Phần 02-1/2 : Một cuộc Chiến Biến đổi (1963-1966)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p31

Phần 02 : Một cuộc Chiến Biến đổi
(Trận chiến, Chính trị, và vấn đề Mỹ hóa Chiến tranh, 1963-1966)

Đó là một thời gian nóng nảy để là một nhà lãnh đạo của những người lính ở miền Nam Việt Nam, và ngay cả khi họ đối mặt với những thử nghiệm đầu tiên của họ trong trận chiến, anh Đính và anh Huế cũng ngày càng bị cuốn vào trong một số sự kiện chính trị quan trọng nhất của thời gian của họ. Trong những năm sắp đến, sự khởi đầu của sự hỗn loạn và bất đồng trong chính phủ ở các cấp cao nhất làm chấn động Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) đến ngay cốt lõi của nó và bỏ lại sự sinh tồn của dân tộc trong ngờ vực. Trong sự thức tỉnh về sự không ăn khớp của âm mưu và thay đổi chính trị, Hoa Kỳ chọn cách thực hiện cuộc chiến ở Việt Nam, một cuộc chiến của người Mỹ và dâng hiến những lực lượng chiến đấu của Hoa Kỳ cho cuộc xung đột, mà qua đó thay đổi một cách cơ bản bản chất của toàn bộ cuộc xung đột. Bốn năm tiếp theo là cách hình thành cho những kinh nghiệm thời chiến của anh Đính và anh Huế và dạy cho họ sự thực tế của miền Nam Việt Nam lúc chiến tranh, trong khi cuộc chính xung đột trở nên gần như không thể nhận ra như là chiến tranh du kích với đơn vị nhỏ nhường chỗ cho một số lượng ngày càng tăng của đội quân Mỹ và Bắc Việt tham gia trong trận chiến dàn trận . Khi thế giới của họ bị thay đổi xung quanh họ, cả anh Đính và anh Huế vẫn bám giữ sự lạc quan của họ và ti tưởng rằng, với sự giúp đỡ tiếp tục của những người đồng minh Mỹ của nó, miền Nam Việt Nam sẽ nổi bật lên thắng lợi từ một cuộc chiến tranh được chuyển đổi.

a- Cuộc huấn luyện :

Vào tuổi 24, anh Đính bắt đầu cuộc huấn luyện quân sự của mình và trở thành một phần của “Khóa 9” Trường Sĩ quan Dự bị Thủ Đức trong năm 1961.1 Trường học, được dựa vào Trường Tuyển sinh Sĩ quan của Quân đội Hoa Kỳ tại Fort Benning, Georgia, sản xuất hơn 65 phần trăm những sĩ quan vốn phục vụ trong QĐVNCH.(pc 01) Anh Đính và các tuyển sinh sĩ quan khác trải qua chín tháng huấn luyện và nhận được một bằng cấp dự bị trong QĐVNCH ở hàng ngũ có nguyện vọng, một cấp bậc dưới thiếu úy.2

p32

Được huấn luyện bởi cả những sĩ quan Việt Nam và lẫn các cố vấn Hoa Kỳ, anh Đính nhanh chóng nắm vững nghệ thuật chỉ huy đơn vị nhỏ lệnh, tốt nghiệp trong 10 người giỏi nhất của lớp anh ta, và học hỏi rằng là một sĩ quan tốt có nghĩa là có sự hiểu biết nhiều hơn về chiến thuật. Nó có nghĩa là tìm được sự tôn trọng của những người dưới quyền chỉ huy của mình và dẫn dắt bằng tấm gương mẫu –một bài học thường chỉ được học hỏi một cách yếu kém trong QĐVNCH.
Sau khi tốt nghiệp từ Thủ Đức, anh Đính dành thời gian cho phần việc ngắn ngủi như là một trung đội trưởng pháo thủ trong Trung đoàn 3 của Sư đoàn 1 QĐVNCH. Cuộc chiến như anh Đính lần đầu tiên kinh nghiệm, đó là một cuộc nổi dậy trong những giai đoạn đầu của nó, và phần lớn khu vực phía nam của anh Đính thuộc Khu phi Quân sự, sau nầy được nổi tiếng như là những nơi nguy hiểm nhất duy nhất ở miền Nam Việt Nam, vẫn còn trong tình trạng tương đối yên tĩnh. Kết quả là, mệnh lệnh đầu tiên của anh Đính không liên quan đến chiến đấu, và vào tháng Giêng năm 1962, anh ta tham dự trường Biệt động Quân (BĐQ) miền Nam Việt Nam. Chế độ dinh dưỡng đòi hỏi cho thể chất của chương trình kéo dài trong ba tháng và tập trung vào chiến tranh rừng rú và những kỹ thuật chống lại cuộc nổi dậy. Sau khi tốt nghiệp đứng thứ năm trong lớp học của mình, anh Đính trải qua cuộc huấn luyện bổ sung ở trường Chiến tranh vùng Rừng ở Mã Lai Á, nơi mà anh ta học được những kỹ thuật của Anh quốc chống lại cuộc nổi dậy.3
Sau khi hoàn thành cuộc huấn luyện cấp tiến của mình, anh Đính nhận được một nhiệm vụ đến Trung tâm Huấn luyện Phú Bài, nơi mà anh ta làm việc để chuyển đổi những tân binh mới nhập ngũ của QĐVNCH trở thành những chiến sĩ hiệu quả. Tuy nhiên, phải đối mặt với cuộc nổi dậy ngày càng tăng và chiến tranh đang mở rộng, QĐVNCH như là một toàn thể có ít thời gian để dành cho việc huấn luyện đơn vị. Thật vậy, những cố vấn quân sự Hoa Kỳ thường trích dẫn “việc huấn luyện yếu kém, hoặc sự thiếu vắng hoàn toàn của nó,”4 như là một trong những điểm yếu rất quan trọng của QĐVNCH. Đối với sự quan tâm đặc biệt là một thiếu sót đáng lo ngại về việc huấn luyện đơn vị. Thí dụ, vào năm 1964, mười lăm tiểu đoàn QĐVNCH đã không nhận được cuộc huấn luyện đơn vị chính thức bất cứ là thế nào, và phải học hỏi mưu mẹo quân sự của họ qua sự thử thách gắt gao của việc “huấn luyện ngay trên công việc” trong trận chiến.5 Phần việc của anh Định ở Phú Bài, tuy thế, là một cái gì đó ngoại lệ mà qua đó nó xảy ra trong suốt giai đoạn tương đối yên tĩnh trong khu vực hoạt động của mình. Trong suốt hầu hết năm 1962 và 1963, anh Đính vẫn ở Phú Bài, làm việc với những đại đội huấn luyện khoảng 60 người, mỗi đại đội trong khoảng thời gian ba tháng. Anh Đính đắm mình trong những cuộc sống của các học viên của mình, giám sát mọi thứ từ việc huấn luyện vũ khí của họ đến việc luyện tập thể chất của họ –bất cứ điều gì cần đến để chuẩn bị những người mới tuyển dụng cho những sự khắc nghiệt của cuộc chiến. Trong tâm trí của anh Đính, những trách nhiệm của anh ta bỏ lại Phú Bài khi những người lính được huấn luyện và có đủ khả năng, nhưng anh ta nhận biết về sự kém cỏi nghiêm trọng về việc đào tạo –những người vốn là những người Mỹ không dễ dàng nhận thấy.
Ngay cả ở giai đoạn đầu của sự nghiệp của mình, anh Đính nhận ra rằng QĐVNCH

p33

thì đang ở thế bất lợi, không phải trong sự dũng cảm chiến thuật nhưng trong một cuộc chiến tâm lý rất quan trọng cho “trái tim và khối óc” của người dân. Những kẻ thù cộng sản của QĐVNCH(pc 01) có thể tuyên bố thắng lợi trên người Pháp và có thể tự thủ vai như là những người cung cấp cuộc chiến dân tộc cho nền độc lập. QĐVNCH, tuy thế, có thể được xem như là một di tích của quá khứ thuộc địa, mà qua đó khiến cho Việt cộng ở một lợi thế quan trọng.6 Kết quả là, anh Đính tin rằng QĐVNCH phải làm một công việc tốt hơn cho sự thuyết phục người dân về những bản chất ác độc của chủ nghĩa cộng sản và tính đúng đắn về nguyên nhân của riêng QĐVNCH. Nhiệm vụ đó phải bắt đầu với những người lính vốn là những người tạo nên hàng ngũ cấp bậc của QĐVNCH, những người đàn ông vốn là những người sẽ bảo vệ nhà nước miền Nam Việt Nam cũng như chức năng như là hình ảnh khuất phục nhất của nhà nước đó. Tuy nhiên, kể từ khi chính quyền Sài Gòn sống trong sợ hãi liên tục về một cuộc đảo chính quân sự, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa yêu nước đóng một vai trò không đáng kể trong việc huấn luyện của QĐVNCH. Qua những lời của một người nhập ngũ QĐVNCH, Nguyễn Văn Châu, “Hầu hết những người lính mà tôi biết, hiểu chút ít về lý do tại sao chúng tôi chiến đấu. Chống lại chủ nghĩa cộng sản thì trừu tượng đối với chúng tôi hơn là những lý thuyết khoa học chính trị. Không một lần nào bất kỳ ai trong số những giảng viên của tôi đề cập đến một chương trình nghị sự chính trị chủ động.”7 Theo quan điểm của anh Đính, sự tập trung vào tính máy móc của việc huấn luyện không bao giờ do dự, mà qua đó để lại cho những người lính của QĐVNCH âm hưởng về kỹ thuật, nhưng vào lúc ở thế bất lợi nguy ngập chống lại những kẻ thù sắc sảo về chính trị hơn của họ trong các lãnh vực về tinh thần và vai trò lãnh đạo. Những quốc gia khác đã được sinh ra trong chiến tranh, nhưng QĐVNCH theo lý luận là không bao giờ kết hợp lại thành một lực lượng quân sự có được một ý thức hệ chính trị thống nhất.
Khi anh Đính hoàn thành việc huấn luyện của mình ở Thủ Đức vào năm 1961, Trần Ngọc Huế bước vào trường Võ bị Quốc gia Việt Nam có uy tín ở Đà Lạt. Được thành lập bởi người Pháp vào năm 1950, trường Võ bị Quốc gia duy trì những đòi hỏi đủ tài năng được vào qua nhiều cố gắng và là một trong những học viện phục vụ quốc gia đầu tiên ở toàn bộ châu Á. Những học viên sĩ quan trước năm 1965 trải qua một khóa học nghiêm ngặt hai năm và nhận được một văn bằng hợp thức ở cấp Thiếu úy.8 Mặc dù có uy tín, trường Võ bị Quốc gia có thể sản xuất ít hơn 200 học viên tốt nghiệp hàng năm, gần như không đủ để đáp ứng nhu cầu liên tục của QĐVNCH cho những sĩ quan mới. Như thế, trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, được tham dự bởi anh Đính, mà qua đó sản xuất hàng ngàn sĩ quan mỗi năm, vẫn giữ sự quan trọng chủ yếu. Một sự cạnh tranh dễ hiểu được phát triển giữa các học viên tốt nghiệp của hai học viện,9 đối với những học viên tốt nghiệp của trường Võ bị Quốc gia thường cảm thấy khá hơn những anh em Thủ Đức của họ.
Anh Huế xuất sắc với những việc học của mình, trong đó bao gồm những bài học về vai trò lãnh đạo và lòng yêu nước. Được thúc đẩy bởi hận thù cá nhân của mình cho những người cộng sản,

p34

anh Huế, giống như anh Đính, học hỏi tôn trọng và yêu thương người lính của mình và học hỏi bổn phận hy sinh cho đất nước non trẻ của mình. Những bài học của trường Võ bị Quốc gia nhấn mạnh những lý tưởng của phục vụ vốn gắn kết chặt chẽ với di sản võ dũng của Việt Nam, mà qua đó gắn liền việc phục vụ cho miền Nam Việt Nam với quá khứ huy hoàng của quốc gia.
QĐVNCH mà anh Huế gia nhập vào tháng Mười Một năm 1963 như là một vị Thiếu úy đã từng trải qua sự bành trướng quy mô khi cuộc chiến ở Việt Nam thay đổi. Vào năm 1960, QĐVNCH đã có 150.000 người trong bảy sư đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn Nhảy dù, một lực lượng BĐQ(pc 02) của 9.000 người, và ba tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến (TQLC). Đến năm 1962, sức mạnh của QĐVNCH đã tăng lên 219.000 người,

p35

được tổ chức thành bốn quân đoàn, chín sư đoàn, một lữ đoàn Nhảy dù, một nhóm Lực lượng Đặc biệt, 3 trung đoàn riêng biệt, một trung đoàn địa phương, 86 đại đội BĐQ,(pc 02) và 19 tiểu đoàn riêng biệt và những đơn vị hỗ trợ được kết hợp. Những lực lượng kiểu dân quân (Bảo vệ dân và Quân đoàn tự vệ, sau này được tổ chức lại vào những Lực lượng Địa phương Quân và Nghĩa quân (ĐPQ & NQ) được thêm vào một số khác của 176.500 người cho tổng lực lượng của miền Nam Việt Nam dưới quân đội.10 Tình hình vào lúc giao thời này của cuộc xung đột bảo đảm sự lạc quan trên một phần nào đó của anh Đính và anh Huế. Mặc dù sự thiếu sót về cuộc huấn luyện cá nhân và đơn vị vẫn còn là một nan đề, tinh thần và vai trò lãnh đạo đôi khi đáng nghi ngờ, và chính phủ chỉ có sự kiểm soát không đáng kể ở phần lớn nội địa Việt Nam, QĐVNCH vào năm 1963 vẫn giữ vững riêng mình trong cuộc xung đột nhỏ ở ranh giới kiềm soát chống lại lực lượng đang nổi lên của Việt cộng. Ngay cả mặc dù các cố vấn Mỹ vẫn còn khá lo ngại rằng QĐVNCH(pc 01) đôi khi gánh chịu những đảo ngược to lớn như thế trong trận Ấp Bắc, dường như không có mối đe dọa trực tiếp nào đối với đất nước của miền Nam Việt Nam. Tương lai không ảm đạm nhưng sẽ biến u tối rất sớm.

b- Biến loạn :

Khi anh Huế hoàn thành cuộc huấn luyện của mình tại trường Võ Bị Quốc Gia và anh Đính phục vụ tại Phú Bài, sự bất ổn về chính trị quét qua đất nước, qua việc biến đổi bản chất của chiến tranh và rất gần như làm tan vỡ QĐVNCH. Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã luôn luôn là một nhân vật gây tranh cãi, nhưng ông ta đã từng, với sự ủng hộ của Mỹ, đánh bại tất cả những sự bất hòa và tạo ra một chính phủ và quân sự đang hoạt động ở miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, ông Diệm đã bẻ theo khuynh hướng độc tài vốn gây lo lắng rất nhiều cho những người bảo trợ Mỹ. Thêm vào đó, những thành viên của giới ưu tú chỉ huy của QĐVNCH trên tay thèm muốn quyền lực và uy tín của ông Diệm và mặt khác phiền lòng về sự củng cố quyền lực cá nhân của ông ta. Mặc dù nhiều người trong phạm vi chính phủ Hoa Kỳ, bao gồm vị Tổng thống John F. Kennedy và Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara, vẫn là những người ủng hộ ông Diệm, một sự việc tạo nhóm gây ảnh hưởng, được cầm đầu bởi Đại sứ Henry Cabot Lodge, càng ngày càng lúc trở nên lo lắng rằng phong cách cai trị của ông Diệm và sự ưu đãi được cho thấy đối với nhóm thiểu số tôn giáo thuộc Công Giáo ở miền Nam Việt Nam đã khiến xa lánh những nhóm Phật giáo khác nhau mạnh mẽ trong nước.
Vào năm 1963, sự sợ hãi trở thành hiện thực khi những thành phố trên khắp miền Nam Việt Nam bùng nổ sự xung đột công khai giữa phong trào Phật giáo và chế độ ông Diệm.

p36

Mặc dù bản chất chính xác của những sự kiện hiện nay vẫn còn bị bao phủ bởi chiếc áo choàng của trò hai lòng và giả dối, một học viên sĩ quan trong số những người lãnh đạo cùa QĐVNCH(pc 01) nhận thấy cuộc khủng hoảng như là một cơ hội nhằm lật đổ một ông Diệm càng ngày mất lòng dân trong khi vẫn giữ lại sự ủng hộ những người bảo trợ luôn quan trọng của Mỹ. Kết quả là, vào ngày 1 tháng Mười Một, một cuộc đảo chính quân sự dẫn đến sự sụp đổ và ám sát Ngô Đình Diem.11
Mặc dù Hoa Kỳ hy vọng rằng ban lãnh đạo quân sự mới của Việt Nam sẽ cung cấp một mức độ cao hơn về sự ổn định và cả tiến hành chiến với sự mạnh liệt hơn, đó là điều sai. Trong hai năm tới, sự chính trị hóa quá khích của quân đội ngày càng trở nên rõ ràng khi các tướng lãnh hàng đầu phát động hàng loạt theo sau những cuộc đảo chính và chống đảo chánh được nhắm vào việc có được hoặc bám giữ lại quyền lực. Sự bất ổn về chính trị đang diễn ra ở Sài Gòn gây ra sự kinh hoàng như thế ở Washington đến nổi sau một chuyến thăm Việt Nam ngắn ngủi vào tháng Mười Hai năm 1964, ông McNamara báo cáo:

Tình hình đang rất nhiễu loạn. Những khuynh hướng hiện tại, trừ khi bị đảo ngược trong 2 đến 3 tháng tới, sẽ dẫn đến sự trung lập hóa vào lúc tốt nhất và nhiều khả năng đối với một nhà nước bị kiểm soát bởi Cộng sản. Chính phủ mới nguồn quan tâm lớn nhất. Nó là thiếu quyết đoán và trôi nỗi.12

Những nỗi sợ hãi của Washington tạo nên kết quả trong những cố gắng bởi vị Đại sứ mới của Hoa Kỳ, Maxwell Taylor, nhằm khắc phục tình hình. Sự can thiệp của ông Taylor, tuy thế, không hiệu quả và chứng minh cả sự ngây thơ về chính trị và một mức độ đáng kể về sự ngạo mạn. Vào giữa tháng Mười Hai năm 1964, ông Taylor mời nhiều tướng lãnh hàng đầu của QĐVNCH đến bữa ăn tối thịt bò chiên tại nơi cư trú của Tướng William Westmoreland, nơi mà ông ta cảnh cáo những người có uy tín lớn về quân sự của miền Nam Việt Nam chống lại những cuộc đảo chánh xa hơn nữa và sự can thiệp của quân sự trong chính trị. Chắc chắn rằng ông ta đã truyền được quan điểm của mình khắp cả, ông Taylor đã tức giận khi, chỉ một vài ngày sau đó, ban lãnh đạo QĐVNCH còn thực hiện một sự thay đổi chính phủ khác. Ông Taylor cho gọi các tướng lãnh hàng đầu của QĐVNCH(pc 01) đến văn phòng của ông ta và trách mắng vì những hành động của họ, nói rằng, “Chúng tôi không thể tiếp tục cưu mang các bạn mãi mãi nếu các bạn làm những điều như thế này… Tất cả các bạn có hiểu tiếng Anh không? Tôi nói với các bạn một cách rõ ràng tại bữa ăn tối của Tướng Westmoreland rằng những người Mỹ chúng tôi chán chường vì những cuộc đảo chính.”13
Những lời nhắc nhở của ông Taylor thất bại, và miền Nam Việt Nam phải chịu đựng một giai đoạn về sự bất ổn chính trị vốn là tầm quan trọng cực kỳ đối với sự yếu đuối đang tiếp tục và sự sụp đổ cuối cùng. Trong hai mươi tháng theo sau cái chết của ông Diệm, đất nước có chín chính phủ khác nhau khi những thành viên của ban lãnh đạo quân sự đấu tranh trong số chính họ với nhau cho quyền lực chính trị tột bực ở miền Nam Việt Nam.

p37

Sự biến loạn về chính trị và quân sự đập vào QĐVNCH giống như một cơn bão mãnh liệt và phục vụ để hủy hoại phần lớn những gì có được qua từng lúc được tạo nên bởi quân đội miền Nam Việt Nam trong những năm gần đây.
Mỗi chính phủ mới thực hiện thay đổi chung chung trong cơ cấu chỉ huy của QĐVNCH, với lòng trung thành được xem là thế đối với chế độ mới như là phép thử của hóa chất chỉ thị màu sắc cho cơ quan quân sự cao cấp. Những nhân viên của QĐVNCH ở cấp tỉnh hoặc quân đoàn thường có quyền lực chính trị tối đa trên khu vực của họ hoạt động, và một số thậm chí cai trị như là những ông trùm phong kiến. Khi các vị tướng lãnh ở cấp quốc gia nắm được quyền lực, họ thành lập những hệ thống phức tạp, cạnh tranh với đồng minh với một số lãnh đạo quân sự địa phương có quyền lực và làm việc để lật đổ những người khác, vốn là những người ủng hộ các tướng lãnh đối thủ, từ quyền lực. Khi cuộc đấu tranh giành sự kiểm soát quân sự và chính trị trở nên hỗn loạn hơn, ban lãnh đạo của QĐVNCH bị phân chia thành các nhóm nhỏ hơn và nhỏ hơn về lòng trung thành.14 Tài làm rối trí đối thủ giữa các thành viên chỉ huy ở cấp trên cao hơn làm thất vọng một cách mạnh liệt những sĩ quan chiến đấu trẻ, trung thành như anh Đính và anh Huế, vốn là những người càng trở nên cam kết hơn bao giờ hết để làm những công việc của họ tốt đẹp, qua việc chống lại sự chính trị hóa và cuối cùng hất bỏ những di tích quân sự nguy hiểm và hiện thời rõ ràng là không còn ai biết đến của quá khứ thực dân Pháp.
Như là một kết quả của bất ổn chính trị, tinh thần chiến đấu của QĐVNCH(pc 01) giảm mạnh, và một quân đội vốn đã từng giữ vững riêng mình chống lại Việt cộng cả về trì trệ và lẫn mất mát sự khởi đầu khi những chiến dịch tấn công và những cố gắng bình định trong nhiều khu vực chỉ đơn giản là được làm chậm lại cho đến khi chấm dứt. Những lực lượng cộng sản sử dụng sự biến loạn cho lợi thế của họ và xây dựng những lực lượng của họ ở miền Nam Việt Nam từ một tổng số 30.000 vào tháng Mười Một năm 1963 đến 212.000 trước tháng Bảy năm 1965. Khi QĐVNCH lần lựa, Việt cộng chiếm giữ quyền kiểm soát những vùng đất khai khẩn lớn ở nông thôn và những đơn vị cộng sản có kích thước lang thang phần lớn đất nước tùy thích.
Một tài liệu cộng sản được soạn thảo vào tháng Ba năm 1965 đánh giá tình hình ở miền Nam Việt Nam:

Cán cân của những lực lượng giữa cuộc cách mạng miền Nam Việt Nam và kẻ thù đã thay đổi rất nhanh chóng theo cái lợi của chúng ta… Phần lớn lực lượng vũ trang của quân địch và lực lượng bán quân sự ở cấp làng và thôn đã tan rã, và cái gì còn lại tiếp tục tan rã.15

Được khuyến khích bởi sức mạnh mới phát hiện của họ và hy vọng cho sự thất bại cuối cùng của chế độ Sài Gòn trước khi sức mạnh của Mỹ có thể được đưa ra chịu đựng,

p38

Việt cộng phát động một loạt các vụ tấn công vào những làng mạc và thị trấn quận huyện, mà qua đó báo trước một sự thay đổi to lớn và quan trọng trong cuộc xung đột.16
Với một chế độ Sài Gòn vụng về dường như vĩnh viễn trên cạnh lưỡi dao cạo của sự sụp đổ, tình hình nhiều đối với nhiều nhà quan sát Mỹ hiện thời bảo đảm sự tham gia trực tiếp của Hoa Kỳ vào những hoạt động chiến đấu để chính sách ngăn chận khỏi thất bại. Kết quả là, chính quyền của Tổng thống Lyndon Johnson bắt đầu một cuộc tranh luận xôn xao trên vấn đề cam kết đội quân Mỹ vào trận chiến –một động thái vốn sẽ cứu được miền Nam Việt Nam trong thời gian hiện tại nhưng sẽ mang lại những hậu quả thảm khốc.
Anh Đính và anh Huế theo dõi với mối quan tâm to lớn khi những sự kiện diễn ra sau sự sụp đổ của ông Diệm, phần nhiều đối với sự tổn hại của QĐVNCH.(pc 01) Vị sĩ quan vừa được đúc khuôn Huế nhận ra rằng những mức độ cao hơn của quyền chỉ huy QĐVNCH thì đầy những người có mưu đồ, thời cơ ích kỉ vốn là những người không có lòng trung thành chân thực đối với nhà nước mới của miền Nam Việt Nam. Đối với anh Đính, những kết quả của cuộc đảo chính là một phần nào có tính cách cá nhân hơn. Bởi vì các mối quan hệ quan hệ họ hàng của anh ta đối với chế độ bị lật đổ, anh Đính tiều tụy dưới sự quản thúc tại chỗ trong doanh trại của mình ở Trung tâm Huấn luyện Phú Bài không được liên lạc với gia đình mình trong khi ban lãnh đạo mới của QĐVNCH xem xét kỹ lưỡng những hành động của anh ta và cố gắng phỏng ước lòng trung thành của anh ta. Cuối cùng, chế độ mới cho phép anh Đính ở lại trong quân đội, mặc dù gia đình anh ta không thoát khỏi bị tổn thương khi người cha của anh phải, theo những lời của anh Đính, “nghỉ hưu vì tuổi tác của ông ta.” Ngay sau đó, anh Đính di chuyển từ vị trí huấn luyện của mình đến quyền chỉ huy Đại đội 2, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 3 của Sư đoàn 1 QĐVNCH.
Sự biến loạn đặc hữu của quốc gia thể hiện chính nó trên một cấp độ địa phương qua một cuộc duyệt binh của những vị chỉ huy QĐVNCH vốn là những người đến và đi với sự đơn điệu đều đặn trong suốt những tháng xảy ra sau đó. Trong chỉ một năm, quyền chỉ huy Sư đoàn 1 của QĐVNCH đổi tay bốn lần, trong khi anh Đính cũng đã phải đối phó với những vị chỉ huy của ba trung đoàn and bốn tiểu đoàn khác trong cùng một khoảng thời gian. Mặc dù những sĩ quan cấp nhỏ như anh Đính và anh Huế có khuynh hướng giữ chân tại chỗ, sự thay đổi không ngừng của những sĩ quan cao cấp đóng vai trò tàn phá tinh thần chiến đấu của những chiến sĩ và sự hiệu quả của các hoạt động trong khu vực tương đối yên bình cho đến nay của Quân đoàn I.

c- Những thực tế của quyền chỉ huy :

Khi âm mưu chính trị tàn phá đất nước, anh Đính sắp sửa có nhiệm vụ phải làm của mình như là một Thiếu úy và là vị chỉ huy một đại đội

p39

và học được nhiều về bản chất biến đổi của cuộc xung đột vốn cuối cùng chiếm ngự cả cuộc đời của mình. Trong suốt những tháng đầu của năm 1964, Đại đội 2, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 3 của anh Đính phát triển vượt khỏi khu căn cứ trung đoàn PK 17, nằm ngoài Quốc lộ 1, 17 km về phía bắc của thành phố Huế. Đại đội của anh Đính tham gia trong những sứ mệnh tìm-kiếm-và-tiêu-diệt, được trù tính để không cho sự tiếp cận của Việt cộng đến những làng địa phương như là những nguồn cung cấp lương thực và tuyển dụng. Khu vực tương đối yên bình vào thời điểm đó, và những cán quét của anh Đính tạo nên kết quả va chạm ít oi. Mặc dù vậy, anh Đính biết được rằng thực tế hiển hiện của quyền chỉ huy trong QĐVNCH(pc 01) đòi hỏi phài có những sự chọn lựa đạo đức khó khăn.
Anh Đính làm việc chăm chỉ để có được sự tôn trọng của những người lính của mình, ở lại với họ trong nơi căn cứ này, trong khi các sĩ quan khác của QĐVNCH bắt đầu có khuynh hướng lén trốn khỏi những đơn vị của họ thường xuyên như có thể để tận hưởng những tiện nghi của thành phố. Anh Đính cũng tránh được sự tham nhũng vốn gây tai hại cho QĐVNCH. Mặc dù tiền lương của những sĩ quan trong năm 1964 (trong trường hợp của anh Đính là 5.000 đồng mỗi tháng, hoặc tương đương khoảng 150 tiền Mỹ), được tăng thêm bởi một trợ cấp gia đình, chứng minh thỏa đáng cho hầu hết, tuy nhiên lớp sĩ quan bị chính trị hóa quá mức tìm thấy thừa cơ hội để tăng thêm những thu nhập của họ. Ở những cấp thấp hơn của quyền chỉ huy, hai loại ăn hối lộ xuất hiện thường xuyên nhất. Mỗi người lính của QĐVNCH nhận được quân chế hàng tháng 21 kg gạo, nhưng nhiều sĩ quan giữ một số trong phần quân chế đó cho việc sử dụng riêng của họ và kiếm lời tư việc bán ra của nó. Thêm vào đó, những sĩ quan giữ lấy “những lính ma” trên các vai trò của họ –những người lính vốn đã đào ngũ hoặc người đã bị giết– và bỏ túi tiền lương của họ. Những người lính ở một số đơn vị không có đủ ăn, trong khi những đơn vị khác vẫn còn thói quen dưới sức mạnh do hiện tượng lính ma. Những vi phạm đươc kết hợp với nạn tham nhũng trong QĐVNCH đã gây phương hại đến tinh thần quân ngũ và khiến cho những người lính của QĐVNCH đặt câu hỏi về lòng trung thành của các sĩ quan của riêng họ.
Khi chiến tranh tiếp tục kéo dài, tiền lương cho cả những người nhập ngũ và sĩ quan không theo kịp với triều dâng của lạm phát,17 và trong suốt những giai đoạn cuối của sự tham gia của của người Mỹ vào trong cuộc xung đột, những sĩ quan của QĐVNCH và những người lính không thể nuôi lấy chính bản thân hoặc cũng không chính gia đình của họ trên mức lương đang thu nhỏ lại. Theo Trung Tướng Đồng Văn Khuyên:

Tiền lương thấp được hình thành bởi nạn lạm phát đặt người phục dịch trung bình trong một tình trạng khó khăn lâm ly, buộc ông ta tranh đấu với bản thân mình giữa điều ngay thẳng đạo đức (mà qua đó có nghĩa là sự nghèo nàn và một cuộc sống thiếu thốn cho vợ và những đứa con của ông ta) và tham nhũng (vốn hủy hoại hiệu quả chiến đấu và có lẽ sự sống còn của đất nước). Bởi vì tính liêm khiết của họ được chọn, một số những sĩ quan phải sống nhờ vào những thu nhập của cha mẹ họ,

p40

ánh trăng trong suốt nhiệm những giờ ngoài nhiệm vụ trong các công việc như thể là chạy xe ôm –chở những hành khách trên xe gắn máy Honda–, giảm những nhu cầu vật chất của họ đến một tối thiểu, và bằng lòng với một cuộc sống thanh đạm và thiếu thốn.18

Tình hình trở nên quá tồi tệ đến nổi vào năm 1968, Tổng Tham Mưu Phối hợp của miền Nam Việt Nam cho phép một cuộc điều tra vào trong việc không thỏa đáng về tiền lương của QĐVNCH, những kết quả đang báo động mà qua đó chỉ ra rằng “không có người lính nào có thể tồn tại vào mức lương hiện tại của mình.” Hai năm sau, một nghiên cứu của Cơ quan Tình báo Hoa Kỳ CIA về tiền lương của QĐVNCH chỉ ra rằng tiền lương thì quá thấp đến nổi nó bao phủ “chỉ một phần ba đến một nửa những chi phí của quân nhân.” Mặc dù khiến cho những vấn đề tồi tệ hơn, những người lao động dân sự thì có cuộc sống tốt đẹp nhiều hơn hơn so với những chiến sĩ của QĐVNCH,(pc 01) và những người đối tác Mỹ làm ra những khoản tiền như ông hoàng qua sự so sánh, gây ra thiệt hại hơn nữa tinh thần chiến đấu vốn đã mong manh của QĐVNCH. Kết quả là, càng lúc có nhiều hơn những sĩ quan quay sang ăn hối lộ, và tinh thần chiến đấu của các cấp trong quân ngũ chìm xuống đến những mức thấp một cách nguy ngập.
Sự nghèo nàn được kinh nghiệm qua bởi những người lính của QĐVNCH có một kết nối quan trọng và gây phiền hà cho các khái niệm về ơn nghĩa và hiếu thảo. Toàn bộ những gia đình, với một phần ba những quân lính của QĐVNCH phải chăm sóc cho một gia đình được mở rộng của 10 người hoặc nhiều hơn,19 phải sống nhờ vào những số tiền lương ít ỏi của các sĩ quan QĐVNCH và cứ tiếp tục như thế ngay cả khi những người đàn ông vắng mặt trong suốt hầu hết những lần nông nghiệp quan trọng năm, những lần khi một gia đình thông thường tạo ra cách sinh kế của nó. Việc không có khả năng để chăm sóc cho gia đình của mình làm nhu nhược hơn để lại nhiều binh lính bị giằng xé giữa bổn phận tất-cả-quá-thường được hiểu một cách nghèo nàn đối với đất nước của họ và nghĩa vụ truyền thống của họ đối với những người thân yêu của họ. Một người nhập ngũ QĐVNCH, Nguyễn Tăng, giải thích vấn đề chỉ đơn giản là: “Vai trò chính của tôi trong cuộc sống là lo liệu cho gia đình tôi và tôn kính những tổ tiên của tôi. Đó là điều rất khó khăn để rời khỏi ngôi làng… ngay cả khi nếu bị đe dọa… để chiến đấu. Tôi sẽ thà chết với gia đình tôi ở nhà hơn là rời bỏ họ và không có khả năng để chăm sóc cho họ.”20
Sự mong muốn để trở về nhà cho cả hai lý do vể ơn nghĩa và hiếu thảo và để giúp đỡ trong việc trồng trọt hoặc thu hoạch là những động cơ mạnh mẽ đằng sau phần lớn việc đào ngũ đặc hữu vốn gây tai hại cho QĐVNCH. Trong nhiều trường hợp, tuy thế, những thành viên trong gia đình chỉ đơn thuần đi theo những người lính đến các khu căn cứ của họ, mà qua đó dẫn đến việc thành lập vùng được sắp đặt trước của những khu nhà lụp xụp của những người đi theo doanh trại gần khu phức hợp về quân sự. Trong một cuộc chiến lâu dài, tình trạng gần gũi của gia đình đôi khi phục vụ thúc đẩy tinh thần chiến đấu của QĐVNCH. Tuy nhiên, một thiếu hụt kinh niên về vấn đề cung cấp nhà ở đầy đủ, những khó khăn về vệ sinh môi trường, và những cơ hội giáo dục biên lề trong “trại gia binh” là những nguồn lo lắng thường trực cho nhiều quân nhân của QĐVNCH.

p41

Sự gần gũi của gia đình, tuy thế, chứng tỏ việc mất tập trung tinh thần nhất vào những lần của các hoạt động quân sự lớn, khi quân lính của QĐVNCH phải chọn lựa giữa chiến đấu với đơn vị của họ vì điều tốt đẹp của đất nước và đào ngũ để bảo vệ gia đình họ như là một phần của ơn nghĩa và hiếu thảo của họ.

d- Những thực tế của trận chiến :

Vào tháng Sáu năm 1964, tiểu đoàn của anh Đính di chuyển về phía nam vào trong khu vực hoạt động của Sư đoàn 2 thuộc QĐVNCH gần Tam Kỳ ở tỉnh Quảng Nam, mà qua đó chấm dứt giai đoạn lừa bịp về hòa bình mà tiểu đoàn đã từng lấy làm thích. Việt cộng đã chủ động nhiều hơn trong khu vực, và Sư đoàn 2, vốn có trách nhiệm cho khu vực, đã kêu gọi viện trợ, và được tăng cường bởi Tiểu đoàn 3. Ba đại đội súng trường của Tiểu đoàn 3 nhanh chóng trở nên quen thuộc với thói quen di động không ngừng, mà qua đó thông thường bao gồm 10 ngày phải trải qua trên những hoạt động an ninh càn quét các ngôi làng trong khu vực giữa bờ biển và các chân đồi được tiếp theo bởi 10 ngày hoạt động tại trấn đồn chỉ huy tiểu đoàn. Những sứ mệnh thì nghiêm trọng một cách chết người và thường dẫn đến những trận chiến liên miên với các thành phần của một lực lượng Việt cộng cư trú có sức mạnh của đại đội và những lực lượng cộng sản thêm vào vốn xâm nhập vào khu vực từ những vùng cao nguyên gần đó.
Mặc dù việc chiến đấu trong khu vực là thường xuyên, hai trận chiến từ giai đoạn này nổi bật trong tâm trí của anh Đính. Vào đầu tháng Bảy, anh Đính nhận được “cuộc thử lửa lần đầu tiên” của mình khi đơn vị của anh ta bị tấn công trong một cánh đồng trống trải trong khi đang tiến gần một ngôi làng. Những người lính QĐVNCH(pc 01) xông lên phía trước, và quân địch, thực sự hình thành, nhanh chóng rút lui. Anh Đính và những người lính của mình chất vấn những dân làng địa phương và nhận được một cách thất vọng với vài câu trả lời. Sau khi lục lọi ngôi làng, anh Đính giả vờ rời khỏi khu vực nhưng bí mật để lại một đội hình phía sau trong một vị trí phục kích. Như được dự kiến, vào đêm muộn đó Việt cộng trở lại, và những người lính của anh Đính tấn công và đuổi lực lượng địch đi khỏi, giết chết hai. Việc suy nghĩ nhanh chóng và tài khéo léo của anh Đính đã giành được chiến thắng sau cùng trong trận chiến đầu tiên của mình, tuy nhiên anh ta tìm thấy lòng trung thành đáng ngờ của những dân làng là khá rắc rối.
Trong sáu tháng, đơn vị của anh Đính quét khu vực hoạt động của mình, đôi khi không có sự liên lạc, thường khám phá ra những bẫy giăng hoặc nhận lằn đạn của tay súng bắn tỉa, và giao tranh trong trận chiến trên hơn mười lần, thường là chống lại những lực lượng quân địch không lớn hơn một trung đội. Được trang bị với những vũ khí có nguồn gốc xưa hơn từ Hoa Kỳ, bao gồm những súng trường cá nhân ca-bin M-1 (carbine) và súng trường tự động Rau-ning (Browning),

p42

Đại đội 3 và các đơn vị gốc của nó liên tiếp đánh bại Việt cộng. Kết quả là, chống lại kiến thức về lịch sử đang thịnh hành, anh Đính tin tưởng rằng QĐVNCH, bất kể những điểm yếu của nó, đang giữ vững riêng mình trong cuộc xung đột. Ngay cả như thế, trên một mức độ rộng lớn hơn, những đơn vị quân địch càng ngày càng nhiều hơn dường như đang lẻn vào trong khu vực, và sự phát triển đôi chút xác thực là bằng chứng bất chấp những nỗ lực đáng kể của QĐVNCH.

(Súng ca-bin M-1 (carbine) cá nhân của Hoa Kỳ)

(và súng trường tự động Rau-ning (Browning) thời Thế Chiến thứ II)

Vào ngày 18 tháng Mười Hai năm 1964, sự leo thang của cuộc chiến vốn rất quan tâm đến ông McNamara và ông Taylor, trở nên rõ ràng hơn với anh Đính khi một tiểu đoàn của những quân chính quy Việt cộng được tăng cường đã tấn công các vị trí của Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 3 trong một khu vực khoảng 8 km về phía tây Tam Kỳ. Cuộc tấn công xảy đến trong những giờ trước bình minh, trong khi đại đội của anh Đính đang ra ngoài hoạt động. Anh ta thì quá gần đồn trú chỉ huy tiểu đoàn, tuy thế, đến nổi anh ta có thể nghe và thấy cuộc chiến đấu khi công binh Việt cộng xâm nhập chu vi phòng thủ của QĐVNCH(pc 01) và ném những số thuốc nổ trong túi da vào trong những hầm trú chỉ huy khác nhau vốn rải rác căn cứ. Trong suốt cuộc chiến đấu, vị chỉ huy tiểu đoàn chạy trốn, qua việc rời khỏi đơn vị được chỉ huy bởi người phụ tá của nó. Mặc dù vậy, những chiến sĩ của QĐVNCH chiến đấu một cách dũng cảm và cuối cùng đẩy lui những người xâm lược Việt cộng, mất mát 13 người chết và giết chết 15. Những giờ sau đó, được báo trước bởi cuộc tấn công vào đồn trú chỉ huy tiểu đoàn, anh Đính và khoảng 85 người dưới sự chỉ huy của anh ta đang sẵn sàng khi một đại đội Việt cộng xung phong vào trong vị trí phòng thủ của họ. Được huấn luyện tốt và tự tin, những người của anh Đính đẩy lùi cuộc tấn công, mất mát bốn người chết và ba người bị thương. Ngày hôm sau, những người lính của anh Đính phát hiện ra 17 thi thể của quân địch và vô số những đường vết máu nơi mà Việt cộng đã vứt bỏ thêm xác chết và bị thương. Anh Đính đã chiến đấu tận lực và tài giỏi và cũng đạt được chiến thắng lớn đầu tiên trong sự nghiệp của mình, mà qua đó đưa đến kết quả trong việc thăng chức của anh ta lên Trung úy –một dấu hiệu mà qua đó anh ta được đánh dấu cho những việc lớn hơn.
Những tháng hoạt động, tuy thế, để lại anh Đính với ấn tượng rằng cuộc chiến đang được chiến đấu một cách sai lầm về mức độ chiến thuật. Những người lính của anh ta đang chiến thắng những trận chiến, nhưng anh Đính tự hỏi không biết họ có đang thua trận, vì ngay sau khi cuộc chiến kết thúc, những lực lượng QĐVNCH(pc 01) theo thói quen rời khỏi khu vực, mà qua đó cho phép Việt cộng trở lại nhằm bới moi sự báo thù chống lại bất kỳ thường dân nào vốn là những người đã hợp tác với QĐVNCH và lẫn áp đặt lại sự kiểm soát của họ. Anh Đính, cùng với nhiều sĩ quan chiến đấu, trẻ khác của QĐVNCH, ao ước rằng những lực lượng của anh ta có thể ở lại nơi đó lâu hơn để giáo dục người dân lưu tâm đến lý do tại sao họ nên ủng hộ chính phủ miền Nam Việt Nam. Anh ta cũng nhận ra rằng nhiều người trong số những dân làng vốn xem như dưới quyền kiểm soát của chính phủ thực ra thì không

p43

và rằng việc nắm quyền cai trị của Việt cộng ở cơ sở hạ tầng chỉ đơn giản bị tan biến khi những lực lượng QĐVNCH có mặt, chỉ trở lại một khi mối đe dọa vũ trang đã qua. Việt cộng đang bận rộn kết nạp người dân vào đảng, đặc biệt là một số lớn của những người nông dân không có đất, vốn là những người, không có tiền và không có sự an toàn, có nhược điểm nhất đối với lời kêu gọi của họ. Trong khi chính phủ đưa ra rất ít trong cách an ninh thực sự hoặc lợi ích kinh tế cho tầng lớp thấp nhất này của giai cấp nông dân, Việt cộng hứa cho họ đất đai và hy vọng.21
Anh Đính đã đụng vào một trong những điểm yếu chính của cuộc chiến miền Nam Việt Nam, đó là Việt cộng vốn là những người giữ thế thượng phong trong cuộc chiến nhân tâm. Trong khi phải đụng chạm liên tục những trận càn quét tiêu hao, QĐVNCH không thể thay đổi sự kiện rằng, theo những lời của nhà phân tích trước kia là tình báo Cao Văn Thu, “Những người Cộng sản làm một công việc tuyệt vời trong cuộc đào tạo tư tưởng hệ, ngay cả khi thông điệp của đảng là hoàn toàn tuyên truyền. Ở miền Nam Việt Nam, chúng ta không làm gì để chuẩn bị vùng nông thôn cho sự hy sinh cần thiết.”22

e- Nghệ thuật của vai trò lãnh đạ :

Trong suốt thời gian xôn xao này, sau khi phần việc của riêng mình học hỏi những kỹ thuật về chống cuộc nổi dậy ở trường BĐQ,(pc 02) Trần Ngọc Huế nhận được mệnh lệnh đầu tiên của mình như là một phần của Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 1 của Sư đoàn 1 QĐVNCH. Anh ta báo cáo lên vị chỉ huy đại đội, Trung úy Chiêm Úc, tại căn cứ Lửa Tà Bát trong thung lũng nổi tiếng A Shau, khoảng 5 km về hướng đông của biên giới Lào. Vùng đất gồ ghề bao quanh Tà Bát đang nhanh chóng trở thành khu vực tổ chức của Việt cộng khi những lực lượng cộng sản mở rộng những nổ lực chiến tranh của họ. Đến thời điểm này trong cuộc xung đột, những lực lượng Việt cộng và Bắc Việt Nam trong một khu vực Quân đoàn I đã ở lại phần lớn trong những nơi trú ẩn an toàn của họ xuyên qua biên giới Lào hoặc ẩn náu trong địa hình khó khăn của những khu rừng núi. Tuy nhiên, đã nắm giữ chủ động trên khắp đất nước như QĐVNCH(pc 01) vốn là một toàn thể bị nao núng, Việt cộng gia tăng những cố gắng của họ để di chuyển vào trong những khu vực đất thấp màu mỡ và có dân cư đông để thu được sự tiếp tế lương thực trở lại và những củng cố sức mạnh, như được minh chứng bởi những cuộc đấu tranh mà đơn vị của anh Đính đối mặt xa hơn về phía Nam. QĐVNCH, và sau đó những lực lượng Hoa Kỳ cũng thế, hy vọng chận đứng con đường của họ.
Anh Huế nhận chức vụ như là vị chỉ huy trung đội và là phụ tá chỉ huy đại đội và nhanh chóng thiết lập tiêu chuẩn lãnh đạo mà anh ta sẽ chấp hành theo trong phần còn lại của sự nghiệp của mình. Anh Huế yêu cầu kỷ luật nghiêm ngặt từ những chiến sĩ của mình,

p44

qua việc nhận ra rằng họ là những người tiêu biểu của miền Nam Việt Nam và rằng việc vô kỷ luật đó hoặc tính tàn bạo trên một phần của họ chỉ sẽ biến người dân địa phương trở thành những người ủng hộ của quân địch. Bằng cách dẫn đầu bằng tấm gương, anh Huế nương vào những hạ sĩ quan đang phục vụ lâu dài cho việc góp ý và để tâm để học hỏi nhiều về họ và để hình thành các mối quan hệ với những người lính của mình. Thành thực và công bằng một cách thận trọng, anh Huế có được lòng thương mến và tôn trọng của những người của mình, những khái niệm về tầm quan trọng to lớn trong truyền thống quân đội Việt Nam, và tinh thần chiến đấu trong đơn vị tăng vọt.
Qua đó anh Huế và anh Đính nhận được lời khen ngợi đặc biệt là những sĩ quan có đủ trình độ và trung thực vốn là những người hiểu biết và thực hành nghệ thuật của vai trò lãnh đạo vốn là quan trọng và lẫn lo nghĩ. Như là một khối, lớp sĩ quan của QĐVNCH(pc 01) thì dưới tiêu chuẩn được kỳ vọng bởi những người bảo trợ Mỹ của họ. Có hàng ngàn các vị lãnh đạo tận tụy và tuyệt vời có tầm cỡ như anh Đính và anh Huế. Tuy nhiên, cũng đã có hàng ngàn sĩ quan vốn là những người lãnh đạo kém cỏi, bị chính trị hóa quá mức, và ngang nhiên tham nhũng. Vì vậy, tiêu chuẩn về lớp sĩ quan QĐVNCH thì không có ý nghĩa gì là thống nhất và được sắp xếp từ rất tốt đến tồi tệ một cách bi thảm. Có nhiều lý do theo hệ thống cho bản chất chắp vá của quyền chỉ huy QĐVNCH, bao gồm thực tế về một cuộc chiến tranh mà dường như không có kết thúc, những vấn đề về địa vị xã hội, và các nan đề cụ thể trong việc huấn luyện và hoạt động.
Anh Đính và anh Huế không phải là đại diện của tầng lớp sĩ quan QĐVNCH như một toàn thể, nhưng là đại diện về tiềm năng được tìm thấy trong phạm vi tầng lớp đó. Qua đó cả anh Đính và anh Huế là những người lãnh đạo tốt được mang tầm quan trọng to lớn ở cấp độ chiến thuật, vì hiệu quả của đơn vị QĐVNCH được gắn trực tiếp vào nhân cách và những khả năng của sĩ quan chỉ huy của nó.23 Theo nhà sử học Thomas Cantwell:

Hiệu suất chiến đấu của QĐVNCH được liên kết trực tiếp với vai trò lãnh đạo đúng đắn. Nếu một sĩ quan được thúc đẩy, và có kinh nghiệm, những người lính của anh ta sẽ trung thành và thực hiện tốt trên chiến trường theo những hoàn cảnh đang thử thách. Không giống như những đơn vị Hoa Kỳ, nơi mà những đội quân có kinh nghiệm và Hạ sĩ quan có thể bù đắp cho vị chỉ huy yếu kém, QĐVNCH dựa vào một người –vị sĩ quan chịu trách nhiệm. Những người lính Việt Nam không thiếu khả năng chiến đấu hoặc mong muốn giành được chiến thắng. Khi được lãnh đạo tốt, họ thực hiện một cách đáng khen thưởng, theo những lời khai của các cố vấn Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự cho Việt Nam (BChHTrQsVN). Ngược lại, những sĩ quan yếu kém không thể mong đợi những kết quả. Việc dựa vào một người tạo ra những nan đề mới –nếu một vị sĩ quan được nhiều tôn trọng của một tiểu đoàn bị giết, những người lính của anh ta hoảng sợ và đơn vị có thể bị tan rã.24

p45

Anh Đính và anh Huế tượng trưng cho khả năng của một tương lai tươi sáng cho QĐVNCH, trong khi những người anh em kém khả năng của họ đại diện cho một nan đề có hệ thống quan trọng và một điểm yếu có thể gây tử vong của QĐVNCH. Việc khắc phục sự yếu kém này phải trở thành sự ưu tiên chủ yếu của cả miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ trong suốt cuộc xung đột, nhưng một chương trình như thế sẽ lâu dài và gay go, kể từ khi sự yếu kém được bắt rể từ vào và gắn liền với toàn bộ cấu trúc của nhà nước miền Nam Việt Nam. Thay vào đó, cả miền Nam Việt Nam và lẫn Hoa Kỳ chuyển sang những giải pháp quân sự đơn giản hơn cho cuộc chiến phức tạp ở Việt Nam.
Những hoạt động chiến đấu lúc đầu của anh Huế tương tự y như những điều đó của Phạm Văn Dính, những sứ mệnh tìm-kiếm-và-tiêu-diệt được trù tính để gây ra những thương vong và giữ quân địch khỏi cán cân quân bình. Vì tính thiên nhiên được tranh luận sôi nổi của khu vực, trên chuyến tuần tra ngay lần đầu tiên của mình, anh Huế nẩy ra sáng kiến và thay đổi con đường dự đoán trước đây mà trung đội của anh ta đã chọn đi ra ngoài doanh trại trên những cuộc càn quét của nó. Sau khi đánh lạc hướng quân địch, anh Huế sau đó tiến đến một địa điểm mà trí thông minh đã chỉ ra, là khu vực căn cứ Việt cộng. Thông tin tình báo chứng minh là đúng, và cuộc tấn công của anh Huế đến như là một bất ngờ hoàn toàn, qua việc bủa lưới nhiều tù binh và làm gián đoạn kế hoạch tấn công Tà Bát của Việt cộng. Cuộc chiến thắng giành cho anh Huế lời khen ngợi từ những người của mình và lẫn từ những cấp trên của anh ta và đánh dấu anh ta như là một vị chỉ huy chiến đấu, trẻ đang lên.
Đại đội 3 hoạt động trong thung lũng A Shau trong hầu hết năm 1964, qua việc thực hiện liên tục những sứ mệnh tìm-kiếm-và-tiêu-diệt giữa một địa hình gồ ghề. Mặc dù đơn vị của anh ta thường được phát hiện những bãi mìn và bẫy rập và tạo nên cuộc chạm súng lác đác, thoáng qua với những đơn vị của quân địch, ngay cả trong khu vực xa xôi này, việc chiến đấu gần bên và giữa thường dân cư trú hình thành một phần chính của tính chất hoạt năng đang phát triển của cuộc chiến. Có một lần, đụng phải lằn đạn của tay bắn tỉa từ một ngôi làng trên đỉnh đồi, đơn vị của anh Huế phản công. Trong cuộc chiến đấu, nhiều công trình xây dựng trong làng bị đốt cháy thành bình địa, và hai tay súng du kích của quân địch bị vong mạng. Giữa đống đổ nát, anh Huế tìm thấy những đứa con hiện tại bị mồ côi của những người chiến đấu. Anh Huế và đại đội của mình nhận nuôi những đứa trẻ, qua việc đặt tên cậu bé là Trần Anh Dũng và cô bé là Trần Anh Thư. Những người lính chăm sóc cho những đứa trẻ, bằng cách gom góp tiền bạc cho quần áo của chúng và gửi chúng đến trường học. Khi anh Huế rời khỏi Đại đội 3, những đứa trẻ vẫn còn ở lại trong sự chăm sóc của những người của mình. Mặc dù anh ta tiếp tục kiểm tra về phúc lợi của chúng trong nhiều năm, giữa sự hỗn loạn của chiến tranh và tình trạng bị giam cầm của anh Huế cuối cùng đã mất liên lạc với những đứa trẻ được nhận nuôi.

p46

Khi những chiến thắng được chồng chất lên vì quyền chỉ huy và danh tiếng của anh ta tăng lên, anh Huế, giống như anh Đính, bắt đầu nghi ngờ rằng việc tiến hành chiến tranh của QĐVNCH(pc 01) thì không hoàn thiện. Trong khi đơn vị của anh ta càn quét qua những làng mạc trong giai đoạn ngắn của hoạt động bạo lực, Việt cộng ở với và giữa người dân trong khoảng còn lại thời gian, qua việc ăn uống với họ, kết hôn với họ, giành được hoặc bắt buộc sự ủng hộ của họ, và hoàn toàn có thể cai quản họ. Trong khi chiến thuật tìm-kiếm-và-tiêu-diệt dường như có hiệu quả về mặt quân sự, kể từ khi quân địch gánh chịu những con số thiệt mạng cao hơn và thường chạy trốn khỏi trận chiến, anh Huế nhận ra rằng chiến thuật của QĐVNCH đạt được một ít thành công đầy ý nghĩa trong cuộc chiến nhân tâm. Trong quan điểm của anh Huế, liều thuốc sai lầm đang được sử dụng để chữa trị căn bệnh này, và QĐVNCH đang “chiến đấu một cuộc chiến sai lầm.” Thay vì những sứ mệnh vụng về của tìm-kiếm-và-tiêu diệt chống lại các lực lượng du kích vốn muốn tránh né trận chiến, anh Huế tiêu biễu cho nhiều sĩ quan trẻ của QĐVNCH trong niềm tin của mình rằng QĐVNCH nên thực hiện cách sử dụng tốt hơn cho những lực lượng địa phương của nó, các đơn vị địa phương nỗi lên được thành lập gồm những người dân và do đó quen thuộc một cách gần gũi với khu vực, nhằm cung cấp sự an ninh thực sự và đầy ý nghĩa ở nông thôn. Thay vì càn quét qua một khu vực, chỉ để lại nơi đó dễ dàng bị tổn hại đối với sự trả đũa của Việt cộng, những đơn vị như thế sẽ cư ngụ, một nơi cố định vĩnh viễn cho việc bảo vệ dân chúng. Với sự an ninh trong tay của các lực lượng địa phương, QĐVNCH sau đó có thể đánh phá Việt cộng bằng cách sử dụng chiến thuật du kích tàng hình của riêng Việt Cộng (VC).
Mặc dù họ đang trong những tình huống khác nhau ở các cấp khác nhau của quyền chỉ huy, cả anh Đính và anh Huế đã đi đến cùng một kết luận và nhận ra rất sớm về điều mà qua đó cuộc chiến an ninh nông thôn và nhân tâm thì rất quan trọng để đạt được chiến thắng cuối cùng. Qua chiến thuật tìm-kiếm-và-tiêu-diệt, những lực lượng của QĐVNCH(pc 01) tại Quân đoàn I thường đánh bại Việt cộng trong trận chiến, nhưng tình hình liên quan đến sự kiểm soát vùng nông thôn của chính phủ thay đổi rất ít. Như thường xuyên là một trường hợp trong chiến tranh, những vị chỉ huy ở cấp rất thấp nhất tại Việt Nam có thể thấy rõ các nan đề qua bản chất của cuộc chiến đang diễn ra trước những người ở cấp bậc cao hơn nhiều. Như là một kết quả của những kinh nghiệm của họ, nhiều người đồng hương của anh Đính và anh Huế trong QĐVNCH và các cố vấn Mỹ của họ đặt câu hỏi về tầm quan trọng của quân sự vốn được đặt vào việc tìm kiếm và tiêu diệt những đơn vị quân địch, qua việc cung cấp sự an ninh nông thôn. Trung tá Arthur P. Gregory, vốn là người phục vụ như là một cố vấn Mỹ ở đồng bằng sông Cửu Long, công bố sự đánh giá của ông ta về chiến tranh trên một tạp chí có uy tín là Quân Đội và tường trình, “Hầu hết chúng ta chắc chắn rằng nan đề này chỉ là mười lăm phần trăm về quân sự và tám mươi năm phần trăm về chính trị.

p47

Điều đó không chỉ là vấn đề về việc tiêu diệt Việt cộng, nhưng về sự an ninh đi đôi với phúc lợi.”25
Tầm nhìn theo quy lệ mà qua đó mục tiêu chính của chiến tranh là sự phá hủy các lực lượng quân địch, mặc dù, chi phối vấn đề quân sự của QĐVNCH và cả Mỹ. Khái niệm thì, quả thật, quá ăn sâu đến nổi những người lãnh đạo của cả hai lực lượng từ chối lắng nghe những người có sáng kiến đổi mới từ bên dưới vốn là những người tin rằng khái niệm quân sự không chỉ vô hiệu quả mà còn phản tác dụng trong loại mới của cuộc chiến chống cuộc nổi dậy vốn phải đối mặt bởi quân đội của QĐVNCH và Mỹ ở Việt Nam.26 Mặc dù những mối quan tâm đang tăng lên của họ, khi năm 1964 sắp kết thúc, không là anh Đính hoặc cũng không phải anh Huế tin tưởng rằng sự thất bại thì sắp xảy ra hoặc thậm chí có thể có. Tuy nhiên, cả hai người cũng biết một thực tế về tình hình và nhận ra rằng chiến thắng thì không gần và rằng cuộc chiến sẽ lâu dài và gian khổ.

f- Một cuộc chiến của Mỹ :

Sau những sự việc đến và đi của nhiều chính phủ ở Sài Gòn thất bại dựa trên quân sự, sự sụp đổ vào tháng Hai năm 1965 của chính phủ Tướng Nguyễn Khánh báo trước sự trở lại tình trạng ổn định và sự xuất hiện chính trị của nhóm quân đội bất đồng khuôn khổ xã hội được biết đến như là “Những người thời cơ tìm kiếm quyền lực và tiếng tăm” (“Young Turks”). Bè nhóm của những sĩ quan quân đội, được dẫn đầu bởi Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Phó Thống chế Không quân Nguyễn Cao Kỳ, đến giữa tháng Sáu đã dùng quyền lực và ảnh hưởng mở đường của nó vào trong sự thống trị chính trị của miền Nam Việt Nam và, những cuộc đấu tranh quyền lực nội bộ tuy là thế, vẫn nắm giữ quyền lực cho đến khi sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975. Cả anh Đính và anh Huế nhìn sự trở lại của tình trạng ổn định như là một cơ hội để đạt được sự cải cách cần đến cho hệ thống trong QĐVNCH.(pc 01) Tuy nhiên, lòng thành của họ được đặt vào không đúng chỗ một cách đáng buồn, vì, mặc dù những nan đề tồi tệ nhất của thời kỳ bất ổn chính trị đi đến kết thúc, chế độ ông Thiệu / Kỳ làm rất ít để giải quyết những vấn đề về hệ thống đang gây tai hại cho miền Nam Việt Nam và QĐVNCH. Theo nhà sử học Thomas Cantwell:

Chính quyền ông Thiệu-Kỳ thừa hưởng cùng những nan đề của các chính phủ trước và không thể sửa chữa chúng. Nếu chính phủ của họ đi đến thành công, nó sẽ phải xây dựng một căn cứ quyền lực bên ngoài QĐVNCH. Tuy nhiên, chế độ ông Thiệu không bao giờ giành được sự ủng hộ của quần chúng… và dựa của QĐVNCH để giữ nó trong quyền lực. Sau năm 1965, nhân viên quân sự đóng một vai trò lớn trong chính trị quốc gia hơn bao giờ hết.

p48

Tổng thống Thiệu tìm cách để tồn tại khi ông ta bổ nhiệm nhân viên tin cậy vào những vị trí cao cấp trong quân đội và chính phủ bất chấp về khả năng. Ông Diệm bắt đầu chính sách này và những Tổng thống kế tiếp tiếp tục điều đó nhằm bảo vệ cơ sở chính trị của họ.27

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 02_ BĐQ : Biệt động Quân.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s