Phần 11 : Kết luận

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p298

Phần 11 : Kết luận

Cuộc sống của Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế bị thống trị và lẫn được định rõ bởi Chiến tranh Việt Nam. Việc chọn lựa những con đường tương tự, anh Đính và anh Huế đi theo một chủ nghĩa quốc gia phi cộng sản được khích động phần lớn bởi giá trị cơ bản của người Việt Nam: gia đình. Được thúc đẩy bởi những người cư ngụ của ơnhiếu, cũng như bởi lòng sùng kính gần như một vị gia trưởng cho một quốc gia non trẻ của họ, hai người bạn đồng hướng chiến đấu tận lực và thành công trong phạm vi khung cảnh của một cuộc chiến tranh bị thống trị bởi Mỹ, không phải là miền Nam Việt Nam, về những nhu cầu quân sự và chính trị. Mặc dù anh Đính và anh Huế nhận ra, cũng như nhiều sĩ quan chiến đấu khác của Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam, rằng cuộc chiến tranh và lẫn các hệ thống miền Nam Việt Nam thiếu hoàn thiện, họ tiếp tục chiến đấu, qua việc phơi bày một mức độ của Chủ nghĩa Khắc kỷ và khả năng phục hồi nhanh sức mạnh vốn là trong số các dấu hiệu xác nhận phẩm chất của lịch sử vũ lực Việt Nam. Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế là hai chiến binh Việt Nam, theo một truyền thống tuyệt hão của những tổ tiên họ.
Những câu chuyện cuộc sống của Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế cũng phản ảnh một Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) vốn là một cơ sở phức tạp, mà qua đó, mặc dù tất cả quá thường xuyên hoặc bị bỏ qua hoặc giữ vai như là một nạn nhân không may của lịch sử ở Tây phương, đã đóng một vai trò không thể thiếu trong Chiến tranh Việt Nam. Sự nghiệp có chân giá trị của anh Huế, tính từ những cố gắng của anh ta chiếm lại thành phố Huế vào năm 1968 đến những khoảnh khắc cuối cùng của anh ta nắm quyền chỉ huy trong suốt Chiến dịch Lam Sơn 719, tượng trưng một người giỏi tốt nhất của QĐVNCH: cống hiến, danh dự, và nhiệm vụ. Trong khi anh Đính cũng chiến đấu tuyệt vời, từ việc thành lập đội Hắc Báo đến Căn cứ Hỏa lực Tun Tavern, sự kết thúc của sự nghiệp mình dường như chỉ tượng trưng cho những đặc điểm mẫu chung được gán cho QĐVNCH: hèn nhát và dối trá hai lòng. Những hành động của anh Đính và anh Huế có vẻ đơn giản trên bề mặt, nhưng một sự hiểu biết đầy đủ hơn về bối cảnh của những hành động của họ khi sự nghiệp của họ trong QĐVNCH(pc 01) đi đến sự kết thúc, cho thấy những bài học sâu sắc về QĐVNCH và cuộc chiến tranh của nó.
Trong phạm vi một khung cảnh rộng lớn hơn, mặc dù tính ngoan cường được bày tỏ bởi 2/2(pc 02) của anh Huế trong suốt Chiến dịch Lam Sơn 719 làm nổi bật những đặc điểm tốt nhất của QĐVNCH, sự tiêu hủy của một tiểu đoàn cũng tượng trưng cho sự xây dựng chiến tranh và QĐVNCH của Mỹ bằng sự tồi tệ nhất của họ. Do một phần của các vấn đề chính trị Mỹ, hoạt động diễn ra hai năm quá trễ,

p299

và QĐVNCH, sau khi đã thực hiện chức năng lâu dài như là một thuốc hỗ trợ của chiến tranh Mỹ, đã chứng minh là đang thốn về chiến thuật và lẫn chính trị. Không có các vị cố vấn, kém sự hỗ trợ hơn nhiều của các lực lượng chiến đấu của Hoa Kỳ, QĐVNCH chứng tỏ rằng nó chưa sẵn sàng để gồng vai chịu lấy gánh nặng của chiến tranh một mình, tuy nhiên việc rút lui của các lực lượng Hoa Kỳ chỉ gia tăng tốc độ. Những vấn đề khó khăn khác nhau tính từ việc sửa sửa đổi vá víu về chiến thuật bởi Tổng thống Thiệu đến sự bất phục tùng toàn bộ bởi các vị tướng lãnh quyền lực và bị thúc đẩy về chính trị, cũng đã chứng tỏ rằng nhịp độ cải cách về quân sự và chính trị của miền Nam Việt Nam đã rất là quá chậm chạp.
Sự kết thúc của anh Đính, cũng thế, thì không hề đơn giản, và phù hợp với sự hiểu biết rộng hơn về Chiến tranh Việt Nam. Nhà sử học Robert Brigham đã từng lập luận rằng ban lãnh đạo của miền Nam Việt Nam không cung cấp một đặc tính dân tộc vốn được đòi hỏi nhằm hỗ trợ cho một cuộc chiến tranh lâu dài và gian khổ. Ông ta cho rằng:

Theo thời gian, QĐVNCH tạo ra một nền văn hóa địa phương vốn tập trung ý nghĩa chiến tranh vào sự sống còn của gia đình. Những người phục vụ trong quân đội đi đến một sự hiểu biết được chia sẻ rằng chiến tranh thì không còn là “vấn đề quốc gia” nhưng là về một cái gì đó nhỏ nhoi cơ bản hơn. Nhờ đến những truyền thống văn hóa và lịch sử, QĐVNCH xác định lại ý nghĩa của chiến tranh. Điều gì đó giữ nó với nhau trong sự đối mặt với những khó khăn rất lớn là một niềm tin đang tăng trưởng trong số các binh lính mà nghĩa vụ quân sự thực sự là một cách nhằm gia tăng những cơ hội chiến thắng mà các gia đình cá nhân của họ sẽ sống còn nguyên vẹn… Tuy, hầu hết các binh sĩ chấp nhận (và tiếp tục chấp nhận) một tiếng tăm không thuận lợi như là một cái giá nhỏ để trả cho việc hoàn thành mục tiêu chính của họ: việc cứu lấy những gia đình của họ.1

Theo thời gian, những người của anh Đính, những người lính dài đang gánh chịu khốn khổ lâu dài của QĐVNCH,(pc 01) trở nên thậm chí quan trọng hơn đối với anh ta so với gia đình máu mủ của mình. Trong bối cảnh đó, sự quyết định của anh Đính nhằm cứu lấy gia đình của những người lính của anh ta và lẫn nhằm đảm bảo tương lai những gia đình của riêng họ, có thể được nhìn thấy như là một hành động rất là người Việt Nam.
Những sự kiện vốn dẫn đến sự bại trận của anh Đính trên đỉnh Doanh trại Carroll cũng là một phần của di sản thuộc về một cuộc chiến tranh phân chia. Một cố gắng nhằm bù đắp cho sự ra đi của các lực lượng Mỹ khỏi Khu phi Quân sự và một quyền chỉ huy cao cấp bị chính trị hóa của QĐVNCH kết hợp trong việc tạo ra Sư đoàn 3 QĐVNCH thiếu hoàn thiện một cách sâu sắc. Sự quyết định để chỉ định một sự hình thành mới nhằm phòng thủ một trong những khu vực nguy hiểm nhất của miền Nam Việt Nam, những hớ hênh về mệnh lệnh ở Quân đoàn I, và những vấn đề khó khăn về việc tiếp vận và những thông tin liên lạc, tất cả quy tụ lại khiến cho anh Đính và ban chỉ huy của mình ở trong một tình huống gần như vô vọng. Không giống như anh Huế khi phải đương đầu với những hoàn cảnh tương tự buộc phải đối mặt,

p300

tuy thế, anh Đính chọn lựa để đầu hàng và rời bỏ hàng ngũ. Mặc dù về một vài phương diện nào đó, những hành động của anh ta có thể hiểu được, anh Đính cuối cùng từ bỏ sự nghiệp của những người đồng ngũ trong QĐVNCH của mình. Trong những năm vốn theo sau, nhiều người khác trong phạm vi QĐVNCH đi đến cùng một kết luận rằng anh Đính đi đến tận cùng trong năm 1972: cuộc chiến tranh của họ đã bị bại. Một số đổ xô ra và bỏ chạy; những người khác tiếp tục chiến đấu đến một kết thúc đắng cay, nhưng một số ít người đi theo con đường của anh Đính –một con đường của một linh hồn tan vỡ mà qua đó đối với hầu hết các cựu chiến binh QĐVNCH nhạo báng sự hy sinh của những người vốn đã ngã xuống cho sự nghiệp của đất nước họ.
Những định mệnh vốn xảy đến với anh Đính và anh Huế, trong những hậu quả thuộc phần lớn về bản chất rối loạn chức năng của quân đội mà họ phục vụ, là triệu chứng về bản chất thiếu hoàn thiện của Chiến tranh Việt Nam như là một khối. Một trong những sai lầm chủ yếu của Mỹ là tiến hành cuộc chiến tranh qua các phương pháp truyền thống, theo Tây phương. Việc tiếp nhận một vai trò hàng đầu trong cuộc xung đột vào năm 1955, Hoa Kỳ nói chung và Nhóm Cố vấn và Hỗ trợ Quân sự nói riêng đã thất bại khi xem cuộc chiến tranh đang đến như là một cuộc nổi dậy và thay vào đó làm việc để xây dựng mảnh vỡ của Quân đội Việt Nam trở thành một QĐVNCH của các sư đoàn bộ binh tiêu chuẩn được dựa trên mô hình của Mỹ. Những cố gắng nhằm thực hiện việc phản công cuộc nổi dậy có hiệu quả để giành được những “trái tim và tâm trí” của dân cư miền Nam Việt Nam đang ngưng lại và thường chỉ bắt nguồn từ những sĩ quan có chức vụ thấp hơn. Hệ thống quân sự Hoa Kỳ thì chậm chạp thích ứng và được lãnh đạo vào lúc quan trọng nhất của nó bởi một vị Tư lệnh của Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự Hoa Kỳ cho Việt Nam vốn là người cảm thấy “nhàm chán” bởi công việc bình định. Như kết quả là, việc hứa hẹn những kế hoạch phản công cuộc nổi dậy và những việc phát triển, như là kinh nghiệm của Phạm Văn Đính ở huyện Quảng Điền, đã đi vào quên lãng cho đến khi có sự xuất hiện mệnh lệnh của ông Abrams, khi đó mệnh lệnh đã quá muộn màng. Dựa vào những phương thức truyền thống của chiến tranh và hỏa lực của Mỹ, QĐVNCH không được gắn liền với những thực tế xã hội và kinh tế của Việt Nam hoặc cũng không được chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc chiến tranh mà nó thực sự phải đối mặt.
Chiến thắng quân sự gây-tiêu-hao-sinh-lực-đề-kháng được che giấu và lẫn làm trầm trọng thêm những vấn đề cơ bản vốn xác định nổ lực chiến tranh liên minh. Sự tự tin tuyệt đối vào khả năng của mình, những lực lượng Hoa Kỳ đang đến cốt yếu đẩy mạnh QĐVNCH sang một bên trong một cố gắng tiêu diệt mối đe dọa của cộng sản chỉ cần một mình. Chính sách này chứng minh là thiển cận. Do trong phần đối với những giới hạn được đặt vào việc sử dụng lực lượng quân sự vì những lý do địa dư chính trị, một sự leo thang tương ứng của cuộc xung đột bởi miền Bắc Việt Nam, và bản chất kiên quyết của cuộc nổi dậy của Việt cộng, những người Mỹ không thể hy vọng chiến thắng bằng các phương pháp truyền thống của chiến tranh một mình. Niềm hy vọng tốt nhất cho sự thành công thay vì nằm trong một sự tương quan sinh tồn của những cố gắng của Hoa Kỳ và QĐVNCH và việc tạo ra một miền Nam Việt Nam vốn có khả năng bảo đảm sự sống còn của riêng mình.
Tuy nhiên, khi cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam diễn tiến,

p301

mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và miền Nam Nam Việt Nam vẫn còn thiếu hoàn thiện một cách nguy hại khi những người Mỹ và QĐVNCH chiến đấu hai cuộc chiến tranh khác nhau trong cùng một đất nước. Sự cải thiện trong phạm vi hệ thống song đôi một lần nữa đến từ những sĩ quan ở chiến trường, vốn là những người giữ những cấp bậc thấp hơn và vốn là những người phục vụ tại mối quan hệ của sự tương quan sinh tồn giữa Hoa Kỳ và QĐVNCH. Cả những vị cố vấn của Mỹ và Úc, cùng với các đối tác Việt Nam của họ, làm việc cực nhọc trong tình trạng gần như nặc danh để đảm bảo một tổng hợp hiệu quả của những cố gắng và khả năng của Mỹ và QĐVNCH. Những sự cố gắng của một hệ thống cố vấn, tuy nhiên, luôn luôn vẫn là thứ cấp đối với sự dựa vào sức mạnh vũ lực theo truyền thống hơn của Mỹ. Những sự cố gắng khác cho việc đạt được một sự thống nhất cố gắng thực sự ở Việt Nam, điểm hay nhất được chứng minh bởi những thành công đạt được bởi Lữ đoàn 2 thuộc Binh chủng Dù 101 của Đại Tá John Cushman trong sự kết hợp với Sư đoàn 1 QĐVNCH ở huyện Quảng Điền, chưa bao giờ thực sự sự được hệ thống hóa và đến quá muộn không thể thay đổi một thực tế chiến lược của một cuộc chiến tranh bị chia hai.
Những vấn đề đặc hữu trong phạm vi cấu trúc của nhà nước miền Nam Việt Nam và quân đội làm suy yếu thêm hơn nổ lực chiến tranh liên minh. Ban lãnh đạo của cả nhà nước miền Nam Việt Nam và QĐVNCH(pc 01) là những người nắm giữ quyền lực từ chế độ thực dân Pháp và tất cả quá thường xuyên quân tâm trước tiên trong việc nắm được và sau đó duy trì quyền lực cá nhân. Với việc phục vụ trung thành về chính trị như là một người nắm toàn quyền đáng giá cuối cùng trong phạm vi cấp bậc cao hơn trong quân ngũ của cấu trúc quyền chỉ huy của QĐVNCH, có ít động lực thúc đẩy cho việc cải cách quân sự và xã hội sâu rộng. Bị kiềm chế khi họ nằm trong niềm tin của Mỹ về sự hiệu quả của chiến thắng quân sự theo truyền thống, quá ít những người lãnh đạo của miền Nam Việt Nam nhìn thấy một cơ sở hợp lý có sức thuyết phục cho việc thực hiện một sự biến đổi đau đớn của những hệ thống rối loạn chức năng về chính trị và quân sự của họ.
Cả những người Mỹ và những thân chủ miền Nam Việt Nam của họ cảm thấy tự tin về chiến thắng, và như là một kết quả, không một đồng minh nào dành đủ thời gian hoặc cố gắng cho việc tạo ra một miền Nam Việt Nam hoàn toàn có khả năng bảo vệ chính nó. Hầu như, Hoa Kỳ theo đuổi chiến tranh của riêng mình ở Việt Nam, trong khi ban lãnh đạo của miền Nam Việt Nam thì quá mau chóng cho phép những thành công trên chiến trường của Mỹ để che đậy những điểm yếu dài hạn bên trong phạm vi xã hội và quân đội của riêng nó. Sự dựa vào những phương pháp truyền thống về chiến tranh của Mỹ, khi được kết hợp với sự thất bại của ban lãnh đạo miền Nam Việt Nam để tiến hành những cải cách hệ thống, đã kết hợp với nhau để tạo ra một QĐVNCH mà qua đó phụ thuộc vào sự hỗ trợ hậu cần và hỏa lực của Mỹ. Bị xuống hạng đến một vị trí quan trọng thứ cấp, QĐVNCH thực sự hoạt động khá tốt trong phạm vi đề mục của chiến tranh, qua việc giành được những chiến thắng đáng kể bên cạnh những người đồng minh Mỹ của nó,

p302

từ việc chiếm lại Kinh thành ở thành phố Huế đến những trận chiến ở thung lũ ng A Shau. Tuy nhiên, khi đội quân Mỹ bắt đầu rút lui khỏi cuộc xung đột, những khiếm khuyết của cách thức chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và sự thất bại của giới tinh hoa về chính trị và quân sự của miền Nam Việt Nam thực hiện việc cải cách cần thiết đã trở nên rõ ràng một cách thảm hại.
Bất chấp những cố gắng hết mình của một cốt lõi cải thiện của những sĩ quan trẻ Hoa Kỳ và QĐVNCH và một nổ lực muộn màng về phần của Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự cho Việt Nam, những kết quả của sự hợp lưu sức mạnh của chủ thuyết truyền thống quân sự của Mỹ và tính khó chữa được hệ thống của miền Nam Việt Nam thì hiển hiện rất rõ trong cả Chiến dịch Lam Sơn 719 và cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh . Mặc dù trong cả hai trường hợp, những quân nhân của QĐVNCH chiến đấu một cách dũng cảm, những thất bại về quyền chỉ huy của QĐVNCH, khi được kết hợp với việc rút lui của những lực lượng chiến đấu của Hoa Kỳ, đã báo trước sự bại trận của miền Nam Việt Nam. Ở mức độ cao nhất, Chiến dịch Lam Sơn 719 và cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh chứng tỏ rằng, không nói đến hỏa lực và kích thước của nó, QĐVNCH thì chưa sẵn sàng không phải vể chiến thuật hoặc không phải vể chiến lược để đối mặt với Quân đội Bắc Việt (QĐBV) mà không cần sự giúp đỡ đáng kể của Hoa Kỳ. Ở nức độ thấp nhất, giữa cuộc giao chiến trên hai đỉnh đồi khi các đơn vị của họ đang bị tiêu diệt, Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế phải đối mặt theo những cách rất cá nhân, những nhánh thất bại của cả Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam trong lúc chiến tranh.
Trong khi đó là điều đúng để nhớ đến Chiến tranh Việt Nam như là một tiêu biểu của vô số những thiếu sót của sự tưởng tượng về quân sự và chính trị trong cả Mỹ và miền Nam Việt Nam, một sự hiểu biết về cuộc sống của anh Đính và anh Huế cho thấy một sự thật xa hơn về cuộc xung đột. Đối với tất cả những thất bại chiến lược về phần của Hoa Kỳ, và đối với tất cả những thất bại hệ thống về phần của miền Nam Việt Nam, sự liên minh giữa các lực lượng của Hoa Kỳ và QĐVNCH trong cuộc xung đột đạt được những thành công đáng kể. Mặc dù hàng ngũ cấp trên của QĐVNCH(pc 01) vẫn còn thiếu sót sâu sắc, các cấp thấp hơn của QĐVNCH, là hình ảnh được thu nhỏ của anh Đính và anh Huế, đã chiến đấu với lòng dũng cảm trong những năm tháng. Và, trong khi cấu trúc chiến lược của cuộc chiến tranh dựa trên những giả định sai lầm, sự liên minh giữa Mỹ và QĐVNCH thường thắng hơn Việt cộng và QĐBV(pc 03) khoác lác trong trận chiến và đi đến gần chiến thắng quân sự một cách trêu ngươi trong năm sau cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân.
Chiến tranh Việt Nam gởi lời cảnh cáo nghiêm trọng liên quan đến việc đặt kế hoạch của lực lượng quân sự vào trong các cuộc xung đột nội bộ phức tạp của các quốc gia khác. Mặc dù hỏa lực và việc gây tiêu hao gần như đã thành công trong việc có được một chiến thắng quân sự theo nghĩa truyền thống ở Việt Nam, nó vẫn còn nghi ngờ liệu người Mỹ đang nao núng sẽ hoặc một nhà nước miền Nam Việt Nam rối loạn chức năng đã sẽ có thể chuyển đổi chiến thắng chiến lược trở thành một thành công hệ thống dài hạn.

p303

Thêm vào sự thống trị chiến thuật, Chiến tranh Việt Nam đòi hỏi một sự tương quan sinh tồn đích thực và sự thống nhất cố gắng về phần của những lực lượng Hoa Kỳ và QĐVNCH và sự dâng hiến tương ứng cho nhiệm vụ và ý muốn chấp nhận sự thay đổi về phần của chính phủ miền Nam Việt Nam. Nguyên liệu cho sự thành công nắm trong tay: những chiến binh dũng cảm và các nhà lãnh đạo bên trong cả QĐVNCH và quân đội Mỹ, sự ưu thế về hỏa lực, và các vị cố vấn tài năng. Một cấu trúc quân sự và chính trị hợp tác hơn có khả năng tốt hơn trước tiên về sự nhận thức rõ và sau đó học hỏi từ những thiếu soát của nó có thể đã tạo nên các chương cuối cùng về cuộc sống của Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế rất khác nhau. Cuối cùng, mặc dù, những hành động vũ lực tuyệt vời và những kết thúc bi thảm của sự nghiệp quân sự của anh Đính và anh Huế đứng như là lời chứng cho cả những điểm mạnh to lớn và những điểm yếu tương đương về cuộc chiến tranh kết hợp gi ữa Mỹ và QĐVNCH trong việc bảo vệ miền Nam Việt Nam.

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 02_ 2/2 : Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 2.
pc 03_ QĐBV : Quân đội Bắc Việt.

===========================================

Tiếc thương cho những Chiến sĩ của QĐVNCH
những Anh hùng Tiết tháo ngày 30/04/1975

(Thiếu tướng Phạm Văn Phú: 1927-1975)

    

(Chuẩn Tướng Trần Văn Hai: 1925-1975)
(Chuẩn tướng Lê Văn Hưng: 1933-1975)

   

(Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ: 1933-1975)
(Chuẩn tướng Nguyễn Khoa Nam: 1927-1975)

    

(Trung tá Nguyễn Văn Long)
(Ðại tá Hồ Ngọc Cẩn: 1940-1975)

(Đại tá Đặng Sĩ Vinh)

(Trung tá Nguyễn Văn Long, Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam, tự sát
dưới chân tượng đài Chiến sĩ Biệt động, ngay trung tâm Sài Gòn)

Advertisements

One thought on “Phần 11 : Kết luận

  1. Phần trả lời của tôi có 2 phần:
    1/ Nội dung của trang nhà;
    a/ Xin dùng hồ sơ lớn hơn cho hình ảnh + bản đồ. Không nhìn rõ chi tiết; địa danh trên bản đồ đọc không được.
    b/ Những người ở miền Nam đã quá quen với danh từ “Mùa hè đỏ lửa” để chỉ cuộc tấn công của CS năm 1972. Trang nhà dùng lễ Phục sinh không sai, nhưng rất xa lạ với độc giả.
    c/ Trang nhà chắc chắn được đánh máy trên máy vi tính (computer), việc dùng chữ tắt giúp việc đánh máy. Sau đó hãy dùng search/replace để thay các chữ viết tắt. Hiện nay đọc các chữ tắt, độc giả không nhớ chúng là gì.
    2/ Phần nội dung:
    a/ Ai lo cho quốc gia nấy. Mỹ vì bao vây chủ nghĩa CS, nên giúp miền Nam. Khi tách được Tàu phù + thị trường 1 tỷ người thì họ bỏ rơi miền Nam. Thân phận nhược tiểu trên bàn cờ thế-giới. Gương Đài Loan còn đó. Họ đứng vững dù bị tống ra khỏi ghế của 5 thành viên hội đồng bảo an.
    b/ Tất cả do vận nước. Dù miền Nam có các lãnh tụ xứng đáng thì phải chống chọi đám “Ta đánh đây là đánh cho Liên-Xô, Trung-quốc” cho đến năm 1989 khi bức tường Bá-Linh sụp đổ thì cuôc chiến mới tàn lụi!
    c/ Rất có thể đây là âm mưu của Tàu phù, mà họ đã gần thành công. Tôi muốn nói tới Hồ-Tập-Chương. Xác định hư thực chỉ có thể được làm bằng thử nghiệm ADN của cái xác thối ở Ba đình, và thân phụ của Nguyễn tất Thành hiện được chôn ở miền Nam. Việc này không thể làm được khi còn CS. Xin mọi người đọc loạt bài:
    – Những sự thật không thể chối bỏ, và
    – Những sự thật cần phải biết ở trang “DânLàmBáo” của Đặng chí Hùng.
    Dùng phần search ở cuối trang.
    d/ Việc các sĩ quan cấp Úy, Tá xuất sắc nhưng các tướng lãnh thì quá tệ; trừ một số trên đâu ngón tay có khả năng + tư cách đã được các chí báo Mỹ Star & Stripes mà tôi đọc được khi còn ở quê nhà công nhận.
    e/ Một phần cũng do lỗi của dân tộc mình: Hãy xem các phóng viên của ABC, CBS, … phải chùm khăn khi tới các xứ Hồi giáo thì biết uy của họ.

    Đây là một phần bài học Mỹ học được từ cuộc chiến Việt-Nam + không cho phóng viên xông xáo ra chiến trường để có thể ngăn chặn kịp thời những sự việc không có lợi cho tuyên truyền.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s