vô số thông tin tình báo và tịch thu các loại vũ khí và giải thích cho 26 quân địch bị giết với cái giá của 7 chiến hữu bị thiệt mạng trong nhiệm vụ và 22 người bị thương.31
Chiến dịch Lam Sơn 225 tiếp tục diễn ra trong tháng nầy đến tháng khác, với những người của 2/3(pc 11) đang rơi vào trong một nhịp điệu của những cuộc tuần tra liên tục, những cuộc phục kích và chiến đấu nẩy lửa khi họ lội qua địa hình khó khăn. Nhìn chung, các đơn vị của QĐVNCH(pc 01) duy trì một mô hình của một tháng trong nhiệm vụ, được theo sau bởi một ít ngày ở căn cứ trung đoàn PK-17 để trang bị lại trước khi trận chiến công kích trở lại vào trong Khu Căn cứ 114. Hoạt động xa khỏi từ bất kỳ sự hỗ trợ bằng đường bộ nào, các đơn vị của QĐVNCH và Hoa Kỳ phụ thuộc vào việc tái tiếp tế của trực thăng, mà qua đó đối với các đơn vị QĐVNCH thường là một lần mỗi tuần. Việc tiếp tế thêm, tuy thế, thường là một vấn đề hỗn loạn và ồn ào.

p141

Với một ít bãi đáp có sẵn giữa mớ rối mù của khu rừng nhiệt đới, các lực lượng của QĐVNCH và Hoa Kỳ thường sử dụng những chất nổ để làm tung mở ra những lỗ trống trong tán lá đủ lớn hầu cho phép những chiếc trực thăng đáp xuống. Những vụ nổ, được theo sau bởi sự xuất hiện của trực thăng, mau chóng gây sự chú ý của QĐBV, sau khi thực hiện những lần đặc biệt nguy hiểm về việc tiếp tế thêm và tải thương. Theo lời khuyên ông Bolt, anh Đính học cách giữ cho 2/3 tiếp tục di chuyển không ngừng, bằng cách gởi các đơn vị ra khỏi nơi đó vào trong vùng nông thôn theo những mô hình lá cỏ chia ba để tránh các cuộc tấn công bên hông và để lại những ổ mai phục hầu canh chừng chống lại bất kỳ cuộc tấn công tiềm năng nào từ phía sau.32
Khi các đơn vị cuối cùng của QĐVNCH rời khỏi khu vực, vào ngày 12 tháng Chín, điều đó rõ ràng là Chiến dịch Lam Sơn 225 đã là một thành công vang dội. Với cái giá của 74 người thiệt mạng, những tiểu đoàn của Lữ đoàn 3 QĐVNCH đã là lý do cho 373 cái chết của QĐBV và việc bắt giữ 185 cá nhân và 31 vũ khí dành cho một đội và đã phá hủy nhiều tấn quân nhu, bao gồm hai bệnh viện của QĐBV và hai đồn trú chỉ huy trung đoàn. Thời gian dài, bản chất gian khổ, và sự thành công của chiến dịch chứng tỏ khá ấn tượng đối với những lực lượng Mỹ được kết hợp với Sư đoàn 1 QĐVNCH và chứng minh những hiệu quả đáng khen ngợi về sự hợp tác liên minh tiếp tục; con đường phía trước ở Việt Nam dường như sáng rạng.33
Trong suốt thời gian Chiến dịch Lam Sơn 225, vị cố vấn của anh Đính, Joe Bolt, đạt đến cuối thời gian nghĩa vụ của mình với 2/3 của QĐVNCH. Tuy nhiên, chắc chắn rằng nơi của ông ta là trong chiến trường với một đơn vị chiến đấu, ông Bolt đã miễn cưỡng quay trở lại vị trí cố vấn viên. Sau khi kêu gọi ủng hộ và đưa ra một số đề nghị, ông Bolt nhận được sự mong ước của mình và vào tháng Sáu chuyển lên thay thế Jim Coolican như làm vị cố vấn cho đội Hắc Báo, trở thành người thứ hai làm cố vấn cho cả anh Đính và anh Huế trong trận chiến. Trong khi 2/3(pc 11) của anh Đính bị lôi cuốn trong một loạt các hoạt động liên tục ở những vùng cao nguyên, đội Hắc Báo, sau khi đóng vai trò của nó trong những hàng rào cản ở Quảng Điền, đã giao tranh những cuộc chạm súng riêng lẻ trên khắp mặt bắc của Quân đoàn I trong vai trò độc đáo của nó như là một lực lượng phản ứng nhanh nhẹnh.
Lúc đầu, những quan hệ giữa anh Huế và ông Bolt có phần nào căng thẳng, vì mỗi người quen thuộc hơn với nhịp độ hoạt động của đối tác tương ứng với mình trước đó của họ. Sau một ít ngày hoạt động, tuy thế, hai người trở thành một nhóm hoạt động phối hợp và là bạn bè một cách nhanh chóng. Ông Bolt kinh ngạc với nhịp độ hoạt động mới, nhanh hơn, mà ông ta tìm thấy nơi đội Hắc Báo, những hoạt động vốn có thể mang họ đến bất cứ nơi nào vào bất cứ lúc nào. Hai người cố gắng duy trì sự theo dõi sát trên các báo cáo tình báo của sư đoàn, nhận ra rằng những mệnh lệnh trực tiếp từ Tướng Tưởng cho việc làm của đội Hắc Báo thường theo sau những cuộc chạm súng lớn liên quan đến các đơn vị của QĐVNCH ở chiến trường hoặc những tìm thấy lớn lao của tình báo.

p142

Nơi mà qua đó sự thực tế về hoạt động của anh Đính đã phát triển nên một trạng thái y như nhau về tính chất tiêu hao đang mài mòn, đội Hắc Báo theo một thói quen ngưng nghĩ ngắn hạn bất ngờ hơn của những trận đánh ác liệt, không liên quan gì đến cả thời gian và không gian, những trận chiến vốn thường không biết đến tên gọi và không hiện ra trong những báo cáo hoạt động.
Sau khi nhận được cú gọi từ Tướng Trưởng, những người đàn ông sẽ phóng nước rút đến những chiếc trực thăng đang chờ đợi, riêng anh Huế thường hay muốn có dịp bước lên chiếc trực thăng của Không lực Việt Nam, vỗ vào bên hông chiếc máy bay già nua và nói lớn với ông Bolt, “Chúng ta đi thôi!” Có một lần, nhận được tin tình báo là một đại đội của QĐBV đang cư ngụ trên một trong những hòn đảo phòng ngự ở phía đông của thành phố Huế, trận chiến của đội Hắc Báo công kích lên bãi biển và càn quét qua hòn đảo nhưng không có sự chạm trán. Thất vọng bởi sự lảng tránh của đối phương, anh Huế và ông Bolt ngồi xuống phát họa một kế hoạch. Gần đó, anh Huế chú ý hai que cây trong đất đang di chuyển. Anh ta xông đến xem xét và kéo lên một chiến binh kinh hoảng của QĐBV từ một lỗ nhện. Hoạt động theo thông tin thu được từ một tù binh, đội Hắc Báo dồn ép đại đội ẩn giấu của QĐBV, giết chết 13 người và bắt được 25 tù binh.34
Đến tháng Bảy, đội Hắc Báo chuẩn bị sẵn sàng tham gia vào cuộc công kích khác vào A Shau trong sự đồng bộ với hai lữ đoàn thuộc binh chủng Nhảy Dù 101. Sau việc xây dựng trước tiên một vòng đai của các căn cứ yễm trợ hỏa lực nằm rải rác trên các vùng cao nguyên, vào ngày 4 tháng Tám, những người Mỹ, được hỗ trợ bởi hai tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 1 của QĐVNCH và đội Hắc Báo, trận chiến công kích vào trong những khu vực gần Bản Đông (A Loui) và Tà Bát. Một lần nữa, các lực lượng QĐBV chọn cách không đối kháng trong việc phòng thù trung tâm hậu cần của họ và thay vào đó là dựa vào những bãi mìn và bẫy sập để trì hoãn bước tiến của Hoa Kỳ / QĐVNCH. Khác xa là một A Shau chết chóc của lịch sử nhân gian –một khu vực không-nên-đến bị chiếm đóng bởi những lực lượng đối phương khi các đồng minh đứng nhìn một cách bất lực gần đó– một thung lũng nổi tiếng thực ra tạo nên vài cuộc chạm trán và rất ít theo cách của những lần tìm thấy hậu cần to lớn. Sau một vài tuần tìm kiếm không có kết quả, các lực lượng đồng minh ra khỏi A Shau vào ngày 20 tháng Tám, để lại phía sau những bãi mìn của riêng mình để cản trở bất kỳ cuộc trở lại nào của QĐBV.35
Khi thời tiết bắt đầu xấu đi (bao gồm sự xuất hiện của Cơn bão Bess vào đầu tháng Chín), mức độ giao tranh giảm xuống, mặc dù trọng tâm của Sư đoàn 1 QĐVNCH vẫn còn kiên quyết ở những vùng cao nguyên, và cả Trung đoàn 3 và đội Hắc Báo tham gia trong Chiến dịch Lam Sơn 265, một chiến dịch ba-giai-đoạn nhắm mục đích vào Khu Căn cứ 101 của QĐBV. Suốt mùa đông, những đơn vị của cả anh Đính và anh Huế săn bắt QĐBV ở những vùng cao nguyên rừng rú, thường là ở A Shau,36

p143

qua việc nhận lãnh những nhiệm vụ mà hiện nay bao gồm như là một vấn đề hợp tác chặt chẽ thường xuyên với các lực lượng Mỹ. Việc càn quét, tuy thế, mang lại chỉ là cuộc chạm súng lẻ tẻ,37 đối với ngay cả ở A Shau, QĐBV đã kéo lui đến Lào để hồi phục từ những thiệt hại khủng khiếp của năm trước. QĐBV(pc 03) đang tháo chạy, một kết quả đạt được trong phạm vi rộng lớn qua sự hợp tác liên minh –một bằng chứng cho sự thành công đạt được bởi một hệ thống cố vấn còn khiếm khuyết ở miền Nam Việt Nam.

c- Những người anh em trong quân ngũ :

Học hỏi để chấp nhận để đối phó tình hình bằng nổ lực cố vấn ở Việt Nam có thể được xem là phức tạp hơn so với sự hiểu biết về những thế mạnh và điểm yếu của cấu trúc của nó và chức năng của mối quan hệ giữa người cố vấn / đối tác trong cuộc chiến. Những vấn đề tương tác giữa những người trẻ Mỹ và Úc quá xa nhà và các đối tác Việt Nam của họ vốn là những người đang sống qua một đời của cuộc xung đột, đầy những nhược điểm, ganh tị, yêu thương và thù hận, những cảm xúc và thực tế được cường độ hóa bởi chiến tranh. Mặc dù những mối quan hệ cố vấn là vấn đề cá nhân dễ có xúc cảm mạnh mẽ, một cái nhìn thoáng vào trong những sự phức tạp về việc làm cách nào những vị cố vấn và đối tác của họ làm việc với nhau và sống cùng nhau từng ngày một ở tâm điểm của nổ lực chiến tranh của Hoa Kỳ / QĐVNCH là vấn đề truyền lại kiến thức về những khả năng có thể xảy ra trong thế giới thực tế, cả mặt tốt và xấu, vốn hình thành mối tương tác lợi ích lẫn nhau giữa Mỹ / QĐVNCH.
Sự hòa lẫn của các vị cố vấn vào trong những đơn vị mới của miền Nam Việt Nam của họ luôn luôn là một viễn ảnh khó khăn. Những sĩ quan của QĐVNCH không nhận được sự huấn luyện để chuẩn bị cho họ khi được cố vấn; những chuyện đến và đi liên tục của những người Mỹ, một số bộc trực và một số cảm thông, đơn giản chỉ là chuyện tự nhiên. Về phần của họ, trang bị chỉ với việc đào tạo cố vấn qua loa của họ và chỉ biết đủ về người Việt để cảm thấy vui thích giao tế xã hội, nhiều vị cố vấn Hoa Kỳ và Úc đi thẳng vào công việc được giao phó của họ ngay lập tức sau khi đến đất nước và buộc phải dựa vào trí thông minh của họ trong một quốc gia xa lạ giữa cuộc chiến tranh mà họ không thực sự hiểu nổi. Một số, tuy thế, thì đủ “may mắn” để nhận được sự chỉ dẫn tường tận thêm ở Việt Nam. Sau khi xuống máy bay tại Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhất bên ngoài Sài Gòn, Joe Bulong đã nhận được ba ngày hướng dẫn giới thiệu và “một túi đạn.” Việc hướng dẫn giới thiệu, tuy thế, chủ yếu bao gồm các bài giảng về những nguy hiểm hiển hiện về cơ thể vốn gắn liền với việc tiêu thụ thực phẩm Việt Nam và những mô tả đồ hình về các bệnh hoa liễu khác nhau bị nhiễm bởi những phụ nữ Việt Nam. Ông Bolt và người cận vệ của ông cảm thấy thất kinh về cái gì đó nằm phía trước mặt họ

p144

và tự hỏi làm cách nào họ có thể sống sót khi sống với và giữa những người Việt, ít sống còn nhiều hơn trong chiến tranh.
Sau khi đến đơn vị mới của mình, vị cố vấn tương lai đến tìm thấy thế giới là một cái gì đó mập mờ và thường phải đối mặt với một thách thức là làm một “tên nhóc con mới” vốn là người phải thay thế một bạn đồng hướng đáng tin cậy, có kinh nghiệm trong quân ngũ. Đối với các vị cố vấn, mọi thứ đều mới, từ ngôn ngữ đến sức nóng khủng khiếp, đến những phương pháp và phương thức hoạt động. Trong một tình trạng như thế, điều đó thường là phần giới thiệu cho chính trận chiến đấu vốn chứng minh là một kinh nghiệm gây cảm giác khó chịu nhất. Đại úy Russell Smith, thuộc Nhóm Huấn luyện của Quân đội Úc cho Việt Nam, nhớ lại rằng kinh nghiệm chiến đấu đầu tiên của anh ta xảy ra vào ngày thứ tư của ông ở trong đất nước nầy:

Khi tôi đứng trên đê ruộng kiểm nhận vị trí của chúng tôi, tôi đột nhiên cảm thấy rất lẻ loi. Khi nhìn xung quanh, tôi nhận thấy mọi người đã lên đường và không hiểu tại sao; Jack Morrison [một vị cố vấn hạ sĩ quan có kinh nghiệm vốn là người đã từng che chở cho anh Smith] “nói thầm” trong một tiếng gầm được nén lại, “Thưa ngài ! Những âm thanh mà ông đang nghe, là ông bị bắn và trong khi đứng lộ ra nơi đó, ông đang thu hút sự chú ý theo hướng của người chồng nhiều yêu quí của bà Morrison; và hãy ra khỏi nơi mẹ đéo đó hoặc nếu không bà ta có thể bắt đầu thích ông, Thưa ngài !”(pc 16) Đây là một trong những lần anh ta nhướng mắt về hướng thiên đường !! Tôi đã không nghe một điều gì cả !!38

Những vị cố vấn tìm thấy rằng những khu căn cứ của QĐVNCH thường thiếu những tiện nghi vật chất vốn kết hợp với những căn cứ của những người đồng nghiệp Mỹ hay Úc. Đại úy Wally Sheppard, thuộc Nhóm Huấn luyện của Quân đội cho Việt Nam, cảm thấy choáng váng bởi sự thiếu thốn những điều kiện thuận lợi thích nghi về trại căn cứ của QĐVNCH(pc 01) như nhà của anh ta và nhận được một số lời khuyên có sức thuyết phục từ một người đồng nghiệp có kinh nghiệm nhiều hơn để đi và tìm một nhân viên Mỹ lo liệu khu vực hậu phương:

Bạn có thể tưởng tượng anh ấy cảm thấy như thế nào không? Những người bạn thân và những bạn học nhiệt tình của anh ta đang ở ngoài đó thu thập những vết thương, huy chương và vinh quang, trong khi anh ta đang làm việc văn phòng ! Anh ta sẽ nói như thế nào với bạn bè và gia đình mình ở quê nhà ? “Tôi là một người xào giấy tờ giỏi nhất ở Việt Nam !?” Đối với một vũ khí bị tịch thu hoặc một lá cờ VC anh ta sẽ đưa cho bạn cái áo tuột khỏi cái lưng của anh ta !
Điều đó quả là hiệu nghiệm !
Đối với một khẩu súng AK-47 bị tịch thu, tôi sẽ có được một chiếc xe tải đầy xi-măng, dây thép gai và / hoặc những bao cát ! Nếu ném vào thêm một lá cờ VC tịch thu được và tôi có thể cũng giữ luôn cả chiếc xe tải ! Tôi thậm chí có một tòa nhà tắm gội có thể tháo rời được gởi đến bởi công ty Mỹ với nhãn hiệu người Khổng lồ Xanh Vui vẻ… mà không hỏi đến một câu !

p145

Nó có hai bồn cầu vệ sinh, vòi tắm nước nóng / lạnh, máy phát điện riêng của nó, v.v. Không còn ngồi xổm trên một cái lỗ trong lòng đất đang có phân !39

Vị trí của các trại căn cứ, thường gần những khu rừng hùng vĩ của những vùng cao nguyên, phơi bày các vấn đề khó khăn trong đó và của chính nó. Russell Smith nhớ lại:

Thức dậy vào buổi chiều tối với tấm túi ngủ dã chiến của tôi di chuyển trên phần dưới của đôi chân của tôi –rắn !!! Rất lặng lẽ làm cho vị Thiếu tá thức giấc; anh ta đã dậy và rời khỏi giường của mình để đến bên cạnh tôi và nói anh ta có thể nhìn thấy tấm túi ngủ dã chiến đang di động. Bảo anh ta lấy khẩu súng ngắn của tôi (được nạp với băng đạn cỡ to của Mỹ) và đếm đến ba, tôi sẽ nhảy ra khỏi giường và anh ta có thể gởi nó lên trời. Một, hai, BA và tôi ra khỏi nó –BÙM, BÙM, BÙM, BÙM, BÙM– cả băng của đạn cỡ to 00 (i.e vỏ đạn) rã ra trên giường, nệm & tấm túi ngủ dã chiến –không có con rắn nào còn đó –hoảng loạn —không thể nói bất cứ điều gì khi âm thanh của súng bên trong hầm trú đã làm điếc chúng tôi. Khi chúng tôi nhận ra rằng đó là cái quạt điện được đặt trên sàn vốn đã gây ra sự di động của tấm túi ngủ dã chiến, 1/2 tá nhân viên thuộc BChHtrQsVN(pc 08) của Mỹ được trang bị vũ khí dữ dội xông vào hầm trú để xem cá nhân nào đã đánh lộn và bắn nhau. Chúng tôi đang lăn lộn cười khúc khích với sự nhẹ nhõm khi những mảnh bông nhỏ lót giường bay lơ lửng trong không khí; sau đêm đó tôi khám phá ra khả năng của rượu mạnh whisky chỉ làm bằng mạch nha để l àm dịu lại những mạch thần kinh rã rời.40

Ngay cả với tất cả những sự khác biệt khác, những sắc thái, và những điều kỳ quặc, chính là giờ ăn vốn thường đòi hỏi sự thích ứng nhất về phần của những người cố vấn. Mặc dù các vị cố vấn thường có quyền thêm vào khẩu phần riêng của họ, họ thường ăn với những quân lính QĐVNCH của họ trong một khung cảnh cộng đồng. Sản phẩm chủ yếu của chế độ ăn uống của QĐVNCH là cơm với nước mắm phổ biến, nhưng thức ăn kỳ lạ hơn thì đôi khi có sẵn. Tom Jaco, một vị cố vấn Hoa Kỳ, nhớ rằng mỗi tháng một lần vào năm 1970, Trung đoàn 54, mà trong đó anh Đính sau đó phục vụ như là vị sĩ quan điều hành, mua được một con chó con và buộc nó bên ngoài căn lều lộn xộn. Trong nhiều ngày, những người đàn ông ra khỏi lều sẽ nuôi con chó bằng các đồ thừa từ các đĩa ăn của họ. Vào cuối tháng, con chó con bấy giờ khá mập sẽ biến mất –qua việc báo trước “ngày chó con” đối với những sĩ quan và các vị cố vấn của họ. Được hỗ trợ bởi những số lượng dồi dào của bia loại Pabst Blue Ribbon, người đầu bếp đã làm những điều kỳ diệu bằng các dụng cụ trong tay và luôn luôn cho ra một bữa ăn ngon miệng, nếu, theo những lời nói của anh Jaco, “bạn có thể bỏ qua ý tưởng rằng bạn đang ăn người bạn tốt nhất của con người.”41

p146

Ngoài việc tô điểm về thể chất và quan hệ xã hội của các trại căn cứ, văn hóa quân sự của QĐVNCH là một cái gì đó vốn đòi hỏi sự thích ứng về phần của cả những vị cố vấn Mỹ và Úc. Vào một buổi sáng, Tom Jaco đi theo một chỉ huy trung đoàn của QĐVNCH để kiểm tra những kết quả của cuộc công kích ban đêm của QĐBV vào căn cứ yễm trợ hỏa lực. Biết rằng vị chỉ huy không hài lòng với cách làm việc của những người mình, anh Jaco kỳ vọng vào cuộc chạm trán sắp đến sẽ là một vấn đề căng thẳng. Khi đến nơi những sĩ quan QĐVNCH tập hợp, vốn là những người đang đứng chào một cách biết tôn kính, anh Jaco quan sát khi vị chỉ huy trung đoàn trao đổi một ít lời đùa cợt vui vẻ trước khi đấm vào mũi của vị chỉ huy tiểu đoàn làm mất lòng. Vị chỉ huy trung đoàn sau đó đi xuống hàng sĩ quan, lần lượt đấm mỗi người. Cuối cùng, nhóm đó đi vào bên trong hầm trú chỉ huy cho cuộc họp tổng kết của nó, vị chỉ huy trung đoàn và anh Jaco ở một bên bàn và những sĩ quan đơn vị, tất cả họ với những cái mũi đầy máu, ở bên kia.42
Đó là nhịp độ và bản chất thật của Chiến tranh Việt Nam vốn chứng minh cho sự chấn động lớn nhất đối với nhiều người Mỹ và cũng như Australia. Trong một số trường hợp, sự khác biệt được cảm nhận trong nổ lực chiến tranh tự thể hiện chính nó chỉ trong ghi chú của người cố vấn rằng những đơn vị Việt Nam dường như kém tích cực hơn anh ta đã hy vọng.

p147

Trong những trường hợp khác, những sự khác biệt gần như trở nên khôi hài. Travis Kirkland, một vị cố vấn Hoa Kỳ vốn là người sau này trở thành vị cố vấn cho Trần Ngọc Huế và đội Hắc Báo, cảm thấy ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng, trong suốt một trong những cuộc giao tranh đầu tiên của mình, cả hai bên nghỉ ngơi ngưng hoạt động cho bữa ăn trưa trước khi tiếp nối trận chiến trong một thái độ nghiêm chỉnh.
Có trường hợp, những sự khác biệt giữa những cách thức chiến tranh của Mỹ và Việt Nam gây căng thẳng mối quan hệ giữa các vị cố vấn và các đối tác của họ đến cực điểm. Bob Jones, vốn là người sau này trong nghiệp vụ của anh ta phục vụ như là vị cố vấn cho Trần Ngọc Huế và đội Hắc Báo, có một lần đã góp ý cho vị tiểu đoàn trưởng vốn là người thường ngày tránh chạm mặt với các lực lượng đối phương và dường như chủ yếu sử dụng vị thế thẩm quyền của mình cho việc ăn hối lộ và gặp gỡ tán tỉnh những phụ nữ. Chán ghét và thất vọng, anh Jones báo cáo về những sự lạm dụng quyền hành, nhưng, vì các kết nối chính trị của người phạm tội, không có hành động nào được thực hiện, một vấn đề phổ biến trong nhiều bài tường thuật thuộc vai trò cố vấn trong suốt cuộc xung đột. Trong một bối cảnh thậm chí tuyệt vời hơn nữa, giữa một trận chiến ba ngày mà anh ta đánh giá là sẽ không đi đến đâu cả, Travis Kirkland, dùng đến thẩm quyền của mình trên việc yễm trợ hỏa lực của Hoa Kỳ, qua việc đình chỉ vụ pháo kích lãng phí các vị trí của đối phương trong một cố gắng để thuyết phục đối tác lưỡng lự QĐVNCH của mình ra lệnh cho cuộc tiến công bằng bộ binh. Vị tiểu đoàn trưởng kinh hãi –và chứng tỏ sự phụ thuộc rất-quá-quen-thuộc của QĐVNCH vào hỏa lực Hoa Kỳ bằng cách đòi hỏi sự tiếp tục của việc bắn yểm trợ và nói, “Nếu nó nổ lớn, đó là điều tốt.” Khi anh Kirkland từ chối, vị sĩ quan QĐVNCH rút khẩu súng lục của mình và để nó vào màng tang của anh Kirkland. Bị chấn động, ban nhân viên cố vấn còn lại lao về phía trước và rút vũ khí của họ. Tình hình chết đọng căng thẳng kéo dài trong ít phút trước khi những cái đầu điềm tĩnh hơn chiếm ưu thế và cho phép cuộc tấn công đi về phía trước với vị chỉ huy tiểu đoàn miễn cưỡng vẫn cho đến lúc đó dẫn đầu tiến bước.43
Mặc dù những áp lực và căng thẳng, một số mãnh liệt một cách hiển hiện, rõ ràng bên trong nổ lực cố vấn, đến năm 1969, những vấn đề như thế thì xa khỏi quy tắc trong khu vực hoạt động của Sư đoàn 1 QĐVNCH ở mặt bắc của Quân đoàn I, một phần vì chất lượng của ban lãnh đạo của QĐVNCH trong sư đoàn. Tướng Trưởng tự tuyển chọn cẩn thận những vị chỉ huy tiểu đoàn của mình và đặt cơ bản những quyết định của mình chỉ vào công trạng, không có sự đề cập đến tính chất bất thường về chính trị vốn quá lan tràn khắp QĐVNCH. Ông Tưởng, tuy thế, không có quyền lực tuyệt đối trong phạm vi chỉ huy của mình, và quả thật có những vị chỉ huy tiểu đoàn đáng thương, nhưng không thể động đến về mặt chính trị, trong Sư đoàn 1. Tuy nhiên, nói chung, Sư đoàn 1 là một quân đoàn giỏi nhất mà QĐVNCH phải cung ứng, trong những phần về vai trò lãnh đạo và lẫn khả năng chiến đấu, mà qua đó dẫn đến những mối quan hệ cố vấn vốn có được cả về mặt sinh sôi tốt đẹp và gần gũi,

p148

tượng trưng cho nổ lực cố vấn hết mình của nó. Những vị cố vấn đang mong chờ phần việc ở một trong những tiểu đoàn của ông Trưởng và đặc biệt là tạo thêm nổ lực mình để tìm ra cách phục vụ với các đơn vị dưới quyền chỉ huy của Phạm Văn Đính hoặc Trần Ngọc Huế.
Được biết nhiều đến với những khai thác của họ trong việc bảo vệ thành phố Huế, cả anh Đính và anh Huế có những tiếng tăm đáng kể như là những vị chỉ huy chiến đấu. Khi vị Đại úy TQLC Hoa Kỳ, Harvey Zimmerle, trở thành cố vấn viên cho 2/3 của QĐVNCH, vào tháng Chín năm 1968, anh ta tìm thấy anh Đính có vẻ trầm tĩnh và biết tính toán. Lòng tự tin vào những khả năng chỉ huy của riêng mình và có thể nói ba ngôn ngữ một cách thành thạo, anh Đính được quan tâm không phải về việc thiếu khả năng nói tiếng Việt của vị cố vấn mới của anh ta cũng không phải về thời gian giới hạn của vị cố vấn ở trong nước; thay vào đó, anh Đính cắt đứt sự theo đuổi và yêu cầu anh Zimmerle về một chứng minh khả năng của anh ta điều hành việc yễm trợ hỏa lực. Để đáp lại, anh Zimmerle bình tĩnh gọi đến một lệnh vụ hỏa lực vào một hàng cây gần đó. Hài lòng với màn trình diễn, anh Đính và anh Zimmerle tiếp tục hình thành một sự kết hợp đối tác nẩy nở tốt đẹp về quân sự. Chỉ sau này anh Zimmerle khám phá ra nguyên cớ yêu cầu không chuẩn bị trước của anh Đính ngay ngày đầu tiên đó; một vị cố vấn trước đó với 2/3 đã gọi không chính xác đến một lệnh vụ hỏa lực vào đồn trú chỉ huy của tiểu đoàn vốn đã gây ra nhiều thương vong cho phe bạn.
Mặc dù những mối quan hệ tuyệt vời mà anh Đính và anh Huế thích thú với các vị cố vấn khác nhau của họ, trong nhiều phương diện cung cấp một mô hình đúng về sự thành công của người cố vấn / người đối tác, có những giai đoạn căng thẳng và bất hòa không thể tránh khỏi. Về phần mình, anh Zimmerle thường hoang mang bởi một số quyết định chỉ huy của anh Đính, đặc biệt là khi anh Đính có lần bước lên một chiếc trực thăng tản thương trở lại thành phố Huế để dự buổi họp mặt gia đình. Sự căng thẳng, tuy thế, chắc chắn không phải là về cả một bên. Làm việc trong đêm đầu tiên của mình với một vị cố vấn mới vốn là người chưa biết gì đối với việc chiến đấu ở căn cứ hỏa lực gần Khu phi Quân sự, anh Huế và những người của mình theo dõi một lệnh vụ sắp đưa ra cho hỏa lực pháo binh gây phiền nhiễu và ngăn chặn đường giao thông. Sáng hôm sau, vị cố vấn háo hức hỏi anh Huế khi anh ta và những người của anh ta sẽ thực hiện một công tác đánh giá sự thiệt hại được làm ra bởi hàng rào pháo binh. Anh Huế quay lại và báo cho vị Đại úy trẻ rằng sẽ không có công tác như thế. Anh chàng Mỹ lúng túng yêu cầu rằng anh Huế gởi những người của anh ta ra ngoài để xác định số đếm xác chết. Một chiến binh đầy kinh nghiệm với vô số những nhiệm vụ trong khu vực nguy hiểm, anh Huế bình tĩnh báo cho người đối tác mới của mình rằng QĐBV sẽ sẵn sàng và đang chờ đợi và rằng anh ta sẽ không vứt bỏ sinh mạng của những người mình cho ổ mai phục hoặc bẫy sập chỉ để tính sổ thêm một ít xác chết. Đột nhiên, anh chàng Mỹ trở nên khá bất bình và báo cho anh Huế rằng việc thiếu số đếm xác chết có nghĩa là lệnh vụ hỏa lực đã bị lãng phí. Anh ta tiếp tục tuyên bố rằng đó là gia đình của anh ta còn ở Hoa Kỳ

p149

vốn đã trả tiền cho những quả đạn pháo với những loại thuế khó lấy tiền được. Tại sao anh có thể để cho cố gắng và hy sinh đó trở nên lãng phí?
Mặc dù bị ngắt quãng bởi những thăng trầm vốn là điển hình cho bất kỳ sự tương tác xã hội phức tạp nào, những mối quan hệ giữa anh Đính và anh Huế và các cố vấn Mỹ của họ hầu như là những kết hợp đối tác thực nghiệm được khống chế bởi sự ước muốn để tồn tại và chiếm ưu thế trong cái gì đó đối với người Việt Nam là một cuộc chiến tranh dường như vô tận. Mặc dù đội Hắc Báo thường hoạt động một cách khác biệt, qua việc được gọi đến để hỗ trợ trong cuộc giao tranh vốn đang xảy ra rồi, nói chung những tiểu đoàn và những đại đội của Sư đoàn 1 QĐVNCH dành phần lớn thời gian của họ tham gia vào những hoạt động tìm kiếm và tiêu diệt ở hai tỉnh phía bắc của Quân đoàn I. Đôi khi những hoạt động sẽ hỗ trợ các trại căn cứ của riêng mình, bao gồm PK-17, nhưng, đặc biệt là khi các cuộc tấn công liên minh của năm 1968 tiếp tục, những hoạt động trở nên dai dẵng hơn và xa cách hơn từ lãnh thổ thân thiện.
Những đơn vị của QĐVNCH thường hoạt động trong rửng bụi cây sâu thẳm trong hàng tuần mới kết thúc, bị cô lập và dựa vào những chiếc trực thăng cho việc tái tiếp tế, những người lính trải nghiệm qua những mức áp lực cao độ có thể sánh với những điều đó của lực lượng 2/3, đội Hắc Báo, và các đơn vị nhỏ của họ tham gia vào một dòng liên tục và đều đặn của những nhiệm vụ dò-thám-lực-lượng (RIF), việc tuần tra vô tận, những cuộc phục kích về đêm, và các hoạt động an ninh tại những căn cứ hỏa lực vốn nằm rải rác những vùng cao nguyên của Quân đoàn I. Với những lực lượng đối phương đang tháo chạy, những cuộc càn quét là những công việc bất chấp thành công hay thất bại, thường không dẫn đến sự chạm trán thù nghịch bất cứ là như thế nào và chỉ đôi khi tạo ra một cuộc đụng độ ngắn ngủi với những đơn vị đối phương thường là không lớn hơn một trung đội. Tuy nhiên, các đơn vị của đối phương, sau khi hồi phục và trang bị lại theo sau thảm họa ngày Tết, lẩn trốn trong các khu căn cứ ngay bên kia biên giới Lào và có thể đánh ra bất cứ lúc nào từ những nơi ẩn trú an toàn của họ, để lại cho những lực lượng QĐVNCH và Hoa Kỳ nhận biết một cách sâu sắc rằng một trận đánh lớn có thể nổ ra vào bất cứ khoảnh khắc nào. Vào mỗi tuần tra, mọi người nhận ra là kẻ địch có thể được giấu kín với những số lượng lớn trong hàng cây kế tiếp hoặc có thể được chôn vào trên dải đất tiếp theo. Đó là một trò chơi gây chết người và làm tiêu hao của mèo và chuột.
Nếu so với những điều đó của các đối tác Mỹ của họ, những hoạt động của QĐVNCH thận trọng hơn và có tài nhận thấy ngay khá mộc mạc. Những đơn vị dưới quyền chỉ huy của anh Đính và anh Huế là tiêu biểu điều mà qua đó mỗi buổi sáng, những người đàn ông sẽ tụ tập từ các vị trí ban đêm và đầu bếp sẽ pha một ít cà phê và sau đó đổ đầy bi-đông (i.e. bình nhôm đựng nước cá nhân) của mỗi người lính với trà, được đun sôi để tránh các bệnh sinh ra từ nước uống. Đơn vị sau đó sẽ đi tuần tra cho đến 1030 giờ, khi việc dừng lại sẽ là đến bữa ăn trưa, thường bao gồm những vắt cơm. Việc tuần tra sau đó sẽ tiếp tục lại cho đến buổi chiều muộn,

p150

khi việc dừng lại sẽ là lúc bước vào những vị trí phòng thủ ban đêm, thường sử dụng một vòng đai kép của nơi phòng thủ xung quanh đồn trú chỉ huy tiểu đoàn và bao gồm nhiều vị trí mai phục để chận đứng những sự thăm dò của đối phương. Các đầu bếp sau đó sẽ chuẩn bị bữa ăn chiều tối, bằng cách giết thịt những con gà mà những người đàn ông mang đến, bị cột vào những cái ba-lô của họ hoặc những con heo, vốn được khiên theo bởi những người đàn ông trên những cái đòn. Vào các nhiệm vụ đặc biệt khó khăn, những quân lính đôi khi bổ sung chế độ ăn uống của họ bằng cách săn bắn trâu nước, những lá gan của chúng được xem là một món ăn quý đặc biệt. Bản chất của hệ thống hoạt động của QĐVNCH(pc 01) tạo nên việc tái tiếp tế ban ngày đặc biệt là hay làm om sòm, khi những chiếc trực thăng đổ ra một đóng hàng tươi của tiếng kêu quác quác khổ sở hoặc hàng hóa sống kêu ộc ộc cùng với đạn dược và nước.
Sự thực tế về việc tham gia trong cuộc chiến của QĐVNCH, qua việc vật lộn vượt qua “những dây leo đợi-một-phút”(pc 17) và bụi con dày đặc của khu rừng không có dấu tích ngày này qua ngày khác, qua việc trò chuyện trong bữa tối, trong khi còn sống sót trên những khẩu phần ít ỏi như nhau, chịu khốn khổ từ những chứng ung nhọt rừng, phải đối mặt với sự mong chờ liên tục được bày ra bởi một kẻ thù không nhìn thấy được, và qua việc phải đối mặt với những trận chiến cả lớn và nhỏ thường cho các vị cố vấn chiến đấu và những đối tác của họ một cảm giác của những tình bạn thân thiết vốn gây một ấn tượng sai lầm về những khó khăn thuộc thể chế và văn hóa mà qua đó làm điêu đứng hệ thống cố vấn ở các cấp độ cao nhất của nó. Về phần mình, cả anh Đính và anh Huế hình thành những kết nối lâu dài với nhiều người trong số những vị cố vấn Hoa Kỳ của họ, qua việc giới thiệu họ với văn hóa Việt Nam, đưa họ vào nhà mình, và thậm chí chính thức ứng dụng họ vào trong các đơn vị mình. Trong khi ở thành phố Huế, là quê nhà đối với nhiều người vốn là những người phục vụ dưới quyền của anh Đính và anh Huế, các vị cố vấn thường ngủ trên võng ở những cổng vòm của các thành viên đơn vị hơn là cuộc hành trình đến những nơi ở riêng của họ tại quân khu của BChHtrQsVN.(pc 08)
Các mối quan hệ của vị cố vấn / người đối tác, mặc dù đầy với những khoảnh khắc thường không đáng kể mà qua đó xác định tất cả tình bạn bè, cũng chứa đựng những khoảnh khắc về lòng dũng cảm và tính chất anh hùng vốn là điển hình cho tình anh em được thử thách trong chiến trận. Vào cuối năm 1968, ở khu vực phía nam của Huế gần Phú Bài, đội Hắc Báo đã vừa hoàn tất cuộc chạm súng nặng nề và bắt đầu di chuyển về phía phố huyện. Thình lình một tiếng nổ thổi bay vị cố vấn của anh Huế, Joe Bolt, khỏi đôi chân của anh ta. Mọi thứ cuối cùng dừng lại, và khi anh Bolt dần biết đến những giác quan của mình, anh ta nhận thấy rằng, trong khi anh ta đã nhận được chỉ là những vết thương nhỏ, một người đàn ông trước anh ta trong hàng đã bị thổi tung thành những mảnh vụn và hai người đàn ông phía sau anh ta đã bị cắt khúc một cách tồi tệ. Vật vả để xác định phương hướng của mình, anh Bolt nghe những tiếng nổ khác, điều này có nghĩa là đội Hắc Báo đã lạc đường vào giữa một bãi mìn. Bất kỳ di động nào có nghĩa là một cái chết có thể xảy ra.

p151

Tuy nhiên, có những người đàn ông bị thương nặng người vốn là những người cần được chăm sóc, bao gồm Trung sĩ Weyand, một thành viên đáng tin cậy thuộc đội ngũ cố vấn của anh Bolt. Không chú ý về sự nguy hiểm, Trần Ngọc Huế phóng chạy qua những bãi mìn đến bên cạnh anh Weyand và trông nom việc cấp cứu mạng sống cho người bạn của mình trong khi chờ đợi cuộc tải thương bằng trực thăng.
Những sự liên kết sâu đậm về tình bạn thân thiết vốn là một phần của nổ lực cố vấn, và là một phần của đời sống của anh Đính và anh Huế, quá kiên cường đến nổi họ chịu đựng sự khắc nghiệt nhất của những thử thách, như được chứng minh trong những cách khác nhau bởi những kinh nghiệm của các vị cố vấn Mỹ cuối cùng phục vụ với cả hai người. Dave Wiseman, vốn là người phải ngồi gần bên và lắng nghe trên làn sóng truyền thanh khi đơn vị của anh Huế bị tiêu diệt ở Lào, không bao giờ ngưng bỏ việc tìm kiếm người bạn thân của mình, mặc dù anh ta có lý do để tin rằng anh Huế đã bỏ mình trong trận chiến. William Camper phục vụ như là vị cố vấn cuối cùng của anh Đính và rất gần như mất mạng mình khi anh Đính đầu hàng tại doanh Trại Carroll. Tuy nhiên, anh Camper cảm thấy không có ý xấu đối với anh Đính và thật ra vẫn có sự tôn trọng cho vị chỉ huy của QĐVNCH vốn là người mà anh ta cuối cùng biết đến rất lâu trước đây. Như là một phần của công cuộc tìm kiếm cho dự án này, nhiều vị cố vấn tìm cách liên lạc với anh Đính hoặc anh Huế lần đầu tiên trong nhiều thập kỷ, các vị cố vấn vốn là những người biết không phải là anh Đính đã đầu hàng hoặc cũng không biết là anh Huế đã sống sót sau chiến tranh và bây giờ đang sống ở Hoa Kỳ. Khi những người bạn đồng hướng cũ của chiến tranh cuối cùng có được lại sự liên lạc, niềm vui mửng có thể cảm nhận được và vượt qua không gian, thời gian, và dòng chảy của các sự kiện. Những liên kết chặt chẽ vốn vẫn còn tồn tại giữa các vị cố vấn nầy và những đối tác của họ –những người đàn ông vốn đã từng trải qua quá nhiều và những cuộc đời của họ đã thay đổi rất là cảm động– xem như là một minh chứng cho điều gì là đúng về nổ lực cố vấn ở Việt Nam.

d- Một chiến thắng khó nắm giữ :

Cái năm của cuộc chiến đấu sau cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân có thể được lý luận là đã mang Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam đến bên bờ của sự chiến thắng trong Chiến tranh Việt-nam. Chiến dịch ở những vùng đồng bằng, được điển hình bởi một hoạt động hợp tác tuyệt vời của Lữ đoàn Dù 101 Hoa Kỳ và Sư đoàn 1 QĐVNCH, đã dọn sạch phần lớn các khu vực trồng lúa thuộc các đơn vị của đối phương của Quân đoàn I và đã làm nhiều việc để cắt xén dần cơ sở hạ tầng của Việt Cộng trong các làng mạc địa phương –một sự thành công được lặp lại khắp phần lớn đất nước. Ngay cả những nhà sử học của QĐBV về cuộc xung đột thừa nhận một cách thảm thương rằng theo sau cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân,

p152

Thế công của chúng ta bắt đầu suy yếu và ba loại lực lượng có vũ trang gánh chịu sự tiêu hao. Cuộc đấu tranh chính trị và quân sự trong những khu vực nông thôn giảm xuống và các vùng được giải phóng của chúng ta bị thu hẹp lại. Cục Trung ương miền Nam Việt Nam và những đơn vị lực lượng chính của vùng quân sự có khả năng duy trì chỉ là một phần của những lực lượng của họ trong các khu căn cứ bị phân tán rải rác ở vùng đồng bằng của chúng ta, và phần lớn đội quân lực lượng chính của chúng ta buộc phải lui lại đến biên giới hoặc các căn cứ ở những vùng núi.44

Trong suốt cuộc chiến đấu ngày Tết và cái năm của sự tàn sát vốn theo sau, lực lượng Việt Cộng đã gánh chịu thiệt hại to lớn, qua việc mất đi phần lớn những cán bộ có kinh nghiệm của nó –những mất mát mà đáng lý ra phải trở nên thành công một phần nào đó do sự xâm nhập của những chiến binh QĐBV, một quá trình vốn không chỉ sẽ mất thời gian mà còn sẽ thay đổi bản chất nổi dậy của cuộc xung đột.45
Đối với những lực lượng đối phương thực tế là bị đuổi khỏi các vùng đồng bằng, vào tháng Mười Một năm 1968, những lực lượng Hoa Kỳ và QĐVNCH phát động một Chương trình Bình định Gia tốc có nhiều hoài bão nhắm vào việc thực hiện sự kiểm soát vủng nông thôn khó-thắng vĩnh viễn và hoàn bị hơn. Ở mặt bắc của Quân đoàn I, mục tiêu của ông Truởng cho chiến dịch là việc chiếm giữ và kiểm soát của 140 thôn ấp bị tranh chấp, mà qua đó những đơn vị dưới quyền chỉ huy của ông ta chiếm lấy một cách thành công trong một ít hơn một tháng. Cảm thấy phấn khởi bởi sự thành công, ông Tưởng nâng lên mục tiêu cho 198 thôn ấp, một điểm đích vốn cũng được đạt đến mà không có sự khó khăn nào.46 Trên khắp chiều dài và bề rộng của miền Nam Việt Nam, chiến thắng trên chiến trường sinh ra sự thành công của công cuộc bình định khi tổng số lượng người dân và sự mở rộng lãnh thổ dưới quyền kiểm soát của Chính phủ Việt Nam vượt qua những điều mong ước.47 Đến cuối năm, một số khoảng 76,3 phần trăm dân số được đưa vào trong phạm vi những khu vực an ninh của chính phủ (với sự kiểm soát của 11,4 phần trăm dân số bị tranh đoạt và 12,3 phần trăm dưới quyền kiểm soát của Việt Cộng), một tỷ lệ không bao giờ ngang nhau trước đ ây.48 Mặc dù những phương pháp của cả Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam về việc xác định số lượng quyền kiểm soát vùng nông thôn thì hiển nhiên là không chính xác, tầm quy mô của thắng lợi ở các vùng đồng bằng trong năm sau cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân thì hiển hiện đối với những người đàn ông trên mặt đất, bao gồm Joe Bolt, vốn là người chỉ đơn giản đưa ra nhận xét, “Bạn không thể tìm thấy một cuộc chiến đấu ở những vùng đồng bằng vào cuối năm 1968; kẻ thù đã biến mất.”
Những thành công ở các vùng đồng bằng đã báo trước những chiến thắng theo lý luận, thậm chí đầy ý nghĩa hơn ở các vùng cao nguyên, đối với những lực lượng Hoa Kỳ và QĐVNCH việc đánh bại những cuộc tấn công của đối phương và việc hành động trong sự phối hợp nhằm đẩy mạnh QĐBV xa hơn khỏi các khu vực đông dân và vào trong những căn cứ của họ ở Lào và miền Bắc Việt Nam. Trong một cuộc họp báo dành cho Tướng Abrams, Vị Tư lệnh của Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự Hoa Kỳ cho Việt Nam (TlBChhHtrQsHKVN) mới,

p153

vào tháng Giêng năm 1969, Trưởng bộ tham mưu của BChHtrQsVN,(pc 08) Thiếu tướng Elias Townsend, tổng kết hồ sơ về thành công của liên minh:

Hai thay đổi lớn kể từ năm ngoái. Lần đầu tiên là mức độ cải thiện trong sự trưởng thành của lực lượng vũ trang miền Nam Việt Nam… Và những người đó đã và đang điều hành một cách liên tục trong mỗi Khu Chiến thuật có Trách nhiệm,(pc 19) không ngừng nghĩ… Sự di chuyển liên tục này cuối cùng phá vỡ đối phương và mang lại việc rút quân [đến Lào] này, việc phát hiện ra những lực lượng chính của VC, những lực lượng địa phương, những nơi dự trữ của địch, việc kéo lui của địch trở lại khu vực của những nơi trú ẩn, và cho phép chúng ta làm điều gì mà chúng ta đã từng có thể về việc xé tan hạ tầng cơ sở của VC, đi ngược trở lại dọc theo tuyến đường của những thông tin liên lạc của địch và việc xé nát nó ra.49

Gần như dường như là một chiến thắng liên minh trong cuộc Chiến tranh Việt Nam vẫy tay ra hiệu vào đầu năm 1969, một thời gian mà ông Abrams nhìn nhận như là “một khoảnh khắc của cơ hội tột đỉnh” –một cơ hội mà nhiều người trong QĐVNCH, bao gồm anh Đính và anh Huế, nhận ra là ở trong tay QĐVNCH, với sự hỗ trợ của đồng minh mạnh mẽ của nó, đến tuổi trưởng thành (i.e. trở nên được chấp nhận và tôn trọng bởi hầu hết mọi người). Tuy nhiên, cùng một thời gian mà qua đó tình hình chiến thuật dường như rất xác thực, những hậu quả về sau của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, những năm của chiến tranh, lời nói quanh co của chính phủ, và sự biến động xã hội liên tục tạo âm mưu làm cạn kiệt lòng kiên nhẫn tập thể của người Mỹ đối với một cuộc chiến xa xôi của nó.

e- Một con đường mới về phía trước? :

Vào ngày 1 tháng Bảy 1968, Tướng Creighton Abrams thay thế Tướng Westmoreland như là TlBChhHtrQsHKVN.(pc 18) Trong khi phục vụ trong chức vụ trước đây của ông ta như là người được uỷ quyền của ông Westmoreland, mặc dù ông ta vẫn còn trung thành với người sếp của mình, ông Abrams cuối cùng tin rằng có một câu trả lời ít truyền thống hơn cho vấn đề phức tạp vốn là Chiến tranh Việt Nam. Như là một người nhận lấy việc nghiên cứu của Chương trình Bình định và Phát triển Dài hạn miền Nam Việt Nam về năm 1966, ông Abrams hiểu đầy đủ tầm quan trọng của công cuộc bình định. Cũng như, theo ông William Colby, vốn là người phục vụ ông Abrams như là Phụ tá của TlBChhHtrQsHKVN và như là vị cố vấn chính của ông Abrams về những vấn đề trên bình định, ông Abrams có tầm nhìn rộng về cuộc chiến tranh hơn so với người tiền nhiệm của mình và càng lúc có thể nhìn thấy chiến tranh rõ hơn trong bối cảnh Việt Nam của nó hơn là chỉ đơn giản như một bài tập quân sự của người Mỹ.50 Ông Abrams tin rằng chiến lược của Mỹ đã tách biệt một cách nhân tạo vô số những mảnh vỡ của Chiến tranh Việt Nam,

p154

từ công cuộc bình định trận đến những trận đánh gây tiêu hao sinh lực chiến đấu, khi mà những miếng nhỏ đó thực sự là một phần của cùng một khối kín mít, những miếng nhỏ mà qua đó ông ta hy vọng gom tụ lại với nhau như là TlBChhHtrQsHKVN trong chiến lược “Một cuộc Chiến” của mình. Một trong những nguyên lý trọng yếu của tầm nhìn mới của ông ta về cuộc xung đột, được dựng mô hình theo sự thành công trong Quân đoàn I, là QĐVNCH nên được hợp lại thành một hệ thống hợp nhất đầy đủ và hoàn toàn hơn vào trong cuộc chiến đấu và quản trị cuộc chiến tranh trên tất cả các cấp. Trong một cuộc họp báo ngày 25 tháng Một 1969, ông Abrams đưa ra nhận xét về việc quan tâm sự hợp tác:

TQLC 3 bây giờ trong hoàn cảnh đó như thế này, lực lượng 101, QĐVNCH 1. Đó là thí dụ tốt nhất. Đó là nơi mà có một cuộc chiến tranh, ở mặt bắc của Quân đoàn I. Tất cả chúng ta ở một bên và họ ở bên kia. Không ai tìm kiếm những danh dự. Chúng chỉ là tất cả mọi người vì một người và một người vì tất cả mọi người. Điều đó chỉ là ai là người gần nhất… Và đó là cái gì mà chúng ta cần ở mặt nam của Quân đoàn I, trong ba tỉnh phía dưới kia hơn. Và chúng ta không có điều đó.51

Khi ông Abrams làm việc để bổ sung thêm những ý tưởng chiến thuật mới của mình, mức độ chiến lược của chiến tranh chuyển theo cuộc bầu cử tháng Mười năm 1968 của Richard Nixon như là vị Tổng thống Hoa Kỳ. Sau khi đạt được thành công bầu cử một phần bởi vì ông ta đã ra tranh cử như là một ứng cử viên hòa bình, ông Nixon, cùng với vị Cố vấn An ninh Quốc gia của mình, là Henry Kissinger, và vị Bộ trưởng Quốc phòng của mình, là Melvin Laird, mau chóng làm việc để tạo ra một chiến lược thành công cho Việt Nam. Ông Nixon và các vị cố vấn của mình nhận ra rằng, mặc dù toàn bộ cử tri sẽ tạo cho chính quyền mới một giai đoạn trăng mật, sự khích động vể chính trị trên khắp Việt Nam sẽ nhanh chóng trở lại. Vấn đề quá khẩn cấp đến nổi vào nguyên ngày đầu tiên của mình trong văn phòng, ông Nixon ban hành một Giác thư Nghiên cứu An ninh Quốc gia số 1, qua đó kêu gọi một nghiên cứu sửa đổi về quá trình tiến độ của chiến tranh. Xây dựng trên xung lực cho sự thay đổi, vào tháng Ba năm 1969, ông Nixon đã điều ông Laird đi đến Việt Nam để thực hiện một đánh giá đầu tiên về cuộc xung đột.
Học hỏi được từ ban nhân viên của BChHtrQsVN(pc 08) rằng đã từng có sự cải thiện đáng kể trong những khả năng của QĐVNCH, ông Laird cảnh cáo ông Abrams rằng những áp lực về chính trị ở quê nhà chẳng bao lâu sẽ đòi hỏi chuyển qua phần lớn của cuộc chiến tranh cho miền Nam Việt Nam. Hành động theo thông tin thu thập được từ các cuộc họp của mình tại BChHtrQsVN(pc 08) và từ một cảm giác của sự cần đến chính trị, sau chuyến trở lại Washington của mình, ông Laird là tác giả của giác thư mà qua đó dụ trù việc rút đi năm mươi đến bảy mươi ngàn binh sĩ vào năm 1969. Trong một cuộc họp của Hội đồng An ninh Quốc gia vào ngày 28 tháng Ba, Tổng thống và các vị cố vấn của ông ta thảo luận giác thư của ông Laird.

p155

Tướng Andrew Goodpaster, người được ủy quyền của ông Abrams ở Sài Gòn, báo cáo rằng khả năng của QĐVNCH đã tăng lên một cách nổi bật và đã thực sự dẫn đến một số việc “vô Mỹ hóa” về chiến tranh. Ông Laird không thích thuật ngữ đó vì cảm thấy bị chọc tức như là quá tiêu cực và đề nghị “Việt Nam hóa Chiến tranh” như là một lựa chọn thay thế khác.52
Cả tính khí của TlBChhHtrQsHKVN(pc 18) mới và sự thực tế về chính trị phải đối mặt trên mặt trận quê nhà bởi chính quyền mới, quy tụ lại một lần nữa để thay đổi bản chất của cuộc xung đột phải đối mặt bởi QĐVNCH. Tầm nhìn mới của ông Abrams về Chiến tranh Việt Nam, theo lý luận là dựa trên sự chấp nhận những ý tưởng mà trước đó đã từng bị từ chối bởi ông Westmoreland, báo trước những thay đổi tích cực vốn đã được kêu gọi bởi các sĩ quan trẻ, bao gồm anh Đính và anh Huế, trong nhiều năm. Tầm nhìn của ông Abrams, tuy thế, nếu không là một yếu tố của môi trường thay đổi hoạt năng phát ra từ Washington mà qua đó kêu gọi Việt Nam hóa Chiến tranh. Những chiến thắng trên chiến trường của năm 1968 và sự cải thiện QĐVNCH được tiếp tục, sau đó, tồn tại trong sự quân bình mong manh với một môi trường chiến thuật và chiến lược hay thay đổi khi chiến tranh đạt đến đỉnh điểm.
Về cơ bản của sự thành công được đạt đến bởi sự cố gắng phối hợp của các lực lượng Hoa Kỳ và QĐVNCH ở phía bắc của Quân đoàn I trong năm sau Tết, tầm nhìn của ông ta về sự thay đổi, và áp lực chính trị từ bên trên, ông Abrams phát triển một kế hoạch mới là “Kế hoạch Chiến dịch Phối hợp cho năm 1969,” mà qua đó chấm dứt sự phân chia nhiệm vụ giữa các lực lượng Hoa Kỳ và miền Nam Nam Việt. Nhằm chuẩn bị người miền Nam Việt Nam cho ngày khi đội quân Mỹ sẽ hoàn toàn thoát khỏi cuộc xung đột, QĐVNCH sẽ “học hỏi để chiến đấu bằng cách chiến đấu” và được hợp nhất vào trong cuộc chiến tranh lớn với đơn vị lớn. Rút ra cảm hứng từ Chiến tranh Triều Tiên, mà trong đó các đơn vị Hàn Quốc và Mỹ đã chiến đấu bên cạnh nhau và đã làm tốt nhiệm vụ, kế hoạch kêu gọi sự hợp nhất đầy đủ hơn về việc lên kế, sự hỗ trợ chiến đấu, và tình báo.53 Sẽ không còn chuyện QĐVNCH bị hạ xuống nhiệm vụ an ninh, trong khi những người Mỹ chiến đấu cuộc chiến của họ; cuối cùng, điều đó dường như là các lực lượng liên minh sẽ chiến đấu với nhau như là một.
Một con đường mới hướng về phía trước được tiêu biểu bởi sự hợp tác, tuy thế, đại diện cho sự hoàn toàn trái ngược đối với những năm tháng của chính sách quân sự Hoa Kỳ trong suốt thời gian mà QĐVNCH đã từng bị đẩy sang một bên. Từ năm 1965 đến năm 1968, những cố gắng để đạt được sự hợp tác chiến đấu thực tế đã đang dao động, từng phần, và cá thể dễ xúc cảm mạnh mẽ, để lại hiệu quả chiến đấu tổng thể của một QĐVNCH ngoại biên và những tài sản cho sự hỗ trợ chiến đấu của nó bị hạn chế. Những hoạt động có quy mô lớn chống lại các đơn vị chủ lực của kẻ thù, với sự ngoại lệ ở mặt bắc của Quân đoàn I, hầu như được lên kế hoạch một cách riêng biệt và tiến hành bởi các lực lượng Hoa Kỳ. Ở những mức độ cao hơn, hệ thống có tầng lớp có nghĩa là hầu hết các vị chỉ huy của quân đoàn QĐVNCH không có kinh nghiệm thực tế trong việc xây dựng hoặc tiến hành những kế hoạch hoạt động của bất kỳ loại nào.

p156

Ở cấp lữ đoàn và tiểu đoàn, Tướng Truởng cho rằng “Những vị chỉ huy đơn vị của Hoa Kỳ thường hay lưỡng lự tham gia vào các hoạt động phối hợp với các đơn vị của QĐVNCH… xuất phát chủ yếu từ một thành kiến chống lại hiệu quả chiến đấu của các đơn vị QĐVNCH.”54
Việc chuyển đổi khỏi một hệ thống phân biệt ăn sâu như thế sẽ mất cả thời gian và lẫn hoàn toàn nổ lực –không điều nào trong hai sự kiện đó sẽ xảy ra. Những cố gắng với ý tốt cho sự hợp tác đích thực được thực hiện, một lần nữa với Quân đoàn I phía bắc đang chống đỡ như là một thí dụ hàng đầu về tiềm năng của chương trình. Trong nhiều khu vực, “Đồng Tiến ” hoặc những cố gắng song đôi đặt những vị chỉ huy đơn vị Hoa Kỳ và Việt Nam bên cạnh nhau trong trận chiến.55 Tuy nhiên, các hoạt động lớn hơn tiếp tục được tiến hành theo cách đơn phương, trong khi những cố gắng đa dân tộc vẫn còn là ngoại lệ hơn là một quy luật.56
Những nổ lực muộn màng của Mỹ để chiến đấu cuộc chiến với QĐVNCH hơn là hoạch định và tổ chức hai cuộc chiến tranh riêng biệt vẫn còn ngưng lại và không hoàn tất khiến phát điên lên được. Tình hình quân sự đã được cải thiện một cách đáng kể trong năm sau Tết, và QĐVNCH đang tăng trưởng trong sức mạnh. Một cơ hội, tuy thế, sắp trôi qua, bị mất trong những quyết định chính trị hầu kết thúc chiến tranh ở Việt Nam, một miền Nam Việt Nam thiếu ý chí cải cách, và những thất bại nắm bắt khoảnh khắc hợp tác về quân sự của Mỹ. QĐVNCH vẫn còn khiếm khuyết và phụ thuộc khi cuộc khủng hoảng của việc rút quân của Mỹ khỏi cuộc xung đột đến gần, không thực hiện được những hy vọng của anh Đính và anh Huế. Sự trớ trêu tột cùng mà qua đó có lẽ là những chiến thắng của năm 1968, hiện ra quá muộn, sau khi những thực tế không thể xóa nhòa của Chiến tranh Việt Nam đã được đặt vào xi-măng rồi.

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 02_ VC : Việt cộng.
pc 03_ QĐBV : Quân đội Bắc Việt.

pc 04_ “QĐVNCH đang gánh chịu hai phần ba trong tổng số ước tính của 12.000 thương vong của liên minh” : …(xin xem phần trước)

pc 05_ Với tổng số QĐBV và VC tham gia trong chiến dịch Tổng tấn công Tết Mậu Thân …(xin xem phần trước)

pc 06_ LlThgiLnTQLC : Lực lượng Thiết giáp Lội nước Thủy quân Lục chiến (MAF = Marine Amphibious Force)

pc 07_ Theo Trung Tướng Robert Cushman, vị Tư lệnh của Lực lượng Thiết giáp Lội nước Thủy quân Lục chiến …(xin xem phần trước)

pc 08_ BChHtrQsVN : Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự cho Việt Nam (MACV = Military Assistance Command, Vietnam).

pc 09_ Khe Sanh : là một thị trấn của huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, …(xin xem phần trước)

pc 10_ Khu phi Quân sự : là một khu vực, thường là biên giới hoặc ranh giới giữa hai hoặc nhiều sức mạnh quân sự hơn …(xin xem phần trước)

pc 11_ 2/3 : Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 3, có nghĩa chỉ là một tiểu đoàn với 300 đến 1.300 người.

pc 12_ ĐPQ & NQ : Địa phương Quân và Nghĩa quân.
pc 13_ 1/502 : Tiểu đoàn 1 thuộc binh chủng Bộ binh 502 của Mỹ.
pc 14_ A-1/502 : Đại đội A của Tiểu đoàn 1 thuộc binh chủng Bộ binh 502 của Mỹ.

pc 15_ Chiến dịch Lam Sơn 216 : là một hoạt động trong Chiến dịch ba-giai-đoạn được …(xin xem phần trước)

pc 16_ Vị cố vấn hạ sĩ quan có kinh nghiệm, Jack Morrison, muốn nói với Đại úy Russel Smith rắng vị Đại úy đang đứng lồ lộ trên đê ruộng là cái đích cho xạ thủ bắn tỉa, giống như là vị Đại úy đó lãnh đạn dùm ông ta.

pc 17_ “những dây leo đợi-một-phút” : ám chỉ là những dây leo trong rừng thường hay quấn lấy những cây súng trường, đặc biệt là M-14 của quân lính Hoa Kỳ hoặc miền Nam Việt Nam.
Trái ngược với những cuốn phim từ “Hollywood” không phải tất cả đội tuần tra bộ binh có dao dài. Trong rừng, những sợi dây leo hành động như là những sợi dây hoặc dây thừng, những quân lính không thể nhìn thấy chúng, nhưng chúng chỉ muốn nắm lấy họ. Đặc biệt là những vũ khí của họ. Những cây súng trường M-16 dường như mang đi thì không sao, nhưng các cây súng trường M-14 có một tấm kim loại ở phần đuôi vốn đu đưa mở rộng và băng đạn của nó là thép có độ dầy nặng, và lớn hơn những băng đạn bằng nhôm có trọng lượng nhẹ, ngắn của M-16 (loại 20 viên đạn thì phổ biến nhiều hơn và ít bị kẹt hơn loại băng đạn 30 viên của M-16). “Những dây leo đợi-một-phút” thích nắm lấy tấm thép phần đuôi và băng đạn của M-14. Những dây leo sẽ kéo những cây súng trường của họ, sự chuyển động đang đẩy về phía trước của những người lính qua khu rừng giữ họ đi về hướng khác, vì vậy họ bị té, và những cây súng trường bị kéo ra khỏi tay họ. Sau đó, những người lính đã phải “vật lộn để đứng lên” (chiến đấu những dây leo thêm), sau đó ” vật lộn để lấy lại súng của họ” từ những dây leo khác nắm lấy súng. Những người đi đầu để thám thính chịu khốn khổ nhiều nhất trong suốt những cuộc “xuống ngựa bay,” vì họ là những người vốn gặp phải chúng lần đầu tiên.
Những tay súng M-60 có những vấn đề tương tự, nhưng họ đi xa hơn phía sau những người khác. Vì vậy, vào lúc 60 tay súng đến “những điểm khó khăn,” loài thực vật đã gần như bị chà đạp khá tốt đủ cho anh ta đi qua một cách dễ dàng hơn.

pc 18_ TlBChhHtrQsHKVN : Vị Tư lệnh của Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự Hoa Kỳ cho Việt Nam (COMUSMACV = Commander, U.S. Military Assistance Command, Vietnam)

pc 19_ Khu Chiến thuật có Trách nhiệm : (TAOR = Tactical Area of Responsibility) là một khu vực được ra lệnh hành động trong một sân khấu của trận chiến mà qua đó đã được quy định cho một vị chỉ huy đơn vị vốn là người chịu trách nhiệm khu vực, và có thẩm quyền để hành động trên đó, sự phát triển và duy trì những cơ sở và tiến hành các hoạt động chiến thuật, phòng thủ khu vực, sự phối hợp về hỗ trợ, và duy trì việc tiến hành những cuộc tuần tra. TAOR có thể là lớn như kích thước một sư đoàn hay nhỏ như một trung đội.
Một sư đoàn bộ binh cơ động hiện đại có thể có một TAOR nhiều như 200 km chiều rộng mặt trước, và 120 km chiều sâu. Qua sự so sánh, toàn bộ Trận chiến Waterloo được chiến đấu trên một mặt trận tương đối ngắn vào khoảng hai dặm rưỡi (4 km).

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s