Phần 01 : Sự xuất hiện của Thời kỳ trong Thời gian Chiến tranh

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p11

Phần 01 : Sự xuất hiện của Thời kỳ trong Thời gian Chiến tranh

Cảm thấy rằng sự lây lan đang hiện ra lờ mờ về Thế Chiến thứ II đến Thái Bình Dương là một khoảnh khắc lịch sử mà ông ta đã từ lâu chờ đợi, vào đầu năm 1941, sau khi cải trang như là một nhà báo Trung Quốc, Hồ Chí Minh thoát ra khỏi cuộc lưu vong ở Trung Quốc vượt qua biên giới đến Việt Nam, chuyến trở lại lần đầu tiên của ông ta đến vùng đất khai sinh của mình trong ba mươi năm. Trong những khu rừng của những ngọn đồi đá vôi lởm chởm gần Pác Bó,(pc 01) ông Hồ tập hợp những người tâm tình gần gũi nhất của ông ta và bảo họ rằng thời gian đã đến để tạo thành một mặt trận rộng lớn của “những người yêu nước của tất cả các lứa tuổi và tất cả các loại, giới nông dân, công nhân và binh lính,” để chống lại cả người Nhật và Pháp, vốn là những người sau đó chiếm đóng quốc gia. Khoảnh khắc mưu tính báo trước sự thành lập của Việt Nam Độc lập Đồng minh, hoặc, đơn giản hơn, Việt Minh, và điềm báo hơn ba thập kỷ về sự hỗn loạn và bạo lực; một tai họa lớn vốn đồng thời là một phần của cuộc chiến tranh thế giới, cuộc chiến tranh thuộc địa, cuộc chiến tranh lạnh, và cuộc chiến tranh dân sự.1
Được sinh vào năm 1937 và năm 1942, theo một cách tương ứng, Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế là những đứa trẻ của cơn bão mà ông Hồ tạo ra và xuất hiện thời kỳ trong một thời đại được xác định bởi chiến tranh và sự không chắc chắn. Được nuôi dưỡng trong khu trung tâm của quốc gia, gần thủ đô cổ xưa thuộc thành phố Huế của Việt Nam, cậu bé Đính và cậu bé Huế thì rất giống nhau. Những đứa trẻ của các gia đình vốn tự hào, hãnh diện về những truyền thống quân sự mà qua đó đẩy lùi ngày tháng đến kỷ nguyên vinh quang đế chế của Việt Nam, cả hai chàng thanh niên đã được thu hút đến đời sống quân ngũ và vào trong cuộc xung đột vốn xác định thế hệ của họ. Những sự kiện dẫn dắt cả hai chàng thanh niên Đính và Huế xuống một đường kênh lịch sử khác từ con đường được chọn lấy bởi ông Hồ và đến sự ủng hộ chủ nghĩa dân tộc không-Cộng-sản và một cuộc chiến trong sự bảo vệ miền Nam Việt Nam. Trong một quốc gia nơi mà những giá trị Nho giáo của gia đình và danh dự thì thuộc về tầm quan trọng bậc nhất, cả hai chàng thanh niên Đính và Huế được thu hút đến sự ủng hộ miền Nam Việt Nam đối với hầu hết người Việt có những lý lẽ, qua việc đi theo những con đường được thắp sáng rực bởi những người cha của họ.

p12

a- Những vấn đề gia đình :

Phạm Văn Dính được sinh ra ở làng Phú Cam, tỉnh Thừa Thiên, gần thành phố Huế, ở miền Trung Việt Nam, vào ngày 02 tháng Hai năm 1937. 2Người cha của chàng thanh niên Đính, Phạm Văn Vĩnh, và mẹ của anh ta, Công Tôn Nữ Thị Nhan, là người theo Công giáo, một tôn giáo mà những tín đồ của nó thông thường chống đối một cách gay gắt những người cộng sản. Trong một quốc gia nơi mà sự tôn kính đối với những tổ tiên của mình và những ràng buộc với đất đai là tối quan trọng, khi quốc gia bị chia ra bởi Hiệp định Genève, vào năm 1954, hàng chục ngàn người Công giáo, trong một động thái bất thường, chạy trốn khỏi quê hương của họ ở miền Bắc để được tự do khỏi quyền cai trị của cộng sản. Những người Công giáo nầy và những anh em miền Nam của họ hình thành cốt lõi của ủng hộ cho miền Nam Việt Nam và cho một thay thế đối với hình thức chủ nghĩa dân tộc thuộc cộng sản.
Ở Việt Nam, những phong tục truyền thống về ơn nghĩa và lòng hiếu thảo đưa ra sự ủng hộ nển tảng thực tế xã hội và là nơi cất giữ gia đình như là đơn vị trung tâm của cuộc sống. Nhà sử học Robert Brigham giải thích:

Ý tưởng về ơn nghĩa được thấm nhuần trong dân Việt vào độ tuổi trẻ. Những đửa con đã được dạy rằng họ nợ cha mẹ chúng một món nợ đạo đức của tầm vóc bao la. Món nợ không bao giờ có thể được trả đầy đủ, nhưng những đứa con được kỳ vọng sẽ cố gắng để làm hài lòng cha mẹ của chúng một cách liên tục và tuân theo họ một cách trung thành. Sự sung túc lớn nhất của một đứa trẻ sẽ đến từ kiến thức mà qua đó hắn đã làm giảm gánh nặng công việc trên cha mẹ hắn. Món nợ không làm giảm đi theo tuổi tác. Khi cha mẹ trở nên lớn tuổi hơn, trách nhiệm cho việc chăm sóc cho họ đặt nặng nề hơn trên đôi vai của những đứa con. Một người vốn chọn cách bỏ qua món nợ đạo đức và sống theo những nguyện vọng và mong muốn của riêng anh ta hoặc của cô ta, sẽ bị loại trừ trong một xã hội nơi mà địa vị xã hội trong phạm vi gia đình quyết định mọi thứ, ngay cả cái gì mà một người gọi chính anh ta hoặc chính cô ta và những người khác. Việc trả lại nợ cũng được mở rộng đến những tổ tiên và các thế hệ sắp đến. Để bày tỏ lòng biết ơn cho công đức được tích lũy và địa vị xã hội mà những tổ tiên của anh ta hoặc cô ta đã từng cung cấp, mỗi người nợ những thế hệ tiếp theo sự cố gắng nhất của anh ta hoặc cô ta không làm giảm vị thế của gia đình trong phạm vi làng mạc.3

Gia đình của ông Vĩnh có những liên kết họ hàng gần gũi mà qua đó thiên về họ đến sự ủng hộ nhà nước miền Nam Việt Nam và chủ nghĩa dân tộc Việt Nam không-cộng-sản. Ông Vĩnh là người anh em họ của Ngô Đình Diệm, vị Tổng thống đầu tiên của miền Nam Việt Nam. Bà Nhan là người họ hàng xa của vị Hoàng đế cuối cùng của Việt Nam

p13

dưới thời Pháp thuộc và là người đứng đầu nhà nước miền Nam Việt Nam đầu tiên, Bảo Đại, và như thế là một thành viên của gia đình hoàng gia. Mạng lưới phức tạp của các mối quan hệ hầu như bảo đảm rằng Phạm Văn Đính sẽ là một người ủng hộ trung thành của miền Nam Việt Nam. Mặc dù những ràng buộc về họ hàng tồn tại, họ không có được một gia đình phần nhiều trong cách đối xử ưu đãi. Ông Vĩnh là một nhạc sĩ và cuối cùng trở thành một ông quản (i.e. cấp chuẩn úy) trong Quân đội Quốc gia Việt Nam (QĐQGVN) của Bảo Đại được hỗ trợ bởi Pháp; ông ta thậm chí trải qua một năm sinh sống ở Pháp. Sau đó, ông ta trỗi lên chỉ huy ban nhạc của Sư đoàn 1 của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Ông Vĩnh là sĩ quan chuẩn úy vào lúc khởi đầu của chức vụ Tổng thống của Ngô Đình Diệm và vẫn còn là một sĩ quan chuẩn úy vào thời gian của vụ ám sát của ông Diệm.
Gia đình của ông Vĩnh là một tầng lớp trung lưu trung thành và thành thị trong một quốc gia của giới nông dân, có khuynh hướng về lòng trung thành xa hơn nhằm ủng hộ chế độ ông Diệm. Những ràng buộc tầng lớp cũng đánh dấu gia đình ông Vĩnh, và những người giống như thế, vì tầm quan trọng và ảnh hưởng dưới quyền cai trị của ông Diệm; tầng lớp sĩ quan của Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH), giống như tầng lớp buôn bán, là tầng lớp trung lưu và thành thị tràn ngập. Trình độ giáo dục và lòng trung thành của tầng lớp như là một tổng thể tạo nên bản chất người sĩ quan tốt. Tuy nhiên, tầng lớp thì hạn hẹp theo thống kê nhân sự và tách biệt theo một cách lý luận từ những mong muốn, nhu cầu và mong ước của đại đa số công dân Việt Nam.
Phạm Văn Đính do đó tìm được sự hỗ trợ của mình cho miền Nam Việt Nam hoàn toàn tự nhiên như là một thành viên của một gia đình miền nam, Công giáo, tầng lớp trung lưu, đô thị. Ông ta, quả thật vậy, chính xác là cái gì mà những người ngoài mong đợi tìm thấy khi nghiên cứu thân thế của một sĩ quan miền Nam Việt Nam. Ngay cả trong trường hợp về gia đình ông ta, tuy thế, những thứ không đơn giản trong sự hỗn loạn vốn là một Việt Nam sau Thế Chiến thứ II. Vào năm 1945, người anh của ông Vĩnh đã quyết định tham gia và chiến đấu với Việt Minh chống chủ nghĩa thực dân Pháp, và ông ta vẫn là một người ủng hộ Việt Minh cho đến khi cái chết của ông ta ngay sau khi cuộc chiến thắng của cộng sản tại Điện Biên Phủ vào năm 1954. Cuộc xung đột ở Việt Nam thì phức tạp hơn nhiều so với hầu hết những lịch sử Mỹ về sự thừa nhận chiến tranh. Đó là, bằng nhiều cách, một cuộc nội chiến thực sự, qua việc đưa anh em ra đọ sức với anh em và việc chia rẽ những gia đình –thậm chí cả gia đình mà trong đó tất cả ràng buộc dường như dẫn đến sự ủng hộ miền Nam Việt Nam, như là trong gia đình của Phạm Văn Đính.
Trần Ngọc Huế được sinh ra ở thành phố Huế vào ngày 04 tháng Giêng năm 1942. Gia tộc họ Trần từ lâu đã theo những Hoàng đế nhà Nguyễn của Việt Nam và đã từng di chuyển về phía nam với thủy triều mở rộng của người Việt Nam hàng trăm năm trước khi sự sinh ra của kinh đô Huế. Gia đình có một truyền thống quân sự được truyền thuyết trong việc phục vụ nhà nước Việt Nam.

p14

Được khôn lớn trên những câu chuyện về lòng dũng cảm quân sự của gia đình, chàng thanh niên Huế mong mỏi thi đua với những tổ tiên anh hùng của mình, bao gồm ông nội tổ Tướng Nguyễn Tri Phương, một anh hùng Việt Nam được kể lại theo truyền thuyết vốn là người chiến đấu dũng cảm chống lại chủ nghĩa thực dân đang xâm lấn và là người tự kết liễu vào năm 1873 khi Hà Nội cuối cùng rơi vào quyền cai trị của Pháp. Với sự liên hệ đến sức mạnh quân sự gia đình của một người tiêu biểu tốt nhất gần đây, là chú của Trần Ngọc Huế, Trần Hữu Diệu, là một sĩ quan quân sự nổi bật trong chế độ Bảo Đại trước năm 1945, trong khi nhiều người trong số anh em họ của chàng thanh niên Huế phục vụ trong QĐQGVN(pc 02) và sau đó QĐVNCH.(pc 03) Quan trọng nhất, tuy thế, cha của anh Huế, Trần Hữu Chương, vẫn giữ đúng đối với truyền thống gia đình và phục vụ như là một sĩ quan cấp dưới trong QĐQGVN. Những sự kiện trọng yếu xé toạc Việt Nam ra, ông Chương đứng lên chống lại chủ nghĩa thực dân và chống lại chủ nghĩa cộng sản. Từ chối cả Việt Minh và Pháp, ông Chương tìm kiếm một con đường khác hướng tới độc lập thực sự cho quê hương mình, một hình thức không-cộng-sản của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam, và sau cùng thề trung thành với quốc gia mới của miền Nam Việt Nam. Ông Chương hy vọng cho việc tái thống nhất đất nước mình, nhưng dưới chính quyền không-cộng-sản –một niềm hy vọng vốn sớm trở thành một động lực thúc đẩy trong cuộc sống của chàng thanh niên Trần Ngọc Huế.
Mẹ của anh Huế, Nguyễn Thị Nghĩa, là một người Công giáo, trong khi cha của anh ta, ông Chương, là một Phật tử. Mặc dù bà Nghĩa giữ đúng đối với tôn giáo của riêng mình, những đứa con của họ Trần được dạy dỗ theo tín đồ Phật giáo, vốn là một tôn giáo của đại đa số nhân dân Việt Nam. Trong khi nhiều Phật tử sợ quyền thống trị bởi một chế độ cộng sản vô thần thừa nhận một cách công khai, cộng đồng tín đồ Phật giáo nói chung không cảm thấy cùng một mức độ đàn áp và việc tạo nên kết quả đoàn kết chống cộng mà qua đó biến thành đặc trưng cho nhóm thiểu số Công giáo ở Việt Nam. Trong trường hợp của gia đình họ Trần, sự gắn bó với Phật giáo phù hợp hoàn hảo với sự ủng hộ cho chủ nghĩa dân tộc không-cộng-sản. Tuy nhiên, tình thế, đặc biệt là trong phạm vi cấp bậc bên trên của cấu trúc sức mạnh Phật giáo, thì cực kỳ phức tạp.
Phật giáo Việt Nam thiếu sự tổ chức liên kết, đối với hầu hết các Phật tử Việt Nam đang thực hành một sự pha trộn chiết trung của những tôn giáo Á Châu dưới sự tổ chức lỏng lẻo của những người thành tín Phật tử. Ngay cả ở mức độ rất cao nhất, Phật giáo ở Việt Nam bị phân mảnh, bị kéo vào những chiều hướng khác nhau bởi những giáo phái khác nhau và những nhà lãnh đạo có sức lôi cuốn khác nhau. Nói chung, phần lớn các nhà lãnh đạo Phật giáo không chỉ đứng lên chống lại quyền cai trị của cộng sản mà đôi khi còn chữi bới chống lại những khuynh hướng độc tài của Ngô Đình Diệm, với những kết quả thường đẫm máu. Một số trong những lãnh đạo Phật giáo có khả năng về chính trị hơn thậm chí nhìn thấy phong trào của họ như là một vị trí trung gian hợp lý giữa những thái cực được tiêu biểu bởi Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm.

p15

Đối với một số người, sau đó, Phật giáo đại diện cho một niềm hy vọng trung lập để chấm dứt chiến tranh trong khi vẫn đạt được những mục tiêu của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam, trong khi, đối với những người khác, những người vốn được công nhận như là những nhà lãnh đạo Phật giáo trung lập, thì có khuynh hướng dân tộc nhiều hơn một ít so với những bù nhìn cộng sản.4
Mặc dù gia đình của Phạm Văn Đính không giàu có (nhà của anh ta thậm chí không có điện cho đến năm 1952), cha mẹ của anh ta làm việc vất vả và hy sinh để đưa chín đứa con của mình qua những trường tư thục Công giáo. Chàng thanh niên Đính đánh giá cao và tôn vinh sự làm việc cực khổ được bỏ vào bởi cha mình, nhưng mẹ anh ta là một ảnh hưởng chính trên cuộc sống anh ta. Trong suốt cuộc đời của mình, anh Đính đã hoàn toàn ý thức được về sự kiện là mẹ anh ta thích thú trong sự thành công của mình, và sự kiện là thôi thúc anh ta từ giờ trở đi tìm cho bà ta danh dự và uy tín xa hơn nữa.
Ở độ tuổi lên tám, cậu bé Đính được ghi danh vào trường Pellerin có uy tín ở thành phố Huế. Ban nhân viên của trường Công Giáo được thành lập, trong phần chính, gồm các linh mục và những giáo viên khác được nhận vào theo cách tôn giáo vốn là những người thường giảng dạy các lớp học bằng tiếng Pháp và theo một khuôn mẫu giáo dục cổ điển của Pháp. cậu bé Đính ở lại trong trường hơn kém mười ba năm, sự hiếm có trong một đất nước nơi mà một ít người có thể chu cấp ngay cả một thời gian ngắn của nền giáo dục tư thục mắc tiền. Mặc dù chàng thiếu niên Đính thì kém sung túc hơn so với nhiều người trong số những bạn cùng lớp của mình, anh ta nhận ra thậm chí sau nầy rằng sự tiếp xúc của anh ta đến với một nền giáo dục tốt như thế đặt anh ta ở tầng trên hơn của xã hội Việt Nam.5

Đó là một thời gian bồng bột để là một cậu học sinh trẻ, khi những sự kiện lớn làm rung chuyển những nền tảng thực sự của Việt Nam hiện đại. Trong khi anh ta còn đi học, Việt Minh lên nắm quyền, người Pháp trở lại và cuối cùng bị đánh bại, Hiệp định Genève chia cắt Việt Nam, và miền Nam Việt Nam trỗi lên trong sự đối lập đối với nhà nước cộng sản Bắc Việt Nam. Đồng thời trong lúc đó, anh Đính theo dõi những sự kiện từ nơi an toàn của trường mình, khi những người anh của anh ta làm những quyết định quan trọng cho cuộc đời của họ. Những giáo viên của anh Đính là những người Việt Công giáo và như thế phần lớn đứng lên chống lại chủ nghĩa thực dân Pháp và cả chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên, một số ít giáo viên của anh ta là những người ủng hộ theo phong cách cũ cho quyền cai trị Pháp, trong khi những người khác là những người ủng hộ Việt Minh được công khai thừa nhận.
Mặc dù anh ta nhận biết trong những trường hợp ủng hộ cả quyền cai trị của Pháp và cộng sản khắp Việt Nam, anh Đính bị ảnh hưởng nhiều bởi thân thế gia đình và những ý thích riêng của mình, mà qua đó dẫn dắt anh ta ứng dụng vào quan điểm đa số của các giáo viên và học sinh tại trường Pellerin. Theo sau là, anh Đính phát triển một trình độ cá nhân về sự ủng hộ cho chủ nghĩa dân tộc không-cộng sản ở Việt Nam và cuối cùng ủng hộ chế độ Ngô Đình Diem.

p16

Trong trường hợp của anh ta, đó là một sự việc xảy ra tự nhiên vốn phải xảy ra và đòi hỏi chút ít suy nghĩ.
Trong ngôi trường ưu tú, những giáo viên thúc đẩy học sinh họ vượt trội; đạt đến những đỉnh cao xuất sắc là nhiệm vụ của họ đối với gia đình họ. Đó cũng là nhiệm vụ của họ với nhà nước. Phân bộ nhà trường, cho dù là Việt Minh, thân Pháp, hoặc những nhà dân tộc miền Nam, cũng dạy những học sinh rằng chúng là những nhà lãnh đạo tự nhiên của xã hội Việt Nam. Chúng sẽ là những vị chỉ huy quân sự, nhà lãnh đạo chính trị, và những người có quyền thế về kinh doanh trong tương lai, mang trách nhiệm nâng đỡ Việt Nam khỏi giai đoạn hỗn loạn và bất hoà hiện tại.
Khi thời gian của anh ta ở nhà trường gần đến lúc kết thúc của nó, anh Đính, vốn là người luôn luôn xuất sắc trong những việc học của mình, biết vị trí của mình trong xã hội. Mặc dù có nhiều con đường thăng tiến mở ra cho anh ta, anh Đính quyết chọn tìm kiếm sự nghiệp trong quân đội. Anh ta có thể vừa hoàn thành việc phục vụ quốc gia được yêu cầu của mình và dành phần nhiều thời gian cho cuộc chiến sắp đến phía sau bàn làm việc. Tuy nhiên, anh Đính được đưa dẩn –vì bản thân, gia đình, và dân tộc mình. Do đó, anh ta quyết chọn bước vào trường Sĩ quan Dự bị Thủ Đức bên ngoài Sài Gòn và theo đuổi sự nghiệp như là một sĩ quan chiến đấu trong bộ binh. Một lần nữa, điều đó dường như chỉ là điều tự nhiên và thích hợp để làm. Khi anh ta bắt đầu cuộc hành trình trong quân sự của mình, chính là bằng những kỳ vọng cao xa. Anh ta không hy vọng hoặc ước mơ, anh ta biết rằng anh ta sẽ trở thành một vị tướng.
Gia đình của Trần Ngọc Huế vẫn còn ở thành phố Huế cho đến khi giai đoạn hỗn loạn vào lúc kết thúc của Thế Chiến thứ II. Sự chiếm giữ thành phố bằng những đội quân Nhật, và sự khủng hoảng tiếp theo trong đất nước, buộc dòng họ Trần trốn khỏi ngôi làng Kế Môn tổ tiên của họ, 20 km về phía đông bắc. Hầu hết gia đình của cậu bé Huế vẫn còn trong Kế Môn, một khu vực bị thống trị bởi Việt Minh, trong thập kỷ tới. Ông Chương, tuy nhiên, gia nhập lại đơn vị của mình trong QĐQGVN và tham gia trong việc chiến đấu chống lại Việt Minh. Tình hình thì khó khăn cho cậu bé Huế, đang sống trong lãnh thổ “kẻ thù” và dưới sự theo dõi kỹ lưỡng liên tục trong khi cha của cậu ta đang chiến đấu xa xôi trong cuộc xung đột bất tận.
Trong suốt giai đoạn này của cuộc chiến, hai sự kiện cung cấp cho Trần Ngọc Huế là động lực rất mạnh mẽ cho sự nghiệp tương lai của anh ta trong quân đội Nam Việt Nam. Kế Môn là một cái gì đó của khu vực chiến trường và phải gánh chịu khốn khổ dưới những bàn tay của cả hai bên trong cuộc xung đột. Vào năm 1950, trong khi chỉ có tám tuổi, cậu bé Huế chứng kiến trận phục kích của Việt Minh vào toán tuần tra của chính phủ Việt Nam –những người chiến binh giống như cha cậu bé. Sau trận chiến hỏa lực ngắn ngủi, những người lính của chính phủ nhận ra rằng họ ít người hơn và ít tay súng hơn và chọn cách đầu hàng.

p17

Những người chiến đấu Việt Minh trút bỏ áo quần những tù binh trong một hành động làm nhục theo nghi thức và trói tay họ sau lưng. Cậu bé Huế sau đó theo dõi trong kinh dị khi Việt Minh chôn sống những người lính của chính phủ, không muốn thậm chí lãng phí những viên đạn để giết họ. Đó là một hành động dã man mà cậu bé Huế không bao giờ quên.
Một hành động như thế không thể đưa ra trừng phạt, và các lực lượng Pháp chẳng bao lâu đến Kế Môn để thực thi tư pháp. Như một trường hợp thường xảy ra, Việt Minh đã bỏ chạy, nhưng không làm thay đổi gì. Một hình ảnh làm gương phải được thực hiện. Phần lớn dân cư địa phương bị bố ráp và dồn vào một vài tòa nhà, trong khi binh sĩ Pháp đặt nhiều nhà trong làng theo ngọn đuốc. Nhà cậu bé Huế không bị đốt cháy, nhưng những người lính xông vào trong tòa nhà và gom tụ gia đình vào một căn phòng duy nhất. Sau đó, hai binh sĩ Pháp buộc một trong những người anh em họ còn trẻ của cậu bé Huế đi khỏi và thay phiên nhau cưỡng hiếp cô ta. Vì vậy, cậu bé Huế cuối cùng thù ghét những kẻ chiếm đóng Pháp cũng như Việt Minh. Không phải những người cộng sản hoặc cũng không phải người Pháp đã mang lại bất cứ điều gì ngoài cái chết và sự hủy diệt Kế Môn. Cả hai đều là ác độc và buộc phải chiến đấu. Chỉ ủng hộ cho các lực lượng chính phủ Việt Nam, được tiêu biểu bởi cha của cậu bé, dường như là hợp lý. Cả hai chàng thanh niên Đính và Huế đi đến sự ủng hộ của họ cho miền Nam Việt Nam một cách tự nhiên, nhưng Trần Ngọc Huế cũng đã được thúc đẩy bởi một lực mạnh mẽ và ít biến đổi về việc trả thù khi anh ta dâng hiến trọn cuộc đời của mình cho chủ nghĩa dân tộc Việt Nam không-cộng-sản và chiến đấu cho quốc gia vốn trở thành miền Nam Việt Nam.
Chẳng bao lâu chàng thiếu niên Huế bỏ đi đến một trường nội trú có một không hai xa về phía Nam ở Vũng Tàu. Được dựa trên một mô hình của Pháp, Trường Thiếu Sinh Quân là một trường học dành riêng cho một nền giáo dục của những đứa con của những sĩ quan QĐVNCH,(pc 03) và những người đàn ông, là một trường học có chủ ý đúc khuôn những nhà lãnh đạo quân sự trong tương lai. Cậu Huế nhận được không chỉ là một nền giáo dục chung chung được dựa trên mô hình cổ điển của Pháp mà còn dìu dắt về quân sự được phục vụ bằng những liều thuốc cực mạnh của chủ nghĩa yêu nước miền Nam Việt Nam. Cậu Huế biết rằng cậu ta là một nhà lãnh đạo tự nhiên của người dân mình và rằng QĐVNCH là chiếc xe mà qua đó Việt Nam sẽ đạt được hòa bình và tái thống nhất đất nước. Quan trọng nhất là, tuy thế, cậu Huế học hỏi liên quan nhiều về nghĩa vụ thiêng liêng của mình. Cậu ta và lực lượng nòng cốt trong tương lai của cậu ta thuộc những nhà lãnh đạo Việt Nam thì “chịu trách nhiệm cho hòa bình và sự thịnh vượng cho người dân của mình.” Rất giống nhiều như cậu Đính, cậu Huế học được vị trí của mình trong xã hội qua trường học, trong khi cũng học tập về nhiệm vụ của mình để lãnh đạo người dân mình trong chiến tranh. Thêm vào những bài học mới của mình là lòng căm thù những người cộng sản, cậu ta nhận thấy rằng động thái tiếp theo của mình là tự nhiên. Anh Huế theo học tại Học viện Quân sự quốc gia Việt Nam đầy uy tín ở Đà Lạt. Mẹ của anh Huế lúc đầu bối rối bởi quyết định của anh ta và lo sợ cho sinh mạng của con trai mình. Tuy nhiên, bà ta cũng đã từng bị ảnh hưởng bởi điều gì mà bà ta biết về Việt Minh

p18

và đặt lòng yêu nước trước gia đình và thôi thúc con trai mình hướng về phía trước bằng quyết định của anh ta. Với sự thúc đẩy và quyết định không lay chuyển được của mình, kết hợp với những kỹ năng học tập phi thường của mình, Trần Ngọc Huế không hy vọng hay mơ ước –anh ta, cũng, biết rằng anh ta sẽ trở thành một vị tướng.
Nhận thức phổ biến của Tây phương rằng Hồ Chí Minh và những đi theo của ông ta chỉ là những người thừa kế duy nhất của tấm áo choàng chủ nghĩa dân tộc Việt Nam. Kết quả là, chính niềm tin chung mà qua đó có rất ít, vì những lý do khá đặc biệt và hẹp hòi, chọn lựa đi theo một chế độ tham nhũng và độc tài của miền Nam Việt Nam, mà đó là, sau cùng, chỉ là một sự sáng tạo của Mỹ. Điều đó theo sau, trong phiên bản này, rằng các nhà lãnh đạo của chế độ miền Nam Việt Nam, và quân đội của mình, thì trong phần chính là những người Công giáo vốn là những người có lý do tôn giáo để giải quyết với những người cộng sản hoặc là những người thành thị tham lam vốn là những người chỉ tìm kiếm hầu được lợi về kinh tế từ hiệp hội của họ với chế độ. Một ít người đàn ông nầy không phải là những nhà lãnh đạo trong ý nghĩa thực sự của thuật ngữ. Họ thì ít kỷ và tham lam, không phải anh hùng. Họ dẫn dắt QĐVNCH(pc 03) một cách tồi bại và ban cho bản thân những người lính nhiều hơn một ít so với cái chết vô nghĩa.
Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế đã và đang là ngoại lệ một cách rõ ràng. Họ là những người giỏi nhất trong số những người giỏi nhất –và trở thành những ngôi sao trẻ sáng rực của QĐVNCH.

p19

Tuy nhiên, chỉ cần một cái nhìn lướt qua tại nền tảng và giáo dục của họ cho thấy rằng tình hình ở Việt Nam và trong QĐVNCH thì phức tạp nhiều hơn so với hầu hết những người Tây phương muốn tin tưởng và bất chấp chuyện thần thoại phổ biến vốn tạo nên đặc điểm cuộc chiến bị thua của Mỹ như người ta theo cách bảo vệ một đồng minh tự mãn và vô vọng. Những cội rễ của chủ nghĩa dân tộc không-cộng-sản ở Việt Nam đâm sâu nhiều hơn so với những gốc rễ của Việt Minh. Mặc dù những người cộng sản thì vượt xa tổ chức quốc gia được cấu thành tốt nhất sau Thế Chiến tranh thứ II, họ không mua vét thị trường lòng yêu dân Việt. Ở đó tồn tại một nguồn ủng hộ cho một giải pháp không-cộng-sản đối với nền độc lập Việt Nam.
Anh Đính và anh Huế đó ở đô thị, tương đối giàu có, và cũng được kết nối suôn sẻ chắc chắn tách biệt họ riêng ra ở Việt Nam và dẫn cả hai họ đến ủng hộ chế độ miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, những động lực của họ đa dạng và phức tạp và trực tiếp gắn liền với lịch sử và văn hóa Việt Nam, đặc biệt là đối với những khái niệm rất quan trọng về gia đình và nhiệm vụ. Những người đàn ông này chắc chắn không phải những nông dân khố rách áo ôm; họ được giáo dục tốt và tao nhã. Tuy nhiên, nền tảng của họ không tạo ra một khoảng cách không thể kết nối giữa họ và những người đàn ông mà họ dự định dẫn vào trong trận chiến. Như trong suốt lịch sử Việt Nam, những người lãnh đạo trong một cuộc chiến sắp đến là từ giới ưu tú của xã hội, và những người lính là từ giới nông dân. Anh Đính và anh Huế đứng vị trí như là những người kế thừa hàng ngàn năm truyền thống quân sự Việt Nam. Họ được giáo dục trở thành những người lãnh đạo đáng tự hào, nếu mang tích chất gia trưởng, của người đàn ông khác. Họ được giáo dục trở thành những nhà lãnh đạo của một quốc gia to lớn.

b- Sự ra đời của một quân đội :

Khi cả hai anh Đính và anh Huế bắt đầu việc huấn luyện của họ, họ chuẩn bị bước vào một lực lượng quân sự của nhóm cùng thời chỉ mới gần đây và đáng ngờ. QĐVNCH(pc 03) được định hình bởi quá khứ thuộc địa của nó và gần đây được định hình lại trong hình ảnh của những người bảo trợ mới là Mỹ của nó. Như vậy, QĐVNCH cố gắng tấn công thế quân bình bất ổn giữa những thứ cùng một lúc cả dân Việt Nam và Tây phương và phơi bày những điểm mạnh và điểm yếu vốn có trong cả hai hệ thống. Trước khi xem xét những sự nghiệp quân sự của anh Đính và anh Huế, đó là điều cần thiết để phác thảo một sự tổ chức phức tạp mà họ lấy làm mục đích để tham gia –Quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
Những cố gắng điển hình của châu Âu về việc thuộc địa hóa, trong thế kỷ 19 người Pháp đã từng tạo ra các đơn vị Việt Nam bản địa, chẳng hạn như

p20

Những Cây súng trường An Nam (Annamese Rifles) và Những người mang súng trường Bắc bộ (Fusiliers Bắc Bộ), nhằm hỗ trợ trong cố gắng xâm chiếm thuộc địa hóa Việt Nam và lẫn để ban cho nước thuộc địa một cảm giác của sự tham gia và kiểm soát trong phạm vi hệ thống của Pháp.6 Sau Thế Chiến thứ II và sự khởi đầu của cuộc đấu tranh với Việt Minh, người Pháp chọn cách thay đổi mối liên hệ của họ với Việt Nam và các lực lượng quân sự của nó. Mệt mỏi vì chiến tranh sau những năm chiến đấu, người Pháp đã từng nhìn thấy nhu cầu thừa nhận Việt Nam một mức độ độc lập cao hơn, một phần để phá vỡ sự ủng hộ cho Việt Minh. Như là một kết quả sau những đợt tranh cãi lâu dài, người Pháp đi đến những điều khoản với Hoàng Đế Bảo Đại là thừa nhận Việt Nam một số lượng đáng ngạc nhiên về quyền kiểm soát trên vận mệnh của riêng mình. Như là một phần của sự thỏa thuận một Quân đội Quốc gia Việt Nam được huấn luyện bởi Pháp được sinh ra, vào năm 1950.
Trong khi đó một lệnh gọi nhập ngũ cho quân đội mới, tiền thân của QĐVNCH, cuối cùng được lập nên, những lực lượng cho QĐQGVN(pc 02) ban đầu được rút ra từ các đơn vị thuộc địa bản địa. Động thái này một lần nữa đưa ra một câu hỏi quan trọng về động cơ thúc đẩy. Rất ít được viết về QĐVNCH(pc 03) và thậm chí còn ít hơn về QĐQGVN tồn tại ngắn ngủi, nhưng sự học uyên bác vốn thực sự tồn tại cho thấy rằng cả hai bị tiêu diệt từ khởi đầu. Quan điểm truyền thống cho rằng di sản thuộc địa của QĐQGVN và sự kiện qua đó nó phục vụ vị Hoàng đế mà nhiều người đánh giá là một bù nhìn của Pháp, có nghĩa là QĐQGVN và hậu thân sau nầy, bằng cách mở rộng, QĐVNCH luôn luôn thiếu sự ủng hộ của công chúng. Người Việt Nam, với một truyền thống lâu đời về việc đối kháng những cuộc xâm lược trên chủ quyền của họ, nhìn thấy QĐQGVN và QĐVNCH như là đang phục vụ để duy trì quyền kiểm soát hay ảnh hưởng ngoại bang ở Việt Nam. Như thế, QĐQGVN thừa kế tính chất không được lòng quần chúng của các lực lượng bản địa của Việt Nam, và QĐVNCH thừa hưởng tính chất đó của QĐQGVN. 7

Tuy nhiên, ngay cả đối với người Pháp chỉ xê dịch dần về hướng chấp nhận ý tưởng độc lập của Việt Nam, hàng triệu người Việt Nam đã quyết chọn ủng hộ chế độ Bảo Đại còn non trẻ hơn là điều lo sợ ám ảnh về niềm vui chiến thắng vĩnh viễn của lực lượng cộng sản ở Việt Nam. Cho dù được thúc đẩy bằng tôn giáo, chống chủ nghĩa cộng sản, tự bảo tồn, hoặc tham lam, nhiều người chọn lựa Bảo Đại như là một vùng đất trung gian giữa sự ủng hộ của người Pháp và sự ủng hộ của Việt Minh. Những người ủng hộ nầy tin rằng đó là yêu nước hơn, thậm chí hơn dân Việt, đi theo vị hoàng đế của riêng mình và hình thức truyền thống dân tộc của ông ta hơn là ủng hộ Hồ Chí Minh và khái niệm ngoại lai và bất an theo Âu châu của học thuyết Marx.8
Mặc dù chắc chắn là ở thế bất lợi vì đang được xem xét một số điều về một lực lượng nước ngoài, QĐQGVN và sau nầy là QĐVNCH không được hoàn thiện bởi sự kết nối một cách tai hại.

p21

Thật vậy, QĐQGVN(pc 02) và QĐVNCH(pc 03) có thể có tiềm năng lôi cuốn một nguồn suối của sự ủng hộ tiềm tàng của quần chúng vốn đã từng tồn tại ở Việt Nam trong những thế hệ. Điều đó sẽ rơi vào chính phủ miền Nam Việt Nam và những người bảo trợ Mỹ để hình thành một hệ thống chính trị và quân sự xứng đáng với sự hỗ trợ đó, qua đó sẽ suy ra từ một tinh thần thượng võ giống nhau mà nó tạo cho Việt Minh thành những đối thủ chịu đựng gian khổ đến thế và gắn thêm vào chủ nghĩa dân tộc vốn đã từng cho phép Việt Nam đấu tranh trong cả một thiên niên chống lại Trung Quốc.
Những vấn đề hệ thống và thực dụng gây tai hại cho QĐQGVN từ sự ngăn chận của nó. Dưới hệ thống bản địa, người Pháp, một phần như là một phương pháp kiểm soát tiếp tục về mặt quân sự, không bao giờ thúc đẩy nhân viên Việt Nam vượt xa hơn cấp bậc của một sĩ quan chức nhỏ. Như thế, có một thiếu hụt kinh niên trong QĐQGVN về những sĩ quan Việt Nam cho những vị trí chỉ huy hoặc tham mưu trên cấp độ đại đội.9 Sau khi QĐQGVN chuyển đổi thành QĐVNCH với sự sáng tạo của miền Nam Việt Nam, lực lượng tăng trưởng theo cấp số nhân, và tình trạng thiếu hụt sĩ quan trở nên gay gắt hơn. Mặc dù khiến cho những vấn đề tồi tệ hơn, hệ thống của Pháp về việc đào tạo sĩ quan thì khá hỗn loạn và bỏ mặc nhóm đặc quyền sĩ quan quá mở rộng của QĐQGVN trải qua cuộc huấn luyện bất chấp thành công hay thất bại ngay trên nhiệm vụ trong chiến đấu. Thêm vào đó, kể từ khi những sĩ quan của QĐQGVN đã đến từ những đơn vị thuộc địa “bản xứ,” họ buộc phải gắn bó chặt chẽ với những người bảo trợ Pháp, một lực lượng nòng cốt trong số những sĩ quan làm việc cho Pháp vốn là những người thành lập một nhóm kết hợp, mà qua đó họ nhanh chóng nhận ra tầm quan trọng đối với và sức mạnh của nó trong phạm vi nhà nước Việt Nam mới. Quyền lực chính trị bị nắm giữ và sử dụng bởi tầng lớp sĩ quan thân Pháp, và việc chính trị hóa quân đội theo sau như là một toàn thể, tiếp tục phát triển sau việc thành lập miền Nam Việt Nam và trở thành một trong những vấn đề chính đang đối mặt với một quốc gia thực sự bị gây ra tai hại rồi với vô số những khó khăn.
Trong suốt những năm cuối cùng, đầy khó khăn của họ về quyền cai trị của chế độ thực dân, chính quyền Pháp bị lệch hướng bởi những vấn đề quân sự thực dụng bị gây ra bởi trận chiến của họ chống lại Việt Minh và dành ít thời gian và công sức vào việc xây dựng QĐQGVN.10 Đến thời điểm Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ, vào năm 1954, QĐQGVN chỉ có ban tham mưa sơ sài, không pháo binh, không thiết kỵ binh hạng nặng, không có khả năng hậu cần, và một ít sĩ quan Việt Nam trên hàm Trung úy. Trên giấy tờ, QĐQGVN có con số khoảng 150.000 người vào thời điểm cuối của quyền cai trị của Pháp, nhưng nhiều quân đoàn trong số những tiểu đoàn của nó thì kém sức mạnh một cách đáng lo ngại do việc đào ngũ và đào tẩu đến với Việt Minh thắng lợi. Qua đó QĐQGVN gánh chịu sự đỗ vỡ gần như hoàn toàn về những khả năng chiến đấu sau cuộc rút lui của người Pháp theo sau Hiệp định Genève, thì không khó ngạc nhiên.11

p22

c- Nhập vào Hoa Kỳ :

Trong sự thức tỉnh về sự thất bại của Pháp ở Việt Nam, Hoa Kỳ bước vào cuộc xung đột trong việc bảo vệ chính sách ngăn chận chống lại sự bành trướng của cộng sản. Sự tài trợ của Hoa Kỳ có nghĩa là sự thành lập của một quân đội mới –Quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Công việc tạo ra một lực lượng khả thi quân sự từ đống đổ nát của QĐQGVN là nhiệm vụ không dễ dàng, nhưng đối với những nhà hoạch định chính sách Mỹ điều đó tốt hơn nhiều so với việc thay thế qua việc gởi các lực lượng bộ binh Mỹ vào trong khu vực. Nhiệm vụ rơi vào Nhóm Cố vấn và Hỗ trợ Quân sự (NhCv&HtrQs) gồm có 342 người đàn ông mạnh mẽ, ở Việt Nam, (được gọi tắt là M AAG).12
Bắt đầu vào năm 1955, vai trò lãnh đạo của NhCv&HtrQs,(pc 09) ban đầu là Trung tướng John O’Daniel và sau đó là Trung Tướng Samuel Williams, đã xây dựng QĐVNCH(pc 03) một cách hiệu quả từ khởi đầu không có gì bằng cách sử dụng những gì ít ỏi mà họ có, bao gồm lực lượng nòng cốt không hoàn thiện nhưng cần thiết của những sĩ quan thuộc QĐQGVN. Nhiệm vụ của Nhóm Cố vấn và Hỗ trợ Quân sự (NhCv&HtrQs) thì to lớn và bao gồm mọi thứ từ việc huấn luyện những sĩ quan đến việc mang hàng núi quân dụng. Trong sự vội vàng của họ trong việc sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh mà nhiều người đánh giá là đang gần kề trong tầm tay, Nhóm Cố vấn và Hỗ trợ Quân sự (NhCv&HtrQs) đặt nền tảng cho việc xây dựng của QĐVNCH trên kinh nghiệm gần đây của cuộc Chiến tranh Triều Tiên và chủ trương một lực lượng theo quy ước sẵn sàng đối mặt với cuộc xâm lược từ miền Bắc Việt Nam.
Vai trò lãnh đạo của Bộ tham mưu mới la Bộ Tham mưu Kết hợp Việt Nam không đồng ý với phát họa của NhCv&HtrQs cho QĐVNCH, qua việc chống lại rằng miền Nam Việt Nam thì gần như nhiều khả năng đối mặt với một cuộc nổi dậy hơn là một cuộc xâm lược, và tranh luận rằng QĐVNCH nên được xây dựng như là một lực lượng uyển chuyển hơn được dựa trên khả năng thao diễn và khả năng xác nhận trong phạm vi hệ thống văn hoá Việt Nam.13 Trong hồi ký của ông ta về giai đoạn này, một Tướng Trần Văn Đôn thất vọng đã than phiền rằng những lập luận như thế “rơi vào những tai điếc.”14 Ông Williams đã không dịu lại và cuối cùng tiếp tục giải quyết việc tạo ra một QĐVNCH của bảy sư đoàn bộ binh đượ tiêu chuẩn hóa mà qua đó nhiệm vụ của chúng là chống lại cuộc xâm lược của Bắc Việt đủ lâu dài cho các lực lượng Mỹ đến hiện trường để cứu nguy tình hình như họ đã từng làm thế ở Hàn Quốc.
Ông Diệm bị dằn vặt trên quyết định để tạo ra một quân đội theo phong cách Mỹ ở miền Nam Việt Nam và nhìn nhận rằng những tướng lãnh của mình bám giữ tầm nhìn khác nhau về một quân đội, nhưng đến năm 1956 những nhu cầu trong nước và lời hứa hẹn của Mỹ về việc tài trợ bất chấp những lý luận của những tướng lãnh của riêng mình. Hoa Kỳ chọn cách, với sự chấp thuận của ông Diệm, tạo ra một hình ảnh phản chiếu của quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam và cực nhọc xây dựng một QĐVNCH được dựa trên sự ưu tiên về hỏa lực theo quy ước và tiêu xài nhiều sự cung cấp từ hậu cần
Tuy nhiên, kế hoạch của Mỹ có chiều hướng nguy cơ đáng kể cho miền Nam Việt Nam, một quốc gia đang phát triển, không thể hy vọng sẽ hỗ trợ hậu cần, việc trang bị vũ khí đáng kể, và những nhu cầu huấn luyện của quân đội như thế tự lo riêng mình.
Những áp lực xã hội vốn kèm theo việc nâng cao và trang bị một quân đội to lớn, quy ước ở một đất nước nhỏ đang phát triển, thì vô số kể và cho thấy sự thiếu đồng cảm với những nhu cầu của dân cư nông dân. Phụ thuộc vào nông nghiệp lao động cật lực đồng lúa nước cho sự sinh tồn của họ, cho dù họ ủng hộ chính phủ của miền Nam Việt Nam hay không, nhiều thanh niên từ chối rời bỏ công việc của họ ở những cánh đồng và phúc lợi của gia đình để gia nhập quân đội. Không thể nào dựa trên lòng tình nguyện cung cấp quân đội bằng nguồn nhân lực, miền Nam Việt Nam đổi qua một hệ thống quân dịch vốn được sàng lọc bằng những lạm dụng, bao gồm việc lẩn tránh quân dịch hàng loạt và việc trả tiền vể những thay thế quân dịch, cung cấp 65% tổng mức độ quân số của quân đội, khiến nó trở thành một trong những quân đội cưỡng quân dịch nặng nề nhất trong lịch sử. Những người đàn ông bị kéo đi khỏi nhiệm vụ quan trọng thuộc gia đình của họ trong nhiều năm, mà qua đó dẫn đến một vấn đề thăm căn cố đế với việc đào ngũ. Tuy nhiên, QĐVNCH chiến đấu lâu dài và cật lực, và một nghiên cứu chỉ ra rằng nếu Hoa Kỳ đã huy động cùng một tỷ lệ dân số nam giới trưởng thành của nó như miền Nam Việt Nam làm, nó sẽ gửi 8 triệu người hằng năm đến Việt Nam.15
Sự tin cậy của NhCv&HtrQs(pc 09) vào các hoạt động quy ước cũng tạo ra một QĐVNCH tây phương hóa vốn đứng tách biệt khỏi người dân của nó và khỏi quá khứ võ dũng của riêng quốc gia. Việc hứa hẹn về những kỹ thuật chống chiến tranh du kích được dựa trên các đơn vị nhỏ của những lực lượng địa phương được nâng lên cấp cục bộ và được gắn liền một cách thực chất với người dân bị bỏ qua trong việc ủng hộ chiến thuật tiêu hao theo tiêu chuẩn Tây phương trong mười hai năm tới. Đối với NhCv&HtrQs, một cuộc nổi dậy có thể xảy ra chỉ là một chuyển hướng vốn đe dọa nhằm đánh lạc sự chú ý khỏi cuộc xâm lược tiềm năng của cộng sản. Vào năm 1955, ông Diệm đã từng lên tiếng chống lại cách giải quyết truyền thống của những người Mỹ trong cuộc xung đột, bằng cách nói với ông Williams, “Chúng tôi nên bắt đầu Chiến tranh Du kích của riêng chúng tôi… Quân đội không hiểu, khi nó chỉ nhìn thấy một giải pháp cổ điển về quân sự.”16 Trong khi ông Diệm vẫn bị quyến rũ bởi các thành phần chống nổi dậy, qua việc phát triển Làng bình định phụ nhưng nổi tiếng và những Chương trình Ấp Chiến lược, NhCv&HtrQs(pc 04) tiếp tục chuẩn bị QĐVNCH(pc 03) cho một cuộc đấu lại của Hàn Quốc. Như thế, NhCv&HtrQs(pc 04) xây dựng lại QĐVNCH một ách nhanh chóng, theo khuôn mẫu của Mỹ, và chuẩn bị nó cho một cuộc chiến quy ước mà không bao giờ đến.17 Trong những lời của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng:

p24

Khi việc chiến đấu cuối cùng nổ ra, nó không mang hình thức của cuộc xâm lược quy ước, theo kiểu Hàn Quốc. Nó thay vì bắt đầu như một cuộc chiến tranh xung đột nhỏ ở biên giới chiến đấu với những hoạt động lật đổ và chiến thuật du kích cách xa từ những trung tâm thành thị. Chiến đấu ngày và đêm, cuộc chiến nhỏ này dần dần giành được tiến độ, qua việc tàn phá hết cơ cấu an toàn của những khu vực nông thôn. Trong sự đối mặt với cuộc nổi dậy ngày càng tăng, những đơn vị của QĐVNCH(pc 03) thấy chính mình thiếu thích hợp để chiến đấu loại chiến tranh nầy mà qua đó họ đã không được huấn luyện.18

Khi những con số của các cố vấn Mỹ tăng lên, nó trở nên rõ ràng rằng những vấn đề gây tai hại cho QĐVNCH thì không có nghĩa là sự tạo nên kết quả đơn thuần. Một lần nữa ông Trưởng nhận xét:

Trong suốt ít năm đầu những cố gắng của các cố vấn Hoa Kỳ gặp nhiều trở ngại đáng kể, đặc biệt là trong lãnh vực đào tạo. Nhiều năm chiến đấu cật lực trên tất cả các chiến trường từ phía bắc đến nam và sống gần những lực lượng Pháp –và chắc chắn dưới ảnh hưởng của họ– đã truyền dẫn một tâm lý nhất định về tính cứng đầu, không quy cũ, và tính tự mãn trong số lực lượng quân sự nòng cốt của Việt Nam. Sự điều chỉnh của họ đối với cách làm việc của Mỹ thì đầy đau đớn và chậm chạp. Họ tìm thấy những phương pháp đào tạo và chiến tranh của Mỹ quá cứng nhắc, quá máy móc, và không thực tế đáp ứng đối với chiến trường Việt Nam. Hàng rào cản về ngôn ngữ và sự khác biệt về văn hóa cũng hình thành một khoảng cách rộng và dường như không thể kết nối. Đến một chừng mực nào đó, người Việt không còn quan tâm đến việc huấn luyện và không nghĩ rằng nó là cần thiết. Sau hết, họ cảm thấy họ có đủ kinh nghiệm và biết làm cách nào chiến đấu loại chiến tranh nầy. Sự góp ý chiến thuật của người Mỹ là một cái gì họ nghĩ họ có thể làm mà không cần đến.19

d- Những vị lãnh đạo lớn tuổi và một thế hệ mới :

Ngô Đình Diệm nhận ra rằng sự ủng hộ của QĐVNCH(pc 03) –không thành vấn đề về sức mạnh quân sự của nó– là một yếu tố đơn thuần quan trọng nhất mà qua đó giữ chính phủ của mình nắm quyền. Những tướng lãnh của ông ta nhanh chóng học được tầm quan trọng của họ đối với chính phủ mới và không chậm trễ trong việc hưởng lợi từ quyến lực và ảnh hưởng đáng kể. Chỉ với lòng trung thành hạn chế đối với nhà nước mới của miền Nam Việt Nam, nhiều vị lãnh đạo quân sự chuyển sang những trò chơi chính trị về việc làm môi giới quyền lực qua và tham nhũng hơn là chuyển sang công việc về sự chuẩn bị cho chiến tranh với Bắc Việt.

p25

Về phần mình, ông Diệm cuối cùng đánh giá lòng trung thành mang tính chính trị từ những vị chỉ huy quân sự của mình về lòng dũng cảm và hiệu quả chiến đấu. Đối với phần còn lại của cuộc xung đột, vai trò lãnh đạo của QĐVNCH trở thành gắn bó với nhà nước, và đường vạch giữa chính trị và quân sự trở nên quá mờ đến nổi không có chế độ nào ở Sài Gòn có thể sống sót mà không có sự hỗ trợ quân sự, mà qua đó khiến QĐVNCH đồng nghĩa với chính phủ.20 QĐVNCH đang và vẫn còn cả cơ sở quyền lực chính của chính phủ miền Nam Việt Nam và lẫn bộ máy quản lý của nó, một hệ thống đầy rẫy với những trách nhiệm pháp lý có tiềm năng chính trị.21 Để thăng tiến trong phạm vi hàng ngũ QĐVNCH, những sĩ quan phải được kết nối tốt đẹp và có trung thành chính trị ngay cả khi họ không nhất thiết trong số những vị lãnh đạo quân sự giỏi nhất của quốc gia. Một khi người nào đạt được những cấp bậc cao hơn, điều đó trở thành hết sức quan trọng để ở lại nơi đó, vì vậy một trong những công việc chính của QĐVNCH trở thành bảo vệ chính phủ và nguyên trạng chống lại những kẻ thù chính trị, hơn là chiến đấu với cuộc nổi dậy đang phát triển.22
Qua đó nhóm đặc quyền sĩ quan của miền Nam Việt Nam gánh chịu từ những kém cỏi trầm trọng và bị chính trị hóa quá mức, là điều chắc chắn. Tuy nhiên, chỉ những nghiên cứu nghiêm túc về nhóm đặc quyền sĩ quan đã từng tập trung vào tầng lớp ưu tú trong phạm vi hệ thống –những vị tướng lãnh vốn là những người có những kết nối với chế độ Pháp và đi đến thống trị QĐVNCH và hệ thống chính trị miền Nam Việt Nam. Đây là những người đàn ông từ một thời gian khác nhau và một cuộc chiến khác nhau, những người đàn ông mà nhà sử học Ronald Spector đề cập đến như là một “nhóm mà hành vi của họ được uốn nắn bởi niềm tin vững chắc rằng không có trách nhiệm hoặc nghĩa vụ nào của quyền công dân quá thúc ép đến nổi nó không thể tránh được qua việc sử dụng khôn ngoan về tiền bạc và những kết nối gia đình.”23 Những người này không phải là niềm hy vọng cho tương lai; họ là những di tích của quá khứ. Anthony James Joes nêu lên một điểm rất quan trọng trong nghiên cứu của mình, trong cuốn sách Cuộc chiến tranh cho miền Nam Việt Nam:

Tính thiên vị phá vỡ tinh thần nầy và việc cắn lại kèm theo của nó, thói nịnh bợ, và tham nhũng là đặc hữu khắp nhóm đặc quyền sĩ quan của ông Diệm, buộc chằng những cố gắng của hàng ngàn sĩ quan vốn là những người đang cố gắng hết mình để cứu lấy quốc gia của họ.24

Quả thật có hàng ngàn sĩ quan vốn là những người chiến đấu cật lực và kiên cường, như bất kỳ cuộc khảo sát cấp tốc của các cố vấn Mỹ liên hệ đến những ý kiến về những xác nhận của những đối tác QĐVNCH(pc 03) của họ.25 Những sĩ quan dâng hiến của QĐVNCH nầy bị treo gân bởi ban lãnh đạo cao cấp bị chính trị hóa quá mức và vô hiệu quả –theo những lời của ông Joes, là “nhóm đặc quyền sĩ quan của ông Diệm.”

p26

Vai trò lãnh đạo ban đầu này của QĐVNCH chứng minh trong phần chính là thiếu hoàn thiện một cách tai hại. Nhiệm vụ về việc chuyển đổi nhóm đặc quyền sĩ quan của QĐVNCH và thực ra là chính QĐVNCH tự rơi vào một lực lượng nòng cốt mới của những vị lãnh đạo chỉ với những ký ức mờ về một quá khứ thuộc địa, những vị lãnh đạo vốn là những người có các cố vấn Mỹ và là những người trung thành với miền Nam Việt Nam, một quốc gia duy nhất mà họ có thể nhớ. Được kích thích bởi lòng trung thành mới và lẫn truyền thống Việt Nam, Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế thể hiện loại mới này của nhà lãnh đạo. Phần lớn có thể được học hỏi về chiến tranh Việt Nam bằng cách nhìn vào bản chất và số phận của ban lãnh đạo ở cấp nhỏ hơn nhiều của QĐVNCH trong suốt cuộc xung đột. Ở đây người ta tìm thấy một cuộc đấu tranh đang xày ra liên tục cho linh hồn của QĐVNCH và nhà nước miền Nam Việt Nam. Ban lãnh đạo cấp nhỏ sẽ có thời gian để chuyển đổi QĐVNCH, hoặc nó sẽ không chống đỡ nổi áp lực và sự rối loạn chức năng mà qua đó là thừa kế của nó không?

e- Trận chiến :

QĐVNCH của năm 1960 là một quân đội vốn đứng trên bờ vực của sự thất bại. Nó đang chuẩn bị, và một cách yếu kém, cho một cuộc chiến không đúng. Những vị lãnh đạo của nó phần lớn không đáp ứng đối với những đòi hỏi của Mỹ cho sự thay đổi. Nó đã không có đủ thời gian để đào tạo. Yếu tố quan trọng vể địa phương của nó đã bị bỏ qua. Nó không có khả năng hậu cần. Có lẽ tồi tệ nhất trong tất cả, tuy thế, là sự kiện mà QĐVNCH bị gắn liền một cách vô vọng với chế độ tham nhũng, tàn bạo, và vô hiệu quả của ông Diệm, mà qua đó đã làm được rất ít để thu hút những việc kết họp thành nhóm khác nhau của các giáo phái, dân tộc, tập đoàn kinh tế, và các nhóm dân tộc vốn tạo nên miền Nam Việt Nam. Chính phủ và quân đội đã quan tâm nhiều với việc giành được quyền lực hơn là với việc xứng đáng được quyền lực. Trong khi ông Diệm thực hiện những cố gắng đáng kể nhằm tạo ra một quốc gia mới nơi mà không có gì đã từng tồn tại trước đó, ông ta đã không làm đủ. Chế độ của ông ta và quân đội của ông thực sự đã làm quá ít không thể kêu gọi sức mạnh của người dân của riêng họ; đã làm quá ít không thể gở bỏ lớp phủ của chủ nghĩa dân tộc khỏi những người cộng sản. Miền Nam Việt Nam thiếu chính trị và quân sự trong lãnh vực quan trọng của vai trò lãnh đạo. Những tướng lãnh thân Pháp, và những người cầm quyền chuyên chế và cá nhân có khả năng cai trị quốc gia mới chỉ đến đó. Gần như mỗi báo cáo của Mỹ từ thời điểm đó thì đầy với những cảnh cáo rằng miền Nam Việt Nam thiếu ban lãnh đạo; những vị lãnh đạo của nó thì quá chính trị, quá tham nhũng, quá lười biếng, quá ích kỷ, quá gắn liền với hệ thống thiếu hoàn thiện. Để xây dựng một cái gì mới và tốt hơn, tuy thế, sẽ mất thời gian và lòng kiên nhẫn, một cái gì đó mà Hoa Kỳ cuối cùng không có.

p27

Khởi đầu QĐVNCH(pc 03) thực hiện khá tốt chống lại những đối thủ yếu hơn, không ngang sức, chủ yếu là quân đội tư nhân của những giáo phái độc lập khác nhau trong phạm vi miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, tình hình trở nên tồi tệ hơn vào năm 1960 khi những người cộng sản hồi phục từ những nổ lực của riêng họ và lẫn từ việc truyền bá cuộc cách mạng xã hội ở miền Bắc và chọn cách tìm kiếm sự lật đổ bằng vũ trang chế độ ông Diệm ở miền Nam qua nền tảng của Mặt trận Giải phóng Quốc gia, được đặt tên là Việt Cộng. Lúc khởi đầu, Việt Cộng tìm thấy việc tuyển mộ tốt đẹp ở miền Nam, vì chính quyền ông Diệm chỉ có một phần được trải ra quyền cai trị của nó vào trong nội địa miền Nam Việt Nam và đã thất bại thực hiện cải cách ruộng đất có ý nghĩa, mà qua đó để lại nhiều nông dân không có đất, không một xu dính túi, và chỉ kết nối một cách tiếp tuyến với chính quyền trung ương bị phân tâm và xa xôi. QĐVNCH đang phát triển, bị lệch hướng như nó đang xảy ra bởi những vấn đề chính trị, không thể lo liệu an ninh khắp vùng ngoại thành, qua việc để lại nhiều vùng nông thôn dễ bị sự xâm nhập của Việt Cộng. Trong khi nó nhiều hơn gấp đôi kích thước của Việt Cộng, QĐVNCH không thể đạt được một chiến thắng có ý nghĩa.
Khi chiến dịch khủng bố của Việt Cộng lây lan, những quan chức Mỹ và miền Nam Việt Nam thấy chính mình lúng túng không biết giải thích lý do tại sao QĐVNCH không thể dập tắt cuộc nổi dậy. Sau khi quy sự sống còn của các phiến quân cho việc sử dụng chiến thuật chiến tranh du kích, Hoa Kỳ trả đáp vào năm 1960 bằng cách gởi những cố vấn quân sự đến trận địa với QĐVNCH và đến năm 1965 đã đạt đến điểm mà mỗi tiểu đoàn QĐVNCH được đi kèm bởi một nhóm cố vấn năm người Mỹ. Mặc dù động thái nầy là một bước tiến triển, miền Nam Việt Nam và những người bảo trợ Mỹ đã sai lầm trong niềm tin rằng sự thất bại về quân sự của chiến tranh du kích sẽ chấm dứt cuộc nổi dậy. Chiến thuật du kích là, nhưng, một phần của vấn đề, mặc dù những cuộc tấn công chớp nhoáng được lên kế hoạch cẩn thận thực sự gây lo lắng cho QĐVNCH rất nhiều. Sức mạnh thực sự của lực lượng nổi dậy nằm trong tổ chức chính trị đang phát triển của nó. Cho đến khi Sài Gòn đáp lại bằng một câu trả lời mang tính chính trị, liên quan đến việc cải cách chính phủ và kinh tế –qua việc tạo ra một nhà nước và một tổ chức quốc gia vốn có được sự tận tâm của người dân của nó– một giải pháp quân sự đối với vấn đề du kích vẫn là không có thể.26
Mặc dù trong những thách thức, QĐVNCH thực hiện tốt hơn đến năm 1962 và đã tăng trưởng đến một sức mạnh của 219.000 người. Ở hầu khắp đất nước, lực lượng miền Nam Việt tái khẳng định quyền kiểm soát trên nhiều khu vực vốn đã từng chịu sự kiểm soát của Việt Cộng, qua việc khiến cho Phó Đại sứ Hoa Kỳ William Truehart thốt lên rằng ông ta “được khích lệ rất to lớn”

p28

bởi sự thành công của QĐVNCH vốn là “thiếu một ít tuyệt vời nhất.”27 Ngay cả lịch sử chính thức về cuộc chiến đầy lạc quan một cách hiển nhiên của Bắc Việt thừa nhận rằng vào năm 1962, QĐVNCH mở cuộc tấn công mọi nơi đến một phạm vi đến nổi “những khuynh hướng của phe hữu cực đoan và phe tiêu cực,” xuất hiện trong số các binh lính và “những vùng giải phóng và các khu vực nơi mà quần chúng đã từng chiếm quyền kiểm soát, suy giảm. Du kích từ một số làng mạc và thôn ấp buộc phải di chuyển đến các khu vực khác hoặc phải trốn chạy đến các khu vực căn cứ của chúng ta.”28
Khi QĐVNCH(pc 03) tiếp tục sự hồi sinh của nó, sự cam kết của Mỹ trong cuộc xung đột cũng đã sâu đậm hơn, như được minh chứng bởi sự xuất hiện của Trung tướng Paul Harkins, vào tháng Hai năm 1962, đứng đầu Bộ Chỉ huy mới là Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự Việt Nam (BChHTrQsVN) (được viết tắt là MACV). Niềm tin Hoa Kỳ vào QĐVNCH dường như cũng được đặt đúng chổ, vì như một lởi tường thuật của Bắc Việt than van trong suốt những tháng đầu tiên của năm 1963, những thành công của QĐVNCH tiếp tục nhanh chóng khi những lực lượng chính phủ Việt Nam cao lên giữa 1.500 và 2.000 chiến dịch mỗi tháng. Một cuộc nghiên cứu một cách miễn cưỡng lưu ý rằng “những chiến dịch kéo dài và quy mô lớn [của QĐVNCH] phát động một cách không ngừng nghĩ chống lại bất kỳ khu vực được cho biết nào thì nhiều hơn và gay gắt hơn so với năm trước.”29
Qua đó QĐVNCH(pc 03) vẫn gánh chịu từ những khiếm khuyết hiển hiện, tuy thế, được chứng minh bằng trận Ấp Bắc vụng về, vào năm 1963. Một lực lượng QĐVNCH, được cố vấn bởi Mỹ Trung tá John Paul Vann, đã xác định được một lực lượng Việt Cộng (VC) khoảng 300 người và khép vòng vây cho sự triệt hạ. Nhờ nhiều hơn con số những quân địch của họ bằng hơn năm đối một và có được một lợi thế về hỏa lực chủ yếu, QĐVNCH lên kế hoạch bao vây và tiêu diệt đơn vị VC. Sau khi giữ vị trí nơi những ụ súng phòng thủ mạnh mẽ, VC chiến đấu kiên cường, nhưng QĐVNCH không thua kém. Bị vướng víu bởi mệnh lệnh không hiệu quả, cuộc tấn công của QĐVNCH được phối hợp yếu kém và cho phép VC thoát ra vào trong bóng đêm. Điều gì đó đáng lý ra là một chiến thắng dễ dàng, vào lúc tốt nhất lại là một trận hòa tốn kém. Mặc dù cuộc chiến tại Ấp Bắc được trình bày một cách thuyết phục theo cách thiên vị bởi giới truyền thông Mỹ,30 nó và những trận chiến khác chỉ ra rằng các vấn đề nan giải vẫn còn trong QĐVNCH. Mặc dù vậy, những thành công của năm 1962 và 1963 chứng minh rằng QĐVNCH được hồi sinh và rằng có ít nguy hiểm mà qua đó Việt cộng sẽ làm tan vỡ QĐVNCH hoặc lật đổ chính phủ của ông Diệm.31 Giai đoạn lạc quan và tương đối yên tĩnh, tuy thế, được sống ngắn ngủi khi những điểm yếu về cơ cấu của nhà nước miền Nam Việt Nam nhường chỗ, dẫn đến sự sụp đổ chính quyền và quân sự.
Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế thực hiện những quyết định bước vào Quân đội Việt Nam Cộng Hòa vào một thời điểm hỗn loạn.

p29

Mặc dù theo những cách mà những nguồn gốc của họ thì khá tiêu chuẩn cho tầng lớp sĩ quan QĐVNCH, những động lực thúc đẩy của họ xem như để đặt họ –và nhiều người trong thế hệ của họ– tách biệt khỏi nhóm những sĩ quan vốn thống trị hệ thống quân sự và chính trị của miền Nam Việt Nam. Theo thời gian, cả hai người thanh niên sẽ trở nên nhận thức đầy đủ về những thiếu sót vốn gây quá tai hại cho vấn đề quân sự của họ. Cả hai người đàn ông cũng sẽ nhận ra rằng nếu không có cải cách có ý nghĩa, QĐVNCH và miền Nam Việt Nam có thể không sồng sót được qua cuộc đấu tranh khó khăn. Đươc sinh ra và đào tạo cho những vị trí lãnh đạo trong phạm vi miền Nam Việt Nam, cả anh Đính và anh Huế thì chắc chắn, cũng như nhiều thanh niên có lý tưởng, về tầm quan trọng và khả năng của họ. Họ sẽ lập nên tấm gương thích hợp. Họ sẽ thay đổi mọi thứ. Khi họ trở thành những vị tướng lãnh, vì họ biết họ sẽ, họ và thế hệ của họ sẽ vượt qua những vấn đề nan giải được để lại cho họ bởi các bậc tiền bối quân sự của họ. Cả hai đều chắc chắn rằng họ chỉ cần một cơ hội –và đối với cơ hội đó cả hai cần thời gian.

(Vùng I Chiền lược Quân đoàn)

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Pác Bó : hiện tại (2012) vùng hang động nầy vốn trước kia nằm bên biên giới Việt Nam, đã thuộc về phần đất của Trung cộng từ sau khi cuộc chiến biên giới 1979. Mặc dù Đảng Cộng sản Việt Nam cố tình che giấu sự mất mát nầy, nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy cả vùng đất nầy đã mất, cũng như bị sửa đổi ít nhiều dấu tích sau khi các cột móc bị dời và thay đổi.

pc 02_ QĐQGVN : Quân đội Quốc gia Việt Nam.
pc 03_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 04_ NhCv&HtrQs : Nhóm Cố vấn và Hỗ trợ Quân sự (MAAG = Military Assistance and Advisory Group).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s