Mục lục và Lời cảm tạ

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

Quân đội bị Lãng quên của Việt Nam

Chủ nghĩa anh hùng và sự phản bội trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa

Tiến sĩ Andrew A. Wiest

“Cuốn sách này được dành riêng cho những người vốn đã chiến đấu nhằm bảo vệ miền Nam Việt Nam”

Mục lục :

Lời cảm tạ …ix
Lời tựa của James Webb …xiii
Lời nói đầu : Chào mừng bạn đến Mỹ quốc …xvii

00 – Giới thiệu : Chào mừng bạn đến Việt Nam …p01
a- Những cuộc sống mương mẫu …p04
b- QĐVNCH: quân đội bị lãng quên của Việt Nam …p05
c- Một đồng minh không hoàn thiện và thảm thương …p07
d- Một ghi chú về những nguồn tài liệu …p09

01 – Sự xuất phát của Thời kỳ trong Thời gian Chiến tranh …p11
a- Những vấn đề gia đình …p12
b- Sự ra đời của một quân đội …p19
c- Nhập vào Hoa Kỳ …p22
d- Những vị lãnh đạo lớn tuổi và một thế hệ mới …p24
e- Trận chiến …p26

02 – Một cuộc Chiến Biến đổi : Trận chiến, Chính trị, và vấn đề Mỹ hóa Chiến tranh, 1963-1966 …p31
a- Cuộc huấn luyện …p31
b- Biến loạn …p35
c- Những thực tế của quyền chỉ huy …p38
d- Những thực tế của trận chiến …p42
e- Nghệ thuật của vai trò lãnh đạo …p43
f- Một cuộc chiến của Mỹ …p47
g- Cuộc khủng hoảng Phật giáo …57
h- Cuộc đối đầu …p59
j- Một sự bắt đầu mới …p63

03 – Chiến đấu Hai cuộc Chiến : Những năm Gây-tiêu-hao-sức-đề-kháng và công cuộc Bình định, 1966-1967 …p65
a- Những ngôi sao đang lên trên chiến trường …p68
b- Công cuộc bình định …p70
c- Những lực lượng Địa phương Quân và Nghĩa quân …p73
d- Cuộc chiến nông thôn và Cuộc chiến gây tiêu hao …p76
e- Những vị cố vấn …p84
f- Trận chiến tại Phú Lộc …p91

04 – Thời kỳ cho những Anh hùng : Cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân …p95
a- Lên kế hoạch …p97
b- Cuộc tấn công vào thành phố Huế …p100
c- Cuộc đấu tranh tại Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự cho Việt Nam …p104
d- Những tiếp viện quân cho Thành nội …p106
e- Cuộc phản công …p109
f- Sự tham gia của TQLC …p110
g- Trận chiến của QĐVNCH …p114
h- Cuộc chiến thắng …p116
i- Xem xét lại biến cố Tết …p120

05 – Sau Tết : Năm của niềm Hy vọng …p124
a- Cuộc truy kích ở vùng đồng bằng …p128
b- Đuổi vào trong những vùng cao nguyên …p137
c- Những người anh em trong quân ngũ …p143
d- Một chiến thắng khó nắm giữ …p151
e- Một con đường mới về phía trước? …p153

06 – Ngọn đồi Thịt bằm : Một câu chuyện Chưa kể về Trận chiến cho Đồng Ấp Bia …p157
a- Vào trong thung lũng A Shau …p158
b- Một công kích tẻ nhạt …p160
c- Những quân tiếp viện …p162
d- Việc tổ chức lại …p164
e- Ngọn đồi Thịt bằm nó có đáng giá không? …p166
f- Một câu chuyện truyền thống …p167
g- Những anh hùng không được ca ngợi …p168
h- Vị vua của ngọn đồi? …p170
i- Ai chiếm lấy Ngọn đồi Thịt bằm? …p173
j- Đoạn thêm vào …p175

07 – Một cuộc chiến Biến đổi : Việt Nam hóa Chiến tranh, 1969-1970 …p177
a- Một bình minh giả tạo? …p178
b- Một sự thay đổi về việc canh phòng …p180
c- Dọc theo Khu phi Quân sự …p182
d- Việc trở vào cao nguyên …p186
e- Ở những vùng đồng bằng …p190
f- Tương lai của Quân đội Việt Nam Cộng hòa …p192

08 – Những cuộc đời Tan vỡ và những Ước mơ Nát vụn : Chiến dịch Lam Sơn 719 …p197
a- Việc lên kế hoạch …p199
b- Cuộc xâm nhập …p203
c- Cuộc phản công của Quân đội Bắc Việt …p206
d- Cuộc chiến đấu đơn độc …p209
e- Việc chiếm lại thế chủ động …p212
f- Cuộc xung kích vào làng Tchepone …p215
g- Thảm họa ở miền Nam …p218
h- Số phận của một chiến binh …p220
i- Sau trận chiến …p223
j- Những bài học từ Lào …p225

09 – Sự hình thành của một kẻ Phản bội …p229
a- Việc tạo ra Sư đoàn 3 QĐVNCH …p235
b- Cuộc tổng tấn công Mùa Phục Sinh …p242
c- Dây thòng lọng thắt chặt …p251
d- Sự đầu hàng tại Doanh trại Carroll …p257
e- Trở thành kẻ thù …p262
f- Sau việc đầu hàng …p264
g- Sự báo trước tương lai …p270

10 – Những chuyến Hành trình về Quê nhà : Cuộc sống trong sự Thức tỉnh của cuộc Chiến tranh Bị bại …p273
a- Sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam …p278
b- Việc cải tạo …p281
c- Cam-pu-chia …p286
d- Cuộc sống sau chiến tranh …p288
e- Những giấc mơ của người Việt Nam và Mỹ …p292
f- Đủ vòng …p295

Kết luận …p298

===========================================

pix

Lời cảm tạ :

Điều đó dễ hiểu và bởi vì môn học tôi dạy về lịch sử Chiến tranh Việt Nam tại Đại học miền Nam Mississippi rằng tôi không chỉ đi đến sự nghiên cứu thực sự về Chiến tranh Việt Nam mà còn đưa tới dịp du lịch Việt Nam, vốn là nơi tôi gặp Phạm Văn Đính. Nhiều cựu chiến binh tham gia vào môn học, và chính vì họ mà Việt Nam trở thành niềm đam mê của tôi. Tôi nợ mỗi người trong số những người đàn ông dũng cảm lòng biết ơn và tôn trọng bất diệt của tôi. Nhiều cựu chiến binh đã từng tham gia vào lớp học của tôi trong những năm qua, nhưng, trong sự rủi ro về việc xem nhẹ một số người, tôi muốn cảm ơn những người quá cố Roy Ainsworth, Charles Brown, và đặc biệt là John Young. Cũng như, tôi muốn cảm ơn Tiến sĩ Leslie Root và Tiến sĩ Raymond Scurfield, bản thân là một cựu chiến binh Việt Nam, cho sự cống hiến bất diệt đối với dân cựu chiến binh Việt Nam và cho sự giúp đỡ của họ trong việc thực hiện chuyến đi của chúng tôi đến Việt Nam thành sự thực.
Nhiều quản trị viên và đồng nghiệp quan trọng tại Đại học miền Nam Mississippi giúp đỡ thực hiện cả về cuộc hành trình đến Việt Nam và cuốn sách này có thể tiến hành. Tiến sĩ Tim Hudson, sau nầy là Hiệu trưởng trường Cao đẳng Giáo dục Quốc tế và Tiếp nối, đánh cá rằng chuyến đi Việt Nam sẽ không là một thảm họa. Tại Khoa Lịch sử, tôi còn nợ những lời cảm ơn đặc biệt đến vị trưởng khoa trước đây của chúng tôi, Tiến sĩ Charles Bolton. Cuối cùng, tôi muốn cảm ơn ban nhân viên tận tâm và quá mức công việc của cơ quan mà ngày nay là Sở Giáo dục Quốc tế tại trường Cao đẳng Nghệ thuật và Văn chương : Susan Steen, vốn là người hiện đang là Giám đốc của Sở Giáo Dục Quốc tế, Frances Sudduth, Sylvia McNabb, và Melissa Ravencraft. Như luôn luôn là thế, tôi muốn cảm ơn vị Trợ lý Hành chính của Khoa Lịch sử, Shelia Smith, cho cả tình bạn và sự giúp đỡ liên tục của cô.
Trong việc nghiên cứu của tôi cho dự án này, tôi nương nhờ sự giúp đỡ chuyên nghiệp của một nhóm tinh tế gồm những nhân viên bảo lưu và chuyên gia trong lãnh vực. Tôi muốn gởi lời cảm ơn đến nhiều người và những cơ sở mà họ đại diện: Mitchell Yockelson và Cliff Snyder của Sở Quản lý Hồ sơ Bảo lưu Quốc gia; Tiến sĩ Jim Ginther, Chuyên viên bảo lưu Giấy tờ Cá nhân tại Đại học Nghiên cứu Bảo lưu về Quân đoàn Thủy quân Lục chiến của Trung tâm Nghiên cứu Gray(pc 01) ở Quantico, Virginia;

px

Craig Tibbets của cơ quan Tưởng niệm Chiến tranh của Úc; Tiến sĩ James Reckner, Steve Maxner, và ban nhân viên của họ tại Trung tâm Việt Nam ở Đại học Kỹ thuật Texas, một đội ngũ lãnh đạo chân chính trong lãnh vực về những nghiên cứu Việt Nam; Mike Sloniker của Hiệp hội Phi công Trực thăng Việt Nam; và ban nhân viên tại Thư viện Đại học Không quân ở trường Cao đẳng Không chiến Không lực Hoa Kỳ.
Phần lớn của sự nghiên cứu của tôi dựa vào lịch sử truyền khẩu được đưa dẫn bởi vô số cựu chiến binh Việt Nam. Tôi muốn cảm ơn Tiến sĩ Curtis Austin, Tiến sĩ Stephen Sloan, và Suzy Rodriquez quá cố, tại Trung tâm Lịch sử truyền khẩu và Di sản văn hóa thuộc Đại học miền Nam Mississippi, cho những góp ý và giúp đỡ của họ trong quá trình này. Tôi muốn cảm ơn Joe West, của những Đối tác, là Hiệp hội Chiến tranh Đông Dương lần Thứ hai và Đối tác Ngoại giao của họ, cho việc giúp đỡ tôi tìm ra nhiều cố vấn Hoa Kỳ cho những đơn vị Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH). Rick Ryan và Hiệp hội Quân đội Úc Huấn luyện Đội ngũ Việt Nam thì không thể thiếu được trong việc định vị những cố vấn thuộc Hiệp hội cho những đơn vị QĐVNCH(pc 02) Khi gặp phải những thất bại khác, tôi quay sang Thiếu tướng (Ret.) Benjamin Harrison giúp đỡ trong việc xác định, tìm kiếm, và thực hiện sự tiếp xúc đầu tiên rất quan trọng với nhiều đối tượng cựu chiến binh của tôi. Nếu không có sự giúp đỡ ơn nghĩa của ông ta bằng nhiều cách, cuốn sách này sẽ không thể thực hiện được.
Một số người khác cung cấp cho tôi sự trợ giúp rất cụ thể ở những thời điểm khác nhau trong dự án. Courtney và Mỹ Trang Frobenius(pc 03) của công ty Du lịch Việt Nam-Đông Dương, cả hai là công cụ trong việc giúp đỡ tôi tổ chức chuyến đi thành công đến Việt Nam và lần đầu tiên giới thiệu tôi với Phạm Văn Đính. Họ cũng là điểm tựa quan trọng trong quá trình phỏng vấn của tôi với ông Đính. Tôi cũng muốn gởi lời cảm ơn đến Jim Williams cho phép tôi tiếp cận nhiều cuộc phỏng vấn với các phi công trực thăng Hoa Kỳ. Tôi nợ Ned Devereaux một món nợ đặc biệt của lòng biết ơn cho sự cung cấp cho tôi thông tin về cuộc đời của Trần Ngọc Huế.
Một trong những điều tốt nhất về việc trở thành một nhà viết sử là làm việc với những người khác vốn là những người rất am hiểu trong lãnh vực này. Trong suốt những năm vốn phải mất để lập kế hoạch và thực hiện dự án này, tôi may mắn có được một nhóm những người bạn chú trọng về lịch sử là những người cho phép tôi phản ảnh những ý tưởng của họ trong những cuộc hội thoại ở những nơi vốn thay đổi trong phạm vi từ các quán rượu ở London đến mạng điện. Đối với sự giúp đỡ của họ trong vấn đề này, tôi muốn cảm ơn Chris McCarthy, Dale Andrade, Lewis Sorley, Robert Brigham, Bruce Davies, Sean McKnight, Gary Sheffield, Stephen Badsey, Dennis Showalter, Mary Kathryn Barbier, Paul Harris, Stephen Maxner, Lâm Quang Thi, Terry Whittington, Martin Loicano, và Scott Catino.
Được đủ may mắn để làm việc trong một bộ phận rất có ý thức trách nhiệm tập thể và sống trong một thị trấn được biết đến với lòng hiếu khách của người miền Nam của nó, tôi cũng nợ những lời cảm ơn đặc biệt

pxi

cho nhóm có chân giá trị của những đồng nghiệp và bạn bè vốn là những người đã từng ủng hỗ công việc của tôi qua rất nhiều cách. Trong sự rủi ro về việc xem nhẹ một số người khác, tôi muốn chọn ra sau đây cho những lời cảm ơn đặc biệt: Kim Herzinger, William Scarborough, Glenn Harper, Sean Farrell, Mary Beth Viễn Rell, David Clapp, Jim Hogan, Paul Lyon, Richard McCarthy, David Pumford, David Tisdale, Ryan Schilling, Kyle Zelner, Phyllis Jestice, Andrew Haley, và Danielle Haley. Trong khi tôi ở tại Cao đẳng Không chiến, Toshi Yoshihara, Adam Cobb, và Đại tá Jeff Hood, tất cả ra sức giúp đỡ khi tôi vất vả hoàn thành bản thảo. Hầu hết công cụ trong công việc của tôi tại trường Cao đẳng Không chiến, tuy thế, là những sinh viên của hội thảo “16 tuổi Ngọt ngào”. Họ là những người bạn của tôi và là lương tâm quân ngũ của tôi, và họ khiến tôi tập trung vận dụng trí tuệ mình. Tôi nợ tất cả những lời cảm ơn của tôi đến những người nầy đặc biệt là: Ismail Al Awadhi, Chris Bargery, Enrique Biosca-Vasquez, Sean Boyle, Stephen Fisher, Kathleen Hightain, Robert Howell, Shawn Jansen, Patrick Kelly, Dejudom Kongrsri, Paul (Murph) Murphy , Kenneth (Easy) Rizer, Lawrence (Migs) Roberts, James Sohan, và Janice Wallace.
Tôi muốn dâng những lời tạ ơn đặc biệt đến các đồng nghiệp của tôi tại Khoa Lịch sử, Kevin Dougherty và Michael Neiberg, cùng với James Willbanks, ở Cao đẳng Chỉ huy Quân đội Hoa Kỳ và Tổng tham mưu, cho việc đọc và đưa ra những phê bình về dự án này trong lúc nó cón trong hình thức bản thảo. Theo cùng hàng danh sách, tôi nợ một món nợ sâu xa về lòng biết ơn đối với Deborah Gershenowitz, tại Đại học Báo chí New York. Tôi cảm kích rất nhiều về lòng thành mà cô ta đặt vào tôi và công việc khó khăn cô ta bỏ vào trong việc giúp tôi chuyển đổi ý tưởng đầu tiên trở thành một bản thảo và sau đó biến thành một cuốn sách. Tôi cũng muốn cảm ơn nhân viên phát hành của tôi, Tom Walren, và Despina Gimbel và ban nhân viên của cô ta ở Đại học Báo chí New York cho những cố gắng đáng kể của họ trong việc đưa dự án này đến kết quả mỹ mãn.
Không có cách nào cho dự án này sẽ từng bao giờ được thực hiện hoặc đưa đến mỹ mãn mà không có sự trợ giúp của gia đình tôi, và tôi muốn cảm ơn tất cả cho sự giúp đỡ của họ: Wanda Stegall, Terry Smith, La Mae, Dan, Brian, Aaron, và Nicholas Ortman; Steve, Carmen, Amber, Matthew, và David Wiest, Robert và Susan Wiest, Jeanne, Jackson, và Juliana Keene, Grace Trosclair; Everett và Nellie Guillory, Don và Denise Guillory, và Ben, Ruby, và Victoria Buckle. Lời cảm ơn lớn nhất của tôi, tuy thế, dành cho người vợ của tôi, Jill (Giám đốc điều hành của toàn bộ gia đình Wiest và là người bạn thân nhất của tôi), và cho những đứa con yêu dấu của tôi, Abigail và Luke.
Tôi nợ món nợ lớn nhất về lòng biết ơn đến tất cả người trong số những cựu chiến binh đó vốn là những người chia sẻ câu chuyện về cuộc sống của họ với tôi và khiến cho cuốn sách này có thể thực hiện, đặc biệt là Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế. Đáng buồn là nhiều người

pxii

trong số những người được phỏng vấn cho dự án này đã qua đời kể từ thời gian của những cuộc phỏng vấn của chúng tôi, bao gồm Max Kelly, Cecil Fair, Ngô Quang Trưởng, và Phạm Văn Đính. Tất cả trong số những người nầy thì nhiệt tình chia sẻ những kinh nghiệm thuộc thời gian chiến tranh của họ và giúp đỡ thế hệ hiện nay học hỏi từ quá khứ, ngoài ra đối với ông Đính, dự án nầy thì đặc biệt. Ông ta nhận ra rằng những cuộc phỏng vấn cho cuốn sách này sẽ sớm trở thành cơ hội duy nhất của mình để nói lên sự thật về những hành động của mình. Những cuộc phỏng vấn qua nhiều cách phục vụ như là việc xưng tội của ông ta. Tôi cảm thấy được vinh dự là tất cả trong số những người vốn tham gia vào dự án này, chọn lựa để giao phó những kỷ niệm của họ cho tôi. Tất cả trong số những người được nhắc đến ở trên xứng đáng công trạng cho công việc hoàn thành này. Tôi chỉ tuyên bố những sai lầm như là của riêng tôi.

pxiii

Lời tựa của James Webb :

Tôi đã từng làm việc trong nhiều năm để giúp mang lại sự hòa giải cho cả hai Việt Nam bên trong và giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Trong quá trình này, tôi đi đến hiểu biết và tôn trọng nhiều người bên trong chính phủ Việt Nam. Tôi đã từng trở thành bạn bè với những người vốn phục vụ trong Quân đội chống lại điều mà tôi chiến đấu cho. Tôi đã từng củng cố và nuôi dưỡng sự tôn trọng của tôi đối với những người Việt Nam đó vốn chiến đấu bên cạnh những người Mỹ. Và tôi đã từng, trên nhiều hơn một ít lần, gặp gỡ những người Việt Nam vốn chuyển đổi lòng trung thành của họ khi chiến tranh bắt đầu trở nên tồi tệ cho miền Nam Việt Nam. Trong sự quan hệ con người, một ít trong số chúng ta có vị thế lên án bất cứ ai vốn quyết định chọn lựa một phe khác trong một cuộc chiến tàn bạo, dường như không bao giờ kết thúc. Tuy nhiên, lòng trung thành đối với những người đồng chí hướng của mình là một chất keo vốn kết chặt tất cả dịch vụ quân sự. Nó là một yếu tố kết hợp mạnh mẽ xa hơn những lý do chính trị vốn bó buộc một dân tộc chiến đấu. Chất kéo đó vượt qua ngay cả thời gian một quốc gia đang có chiến tranh, bởi vì những cuộc chiến có những hậu quả cho những người vốn đấu tranh chống chiến tranh mang lại, không chỉ trở thành một phần đời còn lại của họ mà còn đối với những thế hệ theo sau.
Người ta không thể bắt đầu hiểu rõ những câu chuyện xưa của Harry Huế Trần, một người lính tuyệt vời vốn trả giá đắt cho lòng trung thành của mình nhưng là người không phải trả lời bằng danh dự mình cho một ai, và đối với Phạm Văn Đính, mà cuộc hành trình của ông ta thì ít đau đớn nhưng trong sự chấm dứt phức tạp hơn, mà không có sự hiểu biết về sự phân biệt này.
Và để hiểu sự phân biệt đó, điều quan trọng là không nhìn một Việt Nam vốn đang nổi lên từng năm nầy qua năm khác trở thành một cộng đồng thế giới, nhưng nhìn một Việt Nam vốn khởi đầu phát triển ra khỏi những ngày đen tối của chính cuộc chiến tranh.
Tôi trở lại Việt Nam lần đầu tiên vào tháng Ba năm 1991, qua cách đến thăm Hà Nội và Sai-gon, vốn đã được đổi tên là thành phố Hồ Chí Minh theo sau chiến thắng của cộng sản vào tháng Tư năm 1975. Hà Nội thì nghèo bẩn, những đường phố tối đen của nó

pxiv

vào ban đêm từ sự thiếu thốn năng lượng điện và với hầu như không một phương tiện di chuyển có động cơ nào trên những con đường khác hơn là những chiếc xe cơ quan đang lão hóa của Nga được sử dụng bởi các quan chức chính phủ. Sài Gòn thì một bước về phía trên nhưng vẫn còn đang run rẩy như một con chó sợ hãi từ tác động của sự chiếm cứ của cộng sản. Mọi nơi ở Sài Gòn, những cuộc trò chuyện riêng tư không tránh khỏi bắt đầu với một cái nhìn ra ngoài và cụm từ so sánh “trước năm 1975,” như thể cuộc sống có thể được chia ra hoàn toàn giống y bởi sự phân ranh giới như những người Tin Lành tìm cách phân chia nó bằng những nhóm chữ “BC và “AD.”
Về sự thật, đất nước này vừa mới đang bắt đầu trèo ra khỏi hiện tình của nó như là một trạng thái thuộc chủ nghĩa Stalin mang cốt lõi cứng ngắt. Một “bức màn tre” đã từng được hạ xuống theo sau chiến thắng của cộng sản vào năm 1975, ngăn chặn thế giới bên ngoài khỏi nhìn chăm chú những quy trình trả đũa tàn bạo khắp nơi vốn là một đất nước đã được thống nhất. Sau khi khước từ hầu hết thế giới bên ngoài, chính quyền Hà Nội đã liên kết chính mình chặt chẽ với Liên Xô, đất nước mà cho đến khi sự suy sụp của riêng nó đã từng trợ cấp nặng nề cho nền kinh tế Việt Nam và đào tạo những quan chức chính phủ của nó trong những thực tiễn kinh tế xã hội chủ nghĩa lỗi thời. Những chuyến viếng thăm của giới truyền thông thì hiếm hoi, và những chuyến vốn được cho phép đó được giám sát một cách chặt chẽ bởi chính phủ. Những chiếu kháng thông hành của du khách thì cũng ít. Công an mật vụ, được điều khiển bởi Bộ Nội vụ đầy quyền lực, ở mọi nơi. Đó không phải là điều bất thường đối với những khách Tây phương ngờ nghệch và không hiểu biết bị theo sau bởi các mật vụ chính phủ trên những đường phố và đối với các cuộc trò chuyện của họ bị theo dõi trong khi họ đang ở trong phòng khách sạn mình.
Không giống như nhiều người Mỹ vốn được cho phép vào Việt Nam vào thời điểm đó, tôi có những người quen biết chứng nhận về mặt văn hóa mạnh mẽ mà qua đó tôi có thể đánh giá những kịch bản con người vốn tự phơi bày trước mắt tôi khi tôi đi dạo dọc theo những đường phố Sài Gòn. Tôi đã từng dành cả cuộc đời trưởng thành của mình đắm chìm trong việc nghiên cứu những văn hóa Á Đông và đã từng trải qua thời gian trong khu vực như là một nhà báo. Trong suốt cuộc chiến, tôi đã từng chiến đấu như là một Thủy quân bộ binh trên một số trong những chiến trường đẫm máu nhất của Việt Nam. Và, quan trọng nhất, sau cuộc kết thúc bi thảm của chiến tranh, tôi đã dành vô số thời giờ trợ giúp những người tị nạn Việt Nam vốn đã tìm cách của họ, thường là với cái giá to lớn, đến Hoa Kỳ. Qua quá trình đó, tôi đã có được những cái nhìn thấu triệt vô giá vào trong những sự phức tạp của văn hóa Việt Nam, những viễn ảnh của dân Việt liên quan đến những quyền lợi bị lôi cuốn vào cuộc chiến, và những trận chiến cốt nhục tương tàn giữa những người Việt ở cả hai bên vốn đã từng hiếm khi tạo cho nó trở thành những cuộc tranh luận của người Mỹ về những lý do chúng tôi có ở đó hoặc tại sao chúng ta không chiếm ưu thế.
Chuyến trở lại lần đầu tiên nầy đến một đất nước mà tôi đã từng luôn luôn yêu mến sâu sắc theo đúng nghĩa tràn ngập tim tôi.

pxv

Như là một người trong số ít nhỏ nhoi duy nhất của những người Mỹ đang lang thang trong thành phố, bình thường bằng phương cách của xe xích lô đạp, tôi vửa được đón mừng như là một anh hùng đang trở lại và lẫn bị tràn ngập với những chướng ngại đầy cảm xúc mãnh liệt,. Một lần và thêm một lần nữa, những người đàn ông và phụ nữ Việt Nam đến với tôi, siết chặt bàn tay tôi, vào những lần với những giọt nước mắt trong mắt họ. “Đó là điều quá khó, thưa ông,” là một sự kiềm chế thông thường. “Chúng tôi luôn biết bạn sẽ trở lại.”
Một số người có những câu chuyện quá thúc ép đến nổi có những lúc dường như vốn chỉ đơn giản lắng nghe họ mà không có khả năng giúp đỡ, là một hành động phản bội. Một buổi sáng, khi tôi đi bộ, một thanh niên con lai Mỹ bắt kịp với tôi, nhảy xuống từ xe đạp của anh ta và đối mặt với tôi khi một đám đông nhỏ tụ tập xung quanh chúng tôi. Anh ta đang run rẩy bằng sự mãnh liệt khi anh ta chỉ vào nét mặt Á châu và Phi châu được hòa lẫn của riêng mình. “Hãy nhìn tôi,” anh ta hét lên. “TÔI KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI VIỆT! CHA TÔI LÀ MỘT NGƯỜI LÍNH, BỊ GIẾT CHẾT Ở CỦ CHI! HỌ KHÔNG CHO TÔI GÌ CẢ! ÔNG BẠN LÀ NGƯỜI MỸ, ÔNG BẠN PHẢI GIÚP TÔI!”
Tuy nhiên, một nơi riêng biệt đánh thức những niềm đam mê của tôi và truyền cho tôi một quyết tâm tìm kiếm một công lý rất nhiều cần thiết.
Vào mùa xuân năm 1991, có lẽ một ngàn người đàn ông Việt trải qua những ngày và đêm của họ túm tụm trong một công viên rộng mở, chỉ đối diện từ trạm xe lửa cũ của Sài Gòn. Châu Á là một vùng đất của những khắc nghiệt, và một ít du khách dường như chú ý đến những người vốn là những người đàn ông giống như kẻ ăn xin nầy hoặc hỏi như thế nào họ đã phải trải qua những ngày của họ trong sự tuyệt vọng hoàn toàn, một số người trong họ công khai lụi chất ma túy heroin và hầu hết trong số họ đang sống những cuộc sống không có hy vọng. Tuy nhiên, trong công viên đó là một bằng chứng minh họa của một sự đảo ngược xã hội cổ điển. Đây là những người lính từ Quân đội miền Nam Việt Nam trước đây. Nhiều người trong số họ đã từng giữ cấp bậc cao và có những trách nhiệm lớn. Sau sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, một triệu người đã từng bỏ đi đến những trại cải tạo. Một số 240.000 đã ở lại trong các trại lâu hơn bốn năm, và một số vẫn còn lại hơn mười ba năm. Hơn 50.000 người đã chết trong các trại. Vào lúc việc phóng tích của họ, những cựu chiến binh nầy và gia đình họ được đóng nhãn hiệu như là những kẻ phản bội và bị cắt đứt khỏi những công việc, nhà cửa, và việc học. Nhiều người đã từng bị gởi đi xa khỏi nhà của họ để sống trong những vùng gọi là Vùng Kinh tế Mới, và nhiều người vốn đang sống trong công viên, đã từng bí mật tìm cách trở lại Sài Gòn. Những người vốn đã được phép trở về nhà họ, riêng biệt không được cho phép làm việc, ngay cả những công việc tầm thường như là việc đạp những chiếc xe xích lô ở đâu cũng có.
Trong những năm qua, nhiều người trong số các cựu chiến binh miền Nam Việt Nam sẽ được cho phép di cư đến Hoa Kỳ theo những chương trình đặc biệt.

pxvi

Giống như Harry Huế Trần, được ban cho một cuộc sống mới ở đất nước của chúng ta, họ và gia đình họ đã có cơ hội để phát triển và thành công. Và tuy vậy, có nhiều việc phải làm. Bức màn tre vốn rơi trên Việt Nam trong quá nhiều năm sau năm 1975, làm cho những câu chuyện của họ bị lãng quên, ngay cả khi đất nước của chúng ta rơi vào việc chấp nhận một phiên bản viết tắt về chính cuộc chiến như đơn giản chỉ là một cố gắng được hướng dẫn lầm lạc bởi một quân đội không đủ năng lực và một chính phủ tham nhũng chống lại một hệ thống chính trị dân tộc chủ nghĩa.
Có thêm điều khác hơn đối với câu chuyện này, và nó đáng được nói đến. Không chỉ những người nầy mất mọi thứ –những căn nhà của họ, nghề nghiệp của họ, và tột cùng, là quốc gia họ– nhưng họ và những người đồng hướng của mình đã từng bị xuyên tạc bởi các sử gia và nhà bình luận chính trị vốn là những người hiểu lầm một cách quá đáng những lý do mà họ chiến đấu và tính chất ưu tú mà quá nhiều người trong số họ mang đến chiến trường. Sự hiểu lầm nầy vẫn ám ảnh chúng ta, và chúng ta sẽ không bao giờ đặt Chiến tranh Việt Nam trở thành tâm điểm thích hợp cho đến khi nó được sửa chữa.
Những câu chuyện về Harry Huế Trần và Phạm Văn Đính thông báo cho chúng ta, mức độ bi kịch thời Hy Lạp, về những cái giá phải trả của chiến tranh và sự đáng giá về lòng trung thành. Họ cũng mang vào trong thị trường văn học Mỹ một hiểu rất nhiều cần thiết về cái giá mà dân Việt Nam ở cả hai bên phải trả trên chiến trường vốn quá thường xuyên được đo lường một cách độc đoán bởi những thương vong của Mỹ. Qua những câu chuyện của hai người lính này, có lẽ chính những người dân Việt Nam, không kể đến những lịch sử cá nhân của họ, có thể bắt đầu hàn gắn những vết nứt vốn vẫn còn phân chia họ.

pxvii

Lời nói đầu : Chào mừng bạn đến Mỹ quốc

Dường như một ngày tốt lành để bắt đầu cuộc sống mới. Vào ngày 11 tháng Mười Một năm 1991 –Ngày Cựu chiến binh– máy bay chở Trần Ngọc Huế1 (là người dùng một biệt danh là Harry), cùng với người vợ và ba cô con gái của ông ta, chuẩn bị đáp xuống Phi trường Quốc gia ở Washington, DC. Sau những năm gánh chịu đau khổ và sự cố gắng và bốn ngày mệt mỏi vì cuộc hành trình, những người di dân Việt Nam cảm thấy một cảm giác như sờ thấy được của sự tắm gội giải thoát trên người khi họ gần đến đất nước mới và tự do của họ. Những hành khách khác trên máy bay ít chú ý đến ông Huế và gia đình ông ta, vốn là những người dường như chỉ là một phần nhỏ nhưng tiêu biểu của cuộc di dân rộng lớn của dân Việt. Sau khi tất cả những người trôi giạt của một cuộc chiến thất bại của Mỹ và một nền hòa bình thất bại của Việt Nam, một đám đông lớn, được gọi là “thuyền nhân,” đã đang nhập cảnh vào Hoa Kỳ theo một dòng ổn định trong những năm. Gia đình người Việt có giọng nói nhỏ nhẹ này chỉ là một nhóm khác của những người tị nạn — đủ may mắn để chạy trốn khỏi quốc gia bị đánh vào bằng nạn đói và sự bất hòa, nhưng đủ xui xẻo để phải bắt đầu một cuộc sống mới như là những người bị xã hội ruồng bỏ không một xu dính túi cách xa từ quê hương yêu dấu của họ.
Tuy nhiên nếu họ nhìn kỹ hơn, những hành khách cùng chuyến của ông Huế sẽ nhận thấy rằng ba ngón tay trên bàn tay trái của ông Huế bị mất, là một phần của những vết sẹo khủng khiếp của thể chất phải gánh chịu khốn khổ trong tám năm chiến đấu –những vết sẹo có được trong việc phục vụ miền Nam Việt Nam, một quốc gia không còn tồn tại. Bị giấu kín là những vết sẹo tinh thần của mười ba năm tàn bạo sau những song sắt trong những nhà tù Bắc Việt. Bước đi một cách chậm rãi vào trong một tương lai không chắc chắn, Trần Ngọc Huế và gia đình mình là trong số những người cuối cùng xuống máy bay. Hồi hộp chờ đợi chuyến đến của gia đình họ Tran là những người bảo trợ Mỹ của họ. Trung tá Thủy quân Lục chiến David L. Wiseman đã từng là người bạn thân và là cố vấn quân sự của ông Huế ở Việt Nam và đã từng lắng nghe một cách bất lực trên vô tuyến khi đơn vị của ông Huế bị bao vây và bị phá hủy tại Lào.
Trong khi ông Huế gánh chịu khốn khổ qua sự tàn phá của miền Nam Việt Nam và những năm dường như bất tận của sự cầm tù, ông Wiseman đã theo đuổi một cuộc vận động đơn độc và gần như vô vọng để tìm người đồng hướng bị lạc mất của mình trong quân ngũ.

pxviii

Khi ông Huế nổi bất lên trong nhà ga đông đúc, ông Wiseman biết rằng cuộc tìm kiếm người bạn mình kéo dài 20 năm của ông ta cuối cùng đã đi đến kết thúc. Ở tuổi 49, đối với Trần Ngọc Huế, Chiến tranh Việt Nam cuối cùng đã chấm dứt, nhưng cuộc đấu tranh để giành lại cuộc sống mình chỉ mới bắt đầu.
Một thập kỷ sau, một máy bay chở Phạm Văn Đính thực hiện tuyến đường cuối cùng của nó vào trong Phi trường Quốc tế Louis Armstrong, ở New Orleans. Ông Đính đi một mình và gần như không được chú ý trên cuộc hành trình dài từ Sài Gòn. Một doanh nhân thành công ở một Việt Nam hiện đại hóa, ông Đính ngày xưa là người đồng hương và người anh trong quân đội của Trần Ngọc Huế và cũng mang những vết sẹo từ những năm bảo vệ miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, gánh nặng tinh thần được mang bởi ông Đính thì có bản chất khác nhau nhiều, như là nguyên nhân của chuyến đến của Hoa Kỳ của ông ta. Nơi mà ông Huế đã đến nước Mỹ để tìm đường vào tương lai, thì ông Đính đang bay vào trong quá khứ bị tra tấn của riêng mình.
Chuyến đến tiểu bang New Orleans của ông Đính là trọng điểm thấp và không báo trước, không có cuộc hội ngộ vui vẻ ở phi trường. Sau khi được chào đón chân thành tại phi trường bởi một viện sĩ hàn lâm, ông Đính lái xe đi, vì chỉ muốn kể câu chuyện về vai trò của mình trong chiến tranh. Nhận thức được rằng câu chuyện của mình về lòng danh dự và dũng cảm của miền Nam Việt Nam sẽ tìm thấy sự chấp nhận ít ỏi ở Việt Nam ngày nay, ông Đính hy vọng rằng một vùng đất xa xôi bị loại bỏ từ đất nước của riêng mình sẽ chào đón cả anh ta và câu chuyện của mình và rằng ông ta có thể lấy lại một phần của tuổi thanh niên bị mất của mình.
Ông Đính cũng hy vọng với đến những người đồng hướng cũ của mình, và hướng tới điểm cuối đó, ông ta lên kế hoạch để phát biểu tại một cuộc hội tụ công cộng của những sinh viên và cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam. Ông ta hy vọng xây dựng những cầu nối giữa hai nước vốn đã từng chia sẻ một cuộc chiến bi thảm, chung. Khi tin tức lan rộng, tuy thế, rằng ông Đính sẽ đưa ra một bài phát biểu công cộng, một cơn bão lửa chống đối nổ ra, đặc biệt là trong phạm vi cộng đồng cựu chiến binh, vì ông Đính là không chỉ là một anh hùng gần như bị lãng quên ỡ miền Nam Việt Nam. Ông cũng đã từng đầu hàng toàn bộ đơn vị của mình trong trận chiến và đã đào thoát sang miền Bắc Việt Nam. Ông Đính là một kẻ phản bội. Khoảng ba mươi năm sau cuộc đào tẩu của mình, ông Đính dám hy vọng rằng Chiến tranh Việt Nam và những hành động của mình trong cuộc xung đột đã trôi đi vào lãnh vực lịch sử. Ông ta đã khá sai lầm. Ông Đính để lại một quốc gia vẫn còn rất đau đớn bởi chiến tranh mà qua đó nó sẽ không cho phép ông ta kể câu chuyện của mình. Ông ta bước vào một quốc gia vốn vẫn còn quá tổn thương bởi những hành động của mình đến nổi nó không muốn nghe câu chuyện của ông ta.
Trong khi chào đón cho Trần Ngọc Huế đến Mỹ phục vụ như là một kết luận giải tỏa một cuộc chiến vốn đã dai dẳng xa vời quá lâu, Phạm Văn Đính hoàn toàn bị mắc kẹt trong một quá khứ mà không phải ông ta hoặc cũng không là những người bạn cũ của mình có thể tha thứ. Lịch sử đã đi đến một vòng tròn hoàn thiện.

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Trung tâm Nghiên cứu Gray : gọi tắt là GRC (Gray Research Center), mang tên của Tướng Alfred M. Gray

pc 02_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 03_ Courtney và Mỹ Trang Frobenius : là những giấy tờ, văn kiện, tài liệu được sưu tầm và thu thập bởi Courtney L. Frobenius, là người từng phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam với cấp bậc Đại úy cố vấn (1970). Sau chiến tranh, ông ta thành lập công ty Du lịch Việt Nam-Đông Dương vào năm 1994 và mang nhiều cựu chiến binh Hoa Kỳ trở lại thăm Việt Nam. Sau lần về Việt Nam 1997, ông ta cưới Trần Mỹ Trang, giáo sư tiếng Nga.

pc 04_ Trung đoàn : vào khoảng 3.000 đến 5.000 người. Tuy nhiên, với chức vụ Đại tá của ông Phan Văn Đính đáng lý ra chỉ huy cấp tiểu đoàn vốn vào khoảng 300 đến 1.300 người

pc 05_ QĐBV : Quân đội Bắc Việt.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s