Phần 09-3/3 : Sự hình thành của một kẻ Phản bội

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p257

nhưng cũng đầy tiềm năng. Trong nhiều năm, từ những trận chiến chính trị của năm 1966 đến cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân đến Ngọn đồi Thịt Bằm và Chiến dịch Lam Sơn 719, anh Đính đã nhận ra rằng có hai con đường đi đến chiến thắng: những người Mỹ sẽ chiến thắng qua bạo lực hoặc miền Nam Việt Nam sẽ đến tuổi trưởng thành. Khi anh ta ngồi một mình trên đỉnh Doanh trại Carroll, anh Đính tin rằng cả hai khả năng đã đi đến kết thúc. Hoa Kỳ đã bỏ rơi miền Nam Việt Nam, và những người lãnh đạo của dân tộc riêng mình và QĐVNCH đã chưa bao giờ đổi mới và khá vui lòng hy sinh cả anh và những người của mình mà không được gì.
Giữa những suy nghĩ vụn vỡ của mình, anh Đính tìm thấy chính mình trên bờ vực xen lẫn giận dữ và trầm buồn. Anh ta cảm thấy tức giận cho tình hình, cho những năm tháng làm việc cực nhọc và đổ máu mà anh ta đã từng đầu tư, được còn lại chỉ là bị bỏ rơi trên đỉnh đồi trong khi những người vì họ mà anh ta chiến đấu, đã trốn chạy hoặc đang chơi quần vợt. Anh ta cảm thấy buồn cho những người của mình, vốn là những người, dường như là thế, sẽ không bao giờ nhìn thấy gia đình của họ lần, những người đàn ông mà anh ta tin rằng chẳng bao lâu sẽ là những xác chết trên đỉnh một ngọn đồi trơ trọi mà không có những mồ mả. Có phải chăng một trong hai là những người miền Nam Việt Nam hoặc là những người Mỹ xứng đáng với sự hy sinh trọn vẹn như thế? Anh ta mong mỏi cho một thời gian hòa bình, với sự giết chóc được dừng lại và một khối Việt Nam lần nữa. Những suy nghĩ của anh ta cuối cùng chọn lấy một quyết định duy nhất; anh ta “phải cứu lấy mạng sống của những người của mình. Không ai có thể cứu được sinh mạng của chúng tôi ngoài tôi.” Mục đích của anh ta bây giờ thật đơn giản –sự sống còn của những người mình.

d- Sự đầu hàng tại Doanh trại Carroll :

Khi buỗi bình minh bắt đầu ló dạng vào ngày 2 tháng Tư, ngày Chúa nhật Phục Sinh, ở phía đông, những người phòng thủ của QĐVNCH thuộc Trung đoàn 57, Đạo quân Xe tăng 20, và Tiểu đoàn 3 TQLC đẩy lui cuộc tấn công liên tiếp của QĐBV nhắm mục đích vào việc chiếm giữ cây cầu Đông Hà rất quan trọng. Khi cuộc chiến diễn ra ác liệt, những dòng thường dân tiếp tục cuộc di cư của họ về phía nam từ vùng chiến tranh, là sự hủy hoại ngầm tinh thần chiến đấu đã thấp của Trung đoàn 57, mà qua đó, như Tướng Trưởng sau nầy bình luận, “phá vỡ hàng ngũ vào khoảng giữa trưa và rút lui về phía nam trong sự rối loạn… khi họ nhìn thấy sự rối loạn và hoảng sợ trong số những người lánh nạn –trong số người đó là những gia đình và thân nhân của riêng họ– nổi hoảng sợ đang lây nhiễm.”58 Khi tuyến phòng thủ của QĐVNCH đến gần sự sụp đổ, Tướng Giai, thể hiện lòng dũng cảm cá nhân tuyệt vời, vội vã đến chiến trường và tập hợp những người của mình. Khi những người lính hoảng sợ chạy qua ông ta, hét lên “xe tăng,” ông ta tóm cổ một người và nói, “Hãy chỉ cho tôi một chiếc xe tăng… và chúng tôi sẽ tiêu diệt nó chung luôn.”59
Hành động táo bạo của Tướng Giai đã thành công, và những quân lính của QĐVNCH

p258

bám vào một nơi ở phía nam sông Cửa Việt. Tuy nhiên, tình hình là không ổn định, khi QĐBV tụ tập gần cầu Đông Hà. Trong một loạt những sự kiện bấn loạn, cây cầu cuối cùng bị nổ tung lúc 1630 giờ, mà qua đó cả hai (i.e. Trung đoàn 57, và Tiểu đoàn 3 TQLC) chận lại QĐBV ở một tuyến đường xa hơn về phía nam và cho Sư đoàn 3 QĐVNCH thời gian quý báu để tập hợp những lực lượng rối loạn và bầm dập của nó.60 Phòng tuyến đã ổn định lại, nhưng một lần nữa những báo cáo về nổi hoảng sợ và sự bỏ chạy đã đến được những người phòng thủ xa cách của Doanh trại Carroll, vốn là những người phải đối mặt với sự thử nghiệm gay go của riêng mình bằng hỏa lực.

(Những vị trí căn cứ nóng gần Khu phi Quân sự)

(Doanh trại Carroll)

Lúc trước khi trời sáng trên vào ngày 2 tháng Tư, những chiếc B-52 đánh vào những vị trí của QĐBV xung quanh Doanh trại Carroll, mà qua đó ông Camper hy vọng sẽ làm chậm lại nhịp độ hoạt động của đối phương. Lúc tia sáng đầu tiên hé rọi, tuy thế, hỏa lực mãnh liệt của pháo binh tiếp tục trở lại, được theo sau bởi một cuộc xung kích bộ binh. Những người phòng thủ của QĐVNCH(pc 01) đẩy QĐBV(pc 02) trở lui trong một cuộc chiến đấu điên tiết, và hiện trường yên lặng trong giây lát khi những người cộng sản ngừng tạm để tập hợp nhóm lại. Trong sự thức tỉnh của cái gì đã từng là cuộc xung kích mãnh liệt nhất lúc này, ông Camper và ông Brown kiểm tra vòng đai phòng thủ, vốn chưa bị xâm phạm. Ông Brown làm hết sức mình để khuyến khích những người đàn ông và nói với họ rằng nếu họ đã đẩy lui cuộc tấn công này, sau đó họ sẽ có thể để chịu đựng chống lại bất cứ điều gì mà QĐBV có thể đưa ra.
Ông Camper tìm thấy tình hình khó khăn và bình luận, “Tinh thần chiến đấu của quân lính thì yếu kém, số thương vong cao, các vị trí pháo binh vẫn còn nguyên vẹn và có thể sử dụng trong suốt những cuộc ru ngủ trong hỏa lực đang đến. Thực phẩm đang trở nên cạn và đạn dược cho những vũ khí loại nhỏ cũng thế.” Không có những viện quân, Doanh trại Carroll, theo ý kiến của ông ta, sẽ có thể bám giữ trong một ít ngày nữa. Xa hơn về phía nam, TQLC Việt Nam tại căn cứ Mai Lộc, mặc dù không như bị dồn ép một cách ác liệt, tìm thấy chính họ trong một tình trạng hiễm nguy tương tự. Với những nguồn tiếp liệu đang teo lại và tình hình chiến thuật đang tàn lụn, họ bắt đầu xem xét việc di tản vị trí phơi lộ của họ.61
Anh Đính liên lạc với Tổng hành dinh của Sư đoàn 3 QĐVNCH và báo cáo về các sự kiện đến vị Sĩ quan Điều hành của ông Giai, Trung tá Cường. Anh Đính sau đó hỏi làm cách nào anh ta có thể được mong muốn tiếp tục trận chiến mà không có sự hỗ trợ, quân nhu, hoặc viện quân. Vị Sĩ quan Điều hành không có câu trả lời thực sự nào cho anh Đính, và Tướng Giai thì không có mặt, qua việc đối phó với tình thế hiễm nghèo ở Đông Hà. Việc thiếu bất kỳ tin tức nào, đi đôi với sự kiện thực tế rằng Tướng Giai đang dành thời gian của mình cho một trung đoàn vốn đang trốn chạy khỏi trận chiến, chỉ xem như làm mạnh thêm điều tin tưởng của anh Đính rằng “không ai đang đoái hoài đến trung đoàn của tôi nữa. Chúng tôi đơn độc.”

(Căn cứ ở Cửa Việt, Đông Hà)

Lúc 1400 giờ, một cuộc xung kích biển người lần thứ hai của QĐBV đánh mạnh vào những nơi phòng thủ của Doanh trại Carroll từ phía tây gần cổng chính. Mặc dù một lần nữa bị đẩy lui,

p259

những kẻ tấn công đã đến quá gần đến nổi những thân thể của họ trang trí đầy hàng dây kẻm gai bao vòng đai của doanh trại. Khi cuộc giao chiến nổ ra ác liệt, anh Đính nhận được một cú gọi từ QĐBV. Người gọi nói rằng ông ta đang ở gần và biết tất cả về anh Đính và lẫn những người của anh ta và về sự nguy hiểm của họ. Người gọi sau đó tiếp tục đưa ra một đề nghị; nếu anh Đính đầu hàng, anh ta và những người của anh ta sẽ được chào đón bởi QĐBV. Nếu họ không, họ sẽ chết. Cuộc truyền tin sau đó chấm dứt. Ông Camper, vốn là người giống như mọi người khác trên đỉnh Doanh trại Carroll đã không biết gì về cuộc trò chuyện ngắn của anh Đính với kẻ thù, đã liên lạc với anh Đính để nói chuyện về một phi vụ tái tiếp tế bằng trực thăng có thể có. Sau khi việc nói chuyện với vị cố vấn Hoa Kỳ của mình, anh Đính sau đó nhận được một truyền tin thứ hai từ một người vốn là người tuyên bố là vị chỉ huy các lực lượng cộng sản trong khu vực. Ông ta lặp lại lời đề nghị trước đó và ra quy định rằng đó là sự ban bố cuối cùng là thế mà anh Đính sẽ nhận được. Anh Đính đáp lại rằng anh ta sẽ cần thời gian để hội họp với ban tham mưu trung đoàn của mình và yêu cầu một lệnh ngưng bắn. Người đại diện của QĐBV đồng ý làm theo.
Ngay trước khi 1500 giờ, những vị chỉ huy tiểu đoàn và ban tham mưu trung đoàn hiện diện tại Doanh trại Carroll, một số khoảng 13 người, đã hội họp trong TrtHdChth.(pc 10) Anh Đính thông báo cho những người cấp dưới được tập hợp lại của mình rằng tình hình đang xấu và rằng họ không có sức mạnh để bám giữ lâu dài chống lại các cuộc xung kích liên tục của đối phương. Sau đó, anh ta thố lộ và nói: “Nếu chúng ta tiếp tục chiến đấu, nhiều người sẽ bị giết. Ngay cả khi chúng ta chết hoặc bị thương và giành được chiến thắng, không ai sẽ chăm sóc chúng ta. Bây giờ chúng ta phải tự chăm sóc chính mình.” Anh Đính sau đó nói với nhóm về lời đề nghị đầu hàng của QĐBV và yêu cầu cho những ý tưởng của họ về điều gì họ nên làm: họ có nên tiếp tục chiến đấu, thoát ra khỏi, hoặc đầu hàng? Nếu những sĩ quan nhóm họp muốn tiếp tục cuộc giao chiến, anh Đính chỉ ra rằng anh ta sẽ thừa nhận những mong muốn của họ. Chỉ có Thiếu tá Tôn Thất Mãn(pc 13) của 1/56 phát biểu ủng hộ việc tiếp tục cuộc đề kháng.62 Ban tham mưu còn lại ngồi một cách im lặng; họ không có câu trả lời. Anh Đính tiếp tục nói rằng ở tuổi 35, anh ta đã từng làm việc tốt trong QĐVNCH và được thăng chức Đại tá chính thức chỉ trong hai tháng. Anh ta có một gia đình tốt, như tất cả trong số những người hiện diện cũng có. Đó là ý kiến của anh ta rằng các gia đình họ, và những gia đình của những người lính của họ, sẽ cảm thấy vui mừng nhất nếu họ sống sót trở về nhà một ngày nào đó. Nếu không ai có bất kỳ ý kiến nào khác, anh Đính khuyên nên đầu hàng. Cuộc bỏ phiếu biểu quyết là đồng thuận.63 Anh Đính thông báo cho QĐBV về sự quyết định và sắp xếp cho một lệnh ngưng bắn lâu hơn trong khi ban tham mưu của anh ta chuẩn bị cho việc đầu hàng. Vị sĩ quan của QĐBV có một yêu cầu cuối cùng: ông ta muốn có các vị cố vấn Hoa Kỳ vốn là những người đi cùng Trung đoàn 56. Anh Đính trả lời rằng các vị cố vấn đã rời khỏi Doanh trại Carroll từ lâu.

(Thiếu tá Tôn Thất Mãn của 1/56 đã từng phát biểu
ủng hộ việc tiếp tục cuộc đề kháng)

p260

Cả ông Camper và ông Brown nhận thấy rằng một sự im lặng kỳ lạ đã đánh bất ngờ vào căn cứ hỏa lực kể từ khi cuộc tấn công bộ binh cuối cùng của QĐBV. Cảm thấy khả nghi, cả hai người tìm kiếm thông tin nhưng được thông báo rằng anh Đính và ban nhân viên của anh ta trong một cuộc họp và không thể bị quấy rầy. Hai người Mỹ trở lại hầm trú ẩn của riêng mình để sẵn sàng cho cái gì mà họ nghĩ, có lẽ là một cuộc di tản của Doanh trại Carroll. Một vài phút sau đó, anh Đính bước xuống các nấc của hầm trú họ. Đứng trước ông Camper và ông Brown là một người đàn ông đau khổ thực sự. Trên bờ vực của sự sụp đổ và òa khóc, anh Đính cần đến hai lần cố gắng để chuyển tin tức: những người đàn ông đã chọn không chiến đấu thêm nữa, và anh ta sắp sửa dâng nộp Doanh trại Carroll cho QĐBV. Như là quẫn trí, anh Đính đi quá xa khi đề nghị rằng cả anh ta và họ tự tử hoặc rằng ông Camper và ông Brown thử cố gắng một cuộc trốn thoát giữa tình trạng lộn xộn của chính việc đầu hàng.64
Những người Mỹ từ chối làm theo lời khuyên của anh Đính, và thay vào đó ông Camper đề nghị một cuộc đột phá phía nam hướng về Mai Lộc, sử dụng hai chiếc xe tăng hạng nhẹ và ba xe thiết giáp chống tăng(pc 14) có trong tay. Anh Đính từ chối; trận chiến đã kết thúc. Ông Camper sau đó nói với anh Đính rằng vì anh ta sẽ không chấp nhận kế hoạch của họ, không có gì hơn nữa mà ông ta có thể làm cho anh ta. Hai người bắt tay nhau, và ông Camper thông báo cho anh Đính rằng ông ta sẽ gọi BChHtrQsVN(pc 03) cho sự giúp đỡ việc trốn thoát của mình. Nếu không có sự giúp đỡ hiện có, ông ta và ông Brown sẽ di chuyển một mình qua hàng dây kẻm gai, hơn là đầu hàng. Khi anh Đính quay đi bỏ ra ngoài, ông Camper nhớ lại:

Tôi cảm thấy vô cùng tức giận và một cái gì đó như sợ hãi về những viễn ảnh bị kéo khỏi đến miền Bắc Việt Nam. Tôi cảm thấy xấu hổ vì những suy nghĩ của tôi, nhưng tôi xét đến việc giết chết Đại tá tại thời điểm đó, nhưng… điều đó không phải là bản tính của tôi để tận dụng lợi thế của một người không bị nghi ngờ. Vị Đại tá rời khỏi.65

(Xe thiết giáp chống tăng –ONTOS)

Khi anh Đính rời khỏi, các vị cố vấn mở điện đài yêu cầu sự giúp đỡ và nhanh chóng bắt tay vào việc phá hủy các tài liệu mật trong hầm trú của họ.
Đối với việc không có cuộc di tản bằng trực thăng hiện có ngay lập tức, và cứ như xem là sự đầu hàng của QĐVNCH sắp xảy ra, ông Camper và ông Brown tìm cách ra khỏi hầm trú của họ trong một cố gắng tuyệt vọng hầu trốn thoát về hướng Nam. Trên cuộc hành trình của họ, những người Mỹ được nhập vào bởi một số ít những quân lính QĐVNCH vốn là những người từ chối chịu thua chính mình cho đối phương. Ngay cả trước khi các thành viên của nhóm nhỏ ra khỏi được hàng rào dây thép gai của chính mình, tuy thế, một đơn vị của đối phương đã nổ súng và đặt vào tình thế chấm dứt những cơ hội trốn thoát của họ. Ông Camper lại một lần nữa lên điện đài để báo cáo tình hình của mình

p261

và được thông báo rằng một chiếc trực thăng C-47, vốn đang chuyển quân nhu cho căn cứ Mai Lộc, đang được chuyển hướng đến vị trí của ông ta. Đổi qua tần số của trực thăng, ông Camper hướng dẫn máy bay, với tín hiệu Coachman 005(i.e. Người đánh Xe ngựa 005), đến bãi đáp của căn cứ hỏa lực. Coachman 005đáp lại với tin tức phấn khởi rằng cuộc hành trình của mình sẽ nhanh chóng bởi vì, không giống như trong suốt ba ngày qua, “không có hỏa lực pháo binh, không có hỏa lực chống máy bay, mọi thứ thật yên tỉnh.” Chỉ khi trực thăng đến gần mặt đất hỏa lực của những vủ khí nhỏ của QĐBV thực sự nổ ra, qua đó đã nhanh chóng bị áp đảo bởi hai trực thăng chiến đấu Rắn Hỗ Mang. Khi chiếc trực thăng đáp xuống, ông Brown và một ít trong số những người Việt Nam vốn là những người đã tham gia trong việc cố gắng đột phá, lên con tàu bay. Ông Camper nhớ lại:

Sau đó, một nhóm người Việt cố gắng leo lên, nhiều người Việt vốn đang đầu hàng, cũng cố gắng leo lên. Tôi có một vấn đề rắc rối nhỏ; Tôi dường như nổi điên. Tôi ném một số người ra khỏi. Mọi người vốn là người không có vũ khí, không được phép trên máy bay. Joe Brown tiếp tục la hét tôi, “Đại tá, Chúa ơi, hãy lên đây!”66

Trực thăng cất cánh, và ông Camper, ông Brown, và một số khoảng 30 quân lính QĐVNCH rời khỏi, không bao giờ nhìn thấy Doanh trại Carroll một lần nữa.
Sợ rằng anh Đính đang sử dụng trực thăng cho việc ra đi cá nhân của mình, QĐBV(pc 02) thông báo rằng nó được chuẩn bị sẵn sàng để khai hỏa vào máy bay bằng những khẩu pháo súng cao xạ. Anh Đính, tuy thế, cam đoan với QĐBV rằng anh ta vẫn ở đó và rằng chiếc trực thăng chỉ là một chuyến di tản thương binh cho những người bị thương nặng nhất của mình, và anh ta ở lại trên điện đài suốt thời gian mà trong lúc trực thăng đến và đi. Anh Đính biết rõ hoàn toàn là trực thăng dành cho việc gì, và, mặc dù anh ta đã không thể lo liệu cho sự an toàn của vị cố vấn mình, anh ta đã làm điều gì mà anh ta có thể hầu che chở cho việc ra đi của họ. Nếu anh ta đã bắt hai người Mỹ làm tù binh và mang họ với anh ta vào trong nơi giam giữ, có lẽ anh ta sẽ được đối xử như là một anh hùng ở miền Bắc Việt Nam. Anh Đính cũng biết rằng QĐBV sẽ thù oán nếu họ chợt phát hiện ra rằng các vị cố vấn đã thực sự từng có mặt tại Doanh trại Carroll và rằng anh Đính đã cho phép họ trốn thoát.67
Khi những người còn lại của mình tụ tập trên đỉnh Doanh trại Carroll, anh Đính tuyên bố việc đầu hàng đang sắp xảy ra và nói với những người được tập hợp lại rằng họ không phải đi theo anh ta; những ai vốn không muốn đầu hàng, được tự do ẩn nấp hoặc trốn thoát và cố gắng tránh khỏi bị bắt trong lúc tình trạng rối loạn. Khi thời gian chấm dứt lệnh ngưng bắn của QĐBV đến gần, anh Đính di chuyển đến phía trước nhóm và dẫn đường ra khỏi cổng chính của Doanh trại Carroll.

p262

Trong lúc vội vã, anh Đính đã không có thời gian để phá hủy cuộc bày binh bố trận ghê gớm của những khẩu pháo trên đỉnh căn cứ hỏa lực, hoặc cũng không có bất cứ điều gì được thực hiện để giúp đỡ cho những ai vốn không muốn đầu hàng. Hoa Kỳ có thể sau đó sử dụng những cuộc không kích để phá hủy súng pháo, và những người vốn không muốn đầu hàng phải làm một quyết định khó khăn đó trên số phận của riêng họ.68 Trong tâm trí của anh Đính, số phận của súng pháo và của những người vốn chọn không đầu hàng, bây giờ là thứ yếu. Giữa cuộc khủng hoảng của linh hồn, anh Đính phán xét rằng anh ta đã làm hết sức mình như có thể với sự đồng tình của toàn thể ban tham mưu của mình hầu “hoàn tất công việc cuối cùng của mình –nhằm cứu lấy mạng sống của những người của mình.”

(Thiếu tá Tôn Thất Mãn dưới quyền Đại tá Phạm Văn Đính –Trung đoàn trưởng
của Trung đoàn 56, Sư đoàn 3 Bộ binh– đang nói chuyện với những người
lính bị bỏ rơi của mình về việc đầu hàng tại Doanh trại Carroll (Tân Lâm), 2/04/1972)

e- Trở thành kẻ thù :

Đêm hôm đó, gần CcHtHl Khe Gió, anh Đính gặp gỡ với một sĩ quan có chức vụ cao của QĐBV, trong khi 600 hoặc khoảng số đó người mà anh ta dẫn vào trong nơi giam giữ, nhận được những phần ăn. Anh Đính thông báo cho người bắt giữ của mình rằng những người của mình không còn chiến đấu nữa và muốn trở lại gia đình của họ. Những người còn lại của Trung đoàn 56 tiếp tục lội bộ trong bốn ngày trước khi họ đến được và vượt qua sông Bến Hải vào trong miền Bắc Việt Nam. Đó không phải là cách mà anh Đính mong mỏi sẽ bước vào đất nước của đối phương mình: như là một tù nhân. Anh Đính không chắc chắn điều gì sẽ đến, có thể là sự tra tấn và chắc chắn là sự giam cầm. Trong chiếc giầy trận của mình, anh ta lận một khẩu súng lục nhỏ với hai viên đạn, và anh ta trù định dùng nó để bắn người thẩm vấn của mình và sau đó chính mình nếu tình hình trở nên không thể chịu đựng được.69
Một khi ở miền Bắc Việt Nam, anh Đính và anh Phong bị tách ra khỏi những người khác và bị đưa lên một chiếc xe tải cho một chuyến đi ba ngày đến Hà Nội. Không giống như Trần Ngọc Huế trước anh ta, anh Đính không bị tạo thành đối tượng của sự chế giễu công cộng; thay vào đó, anh Phong phải chịu sự giam giữ nghiêm ngặt được canh gác bởi năm người có vũ trang. Vào ban đêm, một nhóm nhỏ ngủ dưới bất cứ cái gì che phủ mà họ có thể tìm thấy, và suốt ngày họ đi lắc lư không ngừng theo hướng bắc. Phần lớn của cuộc hành trình, anh Đính theo dõi khi một cuộc diễn hành dường như vô tận của những đội hình quân sự của QĐBV đi về hướng phía nam. Những hàng đôi của thanh niên dường như dành cho sự nghiệp của họ, miền Bắc Việt Nam có vẽ mạnh mẽ hơn là anh đã từng tin thế. Anh ta bây giờ chắc chắn rằng miền Nam Việt Nam sẽ thu cuộc chiến tranh của nó.
Sau khoảng một tuần của chuyến đi, anh Đính và các sĩ quan của mình đến Hà Nội, nơi mà họ được gặp bởi một phái đoàn của những sĩ quan có chức vụ cao của QĐBV. Những người vốn đã từng là những kẻ thù suốt đời của họ, khen ngợi anh Đính về việc đầu hàng của anh ta và bày tỏ rằng hành động của anh ta đã cứu lấy mạng sống của nhiều người,

p263

cả QĐBV(pc 02) và QĐVNCH.(pc 01) Việc đối xử xảy đến như là một cái gì đó bất ngờ đối với anh Đính, vốn là người vẫn giữ khẩu súng lục nhỏ của mình trong chiếc giầy trận của mình. Trong khi các quan chức của QĐBV thẩm vấn những sĩ quan cấp thấp hơn, họ chưa bao giờ có lần nào hỏi một trong hai người là anh Đính hoặc anh Phong về thông tin. Họ là những tù binh có giá trị to lớn, một mỏ vàng tuyên truyền có tiềm năng, và được đối xử một cách phù hợp theo đó.
Sau một ít ngày, anh Đính và lực lượng nòng cốt của những sĩ quan của mình được di chuyển đến Trại tù Sơn Tây, nơi mà họ bị giữ trong trại của riêng mình tách biệt khỏi nhóm còn lại của số tù nhân và không bị đặt vào chế độ ăn uống lao động tay chân vốn là đặc trưng cho những cuộc sống của rất nhiều tù nhân QĐVNCH. Thay vào đó, một nhóm từ Doanh trại Carroll nhận được lớp cải tạo với hy vọng rằng họ sẽ đi theo đối phương. Mỗi ngày, anh Đính và các sĩ quan của mình ngồi qua những lớp học được giảng dạy bởi những ngôi sao sáng của QĐBV và những thành viên giảng dạy từ trường Đại học Hà Nội, nhận được sự truyền bá về cộng sản cổ điển. Trong sáu giờ mỗi ngày, thông tin đến trong những luồn sóng: những cộng sản là nhân dân Việt Nam, trong khi chính phủ miền Nam và những người phục vụ của nó là những con rối của chủ nghĩa đế quốc Mỹ; người dân miền Bắc và Việt Cộng đang chiến đấu vì độc lập và tự do như họ đã từng chống lại người Pháp, trong khi người miền Nam chiến đấu chỉ cho sự tham lam của người ngoài; người Mỹ lừa bịp những người đàn ông dũng cảm của QĐVNCH để đấu tranh cho sự nghiệp mà không phải là của họ; ban lãnh đạo tham nhũng của QĐVNCH đã phản bội họ. Mặc dù các lớp học không đưa dẫn anh Đính đột nhiên đi đến sự vứt bỏ quá khứ của mình, chúng thực sự đánh đúng tim đen của một người đàn ông bị thất vọng bởi những năm tháng chiến tranh. Những người này, những người bắt giữ anh ta, cũng là những người Việt Nam, và không phải là thế khác biệt từ anh ta.
Sau một tháng trong sự giam cầm, anh Đính phải đối mặt với ngày đền tội khó thể tránh khỏi; một nhóm của các sĩ quan có chức vụ cao cấp hơn hết trong QĐBV đến và đưa ra đề nghị cho anh Đính và anh Phong cấp bậc tương đương trong việc phục vụ của miền Bắc Việt Nam nếu họ chọn rời bỏ hàng ngũ. Giữa một dòng xoáy của những cảm xúc, anh Đính xét đến lời đề nghị gia nhập lực lượng quân đội mà anh ta đã từng chiến đấu chống lại trong một thời gian quá lâu –với đội Hắc Báo, ở thành phố Huế, ở huyện Quảng Điền, trên đỉnh Đồi thịt Bằm. Khi anh Đính đứng mặt đối mặt với điều gì đó đối với bất kỳ chiến sĩ nào, ít hơn nhiều là một anh hùng, là điều không thể tưởng tượng được, những đại diện của QĐBV bắt đầu dùng đến một đường lối cứng rắn hơn. Những người đàn ông vốn là những người đã từng đầu hàng tại Doanh trại Carroll đang bị giữ trong tình trạng nuôi nhốt gần Vinh và phải tham gia vào việc lao động tay chân trên các dự án xây dựng đường sá. Những cuộc sống của họ thì tốt nếu được so ra với điều đó của các tù binh khác của QĐVNCH, nhưng đời sống của họ có thể trở nên khó khăn rất mau chóng. Vào lúc ấy, điều đó trở nên rõ ràng; QĐBV đang ra lệnh anh Đính rời bỏ hàng ngủ và sử dụng những người của anh ta như là một hình thức hâm doạ để tống tiền.

p264

Anh Đính tin rằng nếu anh ta từ chối, “có lẽ tôi sẽ nhận lãnh một số vấn đề rắc rối và những người của tôi cũng sẽ nhận lãnh một số vấn đề rắc rối.”
Bị mắc kẹt ở ngã tư đường được hình thành bởi cuộc gỡ gặp của quá khứ và những con đường tương lai của mình, anh Đính tìm kiếm cho một câu trả lời. Anh ta và những người của mình đã không còn chiến đấu nữa; đó là lý do cốt lõi cho sự đầu hàng của họ. Anh Đính thông báo những người bắt giữ của mình rằng bất kể những hành động nào của anh ta, không là anh ta hoặc cũng không là những người của mình sẽ chiến đấu thêm một lần nữa, và quan trọng nhất, họ sẽ không bao giờ cầm vũ khí chống lại những người anh em quân ngũ trong QĐVNCH của họ.70 Mặc dù anh ta tin rằng những người cộng sản bị dẫn dắt sai lầm trong cách giải quyết của họ, anh Đính trước hết là một công dân Việt Nam. Anh ta muốn nhìn thấy quốc gia được thống nhất; anh ta muốn bản thân mình và những người của mình gia nhập lại gia đình của họ trong một quốc gia vào lúc hòa bình. Anh Đính đã đi đến kết luận rằng miền Nam Việt Nam sẽ không phải là động cơ của việc thống nhất Việt Nam, một người bảo đảm cho nền hòa bình Việt Nam. Trong một hành động mà anh ta giữ được đúng đắn đối với trái tim Việt Nam của mình, anh Đính chọn một quyết định định mệnh để phản bội miền Nam Việt-nam và rời bỏ hàng ngũ. Anh Đính, một con Sư tử Trẻ của thành phố Huế, đang trở thành một kẻ thù.

f- Sau việc đầu hàng :

Vào ngày 2 tháng Tư, Tướng Giai đã rời khỏi tiền tuyến cho một cuộc họp ngắn với Tổng thống Thiệu. Trên chuyến trở lại của mình, ông Giai biết được từ vị Sĩ quan Điều hành của mình, Trung tá Cường, rằng anh Đính đã gọi và nói lời tạm biệt. Lúc đầu, ông Giai không thấy rõ ý nghĩa thực sự của thông điệp bí ẩn và như điên cuồng tìm kiếm thông tin liên quan đến số phận của Trung đoàn 56 và hàng tuyến những nơi phòng thủ phía Tây của QĐVNCH. Chỉ sau này, trong một cuộc gặp gỡ với Đại tá Camper, Tướng Giai mới thực sự biết được sự thật của các sự kiện. Cảm thấy hoài nghi, ông Giai từ chối tin rằng anh Đính đã thực sự đầu hàng cho đến khi ông ta nhận được sự xác nhận của tin tức từ những người sống sót của Trung đoàn 56. Chỉ khi đó, Tướng Giai cuối cùng nắm được một sự kiện thực tế khủng khiếp rằng người đàn ông trẻ mà qua đó là người mà ông ta đã đầu tư quá nhiều tin cậy, đã bỏ ngang cuộc chiến đấu.
Việc đầu hàng bất ngờ của Trung đoàn 56 và sự mất mát của Doanh trại Carroll làm cho rối việc lên kế hoạch cẩn thận của ông Giai và làm hỏng những nơi phòng thủ ở phía tây của Sư đoàn 3 QĐVNCH vừa khi tình hình chiến thuật ở phía đông dường như vững chắc hơn. Tại Mai Lộc, Lữ đoàn 147 TQLC Việt Nam bây giờ đang ở trong một vị thế hiểm nghèo, và, giống như Trung đoàn 56, những người lãnh đạo của nó cảm thấy rằng họ phải tự lo một mình. Mặc dù vị cố vấn của Lữ đoàn, Thiếu tá Jim Joy, vẫn còn nghi ngờ, vị chỉ huy của 147 quyết định rằng

p265

sự mất mát Doanh trại Carroll khiến cho Mai Lộc không thể bảo vệ được và yêu cầu được phép di tản về phía đông. Cuộc ra đi từ Mai Lộc diễn ra dưới hỏa lực mạnh mẽ, nhưng TQLC Việt Nam giữ được trật tự tốt đẹp và tìm đường đến Quảng Trị. Sự sụp đổ của Doanh trại Carroll và cuộc rút lui từ Mai Lộc thu hẹp vòng đai phòng thủ của Sư đoàn 3 QĐVNCH nhiều hơn bao giờ hết và cho phép QĐBV từ từ xê dịch gần hơn đến Đông Hà và Quảng Tri.71
Mặc dù tình hình vẫn còn bấp bênh, QĐVNCH(pc 01) đứng vững chắc trong tuyến mới của hệ thống phòng thủ, khi QĐBV(pc 02) tập hợp lại từ những nổ lực của nó và sẵn sàng cho một cuộc tấn công khác. Trong một cố gắng để trả cho những tổn thất của họ và giữ vững, QĐVNCH cuối cùng gởi những viện quân đổ vào trong khu vực, bao gồm Lữ đoàn 369 TQLC Việt Nam và bốn nhóm BĐQ.(pc 15) Ngay cả khi triển vọng chiến lược sáng sủa hơn, Tướng Lãm, vốn là người rõ ràng vẫn còn háo thắng và thậm chí không bận tâm đến thăm các đơn vị của mình trong chiến trường, tạo nên hai lỗi lầm chỉ huy rất quan trọng. Thay vì sử dụng các quân tiếp viện rất cần thiết để ổn định và thêm chiều sâu cho những tuyến phòng thủ của mình, ông Lãm ra lệnh một cuộc phản công chống lại đối phương đang tập trung đông đảo. Hơn nữa, ông Lãm giao cuộc phản công cũng như quyền chỉ huy của tất cả trong số các đơn vị mới cho ban tham mưu đã có quá nhiều gánh nặng rồi của Sư đoàn 3 QĐVNCH, nhưng không cung cấp gì cả sự hỗ trợ hậu cần bổ sung hoặc cả các thông tin liên lạc tín hiệu thiết yếu cho sự chỉ huy và kiểm soát có hiệu quả. Tệ hơn nữa, Tướng Giai bây giờ phải đối mặt với tình hình gợi nhớ đến Chiến dịch Lam Sơn 719, với những đơn vị dưới quyền kiểm soát trên danh nghĩa của mình vốn thực sự lắng nghe và đáp lại nhiều hơn cho cấu trúc chỉ huy độc lập của riêng họ.
Sau khi chịu đựng chống lại một cuộc tấn công bắt đầu lại của QĐBV vào ngày 9 tháng Tư, những lực lượng của QĐVNCH bắt đầu cuộc tấn công của riêng mình, được đặt tên là Chiến dịch Quang Trung 729, nhưng những quân lính mệt mỏi và mất tổ chức chiếm một phần nhỏ. Cuộc tấn công của QĐVNCH thay vì biến thành một trận chiến tai hại gây tiêu hao sinh lực chiến đấu mà qua đó Tướng Giai hưởng được chỉ là quyền kiểm soát hạn chế khi các đơn vị trực thuộc dưới quyền chỉ huy của ông ta theo những cách riêng tương ứng của mình. Tướng Trưởng, vốn là người sau này sẽ phải nhặt lấy các mảnh vụn của sự thất bại thảm hại khi ông ta đảm nhận quyền chỉ huy của Quân đoàn I, vào tháng Năm, tức điên lên bởi những khó khăn về quyền chỉ huy phải đối mặt với Tướng Giai, những khó khăn vốn gần như là việc không chịu phục tùng, và sau đó phát biểu rằng những đơn vị lớn của TQLC và BĐQ:(pc 15)

đóng góp nhiều cho sự rối loạn của quyền chỉ huy và kiểm soát bởi việc cho thêm chi tiết vào những mệnh lệnh của Tướng Giai hoặc bằng cách đặt câu hỏi và cho ý kiến trên mọi thứ liên quan đến những đơn vị của họ. Tuy nhiên, họ không phải là những người duy nhất làm điều này. Chính bản thân Tướng Lãm thường xuyên ban hành các chỉ thị qua điện thoại

p266

hoặc vô tuyến đến cá nhân những vị chỉ huy của lữ đoàn, đặc biệt là đối với vị chỉ huy Lữ đoàn 1 Thiết kỵ (vốn là người thuộc về cùng một chi nhánh) và vốn là người hiếm khi bận tâm thông báo cho Tướng Giai về những cuộc gọi nầy. Tướng Giai thường biết được về các chỉ thị nầy chỉ sau khi chúng đã được bổ sung và những biến cố nầy làm xuống cấp một cách nghiêm trọng thẩm quyền của ông ta. Việc nghi ngờ và bất phục tùng dần dần bắt đầu và cuối cùng dẫn đến sự phá vỡ hoàn toàn quyền chỉ huy và kiểm soát ở tuyến đầu phía bắc Vùng I Quân sự (MR-1).72

Trong sự thức tỉnh về cuộc tấn công của NVA vào ngày 27 tháng Tư, thảm họa một lần nữa giáng xuống những người bảo vệ miền Nam Việt Nam, vì trong phạm vi rộng lớn những khó khăn triền miên về mối quan hệ quyền chỉ huy và kiểm soát. Cuộc công kích của QĐBV đến từ mọi hướng, và, mặc dù những mất mát nặng nề, những chiến sĩ QĐVNCH lúc đầu bám giữ được riêng họ. Tướng Lãm, tuy thế, ngày càng trở nên quan tâm về sự an ninh của Quốc lộ 1, vốn phục vụ như là các tuyến đường cung cấp tiếp liệu chính vào trong khu vực. Kết quả là, vị chỉ huy Lữ đoàn Thiết kỵ 1, không phiền thông báo cho Tướng Giai, ra lệnh cho Đạo quân Xe tăng 20 của mình, vốn đã và đang giữ một phần rất quan trọng của hàng phòng ngự dọc theo sông Cửa Việt, rút lui về phía nam để làm sạch những phẩn tử đối phương khỏi tuyến đường cung cấp tiếp liệu rất quan trọng. Vừa khi họ nhìn thấy những chiếc xe tăng chạy đi xa, những quân lính của QĐVNCH buộc phải bám chặt với hàng ngũ hoảng loạn, tan vỡ, và tìm kiếm nơi an toàn. Trước khi Tướng Giai thậm chí nhận biết về chuyện gì đang xảy ra, nhiều người trong số những quân lính của mình đã đến được Căn cứ Chiến đấu Quảng Trị, hàng tuyến Cửa Việt của những nơi phòng thủ đã được chuyển tay cho kẻ thù trên một dĩa bạc (i.e kẻ thù đoạt lấy mà không cần nhiều sức).73
Trong một sự xuyên tạc mỉa mai, sau việc đầu hàng của Doanh trại Carroll, Đại tá Camper và Thiếu tá Brown đã được giao nhiệm vụ lại để phục vụ như là những vị cố vấn với Trung đoàn 2. Sau khi đã có kinh nghiệm trước đó với đơn vị, ông Camper đã bảo đảm với ông Brown rằng Trung đoàn 2 là một bộ trang phục chất lượng và sẽ không sụp đổ và khiến cho cuộc sống của họ thêm một lần nữa gặp nguy hiểm. Tuy nhiên, khi những đơn vị QĐBV đánh sập vị trí của họ gần những cây cầu Quảng Trị, ông Camper và ông Brown cảm thấy một cảm giác kỳ lạ khi nó trở nên rõ ràng rằng quyền chỉ huy và kiểm soát trong phạm vi trung đoàn đã thất bại và rằng nhiều tiểu đoàn trong khu vực đang trong tình trạng rút chạy hoàn toàn. Khi cả hai người rời khỏi TrtHdChth(pc 10) trung đoàn để ước định tình hình đang lụn bại, một đạn pháo phát nổ, và ông Brown đứng nhìn trong kinh dị khi ông Camper ngã gục, bị đánh bởi một loại trái nổ trước-khi-đến-mục-tiêu ở vùng mặt và cổ. Ông Brown làm hết sức của mình như ông ta có thể để băng bó người bạn thân của mình. Ông Camper nhớ lại:

p267

Tôi cố gắng nói với Joe Brown điều gì đã xảy ra cho tôi, nhưng tôi không thể nói một cách mạch lạc; một trong số những mảnh vỡ đã gây thiệt hại những dây âm thanh của tôi và máu bên trong mặt và sọ của tôi đang làm tôi nghẹt thở. Ông Joe đặt tôi xuống như thế tôi có thể cho máu thoát ra ngoài. Tôi nhớ một cách sâu sắ là đang nằm trong bùn đất, trong một cái gì đó đại loại như là một đám khoai tây, vì vậy miệng, mũi và mặt tôi có thể cho máu thoát ra ngoài.74

Joseph Brown nhanh chóng sắp xếp cho cuộc di tản của người bạn đồng hướng bị thương của mình, trong khi ông ta tìm cách đến Tổng hành dinh cố vấn sư đoàn tại Quảng Trị.
Một lần nữa Tướng Giai chứng minh lòng dũng cảm cá nhân của mình bằng cách đổ xô đến tiền phương để khôi phục lại trật tự, nhưng đã quá muộn. Giữa sự tuyệt vọng ngày càng tăng, xung lực của cuộc công kích của QĐBV bắt buộc Tướng Giai, vào ngày 30 tháng Tư, ủng hộ một kế hoạch mà qua đó có những đơn vị của mình đang rút lui đến những phòng tuyến ở phía nam sông Thạch Hãn. Được thông báo về kế hoạch, Tướng Lãm ngầm tán thành, và các đơn vị của QĐVNCH bắt đầu cuộc rút quân của họ vào sáng hôm sau. Ngay cả khi sự điều động chiến thuật khó khăn đã bắt đầu, tuy thế, theo những hướng dẫn từ Tổng thống Thiệu, ông Lãm huỷ bỏ sự phê duyệt của ông Thiệu và ra chỉ thị cho ông Giai bám giữ bằng mọi giá. Bị choáng váng bởi sự phát triển gây ra rối rắm này, Tướng Giai thử cố gắng thu hồi mệnh lệnh của mình cho cuộc rút quân, nhưng tất cả là sự hỗn loạn. Một số đơn vị đã khởi hành rồi, trong khi các vị chỉ huy của những đơn vị khác từ chối “ở lại đó và chết” theo những mệnh lệnh của Tướng Lãm.
Cuộc rút quân suy sụp một cách nhanh chóng khi những đơn vị tuôn ra xa khỏi những tiền tuyến trong sự rối loạn. Trong tuyệt vọng, Tướng Giai ra lệnh cho đơn vị còn kết chặt cuối cùng trong khu vực, là Lữ đoàn 147 TQLC được tân trang mới mẻ, để dựng lên một phòng ngự qua cấu trúc hùng vĩ của Cổ thành Quảng Trị. Vị chỉ huy của TQLC, tuy thế, theo sự nhận biết của riêng mình quyết định rằng vị trí ở Quảng Trị thì không thể chấp nhận và thông báo cho Tướng Giai rằng “những quân lính của tôi đang rời khỏi.” Với quyền chỉ ông ta đang huy đổ nát quanh mình, ông Giai gọi điện cho Tướng Lãm, vốn là người đã lần lượt nói chuyện với mỗi người trong số những vị chỉ huy hiện có của Sư đoàn 3 QĐVNCH và bảo họ chấp hành mệnh lệnh và đứng vững. Trong khi trên điện thoại, tất cả đã đồng ý, nhưng một khi cuộc điện đàm bị cắt đi, họ bảo Tướng Giai rằng họ vẫn đang rời khỏi. Đại tá Metcalf, là vị cố vấn cao cấp cho Sư đoàn 3 QĐVNCH, đã ghi chép lại những phút cuối cùng của sự sụp đổ Cổ thành Quảng Trị và viết rằng những chiến sĩ của QĐVNCH, như là anh Đính trước họ, tự hỏi về sự khôn ngoan của việc chiến đấu đang tiếp diễn:

p268

Bên phía ai chúng ta theo đây, không ai sẽ chăm sóc chúng ta, tất cả mọi người đang bắt đầu rời khỏi. Bạn có thể đi bộ ra ngoài trên một trong những con đường nhỏ ở đó trong Cổ thành và nhìn thấy các binh sĩ ở khắp mọi nơi bạn nhìn, đang đóng kiện những chiếc xe Honda của họ, những đồ dùng cá nhân của họ trên những xe tải, dỡ xuống những chiếc xe Honda của họ, nhảy lên chính những chiếc xe Honda của họ và ra cổng, họ đang đi khỏi. Không có một sự kiểm soát nào cả. Cuối cùng đã phải đi đến một điểm nơi mà mọi người quá quan tâm đến bản thân và cuộc di tản riêng của riêng họ mà họ không thực sự chú ý đến điều gì là tính toàn vẹn hay liên tục chiến thuật, họ có lẽ vẫn có thể có được.75

(Cổ thành Quảng Trị nhìn từ hướng đông)

Những việc thiếu hiệu quả về quyền chỉ huy và những thực tế quân sự cũng giống nhau vốn đã từng đóng một vai trò như thế trong quyết định đầu hàng của anh Đính, bây giờ tính giá Tướng Giai bằng sự nghiệp của ông ta. Toàn bộ tỉnh Quảng Trị đã rơi vào QĐBV, trong khi Tướng Giai và các vị cố vấn của ông ta suýt nữa không trốn thoát khỏi Cổ thành Quảng Trị với những sinh mạng của họ nằm trong một sứ mệnh giải cứu táo bạo của trực thăng Hoa Kỳ. Đối với Joseph Brown, vốn là người đang có một tiếng tăm như là đang thiếu may mắn, chuyến bay từ Cổ thành là cuộc bốc đi khẩn cấp cuối cùng và lần thứ ba của ông ta khi một đơn vị của QĐVNCH sụp đổ quanh mình. Trên chuyến đến Đà Nẵng của ông ta, Tướng Giai bị bắt giữ và, trong một hành động cuối cùng của lòng dũng cảm và sự tận tâm, viết ra một bức thư mà trong đó ông ta nhận tất cả trách nhiệm cho sự sụp đổ ở Quảng Trị. Khi Đại tá Metcalf nhìn thấy bức thư, ông đã sửng sờ và trả lời: “Tướng Giai, điều đó thì không đúng. Ông đã không ra lệnh cho việc di tản.” Ông Giai chận ngang người bạn của mình với lời bày tỏ “Tôi biết, nhưng tôi là vị chỉ huy; tôi nhận lãnh trách nhiệm cho mọi việc.”76
Tướng Giai bị kết án năm năm trong tù cho sự thất bại của ông ta ở Quảng Trị, một nạn nhân khác của một hệ thống chỉ huy của QĐVNCH(pc 01) vốn chưa sẵn sàng đối mặt với những thách thức được phơi bày bởi chiến tranh qui ước theo quy mô lớn. Ông Giai trở thành một vật tế thần của QĐVNCH. Trong sự trớ trêu và sĩ nhục tột cùng, khi miền Nam Việt Nam sụp đổ, vào năm 1975, những người miền Bắc Việt Nam tìm thấy ông Giai ở trong nhà tù, sau đó đưa ông ta vào trong những trại “cải tạo” của riêng họ cho mười hai năm thêm nữa.
Số phận của Tướng Lãm, qua đó sự bất tài của ông ta đã làm ra quá nhiều việc phá hỏng cả cuộc xâm nhập vào Lào và lẫn những cố gắng phòng thủ của QĐVNCH chống lại cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh, là tiêu biểu của việc chính trị hóa tràn lan của QĐVNCH. Được đóng dấu bằng sắt nung đỏ (i.e. kết tội) bởi Tướng Creighton Abrams và những người khác như là một nguyên nhân chính đáng cho sự sụp đổ của tỉnh Quảng Trị, ông Lãm bị dời đi khỏi quyền chỉ huy của mình, nhưng kêu gọi đến nhiều sự ủng hộ và được giao cho một vị trí hữu danh vô thực kém quyền hành trong hệ thống cấp bậc quân đội của Sài Gòn, mỉa mai thay qua việc nhận một chức vụ là trưởng ban chiến dịch chống tham nhũng của Bộ trưởng Quốc phòng.

p269

Cả anh Đính và anh Huế từ lâu đã nhận ra rằng nhiều người trong phạm vi các cấp bậc cao nhất của vai trò lãnh đạo QĐVNCH cần phải được thay thế; những người yêu nước trẻ cần được cho thời gian để vươn lên trong quyền lực và để đạt được cơ hội lãnh đạo. Thay vào đó, anh Đính và anh Huế bây giờ xem như qua đi, trong khi những người như ông Lãm sống sót. Tướng Cao Văn Viên sau đó bình luận rằng ông Lãm được trang bị kém cỏi để trở thành một vị Tư lệnh quân đoàn, và những lời bày tỏ ý kiến của ông ta phản ảnh các quan điểm của anh Đính và anh Huế:

Nhìn lại khoảng thời gian khó khăn đó, bây giờ tôi có thể thấy rằng điều đó có lẽ là không thực tế để mong đợi sự hoàn hảo từ một vị Tư lệnh quân đoàn. Kiểu huấn luyện và kinh nghiệm, sự ảnh hưởng về chính trị trên những sĩ quan của thế hệ của Tướng Lãm và chính ngay nền tảng của họ không góp phần cho việc vun xới vai trò lãnh đạo quân đội được đòi hỏi bởi những hoàn cảnh.77

Vào ngày 3 tháng Năm, Tổng thống Thiệu ra lệnh cho Tướng Trưởng nắm lấy quyền chỉ huy của Quân đoàn I. Đã qua rồi những hệ thống cạnh tranh về quyền chỉ huy; Đã qua rồi việc cãi vặt nhau và sự không chắc chắn vốn đã chạy tràn lan dưới quyền chỉ huy của Tướng Lãm. Như Tướng Trưởng đã quá thường xuyên làm như thế trước đó, ông ta tạo cảm hứng cho những người của mình hy sinh lớn lao cho đất nước của họ. Trong khi Sư đoàn 3 bầm dập của QĐVNCH rời phòng tuyến để tái trang bị và cơ cấu lại, Tướng Trưởng, vào giữa tháng Năm, chỉ đạo Sư đoàn 1 QĐVNCH và những viện quân dữ dội từ TQLC(pc 07) và BCD(pc 12) Việt Nam tiến lên vào trong những cuộc phản công còn bị hạn chế.

(Những chiến sĩ TQLC của QĐVNCH trong Mùa Hè đỏ Lửa 72)

(Những chiến sĩ BĐQ của QĐVNCH tiến chiếm lại Cổ thành)

Mặc dù tình hình vẫn còn luôn luôn trong tình trạng biến đổi, với cả hai bên đang cố gắng lấy lại thế chủ động, Tướng Trưởng phát triển một kế hoạch dũng cảm cho cuộc tiến quân được trù tính nhằm chiếm lại thành phố Quảng Trị. Mặc dù ông ta phải làm việc tận lực để thuyết phục Sài Gòn về những giá trị của kế hoạch táo bạo của mình, Tướng Trưởng đã thành công, và, vào ngày 28 tháng Sáu, Quân đoàn I tung ra Chiến dịch Lam Sơn 72. Đến ngày 7 tháng Bảy, dưới sự che chở của một cuộc tấn công trừng phạt bằng không lực, những lực lượng của QĐVNCH thêm một lần nữa tiến gần thành phố Quảng Trị, nơi mà QĐBV nhất quyết bám giữ đến người cuối cùng. Cuộc chiến sau đó thoái hoá trở thành một cuộc thử nghiệm về những ý chí giữa 6 sư đoàn QĐBV và 3 sư đoàn của QĐVNCH. Trong vũng nước xoáy, các đơn vị của QĐVNCH hành động tuyệt vời và dồn ép QĐBV xa hơn bao giờ hết vào trong một môi trường như địa ngục của chiến tranh đô thị mà qua đó đè bẹp cuộc giao chiến nổi tiếng hơn ở thành phố Huế trong suốt cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Cuối cùng, vào ngày 16 tháng Chín, TQLC Việt Nam lấy lại được Cổ thành Quảng Trị vốn đã từng sụp đổ quá dễ dàng chỉ một ít tháng trước đó,

p270

và giương ra lá cờ của Miền Nam Việt Nam thêm một lần nữa trên đỉnh những cảnh đổ nát bị biến dạng của một lần mang cấu trúc đẹp. Trong suốt mười ngày cuối cùng của các cuộc xung kích vào Cổ thành, cuộc giao chiến đã đạt đến nhịp độ mạnh dần khủng khiếp, mà trong đó có 2.767 quân địch bị thiệt mạng trong khi TQLC Việt Nam mất con số trung bình là 150 người một ngày.78

(Những chiến sĩ dũng cảm của QĐVNCH dựng lại lá cờ Tổ quốc
sau khi chiếm lại đuợc Cổ thành Quảng Trị vào năm 1972)

g- Sự báo trước tương lai :

Sau sự nao núng lúc đầu, QĐVNCH(pc 01) đã bám giữ vững chắc không chỉ ở Quân đoàn I mà còn trong những cuộc đấu tranh man rợ xung quanh Kontum và An Lộc. Cuộc chiến đấu đã thật là khó khăn, với miền Nam Việt Nam mất đi 8.000 người thiệt mạng trong nhiệm vụ và 3.500 người mất tích, trong khi QĐBV gánh chịu nhiều như 40.000 người thiệt mạng trong một tổng số 200.000 người dự vào trận chiến.79 Hầu hết, cuộc đấu tranh trên khắp miền Nam Việt Nam trong suốt cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh, là một trong những trận đánh lớn nhất và quan trọng nhất của toàn bộ chiến tranh, đã tượng trưng cho QĐVNCH vào lúc tuyệt vời nhất của mình và xem như để chứng minh Chiến tranh của Mỹ. Ngay cả không có sự hỗ trợ bộ binh của Mỹ, QĐVNCH đã chiến đấu lâu dài và giỏi dang, được giúp đỡ bởi các vị cố vấn Hoa Kỳ còn lại và sử dụng nhiều sức mạnh không lực. Cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh khiến nhiều người tin rằng tương lai của QĐVNCH đang tươi sáng. Trong cuộc thử nghiệm lớn nhất của chương trình Việt Nam hóa Chiến tranh, QĐVNCH đã đứng lên và đẩy lùi một cuộc tấn công dốc-hết-toàn-lực của QĐBV.
Tướng Abrams khá thẳng thắn trong sự đánh giá về cách làm việc của QĐVNCH trong suốt cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh và đưa ra nhận xét vào thời điểm đó:

Đã từng có một số tiến hành kém cỏi. Tuy nhiên, luôn luôn đã từng có những
màn tiến hành yếu kém trong chiến tranh –trong chiến tranh hoặc bất cứ thứ gì khác. Và tôi nghĩ rằng luôn luôn sẽ là thế… Một số màn trình diễn nghèo nàn sẽ không làm mất nó. Đó là những cách làm việc tốt mà qua đó sẽ chiến thắng nó không lâu… Nhưng –tôi nghi ngờ cơ cấu của điều này vốn có thể đã được giữ với nhau mà không có không lực Hoa Kỳ. Tuy nhiên, điều mà phải xảy ra trước, đó là chiến lược Việt Nam hóa Chiến tranh, một vài con số trong số họ phải đứng lên và chiến đấu. Nếu họ không làm điều đó, mười lần không lực chúng ta đã từng có, sẽ không chặn đứng QĐBV lại. Vì vậy — đối với tất cả những tình huống sai lầm vốn đã xảy ra, và đối với tất cả những cách làm việc tồi tệ vốn đã từng xảy ra –họ đã ở đó, chúng ta sẽ không ở nơi mà chúng ta là buỗi sáng nay nếu một vài con số trong những Việt Nam đã không quyết định đứng lên và chiến đấu… Và lý do, lý do đầu tiên hết, đó là người Việt Nam, bao gồm Sư đoàn 3, đã quyết định bởi Thượng Đế,

p271

họ đã đi đủ xa và họ sắp sửa chiến đấu nếu họ có một vài cái gì đó như là cơ hội.80

Cách làm việc lúc đầu của QĐVNCH trong suốt cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh, tuy nhiên, cũng đã cho thấy rằng trong tương lai vẫn còn trong một số nghi ngờ đáng kể. Tướng Trưởng phản ảnh:

Những nhà cầm quyền của miền Nam Việt Nam phản ứng giống như họ đã từng trong suốt những giai đoạn hoạt động gia tăng trong quá khứ. Tất cả những khai triển và viện quân được tiếp tục trong cùng một cách thức từng phần, phân đoạn, một lữ đoàn ở đây, một tiểu đoàn ở đó. Những cố gắng ban đầu thì thiếu quyết đoán và không đủ để lấy lại thế chủ động… Điều đó cho thấy rằng những hệ thống của chúng tôi về quyền chỉ huy và kiểm soát và kỹ thuật của chúng tôi về việc sử dụng các lực lượng đã không thích hợp đánh nhằm chống lại chiến thuật quy ước, kết hợp vũ khí đang được sử dụng bởi QĐBV.81

(Chiếc nón sắt của một người lính QĐVNCH đã phải hy sinh)

QĐVNCH có tinh thần chiến đấu kéo dài và các vấn đề khó khăn về vai trò lãnh đạo, nhưng tiềm năng là ở đó; ý chí hy sinh trong sự chiến đấu tận lực là ở đó. QĐVNCH đã thực sự chiến đấu trong gần hai mươi năm và dường như chuẩn bị tiếp tục chiến đấu cho nhiều năm hơn nữa sắp đến. Đến cuối cuộc chiến tranh, một trong sáu người đàn ông Việt Nam đang phục vụ trong quân đội hoạt động82 trong một nổ lực chiến tranh mà qua đó QĐVNCH phải trả cái giá hơn 200.000 cái chết. QĐVNCH đã được xây dựng, bị đẩy sang một bên, và xây dựng lại để chiến đấu trong phạm vi dòng chữ tô đậm Chiến tranh của Hoa Kỳ, mà qua đó khiến cho nó phụ thuộc vào Hoa Kỳ cho những cung cấp tiếp liệu và hỏa lực hết sức quan trọng. Ngay cả đối với những khó khăn đó và các vấn đề khó khăn liên tục của họ về quyền chỉ huy, QĐVNCH đã chứng minh trong cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh rằng nó có khả năng thành công trong phạm vi biên giới của chiến tranh Mỹ, và những thay đổi trong sự thức tỉnh về cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh dường như cho thấy rằng QĐVNCH cuối cùng nghiêm chỉnh về sự cải cách. Tuy nhiên, những thói quen của gần hai mươi năm thì khó khăn phá vỡ, và thời gian đã hết. Hoa Kỳ đã thành công việc rời khỏi cuộc chiến tranh của nó vào đầu năm 1973, thông qua một hiệp ước hòa bình vốn để lại những lực lượng cộng sản tại chỗ ngay cả khi những lực lượng Mỹ rút lui một cách hoàn toàn. Tiền bạc Mỹ và hỏa lực Mỹ, mà qua đó ông Abrams nhận ra sự khác biệt trong chiến tranh, đã mất đi, nhưng QĐBV(pc 02) và các nguồn hỗ trợ bên ngoài của nó vẫn còn.
Không thành vấn đề gì cả về những tuyên bố to lớn được thực hiện qua sự thay mặt cho chiến lược Việt Nam hóa Chiến tranh, QĐVNCH(pc 01) chưa sẵn sàng để tiếp tục theo đuổi chiến tranh một mình

p272

–và kết quả thì không thể tránh khỏi. QĐVNCH đã được tạo ra như là một hình ảnh trong gương của các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ, một quân đội của một quốc gia thuộc thế giới thứ nhất vốn không có thể được hỗ trợ bởi nền kinh tế tả tơi của một quốc gia thuộc thế giới thứ ba. Mạnh mẽ một cách phung phí trên giấy tờ, QĐVNCH tiếp tục chiến đấu và vật vả để thay đổi, nhưng, trớ trêu thay, hầu như nó chứng minh không đủ là người Việt Nam trong cấu trúc và hình thức để chịu đựng được cuộc rút quân của Mỹ và sự tước đi cuối cùng về việc tài trợ mà nó theo sau.83 Một khi Hoa Kỳ rời khỏi cuộc xung đột hoàn toàn, số phận của QĐVNCH mau chóng trở nên rõ ràng.

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 02_ QĐBV : Quân đội Bắc Việt.
pc 03_ BChHtrQsVN : Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự cho Việt Nam (MACV = Military Assistance Command, Vietnam).

pc 04_ Phi đạn chống tăng được hướng dẫn bằng tín hiệu TOW : “TOW = Tube-launched, Optically-tracked, Wire command data link” …(xin xem phần trước)

pc 05_ 2/1 : Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 1.
1/2 : Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 2.
4/2 : Tiểu đoàn 4 thuộc Trung đoàn 2.
1/56 : Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 56.
2/56 : Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 56.
3/56 : Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 56.
3/57 : Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 57.

pc 06_ ĐPQ & NQ : Địa phương Quân và Nghĩa quân.
pc 07_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 08_ KpQs : Khu phi Quân sự.
pc 09_ CcHtHl : Căn cứ Hỗ trợ Hỏa lực.
pc 10_ TrtHdChth : Trung tâm Hoạt động Chiến thuật (TOC = Tactical Operations Center).

pc 11_ Cồn Tiên : (người Mỹ hay viết là “Con Thiên” hoặc “Hill of Angels” –Ngọn đồi Thiên thần) là một căn cứ chiến đấu của Sư đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ nằm gần Khu phi Quân sự Việt Nam cách khoảng 3 km từ miền Bắc Việt Nam. Đó là địa điểm của cuộc chiến đấu khốc liệt từ tháng Hai năm 1967 qua tháng 2 năm 1968 với tổng cộng 7 chiến dịch được Hoa Kỳ tung ra. Giữa cuộc đối đầu của hai Tướng lãnh Hoa Kỳ là Lew Walt và Robert E. Cushman, Jr. chống lại Tướng Võ Nguyên Giáp của QĐBV :
_ Lực lượng Hoa Kỳ : 9.000
_ Lực lượng QĐBV : 12.000
Và những thương vong theo wikipedia như sau :
_ Lực lượng Hoa Kỳ : 1.419 bị giết; 9.265 bị thương.
_ Lực lượng QĐBV : 7.563 bị giết; 168 bị bắt.

pc 12_ BCD : Binh chủng Dù.
pc 13_ Thiếu tá Tôn Thất Mãn : Theo lời tường thuật của một người với tên hiệu là Lê Bộ Binh, được viết vào tháng 10/2009, là người gọi Thiếu tá Tôn Thất Mãn bằng danh từ anh thân thiết như người anh đồng đội của mình, đã kể lại câu chuyện như sau (theo nguyên văn):
“Trong khoảng thời gian này, lãnh đạo trại giam mở đợt vận động tuyên truyền, kêu gọi tất cả sĩ quan đứng lên tự giác từ bỏ lý lịch căn cước QL/VNCH để trở về với Quân đội Nhân dân (i.e. QĐBV). Thiếu tá Tôn Thất Mãn đã khí khái quyết liệt phản đối . Khi được trực tiếp đặt vấn đề, anh nói với Thiếu tá Nguyễn Phương của bên kia: “Ngay từ lúc ở căn cứ Tân Lâm (i.e. Doanh trại Carroll), tôi đã chống lại việc đầu hàng của Trung đoàn trưởng, mặc dầu mọi người đều im lặng, nhưng lúc đó tôi không nghĩ đến sự an nguy của tính mạng mình và đã chống đối đến cùng. Đời lính thắng bại là chuyện thường tình, bây giờ tôi sa cơ thất thế bị các ông bắt, hãy xem tôi như là một tù binh chiến tranh, tôi hoàn toàn chấp nhận vị trí ấy, tôi luôn luôn trung thành với lý tưởng mà tôi đã phụng thờ : TỔ QUỐC – DANH DỰ – TRÁCH NHIỆM, đồng thời tôi không phản bội những chiến hữu dưới quyền đã hy sinh.”
Thiếu tá Nguyễn Phương lên tiếng: “Tôi được phân công xuống giúp đỡ anh, tạo điêu kiện cho anh trở về với cách mạng, phục vụ nhân dân, lập công chuộc tội, nhưng anh vẫn ngoan cố, đó là quyền của anh, có gì đừng ân hận. Tôi sẽ báo cáo với trên.” Sau hôm ấy, anh bị đưa đi giam riêng, được một thời gian, chuyển anh xuống Hỏa Lò Hà Nội, nhốt vào xà lim.
Trong lúc thân phận anh như thế, ở bên ngoài, Bắc Việt tổ chức một buổi lễ rầm rộ cho ông Phạm Văn Đính và ông Vĩnh Phong đăng đàn, nêu lên những tội ác và sai lầm khi theo “Đế quốc Mỹ” dày xéo đất nước và nay thấy rõ đường lối chính đáng của Cách mạng nên đã đem trung đoàn về với nhân dân, xin được đứng trong hàng ngũ Quân đội Nhân dân (i.e. QĐBV) để chống lại kẻ thù xâm lược !
Cả hai ông Đính và Phong đều được giữ nguyên cấp bậc Trung tá và hưởng lương từ tháng 4/1972. Theo chỉ thị của Bắc Việt, ông Đính viết lịch sử miền Nam, phân tích nghệ thuật và hình thái tác chiến của QL/VNCH. Ngoài ra, còn có những ký sự để tuyên truyền xuyên tạc và ca ngợi chính quyền miền Bắc như : “Saigon – Phủ Đầu Rồng”, “Cây Đa Bến Cũ”, “Một cái gì mới” . Tháng 4/1994, cả hai ông ra Hà Nội để được gắn lon Thượng tá và Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất !”

pc 14_ Xe thiết giáp chống tăng : được gọi là ONTOS (Tiếng Hy Lạp có nghĩa là “Một vật”), chính thức có 1 ổ súng liên thanh với nòng súng 0.30 mm, 6 khẩu phóng pháo loại M40-106 mm không giật, tự phóng đi đồng loạt, là loại xe chống tăng loại nhẹ được bọc thép có dây xích, của Mỹ vốn được phát triển vào những năm 1950s. Nhìn chung chẳng khác gì một chiếc xe tăng nhưng không nòng pháo dài mà được thay bằng 6 khẩu phóng pháo loại M40-106 mm.
Điều bất tiện là phải ra ngoài để nạp đạn vào nòng súng, tuy nó được nhìn nhận như là một sát thủ xe tăng nhanh nhẹn và được sử dụng bởi Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ vốn là những người luôn báo cáo về những kết quả tuyệt vời khi được sử dụng cho việc hỗ trợ hỏa lực trực tiếp chống lại bộ binh trong suốt Chiến tranh Việt Nam. Sự di động và hỏa lực của nó đã được chứng minh trong vô số trận chiến và chiến dịch. Được sản xuất trong những số lượng hạn chế và được mở rộng vào cuối cuộc xung đột, tuy nhiên ONTOS đã bị dời khỏi dịch vụ vào năm 1969.

pc 15_ BĐQ : Biệt động Quân.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s