Phần 03-2/2 : Chiến đấu hai Cuộc chiến

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p80

Đối với sự thất vọng to lớn của mình, tuy thế, anh Đính được bảo rằng Quảng Điền đang có chiến tranh và rằng ĐPQ & NQ phải chiến đấu hiện thời và chỉ đơn giản là không thể cung ứng xa xí cho việc huấn luyện đơn vị –một điệp khúc luôn được lặp lại trên khắp miền Nam Việt Nam.
Mặc dù anh ta không thể thay đổi cấu trúc chỉ huy đang lên cơn điên loạn hoặc những thiếu kém huấn luyện của ĐPQ & NQ, anh Đính có thể sửa đổi những khuyết điểm tổ chức vốn gây tai hại cho Quảng Điền. Ở miền Nam Việt Nam, nhiều vị Quận trưởng mua chức vụ của họ nhằm mục đích trở thành những người đại diện địa phương ở trung tâm của một hệ thống quốc gia tham nhũng vốn đạt đến những tỷ lệ đáng kinh ngạc. Những Quận trưởng sẽ lần lượt đề cử những người thân tín của họ phục vụ ở các vị trí rất mực quan trọng trong công cuộc bình định như là những Thôn trưởng. Vị Quận trưởng, vốn là người phải trả một phần chia cắt những lợi nhuận của mình cho Tỉnh trưởng, thu tiền từ những tay chân của mình, là người đến lượt thu tiền từ người dân. Một hình thức phổ biến nhất của nạn tham nhũng ở cấp địa phương vẫn còn hiện tượng “lính ma.” Những Thôn trưởng, vốn là những người thường rất hiếm khi đến thăm làng mạc dưới sự kiểm soát của họ, sẽ tuyên bố đứng đầu một trung đội ĐPQ, khi đó trong thực tế không ai hiện diện. Vị thôn trưởng sẽ bỏ túi tiền lương của những người lính, trong khi trả phần chia cho Quận trưởng. Kết quả là, những dân làng nộp thuế cho một chính phủ xa vời và không quan tâm trong khi nhận được sự mất an ninh, vì vậy điều ít ngạc nhiên là những người dân làng như thế chứng tỏ là con mồi dễ dàng cho sự thống trị của Việt Cộng.
Sau khi cảm thấy kinh tởm khi khám phá một hệ thống tham nhũng và rối loạn chức năng nhu thế ở Quảng Điền, anh Đính quyết định bổ nhiệm những hạ sĩ quan đáng tin cậy vốn là những người bản xứ của khu vực để phục vụ như là những Thôn trưởng tạm thời. Được trợ giúp bởi một người đứng đầu địa phương được chọn lựa từ dân cư thôn làng, những người lính của anh Đính tổ chức lại và huấn luyện các lực lượng phòng thủ làng mạc và thôn ấp và nhìn thấy rằng trưởng địa phương học hỏi công việc của mình thông suốt và nhận được tất cả sự ủng hộ mà anh ta cần đến. Anh Đính cũng gởi một đại đội QĐVNCH(pc 02) đến bốn ngôi làng dưới sự thống trị của đối phương để sống với người dân và lo liệu an ninh, qua việc nâng cao và huấn luyện những trung đội Nghĩa quân nơi mà không một người lính nào đã từng hiện diện trước đó. Ngoài ra, những chiến sĩ QĐVNCH ngày càng trở nên quen thuộc với người dân và những nhu cầu của họ, qua cách làm việc với họ hơn là như những vị lãnh chúa xa xôi và không hề quan tâm. Cuộc chiến của họ không còn là một cuộc chiến tìm-kiếm-và-tiêu-diệt và đi tìm trận chiến; Cuộc chiến của họ bây giờ là một cuộc chiến quản trị và an ninh.
Dưới hệ thống mới, công cuộc bình định phát triển rực rỡ ở Quảng Điền. Được bảo vệ bởi sức mạnh của một tiểu đoàn QĐVNCH, Quảng Điền không còn là một mục tiêu dễ dàng, và những cuộc xâm nhập của lực lượng chủ yếu của VC(pc 03) giảm xuống theo.

p81

Với những đại đội của QĐVNCH đang sinh sống trong các làng mạc, lực lượng cơ sở hạ tầng của VC bỏ trốn hoặc đi sâu trong lòng đất, không cho những người nổi dậy tiếp cận người dân. Việc sản xuất lúa gạo tăng lên, và những người lính QĐVNCH phải chắc chắn rằng vụ thu hoạch không kết thúc trong tay VC. Những thay đổi ở Quảng Điền cần thời gian và bị ngắt quãng bởi những trường hợp mà trong đó 2/3(pc 15) phải rời khỏi khu vực cho những giai đoạn trận chiến ngắn ngủi. Tuy nhiên, anh Đính có thể báo cáo lên Tướng Trưởng rằng quận Quảng Điền đã được bình định –và nhiệm vụ chỉ mất sáu tháng, không phải là năm được phân bổ công tác. Tình hình quả thật quá thay đổi đến nổi vị cố vấn Mỹ của anh Đính, Đại úy James Coolican, báo cáo rằng trong một khu vực ngày xưa “bị nhiễm” với VC, đã không còn có biến cố bạo lực lớn nào ngay cả vào ban đêm và rằng anh ta cảm thấy thoải mái đi bộ một mình trong những ngôi làng địa phương.39 Đó là một thắng lợi đáng kể, qua việc chứng minh tầm nhìn của anh Đính liên quan đến bản chất tổng thể thiếu hoàn thiện của Chiến tranh Việt Nam, một chiến thắng mà đã giành cho anh ta sự nhìn nhận xa hơn và sự thăng chức lên cấp bậc Thiếu tá.
Trong vai trò song đôi của vị Quận trưởng và người chỉ huy tiểu đoàn, anh Đính làm việc với hai nhân viên cố vấn Mỹ, một nhân viên quận cho sự ủng hộ công cuộc bình định và một nhân viên tiểu đoàn cho sự hỗ trợ trận chiến. Anh Coolican phục vụ như là cố vấn tiểu đoàn của anh Đính, và những ý kiến của anh ta mang tính chất quan trọng đặc biệt. Ban đầu, anh Coolican vui mừng khi biết rằng anh Đính đã được giao cho 2/3 QĐVNCH, bởi vì danh tiếng quân sự khó có được của anh Đính như là “một chiến binh thực sự.” Tuy nhiên, tình hình chẳng bao lâu thay đổi. Mối quan hệ giữa hai người khá cách xa và theo thể thức, nhưng anh Đính thường trò chuyện với anh Coolican về những thành công đạt được qua việc sử dụng một tiểu đoàn QĐVNCH(pc 02) như là sự hỗ trợ phối hợp với quận. Mặc dù vậy, đối với anh Coolican, cả anh Đính và lẫn tình hình “không tạo được cảm hứng.” Anh Coolican là một cố vấn chiến trận, và đó là nhiệm vụ của cả anh ta và nhóm của mình để giúp đỡ anh Đính và tiểu đoàn của anh ta trận chiến. Tuy nhiên, ở Quảng Điền, có ít cuộc chiến đấu, và anh Coolican cảm thấy rằng anh Đính dường như không quan tâm đến việc tìm kiếm và đụng độ kẻ thù. Theo những lời của anh Coolican, anh Đính “trở nên nhiều thích thú là người chỉ huy quận hơn là một vị chỉ huy tiểu đoàn.” Anh Coolican nhận ra rằng, khi là vị Quận trưởng, anh Đính thì trung thực và đã đạt được thành công đáng kể. Tuy nhiên, anh Đính dành phần lớn thời gian của mình về các vấn đề bình định khắp quận và thường trở lại Huế để gặp gỡ với ông Trưởng và ban nhân viên sư đoàn. Với trận chiến ít ỏi trong vùng xa xôi, anh Coolican cảm thấy rằng những tài năng của anh Đính và những người trong số nhân viên của anh ta không được sử dụng đúng mức, và anh ta xin thuyên chuyển.
Mối quan hệ giữa anh Đính và anh Coolican minh họa về sự phân nhánh đang tiếp tục của chiến tranh.

p82

Anh Coolican ở Việt Nam chỉ có một năm. Anh ta là vị cố vấn chiến trận và muốn phục vụ cho một mục đích thực sự trong vai trò đó. Đối với anh Đính, tuy thế, đã là năm thứ sáu của cuộc chiến rồi; nhịp độ cuộc chiến của anh ta và vai trò của anh ta trong công cuộc bình định vào thời điểm đó chỉ đơn giản là khác biệt và kỳ lạ đối với cách hiểu biết của người Mỹ về bản chất của cuộc xung đột. Nói chung, những người Mỹ chiến đấu trong Chiến tranh Việt Nam như là tám cuộc chiến, nhưng có liên quan, một-năm-dài riêng biệt khi họ đến và đi theo giai đoạn thời gian duy nhất một năm nghĩa vụ. Tuy nhiên, đối với những người miền Nam Việt Nam, cuộc chiến rất nhiều một viễn ảnh dài hạn vốn buộc phải chiến đấu thường xuyên với một nhịp độ mà qua đó dường như chậm chạp đến phát điên lên được đối với các đối tác người Mỹ của họ. Anh Coolican, một cách tình cờ, sẽ có được cơ hội của mình để thực hiện một sự khác biệt trong trận chiến; vào tháng Mười Một năm 1967, anh ta trở thành vị cố vấn cho Đại úy Trần Ngọc Huế và đội Hắc Báo.
Sau khi tiếp nhận quyền chỉ huy của đội Hắc Báo vào mùa hè năm 1967, Trần Ngọc Huế cho những người mình thi thố tài năng ở những quân trại của họ trong thành phố Huế để cải thiện đại đội, đặc biệt là trong các lãnh vực chiến thuật đơn vị nhỏ và nghệ thuật võ học cá nhân. Quan trọng nhất, tuy thế, anh Huế tập trung vào việc dạy những người của mình lý do tại sao họ chiến đấu –để cứu lấy những thường dân miền Nam Việt Nam khỏi những hành động tàn bạo của Việt Cộng mà anh Huế nhớ quá rỏ tất cả. Trong cuộc nội chiến tàn khốc, những thí dụ về những hành động tàn ác không bao giờ khó để tìm thấy –những dân làng bị trói với nhau và bị bắn bởi Việt Công, những đứa trẻ với những bàn tay của chúng bị cắt mất, những thường dân bị khiển đào những ngôi mộ của riêng họ trước khi bị chôn sống.40 Qua việc xét rằng những người của đội Hắc Báo là những người bản xứ của thành phố Huế và các làng xung quanh của nó, chứng kiến sự đối xử dã man của những người láng giềng của họ được phục vụ như là một động lực thúc đẩy mạnh mẽ, và đơn vị duy trì cách giải quyết không lay chuyển được và sự đồng nhất mục đích chưa ai sánh kịp trong QLVNCH.
Đội Hắc Báo vẫn đóng vai trò như là một lực lượng phản ứng nhanh nhẹn của Sư đoàn 1 QLVNCH, mà qua đó đặt ra một thách thức có một không hai cho một người vốn chung chung đã từng chỉ dẫn dắt các đơn vị nhỏ và sau đó trải qua dành những năm như là phụ tá của một vị Tướng lãnh. Anh Huế, tuy thế, sẽ không phải đối mặt với thách thức một mình, nhưng thay vào đó sẽ chiến đấu bên cạnh và với sự trợ giúp của người đầu tiên trong một chuỗi dài của những cố vấn Mỹ. Đại úy Bob Jones đã từng phục vụ như là vị cố vấn cao cấp cho Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 3 của QĐVNCH trước khi việc thuyên chuyển của anh ta đến đội Hắc Báo và cuối cùng đã từng tôn trọng những đối tác người miền Nam Việt Nam của mình và lẫn hiểu được vai trò lãnh đạo cá nhân quan trọng trong những đơn vị chiến đấu của QĐVNCH. Qua cuộc gặp gỡ đầu tiên của họ, anh Jones đi đến kết luận rằng anh Huế thể hiện một người giỏi nhất của QĐVNCH –một người lãnh đạo mạnh mẽ và là một người thậm chí giỏi hơn.

p83

(Trần Ngọc Huế của đội Hắc Báo và Đại úy Bob Jones)

Hai người tiến đến mối quan hệ gần gũi, và anh Huế cố gắng quen thuộc với bạn mới đồng hướng của mình trong quân đội với văn hóa Việt Nam, nối dài từ cách làm thế nào để bắn và ăn con trâu nước trong khi những sứ mệnh được mở rộng trong chiến trường, đến việc dạy kèm anh Jones về các chi tiết của quá khứ vinh quang của Việt Nam qua những chuyến thăm đến nơi qui tụ các ngôi mộ hoàng gia xung quanh thành phố Huế.
Đội Hắc Báo được tham gia ở ngay trung tâm những nỗ lực của QĐVNCH trong cuộc chiến gây tiêu hao đang diễn ra. Trung bình, đơn vị vẫn còn trong khu căn cứ ở thành phố Huế chỉ ba ngày trước khi trải qua một tuần đến mười ngày trong chiến trường trên những hoạt động vốn đưa đến kết quả không thể nào thay đổi qua việc chạm súng với kẻ thù. Như thế, những chiến sĩ của đội Hắc Báo gần như tham gia liên tục vào trận chiến, nối dài từ một trận chiến tại Lang Vei gần biên giới Lào, nơi mà đội Hắc Báo mất hai chiếc trực thăng qua việc chèn vào, đến việc rút ra một đơn vị QĐVNCH khỏi cái bẫy gần Phú Bài, đến việc gọi đến sự hỗ trợ hỏa lực trên các lực lượng Việt Cộng đang hứng khởi vượt qua những bờ biển lúc ban đêm trong khi những người lính của đội Hắc Báo êm ả lội mình trong nước thu thập những con tôm sú cho bữa ăn tối. Cuộc chiến đấu lôi cuốn phần lớn những cuộc đụng độ khốc liệt của các đơn vị nhỏ

p84

–một tiếng kêu ngân nga liên tục của trận chiến vốn áp đặt một mức độ chậm rãi nhưng đều hòa của sự tiêu hao sinh lực trên cả hai bên. Anh Jones bị mất hết tinh thần với cái giá phải trả cho trận chiến đối với QĐVNCH, đặc biệt là đối với những người bị thương, vốn là những người có thể mong đợi chỉ là sự chăm sóc tối thiểu và phải dựa vào chỉ là sự hỗ trợ của gia đình họ sau sự hy sinh của họ trong việc phục vụ miền Nam Việt Nam. Anh Huế và anh Jones cùng nhau thành lập một đội chiến đấu nguy hiểm, qua việc minh họa cho điều gì là tốt về nỗ lực cố vấn của Hoa Kỳ ở Việt Nam.

e- Những vị cố vấn :

Nỗ lực cố vấn của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam là một trong những chịu đựng lâu dài, từ khởi đầu là con số 342 người đàn ông của Nhóm Cố vấn và Hỗ trợ Quân sự (i.e. được viết tắt là MAAG) trong sự đánh thức của Hiệp định Genève. Mặc dù những nguồn lực của họ thì ít, nhiệm vụ đang ở trước mặt các vị cố vấn thì xa tầm với –việc thành lập một quân đội miền Nam Việt Nam có khả năng đứng vững riêng mình. Nhiệm vụ đầy thử thách thu hút nhiều người trong số những sĩ quan trẻ, giỏi nhất trong quân đội Hoa Kỳ, háo hức cho việc thăng chức, ao ước về trận chiến, và tin tưởng vào sự cần đến để bảo vệ miền Nam Việt Nam từ cuộc xâm lăng của cộng sản. Tình hình, tuy thế, thay đổi với việc xảy đến của sự tham gia công khai của Mỹ ở Việt Nam vào năm 1965, khi các sĩ quan Hoa Kỳ ngày càng nhìn thấy việc đăng bảng thông cáo cho vị trí cố vấn như là chẳng có gì ham muốn cả và thay vào đó thích lãnh đạo người Mỹ trong trận chiến hơn phải chọn hoặc là cố vấn cho người miền Nam Việt Nam hoặc dần dà tham gia vào sự hỗ trợ bình định.
Khi Chiến tranh Việt Nam tự chuyển đổi, nỗ lực cố vấn tăng lên trong mọi cách có thể tưởng tượng được, bất chấp sự giải thích và điều khái quát đơn giản. Những vị cố vấn phục vụ ở mọi cấp độ, từ ông Westmoreland như là Trưởng cố vấn Hoa Kỳ cho quân đội miền Nam Việt Nam, đến Bob Jones, vốn là người lao lực trong trận chiến liên tục bên cạnh Trần Ngọc Huế ở cấp đại đội. Có những vị cố vấn quân sự như James Coolican, nhiệm vụ của anh ta đó là giúp đỡ những đơn vị của miền Nam Việt Nam trong trận chiến. Có những vị cố vấn về huấn luyện được liên kết với các trường và trung tâm đào tạo của QLVNCH. Tuy nhiên, cũng có hàng loạt những vị cố vấn về công cuộc bình định, bao gồm một số lượng lớn thường dân, vốn là những người giúp người miền Nam Việt Nam với những vấn đề về an ninh địa phương và phát triển kinh tế. Như thế, nỗ lực cố vấn thay đổi từ năm này sang năm khác, từ vùng này đến vùng khác, và thực sự từ người này sang người.
Quan trọng nhất là, sự tham gia tích cực của các đơn vị chiến đấu của Hoa Kỳ

p85

trong cuộc chiến trên đất liền làm lu mờ và lẫn thay đổi một cách căn bản vai trò của sự nỗ lực cố vấn.41 Những vị cố vấn Hoa Kỳ không còn tập trung vào việc huấn luyện quân đội miền Nam Việt Nam để chiến đấu cuộc chiến của riêng mình, một cuộc chuyển đổi trong sự nhấn mạnh rằng sẽ có những hậu quả không sao kể xiết. Thay vì, những vị cố vấn Mỹ phục vụ tính đa dạng của những vai trò được trù tính để cho phép các đơn vị QĐVNCH(pc 02) chiến đấu như là một lực lượng phụ trợ bên trong đề mục của cuộc chiến của Mỹ. Trong những lời của Tướng Westmoreland, những nhiệm vụ của vị cố vấn

bao gồm việc phối hợp cả pháo binh và trực thăng và phi cơ; hoạt động như là một phương tiện chuyển tải cho cơ quan tình báo; phát triển các chương trình cung cấp và phục vụ; nâng cao những thông tin liên lạc giữa các đơn vị chiến đấu và các mệnh lệnh khu vực (những tỉnh, huyện); và cung cấp sự hỗ trợ đặc biệt trong các khu vực như là chiến tranh tâm lý, hoạt động dân sự, và trợ giúp y tế.42

Mặc dù một vị cố vấn vể chiến thuật phải là một cái gì đó của một người có khả năng làm được nhiều việc, vai trò quan trọng nhất của anh ta là vai trò vể hỗ trợ không chiến và phối hợp hỗ trợ pháo binh.43 Trong khả năng này, vị cố vấn Hoa Kỳ giữ lấy một cái gì đó của một con át chủ bài trên đối tác QĐVNCH của anh ta. Hỏa lực, đặc biệt là trong hình thức của các cuộc không kích tàn phá, là cấp số nhân sức mạnh rất quan trọng của cuộc chiến và thường cho phép các đơn vị Hoa Kỳ và QĐVNCH kiên trì chống lại tình hình nặng nề. Cấp số nhân sức mạnh đó là tầm nhìn của vị cố vấn Mỹ, có nghĩa là anh ta nắm lấy chính sinh mạng và cái chết trong tay của mình. Một số vị chỉ huy của QĐVNCH cảm thấy bị làm suy yếu đi và chữi bới quyền lực tối cao được nắm giữ bởi các vị cố vấn Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, sự kiểm soát của Hoa Kỳ trên sức mạnh không lực chỉ đơn giản là một thực tế của cuộc sống và hình thành một phần quan trọng của mối quan hệ cố vấn / đối tác.
Những vị cố vấn Hoa Kỳ phục vụ tại tất cả các cấp, bao gồm các cố vấn cao cấp và những nhân viên cố vấn ở cả tổng hành dinh quân đoàn và lẫn sư đoàn, nhưng có thể lý luận là vai trò quan trọng nhất trong cái gì đó dành cho QĐVNC là một cuộc chiến với đơn vị nhỏ, rơi vào trách nhiệm của ban nhân viên cố vấn tiểu đoàn. Nói chung, nhóm cố vấn tiểu đoàn bao gồm ba nhân viên Hoa Kỳ, và đôi khi một nhân viên Úc, gồm một đại úy, thiếu úy, và một trung sĩ. Mặc dù một chuỗi cố vấn về chỉ huy hiện có và các cố vấn phục vụ như là một phần của một nhóm cố vấn cấp quân đoàn, trong nhiều phương diện vai trò của các cố vấn về chiến thuật thì đặc biệt riêng cho mục đích đó và riêng tư theo bản chất tự nhiên. Chính ông Westmoreland đã chấp nhận rằng nổ lực cố vấn thì hơn hẳn là “một-đối-một,” mối quan hệ giữa cá nhân với nhau so với một cái gì đó theo mệnh lệnh và phương pháp.

p86

Thực chất, tùy theo ý của vị cố vấn muốn hình thành một mối quan hệ hiệu quả với đối tác người Việt của mình.44
Sự thành công của nổ lực cố vấn của Hoa Kỳ, sau đó, dựa vào sự mở rộng to lớn về khả năng cá nhân của chính các vị cố vấn, vốn là những có lẽ có những công việc dễ làm nản lòng nhất của bất kỳ người lính Mỹ nào trong cuộc chiến –hoà hợp vào một nền văn hóa và quân sự nước ngoài, vượt lên mối quan hệ với một đối tác trong cái gì như là cuộc chiến của mình, đi kèm đơn vị của mình vào trận chiến thường xuyên liên tục, tất cả với mệnh lệnh bắt buộc rất ít, nhưng một quyền hạn rộng rãi cho hành động cá nhân. Đối với sự cố gắng như thế, việc huấn luyện cho một mỗi vị cố vấn phải là tối quan trọng.
Việc chuẩn bị cho nhiệm vụ cố vấn, tuy nhiên, là tối thiểu. Lúc đầu, nhiều vị cố vấn đến trường Chiến tranh Đặc biệt của Quân đội Hoa Kỳ tại Fort Bragg cho một khóa học sáu tuần vốn nhấn mạnh về những kỹ thuật chống nổi cuộc nổi dậy và bao gồm một số nền tảng chung về Việt Nam cũng như sự nghiên cứu qua loa về ngôn ngữ Việt Nam. Một số học viên tốt nghiệp tiếp tục đi thêm một khóa học xa hơn về sự giảng dạy ngôn ngữ chuyên sâu tại Học viện Ngôn ngữ Quốc phòng, ở Monterey, California.45 Việc đào tạo để lại những vị cố vấn có tiềm năng nhất với một ít kiến thức về văn hóa mà họ sắp sửa sống chung, không thể nói được tiếng Việt với ngữ âm khó khăn, và chỉ với một sự hiểu biết hạn chế về những thách thức chiến thuật và cá nhân mà họ chẳng bao lâu phải đối mặt.

(Thiếu tá Tom Jaco (trái) và Phạm Văn Định (phải)
trong suốt thời gian còn ở với Trung đội 54)

Cả Phạm Văn Định và Trần Ngọc Huế có thể nói thông thạo tiếng tiếng Anh và do đó có thể giao tiếp một cách hiệu quả với những vị cố vấn của họ. Đối với đại đa số các vị cố vấn Hoa Kỳ, tuy nhiên, không có khả năng để giao tiếp thường loại bỏ họ ra ngoài và không thể hiểu hoặc hòa hợp vào mạng lưới phức tạp của người Việt về các mối quan hệ tôn giáo và địa phương. Nhiều vị cố vấn cuối cùng không thể hình thành mối liên kết thực sự của tình bạn đồng chí hướng với đơn vị chủ khách của họ, giữ khoảng cách với họ bởi thực tế là họ có thể nói chỉ qua một thông dịch viên hoặc trực tiếp với người chỉ huy đơn vị sử dụng tiếng Anh đứt đoạn của mình. Nhà lịch sử Andrew Krepinevich đã từng đề cập đến việc thiếu đào tạo về ngôn ngữ như là “một sự ngạo mạn văn hóa” về phần của Hoa Kỳ vốn vi phạm quy tắc cơ bản của việc chống cuộc nổi dậy –đang trở nên “quen thuộc như có thể với người dân và khu vực mà bạn đang cố gắng giành chiến thắng trên đó và kiểm soát.”46 Đối với phần mình, Tướng Vien tự hỏi về vấn đề đó, nêu rõ:

Tôi biết rằng không một trường hợp duy nhất nào mà trong đó một cố vấn Hoa Kỳ bàn thảo một cách sâu sắc về những vấn đề chuyên môn với đối tác của mình bằng tiếng Việt. Vấn đề học tập và phát triển của một ngôn ngữ mới dường như không có sự kêu gọi

p87

nào cho các cố vấn Hoa Kỳ vốn là những người ắt hẵn tìm thấy nó không thực sự đáng nổ lực bởi vì thời gian nghĩa vụ ngắn hạn ngắn ở Việt Nam.47

Trong nhiều mặt, những vị cố vấn phục vụ theo tiêu chuẩn thời gian nghĩa vụ một năm; tuy nhiên, trong “những đồn trú khổ ải,” đặc biệt là trong việc phục vụ với những tiểu đoàn chiến đấu của QĐVNCH, các vị cố vấn phục vụ chỉ trong sáu tháng trên chiến trường trước khi xoay vòng trờ lại vị trí an toàn hơn.48 Những vòng luân phiên ngắn ngủi không chỉ hạn chế xa hơn khả năng của vị cố vấn để dung hòa với tình hình của mình mà còn loại trừ bất kỳ bộ ký ức thu thập kiến thức thực sự nào. Như thế, thường thường, mỗi sáu tháng một cố vấn mới mang theo anh ta một hệ thống quy luật và phong cách mới, để lại cho đối tác của mình thích ứng sao cho phù hợp hết lần nầy đến lần khác. Một lần nữa, Tướng Vien đưa ra một tình hình đưa đến kết quả khả quan:

Một năm quả thật ngắn ngủi như là thời gian nghĩa vụ kể từ khi nó bao gồm khoảng thời gian không tạo ra lợi ích phải trải qua trong việc làm quen với môi trường và công việc, thường là khoảng ba tháng… Kết quả là, đó là điều không thể đối với một số vị chỉ huy của QĐVNCH để làm việc với bất kỳ vị cố vấn riêng biệt đủ lâu để phát triển một mối quan hệ hiệu quả… Như là một kết quả, cả hai bên thường kiềm chế từ việc dấn thân đến bất kỳ việc đảm nhận cho mục đích lâu dài nào.49

Vấn đề khó khăn nhất đang đối mặt những cố vấn Mỹ, tuy thế, là họ và các đối tác miền Nam Việt Nam của họ tham gia vào việc chiến đấu hai cuộc chiến khác nhau đến làm phát điên lên. Vị cố vấn Hoa Kỳ, thường là trẻ và chưa có kinh nghiệm, có chỉ một năm để tạo nên dấu ấn của mình trên cuộc chiến ở Việt Nam. Đối với các vị chỉ huy của miền Nam Việt Nam, tuy thế, cuộc chiến thì khá khác nhau và ắt hẵn như là dài vô tận. Trong một số trường hợp, người miền Nam Việt Nam đã chiến đấu cuộc chiến trong nhiều thập kỷ. Họ đã từng nhìn thấy nhiều vị cố vấn Mỹ dũng cảm và bộc trực đến và đi, và họ nhận ra rằng vị cố vấn Mỹ kế tiếp của họ sẽ gần như chắc chắn muốn tiếp tục tiến hành cuộc chiến theo một cách khác từ người tiền nhiệm của mình.
Những vị cố vấn Hoa Kỳ, thường với sự thất vọng to lớn, ghi nhận về những cuộc chiến tranh có nhịp độ khác nhau và lập luận rằng đôi khi ngay cả những đơn vị giỏi nhất của QĐVNCH(pc 02) thiếu tinh thần công kích thực sự.50 Tuy nhiên, sau một thời gian trải qua trên chiến trương với các đối tác QĐVNCH của họ, nhiều vị cố vấn thấy rằng họ đã học được nhiều về cái nhìn của những binh lính miền Nam Việt Nam về cuộc chiến của họ. James Coolican, là một thí dụ, bước vào phiên nghĩa vụ cố vấn của mình đã sẵn sàng cho trận chiến và sẵn sàng thực hiện một sự khác biệt ngay lập tức, quá nhiều đến nỗi anh ta đã yêu cầu thuyên chuyển đến đội Hắc Báo. Vào ngày cuối cùng của phiên nghĩa vụ mình,

p88

anh Coolican ngồi trên một bờ đê của cánh đồng sau khi chỉ dẫn sơ lượt vị cố vấn mới đến vốn là người sắp sửa thay thế vị trí của mình. Khi anh ta chờ cho chiếc trực thăng đến và đưa anh ta đi khỏi, anh Coolican nhận ra rằng anh ta cảm thấy xúc cảm và thể chất kiệt sức sau 6 tháng trong trận chiến gần như liên tục. Khi anh ta chờ đợi để trở về nhà, anh ta không thể không kiềm chế nếu không tự hỏi tình hình sẽ ra sao đối với Trần Ngọc Huế, vốn là người đã từng chiến đấu cuộc chiến trong những năm tháng và sẽ chiến đấu nó trong những năm sắp tới. Anh Huế không thể mong đợi một chuyến trở lại “thế giới.” Đứng cạnh anh Huế là một vị cố vấn mới, nét mặt lo lắng và thích thú làm anh ta khác biệt trong chiến tranh. Anh Coolican biết rằng tình hình sẽ được lặp đi lặp lại hết lần nầy đến lần khác và tự hỏi người miền Nam Việt Nam có khả năng làm điều đó như thế nào. Làm thế nào họ có thể chiến đấu một cuộc chiến khác nhau như thế?51
Làm phức tạp bất kỳ cố gắng nào để tổng quát hóa về nổ lực cố vấn trận chiến ở miền Nam Việt Nam là một sự kiện thực tế mà các vị cố vấn Hoa Kỳ không phải là một mình trong những cố gắng giúp đỡ của họ cho QĐVHCH. Bước vào cuộc xung đột vào tháng Bảy năm 1962, Nhóm Huấn luyện của Quân đội Úc cho Việt Nam (NHlQdUVN) cung cấp sự hướng dẫn chiến thuật cho QĐVNCH(pc 02) trong một thập kỷ trước khi cuộc rút quân cuối cùng của nó khỏi cuộc xung đột, sau khi đóng góp cho nổ lực chiến tranh vốn qua đi gần như không được chú ý ở Hoa Kỳ. Trong khi không phải là một cam kết to lớn (sức mạnh của NHlQdUVN(pc 16) thông thường được điều hành ở nhóm có thẩm quyền của 15 sĩ quan và 85 Chuẩn úy), người Úc tập trung những nhóm của họ trong Quân đoàn I.52 và do đó có ảnh hưởng lớn trên các hoạt động của Sư đoàn 1 và 2 của QĐVNCH. Nó nhanh chóng trở thành thói quen cho cả Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế làm việc với một nhóm hỗn hợp của các vị cố vấn Mỹ và Úc, một sự kết hợp mà đôi khi dẫn đến sự căng thẳng nhưng cũng có sức mạnh to lớn.
Những thành viên của NHlQdUVN(pc 16) thì thường lớn tuổi hơn và nhiều kinh nghiệm hơn các đối tác người Mỹ của họ, với nhiều người từng nhìn thấy diễn biến trong các cuộc xung đột trước đó từ Hàn Quốc đến Mã Lai Á. Ít quan tâm đến điều có thể có về việc chiến đấu trong cuộc xung đột tiềm năng ở châu Âu hoặc thế giới, người Úc đã tập trung nhiều về học thuyết quân sự và huấn luyện của họ xung quanh cuộc chiến với đơn vị nhỏ và chống cuộc nổi dậy. Việt Nam dường như là nơi hoàn hảo để đưa những kỹ năng và ý tưởng đó ra thử nghiệm, và khi phần việc được giao như thế cho vai trò cố vấn vẫn còn khá mong muốn ngay cả sau khi sự xuất hiện của các đơn vị chiến đấu bộ binh của Lực lượng Đặc nhiệm I của Úc ở tỉnh Phước Tuy vào giữa năm 1966. Thường thường với kinh nghiệm đáng kể trong những hoạt động chống cuộc nổi dậy và việc ganh đua cho một cơ hội để phục vụ như những vị cố vấn ở Việt Nam, những tình nguyện viên của NHlQdUVN trải qua một khóa huấn luyện tám tuần

p89

tại Trung tâm Chiến tranh vùng Rừng, ở Canungra, Queensland, và sau đó hai tuần đào tạo về văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp tại trường Tình báo Quân sự, ở Sydney.53 Với sự phong phú của họ về kinh nghiệm hoạt động và việc đào tạo có trọng tâm của họ, những vị cố vấn Úc thường chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong những đơn vị của Quân đoàn I. Theo những lời của Ian McNeill, một sử gia chính thức của NHlQdUVN:

Vị sĩ quan Chuẩn úy, thường lớn tuổi và có kinh nghiệm hơn những người khác trong nhóm của ông ta, thông thường có được sự kính trọng như là “người cha,” sự phán đoán của ông ta thường được tìm kiếm bởi cả trưởng nhóm [Mỹ] và vị chỉ huy tiểu đoàn Việt Nam.54

Trong khi sự đắm chìm ban đầu của họ trong cấu trúc cực kỳ rắc rối của hệ thống cố vấn ở Việt Nam chứng tỏ gây bực bội đối với nhiều người Mỹ, tình hình thì phức tạp nhiều hơn cho các thành viên của NHlQdUVN.(pc 16) Khi những tiểu đoàn của họ đến, người Úc thường tìm thấy chính mình bị cô lập –không hẵn là một phần của nhóm cố vấn Mỹ và thường có thể liên hệ chặt chẽ hơn với những đối tác QĐVNCH của họ. Phải sống bằng trí thông minh của họ, các vị cố vấn Úc tự tìm thấy giải đáp cho một dãy ba cấu trúc quyền chỉ huy gây xáo trộn –quyền chỉ huy của riêng NHlQdUVN, quyền chỉ huy của QĐVNCH và quyền chỉ huy của nhóm cố vấn Hoa Kỳ. Các cố vấn Úc cũng thấy mình trong hầu hết trường hợp ở phía cuối tận cùng của chuỗi cung cấp tiếp tế –không hẵn là trách nhiệm của bất kỳ ai– và, kết quả là, nhiều thành viên của NHlQdUVN mang tiếng như những kẻ ăn xin bậc thầy. Hệ thống quá để gây nhầm lẫn và cô lập đến nổi khi các đơn vị của QĐVNCH(pc 02) vượt qua những con đường, nó thường chứng tỏ là một biến cố quan trọng khi những vị cố vấn đáng kính của Úc dành thời gian để tìm kiếm lẫn nhau và trao đổi những câu chuyện và sự ái ngại. Thật vậy, sự cô lập trở nên nghiêm trọng đến nổi NHlQdUVN mở một địa điểm trung tâm, Trụ sở Úc Đại Lợi, ở Đà Nẵng, nơi mà các vị cố vấn được rải ra khắp Quân đoàn I, được khuyến khích đi mỗi tháng một lần để nhận tiền lương của họ, thu thập nguồn tiếp tế, và chỉ sống với những người Úc khác.55
Quen thuộc hơn với những thực tế phải đối mặt bởi quân đội của một quốc gia nhỏ được tham gia trong chiến tranh bất thường, những thành viên của NHlQdUVN thường liên hệ tốt với loại xung đột mà họ tìm thấy ở miền Nam Việt Nam. Một số vị cố vấn Úc, tuy thế, phê bình về bản chất tổng thể của nổ lực cố vấn của BChHTrQsVN(pc 19) và tranh luận rằng những người Mỹ thì quá tập trung vào việc thay đổi QĐVNCH và cuộc chiến của nó trở thành một cái gì đó theo quy ước và quen thuộc nhiều hơn,

p90

hơn là làm việc với tình hình như nó hiện hữu. Một vị Thiếu tướng Việt Nam đồng ý một cách đùa bỡn với quan điểm của vị cố vấn Úc của mình và nhận xét rằng: “Nếu cuộc xung đột chỉ đang được chiến đấu ở châu Âu, như thế miền Nam Việt Nam sẽ chiến thắng.”56 Mặc dù sự nhấn mạnh của người Úc vào phương pháp chống cuộc nổi dậy đôi khi gây ra sự va chạm với các đồng minh Mỹ của họ, những mối quan hệ giữa các nhóm cố vấn thì hầu như mạnh mẽ. Những người Mỹ thường nhìn thấy những người anh em Úc của họ như là những con ngựa chiến nóng tính, khó khăn và là những người thích uống rượu dữ dội, trong khi những người Úc tôn trọng rất nhiều đạo đức làm việc và khả năng chiến đấu của những người Mỹ. Mặc dù những phương pháp của họ thì khác nhau, các cố vấn Úc và Mỹ hình thành một mối liên kết giữa chính họ và với các sĩ quan của QĐVNCH và những người của Quân đoàn I.
Ngay cả trong sự đối mặt với những trở ngại đáng kể về văn hóa và hệ thống, nổ lực cố vấn của Mỹ và Úc rất thành công, hầu hết nhờ vào sự cống hiến và đạo đức làm việc của các cá nhân vốn là những người tham gia trong hệ thống thường rối loạn, khiến người ta tự hỏi mức độ thành công đáng lý ra đạt được là gì qua một cố gắng có tổ chức hơn mà qua đó kiềm chế mục tiêu ban đầu của nó về việc huấn luyện những người miền Nam Việt Nam chiến đấu cuộc chiến của riêng mình. Nhiều cựu cố vấn nổi giận về sự nhận thức chung về QĐVNCH như là một quân đội của những người kém khả năng và tin rằng BCHhTrQsVN(pc 19) “không bao giờ ban cho người Việt Nam công trạng về sự giỏi dang biết bao của những người lính [theo nguyên văn] mà họ thực sự là những người lính giỏi” và rằng Hoa Kỳ đáng lý ra sẽ “làm một công việc tốt hơn nhiều nếu chúng ta đã cho người Việt Nam sự tôn trọng và quyền hạn nhiều hơn.”57 Điều đó cho thấy rằng những vị cố vấn trong bối cảnh đó, những người gần gũi nhất đối với những vấn đề của QĐVNCH và lẫn những thành công của nó, đi đến những kết luận giống nhau như Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế đã từng nói –qua đó trọng tâm của nổ lực chiến tranh của Mỹ cần phải đặt vào việc huấn luyện và tạo ra khả năng của QĐVNCH tiếp nhận cuộc chiến của riêng mình, một chính sách Việt Nam hóa Chiến tranh đích sự của cuộc xung đột.
Mặc dù họ bị đánh giá thấp và một phần được huấn luyện và tham gia trong một cuộc chiến thứ cấp chỉ với sự hỗ trợ tối thiểu, các vị cố vấn của Mỹ và Úc thành công chống lại tình hình nặng nề trong việc củng cố mạnh mẽ hơn khả năng chiến trường của QĐVNCH. Tuy nhiên, thành công đó đi đến một cái giá cao quá cao. Vị cố vấn kiểm soát vấn đề hỗ trợ hỏa lực luôn quan trọng, một sức mạnh cấp số nhân vốn trở thành một thói quen khó bỏ đối với các vị chỉ huy Việt Nam. Tóm lại, những vị cố vấn thành công trong nhiệm vụ của mình quá tốt đẹp, và các đối tác QĐVNCH(pc 02) của họ tất cả các quá thường xuyên trở thành phụ thuộc vào ý kiến của họ và lẫn sự hỗ trợ hỏa lực của Mỹ.58

p91

Mặc dù các cố vấn đã được thực hiện những nhiệm vụ khó khăn và gần như không ai biết đến một cách đáng ngưỡng mộ và các đối tác của họ thường học thông suốt những bài học của họ, nổ lực cố vấn của Mỹ trớ trêu thay giúp tạo ra một QĐVNCH vốn không có khả năng đứng vững một mình. Những binh lính QĐVNCH và sĩ quan của họ thường dũng cảm và kiên cường, nhưng họ trở thành phụ thuộc hoàn toàn vào hỏa lực của Hoa Kỳ để giành được những thắng lợi trên chiến trường và vào các vị cố vấn Hoa Kỳ để chỉ dẫn hỏa lực đó. Khi những lực lượng của QĐVNCH(pc 02) mạo hiểm vào trong những trận chiến chống lại các lực lượng đối phương khá lớn và kiên quyết mà không có giúp ích nào của các vị cố vấn của họ, như trong cuộc xâm lược Lào qua chiến dịch Lam Sơn 719, những khiếm khuyết và phụ thuộc của họ nhanh chóng trở nên rõ ràng. Với sự hỗ trợ như thế, QĐVNCH có thể chiến đấu tuyệt vời, như nó đã làm trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968 và trong cuộc Tổng tấn công lễ Phục sinh năm 1972. Tuy nhiên, cuối cùng Hoa Kỳ mệt mỏi cuộc chiến của nó ở Việt Nam –và để lại cho QĐVNCH không còn có những vị cố vấn và cũng không có hỗ trợ hỏa lực. Kết quả cuối cùng thì không thể tránh khỏi.

f- Trận chiến tại Phú Lộc :

Khi VC(pc 03) và QĐBV(pc 07) sẵn sàng cho cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân của họ, nhịp độ những hoạt động trong nội địa của Quân đoàn I nhanh hơn. Quan trọng đối với việc lên kế hoạch của những người cộng sản là khu vực xung quanh làng Phú Lộc, nằm dọc theo Quốc lộ 1 ngay phía bắc của vùng thắt nút cổ chai của đèo Hải Vân. Mặc dù khu vực thực sự bị tranh giành một cách sôi nổi bởi hai tiểu đoàn nằm vùng của VC, vào cuối năm 1967, toàn bộ trung đoàn QĐBV đến như là những quân tiếp viện, hy vọng sẽ cắt đứt mạng luới hậu cần rất quan trọng đang hỗ trợ cho thành phố Huế.59 Kết quả là, các lực lượng ĐPQ & NQ(pc 12) có căn cứ ở Tổng hành dinh huyện Phú Lộc và Tiểu đoàn 1, TQLC(pc 05) 5 của Hoa Kỳ báo cáo một cơn sóng trong cuộc va chạm thù nghịch khi VC và QĐBV phục kích đoàn xe hộ tống và xe tải nơi những trung đội(pc 17) của TdHdKh(pc 18) cô lập trong việc chuẩn bị cho cuộc tấn công chính của họ.
Trong những giờ sáng sớm ngày 7 tháng Giêng, những lực lượng cộng sản đánh dữ dội, qua việc tấn công Tổng hành dinh huyện Phú Lộc, Tiểu đoàn 1, đồn trú chỉ huy của TQLC 5, và gần như tất cả những quân khu lớn của trung đội thuộc TdHdKh giữa Phú Lộc và đèo Hải Vân. Theo một người lính của TQLC Hoa Kỳ, “Hết sức bất ngờ, địa ngục thoát ra… nó trông giống như những con kiến đang băng ngọn đồi, hoặc mới vượt qua dây kẻm gai hướng đến quân khu, la hét, thét lên, mọi người vừa đang la hét và đang lãnh đạn.”60 Bị tấn công gần như ở khắp mọi nơi ở huyện trong bóng tối trước khi trời sáng, những lực lượng của TQLC Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam vùng vẫy để phản ứng đối với tình hình hỗn loạn.

p92

Chống đỡ các cuộc tấn công mảnh liệt của riêng của họ, 1/5 TQLC tách ra một trung đội và những phần tử có kích thước đại đội để giải cứu những trung đội bị tách biệt của TdHdKh. Ngoài ra, một trung đội duy nhất của Đại đội B thuộc 1/5 TQLC tìm cách hỗ trợ những lực lượng ĐPQ & NQ bị bao vây tại Tổng hành dinh huyện Phú Lộc.61 Trong nhu cầu về những quân lính tiếp viện thêm, tuy thế, TQLC kêu đến Hắc Báo. Rời bỏ căn cứ địa của họ ở thành phố Huế lên trên những chiếc trực thăng của TQLC, những chiến sĩ của đội Hắc Báo có ít thời gian để lên kế hoạch tấn công của họ. Bị Bao quanh và gần như bị xâm chiếm, anh Huế nhận ra rằng tình hình tại Tổng hành dinh huyện Phú Lộc thì thảm khốc. Tuy nhiên, anh Huế đã đánh nhau với cộng sản trong những năm tháng và biết rõ chiến thuật của họ. Sau khi bao vây một căn cứ, VC và QĐBV mong chờ một cuộc phản công và đã chuẩn bị những ổ mai phục dọc theo bất kỳ con đường nào đi vào và xung quanh bất kỳ bãi đáp nào có thể xảy ra của trực thăng trong khu vực gần nhất.
Khi những chiếc trực thăng đến gần Phú Lộc, anh Huế làm một quyết định khó khăn, thay vì hạ cánh bên ngoài trận chiến và mạo hiểm ổ phục kích trong khi đánh mở đường vào, anh ta chọn cách làm ngược lại. Được bao phủ bởi hàng rào đạn pháo chết người của Hải quân, đội Hắc Báo hạ xuống ở giữa lực lượng bị bao vây tại Tổng hành dinh huyện Phú Lộc. Cuộc di động táo bạo gây bất ngờ cho những lực lượng đang tấn công, và đội Hắc Báo chạm bãi đáp một cách an toàn. Bị đánh bởi sự táo bạo của cuộc tấn công, đối mặt với những quân tiếp viện, và gánh chịu thiệt hại từ sự ứng dụng đang gia tăng của hỏa lực chết người của Mỹ, QĐBV rút lui.62 Sau khi bị mất 80 cái chết trong và xung quanh Phú Lộc, những cuộc tấn công của QĐBV mau chóng tiêu tan, mặc dù khu vực vẫn còn bị giành lấy suốt thời gian của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân.63 Trần Ngọc Huế và đội Hắc Báo đã thể hiện lòng dũng cảm và chuyên nghiệp trong trận chiến, phát triển tốt đẹp sự tiếp xúc gần gũi với TQLC(pc 05) Hoa Kỳ. Khi diễn biến ở Phú Lộc lắng xuống, không phải anh Huế cũng không phải vai trò lãnh đạo của 1/5 TQLC nhận ra rằng chẳng bao lâu họ sẽ bị khóa lại với nhau trong một trong số những trận đánh lớn nhất của cuộc chiến –cuộc chiến đấu cho thành phố Huế trong suốt cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân.
Trong khi anh Đính tham gia vào một cuộc chiến tranh khác nhau mà trong đó vấn đề an ninh nông thôn là chìa khóa cho thắng lợi sau cùng, Trần Ngọc Huế và đội Hắc Báo đứng lên như là những tấm gương của cái gì đó mà những lực lượng chiến đấu của QĐVNCH(pc 02) có thể trở thành. Họ được thúc đẩy, dẫn dắt tốt đẹp, có lòng kiên quyết, và được tin cậy bởi những người đồng minh Mỹ của họ, ngay cả TQLC thường được ca ngợi. Sau trận chiến tàn khốc tại Phú Lộc, anh Coolican hỏi anh Huế về lòng dũng cảm cá nhân của anh Huế và những hy vọng của anh ta cho tương lai của riêng mình. Câu trả lời của anh Huế thì đơn giản và làm sáng tỏ. Anh ta trả lời: “Tôi là một người lính. Tôi được sinh ra trong chiến tranh, và tôi sẽ chết trên chiến trường.”64 Thật vậy, anh Huế và anh Đinh không biết gì cả ngoài chiến tranh, một thực tế đáng buồn của miền Nam Việt Nam. Cả hai đều học được rất nhiều ở thời kỳ của họ trong trận chiến, và,

p93

mặc dù những nan đề rõ ràng vẫn còn đó ở nhiều cấp độ, cả hai đều tin rằng QĐVNCH có khả năng chiến thắng cuối cùng, với sự cải cách và sự hỗ trợ tiếp tục của Mỹ. Những niềm tin của họ, sắp được đưa vào thử nghiệm trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, một cuộc tấn công vốn làm nhụt ý chí của người Mỹ trên mặt trận quê nhà nhưng phục vụ như là giờ phút tốt nhất của QĐVNCH.

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ TlBChhHtrQsHKVN : Vị Tư lệnh của Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự Hoa Kỳ cho Việt Nam (COMUSMACV = Commander, U.S. Military Assistance Command, Vietnam).

pc 02_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 03_ VC : Việt cộng.
pc 04_ LlThgLnTQLC : Lực lượng Thiết giáp Lội nước Thủy quân Lục chiến (MAF = Marine Amphibious Force).

pc 05_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 06_ KpQs : Khu phi Quân sự.
pc 07_ QĐBV : Quân đội Bắc Việt.
pc 08_ Khe Sanh : là một thị trấn của huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, cách Đông Hà 63 km …(xin xem phần trước)

pc 09_ Đồi Đống đá : là Đồi Rockpile nằm trong Khu phi Quân sự, …(xin xem phần trước)

pc 10_ Cồn Tiên : (người Mỹ hay viết là Con Thien) …(xin xem phần trước)

pc 11_ RPG-7 : Súng phóng lựu loại phi đạn có cánh …(xin xem phần trước)

pc 12_ ĐPQ & NQ : Địa phương Quân và Nghĩa quân.
pc 13_ CtrBd&PtrDhmNVN : Chương trình Bình định và Phát triển Dài hạn miền Nam Việt Nam (PROVN = Program for the Pacification and Long-Term Development of South Vietnam).

pc 14_ NhCv&HtrQs : Nhóm Cố vấn và Hỗ trợ Quân sự (MAAG = Military Assistance and Advisory Group).

pc 15_ 2/3 : Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 3, có nghĩa chỉ là một tiểu đoàn với 300 đến 1.300 người.

pc 16_ NHlQdUVN : Nhóm Huấn luyện của Quân đội Úc cho Việt Nam (AATTV = Australian Army Training Team Vietnam).

pc 17_ Trung đội : khoảng 26 đến 55 người.
pc 18_ TdHdKh : Những Trung đội Hoạt động Kết hợp (CAPS = Combined Action Platoons)

pc 19_ BChHtrQsVN : Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự cho Việt Nam (MACV = Military Assistance Command, Vietnam).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s