Phần 05-1/2 : Sau Tết

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p124

Phần 5 : Sau Tết
(Năm của niềm Hy vọng)

Ở Hoa Kỳ, chiến thắng to lớn về chiến thuật của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân rất gần như thoát khỏi sự chú ý, bị thất lạc giữa cơn hỗn loạn văn hóa và chính trị vốn định rõ đặc điểm vào năm 1968 và lẫn móc lấy trái tim ra khỏi nổ lực chiến tranh của người Mỹ. Đối với miền Nam Việt Nam, tuy thế, chiến thắng trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân là thời điểm hội thảo trong lịch sử ngắn ngủi của quốc gia họ. Dân cư miền Nam Việt Nam đã không vùng lên trong việc hỗ trợ cách mạng, và Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH), đối với tất cả những khuyết điểm của mình, đã chiến đấu tuyệt vời và, với sự trợ giúp của những người đồng minh mạnh mẽ của nó, đánh bại một cố gắng tận dụng hết sức cho chiến thắng của Việt cộng (VC) và Quân đội Bắc Việt (QĐBV). Sự phát hiện về cuộc thảm sát 3.000 thường dân theo ước tính trong máu lạnh trong suốt một giai đoạn khủng khiếp của sự trả thù xã hội trong lúc QĐBV thống trị trên thành phố Huế, cũng đã kết hợp người dân miền Nam Việt Nam như chưa hơn từng bao giờ trước đây và mang một ý nghĩa rõ ràng đối với những người thuộc Sư đoàn 1 QĐVNCH(pc 01) của Tướng Trưởng. Viết cho người vợ của anh ta từ Tổng hành dinh của Sư đoàn 1 QĐVNCH chỉ tám ngày sau sự kết thúc cuộc chiến tại Huế, Đại úy D.H. Campbell của Nhóm Huấn luyện của Quân đội Úc cho Việt Nam (được viết tắt là AATTV), cung cấp một cái nhìn sâu sắc vào trong cuộc tàn sát mang ý nghĩa gì đối với QĐVNCH:

Những hành động tàn bạo vốn đã được nhúng tay vào trong trận chiến này bởi VC thì không thể tin được và mỗi ngày lộ ra các ngôi mộ tập thể và câu chuyện về điều gì xảy ra là chính bằng chứng hiển hiện của tình trạng những thể xác bao gồm nhiều trẻ em. Người ta có thể hiểu sự thù hận vốn cho phép họ siết cổ theo những cách quân đội bằng một sợi dây và trang trí các bức tường bằng những xác chết, ngoại trừ chôn sống toàn bộ những gia đình bao gồm những đứa trẻ trên lý do không gì mạnh mẽ hơn là vì họ từ chối cầm súng bất tuân theo điều tưởng tượng. Tôi đã luôn luôn có sự ngưỡng mộ bất đắc dĩ cho VC theo cái nhìn về điều gì mà họ đã gặt hái trong sự đối mặt về cái gì đó chống lại họ ngoại trừ bất kỳ sự tôn trọng nào mà tôi đã có, bây giờ đã biến mất.1

p125

Cuộc tranh đấu khốc liệt, đặc biệt là trận chiến chiếm lại thành phố Huế, đã bòn rút một số nhân mạng khủng khiếp, với QĐVNCH(pc 01) đang gánh chịu hai phần ba trong tổng số ước tính của 12.000 thương vong liên minh(pc 04) bị mất mát trong chiến dịch. Cuộc chiến đấu mở rộng cũng làm gián đoạn cuộc sống dân sự trên khắp miền Nam Việt Nam; chạy trốn khỏi vũng nước xoáy chiến tranh ở đô thị, khoảng 600.000 người miền Nam Việt Nam trở thành những người tị nạn, 100.000 người chỉ riêng ở khu vực Quân đoàn I. Thêm vào đó, với sức mạnh của những quân đội đồng minh dành cho việc phòng thủ của các thành phố của quốc gia, VC và QĐBV chiếm giữ quyền kiểm soát khắp phần lớn vùng nông thôn. Tình hình, tuy thế, còn tồi tệ hơn cho Việt Cộng và những người miền Bắc Việt Nam, vốn là những người phải chịu một thất bại như tai biến đại hồng thủy, mất một con số 40.000 theo ước lượng trong số 84.000(pc 05) người vốn là những người đã từng tham gia trong trận chiến. Chỉ riêng Quân đoàn I, Trung Tướng Robert Cushman, vị Tư lệnh của Lực lượng Thiết giáp Lội nước Thủy quân Lục chiến III (LlThgiLnTQLC), sau đó ước tính rằng các lực lượng đồng minh đã tiêu diệt hơn 30.000 người của đối phương, tương đương với 74 tiểu đoàn bộ binh.(pc 07) Chuẩn Tướng TQLC John Chaisson, Giám đốc Trung tâm Hoạt động Chiến đấu của BChHtrQsVN (Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự cho Việt Nam), tổng kết tình hình sau Tết ở Quân đoàn I một cách rõ ràng trong một lá thư về quê nhà, nói rằng “sự thiệt hại làm ra ở các thành phố và đối với nền kinh tế thì đáng kinh ngạc. QĐVNCH sẽ là một phần nào đó ít hiệu quả hơn trong nhiều tuần.” Ông ta sau đó thêm vào, “có một sự thắt chặt chung của mọi thứ, và nếu những kẻ ở trên không hoảng sợ, điều này có thể là một bước ngoặt của chiến tranh –ngay cả mặc dù hắn ta [đối phương] khởi đầu nó vì chúng ta.”2
Mặc dù những hoạt động chính vẫn tiếp tục xung quanh Khe Sanh(pc 09) và dọc theo Khu phi Quân sự,(pc 10) những lực lượng của QĐVNCH(pc 01) và Hoa Kỳ lên kế hoạch xây dựng trên chiến thắng của họ và khởi động một cuộc tấn công toàn quốc nhằm đẩy những phần còn lại tan tác của VC và QĐBV từ các vùng đồng bằng đông dân cư và mở lại khu vực trồng lúa quan trọng đối với công cuộc bình định và quyền kiểm soát của chính phủ. Như Tướng Eral Cushman sau đó giải thích, kế hoạch hành động cho năm 1968 tại Quân đoàn I là trước tiên để “theo dõi kẻ thù trong các khu vực ven biển trong một loạt những hoạt động trong khoảng thời gian ngắn, bằng cách sử dụng tính di động của những lực lượng của chúng tôi để điều chỉnh và tiêu diệt những lực lượng quân địch vốn đã thoát khỏi từ những khu vực chính của trận đánh dịp Tết.”3 Một khi kẻ thù bị đuổi ra khỏi các vùng đồng bằng, những lực lượng của Hoa Kỳ và QĐVNCH sau đó lên kế hoạch để đẩy mạnh VC và QĐBV vào trong những vùng cao nguyên và có lẽ ngay cả vào trong Lào.

(Khu phi Quân Sự dọc theo Vĩ tuyến 17, Việt Nam)

Bị suy yếu một cách nghiêm trọng, nhưng với một ý chí bất khuất, những lực lượng của QĐBV, có được sự yểm trợ pháo binh và những tuyến đường hậu cần kiên cố, quyết định bám giữ những lợi ích khó giành lấy của họ trong khu vực và lên kế hoạch phát động những cuộc tấn công xa hơn nữa vào Quân đoàn I. Để đối phó với mối đe dọa này, Tướng Westmoreland và người được ủy quyền của ông ta, Tướng Creighton Abrams, thêm càng lúc càng nhiều quân lính hơn nữa vào trong khu vực

p126

nơi mà cái gì đó là một năm tháng đẫm máu nhất của cuộc Chiến tranh Việt Nam. Chứng tỏ tầm quan trọng được đặt vào những hoạt động tại Quân đoàn I, đến giữa năm, BChHtrQsVN(pc 08) đã tập trung hơn 50 phần trăm của tất cả những tiểu đoàn di động của Hoa Kỳ cùng với hai sư đoàn giỏi nhất của QĐVNCH cho cú đẩy liên minh trong khu vực.4
Ngay cả khi những lực lượng đồng minh tập trung cho trận chiến ở Quân đoàn I, tuy thế, những cơn gió thay đổi chính trị bắt đầu thổi. Dưới áp lực từ cả phe hữu và phe tả chính trị, phải đối mặt với một thách thức mạnh mẽ trong phạm vi đảng phái của riêng mình, choáng váng từ bản tin tường thuật trực tiếp của phương tiện truyền thông về cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân và cảm thấy đau lòng trên sự thất bại của chương trình Xã hội Vĩ đại của mình, vào mùa xuân năm 1968, Tổng thống Lyndon Johnson thực hiện quyết định đầu tiên trong một loạt các quyết định vốn báo trước sự kết thúc việc tham gia của Mỹ trong cuộc Chiến tranh Việt Nam. Với sự góp ý của Bộ trưởng Quốc phòng mới của mình, Clark Clifford, ông Johnson từ chối lời yêu cầu gây tranh cãi của ông Westmoreland về việc 206.000 binh sĩ thêm vào, qua đó đánh dấu sự kết thúc đối với việc leo thang xung đột dần dần của Mỹ. Sự bùng nổ bất ngờ về hành động tìm kiếm linh hồn của chức vụ tổng thống và việc ra quyết định có một ảnh hưởng theo quá trình dây chuyền mà qua đó cũng bao gồm quyết định của ông Johnson về việc không tìm cách ra tái tranh cử và việc mở ra các cuộc đàm phán hòa bình đầy khó khăn với miền Bắc Việt Nam.
Cả Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam đấu tranh để đi đến những điều khoản với tình hình chính trị sau biến cố Tết –một thực tế mới vốn không chỉ báo trước một vai trò cần gia tăng của QĐVNCH(pc 01) trong cuộc xung đột mà còn cung cấp cho những nhà kế hoạch quân sự một cơ hội để biến đổi hình thái Chiến tranh Việt Nam. Vào tháng Ba năm 1968, BChHtrQsVN(pc 08) đề ra một phương án mở rộng và hiện đại hóa những lực lượng vũ trang miền Nam Việt Nam đến một tổng số sức mạnh của 801.215 người trước năm 1970.5 Bám chặc theo gót chiến thắng trong dịp Tết và sự bùng phát kèm theo trong ý chí dân tộc của người dân miền Nam Việt Nam –cũng như trong lúc sức mạnh của những lực lượng Mỹ vẫn còn ở mức cao của nó– việc mở rộng QĐVNCH tạo nên một cơ hội để bù đắp một số trong những điểm yếu quan trọng của thể chế. Tuy nhiên, những thành công trên chiến trường của năm 1968 xem như để che giấu tình trạng cấp bách của tình hình, trong một phần nào đó khiến cho sự cố gắng thiếu đi lòng nhiệt tình cải cách thực sự.
Người dân miền Nam Việt Nam có cái nhìn xa về cả quá trình mở rộng của QĐVNCH và lẫn cuộc xung đột như là một toàn thể. Họ phát họa kế hoạch của riêng mình về việc hiện đại hóa lực lượng, được gọi là Kế hoạch Sáu, mà qua đó tập trung vào việc sáng tạo một lực lượng quân sự tự túc, độc lập hơn ở miền Nam. Kế hoạch này không chỉ chứa một phương án cho việc mở rộng mà còn tự quan tâm đến bản thân với các vấn đề về khả năng bền vững lâu dài, bao gồm việc tạo ra những đơn vị hỗ trợ nhiều hơn và việc cải thiện những tiêu chuẩn đời sống quân sự và vấn đề cung cấp nhà ở cho gia đình.

p127

Sự tiếp nhận của Mỹ về Kế hoạch Sáu, tuy thế, không nhiệt tình và chứng tỏ một triết lý tạm bợ hơn của một dân tộc vốn đang chán ngán vì cuộc chiến tranh của nó. Dưới áp lực của cuộc bầu cử sắp xảy ra, Washington thúc ép cho một giải pháp tức thời hơn cho vấn đề này, với Clark Clifford hướng dẫn ông Westmoreland về sự “cấp bách” trong việc củng cố quân đội miền Nam Việt Nam “càng nhanh càng tốt” để cho phép Hoa Kỳ “chuyển gánh nặng của cuộc chiến sang những lực lượng của chính phủ miền Nam Việt Nam.”
Như là một kết quả của những hướng dẫn của ông Clifford, BChHtrQsVN(pc 08) đặt ra một kế hoạch năm năm vốn không chỉ kêu gọi vấn đề làm mạnh thêm QĐVNCH mà còn thừa nhận rằng một lực lượng chiến đấu lớn, còn dư lại của Hoa Kỳ sẽ vẫn ở trong nước để hỗ trợ QĐVNCH trong những lúc cần đến. Những người soạn thảo kế hoạch ba-giai-đoạn đi đến kết luận rằng một lực lượng còn dư lại sẽ là điều cần thiết bởi vì họ cho rằng thậm chí một QĐVNCH được mở rộng có thể đối phó một cách hiệu quả chỉ với cuộc nổi dậy nội bộ, không phải là mối đe dọa thông thường gây ra bởi miền Bắc Việt Nam. Tính cách hợp lý về mặt quân sự, tuy thế, đâm bổ vào vấn đề thực tế về mặt chính trị, và vào tháng Bảy năm 1968, ông Clifford thông báo cho BChHtrQsVN chuẩn bị thay thế lực lượng miền Nam Việt Nam bằng các đơn vị bộ binh của Mỹ càng nhanh càng tốt, “nhằm giảm xuống những thương vong của Mỹ và làm im tiếng lời phê bình quốc nội trong năm bầu cử tổng thống.” Bước cuối cùng và bản chất đơn phương của những việc rút quân của Mỹ phá vỡ kế hoạch của BChHtrQsVN một cách chết người, với việc dựa vào một lực lượng còn dư lại, và xoáy mòn kế hoạch cải cách đúng đắn và rất ư cần thiết của QĐVNCH. Thay vào đó, những kế hoạch cuối cùng cho việc mở rộng các lực lượng vũ trang của miền Nam Việt Nam được quan tâm nhiều với việc tối đa hóa sức mạnh cá thể hơn là so với việc làm cho QĐVNCH tự túc, độc lập hơn. span style=”color: #000080; font-size: 14px; vertical-align:super;”>6
Sự lạc quan dâng cao trong Quân đoàn I sau việc chiếm lại Kinh thành ở Huế. Những lực lượng đối phương bị sát hại nhiều dường như đang tháo chạy, những đơn vị của Mỹ đã dời vị trí đến khu vực này để tung ra một cuộc tấn công nhằm đòi lại các vùng nông thôn, và QĐVNCH dường như sẵn sàng xây dựng lại chính mình và xác nhận lại lớp áo dân tộc chủ nghĩa của nó. Giữa sự hối hả và nhộn nhịp của những trận giành được chiến thắng, tuy thế, những điểm yếu có tiềm năng gây tử vong của QĐVNCH vẫn còn bị che khuất bởi hỏa lực của Mỹ. Bị đẩy sang một bên và bây giờ hoàn toàn là một lực lượng phụ cho cuộc chiến tranh của Mỹ, QĐVNCH vẫn là một công cụ quyền lực bị chính trị hóa và đầy khiếm khuyết. Những cuộc đấu tranh và mối bất hòa đang xảy ra bên trong cơ chế của Mỹ về mặt chính trị, tuy thế, nói lên rằng càng lúc càng nhiều cuộc xung đột vốn sẽ sớm rơi vào quân đội miền Nam Việt Nam mà qua đó, theo những lời của Phạm Văn Đính, vẫn chưa từng có một cơ hội để “phát triển.”

p128

a- Cuộc truy kích ở vùng đồng bằng :

Việc chiếm lấy chủ động của đồng minh trong Quân đoàn I xảy ra tức thời, khiến cho các đơn vị của VC và QĐBV bị bầm dập trong suốt cuộc chiến đấu ngày Tết ít thời gian để hồi phục. Mặc dù những hoạt động tiếp tục gần Khe Sanh(pc 09) ban đầu vồ lấy hầu hết các tiền đề trên báo chí, cú đẩy làm bật rể VC(pc 02) và chiếm lại quyền kiểm soát các vùng đồng bằng khởi đầu hình thành trung tâm điểm của cái gì đó là một cuộc tấn công với toàn thể quân đoàn của đồng. Trong suốt tháng Ba và tháng Tư, LlThgiLnTQLC III(pc 06) tung ra 17 hoạt động chính với kích thước tiểu đoàn hoặc lớn hơn và bắt đầu chiếm lại các làng mạc và thôn ấp vốn đã rơi vào VC trong suốt dịp Tết. Trong ba tỉnh phía nam của Quân đoàn I, những lực lượng cộng sản hầu như tránh né trận chiến và hạn chế hầu hết hoạt động của họ thành các cuộc tấn công du kích, những bãi mìn, và bẫy sập rải rác.7 Tuy nhiên, trong khu vực hoạt động của Sư đoàn 1 QĐVNCH, tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, cuộc chiến đấu ở vùng đồng bằng vẫn còn ác liệt.
Những đơn vị của Mỹ và QĐVNCH(pc 01) bắt đầu trong cuộc truy kích “nóng” những người tụt hậu (i.e. phía sau) của QĐBV và VC, và đối với đội Hắc Báo, hậu quả của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân đặc biệt là vẫn còn bận rộn khi đơn vị tham gia vào công việc thường làm quen thuộc của hoạt động gần như không đổi trong việc hỗ trợ cuộc tấn công của đồng minh. Mặc dù gần như tham gia vào các trận chiến với những đơn vị nhỏ của kẻ thù, vào giữa tháng Ba, Sư đoàn 1 QĐVNCH nhận được những báo cáo về một tiểu đoàn QĐBV trong vùng lân cận của thôn Lãng trên sông Bồ ở phía bắc của Huế và gởi đội Hắc Báo đến điều tra.
Trần Ngọc Huế nhanh chóng nhận xét tình hình và báo cáo việc tiếp xúc xác thực với Tiểu đoàn 8 thuộc Trung đoàn 90 của QĐBV, vốn đã chiếm lấy những vị trí phòng thủ trong phạm vi ngôi làng. Nóng lòng muốn đẩy mạnh hơn bao giờ hết vào kẻ thù mà anh ta biết là đang tháo chạy, anh Huế gọi đến những cuộc không kích và pháo kích vào các ụ phòng thủ của QĐBV. Sau đó, chắc chắn rằng không còn gì có thể sống sót trong vũng xoáy, anh Huế ra lệnh những người của mình tung ra một cuộc tấn công trực diện vào làng. QĐBV,(pc 03) tuy thế, đã sống sót và bắt gặp đội Hắc Báo trong một cuộc bắn chéo phủ đầu đến chết người khi những người của anh Huế vật vả băng qua cánh đồng trống trải. Nhận thức sự lầm lẫn của mình, anh Huế nhanh chóng rút lại những lực lượng tấn công của mình, nhưng chỉ sau khi những tổn thất nặng nề. Cuộc chiến đấu tại thôn Lãng tiếp tục trong hai ngày như một cái gì đó chế ngự, anh Huế dựa vào hỏa lực và những di chuyển vào sườn trận địa nhiều hơn là vào sự táo bạo để đạt được thành công trong bước tiến của mình. Khi đội vòng thòng lọng của Hắc Báo xiết chặt và ào ạt hỏa lực tìm đến đích của nó, QĐBV lén thoát khỏi cuộc chiến đấu với những tổn thất nặng nề. Tuy nhiên, đội Hắc Báo đã gánh chịu to lớn, qua việc mất mát 40 người. Đối với Trần Ngọc Huế,

p129

cuộc chiến đấu tại thôn Lãng xem như là một lời cảnh cáo không bao giờ đánh giá thấp QĐBV. Mặc dù nó đã gánh chịu thiệt hại rất nhiều trong dịp Tết và triều sóng của cuộc chiến dường như đã chuyển hướng chống lại với nó, QĐBV sẽ tiếp tục chiến đấu, một bài học mà Trần Ngọc Huế sẽ không thể nào quên.
Sau kinh nghiệm của cuộc giao tranh ác liệt trong Kinh Thành, anh Đính và những người của 2/3(pc 11) QĐVNCH trở về căn cứ hỏa lực Xuắc Xu và được tái hợp nhất với cả hai đại đội vốn đã từng bị bỏ lại một mình bên kia Quốc lộ 1 và những phần còn lại của trung đội vốn đã bị bỏ lại tại phía sau ở căn cứ hỏa hoạn, mà qua đó đã rơi vào cuộc tấn công của QĐBV.8 Mặc dù được tăng cường và tiếp tế thêm, những người lính của 2/3 chỉ trải qua một ít ngày trong doanh trại căn cứ trước khi quay trở lại trận chiến. Đến đầu tháng Ba, 2/3(pc 11) tìm thấy chính mình trong một khu vực quen thuộc của huyện Quảng Điền, lần này như là một tiểu đoàn chiến đấu, làm việc theo đồng bộ trước sau cùng với Lữ đoàn 2 thuộc binh chủng Dù 101, dưới quyền chỉ huy của Đại Tá John Cushman, vốn gần đây được dời đến gần bên Bãi đáp “Phá vòng Vây” (Sally).
Anh Đính cảm thấy ngạc nhiên bởi điều kiện của huyện mà anh ta đã để lại dưới sự kiểm soát của chính phủ chỉ ba tháng trước đó. Những lực lượng của QĐVNCH đã từ bỏ khu vực để theo đuổi trận chiến tuyệt vọng trong ngày Tết ở thành phố Huế, và, như anh Đính đã từng nghi ngờ và cảnh cáo, lực lượng Địa phương Quân và Nghĩa quân (ĐPQ & NQ) huyện đã chứng tỏ không xứng với những kẻ thù dầy dạn trong trận chiến của họ. Công việc bình của anh Đính đã trở thành như không, bởi vì Quảng Điền, giống y như phần lớn vùng nông thôn xung quanh, một lần nữa lại bị nhiễm với QĐBV.9 Sự sụp đổ của công cuộc an ninh ở quận huyện thì quá cao trong tổng số đến nổi vào tháng Ba năm 1968 những lực lượng ĐPQ & NQ(pc 12) bản địa chỉ có thể duy trì ba tiền đồn cô lập và kiểm soát ít hơn 5 phần trăm khu vực huyện.10 Không giống như ở một số khu vực, tuy thế, QĐBV dường như quyết tâm chống chọi và chiến đấu cho quyền sở hữu đất đai màu mỡ của Quảng Điền, vốn hình thành một phần rất quan trọng của hệ thống cung cấp hậu cần của nó. QĐBV vì vậy tăng cường “gần như tất cả trong số những làng mạc.. với những hào tuyến phòng thủ và hầm trú.”11
Đau buồn bởi sự sụp đổ của công cuộc bình định ở Quảng Điền và lo lắng về số phận của những người mà anh đã từng có dịp biết đến như là bạn bè, anh Đính nóng lòng muốn trở lại làm việc trong huyện. Mong muốn của anh ta được sánh ngang với điều đó của anh Cushman sôi nổi, vốn là người giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 1 thuộc binh chủng Bộ binh 502 (1/502) của Mỹ tiêu diệt những lực đối phương và những tuyến đường xâm nhập của họ ở Quảng Điền. Báo trước một mức độ mới của sự hợp tác Hoa Kỳ / QĐVNCH, trong phần lớn thời gian của đầu tháng Ba, 2/3 và 1/502 làm việc theo đồng bộ trước sau, chia sẻ thông tin tình báo, các khu căn cứ, và hỏa lực. Cùng nhau, họ đi qua cuộc giao tranh mạnh liệt vốn tập trung vào những ấp Lâm Đồng, Trung Sơn, và Phó Lai, hai cây số về phía nam của phố huyện.

p130

Các giao tranh khốc liệt và liên tục, với những bãi mìn, bẫy sập, và những cuộc phục kích có kích thước đại đội theo tiêu chuẩn, khi các đơn vị đồng minh càn quét từ thôn nầy đến ấp nọ và đuổi các lực lượng QĐBV ra khỏi những nơi phòng thủ phức tạp của họ. Cuộc đấu tranh để đòi lại Quảng Điền chỉ mới bắt đầu, hình thành một trung tâm điểm của nổ lực kết hợp, rất cần thiết, để giành lấy các vùng đồng bằng của tỉnh Thừa Thiên từ quyền kiểm soát của QĐBV. Vừa mới xong, tuy thế, cuộc phối hợp của 2/3 và 1/502 đã đạt được những kết quả tuyệt vời, giải thích cho 247 xác chết của QĐBV.12
Vào ngày 5 tháng Tư, ngay trước khi khởi hành cho các hoạt động trong thung lũng A Shau, 2/3 của QĐVNCH đã liên lạc với Tiểu đoàn 12, Trung đoàn 4 thuộc Sư đoàn 312 QĐBV ở phía đông Quốc lộ 1. Sau khi ghìm chặt kẻ thù lui vào một con sông gần đó, 2/3, qua vị cố vấn, Joe Bolt, gọi đến hỏa lực pháo binh và các cuộc không kích không ngừng nghĩ vào những vị trí bị bộc lộ của QĐBV. Sau một ngày chiến đấu khó khăn, phần còn lại của QĐBV lén thoát khỏi vào ban đêm, nhưng 2/3, mặc dù không được hỗ trợ bởi các lực lượng bộ binh của Mỹ, đã giành được một chiến thắng đáng kể, qua việc mất mát 10 người chết và 40 người bị thương trong khi giết chết 71 người của QĐBV và tịch thu được vô số những vũ trang hạng nhẹ và vũ khí hạng hạng nặng.13 Anh Đính và 2/3(pc 11) đã làm nên ấn tích của họ qua cuộc chiến đấu ở Quảng Điền. Với sự phong phú về kiến thức địa phương của anh ta, từ những mối liên kết niềm tin có giá trị với dân cư địa phương đến sự quen thuộc với các tuyến đường xâm nhập của đối phương, anh Đính đã chứng minh những điều đó không thể thiếu được để đưa đến thành công trong khu vực và đã làm việc rất chặt chẽ với cả vị chỉ huy 1/502,(pc 13) Trung Tá Bertram Bishop, và với anh Cushman –một mối quan hệ hợp tác vốn rất thường thiếu trong một cuộc chiến tranh bị phân chia.
Trong giai đoạn 1964-1965, Đại tá John Cushman đã phục vụ như là vị cố vấn cao cấp cho Sư đoàn 21 QĐVNCH sâu trong đồng bằng sông Cửu Long, cho phép ông ta có một cái nhìn rộng hơn về bản chất Chiến tranh Việt Nam. Một cái gì đó của một người trí thức không chịu theo khuôn phép xã hội trong giới quân sự Mỹ, anh Cushman nghi ngờ quyền toàn năng của sức mạnh chiến đấu của Hoa Kỳ. Theo quan điểm của anh ta, QĐBV và VC đã từng sống còn quá lâu so với tình trạng nặng nề cho phép cho một niềm tin đơn giản như vậy. Thay vì chấp nhận mô hình của việc đẩy QĐVNCH(pc 01) sang một bên trong khi các lực lượng Hoa Kỳ chiến thắng cuộc chiến trong cơn bột phát mãnh liệt của hỏa lực, anh Cushman đã đi đến một niềm tin rằng sự hợp tác thực sự và hoàn hảo của Mỹ / QĐVNCH nắm giữ một cơ hội tốt nhất cho sự thành công đích thực ở Việt Nam:

Tôi biết điều gì đó đối mặt với những quân lính Việt Nam và các vị cố vấn của họ. Tôi nhất quyết giúp đỡ họ. Nhiều hơn thế nữa, là chịu trách nhiệm cho việc sử dụng tài sản của quân đội Mỹ trong khu vực này qua những hoạt động, tôi nhất quyết làm tất cả điều gì mà tôi có thể để thấy rằng chúng ta hoạt động như một phần của một kế hoạch chung

p131

mà qua đó sẽ phối hợp những hoạt động của chúng ta, những hoạt động của Sư đoàn 1 QĐVNCH, và những hoạt động của các lực lượng tỉnh và huyện thành trở thành một nổ lực duy nhất từ điểm này về trước.14

Như được biểu hiện qua bằng chứng, và một phần là do, sự hợp tác hiệu quả giữa 2/3 và 1/502, quy tắc đầu tiên về những hoạt động của anh Cushman là làm việc chặt chẽ với người miền Nam Việt Nam. Trong những vùng đồng bằng có dân cư đông đúc, anh Cushman nhận ra rằng những lực lượng địa phương trong vùng được trang bị rất tốt hơn để phân biệt kẻ thù từ bạn bè và có sự tiếp cận với tình báo từ những làng mạc và thôn ấp của khu vực, một khía cạnh thông tin rất quan trọng mà Mỹ không có. Để đạt được một sự phối hợp hành động hoàn hảo, Lữ đoàn số 2 làm việc với người miền Nam Việt Nam ở tất cả các cấp, từ những quan chức huyện đến Tướng Trưởng ở đồn trú chỉ huy của Sư đoàn 1 QĐVNCH. Mức độ cao của sự hợp tác có nhiều hình thức, bao gồm việc đặt vị trí cho những đồn trú chỉ huy tiểu đoàn của Mỹ cùng với trụ sở chính của quận trưởng Việt Nam.15
Những người của anh Cushman đặc biệt là làm việc một cách chặt chẽ với ĐPQ & NQ bản địa, qua việc huấn luyện những người Việt và đôi khi thậm chí hợp nhất họ trở thành những trung đội của Mỹ. Tướng Trưởng cảm thấy hân hoan bởi triển vọng tương lai và những kết quả, nói rằng các lực lượng:

làm việc tay trong tay trong hầu hết mọi vấn đề, từ việc lên kế hoạch đến việc điều hành những hoạt động chiến đấu. Cùng một tinh thần hợp tác dâng hiến lan tỏa giữa một tiểu đoàn và đội ngũ nhân viên quận huyện và trong số các đơn vị trực thuộc. Sự hợp tác đang trong trạng thái hiệu lực quá gần gũi đến nổi cả đội ngũ nhân viên làm việc như là một đội và lẫn tất cả các đơn vị trực thuộc, Hoa Kỳ, ĐPQ & NQ, được hợp nhất lại một cách thực dụng trở thành một lực lượng duy nhất. Điều đáng chú ý về hoạt động này là nhiệm vụ được giao phó cho mỗi phần tử được trù tính để phù hợp tốt nhất đối với khả năng của mình để thực hiện bất kể về dân tộc tính nào.16

Trong suốt những hoạt động, vốn lôi cuốn cuộc giao tranh ác liệt và dai dẳng, những lực lượng ĐPQ & NQ(pc 12) được chọn lựa bởi vị Quận trưởng liên kết với những đối tác Mỹ của họ tại một địa điểm được sắp xếp trước mỗi buổi sáng. Những quân lính của QĐVNCH sau đó thường tháp tùng theo phần tử dẫn đầu của cuộc càn quét, kết, qua cách sử dụng sự quen thuộc của họ với địa hình và người dân địa phương và khả năng đặc biệt của họ khám phá ra những bãi mìn, bẫy sập, và những nơi ẩn náu bí mật. Những quân lính của Hoa Kỳ, trong khi đó, thành lập một môi trường tấn công chính.17 Những kết quả của nổ lực kết hợp thì hiện thực và rún động. Theo những lời của Chuyên gia phân tích tình hình Robert Johnson của 1/502:

p132

Với một binh chủng Dù cung cấp sức lực và tính di động, và việc cung cấp những báo cáo tình báo của ĐPQ, từ cuộc thẩm vấn tù binh, và khả năng thực hiện việc trinh sát, những quân lính đồng minh truy lùng QĐBV trong mỗi nơi trú ẩn được biết đến trong huyện. “Đại tá Bishop dùng những báo cáo tình báo của ĐPQ cũng giống như họ cần được được sử dụng,” Đại úy Selzer nói, “và anh ta đối xử họ với cùng một sự cứu xét và tôn trọng như những người của mình.”18

Được hỗ trợ bởi mối quan hệ tốt đẹp của mình với dân Việt Nam, anh Cushman cũng viện dẫn nguyên tắc cơ bản thứ hai của Sư đoàn Dù 101 ở Quảng Điền, qua việc duy trì áp lực liên tục và không ngớt vào đối phương. Bằng cách sử dụng tình báo địa phương, những lực lượng của Lữ đoàn 2 càn quét qua khu vực hoạt động của họ vào ban ngày, tìm kiếm mối liên lạc của đối phương, và thiết lập những ổ phục kích vào ban đêm. Chiến thuật này tạo ra nhiều cuộc đụng độ với những lực lượng của QĐBV(pc 03) và VC(pc 02) –những trận đánh ngắn, dữ dội mà qua đó, trong khi sản xuất, theo sau cùng một mô hình làm mất tác dụng vốn cũng là tiêu biểu cho Chiến tranh Việt Nam trong đó đối phương hay lảng tránh nhận lấy những mất mát nặng nề nhưng lén thoát đi dưới sự che phủ của bóng đêm.
Vào ngày 27 tháng Ba, Tiểu đoàn 1 thuộc Bộ binh 501 (1/501), được chỉ huy bởi Trung Tá Wayne Procup, đuổi theo một đại đội của Tiểu đoàn 810 Việt Cộng đến hang ổ trong làng Thuận Hòa, trên sông Hương. Ngay lập tức, ông Procup bắt đầu bố trí những lực lượng của mình, được hỗ trợ bởi những sự góp ý của tình báo miền Nam Việt Nam, theo cái vòng rìa chung quanh làng trong việc chuẩn bị cho một cuộc tấn công vào những nơi phòng thủ của VC. Tuy nhiên, việc xuất hiện của sự chuyển đổi đột ngột của vùng nhiệt đới từ ánh sáng ban ngày biến thành bóng tối đã không để lại đủ thời gian cho một cuộc tấn công. Ông Procup biết rằng cơ hội chiến thắng của mình đang nhanh chóng trôi đi và rằng VC, từng người một và hai, sẽ biến mất ra khỏi cái bẫy và vào trong bóng đêm. Thất vọng, ông Procup yêu cầu việc rọi sáng chiến trường theo vệt dài vào bóng đêm để cho ông ta có thể giữ những lực lượng của mình trong những vị trí ngăn chận của họ và cản trở việc rút quân của kẻ thù. Những chiếc trực thăng có đèn chiếu sáng đến ngay sau khi đêm tối, tắm đẫm chiến trường trong một ánh sáng chói quái dị. Trong suốt đêm, những ổ súng nổ lốp bốp dọc theo những tuyến phòng thủ của 1/501 khi nhóm VC(pc 02) bị tách biệt cố gắng chạy trốn. Lúc bình minh, mặc dù việc bao vây được ứng biến theo nhu cầu cấp bách chứng minh đã là không hoàn hảo và phần lớn lực lượng đối phương đã thành công cuộc trốn thoát của nó, 50 VC đã bỏ mạng. Gần như nhờ cơ may, anh Cushman và Lữ đoàn 2 đã nảy ý kiến về những nguyên tắc chiến thuật vốn bổ sung tốt nhất cho sức mạnh hợp tác của Hoa Kỳ / miền Nam Việt Nam –những hoạt động về rào cản.19
Qua việc nghiên cứu phương thức hoạt động mới của họ bằng cách thử và sửa sai, Lữ đoàn 2 sử dụng tình báo địa phương của miền Nam Việt Nam để phân biệt những con đường có thể tốt nhất cho những cuộc càn quét

p133

và những nơi của các ổ phục kích trong những cố gắng tìm vị trí của những nơi hình thành quân binh đáng kể của VC và QĐBV ở giữa các làng mạc, thôn ấp, và địa hình gập ghềnh của Quảng Điền. Một khi một trong những đơn vị trinh sát được rãi ra khoảng rộng lớn tham gia trong trận chiến, đó là một cuộc chạy đua chống lại thời gian để tập hợp những lực lượng đồng minh tại hiện trường trước khi VC và QĐBV thực hiện thành công việc trốn thoát của họ. Kịch bản của hợp tác liên minh và phần thưởng được đặt trên sự phản ứng nhanh chóng phù hợp với những thế mạnh của đội Hắc Báo một cách hoàn hảo, và, ngay cả khi anh Đính và 2/3(pc 11) rời khu vực, anh Huế và đại đội ưu tú của mình bước vào cuộc chiến đấu cho sự thống trị Quảng Điền.
Việc hoạt động gần như liên tục cho những người của anh Cushman thừa cơ hội để điều chỉnh tỉ mỉ chiến thuật của họ, và, vào ngày 21 tháng Tư, Đại đội C thuộc 2/501 gặp cuộc chạm súng nặng nề với kẻ thù gần thôn Thành Trung, bảy cây số về hướng đông nam của phố huyện Quảng Điền, mà qua đó đưa đến hoạt động rào cản thứ tư của Lữ đoàn 2. Tất cả bốn đại đội của 2/501 vội vã đến hiện trường, một số đi bộ và những người khác bằng trực thăng, và hoàn thành rào cản trước khi màn đêm buông xuống. Không thể trốn thoát và bị dập liên hồi bởi hỏa lực pháo binh, QĐBV chiến đấu tận lực và đẩy lui cuộc tấn công của Đại đội A vào buổi chiều hôm sau ở ngôi làng. Cần thêm sức mạnh để rút cái thòng lọng chặt hơn bao giờ hết xung quanh QĐBV bị rơi vào bẫy, anh Cushman gọi đến những lực lượng của đội Hắc Báo, mà qua đó cuộc chiến đấu tấn công vào trong khu vực và diễn ra ở hàng rào cản.
Anh Cushman và những người của mình đã hoàn thiện mưu lược của họ. Những vị trí phòng thủ cá nhân vòng quanh toàn bộ ngôi làng và không quá mười mét cách xa, khiến cho kẻ thù không có đường thoát. Ánh sáng trên hàng rào cản luôn liên tục, thậm chí trong một thời gian gián đoạn mười phút ở nơi chiếu sáng sẽ cho phép những chiến binh của QĐBV trườn mình qua những cánh đồng lúa đến nơi an toàn. Chế độ ban đêm rất khó; mỗi người trong mỗi hố cá nhân phải duy trì sự tỉnh táo và cảnh giác. Bất kỳ sai sót sẽ cho phép đối phương có tài xoay xở và liều mạng, cơ hội biến mất. Vào đêm của ngày 22 tháng Tư, kỷ luật vẫn còn mạnh mẽ và hàng rào cản đứng vững. Sáng hôm sau, những lực lượng đồng minh nhích gần hơn đến thôn Thành Trung chống lại hỏa lực đang giảm của đối phương. Được đi trước bởi một loạt bắn yểm trợ của pháo binh và những cuộc không kích, Đại đội A càn quét qua làng và tìm thấy chỉ là một cuộc tàn sát. Với cái giá của 12 người bị thương, lực lượng đồng minh đã xóa sổ toàn bộ một đại đội QĐBV, qua việc ghi nhận 74 người bị giết được xác nhận và bủa lưới một tù binh thực sự bị mất phương hướng.20
Sau thành công của họ, những đại đội của 1/501 và Hắc Báo tiếp tục càn quét qua khu vực tìm kiếm kẻ thù. Công việc thì chậm chạp, bởi vì mỗi ngôi làng mà họ bước vào, là một địa điểm mạnh có tiềm năng của QĐBV.

p134

Lúc giữa trưa vào ngày 28 tháng Tư, Trần Ngọc Huế và những người của mình bắt đầu cuộc trinh sát lực lượng của khu vực gần làng Yên Phước, nằm trong một khúc uốn của sông Bồ về phía nam của phố huyện Quảng Điền. Thậm chí từ một khoảng cách, khung cảnh khiến anh Huế tạm dừng; nhiều ngôi mộ mới rải rác quan cảnh, và không có nông dân nào trong những cánh đồng. Ngôi làng thì quá yên tĩnh. Nhớ đến kinh nghiệm của mình tại thôn Lãng, anh Huế ra lệnh đội Hắc Báo tiếp cận Phước Yên với sự cẩn trọng, bằng cách sử dụng bờ sông gần bên như là sự che chắn. Khi đội Hắc Báo kéo gần đến ngôi làng, tuy thế, tất cả địa ngục thoát ra. Lằn đạn của tất cả các loại đổ vào từ một vị trí mai phục được chuẩn bị, hỏa lực quá mãnh liệt đến nổi anh Huế tính toán rằng đơn vị của mình đối mặt với toàn bộ một tiểu đoàn QĐBV. Nhanh chóng lướt qua suy luận về tình hình đang phát triển, anh Huế nhận ra rằng bên cánh phải của mình được che chắn bởi sông Bồ, trong khi bên cánh trái và phía sau của mình giáp với những cánh đồng lúa trống trải. Mặc dù những chiến binh của đội Hắc Báo bị vượt hơn về số đông một cách đáng kể, mối đe dọa chỉ đến từ phía trước. Chắc chắn rằng mình nắm giữ lợi thế, anh Huế và vị cố vấn Hoa Kỳ của mình, Jim Coolican, gọi đến khói mù để có được sự tách biệt khỏi QĐBV và sau đó hướng dẫn pháo binh và những cuộc không kích dập vào các vị trí của đối phương để giữ họ bị ghìm chặt tại chỗ. Anh Huế cũng tiếp tục chuyển tin tốt đến một Cushman hân hoan. Toàn bộ tiểu đoàn QĐBV, Tiểu đoàn 8 thuộc Trung đoàn 90, đã được định vị và bị ghìm chặt vào trong một vị trí hoàn hảo, bị bao quanh ở ba mặt bởi chướng ngại nước. Trần Ngọc Huế và đội Hắc Báo đã khởi đầu cái gì đó sẽ trở thành hoạt động của hàng rào cản cổ điển.
Những đơn vị gần đó vội vã đến hiện trường của trận chiến đang phát triển, khiến cho nó là một vấn đề liên minh thật sự. Đến tối, một Đại đội của 1/501, một Đại đội thuộc 2/501, một Đại đội của 1/502,(pc 13) đội Hắc Báo, ba trung đội NQ(pc 12) từ huyện Hương Trà lân cận, và bốn mươi dân quân ấp đã tham gia chiến đấu để hoàn thành một trong những hàng rào cản lớn nhất và hiệu quả nhất của toàn bộ chiến tranh. Khi những chiếc trực thăng có gắn đèn pha xuất hiện để chiếu sáng chiến trường, QĐBV nhận ra rằng nó đã bị mắc bẫy và phản ứng bằng sự hung bạo. Liều mạng chiến đấu cho con đường thoát khỏi vòng vây hoàn hảo, các đơn vị của QĐBV tung ra bốn cuộc công kích lớn chống lại các tuyến đường được giữ bởi đội Hắc Báo và Đại đội A thuộc 1/502. Mặc dù cuộc giao tranh hỗn loạn, hàng rào cản vẫn đứng vững.
Vào những giờ sáng sớm của ngày 29 tháng Tư, đội Hắc Báo và A-1/502(pc 14) di chuyển về phía trước trong một cố gắng thử thu nhỏ hàng rào cản xung quanh những lực lượng đối phương. Gặp phải hỏa lực mạnh mẽ từ các vị trí có hào xung quanh của quân địch, A-1/502 kéo trở lại từ thôn ấp bổ sung Lê Văn Thường và gọi thêm những loạt pháo binh và các cuộc không kích. Đội Hắc Báo, tuy nhiên, đạt được

p135

thành công lớn hơn và di chuyển 100 mét vào trong chính làng Phước Yên, qua cuộc chiến đấu từ hầm trú nầy đến hầm trú khác chống lại sự đối kháng ác liệt, khi anh Coolican hướng dẫn việc yễm trợ hỏa lực càng lúc càng chính xác nhiều hơn vào những vị trí của QĐBV đến mặt trước của họ. Sau một ngày chạm súng nặng nề, hàng rào cản được phong kín qua đêm. Sáng hôm sau, đội Hắc Báo một lần nữa hình thành mũi nhọn tiến công liên minh và dồn về hướng vào trong trung tâm Phước Yên –một cú đánh gây tê liệt vào tinh thần chiến đấu của QĐBV.
Vào chiều tối ngày 30 tháng Tư, đội Hắc Báo rút từ Phước Yên vì việc thực hiện một hoạt động khác. Mặc dù trận chiến tiếp tục diễn ra ác liệt, sự quyết định, giành được thắng lợi trong phần lớn bởi lòng dũng cảm và sự táo bạo được bày tỏ bởi đội Hắc Báo, bây giờ là một kết luận được định đoạt trước. Lúc bình minh ngày 1 tháng Năm, sự đề kháng của QĐBV bắt đầu sụp đổ, ngay sau đó cho A-1/502 một cơ hội để di chuyển về phía trước vào trong ấp Lê Văn Thường.

p136

Đội chiến tranh tâm lý đến và bắt đầu phát sóng những lời kêu gọi đầu hàng. Trong số nhóm những tù binh đầu tiên là một trung sĩ QĐBV, vốn là người cầm micro và bắt đầu nói với những người của riêng mình rằng, họ bị bao vây và không có cơ hội trốn thoát. Trong một ít phút, những con số tù binh tăng lên hơn bao giờ hết bắt đầu đầu hàng. Một số những đảng viên tích cực của QĐBV, tuy thế, chọn cách chống lại đến cùng, và hàng rào cản đứng vững trong ba ngày thêm nữa. Cuối cùng, vào sáng sớm của ngày 3 tháng Năm, những người bám giữ cuối cùng của QĐBV thực hiện một cố gắng cuối cùng để trốn thoát nhưng thất bại. Hàng rào cản đã thực sự có hiệu nghiệm.
Những kết quả của hàng rào cản ở Phước Yên gây ấn tượng, một trận chiến được bắt đầu bởi Trần Ngọc Huế và một trận chiến mà qua đó đội Hắc Báo theo lập luận đóng một vai trò rất quan trọng. Trong cuộc chiến đấu, những lực lượng của QĐBV gánh chịu hơn 400 người bị giết. Thậm chí đáng kể hơn là, Hoa Kỳ và QĐVNCH buộc phải bắt giữ 107 tù binh, một số lượng lớn nhất của QĐBV bị bắt trong bất kỳ hoạt động đơn thuần nào đến thời điểm này trong toàn bộ cuộc Chiến tranh Việt Nam. Toàn bộ một tiểu đoàn QĐBV không còn tồn tại, tất cả với cái giá chỉ là tám người Mỹ và hai chiến sĩ của QĐVNCH bị giết.21
Sau làng Phước Yên, những hoạt động của hàng rào cản tiếp tục ở huyện Quảng Điền và các huyện chung quanh, với đội Hắc Báo một lần nữa đóng một vai trò rất quan trọng trong việc đạt được một thành công ngoạn mục khác một tháng sau đó, kết quả là 235 kẻ thù thiệt mạng và 77 người bị bắt làm tù binh so với chỉ có tổng số 7 người liên minh bị thiệt mạng trong nhiệm vụ.22 Trong một vài tuần chiến đấu, chiến thuật hàng rào cản và sự phối hợp mạch lạc của các đơn vị Hoa Kỳ và QĐVNCH, được tạo ra bằng chứng tốt nhất bởi mối quan hệ được chia sẻ giữa Lữ đoàn 2 và 2/3 dưới quyền anh Đính và đội Hắc Báo dưới quyền anh Huế, đã đẩy QĐBV ra khỏi được những vùng đồng bằng ven biển ở phía bắc thành phố Huế. Theo những lời của một kiến trúc sư trưởng về sự thành công, Đại tá John Cushman, “Đó là cách mà chúng tôi đã làm điều đó ở tỉnh Thừa Thiên; làm việc với người Việt Nam, làm cho kẻ thù không có thời gian nghĩ ngơi, và bao vây đối phương ở mọi cơ hội.” Những kết quả thực thụ về những hoạt động đang gây kinh ngạc –28 người Mỹ và 6 người QĐVNCH bị thiệt mạng trong nhiệm vụ, trong khi 1.200 —80 phần trăm trong số họ là những người miền Bắc Việt Nam — bị giết chết trong suốt những hoạt động của hàng rào cản, và 252 tù binh –cũng 80 phần trăm là những người miền Bắc Việt Nam– bị bắt giữ.23
Ở một mức độ thấp hơn, sự thay đổi được trui rèn bởi sự hợp tác của Hoa Kỳ / người miền Nam Việt Nam đã từng không kém gây xúc động và đổi mới, qua việc biến đổi những khả năng của ĐPQ & NQ(pc 12) trong sự thức tỉnh về những thảm họa của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Trong bối cảnh cấu trúc hợp tác ngày càng gia tăng, ĐPQ & NQ tăng thêm sự cam kết và tham gia của mình trong trận chiến đến cấp độ đại đội và xa hơn nữa. Kết quả là, đến tháng Mười năm 1968, 1/502(pc 13) có thể khai triển hầu hết các đơn vị của nó bên ngoài Quảng Điền, chỉ để lại một lực lượng biểu hiện trong huyện. Những kết quả của sự hợp tác mà qua đó được thấm nhuần bởi anh Cushman và những người của mình,

p137

thì không thiếu gì điều đáng gây nên kinh ngạc; qua việc tăng trưởng từ một lực lượng nhỏ có khả năng kiểm soát chỉ 5 phần trăm huyện, ĐPQ & NQ trong một khoảng thời gian năm tháng giết chết 215 quân địch và bắt giữ 102 tù binh, trong khi thêm một nhóm của 167 binh sĩ đối phương tập hợp lại đến với QĐVNCH.(pc 01) Trong việc đạt được kỳ công đáng chú ý này, một tổng số 484 quân địch bị loại khỏi hoạt động, ĐPQ & NQ bị mất chỉ có 4 người.24 Đối với việc QĐBV bị trục xuất khỏi khu vực này, các lực lượng ĐPQ & NQ chứng minh có khả năng đối phó với cán bộ Việt Cộng còn lại, qua việc giúp rảnh tay những đơn vị lực lượng chính của Hoa Kỳ và QĐVNCH để mở rộng các hành động của họ xa hơn vào trong vùng nông thôn và tạo ra cơ hội cho việc thực hiện công cuộc bình định đầy ý nghĩa trong khu vực.
Đối với nhiều quan sát viên người miền Nam Việt Nam, bao gồm anh Đính và anh Huế, vốn là những người tham gia rất mật thiết trong cuộc chiến đấu, mức độ hợp tác được nâng cao của Hoa Kỳ / QĐVNCH vốn được tiêu biểu bởi cuộc chiến đấu cho Quảng Điền, đã báo trước một sự thay đổi cơ bản trong việc chiến đấu cuộc chiến. Tướng Trưởng, là người cũng làm chứng vững chắc cho các sự kiện đáng ngạc nhiên trong Quân đoàn I, sau đó đưa ra nhận xết rằng “Nhìn lại, những hoạt động kết hợp, không nghi ngờ gì nữa đó là một phương cách giải quyết tốt nhất để cải thiện tính hiệu quả chiến đấu” của quân đội miền Nam Việt Nam, cả những đơn vị chuyên chính của nó và những đơn vị bản địa của nó.25 Đặc biệt là khi những người Mỹ đang chán ngán cuộc chiến của họ ở Việt Nam, cuộc chiến đấu ở những vùng đồng bằng về phía bắc thành phố Huế vẫn được xem như là một thí dụ về cái gì mà Chiến tranh Việt Nam có thể trở thành, một cố gắng liên minh thực sự mà trong đó các lực lượng Hoa Kỳ và QĐVNCH chiến đấu chung nhau, qua việc kết hợp tốt nhất mà mỗi lực lượng phải đưa ra.

b- Đuổi vào trong những vùng cao nguyên :

Ngay cả khi cuộc chiến đấu xung quanh Khe Sanh(pc 09) và ở những vùng đồng bằng tiếp tục, các nhà kế hoạch liên minh chuyển sự chú ý của họ về hướng làng A Shau xa xôi, gần biên giới Lào, qua việc linh cảm cho thấy một cố gắng quân sự vốn có thể cuối cùng lôi cuốn cả 2/3(pc 11) và đội Hắc Báo. Những người Mỹ đã từng duy trì một doanh trại của Lực lượng Đặc biệt để canh chừng chống lại sự xâm nhập của đối phương ở cuối phía nam của A Shau cho đến năm 1966, trước khi từ bỏ doanh trại lồ lộ và thung lũng xung quanh đầy nguy hiểm cho quyền kiểm soát của cộng sản. Sử dụng những vật liệu từ doanh trại, QĐBV và VC chuyển đổi vùng thung lũng trở thành một đường giao thông hậu cần chính của Đường mòn Hồ Chí Minh, trong khi sự chú ý của BChHtrQsVN(pc 08) được tập trung vào các khu vực khác của Quân đoàn I. Sau cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, tuy thế, các nhà kế hoạch liên minh trở nên lo ngại rằng nổ lực xây dựng chủ yếu của QĐBV về tuyến đường xâm nhập “con đường lót gạch vàng”

p138

từ Lào vào trong tỉnh Quảng Nam báo trước một cuộc tấn công khác vào thành phố Huế. Hy vọng chiếm lấy vùng đất trước bất kỳ cuộc tấn công nào của QĐBV, Quân đoàn Tạm thời26 (Provisional Corps) của Trung Tướng William Rosson hoàn thành một kế hoạch kêu gọi Sư đoàn 1 Không Kỵ và những phần tử của Lữ đoàn Dù 101 trong sự phối hợp với Sư đoàn 1 QĐVNCH của Tướng Trưởng để tiến hành cuộc tấn công vào trong A Shau.27

(Thung lũng A Shau)

(Căn cứ của Lữ đoàn Dù 173 Hoa Kỳ ở A Shau)

Mặc dù Không Kỵ 1 thực sự bị lôi kéo vào cuộc chiến đấu đang diễn ra xung quanh Khe Sanh và chương trình của những hoạt động hàng rào cản của Lữ đoàn Dù 101 tiếp tục ở những vùng đồng bằng, những suy xét về thời tiết buộc việc di chuyển vào trong A Shau, được gọi là Chiến dịch Delaware, phải thực hiện trước. Bị chi phối bởi những cơn gió mùa, Việt Nam phải chịu những giai đoạn của những cơn mưa rào xối xả quá nặng hạt đến nổi họ thực hiện những hoạt động di chuyển bằng không lực cũng không thể được. Vùng địa lý đặc biệt của A Shau, mà qua đó không thể tiếp cận để cung cấp những hoạt động bằng đường bộ, có nghĩa là chỉ có những tháng của tháng Tư và tháng Năm thì phù hợp với bất kỳ loại hoạt động vận chuyển bằng trực thăng có sự chịu đựng bền bỉ, qua việc cần phải hành động nhanh chóng và quyết định trong khoảng thời gian giới hạn cho phép. Như vậy, vào ngày 14 tháng Tư, những cuộc không kích mở rộng của máy bay B-52 bắt đầu dập xuống chiều dài và bề rộng của A Shau chuẩn bị cho sự xuất hiện của những lực lượng bộ binh liên minh.
Vào buổi sáng ngày 19 tháng Tư, Tiểu đoàn 1 thuộc Lữ đoàn Kỵ binh 7 (1/7) được vận chuyển bằng trực thăng vào trong A Shau ở phía bắc của phi trường Loui (mà sau này trở nên được biết đến như là Bãi đáp Con Ngựa Giống —Stallion) và nhận lấy hỏa lực phòng không mãnh liệt, trong khi những phần tử khác thuộc Lữ đoàn Không kỵ 7 và Lữ đoàn Dù 101 di chuyển về phía tây hướng đến vùng thung lũng bằng đường bộ, qua việc hy vọng sẽ mở một tuyến đường tiếp tế dọc Quốc lộ 547. Bị tấn chiếm bất ngờ, những lực lượng của QĐBV đưa ra sự đề kháng ít ỏi khi các đơn vị bổ sung liên minh xuất hiện và phong tỏa một căn cứ của những hoạt động trong và xung quanh vùng Bản Đông (A Loui ). Trong suốt tháng Tư, những số lượng của các lực lượng liên minh đang gia tăng, bao gồm những phần tử của Lữ đoàn Dù Việt Nam, đến A Shau và bắt đầu trải ra trong một cố gắng tiêu diệt những lực lượng phòng thủ của đối phương và mạng lưới cung cấp hậu cần rất quan trọng của họ.28
Biểu thị mức độ hợp của sự hợp tác liên minh vốn nhanh chóng đang trở thành một quy củ cho Quân đoàn I ở phía Bắc, những phần tử thuộc Sư đoàn 1 QĐVNCH của ông Truởng đóng một vai trò quan trọng trong Chiến dịch Delaware, mà qua đó người Việt đề cập đến như là Chiến dịch Lam Sơn 216.(pc 15) Như là một phần nổ lực để củng cố đạo quân nhỏ được liên minh ở A Shau, vào ngày 29 tháng Tư, hai Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 3, bao gồm 2/3 của anh Đính, trận đánh công kích từ căn cứ trung đoàn PK-17 đến Bãi đáp Lucy, một cây số về phía nam của Ta Bát, và tạo nên cuộc chạm trán ngay lập tức với các lực lượng đối phương, với hai chiếc trực thăng nhận lãnh sự thiệt hại nặng nề trong việc hạ cánh. Sau cuộc đối mặt ngắn ngủi,

p139

điều đó nhanh chóng trở nên rõ ràng rằng QĐBV đã chọn cách trốn chạy khỏi khu vực, để lại cho lực lượng QĐVNCH và Hoa Kỳ trong tình trạng không gặp trở ngại chính yếu nào.

(Sơ đồ cho thấy những căn cứ hỗ trợ hỏa lực và sự di chuyển
của các lực lượng trong Chiến dịch Lam Sơn 216)

(Bản đồ kế hoạch điều hành cuộc Hành quân Lam Sơn 719
của Tướng Trần Đỗ Cẩm của QĐVNCH)

Trong hai tuần tới, những lực lượng của QĐVNCH trải ra khắp thung lũng, với 2/3(pc 11) đang hoạt động ở đáy thung lũng trung tâm, và càn quét về hướng nam, trong khi các lực lượng Hoa Kỳ làm việc với những cuộc tiến quân đến mặt bắc của A Shau và phong tỏa Quốc lộ 547. Khi 2/3 di chuyển về phía nam, nó ra sức xây dựng những căn cứ hỗ trợ hỏa lực cho pháo binh QĐVNCH và phát hiện ra nhiều kho dự trữ của QĐBV, tính tổng cộng hơn 12 tấn đạn dược. Đến ngày 10 tháng Năm, anh Đính và những người của mình đã đến khu vực của Doanh trại Lực lượng Đặc biệt cũ thuộc A Shau ở xa về phía nam của thung lũng, toàn bộ của nó, ngày xưa là lãnh thổ bất khả xâm phạm của đối phương, đã được quét và dọn sạch. Đối với người miền Bắc Việt Nam, những mất mát ở A Shau thì nặng nề; họ gánh chịu 735 người thiệt mạng trong khi cũng mất luôn hàng núi quân nhu,29 những thiệt hại gây tê liệt vốn sẽ mất nhiều tháng để thay thế và rời bỏ sự chủ động trong tay của những lực lượng liên minh.

(Xe tăng M-41 “Người đi dạo với Chó Bu” (Walker Bulldog)
là thiết giáp chính yếu của QĐVNCH trong trận chiến)

(Trực thăng AH-1 “Rắn hổ mang” của Quân đội Hoa Kỳ là
loại trực thăng tấn công, đang trên đất Lào)

(Xe tăng T-55 mới nhất của QĐBV do Sô Viết chế tạo)

Với thời tiết xấu đang sắp đến và việc hoàn thành nhiệm vụ của họ, vào ngày 10 tháng Năm, những lực lượng liên minh bắt đầu kéo ra khỏi A Shau. Tuy nhiên, quan điểm phổ biến về các sự kiện, như được bày tỏ bởi Ronald Spector trong cuốn sách của ông ta “Sau Tết,” rằng “Bắc Việt trở lại [ở trong A Shau] trong một ít tuần… [và] các lực lượng Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam sẽ không quay trở lại A Shau trong gần như một năm,”30 thì không đúng. Những lực lượng của QĐVNCH và Hoa Kỳ vẫn còn tiếp tục cuộc tấn công trên khắp các vùng cao nguyên và nhắm mục đích vào quân binh đối phương và những nơi tập trung hậu cần tại các Khu Căn cứ 101 và 114. Hành động tấn công tiếp tục bao gồm những cuộc đột phá bổ sung vào trong A Shau, đặc biệt là bởi đội Hắc Báo.
Khi các liên minh đẩy mạnh hơn bao giờ hết, cuộc chiến đấu ác liệt nổ ra ở nhiều khu vực của Quân đoàn I và lôi cuốn đến hai cuộc phản công có phối hợp của QĐBV nhắm vào việc ngăn chận triều sóng của bước tiến liên minh. Có lẽ hy vọng rằng bộ chỉ huy liên minh, với sự chú ý của nó được tập trung vào các vùng cao nguyên, sẽ mất cảnh giác, vào cuối tháng Tư, Sư đoàn 320 của QĐBV đánh về phía Đông Hà. Trong cuộc chiến đấu khó khăn, những người Mỹ nghiền nát QĐBV qua những cuộc tấn công dữ dội, với sự mất mát của những người Mỹ là 327 cái chết và giết chết hoặc bắt được 3.600 QĐBV. Ở phía nam của Quân đoàn I, TQLC Hoa Kỳ tung ra những hoạt động tấn công liên tiếp chống lại hệ thống phức tạp của căn cứ cộng sản ở hòn đảo Gò Nổi và trên khắp các vùng đồng bằng ven biển, qua việc chiếm giữ trước nhằm loại bỏ cuộc tấn công của QĐBV vào khu vực. Chuyển đổi xa khỏi từ một chiến lược cơ bản đến một chiến lược di động cao độ, vào tháng Sáu, Sư đoàn 3 TQLC quất một đòn bất ngờ vào Sư đoàn 308 của QĐBV ở phía bắc Khe Sanh, đánh đuổi xa hơn bao giờ hết vào trong các vùng cao nguyên và hướng về phía Lào. Vào tháng Tám, QĐBV hoàn thành cơn giận dữ của năm công kích

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 02_ VC : Việt cộng.
pc 03_ QĐBV : Quân đội Bắc Việt.

pc 04_ “QĐVNCH đang gánh chịu hai phần ba trong tổng số ước tính của 12.000 thương vong của liên minh” : con số 12.000 (tương đương một sư đoàn) thương vong của đồng minh là một tổng số –bao gồm Trận chiến Kinh Thành– sau cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân của QĐBV và VC. Theo đó, cho thấy ước lượng thương vong cho hai phe đồng minh như sau :
_ QĐVNCH : 8.000 người thiệt mạng (khoảng con số tối thiểu của 4/5 sư đoàn).
_ Hoa Kỳ : 4.000 người thiệt mạng (khoảng con số tối thiểu của 2/5 sư đoàn).

pc 05_ Với tổng số QĐBV và VC tham gia trong chiến dịch Tổng tấn công Tết Mậu Thân là 84.000 người, tương đương với con số tối thiểu dưới 8.5 sư đoàn và riêng cuộc tấn công vào Kinh Thành Huế là khoảng hơn 1 sư đoàn. Nhưng cuối cùng cho thấy sự thương vong là :
QĐBV và VC : 40.000 người thiệt mạng (khoảng con số tối thiểu của 4 sư đoàn).

pc 06_ LlThgiLnTQLC : Lực lượng Thiết giáp Lội nước Thủy quân Lục chiến (MAF = Marine Amphibious Force)

pc 07_ Theo Trung Tướng Robert Cushman, vị Tư lệnh của Lực lượng Thiết giáp Lội nước Thủy quân Lục chiến ước tính rằng các lực lượng đồng minh đã tiêu diệt hơn 30.000 người của đối phương, tương đương với 74 tiểu đoàn bộ binh. Như vậy, một tiểu đoàn, lúc bấy giờ, trong quân đội Hoa Kỳ vào khoảng 400 người (không phải con số tối thiểu là 300 người được dùng trước đây như là một cách tính tạm thời).

pc 08_ BChHtrQsVN : Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự cho Việt Nam (MACV = Military Assistance Command, Vietnam).

pc 09_ Khe Sanh : là một thị trấn của huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, cách Đông Hà 63 km về phía Tây, cách cửa biên giới Lao Bảo 20 km về phía đông. Chiến trận tại Khe Sanh 1968 lịch sử được chính quyền Hà Nội xem là “Trận Điện Biên Phủ thứ hai” hay là chốn “Địa ngục Trần gian” theo cách nghĩ của quân lính Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ. Nó có một vị trí chiến lược rất quan trọng, vì thế quân đội Mỹ đã thiết lập căn cứ Khe Sanh với hy vọng sẽ ngăn chận được sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam của Quân đội Bắc Việt và sẽ cắt được đường mòn Hồ Chí Minh.
Khe Sanh nằm trong một thung lũng đất đỏ cao hơn mặt nước biển 400 m. Năm 1965-1966, Quân đội Mỹ và Quân đội Việt Nam Cộng hòa đã xây dựng Khe Sanh thành cứ điểm lớn nhất trong tuyến phòng thủ đường số 9. Đây là một trong ba “mắt thần” (Khe Sanh, Làng Vây và Tà Cơn) của hàng rào điện tử McNamara. Tại Khe Sanh đã diễn ra những trận đánh lớn trong chiến dịch Đường số 9–Khe Sanh vào năm 1968, và chiến dịch Đường 9–Nam Lào vào năm 1971.

pc 10_ Khu phi Quân sự : là một khu vực, thường là biên giới hoặc ranh giới giữa hai hoặc nhiều sức mạnh quân sự hơn (hoặc những liên minh), nơi mà những hoạt động quân sự không được cho phép, thường là do hiệp ước hòa bình, hiệp ước đình chiến, hoặc thỏa thuận song phương hoặc đa phương khác. Thường thì Khu phi Quân sự nằm trên một tuyến đường kiểm soát và hình thành một đường biên giới quốc tế trên thực tế.
Khu phi Quân sự ở Việt Nam chạy dọc theo Vĩ tuyến 17, cách khoảng 5 km từ mỗi bên Bắc–Nam của sông Bến Hải theo quy định của Hiệp định Genéve năm 1954 (trên thực tế có chỗ không đúng 5 km), ngăn cách hai miền Bắc–Nam Việt Nam.

pc 11_ 2/3 : Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 3, có nghĩa chỉ là một tiểu đoàn với 300 đến 1.300 người.

pc 12_ ĐPQ & NQ : Địa phương Quân và Nghĩa quân.
pc 13_ 1/502 : Tiểu đoàn 1 thuộc binh chủng Bộ binh 502 của Mỹ.
pc 14_ A-1/502 : Đại đội A của Tiểu đoàn 1 thuộc binh chủng Bộ binh 502 của Mỹ.

pc 15_ Chiến dịch Lam Sơn 216 : là một hoạt động trong Chiến dịch ba-giai-đoạn được biết đến như là “Chiến dịch Lam Sơn 719” –được ghép từ năm 1971 và Quốc lộ 9 là trục chính của cuộc tấn công– hoặc “Cuộc Hành quân Hạ Lào” (theo QĐVNCH) hay “Chiến dịch đường 9 – Nam Lào” (theo QĐBV), hoặc còn được gọi là “Chiến dịch Delaware” (theo Hoa Kỳ).

Đó là một chiến dịch trong Chiến tranh Việt Nam, do hai lực lượng liên minh QĐVNCH và Hoa Kỳ –nhưng chủ lực là QĐVNCH– thực hiện với sự yểm trợ của không quân và pháo binh Hoa Kỳ. Mục tiêu của chiến dịch là phá vỡ hệ thống hậu cần của QĐBV tại Lào và cắt đứt Đường mòn Hồ Chí Minh tại thị trấn Tchepone nằm cách biên giới Việt-Lào 42 km về phía Tây nhằm phá vỡ những cuộc tấn công có thể xảy ra trong tương lai của QĐBV.
Đó cũng là một chiến dịch tấn công vào mục tiêu được giới hạn thực hiện ở phần đất đông nam của Vương quốc Lào bởi các lực lượng vũ trang của QĐVNCH giữa ngày 8 tháng Hai và ngày 25 tháng Ba năm 1971. Mặc dù Hoa Kỳ cung cấp sự hỗ trợ về hậu cần, trên không và pháo binh cho chiến dịch, nhưng các lực lượng bộ binh của QĐVNCH bị ngăn cấm bởi luật pháp không cho phép bước vào lãnh thổ Lào.
Những người chỉ huy cao cấp của Hoa Kỳ và Nam Việt Nam hy vọng giải quyết nhiều vấn đề thúc bách. Một chiến thắng nhanh chóng ở Lào sẽ thúc đẩy tinh thần chiến đấu và sự tự tin của QĐVNCH, vốn đã lên cao qua kết quả thành công của Chiến dịch Cam-pu-chia vào năm 1970. Nó cũng sẽ phục vụ như là một bằng chứng đích thực rằng những lực lượng của miền Nam Việt Nam có thể bảo vệ quốc gia của họ trong sự đối mặt với việc rút quân liên tục của những lực lượng bộ binh chiến đấu của Hoa Kỳ khỏi sân khấu. Chiến dịch sẽ là, vì vậy, một phép thử nghiệm về chính sách và khả năng hoạt động một cách hiệu quả một mình của QĐVNCH.
Theo nhận định chủ quan của những người viết trên wikipedia –vốn là những người biên khảo lịch sử của nhà nước cộng sản Việt Nam đương thời, lẽ tất nhiên là họ luôn bị bắt buộc phải viết theo định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam hơn là sự trung thực của bất kỳ lịch sử nào có ảnh hưởng đến uy tín của Đảng– cho rằng “Chiến dịch Lam Sơn 719 bị sụp đổ khi phải đối mặt với sự đối kháng kiên quyết của một kẻ thù khéo léo và rằng chiến dịch này là một thảm họa cho QĐVNCH, qua việc làm tiêu hao một số trong những đơn vị giỏi nhất của mình và phá hủy lòng tự tin vốn đã từng được xây dựng trên ba năm trước đó.”

Theo tác giả cho biết Chiến dịch ba-giai-đoạn nầy –mà qua đó ông ta chỉ giới hạn bao quanh những sự kiện liên quan đến 2/3 của QĐVNCH và đội Hắc Báo– bao gổm :
1_ Chiến dịch Lam Sơn 216 : (29/04/1971 đến 18/05/1971)hai Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 3, bao gồm 2/3, Sư đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ, ba lữ đoàn của Sư đoàn 1 Kỵ Binh Hoa Kỳ và những phần tử của Sư đoàn Dù 101
_ QĐBV : 735 người thiệt mạng và 3.600 bị giết chết hoặc bị bắt.
_ QĐVNCH : 81 người thiệt mạng. Tịch thu được nhiều vũ khí (12 tấn đạn dược) và tài liệu quan trọng. Bắt giữ 210 tù binh
_ Hoa Kỳ: 327 người thiệt mạng.

2_ Chiến dịch Lam Sơn 225 : (18/05/ đến 18/10/1971) đột nhập vào Khu Căn cứ 114 của QĐBV là Lữ đoàn 3 QĐVNCH (bao gồm 2/3 và đội Hắc Báo), Kỵ binh 1 Hoa Kỳ, hai Lữ đoàn Dù 101 Hoa Kỳ. Với kết quả như sau :
_ QĐBV : 412 người thiệt mạng.
_ QĐVNCH : 81 người thiệt mạng và 22 người bị thương. Tịch thu được nhiều vũ khí và tài liệu quan trọng. Bắt giữ 210 tù binh

3_ Chiến dịch Lam Sơn 265 : (suốt mùa Đông còn lại trong năm) đột nhập vào Khu Căn cứ 101 của QĐBV là Trung đoàn 3 và đội Hắc Báo.

Trên phạm vi toàn diện của Chiến dịch Hạ Lào có rất nhiều lực lượng tham gia, kể cả quân đội cộng sản Lào, theo wikipedia cho biết như sau :

_ QĐVNCH : (17.000, sau tăng lên 21.000 quân, và 450 xe tăng, thiết giáp, 250 khẩu pháo)
+ Sư đoàn Dù (gồm 3 lữ đoàn 1,2,3),
+ Sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến,
+ Sư đoàn 1 Bộ binh
+ 3 lữ đoàn: Liên đoàn 1 Biệt động quân, Trung đoàn 4, 5 thuộc Sư đoàn 2 bộ binh
+ 4 trung đoàn và 2 chi đoàn thiết giáp: trung đoàn 17, 11, 7, 4 (trang bị xe tăng M-41)
+ 13 tiểu đoàn pháo binh

_ QĐHK : (10.000 quân yểm trợ và 800 trực thăng, 300 máy bay cường kích, 50 máy bay vận tải và 50 máy bay chiến lược B-52)
+ 5 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn Dù 101.
+ 4 tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 1 Sư đoàn 5 bộ binh cơ giới.
+ 3 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn Americal (Sư đoàn Bộ binh 23)
+ 8 tiểu đoàn pháo binh (cỡ pháo từ 155 đến 203 ly)
+ 1200 máy bay: 800 trực thăng, 300 máy bay phản lực, 50 máy bay vận tải cỡ lớn và 50 máy bay chiến lược B-52


_ QĐBV và VC : (25.000-35.000 quân và 88 xe tăng đủ loại)
+ Các sư đoàn bộ binh: 2, 304, 308, 320 và 324
+ Ba tiểu đoàn tăng, thiết giáp: 297, 397, 198, với 88 xe tăng T-34, T-54, T-55,PT-76
+ Ba trung đoàn pháo binh cơ giới: 368, 38, 45
+ Ba trung đoàn pháo phòng không: 230, 241, 591
+ Sư đoàn phòng không 367 gồm 3 trung đoàn pháo phòng không 282, 284, 224 và hai trung đoàn tên lửa 238, 237
+ Các lực lượng tại chỗ của B5, B4 và Đoàn 559
+ Ba trung đoàn công binh: 219, 83, 7
+ Một số tiểu đoàn đặc công
+ Trung đoàn pháo mang vác 84

_ QĐCSL :
+ 2 binh đoàn cơ động GM30 và GM33

Và số thương vong cho lực lượng như sau :
_ QĐVNCH : 1.529 tới 8.483 chết; 5.483 tới 12.420 bị thương; 625 mất tích; 1.149 bị bắt
_ QĐHK : 215 chết; 1.149 bị thương; 38 mất tích; 108 trực thăng bị bắn rơi, 618 bị bắn hỏng
_ QĐBV và VC : 2.163 chết; 6.176 bị thương; Theo Hoa Kỳ ước tính: 13.341–16.224 chết hoặc bị thương.

Mặc dù cho đến nay, con số thương vọng thực sự chưa được xác nhận rõ ràng nhưng qua những diễn biến cho thấy rằng hai bên đối phương đều cùng gánh chịu sự tổn thất nặng nề. Tuy nhiên, nhiều vũ khí, quân nhu, kho chứa tiếp liệu, hầm trú của QĐBV bị phá hủy hoặc tịch thu. Chỉ riêng những thu hoạch thắng lợi của lực lượng 2/3 của Phạm Văn Đính và đội Hắc Báo cho thấy rõ là QĐBV bị thảm hại nhiều hơn mức đưa ra từ nhà nước cộng sản hiện tại. Và mục đích của liên minh QĐVNCH và Hoa Kỳ là phá hủy những căn cứ dự trữ của QĐBV hầu tránh những cuộc tấn công sau nầy như biến cố Tết Mậu Thân, vì vậy sau đó họ tự động thoái lui khỏi vùng biên giới Lào và QĐBV lại kéo ra nắm quyền kiểm soát khu vực đó.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s