Phần 10-1/2 : Những chuyến Hành trình về Quê nhà

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p273

Phần 10 : Những chuyến Hành trình về Quê nhà
(Cuộc sống trong sự thức tỉnh của cuộc Chiến tranh bị bại)

Trong khi anh Đính trải qua một trạng thái biến đổi cá nhân trong sự thức tỉnh của Chiến dịch Chiến dịch Lam Sơn 719 và cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh, Trần Ngọc Huế cuối cùng đi đến sự thoả thuận với thực tế đáng buồn của cuộc sống như là một tù nhân chiến tranh. Sau khi đến được Hà Nội vào mùa xuân năm 1971, anh Huế sẽ trải qua sáu tháng tới trong sự cô đơn xoắn mạnh linh hồn của nơi biệt giam ở “khách sạn” Hilton Hà Nội (i.e. Hỏa lò Hà Nội).1 Sau việc bình phục, mặc dù những người bắt giữ mình từ chối anh ta có sự tiếp xúc trực tiếp với vợ và những đứa con của mình, họ cho phép anh Huế thực hiện một lời tuyên bố trên đài phát thanh, thông báo cho họ rằng anh ta còn sống. Anh ta có chỉ gần đủ thức ăn để tồn tại và ngủ trên sàn lạnh, cứng, của căn buồng xà-lim nhỏ xíu của mình, nhưng không có sự tra tấn. Những người Quân đội Bắc Việt (QĐBV) bắt giữ của anh Huế dường như hài lòng để cho thời gian và sự cô tịch gây thiệt hại từ từ trên tâm lý của anh ta.
Những phiên thẩm vấn của anh Huế, là sự chào đón những tương tác về con người mà qua đó nhấn mạnh sự cô tịch bất tận, thì khá kì quặc, trong khi những người bắt giữ hỏi anh ta nhiều câu hỏi, họ dường như nhiệt tình hơn trong việc cho anh ta thông tin. Những người cộng sản hân hoan chứng tỏ một sự hiểu biết đầy đủ đến bàng hoàng về những nơi phòng thủ của Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) dọc theo Khu phi Quân sự (KpQs) –đặc biệt là Căn cứ Chiến đấu Đông Hà và Doanh trại Carroll. Những người cộng sản quả thật biết thêm nhiều thông tin về những nơi này hơn chính anh Huế biết –và anh ta đã được đồn trú ở đó. Với một cảm giác hoàn toàn bất lực, anh Huế nhận ra rằng QĐVNCH(pc 01) bị bắn xuyên qua bởi những gián điệp và rằng QĐBV(pc 02) đang chuẩn bị cho một cuộc tấn công đông người chống lại những người bạn đồng hướng của mình trong Quân đoàn I. Cuộc thẩm vấn ngược là một mưu đồ xảo quyệt, vì QĐBV không muốn thông tin từ anh Huế; thay vào đó, họ hy vọng rằng việc chứng tỏ về vai trò làm chủ tình hình chiến lược của họ sẽ khiến anh ta rời bỏ hàng ngũ một khi anh ta đối mặt với sự tất yếu về chiến thắng của cộng sản.
Lần đầu tiên, Trần Ngọc Huế bắt đầu tuyệt vọng trước triển vọng rằng miền Nam Việt Nam dường như được định mệnh hóa để chịu bại cuộc chiến tranh của nó. Tuy nhiên, không giống như anh Đính, và chống lại những hy vọng của những người bắt giữ mình, anh Huế chuyển sự tuyệt vọng của mình trở thành sự đề kháng đổi mới lại.

p274

Trong trường hợp của anh Đính, việc bị bỏ rơi và sự đánh mất niềm hy vọng dẫn đến sự chấp nhận một hình thức dễ uốn nắn hơn về chủ nghĩa dân tộc mà trong đó anh Đính nhìn thấy những người bắt giữ mình như là người Việt Nam không giống chính mình và xem miền Bắc như là chiếc xe mà qua đó nền hòa bình có thể được nhận. Đối với anh Huế, tuy thế, các hành động của những người bắt giữ mình chỉ làm bừng thêm động lực xa hơn nữa sự thù ghét sâu sắc mà anh ta đã giữ cho những người cộng sản kể từ khi việc chứng kiến tận mắt những hành động tàn bạo của Việt Minh ở Kế Môn khi còn là một đứa trẻ. Nếu miền Nam Việt Nam buộc theo mệnh quyết chịu sụp đổ, anh Huế quyết định rằng anh ta sẽ tiếp tục chiến đấu, ngay cả khi vũ khí duy nhất của anh ta là một sự hóa giải kiên định nhằm không cho những những người bắt giữ mình sự hài lòng về việc phá vỡ tinh thần của anh ta.
Sau sáu tháng ở Hà Nội, anh Huế được chuyển đến trại tù binh tại Sơn Tây, nơi mà trên bức tường của căn buồng xà-lim mới của mình, anh ta tìm thấy nguệch ngoạc chữ viết những tên của rất nhiều phi công Mỹ vốn là những người đã bị giữ ở đó trước đây. Mặc dù anh ta vẫn còn trong tình trạng biệt giam, anh Huế cảm thấy ngạc nhiên khi nhận được những tấm mền, phần ăn gấp đôi, và thậm chí cả những điếu thuốc lá. Nhân tố cơ bản phía sau việc đối xử được cải thiện thì rõ ràng; những cuộc thương lượng về hòa bình đang diễn ra tốt đẹp, và những người cộng sản đơn giản hy vọng rằng cuộc tấn công sắp đến của họ sẽ tạo ra kết quả chiến thắng một trong hai là về quân sự hoặc đàm phán. Khi cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh diễn ra theo chiều hướng của nó, tuy thế, nhân viên của QĐBV dần dần trở nên im lặng hơn. Tâm trạng của họ u ám hơn nữa khi các máy bay thả bom đầu tiên của Mỹ kẽ vệt dài trên không đầu và dập liên tục vào những khu vực trong và xung quanh Hà Nội. Đang mong đợi “một vài thứ gì đó như là một cuộc nổi dậy” từ những tù nhân bấy giờ hân hoan của QĐVNCH, QĐBV phân phối lại hầu hết dân cư Sơn Tây đến các cơ sở khác trong mạng lưới rộng lớn của các trại tù binh chiến tranh. Anh Huế tìm thấy chính mình bị chuyển tới lui về phía bắc đến Cao Bằng và các trại tù Nang Sơn (i.e. ?) nhưng cuối cùng theo đường trở lại Sơn Tây, nơi mà anh ta chẳng bao lâu làm nên một khám phá đáng ngạc nhiên.
Qua cùng một thời tù ngục, anh Huế biết được rằng, trong lúc vắng mặt của mình, anh Đính và nhóm những sĩ quan vốn là những người đã đầu hàng ở Doanh trại Carroll, đã từng chiếm ngụ ở Sơn Tây. Điều đó không phải là ngẫu nhiên mà anh Đính và những người của anh ta, vốn là những người sống trong một khung cảnh công xã, được đặt trong tòa nhà vốn tiếp giáp với những căn buồng xà-lim biệt giam của anh Huế và những sĩ quan khác vốn là những người đã bị bắt ở Lào. Qua bức tường của mình, anh Huế, trong sự cô tịch bị ép buộc của mình, có thể nghe thấy anh Đính và những người của anh ta nói chuyện và sinh hoạt trong cuộc sống của họ, ngay cả khi họ thảo luận về quyết định rời bỏ hàng ngũ của họ. Sau khi anh Đính đã thực hiện sự lựa chọn định mệnh của mình, QĐBV tổ chức một buỗi hội thảo giữa các tù nhân từ Lào và những người từ Doanh trại Carroll, một cố gắng to lớn nhằm chủ ý cuối cùng vượt qua sự chống đối của Trần Ngọc Huế.
Anh Huế, được kèm theo bởi Đại tá Nguyễn Văn Thọ, Trung úy Bùi Văn Châu, và Thiếu tá Nguyễn Văn Thuận, ngồi trong y phục tù phát của mình ở một bên của bàn hội nghị

p275

khi anh Đính và anh Phong bước vào phòng, mặc y phục dân sự thoải mái hơn nhiều. Hai người hùng của QĐVNCH, vốn là những người đã từng chia sẻ chung rất nhiều trong việc bảo vệ đất nước họ trong thời gian rất lâu nhưng vốn là những người đã đi đến những kết thúc khác nhau như thế, đang đứng mặt đối mặt. Anh Đính, vốn là người mà anh Huế nhớ như được hạnh phúc vĩnh viễn bởi vì khuynh hướng của anh Đính nhìn vào mặt tươi sáng của cuộc sống, dường như khấm khá và phù hợp. anh Đính bày tỏ niềm vui lớn lao khi nhìn rằng anh Huế, người lãnh đạo chiến đấu trẻ tuổi, dũng cảm vốn là người mà anh ta “đã từng rất gần gủi với,” vẫn đang còn sống. Hai nhóm ngồi xuống, và anh Đính bắt đầu cuộc trò chuyện bằng cách hỏi anh Huế, nơi mà anh ấy bây giờ đang bị giam giữ; anh ta ngạc nhiên khi biết rằng anh Huế đã từng ở phía bên kia bức tường của mình trong gần hai tuần. Cuộc họp mặt không mang hình thức điềm báo đáng ngại của một cuộc thẩm vấn, cũng không phải là anh Đính trực tiếp khuyến khích anh Huế và các sĩ quan của anh ấy rời bỏ hàng ngũ. Thay vào đó, các nhóm đã trao đổi những lời pha trò và thảo luận về chiến tranh và cuộc sống gia đình. QĐBV, tuy thế, sử dụng cuộc họp theo một phương cách đơn giản, thẳng thắn. Anh Đính và những người của mình, vốn là những người đang hợp tác, được cho ăn tốt hơn, làm ra số tiền lương nhỏ, và có tiếp xúc với gia đình của họ; trong khi anh Huế và những người của mình phải đối mặt với những năm tháng biệt giam không chấm dứt.

(Trung tá Phạm Văn Đính và Trung tá Vĩnh Phong nói lời
biết ơn đến Cách mạng trong những buỗi hội thảo sau nầy)

Sau cuộc họp, những những người bắt giữ anh Huế đưa đi nhanh anh ta và những sĩ quan thân ái của mình xa khỏi đến Hà Nội cho một thế tấn công về lòng tốt. Sau khi chịu đơn độc và đói quá lâu trong những căn xà-lim chật chội, anh Huế và những người đồng hương của mình tìm thấy chính mình trong những khách sạn, mặc trang phục dân sự, và được ưu đải đến các nhà hàng và các buỗi trình diễn sân khấu vào những chiều tối. Ban ngày, nhóm tản bộ gần những bờ hồ và qua những đường phố Hà Nội và đi thăm viếng những nhà máy vốn tuôn tháo ra vật liệu chiến tranh. Sau khi chứng kiến những lợi ích của sự hợp tác trực tiếp, và sau khi được cho thấy một tấm gương của Phạm Văn Đính, anh Huế và những người của mình được đề nghị ban cho những cấp bậc tương đương trong QĐBV nếu họ chọn rời bỏ hàng ngũ. Họ có thể tận hưởng những thành quả của hòa bình và sự hợp tác hoặc phải chịu những năm tháng biệt giam. Đó chính là sự lựa chọn của họ.
Việc đối đải khoan dung hơn, tuy thế, đã thất bại đạt được mục đích của nó. Anh Huế đã từng tìm thấy cảnh tượng QĐBV(pc 02) đang dẫn dắt anh Đính xung quanh giống như một “con chó trong một sợi dây” đang có thái độ khá điềm tĩnh và cảm thấy chỉ đáng thương cho người bạn đồng hướng cũ của mình trong quân ngũ, đã có lần là một anh hùng nhưng bây giờ là một người mà anh đánh giá như là một gã đàn ông suy nhược. Anh Huế cảm ơn những hướng dẫn và bảo vệ của anh ấy cho sự đề nghị của họ nhưng lịch sự từ chối rời bỏ hàng ngũ, qua việc tuyên bố rằng anh ta “không xứng đáng cho một danh dự như thế.” Thay vào đó, anh ta chỉ đơn giản yêu cầu được thả ra để cho anh ta có thể trở về gia đình mình và sống phần còn lại của cuộc đời mình như là một thường dân. QĐBV từ chối yêu cầu của anh Huế và mang tù nhân ngoan cố trở lại cuộc sống cô đơn của anh ta ở Sơn Tây. Trần Ngọc Huế đã giữ lại được danh dự mình, nhưng với cái giá gì?

p276

Về phần họ, anh Đính và anh Phong đã chấp nhận lời đề nghị ban bố của QĐBV về cấp bậc tương đương trên một điều kiện: rằng họ không được yêu cầu “nhúng tay vào bất kỳ hành động nào hoặc cung cấp bất kỳ thông tin nào vốn có thể xảy ra chống ngược lại những lợi ích của những người bạn cũ của họ trong QĐVNCH.” Thật đáng ngạc nhiên, QĐBV đã nhanh chóng chấp nhận lời đề nghị của họ. Theo dự toán của anh Đính, điều mong ước của những người cộng sản quan tâm đến những người rời bỏ hàng ngũ “dũng cảm và nổi tiếng” như thế trong số những hàng ngũ của họ là một mỏ vàng tuyên truyền đủ để bù đắp bất kỳ sự thất bại nào đạt được thông tin hoặc moi ra một vài loại nổ lực nào đó từ anh Đính và anh Phong. Theo những lời của anh Đính, “QĐBV muốn có được tôi, và điều đó thì đủ cho họ.”
Vào ba năm sau, anh Đính làm việc trong một vị trí nhân viên và chủ yếu là viết lách để ghi lại những kinh nghiệm của mình trong chiến tranh, một cái gì đó vốn sẽ trở nên phổ biến trong số các sĩ quan của QĐVNCH vào lúc chấn dứt chiến tranh.2 Anh Đính có đủ ăn, tiền lương, và nơi cư ngụ thoải mái. Khi chiến tranh tiếp tục, anh Đính thậm chí có sự xa xí của những kỳ nghỉ hè ở bờ biển phía đông Hà Nội, nhưng anh ta đồng thời ghi nhận rằng ngay cả vào những dịp như vậy, QĐBV gởi theo “những người hướng dẫn” của mình. Những đồng chí mới của anh ta sẽ không bao giờ hoàn toàn tin tưởng một anh hùng QĐVNCH được biến thành kẻ phản bội. Mặc dù cuộc sống thì dễ chịu về vật chất, điều đó không phải là một thời gian hạnh phúc cho một người đàn ông vốn là người đã từng là một chiến binh, nhưng anh ta tự an ủi chính mình với những suy nghĩ về nền hòa bình sắp xảy ra. Sự chấm dứt việc giết chóc là mục tiêu trân trọng của anh ta; Việt Nam sẽ là một khối lần nữa, thậm chí khi nó mang ý nghĩa là sự sụp đổ của đất nước mà qua đó anh ta đã cho quá nhiều cuộc đời của mình.(pc 03)
Cuộc sống cho các tù binh chiến tranh của Hoa Kỳ và QĐVNCH thay đổi một cách đột ngột vào tháng Giêng năm 1973 với việc ký kết Hiệp định Hòa bình Paris và cuộc rút quân cuối cùng của Hoa Kỳ khỏi Chiến tranh Việt Nam. Mặc dù hòa bình chỉ được sống ngắn ngủi và ký giấy chứng tử cho miền Nam Việt Nam, nó cũng kêu gọi cho những tù binh chiến tranh được trở về đất nước quê hương của họ. Không nhận biết gì về việc ký kết Hiệp định Hòa bình Paris, Trần Ngọc Huế và các bạn tù của mình tại trại tù Nang Sơn (i.e. ?) cảm thấy ngạc nhiên khi nhận được một chuyến thăm của một giáo sĩ Tin Lành từ Đông Âu. Ngồi trước khán giả chú ý của mình, vị tuyên úy thông báo cho những tù nhân được quy tụ rằng nhà cầm quyền miền Bắc Việt Nam không phải là người vô thần và rằng đất nước hưởng được quyền tự do tôn giáo. Như một dấu hiệu của sự tự do đó, vị tuyên úy trình cho các tù nhân với hai bản sao của Kinh Thánh. Một hình thức tuyên truyền hoàn toàn mới mẽ khêu gợi sự tò mò của nhóm; một cái gì đó đặc biệt đang tiến hành nếu một vị tuyên úy đang ca những lời khen ngợi cho nhà cầm quyền miền Bắc. Sự dự đoán trong phòng tăng lên khi vị tuyên úy tiếp tục đều đều một giọng về những niềm vui của quyền tự do tôn giáo trong một nhà nước cộng sản. Vào cuối của bài giảng của mình, tuy thế, vị tuyên úy vô tình công bố điều gì mà tất cả trong số các tù binh đã không dám hy vọng –hòa bình đang ở trong tay,

p277

và họ sắp sửa được trả lại cho miền Nam Việt Nam.
Một số trong những chiến binh cứng rắn đã chảy nước mắt công khai, trong khi Trần Ngọc Huế duy trì một mặt nạ bình tĩnh, mặc dù trong thâm tâm, anh ta cảm thấy hoan hỉ bởi viễn ảnh tái hợp với gia đình mình. Tất cả các tù nhân nhận được quần áo mới và phần ăn bổ sung trước khi lên xe lửa và xe tải cho cuộc hành trình về phía nam tỉnh Quảng Trị, nơi mà sau cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh phục vụ như là biên giới mới giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam. Trong thành phố Huế, người vợ của anh Huế, Cẩm, nghe nói về sự hồi hương của các tù binh sắp xảy ra trên đài phát thanh và tìm đường đến điểm trao đổi dọc theo sông Thạch Hãn. Cô ấy không biết khi nào người chồng mình sẽ đến trong số những đám đông của những người trở về, nhưng cô ta dự định ở đó để đón mừng chuyến trở lại của anh ta mà không cần biết bao lâu cô ta phải chờ đợi.
Trần Ngọc Huế đến tỉnh Quảng Trị giữa một đám đông những cựu sĩ quan của QĐVNCH và những người nhập ngũ và tìm đường về hướng địa điểm trao đổi –miền Nam Việt Nam, quê nhà của anh ta, đang trong tầm nhìn. Đột nhiên, tuy thế, một sĩ quan QĐBV xông vào hàng ngũ và lôi ra anh Huế và các tù binh khác vốn là những người đã từng bị bắt giữ trong suốt Chiến dịch Lam Sơn 719 từ bộ phận chính của những người tham gia. Trong khi đang quá gần đến sự tự do, Trần Ngọc Huế biết được rằng anh ta không được thả ra. Kể từ khi anh ta bị bắt giữ ở Lào, anh ta “theo đúng nghĩa chuyên môn” đã là một tù binh không phải của QĐBV nhưng thay vào đó là cộng sản Pathet Lào, và hiệp ước hòa bình ở Việt Nam không áp dụng đối với anh ta. Trần Ngọc Huế đã đứng vững chắc và từ chối những lời đề nghị của QĐBV, và bây giờ chính là lúc mà anh ta phải trả cái giá. Sự thống khổ thấm thía phần tinh thần về việc cho phép anh ta thực sự gần như chạm được tự do và gia đình mình và sau đó việc giật lấy chúng ra khỏi được lên kế hoạch kỹ lưỡng và đang gây sự tàn phá. Ở phía nam dòng sông, cô Cẩm chờ đợi hàng ngày khi những người lính của QĐVNCH đổ ùa trở lại; cô ta đứng một mình trong khi những gia đình khác chia sẻ niềm vui đoàn tụ của họ. Ngay cả sau khi điều rõ ràng là sẽ không còn có một tù nhân nào nữa băng qua cầu đến sự tự do, cô ta chờ đợi trong niềm hy vọng đáng thương rằng người chồng của mình bằng cách nào đó sẽ hiện ra và ôm lấy cô ta trong vòng tay của anh ấy. Cuối cùng, cô ta lẽ loi tìm đường trở lại thành phố Huế để tiếp tục chăm sóc cho gia đình non trẻ của mình, ngay cả khi người chồng cô ta phải trở lại miền Bắc để chịu đựng mười năm giam cầm thêm nữa.
Trên chuyến trở lại khu vực Hà Nội của họ, nhiều người trong số 70 tù binh sĩ quan còn lại của Chiến dịch Lam Sơn 719 cạo đầu họ và tổ chức những cuộc tuyệt thực, mà qua đó phát khởi một phản ứng tàn bạo về phần của QĐBV.(pc 02) Mặc dù anh ta tham gia vào cuộc chống đối, anh Huế không bao giờ phải lãnh sự đánh đập nào,

p278

vì anh ta đã cảnh báo những người bắt giữ mình rằng anh ta sẽ tự tử trước khi cho phép họ đối xử với anh ta theo cách như thế. Giữa sự chán nản của mình, Trần Ngọc Huế, vốn là người từ một gia đình Phật giáo, quay sang Kinh Thánh mà anh ta đã để dành được kể từ khi cuộc họp hợp với vị tuyên úy. Đọc Kinh Thánh tới lui qua lại nhiều lần, Trần Ngọc Huế nhận được niềm an ủi trong những tiết đoạn và bài học của nó và tìm thấy cả sức mạnh để tiếp tục cuộc sống của mình và lẫn niềm tin rằng anh ta cuối cùng sẽ tái hợp với gia đình mình.

a- Sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam :

Khi Trần Ngọc Huế mòn mỏi trong tình trạng biệt giam tiếp tục và Phạm Văn Đính vẫn tiếp tục công việc nhân viên của mình ở Hà Nội, cuộc chiến tranh giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam tiếp tục –một cuộc chiến tranh mà cả anh Đính và anh Huế biết sẽ kết thúc trong cuộc bại trận không thể tránh khỏi đối với QĐVNCH. Không phải người ta, tuy thế, có thể dự kiến tốc độ mà qua đó sự thua trận sẽ đến. Vào năm 1974, các thành viên của ban lãnh đạo QĐBV hỏi anh Đính điều gì anh ta nghĩ sẽ xảy ra

p279

nếu quân đội của họ phát động một cuộc công kích toàn sức vào trong miền Nam. Anh Đính trả lời rằng QĐVNCH là một kẻ thù ghê gớm, đặc biệt ở binh chủng thiết kỵ và pháo binh, và rằng những gặt hái của QĐBV sẽ từng đợt là cách tốt nhất.
Khi cuộc tấn công chủ yếu của QĐBV lăn về phía trước, vào tháng Ba năm 1975, anh Đính lắng nghe trên đài phát thanh khi các sự kiện bày ra. Bị suy yếu một cách nghiêm trọng bởi những cắt giảm thảm thương trong việc viện trợ của Mỹ, QĐVNCH không còn có thể dựa vào thế lợi của hỏa lực chống đỡ lâu dài mà qua đó đã xác định như thế vai trò của nó trong suốt giai đoạn của Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam. Các đơn vị của QĐVNCH thực sự gần như bất động do những tình trạng thiếu nhiên liệu, đoàn xe thiết giáp và máy bay tiên tiến bị bỏ xó vì sự thiếu hụt những phụ tùng thay thế, và những đội pháo binh thường bị giới hạn cho việc bắn ra một số ít viên đạn mỗi ngày. Không có sự hỗ trợ đầy đủ của đồng minh mình, QĐVNCH(pc 01) thì phần nhiều rất giống như một con cá ra khỏi nước; cái di sản của cuộc chiến tranh Mỹ đã và đang bắt đầu tạo ra những kết quả tồi tệ. Một cú đánh lớn đầu tiên của cộng sản rơi vào những vùng Cao nguyên Trung phần, và các đơn vị được củng cố mạnh mẽ và được hỗ trợ dư dật của QĐBV đã thành công cuộc tiến công ban đầu chống lại một kẻ thù bây giờ không còn là đối thủ của họ. Sau đó, Tổng thống Thiệu và cấu trúc chỉ huy bị chính trị hóa quá độ của mình sau đó tạo thêm tình hình khó khăn qua việc ra lệnh một cuộc rút quân từ các vùng Cao nguyên và việc chuẩn bị một phòng tuyến mà qua đó nhường lại nửa phía bắc của miền Nam Việt Nam cho những người cộng sản. Bị sa lầy giữa một đám đông những người tị nạn trên những con đường núi khó khăn và bị quấy rối bởi lằn đạn chính xác đến chết người của QĐBV, QĐVNCH đã tổ chức một cuộc rút lui vốn chẳng bao lâu trở thành một cuộc tháo chạy tán loạn. Khi tiền phương của QĐVNCH ở những vùng Cao nguyên sụp đổ, QĐBV tấn công vào phía bắc. Bị bao vây và với một ít hy vọng sống sót, các đơn vị đã có lần tự hào của Quân đoàn I sụp đổ trong một thời gian kỷ lục.
Anh Đính bị chấn động bởi bản chất thảm hoạ của cuộc bại trận của QĐVNCH, nhưng cảm thấy phấn khởi một cách kín đáo vào giữa tháng Tư bởi những cố gắng dũng cảm của Sư đoàn 18 QĐVNCH nhằm ngăn chận làn sóng của QĐBV tại những ngã tư ở Xuân Lộc, phía bắc Sài Gòn. Dưới quyền chỉ huy của Chuẩn tướng Lê Minh Đảo, Sư đoàn 18 QĐVNCH bám giữ trong gần một tuần chống lại sức mạnh kinh hồn của bốn sư đoàn QĐBV, được củng cố bởi những trung đoàn thiết kỵ và pháo binh. Một cuộc đấu tranh vô vọng, mà qua đó là một trong số những trận chiến đẫm máu nhất của toàn bộ chiến tranh, miêu tả cho anh Đính về điều gì đó mà QĐVNCH có thể đã là thế. Tướng Đảo là một trong những người yêu nước trẻ tuổi vốn là người mà cả anh Đính và anh Huế đã hy vọng, một ngày nào đó sẽ dẫn dắt đất nước của mình đi đến chiến thắng. Đó là một ý nghĩ nghiêm túc đối với anh Đính; toàn thể QĐVNCH đáng lý ra có thể giỏi dang và mạnh mẽ như Sư đoàn 18 QĐVNCH. Tất cả mọi người của miền Nam Việt Nam đáng lý ra có thể chiến đấu tận lực thế đó. Anh ta đáng lý ra có thể chiến đấu tận lực thế đó ở Doanh trại Carroll –nhưng đi đến một sự kết thúc như thế nào? Có phải chăng cho sự sống còn tiếp tục của các nhà lãnh đạo,

p280

vốn là những người cảm thấy lo lắng về quyền lực của họ hơn là về đất nước của mình? Có phải chăng cho Tổng thống Thiệu, vốn là người trốn chạy khỏi miền Nam Việt Nam như là một người giàu có chỉ vài ngày sau sự sụp đổ của Xuân Lộc? Trận chiến có thể viết thành anh hùng ca, trong tâm trí của anh Đính, tượng trưng cho một thế giới thu nhỏ về kinh nghiệm của QĐVNCH trong Chiến tranh Việt Nam, mà trong đó lòng dũng cảm và tiềm năng được đối đãi tồi tệ và lẫn được nuôi dưỡng thiếu thốn bởi ban lãnh đạo bị phá sản của một thế hệ đã đi lạc hướng. Anh Đính cảm thấy chắc chắn hơn bao giờ hết sau sự kiện ở Xuân Lộc rằng anh ta đã làm một quyết định đúng đắn không hy sinh mạng sống của những người của mình cho một người giống như là Tổng thống Thiệu. Không phải chính anh ta vốn là một kẻ phản bội cho những hành động của mình tại Doanh trại Carroll; những người lãnh đạo của miền Nam Việt Nam đã từng trước đó từ lâu phản bội người dân của riêng họ.

(Huy hiệu của QĐVNCH)

Trong sự cô tịch của căn buồng xà-lim nhỏ bé của mình, Trần Ngọc Huế phụ thuộc vào những người bắt giữ mình cho việc thông tin liên quan đến sự sụp đổ của đất nước yêu quý của mình. Khi những ngày trong năm 1975 trôi qua, anh Huế nhận được càng ngày càng nhiều hơn hơi những lời tường thuật nín thở về cuộc chiến thắng của cộng sản từ những cai ngục của mình, vốn là những người đặc biệt là cởi mở khi họ đưa đến các bữa ăn của anh ta. Anh Huế nghĩ rằng những câu chuyện bịa đặt về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chỉ như là một thủ đoạn tâm lý khác, một hình thức khác của sự tra tấn tinh thần. Háo hức rằng các tù binh cần phải chứng kiến khoảnh khắc chiến thắng vinh quang của họ, những người canh giữ của QĐBV dựng một hệ thống loa trong trại và phát ra buỗi tường thuật liên tục về cuộc chiến đấu như được báo cáo bởi giới trung lập và do đó là đài Liên đoàn Phát thanh Anh quốc đáng tin cậy. Được phép ra khỏi những căn buồng xà-lim của họ để chứng kiến cuộc bại trận làm chấn động, cuối cùng của QĐVNCH, anh Huế và các bạn tù của mình trong Chiến dịch Lam Sơn 719 túm tụm vào với nhau trong những nhóm nhỏ và ứa nước mắt khi Sài Gòn sụp đổ và cuộc chiến tranh của họ đã kết thúc. Không có một đất nước để gọi là quê nhà, không ai trong số các tù binh biết điều gì sẽ tiếp diễn theo sau.

(Những chiến sĩ của QĐVNCH dù không thành Danh
cũng đã thành Nhân)

Một khi sự thật về sự sụp đổ của chế độ ở Sài Gòn đã trở nên rõ ràng, những người canh tù không thể cưỡng lại việc trêu chọc anh Huế và các bạn tù của mình. Có một lần, tuy thế, anh Huế nhận thấy rằng những người bắt giữ mình không trình bày chi tiết như bình thường về sự hủy diệt của QĐVNCH; thay vào đó, họ dường như bối rối và trầm ngâm. Những người bộ đội canh hay tọc mạch thông báo cho anh Huế rằng một số người trong số tầng lớp sĩ quan của miền Nam Việt Nam, những người mà những người cộng sản xem là những bù nhìn cần thiết của Mỹ, đã trốn chạy trong kinh hoàng –một phản ứng mà họ đã từng mong đợi. Tuy nhiên, nhiều sĩ quan đã chọn cách quyên sinh hơn là đầu hàng, một phản ứng vốn tạo nên vách ngăn những người miền Bắc Việt Nam.3 Tại sao những người nầy hy sinh tất cả cho một quốc gia bù nhìn? Họ hỏi anh Huế xem các sinh viên tốt nghiệp của cả trường Thủ Đức và Võ bị Quốc gia đã được tẩy não trong suốt quá trình đào tạo của họ. Anh Huế trả lời rằng điều đó không phải là sự đào tạo nhưng hơn là sự tận tâm đối với Việt Nam

p281

và một kết nối mạnh mẽ với quá khứ võ lực của quốc gia vốn đã thúc đẩy những sĩ quan chấp nhận cái chết trên sự ô nhục.
Với cuộc chiến tranh chấm dứt và nền hòa bình ở trong tay, vào ngày 2 tháng Năm năm 1975, Phạm Văn Đính tìm đường trở lại thành phố Huế để đoàn tụ với gia đình mình sau ba năm cách biệt nhưng tìm thấy nhà của mình bị bỏ hoang. Hầu hết gia đình của anh ta đã chạy trốn vào Sài Gòn trong bước tiến của chiến tranh đang đến gần. Người con lớn nhất của anh ta, tuy thế, đã vẫn còn ở lại để đến trường, và có một cuộc hội ngộ ngắn ngủi và hạnh phúc. Một tháng trôi qua trước khi những người còn lại của gia đình anh Đính, bao gồm cha và mẹ anh ta, có thể liều lĩnh làm một cuộc hành trình hướng lên những tàn tích bị biến dạng của Quốc lộ 1 hầu gặp lại anh ta ở thành phố Huế. Khi họ cuối cùng đến được, tuy thế, anh Đính cảm thấy vui mừng khôn xiết; toàn bộ gia đình của anh ta đã sống sót qua cuộc xung đột, một chiến thắng lớn nhất của cuộc đời anh ta.
Phạm Văn Đính, con sư tử trẻ, đã trở lại thành phố Huế, thành phố mà anh ta đã có lần giúp đỡ cứu lấy, thành phố nơi mà anh ta và những người của 2/3(pc 04) đã tưng bừng kéo lên lá cờ miền Nam Việt Nam sau nổi kinh hoàng của ngày Tết năm 1968. Tuy nhiên, người anh hùng trẻ tuổi trở lại trong bộ đồng phục của một Trung tá QĐBV. Mặc dù anh ta vẫn còn tự tin rằng anh ta đã hành động một cách vinh dự, anh Đính quan tâm một cách hiểu biết về việc tiếp nhận anh ta ờ phố nhà của mình. Sau những năm chiến tranh khó khăn, tuy thế, người dân Huế, theo những lời của anh Đính, “đã không lo ngại về bộ đồng phục của tôi, và biết rằng tôi là không phải là kẻ thù của họ.” Chẳng bao lâu anh Đính bắt đầu gặp gỡ một số trong những người lính cũ của mình từ Doanh trại Carroll trên những đường phố. Nhiều người mời anh ta đến nhà họ để cảm ơn anh ấy cho cả việc cứu lấy mạng sống của họ và lẫn việc bảo vệ tương lai của gia đình họ. Bất kể về những biện minh cho những quyết định của mình, anh Đính đã bị buồn phiền và gần như thực sự bị ngã gục bởi những gì từng trải trong năm 1972 của mình; việc gặp gỡ những người vốn đã từng phục vụ dưới quyền chỉ huy của mình và việc nhận được những lời cảm ơn của họ là một khoảnh khắc quan trọng của sự giải tội cho một anh hùng biến thành kẻ phản bội. Đối với anh Đính, “đó là món quà tốt nhất của cuộc đời tôi.”

b- Việc cải tạo :

Những người cộng sản Việt Nam thừa hưởng một quốc gia vốn đã bị tàn phá bởi ba mươi năm chiến tranh triền miên. Cơ sở hạ tầng của quốc gia nằm trong đống đổ nát, hàng triệu người tị nạn lang thang ở vùng nông thôn bầm dập, và những người cộng sản làm cho vấn đề tồi tệ hơn bằng cách ban hành một cuộc cách mạng xã hội chờ đợi từ lâu của họ. Về mặt kinh tế, hệ thống mới gánh chịu từ những cố gắng vá víu về tập thể nông nghiệp

p282

và từ sự cô lập đang gia tăng từ Tây phương, đang dẫn dắt đất nước vào trong những nơi sâu thẳm của sự tuyệt vọng về công khố tài chính. Với ít hy vọng cho tương lai, một số khoảng 1,5 triệu người Việt trốn chạy khỏi quê hương họ, thường là bằng thuyền, tìm kiếm nơi ẩn tránh ở Tây phương. Những người thuyền nhân theo như được gọi thế của một Hiện tượng Phân tán của Dân tộc Việt Nam đã trở thành một hình ảnh thu hút nhất của đất nước và một cuộc chiến tranh mà qua đó thế giới đang cố gắng quên đi một cách tận lực.

(Hiện tượng Phân tán của Dân tộc Việt Nam : Thuyền nhân)

Việc thống nhất cưỡng ép của Việt Nam cũng lôi cuốn một cuộc thanh trừng của xã hội miền Nam Việt Nam, mà qua đó, trong khi không tàn bạo như cái gì đã diễn ra trong những cánh đồng chết ở nước Cam-pu-chia láng giềng, đã móc lấy trái tim ra khỏi cái gì đó đã từng là một miền Nam Việt Nam và QĐVNCH. Mặc dù hàng ngàn “những người bị đào thải” đã bị hành quyết sau cuộc xung đột, một hình ảnh chịu đựng nhất sau chiến tranh Việt Nam ở Tây phương đó là trại cải tạo.4 Gần như thực sự tất cả những công chức chính phủ của miền Nam Việt Nam, những sĩ quan của QĐVNCH, và những người nhập ngũ của QĐVNCH đều bị vây bắt, thường được gọi đến những địa điểm trung tâm ở các làng mạc bằng những loa phóng thanh kêu om sòm tên của họ, và bị mang đi khỏi mà không cần thông báo đến các trại. Mặc dù những con số chính xác vẫn còn trong sự nghi ngờ đáng kể, nhiều trăm ngàn tù nhân được cho ở trong một số khoảng 150 trại và những trại phụ, thường nằm ở các căn cứ cũ của QĐVNCH. Đối với những người nhập ngũ của QĐVNCH, thời gian trải qua trong các trại chỉ trong khoảng một ít tháng và phải tham gia một hợp tác lao động tay chân và các lớp học về ý thức hệ cộng sản. Tuy nhiên, đối với một số sĩ quan và các quan chức chính phủ, sự thử thách cải tạo kéo dài hơn một thập kỷ.
Sau việc kết thúc cuộc xung đột, cuộc đời của Trần Ngọc Huế chỉ thay đổi một cách khó nhận biết. Không còn là một tù binh chiến tranh theo ý nghĩa chuyên môn, anh Huế buộc thuyên chuyển đến một trại lớn hơn vốn nhanh chóng bắt đầu đông đầy với những sĩ quan của QĐVNCH(pc 01) được tống vào đó trong sự thức tỉnh của cuộc bại trận về quân sự của miền Nam Việt Nam. Người chỉ huy trại chào đón những người mới đến với sự cảnh cáo nghiêm khắc và bày tỏ, “Đây là nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các người đến trại này để học hỏi về hệ thống của chúng tôi và làm việc chăm chỉ. Nếu các người học được những bài học này một cách thông suốt, các người sẽ được phóng thích. Nếu không, các người sẽ bị bỏ tù cho đến khi cái cùm của các người mục nát.”5 Cùng với điều đó, những tù nhân được di chuyển khỏi đến những khu ở mới của họ, là các cơ sở công xã nhỏ bé được xây dựng bằng các khối than với chỉ là những cái giường bằng bê-tông cho tiện nghi. Đối với anh Huế, hành động đơn giản về việc sinh hoạt như là một thành viên của một nhóm một lần nữa sau rất nhiều năm biệt giam đang gây ra cảm giác khó chịu và cũng như lẫn yên tâm một cách tuyệt vời. Tuy nhiên, việc thiếu vắng sự chắc chắn về một tương lai đã ăn mòn tinh thần của những tù nhân mới; không ai biết điều gì đang chờ đợi hoặc không biết các tù nhân sẽ có bao giờ nhìn thấy gia đình của họ một lần nữa không.
Mặc dù anh Huế trải qua thời gian trong nhiều trại cải tạo(pc 05) nhiều,

p283

chủ yếu là những trại nằm gần Hà Nội và ở phía bắc xa xôi của một đất nước được thống nhất gần đây, anh ta phát hiện ra rằng có hai loại chính của trại: những trại chủ yếu dành cho lao động và những trại chủ yếu dành cho việc giảng dạy. Trong các trại lao động, các tù nhân theo một lịch trình nghiêm ngặt: 0500 giờ, thức dậy; 0530-0600 giờ, tập thể dục; 0600-0630 giờ, ăn sáng; 0700 giờ, đi làm việc, 1200 giờ, nghĩ ngơi cho bữa ăn trưa; 1300 giờ, trở lại làm việc; 1800 giờ, nghĩ ngơi cho bữa ăn tối; 1900 giờ, lên lớp học mà trong đó một trong những bộ đội canh trại đọc to tờ báo đảng. Các tù nhân sau đó sẽ tập dợt những bài hát yêu nước, lắng nghe lời phê bình về công việc mà họ đã làm trong ngày bởi những bộ đội canh trại, và cuối cùng nhận lãnh phần việc của họ cho ngày hôm sau trước khi được đi ngủ lúc 2300 giờ.

(Trại cải tạo dành cho những sĩ quan của QĐVNCH, quan chức,
và đủ loại thành phần khác nhau của chế độ miền Nam Việt Nam)

Mặc dù các tù nhân thực hiện tất cả trong số các công việc vốn giữ cho các trại cải tạo hoạt động, từ việc nấu ăn đến giặt giũ, những tù nhân hầu hết thường tìm thấy mình cũng bị lôi cuốn vào công việc lao động nông nghiệp cật lực, như là việc dọn sạch vùng đất chưa sử dụng bằng tay để trồng lúa hoặc khoai mì. Một trong những công việc khó khăn nhất liên quan đến việc dời đất và đá bằng tay để tạo thành những đập nước trong các dòng suối để tạo ra những cái ao cho việc nuôi trồng thủy sản. Một khi vùng đất xung quanh trại được dọn sạch, thói quen làm việc được ổn định trở thành một công việc cực nhọc hàng ngày của việc trồng trọt, chăm sóc cây, và thu hoạch lúa và rau cải, bắt chước giống như cuộc sống của một nông dân Việt Nam đặc thù. Không có gì để bón phân, các tù nhân phải dựa vào nước tiểu và phân của riêng mình để làm cho đất đai màu mỡ, là một cách thực hành vốn thường xuyên đưa đến sự lây lan của bệnh tật do vi khuẩn trong số đám tù nhân vốn đã thực sự bị yếu đuối rồi bởi những công việc lao lực của họ. Mặc dù các trại đạt được thành công đáng kể trong những việc lao động nông nghiệp của họ, nhà cầm quyền tịch thu hầu hết thực phẩm mà các trại sản xuất cho sự phân phối đến dân cư vốn đang trong tình trạng nghèo túng và nạn đói đè nặng gia tăng trong suốt giai đoạn bị cô lập của Việt Nam từ Tây phương. Các tù nhân của QĐVNCH biết được từ những người bắt giữ họ rằng: “Nhân dân ta thì nghèo và đói do chiến tranh. Chúng ta không có đủ gạo để nuôi cả nhân dân và các người, vì vậy các người sẽ phải ăn khoai mì và phần ăn của các người sẽ là 1,5 kg mỗi ngày cho mỗi người” –chỉ vừa đủ để sống còn.

(Cán bộ cộng sản đang lên lớp trong một trại cải tạo)

Vào một dịp, có thời gian nghĩ ngơi trong trạng thái đơn điệu của việc lao động dường như vô tận, khi chọn lựa những tù nhân của QĐVNCH, thường là những sĩ quan có cấp bậc cao hơn, bao gồm anh Huế và ông Giai, được gởi đi trong những khoảng thời gian lưu lại ngắn ngủi ở các trại vốn được dành cho việc tuyên truyền chính trị mạnh mẽ. Trong bối cảnh mới của họ, những tù nhân lần đầu tiên bị nhét dồn dập với các bài giảng về những tội ác của đế quốc Mỹ. Những bài học đi xa hơn giảng dạy các tù nhân rằng miền Nam Việt Nam đã từng là một chế độ bù nhìn của đế quốc Mỹ

p284

và rằng đất nước và những người phục vụ cho QĐVNCH của nó đã từng là những kẻ thù của nhân dân Việt Nam. Trong sự chuẩn bị cho việc trở lại công việc cực nhọc nông nghiệp không thể tránh khỏi của họ, các tù nhân tiếp theo phải đối mặt với một bộ những bài học vốn tập trung vào tính chất tự nhiên trị bệnh của việc lao động chân tay. Việc lao động như thế thậm chí có thể làm sạch những trái tim của bọn tội phạm QĐVNCH và biến đổi họ trở thành các thành viên vững chắc, cần cù của nhà nước cộng sản. Sau việc học hỏi của họ, các tù nhân thảo luận những bài học mà họ đã học được với những giảng viên QĐBV của họ trong một khung cảnh công xã cho đến hai tuần. Cuối cùng, các tù nhân phải viết và sau đó viết lại các kết quả của những bài học tích lũy, trong những quyển vở mà đôi khi chạy đến hàng trăm trang theo chiều dài. Các tù nhân cũng phải viết về những kinh nghiệm của họ trong QĐVNCH và về điều gì đã từng là một sai lầm nghiêm trọng khi phục vụ cho một chế độ bù nhìn.
Bị thiếu ăn và làm việc quá sức triền miên, các tù nhân của QĐVNCH của các trại cải tạo chịu khốn khổ từ tất cả cách thức bệnh tật, mà qua đó đưa đến hàng ngàn cái chết không được ghi chép, mặc dù có một số ít sự đánh đập và không có sự tra tấn theo thể chế hoá trong các trại. Theo quan điểm của anh Huế, những người cộng sản không cần phải dựa vào các kỹ thuật hiển hiện như thế để hành hạ kẻ thù bại trận của họ. Thay vào đó, họ dựa vào những nổi đau quỷ quyệt về cái đói, sự kiệt sức, và việc cách biệt từ gia đình “và cố gắng giết chết chúng tôi bằng bệnh tật.” Mỗi trại chứa một nghĩa địa nhỏ xíu, và, khi thời gian từ từ trôi qua, ngay cả Trần Ngọc Huế, một người lạc quan được phấn chấn bởi những niềm tin tôn giáo mới tìm thấy được của mình, bắt đầu tự hỏi khi nào anh ta cũng sẽ nằm trong một ngôi mộ cô đơn giữa những ngọn đồi của miền Bắc Việt Nam.
Như là một thành viên của quân đội Việt Nam thống nhất, Phạm Văn Đính tìm thấy rằng kinh nghiệm của mình đối với các trại cải tạo khác biệt một cách đáng kể từ điều đó của anh Huế, người bạn đồng hướng đồng chí xưa kia của mình. Anh Đính được phân công để làm việc như là một trong các giáo viên tại hai trại cải tạo nhỏ trong vùng lân cận của thành phố Huế, là một trong số những nơi được đặt tại một doanh trại căn cứ trước đây của QĐVNCH ở Ái Tử. Các tù nhân của cả hai trại chủ yếu là những sĩ quan cấp bậc thấp hơn, vốn là những người từ các khu vực của thành phố Huế; nhiều người là những người mà Phạm Văn Đính đã từng biết rõ và làm việc chặt chẽ với họ trong cuộc sống cá nhân của mình như là một sĩ quan QĐVNCH, nhưng bây giờ họ là những tù nhân và anh Đính là giảng viên của họ. Mặc dù vấn đề chủ đề của anh Đính tập trung vào cuộc đấu tranh của nhân dân trong chiến tranh cách mạng và ý nghĩa của sự độc lập Việt Nam, anh ta chú mục việc giảng dạy của mình trên một thông điệp đơn giản và mạnh mẽ: không thành vấn đề dù tất cả họ đã hy vọng cho điều gì đó, không thành vấn đề dù sự hy sinh của họ đã là gì đi nữa, cuộc chiến tranh đã chấm dứt, và miền Nam Việt Nam không còn nữa. Nhân dân Việt Nam, ngay cả những người vốn đã từng là những kẻ thù cay đắng như thế,

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 02_ QĐBV : Quân đội Bắc Việt.
pc 03_ “Việt Nam sẽ là một khối lần nữa, thậm chí khi nó mang ý nghĩa là sự sụp đổ của đất nước mà qua đó anh ta đã cho quá nhiều cuộc đời của mình” : đó là ý nghĩ của riêng cá nhân anh Đính vốn là người chấp nhận sự đầu hàng và tuân theo những đòi hỏi của QĐBV, cũng như một số người khác vốn từng đã và đang phục vụ trong QĐVNCH lúc bấy giờ dưới bất kỳ hình thức công việc là gì, muốn lợi dụng một cơ hội thời cơ nào đó “tuyên công” với cách mạng. Những gì anh Đính nghĩ đó, hay bất ký phần tử xu nịnh nào khác, dường như mang nặng ý nghĩ cao quý về một nền hòa bình thống nhất cho Việt Nam với sự chấm dứt chiến tranh. Tuy nhiên, tại sao lại phải là sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam mới đạt được những điều mơ ước quái dị đó ? Và tại sao lại phải là nền Hoà Bình ở Việt Nam chỉ xảy ra trừ khi nào chính những người cộng sản ở miền Bắc Việt Nam vốn luôn gây hấn chiến tranh theo chỉ thị của Liên Xô và Trung cộng, cưỡng chiếm được miền Nam Việt Nam mà không thể là ngược lại ? Có phải chăng đó điều tất yếu và đương nhiên theo một quy luật nào đó ? Có ai dám tự xưng mình là luôn đúng với tư tưởng tham lam quyền lực đến quái dị như thế vốn được nặn ra từ khối cộng sản miền Bắc không ? Và có điều gì chứng minh được là nền hòa bình vốn có được, bắt buộc phải là sự chiến thắng của miền Bắc cộng sản ? Và nếu miền Nam chiến thắng, nền hòa bình sẽ không có thực sự ? Hay nền hòa bình thực sự chỉ có được từ những kẻ luôn thích gây hấn chiến tranh mà họ muốn giành lấy cho bằng được bất chấp những tiêu hao nhân lực hay tàn phá di sản đất nước ? Điều gì sẽ xảy ra nếu như chiến thắng cuối cùng là từ miền Nam Việt Nam ?
Ý nghĩa đó như ở trên của anh Đính dường như cứ xem là một định mệnh ắt phải là thế cho một nền hòa bình dù chẳng mấy ai biết chắc, thậm chí cả anh Đính lúc bấy giờ, là cái hình dáng hòa bình ra thế nào hay chính nó đã được đúc khuôn sẵn từ lò thép cộng sản miền Bắc mà những người dân từng nhẹ dạ từng tin, nghe theo họ cũng chưa bao giờ có thể hình dung đích thức cái bóng hòa bình nó ra sao. Chỉ có những hiện thực mới là những gì chứng minh mạnh mẽ nhất mà không riêng một cá nhân nào có thể mở lời biện bác.
Đơn giản là, một tên cướp xông vào nhà và vì muốn được “hòa bình” nên gia chủ nghe theo những đòi hỏi của hắn ta. Và một xã hội trong một nước “hoà bình” có nghĩa là phải nên thỏa mản những yêu cầu của những kẻ cướp (?) Thậm chí “hòa bình” hơn nữa một khi gia chủ bị thanh toán hoặc bị tống ra khỏi nhà mình (?) Với ý nghĩa “hòa bình” như thế dường như là sự đề cao bao lực mà những kẻ nhu nhược đầu hàng trước nó cần “hòa bình” đến độ chỉ biết sống yên thân dù thế nào cũng được, thậm chí chịu thân nô lệ cho kẻ dùng bạo lực với mình. Hòa bình thực chất không tự nó có thể đứng riêng lẽ, thiếu vắng những quyền cơ bản của con người, nếu không “hòa bình” đó không khác gì một hình thức nhu nhược, an phận vốn từng được chứng minh rõ ràng trong chiều dài lịch sử của riêng Việt Nam trước những cuộc xâm lăng của Trung Hoa.

pc 04_ 2/3 : Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 3
pc 05_ Trại cải tạo : thực chất là một hình thức giáng đòn thù và tiêu diệt phe đối lập trong
những năm tháng kéo dài qua lao động kiệt lực, hành hạ, nhồi sọ, trong những điều kiện sinh sống tồi tệ, thiếu thốn lương lực, áo quần, thuốc men, và nhất là tinh thần luôn bị đe dọa, ngay cả việc dùng gia đình tù nhân như một hình thức bức bách tinh thần. Thêm vào đó là những quy định khắc khe của trại về thăm nuôi, công việc lao động, tuân thủ tuyệt đối, và nhất là thời hạn giam giữ có thể thay đổi bất ngờ vào bất cứ lúc nào, cũng được xem là một quy định.
Một công bố của nhà nước cộng sản Việt Nam đã từng nêu rõ:

“Việc tổ chức cho ngụy quân, ngụy quyền và các đối tượng phản động ra trình diện học tập cải tạo thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước, có tác dụng phân hóa hàng ngũ bọn phản động, cô lập bọn đầu sỏ ngoan cố, đập tan luận điệu tuyên truyền chiến tranh tâm lý của địch, tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân.”

Theo wikipedia.vn cho biết, sau năm 1975 ở miền Nam có hơn 1.000.000 người thuộc diện phải ra trình diện. Theo Phạm Văn Đồng, con số người phải trải qua giam giữ sau này 30/4/1975 là hơn 200.000 trong tổng số 1 triệu người ra trình diện. Tính đến năm 1980 thì chính phủ Việt Nam công nhận còn 26.000 người còn giam trong trại. Tuy nhiên, một số quan sát viên ngoại quốc ước tính khoảng 100.000 đến 300.000 vẫn bị giam. Ước tính của Hoa Kỳ cho rằng khoảng 165.000 người đã chết trong khi bị giam. Và theo Aurora Foundation thì việc bị giam giữ dài hạn thường bị chuyển từ trại này sang trại khác có dụng ý ly gián để tù nhân không liên kết với nhau được và đường dây liên lạc với gia đình thêm khó khăn. Chỉ có tất cả 80 trại.
Trong khi đó theo những cuộc nghiên cứu của Đại học California ở Berkeley cho biết rằng có hơn 500.000 người bị giam giữ trong 300 trại cải tạo, số người bị hành quyết lên đến 65,000 dù chỉ được ước tính trong vòng 8 năm từ năm 1975 đến 1983 — (trên thực tế, mãi đến năm 2000 –25 năm sau, phần lớn trại mới được hủy bỏ, thì con số bị hành quyết có thể lên đến khoảng 100,000).
Một số tù nhân vốn là những người bị giam giữ kể từ khi sự sụp đổ của Sài Gòn, đã được thả ra gần đây như vào năm 2000.
Chính phủ Mỹ suy xét các tù nhân của những trại cải tạo đó là những “tù nhân chính trị”. Vào năm 1983, Hoa Kỳ bắt đầu cuộc điều đình với nhà nước cộng sản Việt Nam để trả tự do cho những tù nhân chính trị đó, nhưng mãi đến 6 năm sau của năm 1989, chính quyền Reagan mới bước vào một thỏa thuận chính thức với nhà nước cộng sản Việt Nam, theo quy định mà qua đó Việt Nam sẽ trả tự do cho tất cả các binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa trước đây và các quan chức bị giữ tại các trại cải tạo và cho phép họ di cư đến Hoa Kỳ. Đến 2 năm sau, bắt đầu vào năm 1991 một dòng chảy thứ ba to lớn của những người di cư Việt Nam vào trong nước này với khoảng 180.000 người –kể cả gia đình của những tù nhân chính trị đó. Với những chương trình của Hoa Kỳ như sau (theo wikipedia.vn):
• Chương trình Ra đi có Trật tự (The Orderly Departure Program –O.D.P.) kết thúc vào tháng Chín năm 1994. Chương trình này bao gồm đoàn tụ gia đình, con lai và cả chương trình H.R.
• Chương trình Tái định cư Nhân đạo (The Humanitarian Resettlement Program –H.R.)
• Chương trình Tái định cư Nhân đạo mới (hay Chương trình H.O. mới –The Humanitarian Operation) chỉ dành cho những người phải học tập cải tạo sau năm 1975, chưa có cơ hội nộp đơn qua chương trình O.D.P.
• Chương trình Tái định cư Nhân đạo H.R., cứu xét đơn năm 2005

Như vậy nếu tính từ lúc Hoa Kỳ khởi đầu việc điều đình là vào năm 1983 nhưng đến 8 năm sau của năm 1991 những người theo chương trình đoàn tụ mới được thoát khỏi nhà nước cộng sản Việt Nam. Điều nầy cho thấy rằng những người cộng sản đã có chủ tâm kéo dài thời gian giam cầm không ngoài mục đích trả thù vị kỷ hơn là dòng chữ học tập cải tạo của họ.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s