Phần 09-1/3 : Sự hình thành của một kẻ Phản bội

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p229

Phần 09 : Sự hình thành của một kẻ Phản bội

Ngay sau phần kết luận Chiến dịch Lam Sơn 719, Tổng thống Nixon tuyên bố: “Tối nay tôi có thể báo cáo rằng vấn đề Việt Nam hóa Chiến tranh đã thành công.” Ông ta sau đó công bố sự gia tăng tốc độ của quá trình rút quân của Mỹ, với thêm 100.000 quân lính được dự kiến sẽ trở về Hoa Kỳ trước tháng Mười Một năm 1971, và hứa với những cử tri mệt mỏi chiến tranh rằng “sự tham gia của Mỹ ở Việt Nam đang đi đến một kết thúc.”1 Di sản quân sự phức tạp của cách làm việc của Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) ở Lào, thể hiện cùng một lúc những phần phụ thuộc có tiềm năng to lớn và lẫn quan trọng bậc nhất, gần như bị mờ dần khỏi tầm nhìn giữa ánh sáng chói lọi của tính chất thủ đoạn chính trị, vì, bất kể nhịp độ cải cách miền Nam Việt Nam, bất kể khả năng tổng thể của QĐVNCH(pc 01) để sinh tồn, Mỹ đang từ bỏ miền Nam Việt Nam.
Một trạng thái tĩnh lặng quái dị về quân sự bắt đầu xuất hiện trên khắp miền Nam Việt Nam trong thời gian còn lại của năm 1971. Theo sự xác minh những ước tính của tình báo Hoa Kỳ, Quân đội Bắc Việt (QĐBV) vẫn còn theo một phương thức phòng thủ, và, mặc dù QĐVNCH tung ra nhiều hoạt động phòng thủ trong phạm vi những biên giới của mình, cuộc chạm súng với những đơn vị của QĐBV vẫn còn nhẹ. Đối với trận chiến tránh né của QĐBV(pc 02) và Việt cộng (VC) gần như bị loại trừ, tình hình thì quá yên bình đến nổi vị cựu Đại tá Thủy quân Lục chiến (TQLC) Robert Heinl nhận xét, “Nếu công cuộc bình định thành công là thước đo, chiến tranh ở Việt Nam thực sự được giải quyết xong. Chúng tôi đã chiến thắng.”2 Khắp miền quê, những chỉ số thành công ở khắp mọi nơi; công cuộc bình định quả thật phát triển mạnh mẽ, chương trình “Người cày có Ruộng” phân phối đất cho những ai vốn là những người không có gì, và công cuộc sản xuất lúa gạo tăng cao với việc sử dụng tiếp tục cách lai giống đạt năng suất cao được gọi là “hạt gạo nhiệm mầu.”3 Một phần nào, sự yên tĩnh ở miền Nam Việt Nam là kết quả của những thành công của QĐVNCH / Hoa Kỳ trong Chiến dịch Lam Sơn 719, mà qua đó đã làm cạn kiệt một cách đau đớn những kho dự trữ và nguồn nhân lực của QĐBV. Tuy nhiên, những người cộng sản có một lý do kín đáo cho sự yên lặng của họ: qua việc nhận thấy một hiện thực chính trị mà qua đó làm mạnh mẽ hơn chính sách của Mỹ, mục đích ban đầu của QĐBV chính là tránh né bất kỳ hành động nào vốn mang đến nguy cơ về việc làm chậm đi cuộc rút quân của Mỹ.4

p230

Có lẽ QĐBV không cần phải lo lắng, vì việc giải tỏa các lực lượng của Mỹ ở Việt Nam tiếp tục lấy lại một xung lượng cho cái trớn không thích hợp lắm và là một động lực phía sau việc xây dựng lại toàn bộ cuộc xung đột theo chiến thuật. Từ một mức cao hơn 500.000 binh sĩ ở miền Nam Việt Nam vào năm 1968, đến tháng Năm năm 1971 sức mạnh của Hoa Kỳ ở sân khấu đã bị cắt giảm một nửa, và trong những kỳ hạn của các đơn vị chiến đấu hơn 70 phần trăm những tiểu đoàn di động của Mỹ đã được rút đi. Ngay cả khi điều đó trở nên rõ ràng vào cuối năm 1971 mà qua đó QĐBV đã hồi phục từ các cuộc xâm nhập vào Cam-pu-chia và Lào và đang xây dựng lực lượng cho một cuộc tấn công được bắt đầu lại, Hoa Kỳ phản đối với một thông báo về việc triển khai trở lại thêm một số 70.000 quân lính chưa giải quyết, mà theo đó đến tháng Tư năm 1972 chỉ để lại 69.000 quân nhân Mỹ ở Việt Nam và không có đơn vị nào có kích thước sư đoàn.5 Quá trình diễn biến của việc thoát khỏi sự ràng buộc cũng lôi cuốn đến việc rút giảm những nhóm nhỏ hỗ trợ chiến đấu, bao gồm những hệ thống truyền mệnh lệnh và kiểm soát truyền thông liên lạc, trong đó làm giảm một cách đáng kể khả năng phản ứng của QĐVNCH đối với bất kỳ cuộc tấn công to lớn nào của QĐBV.6
Mặc dù những cuộc rút quân thành công trong việc cắt giảm số lượng những thương vong của Hoa Kỳ và lẫn việc hạn chế hậu quả chính trị của chiến tranh trên mặt trận quê nhà ở Mỹ, chúng phơi bày những vấn đề chiến thuật rõ ràng cho một QĐVNCH bị thương và quá căng thẳng, đặc biệt là ở Quân đoàn I. Tướng Trưởng đặt ra khó khăn về việc đối phó với sự thay đổi đang xuất hiện và cũng như mối đe dọa đang phát triển:

Đến tháng Ba năm 1972, hầu như tất cả các đơn vị chiến đấu của Hoa Kỳ đã tái khai triển từ MR-1 [Quân đoàn I]. Đơn vị duy nhất còn lại, Lữ đoàn Bộ binh 196, đang đứng ra gá nh vác và chỉ thực hiện những hoạt động được giới hạn xung quanh những căn cứ không quân Đà Nẵng và Phú Bài, treo lại việc trở về Hoa Kỳ. Những trách nhiệm chiến đấu trên bộ hoàn toàn được đảm đương bởi những đơn vị của QĐVNCH với sự hỗ trợ của chiến thuật không lực, tiếng súng hải quân và sự giúp đỡ của các vị cố vấn Mỹ. Trong khu vực phía bắc của đèo Hải Vân, nơi 80.000 quân lính Mỹ đã cùng một lúc được khai triển, bây giờ chỉ có hai sư đoàn bộ binh của QĐVNCH được hỗ trợ bởi một số lượng của các đơn vị thiết kỵ mới được kích hoạt và pháo binh. Tổng số sức mạnh quân lính tham gia việc phòng thủ khu vực này không vượt quá 25,000.7

Phù hợp với chính sách về việc rút lại những lực lượng chiến đấu, cả những người Mỹ và Úc bắt đầu một cuộc giải tỏa nhanh chóng và không ngừng những vị cố vấn chiến đấu đang phục vụ với các đơn vị của QĐVNCH. Với một ngoại lệ của những vị cố vấn cho Binh chủng Dù (BCD) và một số đội cố vấn trong Quân đoàn I, Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự Hoa Kỳ cho Việt Nam (BChHtrQsVN) giảm xuống tất cả các đội cố vấn tiểu đoàn trước tháng Sáu năm 1970

p231

và bắt đầu rút đi từng giai đoạn các đội cố vấn trung đoàn trong tháng Chín. Ở cấp cao nhất, việc giải tỏa cố vấn được phản ảnh trong việc sắp xếp lại trụ sở cố vấn quân đoàn trở thành Bộ chỉ huy Hỗ trợ Khu vực. Trong chiến trường và trong những công việc như một phần của nhóm huấn luyện, tuy thế, các vị cố vấn chỉ đơn giản biến mất, qua đó để lại hầu hết những vị chỉ huy của tiểu đoàn và trung đoàn của QĐVNCH(pc 01) mà không có phần trung gian quen thuộc dẫn đến hỏa lực Hoa Kỳ, khi mà họ đã từ lâu phụ thuộc vào.8 Trong khi điều đó có thể đã từng được lập luận rằng việc rút đi những lực lượng bộ binh liên minh được chứng thực vì tình hình quân sự được cải thiện, giống như thế khó nói về việc giải tỏa của các vị cố vấn. Mặc dù một số những đơn vị của QĐVNCH hoàn toàn có khả năng đứng một mình, các sự kiện của Chiến dịch Lam Sơn 719 cho thấy rằng phần lớn của QĐVNCH vẫn vô cùng cần đến sự hỗ trợ cố vấn. Bởi vì Hoa Kỳ kỳ vọng QĐVNCH gánh vác thêm gánh nặng của cuộc xung đột, sự hiện diện tiếp tục của các vị cố vấn ở tất cả các cấp thì tối quan trọng hơn bao giờ hết.
Theo một ý nghĩa chiến thuật, QĐVNCH đã cố gắng hết mình như nó có thể làm sau việc rời khỏi của những lực lượng Mỹ. Nhiệm vụ, tuy thế, thì đặc biệt khó khăn ở Quân đoàn I. Một nhà sử học Úc Ian McNeill giải thích:

Mặc dù thời gian tạm lắng tương đối trong các hoạt động được khởi xướng bởi đối phương, Quân đoàn I vào năm 1971 có không quân và sự cần kíp của một tổ kiến trước khi cơn bão. Những con đường thì đầy nghẹt với giao thông quân sự khi những quân lính và các cửa hàng của Mỹ, Hàn Quốc và miền Nam Việt Nam thay đổi địa điểm; những đơn vị của QĐVNCH vốn đã có lần di chuyển để chiếm đóng khoảng trống bị bỏ lại bởi những lực lượng ra đi của Hoa Kỳ, phải di chuyển thêm một lần nữa khi việc rút quân tiếp tục; những quân lính được lệnh chiếm đóng một phần những căn cứ bị bỏ rơi, ngổn ngang của Hoa Kỳ đã đến đó để tìm thấy họ bị lột sạch xong xui bởi những nhà thầu tham lam, tham nhũng; những đơn vị mới được tạo ra và những hình thành mới được tổ chức từ việc cải tổ lại những đơn vị hiện có. Những mô hình vận hành trước đây, được thành lập kỹ lưỡng và những khu vực trách nhiệm quen thuộc, cho những Lực lượng Bản địa cũng như QĐVNCH, không còn tồn tại.9

Trong một cố gắng để bù đắp cho việc rút đi các lực lượng của Mỹ, BChHtrQsVN(pc 03) và ban lãnh đạo quân sự của miền Nam Việt Nam bắt tay vào Giai đoạn III Chương trình Cải tiến và Hiện đại hóa Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, vốn đã bắt đầu trong sự thức tỉnh của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân vào năm 1968. Chương trình đã đáp ứng với thành công đáng kể, qua việc mở rộng toàn thể sức mạnh quân sự của miền Nam Việt Nam từ 650.000 đến gần 1,1 triệu chỉ trong năm năm. Trong phạm vi danh mục gây ấn tượng về sức mạnh quân sự,

p232

QĐVNCH đã mở rộng đến hơn 400.000 quân, trong khi các Lực lượng Bản địa đã vươn lên sức mạnh đến hơn 500.000 người. Cả QĐVNCH(pc 01) và các Lực lượng Bản địa cũng nhận được loại vũ khí mới, cuối cùng bao gồm 175 ly khẩu pháo đại bác, những chiếc xe tăng M-48A3, và những phi đạn chống tăng được hướng dẫn bằng tín hiệu TOW.(pc 04) Lực lượng Hải quân và Không quân của miền Nam Việt Nam cũng nhìn thấy những mở rộng và nâng cấp tương tự về trang thiết bị, đối với hình ảnh chủ yếu của Không lực miền Nam Việt Nam, chiếc chiến đấu cơ A-1 Skyraider (i.e. Kẻ không kích Bầu trời) đã lỗi thời, dần dần được thay thế bởi A-37 và phi cơ chiến-đấu-thả-bom F-5A.10 Việc huấn luyện của các lực lượng quân sự của miền Nam Việt Nam được mở rộng cũng đã được cải thiện và tập trung vào việc làm mạnh hơn các lãnh vực kém cỏi được phô bày trong suốt cuộc xâm nhập Lào, bao gồm sự phối hợp của yễm trợ hỏa lực, những hoạt động di chuyển bằng không kỵ, và sự hỗ trợ hậu cần.11

( 39 chiếc phi cơ chiến đấu A-37 mới khi được xây dựng trên hệ thống
sản xuất dây chuyền cho phi cơ chiến đấu T-37B, việc giao hàng
bắt đầu trong tháng Bảy năm 1967. Phi đội Hoạt động Đặc biệt
604 nhận được 25 chiếc và bắt đầu những hoạt động ở
Việt Nam vào ngày 15 tháng 8 năm 1967)

(Phi cơ chiến-đấu-thả-bom F-5A đang chuẩn bị rời phi trường
Biên Hòa cho chuyến bay tuyến đường dài ngoài nước
với năm bình nhiên liệu bên ngoài)

(Xe tăng M-48A3 của Hoa Kỳ)

(Phi đạn chống tăng được hướng dẫn bằng tín hiệu
BGM-71-TOW của Hoa Kỳ)

Mặc dù Chương trình Cải tiến và Hiện đại hóa đánh bắt được những gặt hái to lớn theo những thuật ngữ của những con số chưa trừ hao của quân đội, tình hình ở miền Nam Việt Nam gần như tồi tệ hơn khi các chương trình quan trọng khác rơi xuống bên đường và sự khủng hoảng kinh tế bao vây quốc gia. Khi những người lính Mỹ trở lại “thế giới,” số tiền mà họ thông thường tiêu xài trong đất nước, một nguồn đáng kể của ngoại tệ mạnh mẽ vốn dựng lên nền kinh tế yếu kém của miền Nam Việt Nam, đã biến mất. Việt Nam Cộng Hòa kiếm có được 403 triệu đô-la vào năm 1971 nhưng chỉ có 213 $ triệu vào năm 1972, trong khi sự viện trợ kinh tế trực tiếp của Hoa Kỳ thu nhỏ lại dần dần khá nhiều hơn, qua việc rơi xuống từ 575 $ triệu vào năm 1971 đến 454 $ triệu trong năm 1972.12 Nạn lạm phát theo đà bốc hơi nước khi nền kinh tế của miền Nam Việt Nam dần dần nổ tung vào bên trong, và những quân nhân của QĐVNCH, những người với tiền lương tháng của họ không theo kịp nhịp độ với giá cả tăng lên theo hình xoắn ốc, rơi xuống xa hơn bao giờ hết vào trong sự tuyệt vọng về kinh tế. Khiến cho vấn đề tồi tệ hơn, những cố gắng nhằm cung cấp nhà ở cho những người thân nhân của quân đội, rất quan trọng đối với tinh thần chiến đấu của QĐVNCH, đã sụp đổ và tạo ra sự thiếu hụt nhà ở đến tê liệt, qua đó khiến cho các gia đình của nhiều binh lính phải sống trong sự nghèo khổ.
Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và tinh thần xuống thấp, những mức độ đào ngũ của QĐVNCH vẫn còn cao một cách đáng lo lắng, với 140.000 người đàn ông bỏ rơi những đơn vị mình trong suốt chỉ trong thời gian năm 1971. Việc xem xét những khó khăn về xã hội và gia đình vốn có trong vấn đề phục vụ quân sự trong QĐVNCH, chính phủ miền Nam Việt Nam chọn lựa phần chính để bỏ qua những việc đào ngũ, mà qua đó cuối cùng chỉ là một triệu chứng của một hệ thống vốn ngày càng trở nên mất đi tính năng động. Vào năm 1971, khi Tướng Trưởng, sau đó nắm quyền chỉ huy của Quân đoàn IV, nghiêm trị những vấn đề đào ngũ, ông ta nhận được những hướng dẫn để ngừng lại, bởi vì những cố gắng thành công của ông ta chỉ mang những người đào ngũ ra khỏi những mảnh đất nhỏ nông nghiệp thuộc gia đình đến nơi mà họ đã bỏ trốn và gây ra sự xáo trộn vụ mủa thu hoạch lúa ở đồng bằng.13

p233

Đối với một quân đội vốn đã từ lâu đã bị đẩy sang một bên và phụ thuộc vào đồng minh Mỹ hùng mạnh của nó, điều đó không gì ngạc nhiên rằng vấn đề quan trọng trong phạm vi của QĐVNCH vẫn là một vấn đề của ban lãnh đạo. Ở cấp thấp nhất, những chính sách hạn chế của QĐVNCH đã thu hẹp số lượng những sĩ quan có tiềm năng cho một lực lượng quân sự vốn đang mở rộng nhanh chóng, dẫn đến sự thiếu hụt kinh niên những người lãnh đạo cấp đại đội và tiểu đoàn có đủ trình độ. Ở những cấp cao nhất, mặc dù BChHtrQsVN(pc 03) làm rào xung quanh chống lại sự thiếu khả năng vẫn tiếp tục được biểu lộ bởi một số vị chỉ huy sư đoàn và quân đoàn trong sự thức tỉnh qua Chiến dịch Lam Sơn 719, sự thay đổi có ý nghĩa thì chậm chạp trong trạng thái sắp đến. Ngay cả bản thân các vị tướng lãnh thừa nhận rằng một cái gì đó phải được thực hiện. Tướng Viên đã viết sau chiến tranh rằng:

vấn đề của vai trò lãnh đạo đáng lý ra nên được xem xét, đặc biệt là ở cấp quân đoàn và sư đoàn. Việc bổ nhiệm các sĩ quan tướng lãnh cho những công việc chỉ huy quan trọng này đáng lý ra nên là không có về những xét đoán chính trị và hoàn toàn được dựa trên tính chuyên nghiệp về quân sự và khả năng tranh đua… Kỷ luật quân đội đáng lý ra cần phải được tuân theo một cách nghiêm túc ngay cả đối với những sĩ quan tướng lãnh, đặc biệt là khi sự điều khiển một hoạt động to lớn và quyết định đang bị lâm nguy.14

Bên dưới bề mặt của trạng thái yên tĩnh về quân sự, những dòng nước ngầm không rõ đang sôi sụt đã xói mòn một hiện thực chiến lược và để lại cho QĐVNCH lâm vào tình trạng gay go rất nghiêm trọng. Những người Mỹ đang rời khỏi, ngay cả khi QĐBV(pc 02) chuẩn bị sẵn sàng cho một tấn công bắt đầu lại. QĐVNCH đã xây dựng nên những mức độ phi thường về sức mạnh và đã giành được những chiến thắng to lớn, nếu không được báo trước, nhưng nó giữ lại những khuyết điểm đáng kể mà ban lãnh đạo quốc gia dường như không có ý muốn nói lên một cách đầy đủ. Đối với những người lính của Quân đoàn I, đặc biệt là Sư đoàn 1 QĐVNCH bầm dập của QĐVNCH, mà qua đó trong sự vắng mặt của những người đồng minh Mỹ của nó đã một mình đứng bảo vệ trên mảnh đất gia sản đẫm máu nhất và bị đe dọa nhiều nhất ở miền Nam Việt Nam, những đám mây bão tố đang tụ tập dường như đen ngòm một cách đặc biệt. Đối với Phạm Văn Dính, điều đó dường như là cuộc đua giữa tốc độ rút quân của Mỹ và tốc độ cải cách của QĐVNCH đang bị mất đi. Anh Đính thì không hẵn là một mình trong cách đánh giá ác nghiệt của mình. Khi điều gì đó đã từng nghĩ là không có thể, tất cả đã trở nên quá thực, nhiều người trong QĐVNCH bắt đầu mất đi niềm hy vọng. Thiếu tướng William Camper, vốn là người đã từng phục vụ như là một vị cố vấn cho Sư đoàn 1 QĐVNCH từ tháng Mười năm 1964 đến tháng Ba năm 1965, trả lại bổn phận nghĩa vụ khác vào năm 1971, qua việc phục vụ như là vị cố vấn Hoa Kỳ cuối cùng của anh Đính trong suốt chiến tranh. Với việc phục vụ ở cả hai thái cực của sự tham gia của Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam, ông Camper đang ở trong một vị thế riêng biệt nhất để quan sát những thay đổi trong QĐVNCH(pc 01)

p234

và báo cáo rằng “tinh thần chiến đấu của Việt Nam sau khi những lực lượng Mỹ rút đi, đã rơi xuống. Họ cảm thấy rằng chúng ta đã bỏ rơi họ. Tôi nghĩ rằng điều nầy tràn ngập mỗi cấp bậc trong hàng ngũ từ một người lính thấp nhất đến các vị tướng lãnh.”15
Bất kể những nghi ngờ dai dẳng vì lo lắng của anh Đính và sự mất mát của rất nhiều bạn bè trong trận chiến, nó trở lại công việc chiến tranh như thường lệ sau Chiến dịch Lam Sơn 719.16 Nhiều đơn vị trong phạm vi Sư đoàn 1 QĐVNCH mở rộng hơn của QĐVNCH đã gánh chịu khốn khổ to lớn trong cuộc xâm nhập Lào, và trong những trường hợp nghiêm trọng nhất –bao gồm 2/2(pc 05) của Trần Ngọc Huế– những tiểu đoàn có biểu hiện chiến đấu không hiệu quả và phải bị loại ra ngoài hàng ngũ cho sự xem xét toàn bộ. Sự thiệt hại quả thật quá tồi tệ đến nổi một số nhà quan sát bên ngoài tin rằng toàn bộ Sư đoàn 1 QĐVNCH đã không còn sẵn sàng chiến đấu.17 Mặc dù anh ta lưu tâm về tình trạng yếu ớt của một số trong những đơn vị dưới quyền chỉ huy của mình, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, là vị Tư lệnh của Sư đoàn 1 QĐVNCH, nhất định giữ cho tiến triển, cả về mặt xây dựng một thời cơ chiến thuật được cung cấp bởi việc nã pháo liên tục của những lực lượng QĐBV ở Lào và lẫn về mặt xây dựng lại niềm tin của những người của riêng mình.
Bởi vì nó vẫn còn sức mạnh đầy đủ, Trung đoàn 54 đóng một vai trò nổi bật trong các hoạt động an ninh đang diễn ra ở cả hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị. Không thiếu một trận đánh nào, những tiểu đoàn khác nhau của Trung đoàn 54 được chuyển từ những hoạt động của họ trong việc hỗ trợ cuộc xâm nhập Lào đến hành động trong những hoạt động Lam Sơn 487 và 720. Khái niệm cơ bản của các hoạt động đổi mới thì quen thuộc: chận cuộc xâm nhập của đối phương vào trong các khu vực bình định của đồng bằng. Tuy nhiên, trong phạm vi cái tên được tô đậm của Lam Sơn 487 và 720, Trung đoàn 54 nhận lãnh một cuộc bày binh bố trận của những công vụ bổ sung làm hoang mang đối phương. Thực ra đó là một việc hiếm hoi đối với những tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 54 nhằm bảo vệ khu vực hoạt động riêng của họ xung quanh Căn cứ Hỏa lực Anzio. Đôi khi những tiểu đoàn thu hút những công vụ khá béo bở, bao gồm việc bảo vệ Kinh thành Huế. Thường xuyên hơn là không, tuy thế, các đơn vị của Trung đoàn 54 tìm thấy chính mình tham gia vào một số công việc nguy hiểm nhất trong tất cả các trung đoàn của Quân đoàn I.
Sau việc rút quân khỏi Lào, 1/54 và 4/54(pc 05) tung ra những hoạt động tìm-kiếm-và-tiêu-diệt gần Khe Sanh và tạo nên chỉ là cuộc chạm súng nhẹ trong việc tìm kiếm những kẻ lang thang của QĐBV. Tiểu đoàn 1 sau đó tiếp tục di chuyển vào những hoạt động trong thung lũng Da Krong và một lần nữa phải đối mặt với sự kháng cự ít ỏi từ một lực lượng đối phương có khuynh hướng đang tránh né trận chiến và đang hồi phục từ những mất mát nặng nề gần đây. Trong suốt tháng Năm và tháng Sáu, 1/54 và 4/54 tung ra những cuộc xâm nhập vào trong những nơi đến được ở phía bắc của thung lũng A Shau, đưa đến những cuộc đụng độ sắc bén mà qua đó cho thấy rằng sự phục hồi của cộng sản thì tốt đẹp và thực sự đang diễn ra. Mặc dù Trung đoàn 54 và phần còn lại của Sư đoàn 1 QĐVNCH chiến đấu tận lực,

p235

họ không thể duy trì nhịp độ. khi càng ngày càng nhiều đơn vị Mỹ rời bỏ Quân đoàn I, những điều ẩn ý về chiến thuật của việc rút quân trở nên rõ ràng. Sư đoàn 1 QĐVNCH không có thể phòng thủ toàn bộ phần phía bắc của Quân đoàn I một mình; một sư đoàn của QĐVNCH bị bầm dập nhưng không nản lòng không thể đảm nhận công việc vốn đã có lần từng là phạm vị hoạt động của 80.000 binh sĩ tinh nhuệ nhất của Hoa Kỳ và TQLC.(pc 07)
Những hoạt động của Trung đoàn 54 xung quanh Khe Sanh và trong thung lũng Da KrongA Shau có tầm quan trọng mang tính biểu tượng to lớn: chúng là những hoạt động liên minh cuối cùng từng có trong những khu vực đó, những bối cảnh bí ẩn và truyền thuyết của một số trong những cuộc chiến đấu gian khổ nhất của toàn bộ Chiến tranh Việt Nam. Không thể bảo vệ mọi thứ, Sư đoàn 1 QĐVNCH thắt lại những phòng tuyến của nó và lại một lần nữa nhượng lại quyền kiểm soát các vùng cao nguyên phía Tây của Quân đoàn I cho QĐBV. Đến cuối tháng Sáu, những nhóm nhỏ của Trung đoàn 54 tìm thấy chính họ bảo vệ khu vực xung quanh Căn cứ Hỏa lực Fuller, một trong những chốt quan trọng của pháo đài phòng thủ mới, trong khi các lực lượng nổi dậy cộng sản xây dựng sức mạnh của họ, lấy lại vị trí của họ ở vùng cao nguyên, và bắt đầu phát huy áp lực trên phòng tuyến mới của QĐVNCH.18
Phạm Văn Đính tìm thấy tình hình đang phát triển tình trạng thất vọng vô cùng rộng lớn. QĐVNCH đã mất quá nhiều người giỏi trong những cố gắng đẩy QĐBV ra khỏi Quân đoàn I –hai lần– và đã từng rất gần chiến thắng. Bây giờ, vùng đất vốn đã phải trả quá nhiều bằng máu, nơi mà có lần anh ta có thể ngồi trong một chiếc xe jeep không mui phóng một mạch đến Khe Sanh trong yên lành, thì một lần nữa nằm trong tay kẻ thù. Trong cuộc thối lui trước đó từ phía tây, những lực lượng đáng kể của Mỹ vẫn còn ở miền Nam Việt Nam, nhưng bây giờ cuộc rút lui mang một không khí làm mất nhuệ khí vĩnh viễn. Làm thế nào chỉ một mình miền Nam Việt Nam lấy lại vùng lãnh thổ bị mất của mình và đẩy Bắc Việt ra thêm một lần nữa? Khi sự hỗ trợ của Mỹ cho chiến tranh suy yếu, một thực tế chiến thuật được phơi bày bởi giai đoạn mới của cuộc xung đột đè mạnh lên anh Đinh và khiến anh ta nghĩ trong lần đầu tiên rằng miền Nam Việt Nam có thể thực sự thua cuộc đấu tranh cho sự sống còn của nó.

a- Việc tạo ra Sư đoàn 3 QĐVNCH :

Tình hình quân sự đang xấu đi ở Quân đoàn I buộc bàn tay thường do dự của chính phủ miền Nam Việt Nam cung cấp những quân tiếp viện cho Sư đoàn 1 QĐVNCH bị bao vây. Một lựa chọn lôi cuốn đến việc tập hợp lại cùng với nhau những tiểu đoàn BĐQ(pc 09) hiện đang có trở thành một sư đoàn liên kết chặt chẽ, nhưng kế hoạch bị bỏ ngay lập tức vì những vấn đề chính trị đang tràn lan được phơi bày bởi sự cải tổ chính phủ về quyền chỉ huy như thế.19

p236

Một sự lựa chọn thay thế khác cho việc làm vững chắc thêm tư thế phòng thủ của QĐVNCH dọc theo Khu phi Quân sự (KpQs) liên quan đến việc dời chuyển về phía bắc một sư đoàn hiện đang có sẵn, là một sự chọn lựa được nêu lên để bàn luận vì sự bất động tiếp tục của QĐVNCH. Tướng Trưởng đưa ra nhận xét:

Việc thực hiện một sự thay đổi vĩnh viễn trong việc khai triển một sư đoàn của QĐVNCH là một gánh vác to lớn, vì nó liên quan đến việc tái lập vị trí cho hàng ngàn gia đình cũng như những quân nhân và dụng cụ. Phải mất bảy tháng để hoàn tất việc di chuyển của Sư đoàn 25 QĐVNCH từ Quảng Ngãi đến Hậu Nghia.20

Cuối cùng, mệnh lệnh tối cao của miền Nam Việt Nam tạo ra một hình thành hoàn toàn mới –Sư đoàn 3 QĐVNCH. Tuy nhiên, Sư đoàn 3 thì mới chỉ trong cái tên và không đòi hỏi số người nhập ngũ trong một đợt của những quân lính mới chưa có kinh nghiệm nhưng hơn là một sự cải tổ những tiểu đoàn và các nhân viên hiện đang có từ những đơn vị khác. Trung đoàn 2 thuộc Sư đoàn 1, bao gồm đơn vị cũ của Trần Ngọc Huế và phần lớn những đơn vị lệnh thuộc quyền chỉ huy của Tướng Giai ở Sư đoàn 1 Xung phong, được chuyển toàn bộ vào trong Sư đoàn 3. Ba tiểu đoàn đầu tiên của Trung đoàn 2 vẫn còn ở tại chỗ, trong khi Tiểu đoàn 4 trở thành Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 56 mới được thành lập thuộc Sư đoàn 3 và Tiểu đoàn 5 trở thành cốt lõi của Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 57. Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn 51 bên ngoài Đà Nẵng trở thành Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 56, trong khi Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 6 thuộc Sư đoàn 2 QĐVNCH trở thành Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 57. Như vậy, Trung đoàn 2 của Sư đoàn 3 bước vào như là một đơn vị hoàn chỉnh và chặt chẽ mà qua đó, trong khi nó đã từng gánh chịu to lớn trong Chiến dịch Lam Sơn 719, đã đòi hỏi kinh nghiệm đáng kể ở mặt bắc của Quân Đoàn I. Những tiểu đoàn cốt lõi của Trung đoàn 56 và 57 mới cũng là những sự hình thành của cựu quân nhân nhưng không có kinh nghiệm làm việc củng với nhau trong phạm vi những đơn vị mới của họ.
Tuy nhiên, có những vấn đề khó khăn trong phạm vi những đơn vị nòng cốt có kinh nghiệm của Trung đoàn 56 và 57. Đại tá Donald Metcalf, vốn là người trở thành vị cố vấn cao cấp cho Sư đoàn 3, nhận xét:

Tôi sẽ rằng điều đó không là bí mật gì… [Sư đoàn 3] có nhiều người vốn không làm việc tốt từ nơi họ đến và được gởi xuống con đường được giao cho Sư đoàn 3 QĐVNCH như là một cách thảy họ ra khỏi những cuốn sách của những người đó. Bây giờ nhé, bao nhiêu trong số này bạn có thể thực sự nhận vào trong một sư đoàn trước khi bắt đầu tác động trên cách làm việc của nó ?

p237

Tôi sẽ nói rằng năm tiểu đoàn của Trung Đoàn 2 thì nguyên vẹn thực chất. Họ đến từ Sư đoàn 1 QĐVNCH theo cách đó. Nhưng, tôi sẽ tin rằng Sư đoàn 2 QĐVNCH có vẽ như là chứa đầy tiểu đoàn của nó. Họ đòi hỏi cho những tình nguyện viên trong Sư đoàn 2 QĐVNCH vốn là những người muốn đi đến Quảng Trị một lần nữa. Điều đó thì không quá đáng kể đến nổi sau cùng họ phải để tiểu đoàn chung với nhau. Họ gởi nó đến trung tâm huấn luyện Dong Dong và trong thời hạn mười ngày, một nửa tiểu đoàn đã bỏ trở lại Quảng Ngãi.21

Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 56 và 57 là những hình thành hoàn toàn mới, được trộn vào với nhau tạo ra một hỗn hợp của những lực lượng Địa phương Quân và Nghĩa quân (ĐPQ & NQ) và những người đào ngũ khó thay đổi. Đối mặt với một tình hình mới và chán nản vì sợ, những quân lính bản địa bị biến đổi thì thường kém nhiệt tình hơn để phục vụ trong chỗ chứa mới của họ. Đại tá Metcalf bình luận:

Thật không may, hai Tiểu Đoàn 3 của Trung đoàn 56 và 57 thì… thế nầy nhé, khi bạn gởi cho những số mong muốn của một ngàn ĐPQ hoặc NQ hoặc Lực lượng Nhân dân Tự vệ, bạn nhận được điều gì ? Bạn bắt được người đó mà qua đó có thể tốt nhất là được tha miễn, vì vậy chúng tôi có hai tiểu đoàn của loại này.22

Trong trường hợp của những người đào ngũ, gần 700 người chủ yếu được chia thành nhóm nhỏ gởi đến những Tiểu đoàn 3 của trung đoàn 56 và 57,23 “quân cảnh đã đi đến gặp họ trong tù và hỏi họ, ‘Mầy muốn ra không?’ và đưa ra cho họ một cơ hội gia nhập QĐVNCH một lần nữa dọc theo KpQs.”24
Sư đoàn mới thiếu dụng cụ quan trọng và không có cấu trúc hậu cần gì cả, nhưng, quan trọng hơn, nó cần một cấu trúc quyền chỉ huy của riêng nó. Tuy nhiên, thật khó để tìm thấy một người nào đó vốn là người vui lòng đảm nhận nhiệm vụ khó khăn của việc chỉ huy sự hình thành chắp vá; nguy cơ thất bại thì thật đúng là quá cao. Sau việc tranh cãi đáng kể, Thiếu Tướng Vũ Văn Giai đồng ý trở thành, theo những lời ông ta, “vị chỉ huy thiếu may mắn của sư đoàn mới ra đời nầy, một sư đoàn mà không ai muốn.”25 Trong tìm kiếm của mình cho những phụ tá có kinh nghiệm, Tướng Giai quay sang người bảo vệ cũ của mình, Phạm Văn Đính, để dẫn dắt Trung đoàn 56. Mặc dù ông ta nhận ra rằng vai trò chỉ huy một đơn vị của những khả năng đa dạng như thế sẽ thật khó khăn, anh Đính đang mong đợi đối mặt với một thách thức mới và chấp nhận lời đề nghị của ông Giai.
Về mặt kỹ thuật, được tạo ra vào ngày 1 tháng Mười năm 1971, Sư đoàn 3 vẫn là một công việc trong tình trạng tiến triển; như các đơn vị thuộc cựu chiến binh được phân loại ra theo những sắp xếp các mới của họ, các đơn vị mới hơn trải qua những cuộc huấn luyện vội vã và những vị chỉ huy ở tất cả các cấp đấu tranh với những chi tiết chính xác, quan trọng của hậu cần và sự triển khai chiến thuật.

p238

Như là một đơn vị mới và chưa được thử nghiệm, Sư đoàn 3 QĐVNCH trở thành người tiếp nhận nhiều sự chú ý từ sự cố gắng cố vấn đang suy giảm của Mỹ và cuối cùng được đặt dưới cái tên được tô đậm của Đội Cố vấn 155. Một trong những báo cáo đầu tiên của họ về những khả năng của Sư đoàn 3, các vị cố vấn Hoa Kỳ lấy làm cảm kích với đội ngũ lãnh đạo cao cấp mà ông Giai đã từng tập hợp lại, qua việc cho họ là “có cả kinh nghiệm và rất có khả năng.” Và mặc dù đội cố vấn tìm thấy phần nhiều sự kiện đó thì rất đáng khen ngợi cho chính bản thân sư đoàn, họ cũng nhận thấy những điểm yếu đặc trưng của nó, trong một báo cáo đến trụ sở đội ngũ cố vấn, đưa ra nhận xét:

Tỷ lệ đào ngũ dành cho các đơn vị Sư đoàn 3 vẫn là không thể chấp nhận được, nhưng nó dường như là từng chút nhỏ nhặt có thể được làm trong hiện tại nhằm hạ thấp nó hơn. Những nguyên nhân đầu tiên dường như là những con số khổng lồ của những nhân viên mới của Sư đoàn không có nguồn gốc bản địa đối với vùng này của đất nước, và thật ra, là từ các khu vực của Quân đoàn III và Sài Gòn, sau khi đã được đưa đến đây bởi những đòi hỏi về việc xây dựng các đơn vị mới. Những nhóm số kế tiếp nhau của 3/56 và 3/57 phần lớn được cấu thành từ những nhân viên ĐPQ & NQ(pc 06) có tổ chức thành liên hợp vốn là những người hiện tại hết ảo tưởng về viễn ảnh được trở thành những người lính chuyên nghiệp toàn thời gian.26

Tướng Giai cảm thấy bực bội một cách riêng biệt bởi việc đào ngũ tiếp tục trong địa phương, một vấn đề được gia tăng hơn bởi sự giúp đỡ của cộng sản đã mở rộng cho những người đào ngũ theo hình thức một đường sắt ngầm dưới đất của những ngôi nhà an toàn được thiết kế để giúp đỡ những quân nhân đang trốn chạy trong chuyến trở lại miền Nam của họ.27
Hiện nay, ở đó tồn tại ba sư đoàn của QĐVNCH, cùng với đủ loại các đơn vị hỗ trợ, trong Quân đoàn I. Sư đoàn 2 QĐVNCH canh gác ba tỉnh phía nam của Quân đoàn I, trong khi Sư đoàn 1 QĐVNCH kỳ cựu phòng thủ những ngõ vào ở phía tây thành phố Huế. Nhiệm vụ rơi vào Sư đoàn 3 QĐVNCH thiếu kinh nghiệm và thiếu nhân lực là đứng dọc theo KpQs(pc 08) và những ngõ vào thuộc vùng cao nguyên từ Lào –công việc khó khăn nhất trong QĐVNCH. Nhiệm vụ quả thật quá khó khăn đến nổi Sư đoàn 3 QĐVNCH được tăng cường bởi hai lữ đoàn TQLC(pc 07) Việt Nam, vốn là những người đóng quân phần lớn lực lượng của mình xung quanh Căn cứ Hỏa lực Mai Lộc để canh gác phần phía tây nam phòng tuyến của Sư đoàn 3 QĐVNCH. Ngay cả với những quân tiếp viện nầy, Tướng Giai và Phạm Văn Đính xét đến quyết định đặt Sư đoàn 3 QĐVNCH trong những vùng có vạch chữ thập của QĐBV(pc 02) theo cách tốt nhất của một canh bạc nguy hiểm. Đó là một kiến thức phổ biến trong số các vị chỉ huy của QĐVNCH(pc 01) lâm vào cảnh khó khăn lúng túng, cả các vị cố vấn Mỹ của họ, và quả thật là QĐBV mà qua đó Sư đoàn 3 QĐVNCH chưa đảm đương nổi nhiệm vụ có thể xét đến của nó;

p239

chỉ có ban lãnh đạo trong hàng ngũ cấp trên của QĐVNCH dường như không hề xúc động, sẵn sàng chấp nhận nguy cơ về quân sự để tránh né các vấn đề chính trị về một câu trả lời rõ ràng toàn diện hơn đối với vấn đề phòng thủ KpQs.(pc 08)
Các vị cố vấn Mỹ cho Sư đoàn 3 QĐVNCH đặt tình hình một cách thẳng thừng trong bản báo cáo của họ:

Nhiệm vụ của Sư đoàn 3 QĐVNCH là: “Thực hiện những hoạt động tấn công chống lại đối phương; định vị và tiêu diệt những lực lượng kẻ thù, những khu căn cứ, và những đường dây thông tin liên lạc; ngăn chặn sự xâm nhập của đối phương khắp KpQs và biên giới Lào; phối hợp những hoạt động quân sự nhằm hỗ trợ các lực lượng địa phương, tổ chức một hệ thống phòng thủ, và mở rộng những tuyến đường bao vây cố định; phòng thủ những con đường chính, những nguồn tài nguyên thiên nhiên, và trang thiết bị quân sự.” Lời tuyên bố sứ mệnh của sư đoàn phác họa khái quát các nhiệm vụ vốn sẽ là tham vọng ngay cả đối với một tổ chức có kích thước quân đoàn. Thực tế là một sư đoàn đang được hình thành trong bóng tối vùng đất quê nhà của đối phương vốn cũng cực kỳ tham vọng. Sư đoàn 3 QĐVNCH bây giờ thì không, hoặc nó sẽ trong tương lai gần, đủ mạnh để đáp ứng tất cả các đòi hỏi của lời tuyên bố sứ mệnh của nó. Như kết quả là sư đoàn phải được xét trên những gì được cam kết.28

Tướng Trưởng cũng đặt tình thế tiến thoái lưỡng nan vốn đối mặt với Sư đoàn 3 của QĐVNCH một cách rõ ràng trong biên niên sử sau chiến tranh của ông ta về cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh:

Điều gì sau đó gây ra cái chết của sư đoàn này ? Nói vắn tắt là, Sư đoàn 3 thất bại vì nó mang quá nhiều gánh nặng. Đối với việc phòng thủ khu vực KpQs,(pc 08) đơn vị này đã nhận lãnh những trách nhiệm chiến đấu vốn trước đây được giao cho gần hai sư đoàn Hoa Kỳ, là những lực lượng được tăng cường gồm Sư đoàn 3 TQLC và Lữ đoàn 1/5 (Cơ giới)… Làm thế nào một phòng thủ như thế có thể giữ được trong sự đối mặt với cuộc tấn công của kẻ thù mạnh nhất, được tập trung lại, của chiến tranh ?29

Sư đoàn 3 QĐVNCH đến dọc theo KpQs theo cách nhỏ giọt sau ngày khởi động tháng Mười năm 1971 của nó. Trong khi một số tiểu đoàn tiếp tục việc huấn luyện đơn vị của họ tại Phú Bài, những đơn vị có kinh nghiệm hơn, bao gồm Trung đoàn 2 và những Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 56 và 57, nhận những địa điểm của họ dọc theo KpQs nhằm canh gác chống lại sự xâm nhập và lẫn học hỏi để hành động trong phạm vi cấu trúc trung đoàn và sư đoàn mới của họ. Hoạt động của QĐBV, với một ngoại lệ của việc nã pháo từng hồi vào những căn cứ của QĐVNCH, vẫn còn nhẹ, qua đó cho phép các đơn vị của Sư đoàn 3 QĐVNCH tung ra các hoạt động nhỏ, thành công và tìm thấy sự tự tin của họ.

p240

Đến tháng Mười Hai năm 1971, tinh thần chiến đấu vươn lên khi 1/56 và 4/2(pc 05) tung ra một hoạt động nhiều-tiểu-đoàn đầu tiên bao giờ hết của Sư đoàn 3 QĐVNCH, việc lên kế hoạch và thi hành của sư đoàn mà qua đó được xem là “tuyệt vời ngoại hạng.”30 Sự thật là, Sư đoàn 3 QĐVNCH thì không tồi tệ hơn bất kỳ sư đoàn nào khác trong QĐVNCH; nó chỉ là trẻ hơn.
Thiếu tá Joseph Brown đến như là vị cố vấn phụ cho Trung đoàn 56 vào tháng Giêng năm 1971, sau khi phục vụ một thời hạn bổn phận nghĩa vụ trước đó như là vị cố vấn trong Quân đoàn II vào năm 1968. Ông Brown chưa bao giờ hoàn toàn chắc chắn rằng những quân lính của QĐVNCH là “những người lính có lòng thựt sự hay nổi bật” và đã thường xuyên gặp gỡ những sĩ quan của QĐVNCH vốn là những người nhìn các vị cố vấn Mỹ của họ chỉ như là gây ra những vấn đề khó khăn. Kinh nghiệm của ông ta với Trung đoàn 56 thì khác biệt, vì nó chưa là một trung đoàn nhưng hơn là một hỗn tạp của nhiều tiểu đoàn riêng biệt mà qua đó họ trải qua các giai đoạn khác nhau về sự sẵn sàng, khả năng, và huấn luyện. Chính là vào tháng Ba năm 1972 qua đó Trung đoàn 56 có thể đến với nhau như là một đơn vị liên kết chặt chẽ trong lần đầu tiên. Anh Đính và những người của mình sau đó di chuyển từ các địa điểm an toàn của họ gần Cam Lộ đến Căn cứ Hỗ trợ Hỏa lực (CcHtHl) C2 để dàn xếp những khó khăn về quyền chỉ huy phải đối mặt bởi bất kỳ hình thành quân sự mới nào và lẫn để gặt hái kinh nghiệm chiến thuật ở các vị trí tiền phương dọc theo KpQs.(pc 08) Ông Brown lưu ý rằng việc di chuyển đến CcHtHl(pc 09) C2 gây ra việc giảm xuống gần như ngay lập tức trong tinh thần chiến đấu, một phần bởi vì nó mang những người lính xa hơn khỏi gia đình của họ. Nhờ tài xoay xở tháo vát hơn bao giờ hết, tuy thế, những gia đình của một số ít trong số những người lính tìm đường đến CcHtHl C2 –ở giữa một vùng chiến tranh.31
Cuộc giải tỏa tiếp tục của các lực lượng cố vấn Hoa Kỳ thì hiển nhiên một cách rõ ràng theo kinh nghiệm của Sư đoàn 3 QĐVNCH. Ở đỉnh cao của chiến tranh, đã có nhiều như 75 vị cố vấn với mỗi trung đoàn của QĐVNCH. Những vị cố vấn nầy phục vụ ở tất cả các cấp, từ Tổnh hành trung đoàn đến những tiểu đoàn và thậm chí những đại đội trong chiến trường, mà qua đó cho phép họ có được một kiến thức đầy đủ về các khả năng và nhược điểm của trung đoàn. Vào tháng Ba năm 1972, tuy thế, tình hình quá miễn cưỡng đến nổi ban nhân viên cố vấn trung đoàn của QĐVNCH bị hạn chế cho hai người, và có một số quá ít vị cố vấn đến nổi nhiều trung đoàn của QĐVNCH phải làm việc mà không có sự hỗ trợ cố vấn gì cả. Trong tình hình khó khăn này, Đại tá Donald Metcalf, vốn là người phục vụ như là vị cố vấn cao cấp cho Sư đoàn 3 QĐVNCH, quyết định một cách đúng đắn cải tổ các nguồn lực thu hẹp của mình và thuyên chuyển các vị cố vấn từ Trung đoàn 2 có kinh nghiệm đến trung đoàn 56 và 57 thu nhặt.
Vào giữa tháng Ba, Trung tá William Camper, vốn là người đã từng và đang phục vụ với Trung đoàn 2, nhập vào cùng với ông Brown và anh Đính tại CcHtHl C2.

p241

Ông Brown đã ngạc nhiên qua việc tiếp xúc lần đầu tiên với Phạm Văn Đính. Sau khi nghe nói rằng anh Đính là một trong những anh hùng vĩ đại của QĐVNCH,(pc 01) ông Brown cảm thấy thích thú rằng anh Đính hiếm khi mặc đồng phục của mình nhưng luôn luôn mang khẩu súng lục .45 của mình. Bất kể những ảnh hưởng cá nhân của anh Đính, ông Brown nhanh chóng đánh giá của vị chỉ huy của Trung đoàn 56 là một trong những sĩ quan có khả năng nhất của QĐVNCH mà ông ta từng gặp và là một người vốn chỉ huy bằng sự tôn trọng của những quân lính mình. Quan trọng hơn là, những người đàn ông của Trung đoàn 56 làm việc tuyệt vời cho chỉ huy của họ dưới hỏa lực và dường như tin tưởng vào sự phán đoán của anh ta. Kinh nghiệm đầu tiên của ông Camper với anh Đính trên đỉnh CcHtHl C2 thì khá khác biệt. Sau khi phục vụ trong tư cách cố vấn với Sư đoàn 1 QĐVNCH vào năm 1965, ông Camper đã từng biết đến Phạm Văn Đính như là vị chỉ huy rạng ngời của đội Hắc Báo và đã từng cảm thấy không điều gì khác ngoài sự “ngưỡng mộ đối với một sĩ quan trẻ năng động, vốn là người dâng hiến cho sự sống còn vinh quang của những người lính, đơn vị, và quốc gia trẻ của mình.” Khi ông ta một lần nữa chào đón anh Đính khoảng bảy năm sau đó, ông Camper cảm thấy “thực sự ngạc nhiên bởi hình dáng của anh ta.” Dường như rằng những năm tháng chiến tranh bất tận đã không đối đải với anh Đính tốt đẹp; anh ta dường như mập lùn và thiếu thể lực” và giống như một người vốn có một trách nhiệm to lớn trên đôi vai mình.
Sau khi dỡ xuống đồ đạc của mình, ông Camper bắt đầu nhắm hướng vùng đất ra ngoài đến đơn vị mới của mình. Ở Trung tâm Hoạt động Chiến thuật (TrtHdChth), ông Camper tìm thấy vị Sĩ quan Điều hành trung đoàn, Trung tá Vĩnh Phong, không hợp tác lắm và “gần như chống Hoa Kỳ trong thái độ của anh ta.” Kể từ khi QĐVNCH không còn có vị cố vấn nào ở cấp tiểu đoàn, ông Camper phải làm hết sức mình để thu thập thông tin bằng cách thăm viếng những vị trí của các đơn vị xa trung tâm. Điều gì đó mà ông ta tìm thấy, thật đáng lo ngại; chiến tranh là một cuộc chiến hoàn toàn khác biệt từ cái mà nó đã từng là trong năm 1965. Theo quan điểm của ông ta, vấn đề Việt Nam hóa Chiến tranh và các cuộc biểu tình chống chiến tranh đang diễn ra đã thực sự gây ra sự thiệt hại ở một đơn vị rồi vốn tích trữ với “nhiều vụ vắng-mặt-không-có-phép-chính-thức, những người đào ngũ và những người bất đồng quan điểm.” Trên chuyến viếng thăm một đơn vị với ông Brown, ông Camper báo cáo rằng:

Những nhận thức tồi tệ nhất [của chúng ta] về tình trạng sẵn sàng chiến đấu được xác nhận… Rõ ràng là các đơn vị thì không được huấn luyện rất kỹ lưỡng, được thúc đẩy hoặc sẵn sàng chiến đấu. Thông tin tốt nhất mà chúng ta có thể thu thập, với kiến thức hạn chế của chúng ta những người Việt Nam… đó là đơn vị này là một thảm họa đang mong chờ một nơi để xảy ra.32

Tướng Giai đã hoàn toàn nhận thức về những điểm yếu trong phạm vi Sư đoàn 3 của QĐVNCH. Ông ta theo sát một lịch trình đáng chú ý về việc huấn luyện và sự thăm dò ý kiến cá nhân để cố gắng sửa chữa những vấn đề, nhưng cũng lo lắng rằng

p242

sức mạnh hạn chế của quân lính mình trong lúc cung cấp người cho hệ thống căn cứ ở một chỗ trải rộng bao la được kế thừa từ TQLC Hoa Kỳ khiến cho Sư đoàn 3 QĐVNCH là một mục tiêu mời mọc, bất động cho cuộc công kích của QĐBV. Ông Giai chia sẻ những quan tâm của mình với Tướng Lãm, nhưng vị Tư lệnh Quân đoàn I phớt lờ những yêu cầu của người cấp dưới của mình và muốn chắc chắn rằng không có than phiền gì về tình hình nguy hiểm lọt đến Saigon.33
Bất chấp những cố gắng siêng năng của Tướng Giai, thời gian đã hết đối với Sư đoàn 3 QĐVNCH. Khi Bắc Việt tập trung đông đảo cho một cuộc xâm lược dốc toàn lực, Tướng Trưởng nhớ lại, “không cách nào có thể… Sư đoàn 3 QĐVNCH được xem như là được chuẩn bị một cách đầy đủ để đánh một trận lớn, theo quy cũ .” Điều đó đã là một số phận đau buồn của cả ông Giai và anh Đính thừa kế những đơn vị được vá víu với nhau vốn chỉ sẵn sàng một phần và phục vụ, như họ đã từng trong Chiến dịch Lam Sơn 719, cho ban tham mưu của Quân đoàn I mà, theo ý kiến của ông Trưởng, “thiếu kinh nghiệm, chuyên nghiệp và sáng kiến vốn đòi hỏi cho một ban tham mưu chiến trường trong suốt những thời điểm quan trọng, trong suốt trận chiến.”34
Ông Camper đã chính xác trong những nhận thức của mình về anh Đính; anh ta là một người đàn ông bị đè nặng bởi những gánh nặng chiến tranh vốn đang, theo quan điểm của ông ta, đi sai đường. Việc thoát đi của Mỹ khỏi cuộc xung đột, là một cái gì đó mà anh Đính không bao giờ hoàn toàn tin tưởng sẽ xảy ra, thì gần như sắp hoàn tất, và miền Nam Việt Nam đứng một mình. Giữa việc vận động chính trị, không ai ở những cấp cao nhất dường như quan tâm rằng Sư đoàn 3 QĐVNCH đã buộc phải đặt ở một vị trí dễ bị tổn thương như vậy. Những người lính của anh ta không còn có thể nuôi sống gia đình của họ và phải bị giữ lại trong hàng ngũ qua kỷ luật nghiêm ngặt, hơn là bởi dựa vào tinh thần và lòng can đảm của riêng họ. Anh Đính đã dành cả cuộc đời cho đất nước mình và cho QĐVNCH, nhưng không có gì khác ở trung tâm dường như từng thay đổi bao giờ. Trong tâm trí của anh ta, không điểm nào trong số những yếu điểm được phát họa rất sống động qua hình ảnh trong Chiến dịch Lam Sơn 719 đã được nói đến; nhiều điểm đã trở nên tồi tệ hơn. Trước đó, trong sự nghiệp của mình, Phạm Văn Đính đã đổ xô vào trong những tình huống vô vọng, với đội Hắc Báo, ở thành phố Huế trong suốt dịp Tết, và tại Tun Tavern (i.e. căn cứ TQLC(pc 07) Hoa Kỳ), luôn luôn tự tin về sự hỗ trợ và chiến thắng. Đến tháng Ba năm 1972, tất cả điều đó đã thay đổi, và người anh hùng của QĐVNCH bị bỏ lại trong sự nghi ngờ và với, theo những lời của anh ta, “có vấn đề trong đầu tôi.”

b- Cuộc tổng tấn công Mùa Phục Sinh :

Khi tâm trạng của anh Đính biến thành tối tăm, những lực lượng của QĐBV tập hợp cho cuộc Tổng tấn công Nguyễn Huệ, được đặt tên nhằm vinh danh Hoàng đế Quang Trung, một anh hùng Việt Nam vốn là người vào năm 1789 đã đối phó với người Trung Hoa bằng một cuộc đánh bại vang dội ở những vùng xa trung tâm Hà Nội.

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 02_ QĐBV : Quân đội Bắc Việt.
pc 03_ BChHtrQsVN : Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự cho Việt Nam (MACV = Military Assistance Command, Vietnam).

pc 04_ Phi đạn chống tăng được hướng dẫn bằng tín hiệu TOW : “TOW = Tube-launched, Optically-tracked, Wire command data link” có nghĩa là “được phóng đi bằng ống phóng, được theo dõi bằng quang xạ, liên kết dữ liệu mệnh lệnh qua dây điện.” TOW của Hoa Kỳ được sản xuất lần đầu tiên vào năm 1970 và là một trong hai phi đạn được hướng dẫn, chống tăng được sử dụng rộng rãi nhất bởi các nước Tây phương, cùng với nó là phi đạn MILAN của Pháp (tiếng Pháp là: Missile d´infanterie léger antichar; tiếng Anh là: Anti-Tank Light Infantry Missile –Phi đạn Chống tăng loại nhẹ cho Bộ binh, “milan(e)” là tiếng Pháp and Đức cho chữ “con diều”).
BGM-71 TOW là tên chính thức của phi đạn chống tăng được dùng ở Việt Nam. “BGM” là một phân loại vũ khí vốn tượng trưng cho “Đa dạng Môi trường (B), Bề mặt Tấn công (G), Phi đạn (M)” (“Multiple Environment (B), Surface-Attack (G), Missile (M)”)
Vào ngày 24 tháng Tư năm 1972, Đội Chiến đấu Không trung TOW 1 của Hoa Kỳ đến miền Nam Việt Nam; nhiệm vụ của đội là thử nghiệm phi đạn chống-thiết-giáp dưới những điều kiện chiến đấu. Đội gồm có 3 nhóm, những người đại diện kỹ thuật từ hảng chế tạo trực thăng có tên là Bell Helicopter và và hảng chế máy bay Hughes Aircraft, những thành viên của Bộ Chỉ huy Hàng không và Phi đạn của Quân đội Hoa Kỳ, và hai trực thăng chiến đấu UH-1B, mỗi chiếc gắn lên một hệ thống vũ khí có tên là XM26-TOW, vốn đã được mang ra từ nhà kho. Sau khi chuyển chỗ đến vùng Cao nguyên cho việc tác xạ trên không, đơn vị bắt đầu những cuộc tìm kiếm mỗi ngày cho chiến xa quân địch. Vào ngày 2 tháng Năm năm 1972, những chiếc trực thăng chiến đấu UH-1 Huey của Quân đội Hoa Kỳ bắn ra những phi đạn TOW đã phá hủy những chiếc xe tăng của miền Bắc Việt Nam gần An Lộc, đánh dấu lần đầu tiên một phi đạn theo hướng dẫn được thiết kế và chế ra bởi Mỹ được sử dụng một cách thành công trong chiến đấu bởi một người lính Hoa Kỳ.
Trớ trêu thay, một chiếc xe tăng M-41 được Mỹ chế tạo đã trở thành một nạn nhân đầu tiên. Vào ngày 9 tháng Năm, những phần tử của Trung đoàn Thiết giáp 203 của QĐBV đang tấn công một doanh trại của Biệt động Quân thuộc QĐVNCH tại Ben Het, đội đã phá hủy ba chiếc xe tăng lội nước PT-76 đầu tiên của nó, phá vỡ cuộc tấn công. Trong suốt trận chiến cho thành phố Kontum, phi đạn TOW đã chứng minh. là một vũ khí quan trọng trong việc làm gián đoạn các cuộc tấn công bằng xe tăng của địch trong phạm vi khu vực. Đến cuối tháng Năm, những phi đạn TOW đã tích lũy được 24 triệt tiêu xe tăng được xác nhận. Vào ngày 19 tháng Tám, Trung đoàn 5 Bộ Binh của miền Nam Việt Nam từ bỏ Căn cứ Trại Ross ở thung lũng Quế Sơn, 30 dặm về phía tây nam Đà Nẵng, cho Sư đoàn 711 của Bắc Việt. Một tá phi đạn TOW bị bỏ lại với dụng cụ bị bỏ rơi và đã rơi vào tay Cộng sản.

pc 05_ 2/1 : Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 1.
1/2 : Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 2.
4/2 : Tiểu đoàn 4 thuộc Trung đoàn 2.
1/56 : Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 56.
2/56 : Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 56.
3/56 : Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 56.
3/57 : Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 57.

pc 06_ ĐPQ & NQ : Địa phương Quân và Nghĩa quân.
pc 07_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 08_ KpQs : Khu phi Quân sự.
pc 09_ CcHtHl : Căn cứ Hỗ trợ Hỏa lực.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s