Phần 10-2/2 : Những chuyến Hành trình về Quê nhà

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p285

phải làm hết sức mình để “quên đi mọi thứ và cùng làm việc với nhau vì tương lai của dân tộc.”
Bất chấp quá khứ của anh Đính, anh ta cảm thấy rằng anh ta đã làm tốt trong vị trí giảng dạy và thậm chí phục vụ một cách vinh dự. Trong khi anh ta ước rằng không có trại cải tạo nào cả, những trại cải tạo là một thực tế của đời sống Việt Nam. Những người anh em xưa kia thuộc QĐVNCH(pc 01) của anh Đính vốn là những người được đưa đến các trại ở nơi mà anh ta làm việc, có một mục đích đơn giản; hoàn tất việc cải tạo của họ càng nhanh càng tốt và trở về với gia đình của họ. Trong tâm trí của mình, anh Đính giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho mục đích đó. Ngoài ra, anh Đính làm điều gì có thể để bớt khốn khổ hơn cho cuộc sống của những tù nhân của các trại mình, và là công cụ trong việc sắp xếp cho những tù nhân để có được những dịp đi ngang để trải qua một vài thời gian quý báu nào đó với gia đình gần đó của họ.
Việc đặt anh Đính phụ trách công việc cải tạo những người bạn đồng hướng một thời của mình chắc chắn là một thử nghiệm về phần của những người đồng hương cộng sản mới tìm thấy của anh Đính và có thể được xem như là một hình thức tra tấn tinh tế và lẫn một trò đùa đau buồn không có lợi cho của một kẻ phản bội QĐVNCH. Thời gian trải qua như là một giảng viên tại các trại cải tạo là một giai đoạn đặc biệt là đen tối cho anh Đính, khiến anh ta nghi ngờ sự khôn ngoan về quyết định từ bỏ hàng ngũ của mình. Bị chèn một cách không thoải mái giữa thế giới quá khứ của mình và tương lai mà anh ta đã chọn, tuy thế, anh Đính làm hết sức mình như anh ta có thể, để hợp lý hóa vị trí không thích hợp của mình bằng cách làm điều gì mà anh ta có thể, để làm việc hướng tới một sự hòa hợp hòa giải cho Việt Nam. Bằng cách phấn đấu cho một ngày khi mà các cựu chiến binh của cuộc nội chiến Việt Nam sẽ sống với nhau trong sự hiệp nhất và hòa bình, anh Đính có khả năng đặt những hoạt động của mình vào trong các trại cải tạo trong cùng một quan niệm như anh ta có, cả việc đầu hàng và đào tẩu của mình. Anh ta đang cố gắng cứu lấy những mạng sống của những người dưới sự chăm sóc của mình.
Sau khi phần việc chỉ sáu tháng như là một giảng viên trong các trại cải tạo, anh Đính được chuyển đến một vị trí mới. Trong thế giới mới của Việt Nam, các quan chức quân sự phải phục vụ gần như thực sự cùng với tất cả những người được bổ nhiệm về chính trị dân sự, và, như là một kết quả của sự kết nối chặt chẽ của mình với khu vực, anh Đính được lựa chọn để phục vụ như là Phó Trưởng phòng thể dục thể thao của tỉnh Thừa Thiên, dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Tuy, vốn là người một cách trùng hợp đã từng là vị giáo viên tiếng Anh của anh Đính ở trường trung học. Anh Đính chẳng bao lâu đi đến yêu thích công việc, mà qua đó anh ta đã nhanh chóng phát hiện ra là một trong những cách hàn gắn vết thương, một khái niệm vốn bây giờ là trung tâm cho những hy vọng của anh ta cho một tương lai. Trong việc tập trung vào các môn thể thao, anh Đính học được rằng “người ta kết bạn và có niềm vui lớn lao,” một cái gì đó mà anh ta tin tưởng, vô cùng cần thiết trong một quốc gia bị chiến tranh tàn phá của mình.
Với một khoảng gián đoạn ngắn, anh Đính phục vụ ở vị trí Phó Giám đốc thể thao trong gần một thập kỷ. Những nhiệm vụ trong vị trí mới của mình được thay đổi

p286

và bao gồm việc xây dựng một sân vận động đá banh mới, có đèn vốn tạo chỗ ngồi cho 20.000 khán giả, cho phép các công dân của thành phố Huế thưởng thức một vài trong số những cuộc đấu thể thao ban đêm lần đầu tiên trong cả nước. Văn phòng cũng tiến hành các chiến dịch bồi dưỡng sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là không khuyến khích những tệ nạn uống rượu và hút thuốc quá độ. Cuối cùng, chính là văn phòng của anh Đính giám sát tất cả những khía cạnh đa dạng về thú giải trí công cộng, từ việc đặt để những cái bàn chơi ping-pong trong công viên đến những thực tế về việc thành lập các chương trình giáo dục về thể chất trong tất cả những trường học của tỉnh. Đối với anh Đính, việc dự phần vào niềm vui của những trận đấu thể thao và làm việc với những trẻ em của thành phố sau quá nhiều năm chiến tranh thì giống như một cách điều trị về thể chất. Đã qua rồi những nghi ngờ bị thúc đẩy trên anh ta bởi giai đoạn của mình trong các trại cải tạo; đó là một trong những lần hạnh phúc nhất trong cuộc đời của anh Đính.(pc 06)

c- Cam-pu-chia :

Trong năm 1978, vào lúc giữa khoảng thời gian của việc tổ chức xây dựng sân vận động đá banh mới cho khu vực thành phố Huế, anh Đính tiếp nhận một phái đoàn sĩ quan quân đội vốn là những người đặt ra một câu hỏi thú vị: theo quan điểm của anh, một phương pháp tốt nhất sẽ là như thế nào để khởi động một cuộc xâm lược Cam-pu-chia? Anh Đính, giống như hầu hết người Việt Nam, nhận thức được vấn đề kình địch biên giới vốn đã sủi bọt sôi giữa những người cộng sản Việt Nam chiến thắng và những người đồng minh Khmer Đỏ Cam-pu-chia một lúc nào đó của họ. Chế độ Pol Pot, vốn đã tung ra những nổ lực diệt chủng để tẩy rửa sạch dân cư riêng của mình thuộc “những thành phần không cần đến,” cũng đã từng nhúng tay vào những hành động tàn bạo chống lại những người thuộc nhóm thiểu số người Việt ở Cam-pu-chia và đã từng tàn phá những khu vực biên giới vốn được tuyên bố chủ quyền bởi Việt Nam. Sự căng thẳng đang âm ỉ giữa hai nước láng giềng Đông Dương cũng là một khía cạnh buộc phải chấp nhận về mối tư thù đang diễn ra giữa hai người khổng lồ cộng sản. Trung Quốc nhìn thấy Cam-pu-chia như là nhà nước của khách hàng của họ và xem Việt Nam ngày càng như một con chốt về địa hình chính trị của Liên Xô.
Anh Đính trả lời những người quân sự cấp trên của mình một cách trung thực và ủng hộ một cuộc công kích bằng không vận vào Phnom Penh trong biến cố chiến tranh. Dù có hay không sự góp ý rất thuyết phục của anh Đính tạo bất kỳ ảnh hưởng nào trên việc lên kế hoạch tổng thể, vào tháng Mười Hai năm 1978, những người Việt Nam, bằng cách sử dụng 6 đội quân cơ giới có vũ khí kết hợp theo kích thước quân đoàn phối hợp, cùng với một cuộc công kích của xe thiết giáp lội nước có kích thước sư đoàn, dọc theo bờ biển và cuộc không vận đông đảo của những quân bộ đội đến một Bãi đáp bên ngoài thủ đô Cam-pu-chia, đã nhanh chóng nghiền nát sự đề kháng của Cam-pu-chia(pc 07) và chiếm giữ Phnom Penh trong tít tắt, một chiến dịch giống như cuộc tấn công ồ ạt chớp nhoáng.6

p287

Về sự kiện như thế nào là việc sử dụng chiến thuật không vận to lớn lần đầu tiên của các lực lượng cộng sản ở Việt Nam, anh Đính cho biết rằng có rất nhiều trực thăng miệt mài những đường bay mà qua đó một số trong những đồng nghiệp của anh ta nói đùa rằng những người Mỹ ắt hẵn đã trở lại trận chiến.

(Chiến tranh Việt-Cam-pu-chia : 12/1978 – 1/1979)

Trong vòng một vài ngày, các lực lượng Việt Nam chiến thắng lập nên một nhà cầm quyền phục tùng mệnh lệnh ở Phnom Penh và bắt tay vào sứ mệnh săn lùng và tiêu diệt những tàn dư của chế độ Khmer Đỏ. Mặc dù cuộc xung đột không lôi cuốn anh Đính một cách trực tiếp, nó làm thiệt hại to lớn đến những hy vọng của anh ta cho một tương lai Việt Nam thịnh vượng và hòa bình. Những người đi theo Pol Pot, được chống lưng bởi các nhóm khác nhỏ hơn, tiếp tục chiến dịch du kích cấp thấp chống lại những người Việt trong gần một thập kỷ. Cuộc chiến đang tiếp tục buộc Việt Nam giữ lại những lực lượng vũ trang đáng kể ở Cam-pu-chia và góp phần làm tiêu hao nền kinh tế quốc gia của các nguồn tài chánh rất cần thiết. Cuối cùng, việc chiếm đóng Cam-pu-chia của Việt Nam làm thiệt hại một cách chí tử bất kỳ cơ hội nào mà Việt Nam sẽ hưởng được sự nối lại mối quan hệ hữu nghị mau chóng với Hoa Kỳ. Việt Nam bây giờ tìm thấy chính mình bị tiêu hao bởi cuộc chiến tranh kéo dài chống lại các lực lượng không chính quy, trong khi hậu quả của sự cô lập còn tiếp tục từ Tây phương đã phá hủy cái gì đó của sự tiến triển ít ỏi về kinh tế mà qua đó đã được tạo nên trong những năm khó khăn kể từ khi sự sụp đổ của Sài Gòn.
Tác động tức thời nhất về việc chiếm lấy Cam-bu-chia của Việt Nam, tuy thế, là một sự nhắc nhớ khó chịu về quá khứ xa xôi của Việt Nam. Vào ngày 17 tháng Hai năm 1979, 100.000 chiến binh của Trung Quốc xâm lược(pc 08) các tỉnh phía bắc của Việt Nam và cuối cùng chiếm giữ thị xã Cao Bằng và Lạng Sơn. Những lực lượng tỉnh của Việt Nam, tuy thế, giữ vững vị trí của riêng mình trong một địa hình khó khăn, miền núi mà họ biết quá rõ. Sau khi mất nhiều như 20.000 cái chết, Trung Quốc tạm dừng bước tiến của họ, sau khi di chuyển hướng về vào trong Việt Nam đến một chiều sâu chỉ là 60 km, và tàn phá các vùng nông thôn Việt Nam vốn đã rơi vào quyền kiểm soát của họ.

(Chiến tranh biên giới Việt-Trung lần thứ nhất : 17/02 –18/03/1979)

Khi Việt Nam chuẩn bị sẵn sàng hành động cho một cuộc chiến tranh to lớn khác, anh Đính được gọi phục vụ hoạt động ở thành phố Huế và được yêu cầu tham dự hội nghị của các vị lãnh đạo cao cấp vốn có ý định phát triển một sự đánh giá chiến thuật về cuộc xâm lược của Trung quốc, một hội nghị được dẫn đầu bởi vị chỉ huy huyền thoại của QĐBV, Võ Nguyên Giáp. Khi hội nghị vẫn còn kéo dài, Tướng Võ Nguyên Giáp quay sang anh Đính và bày tỏ rằng, kể từ lúc khởi đầu cuộc xâm lược của Trung Quốc, nhiều sĩ quan cũ của QĐVNCH và những hạ sĩ đã viết đơn và cho biết mong muốn của họ tham gia quân đội Việt Nam mới để chiến đấu chống lại người Trung Quốc. Bất ngờ là, lý do phía sau việc kêu gọi anh Đính đột ngột cho việc phục vụ hoạt động trở nên rõ ràng. Tướng Võ Nguyên Giáp yêu cầu anh Đính

p288

xem anh ta có tin rằng các thành phần cũ của QĐVNCH thì thành thật trong mong muốn được tự nhận của họ tham gia với những kẻ thù gần đây của mình để chiến đấu chống lại kẻ thù thiên cổ của Việt Nam. Anh Đính làm yên lòng vị Tướng rằng những người bạn đồng hướng ngày xưa của anh ta sẽ chứng minh là những người chiến đấu đáng tin cậy và bền bỉ và đưa ý kiến rằng Việt Nam nên nắm bắt ngay thời điểm dân tộc tính để đạt được một sự hòa hợp hòa giải thật đích thực trong sự đối mặt với mối đe dọa của một Trung Quốc hùng mạnh.
Tướng Võ Nguyên Giáp suy nghĩ về tính hợp lý theo cách lý luận của anh Đính, và trước khi ông ta rời cuộc họp, ông ta hứa sẽ theo đuổi ý tưởng về việc tái hòa nhập những người thuộc QĐVNCH trở lại vào trong quân đội. Những câu hỏi về việc liệu những thành phần xưa kia của QĐVNCH sẽ lũ lượt kéo đến bảo vệ một lá cờ mà họ đã từng chiến đấu chống lại, liệu những người cộng sản sẽ dẹp bỏ các trại cải tạo trong một cuộc kêu gọi những người quốc gia gia nhập quân ngũ, tuy nhiên, đã chứng minh là vấn đề có thể bàn luận. Bị từ chối qua sự hỗ trợ quốc tế đầy ý nghĩa cho những nổ lực của họ và đang gánh chịu những thương vong nặng nề, những người Trung Quốc tuyên bố rằng họ đã dạy những người Việt Nam một bài học thích ứng và rút đi các lực lượng của họ chỉ sau một tháng. Tia sáng le lói hy vọng ngắn ngủi mà qua đó Việt Nam sẽ bó buộc các vết thương của mình trong sự đối mặt với mối đe dọa nghiêm trọng, đã biến mất; thay vì phục vụ đoàn kết nhân dân thành một, khi mối đe dọa đã được giải quyết, và các trại cải tạo vẫn còn tại chỗ, cuộc chiếm giữ Cam-pu-chia vẫn tiếp tục, và Việt Nam xoắn dần vào trong tình trạng hỗn loạn về kinh tế.

d- Cuộc sống sau chiến tranh :

Sự tàn phá được làm cho hả bởi cuộc chiến tranh với Trung Quốc, sự tiêu hao từ từ được tiêu biểu bởi cuộc đấu tranh đang diễn ra ở Cam-pu-chia, sự cô lập tiếp tục từ Tây phương, sự hỗ trợ đang thu hẹp từ Liên bang Sô-Viết vốn buộc phải ngày càng gia tăng bận tâm với những vấn đề riêng của nó, sự thoát thân của rất nhiều người tài giỏi nhất và sáng giá nhất của đất nước, và một gánh nặng khủng khiếp về kinh tế trên một quốc gia kém phát triển vì việc duy trì một quân đội trong số những quân đội thường trực lớn nhất thế giới được quy tụ lại để biến đổi một Việt Nam thống nhất trở thành một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới đến năm 1980. Nạn đói giáng xuống theo định kỳ, trong khi những tỷ lệ lạm phát đạt đến đỉnh điểm là 600 phần trăm. Mức độ rất quan trọng về sản lượng nông nghiệp dao động với thời tiết, nhưng vẫn còn ở mức độ thấp toàn bộ ngay cả khi Việt Nam đạt được một tỷ lệ sinh sản 3 phần trăm, một trong những mức cao nhất trên thế giới.7
Sự tuyệt vọng về kinh tế gây ra sự tiếp nối của Hiện tượng Phân tán của Dân tộc Việt Nam, mà qua đó thay đổi một cái gì đó trong tính chất khi nhiều người gốc Hoa, lo sợ cho mạng sống của họ khi sự mối thù truyền kiếp giữa một đất nước xin nhận và quê hương tổ tiên của họ,

p289

chạy khỏi Việt Nam. Những điều kiện trong các trại cải tạo đạt đến những mức thấp mới như là càng ngày càng nhiều thực phẩm được chuyển hướng cho các nhu cầu của dân cư rộng lớn hơn. Một chế độ về việc phân chia phần ăn nghiêm ngặt bám chặc trong cả nước, và thậm chí gia đình sĩ quan quân đội có chức vụ cao giống như Phạm Văn Đính nhận được gạo chỉ vừa đủ để sống qua ngày. Tình hình thì quá xấu đến nổi anh Đính tin rằng đất nước mình đang đi đến điểm tận tuyệt của nó và rằng một cuộc nổi dậy của quần chúng có lẽ sẽ đưa đến.
Một đêm vào cuối tháng Năm năm 1983, hơn 12 năm sau việc bị bắt của anh ta tại Lào, giữa sự giống nhau đơn điệu của những công việc lao động vô tận của mình, Trần Ngọc Huế có một giấc mơ. Anh ta đứng trong một Thánh đường khổng lồ khi một người đàn ông trong bộ áo lễ giáo sĩ đặt bàn tay lên đầu anh Huế và thì thầm rằng anh ta sẽ sớm được tự do. Anh Huế thức dậy giật nẩy người; anh ta và các bạn tù của mình nằm mơ một cách liên tục về việc được thả ra của họ, nhưng giấc mơ này theo cách nào đó dường như sống động và rõ ràng hơn. Anh buộc mình phải đi ngủ lại và cầu nguyện cho một giấc mơ khác cũng như thế, qua việc tin rằng nếu nó đến một lần nữa, sẽ trở thành sự thật. Những lời cầu nguyện của anh ta được trả lời: một lần nữa, anh ta nằm mơ về cùng một nhà thờ, nơi mà anh ta được viếng thăm bởi hai linh mục vốn là người bình tĩnh nói với anh ta không phải lo lắng, vì anh ta sẽ sớm được thả ra. Một tiếng đập mạnh đến cánh cửa; lúc đó là 0500 giờ và thời gian để bắt đầu ngày làm việc. Anh Huế chạy đến một trong những bạn tù của mình và kể cho anh bạn về tin tốt; anh ta sắp được tự do.
Một tuần sau đó, khi các tù nhân tập trung theo đường ra ngoài vào trong những cánh đồng, thời điểm đã đến. Mỗi buổi sáng, một sĩ quan quân đội nói chuyện với nhóm, đưa ra tin tức trong ngày, và phân chia những phần việc. Vào một vài ngày quý báu, vị sĩ quan cũng mang một danh sách. Khi những người đàn ông nhìn thấy là vị sĩ quan mang một danh sách, sự mong đợi tuôn chảy mạnh qua đám đông; đó là một danh sách của những người vốn sẽ được thả ra ngày hôm đó. Đối với các tù nhân, những danh sách thả ra dường như thất thường theo tự nhiên. Không có biện pháp nào mà qua đó một tù nhân có thể làm để bảo đảm việc thả ra của mình, không có một thử nghiệm nào về lòng trung thành mà anh ta có thể vượt qua. Những nội dung của danh sách, sau đó, luôn luôn là một bí ẩn và dẫn đến tình trạng chờ đợi vốn chỉ thêm vào sự tra tấn tinh tế phải đối mặt bởi các tù nhân QĐVNCH. Đối với một số ít người may mắn, niềm hân hoan theo sau lời đọc danh sách, nhưng đối với những người vốn không nghe thấy tên mình, đó là một đòn trí mạng. Sau hơn một thập kỷ của sự thất vọng, khi giấc mơ của mình đã báo trước, Trần Ngọc Huế cuối cùng nghe tên mình được xướng lên. Không giống như những người khác trong danh sách, anh Huế không nhảy hoặc ngã quỵ trong những giọt nước mắt vui mừng; anh ta chỉ đơn giản thu thập một ít đồ dùng của mình và rời khỏi.
Việc nhận được tấm vé xe lửa và một số tiền nhỏ nhoi, có nghĩa chỉ là đủ để nuôi anh ta trên chuyến hành trình của mình,

p290

Trần Ngọc Huế tìm đường về hướng nam. Trong lúc ở trại cải tạo, anh Huế đã được cho phép gởi và lẫn nhận thư từ người vợ của mình, cô Cẩm, vốn là người đã cảnh báo anh ta không nên trở lại thành phố Huế. Đó là niềm tin của cô ấy rằng anh ta đã quá nổi tiếng ở đó và rằng anh ta có thể bị hãm hại hoặc trở lại nhà tù. Lưu ý đến lời khuyên của cô Cẩm, anh Huế tìm đường đến Sài Gòn, nơi mà một cộng đồng ngầm kín của QĐVNCH tồn tại.
Biết được về việc thả ra của chồng mình chỉ sau khi chuyến đến Sài Gòn của anh ta, cô Cẩm vội vã đến bên cạnh anh cho cuộc hội ngộ đông đầy không chỉ với niềm vui mà còn với những giọt nước mắt ngọt đắng lẫn lộn cho cái gì đó mà gia đình đã từng thất lạc. Những đứa con hầu như không thể nhận ra người cha của chúng; đứa nhỏ nhất đã chỉ là hai tháng khi anh Huế khởi hành đến Lào vào năm 1971, và bây giờ cô bé được hơn mười hai tuổi. Cô Cẩm đã từng lao động lâu dài và khó nhọc để chăm sóc cho gia đình trong những năm tháng vắng mặt chồng mình, là một trong hàng triệu anh thư không được ca ngợi của Chiến tranh Việt Nam. Cô ta trước tiên đã tiếp tục công việc của mình như là một y tá, nhưng, sau sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, cô ta, như là người vợ của một “sĩ quan quân đội bù nhìn,” đã bị buộc từ bỏ công việc của mình. Sống ờ nhà của gia đình bên chồng mình, cô Cẩm chịu khó làm bất cứ công việc vụn vặt gì mà cô ta có thể tìm thấy để kiếm sống qua ngày. Như một kết quả của sự làm việc liên tục và sự căng thẳng gần như không thể tưởng tượng nổi của một người đang là một người mẹ đơn độc trong những thời kỳ chiến tranh và lẫn thời gian tuyệt vọng vô cùng về kinh tế, cô Cẩm đang trong tình trạng sức khỏe suy yếu, nhưng cô ta vẫn tiếp tục lao động.
Đất nước Việt Nam nơi mà Trần Ngọc Huế trở về vào năm 1983 thì gần như không thể nhận ra. Một QĐVNCH mà anh ta đã từng phục vụ và một quốc gia mà anh ta đã từng rất yêu thương, đã không còn nữa, đã bị xóa khỏi ký ức dân tộc một cách quá triệt để đến nổi ngay cả khu nghĩa trang to lớn của QĐVNCH ở Sài Gòn, vốn chứa những ngôi mộ của nhiều ngàn chiến sĩ, chẳng bao lâu bị phá hủy. Hơn nữa, mặc dù được tự do, anh Huế vẫn còn chịu sự theo dõi chặt chẽ của nhà cầm quyền mà qua đó chẳng khác gì là bị giam giữ ở nhà, vốn tạo nên điều không thể nào tìm thấy bất kỳ loại công việc gì. Cảm thấy thất vọng bởi sự nghèo đói và tiếp tục và không có khả năng chăm sóc cho gia đình mình, anh Huế làm điều gì mà anh ta có thể, nhưng sự sống còn của gia đình vẫn còn phụ thuộc phần lớn vào cô Cẩm, vốn là người tìm được công việc như là một y tá tại gia.
Trong khi Trần Ngọc Huế và gia đình anh ta chịu đựng một cuộc sống kiềm kẹp, lao công, và nghèo túng, nhà cầm quyền Việt Nam bị bao vây về kinh tế công bố vào năm 1985 một chính sách mới về Đổi Mớil, hoặc cải thiện, mà qua đó cho phép sự giới thiệu dần dần một số khía cạnh của một nền kinh tế tự do mậu dịch. Những thay đổi này, qua đó ban đầu chậm chạp và đang bước khập khiễng, có ít tác động tức thời hoặc ý nghĩa đối với Trần Ngọc Huế,

p291

vì việc làm ngay cả trong một thị trường tự do Việt Nam chỉ được dành cho những người có hồ sơ “trong sạch.” Tuy nhiên, chính sách Đổi Mớil chứng minh một ảnh hưởng to lớn trên cuộc sống của Phạm Văn Đính. Trong khi anh Huế sống trong tình trạng nghèo đói như là một kết quả của lòng trung thành bất khuất của mình cho một quốc gia bị mất của anh ta, anh Đính, trong khi không hẳn là giàu có, sống trong cùng một căn nhà trước đó ở thành phố Huế mà gia đình anh ta đã cư ngụ trong suốt chiến tranh và tới lui công việc nhà nước trên chiếc xe Honda loại nhẹ. Sau sự tồi tệ nhất của cuộc rối loạn kinh tế đã qua đi, anh Đính và gia đình mình sống trong điều kiện tương đối thoải mái như là một phần của hệ thống cai trị.

(Xe Honda moped, Honda loại nhẹ trong năm 1985)

Như là một phần của chương trình Đổi Mớil, nhà cầm quyền Việt Nam tạo ra những đơn vị quân sự đặc biệt ở mỗi tỉnh vốn được giao nhiệm vụ trong việc cải thiện khu vực kinh tế. Vào năm 1985, anh Đính di chuyển từ vị trí của mình như là Phó Trưởng văn phòng thể thao trong tỉnh Thừa Thiên để chỉ huy đơn vị kinh tế cho tỉnh, mà qua đó lúc đầu kiểm soát sự sản xuất nông nghiệp hơn 50 ha đất. Đơn vị không chỉ giám sát hoạt động canh tác trên vùng đất dưới quyền kiểm soát trực tiếp của nó mà còn xây dựng những con đường, thành lập những trường học, và quản lý đất trồng rừng. Những đơn vị kinh tế cũng đóng một vai trò trong việc xuất ngũ dần dần của một quân đội Việt Nam đông đảo, vốn đã từng là một cống thoát như thế trên nền kinh tế quốc gia. Việc tuôn đỗ ra hàng trăm hàng ngàn cựu chiến binh vào trong một thị trường việc làm đã quá tải rồi ắt hẵn sẽ là một tình trạng sai lầm mang biến động to lớn. Thay vì, các đơn vị kinh tế nới lỏng cho những cán binh trở lại vào trong nền kinh tế. Những cán binh trước tiên mở vùng đất mới và những việc làm mới trong các trường học và sau đó được dân sự hóa trở thành những vị trí mới đó.
Khi chương trình Đổi Mớil tiếp diễn mức độ chậm chạp nhưng theo hướng thành công của nó, Phạm Văn Đính bắt đầu một cuộc sống thứ hai như là một doanh nhân nhỏ. Nhiều người ở thành phố Huế cảnh giác về những cải cách và lo sợ sự rủi ro cho số tiền dành dụm của họ trong một môi trường làm ăn khó khăn, nhưng anh Đính quyết định đánh ván bạc trên tương lai kinh tế của Việt Nam. Vào năm 1989, anh Đính bắt đầu những bước đầu tiên của mình vào trong thế giới mới ra đời của chủ nghĩa tư bản Việt Nam và mua một chiếc xe tải chở hàng hiệu IFA được làm ra ở Đông Đức, chiếc xe tải tư nhân đầu tiên ở thành phố Huế. Với đứa con trai 26 tuổi của mình phục vụ như là người lái xe và nhân viên duy nhất, anh Đính sử dụng xe tải để khởi động một công ty vận tải nhỏ vốn chuyên chở hàng hóa đến và từ những nơi xa như Sài Gòn và Hà Nội. Mặc dù anh Đính cuối cùng mua được một chiếc xe tải khác, trong vòng ba năm, anh ta gạt bỏ chính mình ra khỏi việc kinh doanh; chương trình Đổi Mớil đã mở ra cánh cửa của sự thay đổi đủ xa mà nhiều người nhiều người ở Huế và khắp Việt Nam đã mua những chiếc xe tải, và sự cạnh tranh trong ngành công nghiệp vận tải đã trở nên quá lớn. Mặc dù anh ta đã không thành công, Phạm Văn Đính vẫn hy vọng tìm thấy một doanh nghiệp liên doanh

p292

mà qua đó sẽ đủ lớn để lôi cuốn đến toàn bộ gia đình của mình và cho phép anh ta nghỉ hưu từ quân đội.

(Chiếc xe tải chở hàng hiệu IFA được làm ra ở Đông Đức
chiếc xe tải tư nhân đầu tiên ở thành phố Huế vào năm 1989)

a- Những giấc mơ của người Việt Nam và Mỹ :

Dave Wiseman đã không bao giờ từ bỏ ý định tìm kiếm Trần Ngọc Huế sau Chiến dịch Lam Sơn 719. Sau khi trở lại từ Việt Nam vào năm 1972, ông Wiseman đã được phân công tác cho Norfolk, Virginia, Trạm Hải quân, nơi mà ông cố gắng tìm kiếm qua bất cứ hồ sơ hiện có nào cho tin tức liên quan đến số phận người bạn thân của mình. Bốn năm sau, ông Wiseman đã được phân công tác cho Tổng hành dinh của Thủy quân Lục chiến (TQLC), nơi mà ông ta điều tra một lần nữa, nhưng ông ta vẫn không tìm thấy gì. Sau khi về hưu từ phục vụ, vào năm 1980, ông Wiseman dời chỗ ở đến Washington, DC, một khu vực nơi mà ông ta tiếp tục việc tìm kiếm của mình. Chỉ có những thứ mà ông ta từng nghe, tuy thế, là những tin đồn rằng anh Huế đã bị giết chết ở Lào hoặc rằng anh ấy đã chết trong tù. Tuy nhiên, không có bằng chứng xát thực về sự qua đời của anh Huế, ông Wiseman không chấp nhận từ bỏ niềm hy vọng.

(Căn cứ Hải quân Norfolk Hoa Kỳ, thuộc tiểu bang Virginia)

Khi hàng ngàn người tị nạn Việt Nam, kể cả những sĩ quan vốn là những người đã được thả ra từ các trại tù, bắt đầu đến gần những vùng ngoại ô phía bắc tiểu bang Virginia, ông Wiseman, được trang bị với một hình ảnh của anh Huế, phát khởi một nhóm tìm kiếm một-người trên khắp cộng đồng Việt Nam bỏ nước ra đi. Sau khi đưa hình anh Huế đến hàng trăm người vong quốc mà không có bất kỳ kết quả nào, vào tháng Bảy năm 1990 ông Wiseman tham dự bữa ăn tối dành cho Gia đình Hiệp hội Tù nhân Chính trị Việt Nam. Khi tấm hình được chuyền tay xung quanh còn một cái bàn khác nữa của những người biệt xứ, Ngô Đức Am, một cựu tù nhân ở Việt Nam và là người anh em họ của vợ anh Huế, cô Cẩm, xác thực nhận diện ra anh Huế và thông báo cho ông Wiseman hân hoan rằng anh Huế và gia đình anh ta vẫn còn sống và khoẻ ở Saigon.8
Một vài tuần sau đó, Trần Ngọc Huế rất đổi ngạc nhiên khi nhận được lá thư từ vị cố vấn cũ của mình và cảm thấy vinh hạnh khi biết rằng ông Wiseman không bao giờ quên tình bạn của họ và đã từng tìm kiếm anh ta quá lâu. Thật đáng ngạc nhiên, các nhà chức trách đã không mở bức thư, và anh Huế cũng phát hiện ra 100 $ tiền mặt, một con số tiền thật sang trọng cho một người nào đó vốn đang rất nghèo khó. Tấm lòng tốt đẹp đó đang tràn ngập tim anh ta, và anh Huế ngồi xuống trong những dòng nước mắt trước khi anh ta có thể đọc xong bức thư, mà trong đó ông Wiseman đưa ra đề nghị cho anh Huế và gia đình anh ta sự giúp đỡ gì mà ông ta có thể làm được, trong hàng loạt thứ từ tiền bạc đến thuốc men nhằm hỗ trợ trong việc đến Hoa Kỳ. Với một gánh nặng được nâng khỏi đôi vai mình, một sức nặng gần như hai mươi năm kể từ khi anh ta bị bắt,

p293

Trần Ngọc Huế sải bước mà không chút sợ hãi đến khách sạn Caravelle. Anh ta không đưa ra bất kỳ suy nghĩ nào đến những đôi mắt theo dõi của công an; anh ta nghĩ, “Hãy để họ nhìn thấy tôi.” Tại khách sạn, anh ta gởi đi một điện thư cho ông Wiseman, một hành động rất công khai trong một đất nước nghi kỵ và khép kín. Bức điện thư cảm ơn người bạn thân của anh ta cho sự giúp đỡ của ông ấy nhưng vui lòng từ chối những lời đề nghị giúp đỡ về tiền bạc. Điều mà anh Huế và gia đình anh ta muốn là ra khỏi Việt Nam, “với bất cứ giá nào.”
Dave Wiseman nhận lấy lời thỉnh cầu của anh Huế trong lòng và ngay lập tức bắt đầu làm việc qua sự bảo trợ của Hoạt động Nhân đạo vừa mới được khai mạc, một thỏa thuận được bổ sung trong việc lập lại mối quan hệ hữu nghị giữa Washington và Hà Nội được trù tính trong phần cho phép các tù nhân của các trại cải tạo vốn là những người đã từng bị tống giam trong hơn ba năm và gia đình họ di cư một cách hợp pháp vào Hoa Kỳ. Về phần mình, anh Huế phải chịu đựng những cơn ác mộng từ giới quan liêu về việc cố gắng để có được những sổ thông hành và những giấy tờ xuất cảnh từ một nhà cầm quyền vốn thù ghét sự tồn tại hiện thực của mình. Anh ta cũng phải mượn tiền cho những chi phí đi lại cho mình và gia đình mình từ Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, với lời hứa rằng anh ta sẽ hoàn trả khoản tiền vay mượn trong năm năm. Quá trình diễn biến thì chậm chạp một cách lo âu khổ sở và đòi hỏi gần như tất cả thời gian của anh Huế khi mà sức khỏe của cô Cẩm tiếp tục lụn bại hơn. Mỗi tháng trong hơn một năm, 100 $ tiền mặt đến giống như sự đều đặn của bộ máy đồng hồ từ Dave Wiseman, mà qua đó cho phép anh Huế và cô Cẩm tiếp tục đi tiếp.
Vào ngày 7 tháng Mười Một năm 1991, Trần Ngọc Huế, vợ anh ta, cô Cẩm, và ba đứa con gái của họ lên một chiếc máy bay ở một nơi nào đó đã từng có lần là Sài Gòn và rời khỏi quê hương của họ cho một cuộc sống mới. Sau khi chuyến bay bị hoãn lại trong một thời gian đáng kể ở Bangkok và Paris, gia đình họ Trần đặt chân xuống tại Phi trường Quốc gia (National Airport), ở Washington, DC. Ở đó, họ gặp gỡ và rơi vào trong vòng tay của những người bạn độ lượng và những người hảo tâm, là gia đình ông Wiseman. Điều gì mà gia đình họ Trần phải đối mặt, tuy thế, đang làm họ nản lòng vì lo sợ –một sự khởi đầu mới, không một xu dính túi và vô gia cư trong một quốc gia mới và xa lạ. Ông Wiseman, với sự giúp đỡ từ những người bạn thân trong TQLC,(pc 09) tuy thế, đã suy nghĩ về mọi thứ; gia đình họ Trần có một căn nhà chung cư đầy đủ tiện nghi ở thị trấn Falls Church, tiểu bang Virginia, hoàn chỉnh với máy truyến hình, dây cáp đài, và những sách giáo khoa cho trẻ em, đang chờ đợi cho sự xuất hiện của họ.
Gia đình họ Trần làm việc chăm chỉ để thích nghi với cuộc sống trong ngôi nhà mới của họ. Những đứa trẻ được ghi tên trong các lớp tiếng Anh, trong khi anh Huế và cô Cẩm đắm mình trong cộng đồng lưu vong Việt Nam. Vào tháng Giêng năm 1992, gia đình họ Trần được yêu cầu tham dự một cuộc gặp gỡ với Tướng Carl Mundy, vị Chỉ huy Trưởng của Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ. Trong cuộc gặp gỡ đầy cảm động, Tướng Mundy tuyên dương Trần Ngọc Huế với huân chương Sao Đồng và Sao Bạc của Hoa Kỳ,

p294

cả hai trong những huân chương mà anh ta đã có được qua cuộc giao chiến trong suốt năm 1968 nhưng đã mất từ lâu. Mặc dù những khuôn mặt xung quanh anh ta không phải là người Việt và anh ta vẫn ước mong vùng đất của những tổ tiên mình, Trần Ngọc Huế cảm thấy thực sự hạnh phúc cho lần đầu tiên trong hơn hai mươi năm. Anh ta cuối cùng đã trở về nơi như quê hương mình.

(Huân chương Sao Đồng và Sao Bạc của Hoa Kỳ)

Vào năm 1990, Phạm Văn Đính nhìn thấy một cái gì đó khiến hết sức ngạc nhiên trong thành phố Huế. Những người Mỹ, chủ yếu là các cựu chiến binh nhưng cũng là một nhóm lẽ của những nhà kinh doanh và khách du lịch gan dạ, đang bắt đầu chảy nhỏ giọt trở lại Việt Nam. Khi nền kinh tế Việt Nam bật nẩy lại và những mối quan hệ với Tây phương tiếp nồng ấm, số lượng những khách du lịch, đặc biệt là từ Úc và Pháp, tiếp tục sự gia tăng chậm chạp và cho anh Đính một ý tưởng. Khi anh Huế nhận được những huân chương của mình từ tay của Tướng Mundy, anh Đính ngồi trong phòng tiếp tân của một ngân hàng và lấy ra một khoản tiền vay mượn để xây dựng một khách sạn nhỏ ở thành phố Huế. Vẫn còn trong quân đội, anh Đính để lại việc quản lý về công việc làm ăn cho đứa con trai cả của mình, và, về ban nhân viên mười người còn lại của khách sạn, năm người từ gia đình trực tiếp của anh Đính. Điều đó dường như giống y một phiên Việt Nam về giấc mơ người Mỹ, một cơ hội kinh doanh mà qua đó cho phép gia đình anh Đính làm việc và phát triển thịnh vượng như là một khối chung.
Sau gần bốn năm điều hành khách sạn Hướng Dương, sau khi đã làm ra đủ tiền để ít nhất tạo ra một vết lõm trong sự thế chấp đáng kể của họ trên tài sản, anh Đính tìm thấy rằng sự nồng ấm tiếp tục về những mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đóng một vai trò ngày càng tăng trong cuộc sống của mình. Với sự lưu loát trong Anh ngữ của mình, anh Đính đã trở thành một người trong nhu cầu như là một hướng dẫn viên du lịch chuyên biệt cho những người Mỹ vốn là những người muốn nghiên cứu các địa điểm nổi tiếng của Chiến tranh Việt Nam vốn rải rác cái gì đó đã từng là Quân đoàn I, từ Ngọn đồi Thịt bằm xa xôi đến Kinh thành Huế gần bên. Vào năm 1996, qua một cựu chiến binh Mỹ tên là Courtney Frobenius, chủ sở hữu của công ty Du lịch Việt Nam-Đông Dương, anh Đính nhận được một yêu cầu đáng ngạc nhiên. Vị Tướng John Cushman, ngày xưa là người chỉ huy của Lữ đoàn 2 thuộc Binh chủng Dù 101, mà qua đó đã từng chiến đấu bên cạnh 2/3(pc 04) QĐVNCH của anh Đính ở huyện Quảng Điền trong sự nổi dậy của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, sắp sửa đi du lịch đến thành phố Huế và muốn nhìn thấy những khu vực nơi mà đơn vị của anh ta đã từng hoạt động. Ông Cushman ở lại trong khách sạn Hướng Dương, và anh Đính phục vụ như là một hướng dẫn viên của ông ta trong suốt cuộc hành trình. Sau đó, anh Đính cũng phục vụ như là một hướng dẫn viên cho hai nhóm bổ sung của các cựu chiến binh thuộc Binh chủng Dù 101 và cũng tham dự buổi lễ trong sự vinh danh chuyến đi của Pete Peterson như là vị Đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên đến Việt Nam kể từ khi kết thúc cuộc xung đột. Đó là một thời gian hạnh phúc thực sự đối với anh Đính. Cả gia đình anh ta và công việc kinh doanh của họ đang phát triển tốt đẹp, và quốc gia mới của anh ta đang vá lại những mối quan hệ với vùng đất của những người có một lần là đồng minh của anh ta. Anh Đính đã tìm thấy chỗ đứng của mình trong vùng đất mà anh ta gọi là quê hương.

p295

f- Đủ vòng :

Trần Ngọc Huế ném mình vào trong sự hối hả và nhộn nhịp của đời sống Mỹ và làm việc nhiều như ba công việc vào một lúc để trả lại các khoản nợ của mình và xây dựng lại những tài sản gia đình anh ta. Ông Wiseman cảm thấy ngạc nhiên trước nhiệt tình được biểu hiện bởi người bạn mình và bày tỏ:

Anh ta trả lại Bộ Ngoại giao 4.000 $ cho những vé máy bay của mình trong vòng một năm và thậm chí cho tôi lại số tiền đặt cọc vào căn nhà chung cư. Bạn nghĩ về việc cố gắng đó. Tôi giúp đỡ tạo cho anh ta một công việc tại gian hàng bán lẽ của quân đội thuộc TQLC,(pc 09) nhưng vị Chỉ huy trưởng của Quân đoàn TQLC biết anh ta đủ rõ đến lúc đó mà tôi nghĩ rằng ảnh hưởng của tôi nhỏ thôi.9

Sau thời gian làm của mình tại gian hàng bán lẽ của quân đội thuộc TQLC, anh Huế nắm lấy một vị trí làm việc tại Hiệp hội Tín dụng Liên bang Hải quân. Mặc dù cô Cẩm vẫn chịu khốn khổ từ những vấn đề sức khỏe vốn phải tính lui đến khoảng thời gian của những khắc nghiệt cuộc sống đơn độc trong khi chăm sóc cho một gia đình non trẻ trong thời gian chiến tranh, cô ta cũng làm việc toàn thời gian để giúp tạo nên một cuộc sống tốt đẹp hơn ở một vùng đất dung dưỡng của họ. Vào tháng Chín năm 1994, gia đình họ Trần chuyển đến nhà mới của riêng mình ở Falls Church, và vào năm 1995 họ bảo lãnh chín thành viên của một gia đình tù binh chiến tranh khác thuộc miền Nam Việt Nam trước đây trong các cố gắng của riêng những người đó để đến được Hoa Kỳ.

(Trần Ngọc Huế sau khi đến Hoa Kỳ một thời gian)

Vào ngày 29 tháng Hai năm 1997, khi anh Đính theo dõi Việt Nam và Hoa Kỳ hòa giải, Trần Ngọc Huế và toàn bộ gia đình của anh ta nhận lấy lời tuyên thệ mà qua đó làm cho họ trở thành những công dân của Liên bang Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Kể từ thời gian đó, tất cả ba người trong số những đứa con gái của anh Huế đã thành công tốt nghiệp từ Đại học Maryland: hai người đã lập gia đình và bây giờ có những gia đình của riêng mình. Vào năm 2002, Trần Ngọc Huế đồng ý để được phỏng vấn cho dự án này, và, khi chúng tôi ngồi xuống để làm việc, điều đó nhanh chóng trở nên rõ ràng với tôi rằng anh Huế là một người trong trạng thái an bình. Mặc dù anh ta đã từng trải qua một biến động được sinh ra bởi những năm tháng chiến tranh, gần như thực sự đã chết, và đã từng chịu đựng những năm tháng giam cầm và gian khổ gay go; Trần Ngọc Huế tin rằng chính mình là một trong những người đàn ông may mắn nhất trên thế giới và cảm ơn Thượng Đế mỗi ngày vì đã trả lời những lời cầu nguyện của mình. Vào lúc một trong những khoảnh khắc cảm động sâu sắc nhất của những cuộc đối thoại dài của chúng tôi, anh Huế tựa vào và nói: “Có lần tôi không nghĩ rằng tôi sẽ sống còn để nhìn thấy vợ và các con tôi lần nữa.

p296

Nhưng tôi đã được. Tôi sống để nhìn thấy tất cả họ, và thậm chí con cháu của tôi. Tôi đã từng sống để nhìn thấy họ thành công trong cuộc sống. Một phước lành đến thế. Mỗi ngày tôi sống theo giấc mơ người Mỹ.”
Mùa xuân trước đây tôi đã tiến hành một loạt những phỏng vấn dài cả tháng với Phạm Văn Đính. Những cuộc thảo luận của chúng tôi bắt đầu đủ tốt đẹp và tập trung vào cuộc đời trước đây của anh ta và những năm phục vụ đầu tiên trong QĐVNCH. Anh Đính dường như trong trạng thái hoàn toàn bình an và vui vẻ đưa ra những hồi ức chân thành của mình về việc phục vụ cho một quốc gia mà anh ta đã từng có lần để yêu thích rất rõ ràng. Chỉ khi chúng tôi đi đến một chủ đề khó khăn về việc đầu hàng và rời bỏ hàng ngũ, anh Đính bắt đầu biểu hiện một vài cảm xúc. Nó tựa như là trong những cuộc phỏng vấn, anh ta đã có thể sống lại cuộc sống của mình như là một sĩ quan nổi tiếng của QĐVNCH; con đường tương lai của anh ta cho đến lúc bấy giờ chưa được đặt chân đến, và niềm hy vọng còn lại đó. Cuộc thảo luận về việc đầu hàng của anh ta, tuy thế, mang lại một thực tế và tất cả nổi đau hiện hữu của nó xô nhau trở lại. Khi chủ đề của cuộc phỏng vấn chạm đến khoảnh khắc đầu hàng của mình, anh Đính trở nên càng lúc càng nhiều suy xét nội tâm hơn và bắt đầu đặt những câu hỏi cho tôi, những câu hỏi tĩnh táo và bất an. Tại sao Mỹ không đẩy mạnh lợi thế của nó sau ngày Tết của năm 1968 và giành lấy chiến thắng cuối cùng? Tại sao Mỹ đã chọn lựa, thay vào đó, để thoát khỏi cuộc xung đột và để lại một QĐVNCH bị bỏ rơi và đơn độc chống lại kẻ thù đáng sợ của nó? Tại một điểm, khi chúng tôi nói về đơn vị của anh ta đang bị bao vây ở Doanh trại Carrolll, anh Đính tựa vào nghiêng về phía tôi và, với những ngấn lệ trong đôi mắt của anh ta, hỏi một câu hỏi mà qua đó đã rõ ràng gặm nhắm ở mỗi cốt lõi của sự tồn tại của mình trong ba mươi năm: “Mỹ vẫn đang ở Hàn Quốc. Tại sao các bạn vẫn không ở miền Nam Việt Nam? Chúng tôi đã làm gì sai không?”

(Những trăn trở của Phạm Văn Đính)

Khi những cuộc phỏng vấn của chúng tôi gần đến lúc kết luận của chúng, tôi hỏi Phạm Văn Đính lý do tại sao anh ta đã chọn đặt chính mình qua sự đau đớn của những cuộc phỏng vấn, có chút nào chăng. Anh ta trả lời rằng có nhiều lý do mà anh ta không nên kể câu chuyện của mình. Trong sự trỗi dậy của biến động vốn xoay quanh cuộc nói chuyện công cộng bị xỏa bỏ của mình, anh ta giờ đây nhận ra rằng nhiều người ở Hoa Kỳ rất ghét anh ta. Không cần biết bao nhiêu việc mật thám về lịch sử, tôi làm để chứng thực cho câu chuyện của mình, những người đó sẽ không chỉ tiếp tục phỉ báng anh ta mà còn đóng dấu lên cả hai chúng tôi là những người nói dối. Anh ta cũng thừa nhận, sự trớ trêu cơ bản được tượng trưng bởi sự hiện diện của mình ở Hoa Kỳ. Nhà cầm quyền Việt Nam hiện tại, mà qua đó anh ta đã đào thoát và qua đó anh ta vẫn phục vụ, sẽ không cho phép anh ta kể câu chuyện của mình ở Việt Nam. Thuy nhiên, trong tâm trí của anh Đính, những lý do để nói và lẫn hoàn toàn được bộc trực về quá khứ của mình có nhiều giá trị hơn những rủi ro hiển hiện. Khi anh ta có tuổi, anh Đính nhận thức rõ rằng các cuộc phỏng vấn tiêu biểu cho cơ hội duy nhất của mình để nói lên sự thật về một số sự kiện quan trọng nhất của chiến tranh,

p297

mà không cần biết cái giá phải trả cho nó là gì. Anh ta kết thúc các cuộc phỏng vấn bằng cách bày tỏ rằng anh ta “muốn mọi người biết về câu chuyện của đất nước chúng tôi và câu chuyện của chiến tranh” và hy vọng rằng câu chuyện của mình “sẽ giúp người trẻ tuổi và người già hiểu được và học hỏi từ những chiến thắng của tôi và những sai lầm của tôi.”
Chiến tranh Việt Nam cuối cùng đi đến hết vòng. Trần Ngọc Huế, vốn là người đã từng chiến đấu rất dũng cảm trong một thời gian quá lâu và vốn là người phải trả một mức giá cao như thế cho lòng dũng cảm của mình, đã tìm thấy sự yên bình và một ngôi nhà mới ở Hoa Kỳ. Phạm Văn Đính, vốn là người cũng đã từng chiến đấu một cách dũng cảm từ trong một thời gian quá lâu nhưng đến giờ phút đã không tới đích của một định nghĩa truyền thống về một anh hùng, có thể tìm thấy sự bình an thật sự ở một nơi không phải là một Việt Nam được biến đổi hoặc cũng không phải là một Hoa Kỳ. Khi anh Đính trở về nhà, anh ta bắt đầu việc thu thập thông tin thêm nhằm bổ sung cho các cuộc phỏng vấn của chúng tôi. Sau một ít liên lạc, tuy thế, không có gì ngoài sự im lặng. Một vài tháng sau đó, tôi biết được rằng anh Đính đã bị một cú đột quỵ mạnh mẽ và rằng mạng sống của anh ta đang trong tình trạng nguy hiểm. Mặc dù anh ta chịu đựng một quá trình phục hồi lâu dài và đau đớn, Phạm Văn Đính vẫn còn rất yếu và không thể nói được, làm cho sự suy luận phía sau ý muốn của anh ta nói lên sự thật về những sự kiện trong cuộc sống của mình hoàn toàn thêm đoán mò.

(Có bao giờ Phạm Văn Đính chứng kiến tận mắt
một hình ảnh tương tự như thế nầy ?)

Câu chuyện của Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế là, vào phút cuối, giống như một bi kịch Hy Lạp. Cả hai người đàn ông đấu tranh một cách siêng năng trong những năm tháng và đi đến gần chiến thắng một cách trêu ngươi trước khi những định mệnh đưa đẩy họ bại trận qua sự việc không là lỗi của riêng họ –riêng biệt tuy có liên quan đến những cuộc bại trận của riêng cá nhân bị gây ra bởi một ngã ba hợp lưu khủng khiếp của những sự kiện mà qua đó chính là cuộc chiến tranh thiếu hoàn hão ở Việt Nam của Mỹ và miền Nam Việt Nam. Anh Đính và anh Huế, hai người anh hùng trẻ tuổi với rất nhiều điểm chung, làm những quyết định rất khác xa nhau trong sự đối mặt vận rủi tai ương. Mặc dù anh Đính và anh Huế đã từng dẫn đến những cuộc đời rất khác nhau kể từ khi những ngày có nhiều sự kiện quan trọng đó, đó là một phản ảnh của sự phức tạp của Chiến tranh Việt Nam mà qua đó cả hai người đàn ông tin tưởng một cách vững chắc rằng trong những khoảnh khắc kết thúc cuộc chiến tranh của họ và kể từ đó về sau, mỗi người họ đã từng theo riêng những con đường danh dự đầy tinh hoa của dân tộc Việt Nam.

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 02_ QĐBV : Quân đội Bắc Việt.
pc 03_ “Việt Nam sẽ là một khối lần nữa, thậm chí khi nó mang ý nghĩa là sự sụp đổ của đất nước …(xin xem phần trước)

pc 04_ 2/3 : Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 3
pc 05_ Trại cải tạo : thực chất là một hình thức giáng đòn thù và tiêu diệt phe đối lập …(xin xem phần trước)

pc 06_ “…đó là một trong những lần hạnh phúc nhất trong cuộc đời của anh Đính” : việc đầu hàng của anh Đính …(xin xem phần trước)

pc 07_ Chiến tranh Việt-Cam-pu-chia (12/1978 – 1/1979) : đây là một phần của toàn bộ cuộc chiến giữ Việt-Cam-pu-chia từ 5/1975–12/1989 giữa các khối cộng sản. Cộng sản Việt Nam chiếm giữ Cam-pu-chia vào năm 1979 trong 10 năm sau đến 1989 mới rút về.

_ Lực lượng CSVN : 180.000 quân Việt Nam, hỗ trợ bởi khoảng 20.000 quân CS Lào.
_ Lực lượng Cam-pu-chia : 19 sư đoàn (70.000–90.000 quân) –theo nguồn tin Tây phương. Và theo nguồn tin Việt Nam là 23 sư đoàn (gần 200.000 quân).
Tổn thất Kết quả của tổn thất hai bên :
_ Lực lượng CSVN :
~8000 chết hoặc bị thương (tính đến 1/1979) và
~10.000–25.000 chết và ~20.000 bị thương (tính đến năm 1988 bao gồm cả thời kỳ chiếm đóng Campuchia) và trong đó 30.000 thường dân chết (1975–1978).
Toàn cuộc chiến 25.300 chết, 55.000 bị thương.

_ Lực lượng Cam-pu-chia :
~30.000 chết và bị thương (12/1978—5/1979), hàng vạn bị bắt.
~100.000 chết (tính đến 1988), hàng chục ngàn dân thường chết vì bệnh tật và đói khát.

pc 08_ Chiến tranh biên giới Việt-Trung lần thứ nhất (17/02–18/03/1979) : đây là bước đầu, cũng chỉ là một phần trong cuộc chiến Việt-Trung đến năm 1990 với nhiều cuộc chiến nhỏ khác xen kẽ, kéo dài và cuối cùng là Chiến tranh biên giới Việt-Trung lần thứ hai (1984–1989). Theo wikipedia tiếng Việt cho biết như sau (mặc dù cũng trong wikipedia.vn lại có tài liệu khác với số lượng thương vong quá thấp hơn nhiều dù được tính đến năm 1990 khiến khó thể tin) chỉ trong Chiến tranh biên giới Việt-Trung lần thứ nhất :

_ Lực lượng CSVN : 300.000–400.000+ bộ binh và 400 xe tăng, hàng chục vạn dân công hỗ trợ vận tải.
_ Lực lượng CSTQ : 60.000–100.000 (7 sư đoàn, với 21 sư đoàn tác chiến, 9 sư đoàn dự bị 15 trung đoàn độc lập, biên phòng và dân quân tự vệ, theo Việt Nam).

Kết quả của sự tổn thất theo tranh cải (vì bản chất những người cộng sản luôn thích giấu kín sự thật thiệt hại cho mình) giữa hai bên :

_ Lực lượng CSVN : 20.000+ chết hoặc bị thương và 10.000 dân thường bị thiệt mạng (theo Việt Nam tuyên bố và trong khi đó Trung Quốc tuyên bố là 30.000 chết).

_ Lực lượng CSTQ : 20.000+ chết (theo Việt Nam tuyên bố là 26.000 chết, 37.000 bị thương, 280 xe tăng bị phá hủy. Trong khi Trung Quốc tuyên bố 6.900 chết, 15.000 bị thương).

pc 09_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s