Phần 03-1/2 : Chiến đấu hai Cuộc chiến

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p65

Phần 03 : Chiến đấu hai Cuộc chiến

(Những năm Gây-tiêu-hao-sức-đề-kháng và công cuộc Bình định, 1966-1967)

Trong khi miền nam Việt Nam lao lực để phục hồi từ một thảm họa tự tạo của riêng mình, trên một mức độ chiến lược, đó là thời gian mà Tướng William Westmoreland, vị Tư lệnh của Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự Hoa Kỳ cho Việt Nam (TlBChhHtrQsHKVN) đã từng chờ đợi, đến lúc mang trận chiến đến kẻ thù và giành chiến thắng trong cuộc Chiến tranh Việt Nam. Ông Westmoreland, có lẽ là một nhân vật quân sự gây tranh cãi nhất trong lịch sử hiện đại của Mỹ, đã từng nổi tiếng dự báo rằng cuộc chiến sẽ diễn ra trong ba giai đoạn ngắn. Đầu tiên, Hoa Kỳ phải xây dựng những lực lượng của mình ở Việt Nam và chuẩn bị hạ tầng cơ sở rất quan trọng về hậu cần để hỗ trợ những lực lượng đó. Trong giai đoạn thứ hai, sử dụng lợi thế hỏa lực ồ ạt và di chuyển theo chiến thuật được cung cấp bởi trực thăng, ông Westmoreland trù định nhốt những lực lượng đối phương trong trận chiến và tiêu diệt họ. Khía cạnh chiến đấu cuộc chiến của Mỹ sẽ đặt một mức độ không thể chấp nhận được về việc gây-tiêu-hao-sức-đề-kháng vào những lực lượng cộng sản, qua việc cho phép trong giai đoạn ba, mà qua đó liên quan đến việc rút xuống sự tham gia quân sự của Hoa Kỳ như là một kết quả của những cuộc thương thuyết thành công.1 Mặc dù giai đoạn đầu của chiến lược ông ta thiếu tác dụng đã lấy mất nhiều thời gian hơn ông ta hy vọng, đến tháng Mười năm 1966, ông Westmoreland cuối cùng cảm thấy rằng ông ta có đủ quân lính và những nguồn cung cấp để bắt đầu cuộc chiến gây-tiêu-hao-sức-đề-kháng của mình trong sự hăng hái nhất.2 Những lực lượng Mỹ có thể cuối cùng, theo những lời của ông Westmoreland, “chỉ cần tiếp tục làm chảy máu họ cho đến khi Hà Nội thức tỉnh đối với sự kiện thực tế mà họ đã làm đổ máu đất nước họ đến một mức thảm họa quốc gia cho những thế hệ.”3
Ban đầu, ông Westmoreland tập trung những hành động tấn công của Mỹ vào khu vực xung quanh Sài Gòn và vào vùng Tây Nguyên và chờ đợi những cơn mưa gió mùa qua khỏi trước khi tung ra chương trình gây-tiêu-hao-sức-đề-kháng trong những khu vực tiếp giáp ở Khu phi Quân sự. Những hoạt động tìm-kiếm-và-tiêu-diệt rộng lớn được trù tính để mang kẻ thù đến trận chiến để cho những lực lượng của ông ta có thể gây tiêu bằng hỏa lực của Mỹ. Thí dụ, Chiến dịch Attleboro (i.e. tên một thành phố nằm hướng đông nam của tiểu bang Massachusetts) (từ tháng Chín đến tháng Mười Một năm 1966)

p66

được nhìn thấy 22.000 quân lính Hoa Kỳ và Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH), được hỗ trợ bởi không lực và hỏa lực pháo binh, tiến hành những hoạt động vào trong thành lũy Chiến khu C của Việt Cộng (VC), về hướng tây bắc Sài Gòn. Chiến dịch 72 ngày được tuyên bố là một thành công, vì những lực lượng đối phương chịu tổn thất một số khoảng 1.100 người chết. Tuy nhiên, ngay sau khi cuộc rút lui của lực lượng Mỹ / QĐVNCH,(pc 02) VC(pc 03) chiếm lại khu vực và đang hoạt động như trước kia.4
Trong khi một số trong những hoạt động tinh túy gây-tiêu-hao-sức-đề-kháng của Mỹ về chiến tranh tiến triển ở phía nam, là Lực lượng Thiết giáp Lội nước Thủy quân Lục chiến III (LlThgLnTQLC), dưới quyền chỉ huy của Trung tá Lewis Walt, vẫn giữ chủ yếu về phòng thủ trong khu vực hoạt động của Quân đoàn I của mình. Nhiệm vụ của Thủy quân Lục chiến (TQLC) thì vô cùng khó khăn, vì Việt Cộng bây giờ lây nhiễm phần lớn những vùng đồng bằng của Quân đoàn I, trong khi những đơn vị chính quy mạnh mẽ của Quân đội Bắc Việt (QĐBV) đe dọa khu vực từ các vị trí bên kia Khu phi Quân sự (KpQs) và từ ba khu căn cứ chính ở Lào. TQLC nhận lãnh chỉ thị phòng thủ của mình với kỹ năng tuyệt vời và ngày càng tham gia vào hàng loạt những sứ mệnh rộng lớn, mà trong đó bao gồm việc xây dựng một chuỗi các căn cứ dọc theo KpQs(pc 06) như là một rào cản đối đối với sự xâm nhập, qua việc đối mặt mạnh mẽ và tự tin những cuộc tấn công thăm dò tích cực hơn bao giờ hết bởi QĐBV,(pc 07) và phát triển một kế hoạch bình định đổi mới qua việc sử dụng chiến lược những Trung đội Hoạt động Kết hợp (TdHdKh), mà qua đó kết hợp TQLC(pc 05) vào trong những đơn vị bản địa của miền Nam Việt Nam.5 Tất cả những nhiệm vụ đều khó khăn theo cách riêng của chúng và thường lôi cuốn cuộc tranh luận đáng kể giữa TQLC và ông Westmoreland liên quan đến việc tập trung chiến thuật về chiến tranh. Có thể lý luận rằng, mặc dù, đó là công cuộc xây dựng chậm chạp của hàng loạt các căn cứ dọc theo KpQs mà qua đó đặt ra những khó khăn lớn nhất trong sự đối mặt với sự chống cự của QĐBV có tinh thần. Một thử thách đang xảy ra khiến cho một sĩ quan TQLC đưa ra nhận xét, “đối với những tên đáng nguyền rủa đó bạn sẽ phải xây dựng một khu [phi quân sự] chạy dài đến Ấn Độ, và nó sẽ lấy mất toàn bộ Quân đoàn TQLC và một nửa Quân đội để canh gác nó… Thậm chí sau đó, họ có thể đào hang dưới nó.”6
Vào mùa thu năm 1966, tình hình tại Quân đoàn I trở nên tồi tệ hơn. Sự xâm nhập và tấn công của QĐBV(pc 07) and VC(pc 03) gia tăng một cách đáng kể, sau khi làm dấy lên cuộc chiến đấu đẫm máu và kéo dài về phía nam của KpQs bao quanh những nơi mà sẽ sớm trở thành một phần của truyền thuyết TQLC, từ Khe Sanh,(pc 08) đến đồi Đống đá,(pc 09) đến Cồn Tiên.(pc 10) Với TQLC(pc 05) được dàn thế trận và sợ rằng sự khởi đầu trong Quân đoàn I đang chuyển sang QĐBV, ông Westmoreland vội vã những việc củng cố cho các khu vực. Sư đoàn Mỹ bắt đầu nhận lấy những hoạt động ở phần phía nam của Quân đoàn I, qua đó cho phép TQLC chuyển sức mạnh của Sư đoàn 1 của họ về phía bắc và lẫn tập trung toàn bộ Sư đoàn 3 TQLC dọc theo KpQs.(pc 06) Trong khoảng thời gian còn lại của một năm,

p67

TQLC chiến đấu hàng loạt các cuộc đụng độ với QĐBV từ bờ biển đến vùng biên giới núi non với Lào, đã tạo nên thanh danh và những trận chiến khốc liệt vốn hình thành một phần kế hoạch của ông Westmoreland cho việc gây-tiêu-hao-sức-đề-kháng và lẫn một phần kế hoạch của QĐBV để quyến dụ những lực lượng Mỹ ra xa khỏi những thành phố trong sự chuẩn bị cho cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân của nó.
Cuộc chiến đấu ở mặt bắc của Quân đoàn I là bất cứ điều gì, nhưng là đặc trưng ở giai đoạn này trong cuộc Chiến tranh Việt Nam. Tình trạng gần bên KpQs và các khu vực căn cứ bên Lào của đối phương có nghĩa là TQLC thường phải đối mặt với những lực lượng chính quy của QĐBV, vốn là những người hưởng được một dòng liên tục về sự tiếp tế thêm và sự yểm trợ phong phú của pháo binh, tạo nên cuộc chiến đấu không giống như chiến tranh du kích vốn vượt trội trước đây xa hơn về phía nam. Cuộc chiến ở mặt bắc của Quân đoàn I cũng chết chóc hơn khi các đơn vị của QĐBV và TQLC trao đổi những quả đấm như búa tạ, là một bản chất đẫm máu mà qua đó cho khu vực một biệt danh của nó là Vùng Chết của Thủy quân Lục chiến.
Khi TQLC(pc 05) phải đối mặt với Việt Cộng và QĐBV trong những trận đánh được chuẩn bị về sự gia tăng kích thước và tàn bạo, QĐVNCH(pc 02) tranh thủ tìm vị trí của nó trong cuộc chiến mới của Mỹ và tìm thấy những cố gắng của mình để được xem chỉ là hạng thứ cấp đối với cuộc chiến gây-tiêu-hao-sức-đề-kháng của ông Westmoreland. Hiểu rõ vai trò của QĐVNCH trong phạm vi kế hoạch của ông Westmoreland là chủ yếu hiểu được lý do tại sao sự phối hợp đầy khuyết điểm của máu và sự hy sinh của Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam thất bại để đạt được một chiến thắng cuối cùng.
Sư đoàn 1 của QĐVNCH, được đặt ở thành phố Huế, làm việc vất vả bên cạnh LlThgLnTQLC(pc 04) III trong việc phòng thủ tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên ở mặt bắc, trong khi Sư đoàn 2 của QĐVNCH, được đặt ở Đà Nẵng, thực hiện những nhiệm vụ tương tự ở Quảng Nam và Quảng Ngãi, các tỉnh xa nhất về phía nam của Quân đoàn I. Sư đoàn 1 QĐVNCH của Chuẩn Tướng Ngô Quang Trưởng hoạt động trong phạm vi thực tế phức tạp về quân sự của một cuộc chiến được chia thành ba cấp riêng biệt, nhưng có liên quan. Ở cấp cao nhất, những lực lượng của QĐVNCH đôi khi phối hợp với TQLC Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống lại sự xâm nhập và những cuộc tấn công bất ngờ của QĐBV, thậm chí chia sẻ trách nhiệm cho một số trong những tiền đồn vốn tạo nên lá chắn phòng thủ dọc theo KpQs.(pc 06) Phần lớn sức mạnh chiến đấu của QĐVNCH, tuy thế, được dành riêng một vai trò thứ yếu của cuộc chiến đấu chống những đơn vị Việt Cộng đang hoạt động tại các vùng đồng bằng, với hy vọng sẽ đuổi những lực lượng đối phương xa khỏi trong khi lá chắn phòng thủ ngăn cản sự trở lại của họ.
Ở cấp địa phương, được bảo vệ bởi lớp phòng thủ hai lớp nầy, đó là nhiệm vụ chủ yếu của Lực lượng Địa phưong Quân nhằm đuổi Việt Cộng ra khỏi sự kiểm soát chính trị không chính thức qua thực tế trên nhiều nơi trong số những thôn ấp và làng mạc của Quân đoàn I. Quá trình đạt được an ninh địa phương này, được biết đến như là công cuộc bình định, cũng rơi ngoài phạm vi hoạt động của QĐVNCH trong một hệ thống mới của Mỹ về việc chiến đấu cuộc chiến,

p68

và nó để lại cho ông Ngô Quang Trưởng và những đồng bào của mình tìm cách cho QĐVNCH loại bỏ quyền kiểm soát của cộng trên giới nông dân. Một khi bị đuổi ra khỏi, Việt Cộng có thể bị cầm chân tại vịnh bởi sức mạnh tổng hợp của QĐVNCH và TQLC Hoa Kỳ, để lại phía sau một tình hình mà trong đó sự kiểm soát của chính phủ miền Nam Việt Nam có thể lan ra và trưởng thành, dẫn đến –đưọc hy vọng– chiến thắng.

a- Những ngôi sao đang lên trên chiến trường :

Sau sự náo động của cuộc Khủng hoảng Phật giáo năm 1966, Phạm Văn Đính trở lại quyền chỉ huy của Hắc Báo, sau đó tiếp tục tham gia vào cái gì mà anh Đính đề cập đến như là “Chiến tranh Gạo,” trong đó QĐVNCH(pc 02) cố gắng ngăn chận sự lui tới của Việt Cộng vào những vùng đồng bằng, vốn phục vụ như là nguồn cung cấp, đặc biệt là gạo. Những đơn vị của QĐVNCH cố sức giữ Việt Cộng bị giam chân trong những đồn lũy ở cao nguyên của nó và tấn công bất kỳ đơn vị nào vốn ra ngoài mạo hiểm trong việc tìm kiếm thức ăn hay những tân binh. Trong suốt thời gian còn lại của nhiệm kỳ của Đính như là vị chỉ huy của đơn vị, đội Hắc Báo chiến đấu nhiều như 50 cuộc đụng độ với các lực lượng quân địch như là một phần của “Chiến tranh Gạo.” Điển hình là, đội Hắc Báo đến hỗ trợ những đơn vị của QĐVNCH có nhu cầu, đi bằng những chiếc trực thăng của Mỹ. Những cuộc đụng độ là những công việc của đơn vị nhỏ, thông thường có sự lôi cuốn không hơn một đại đội của những chiến binh đối phương và thường xuyên chỉ là những trung đội hoặc tiểu đội. Đội Hắc Báo chiến đấu tốt, luôn luôn đuổi quân địch khỏi chiến trường và gây ra những tổn thất nặng nề trong khi gánh chịu một ít của riêng mình. Sự thành công liên tục trên chiến trường của anh Đính chiến khiến Tướng Trưởng thông báo cho Tướng Cao Văn Viên, Trưởng Ban Tham mưu Kết hợp của Việt Nam, rằng “Một ngày nào đó anh Đính sẽ lấy chỗ của tôi,” như là vị Tư lệnh Sư đoàn 1.7 Vào tháng Giêng năm 1967, ông Trưởng đã quyết định rằng anh Đính, vốn là người đang trở nên nổi tiếng ngay cả trong số những người Mỹ trong khu vực, xứng đáng với quyền chỉ huy một tiểu đoàn.8
Khi ngôi sao của Đính vươn lên xa hơn, Trần Ngọc Huế khao khát cho việc trở lại chiến đấu. Sau khi đã thực hiện những kết nối thích hợp như là một thành viên thuộc ban nhân viên của Tướng Chuẩn, anh Huế đáng lý ra có thể tránh việc trở lại cuộc sống nguy hiểm của một sĩ quan ở tuyến đầu. Thay vì, theo những lời của anh ta, “chọn cánh cửa” đến một cuộc sống an toàn và thanh thản, tuy thế, anh Huế tin rằng anh ta có “một cái gì đó đặc biệt,” để dâng cho dân tộc mình và rằng nơi của anh ta là trên chiến trường. Anh Huế có mọi lý do để tránh chiến đấu, vì vào tháng Ba năm 1967, anh ta kết hôn với cô Cẩm, là vị y tá trưởng trong phòng cấp cứu của bệnh viện Quảng Trị. Mặc dù họ sớm có một đứa con và cô ta rất sợ mất người chồng yêu quí của mình,

p69

cô Cẩm chấp thuận điều mong muốn của Trần Ngọc Huế nhằm tôn vinh nhiệm vụ của anh ta vì đất nước và vì sự trở lại với cuộc chiến. Anh Huế biết rằng cái chết, và việc bị bắt giữ là một điều khả dĩ rất thực tế, nhưng anh ta cũng tin rằng cô Cẩm sẽ chăm sóc gia đình của họ nếu cần thiết là vậy.
Vào tháng Hai năm 1967, Tướng Trưởng giao cho Đính quyền chỉ huy Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 3 của Sư đoàn 1.9 Quyền chỉ huy, tuy thế, đến với sự bất ngờ. Tướng Trưởng cũng muốn Đính nhận lấy chức vụ như là Quận trưởng quận Quảng Điền trong tỉnh Thừa Thiên. Đó là một lời đề nghị khó hiểu, vì chức vụ Quận trưởng chủ yếu là một vị trí chính trị vốn liên quan trong việc cung cấp an ninh địa phương. Trong khi quan tâm đến vấn đề quản trị nông thôn, hầu hết những Quận trưởng chỉ chỉ huy những đơn vị thuộc lực lượng Địa phương Quân và Nghĩa quân (ĐPQ & NQ) trong khu vực của họ. Anh Đính, tuy thế, sẽ không chỉ là một Quận trưởng mà còn là vị chỉ huy một tiểu đoàn như là một phần của một chương trình đổi mới mà qua đó những lực lượng QĐVNCH(pc 02) và Địa phương Quân và Nghĩa quân (ĐPQ & NQ) làm việc song song để đạt được an ninh địa phương. Đó là nhiệm vụ được giao của anh Đính bên trong hệ thống mới này để mang tiểu đoàn của anh ta đến quận Quảng Điền tống khứ những đơn vị Việt Cộng trú ngụ, và nhổ bật gốc hạ tầng cơ sở địa phương của Việt Cộng. Anh Đính cảm thấy phấn khởi. Dưới cơ cấu mới, những lực lượng của anh ta sẽ không còn quét qua các khu vực và sau đó bỏ đi; họ sẽ nằm trong Quảng Điền để ở lại.
Ngay sau khi việc rời khỏi Hắc Báo của anh Đính, Trần Ngọc Huế hoàn tất việc thuyên chuyển theo mong muốn của mình đến đơn vị và tiếp tục lại sự nghiệp của mình như là vị phó chỉ huy của đại đội. Khi Hắc Báo tiếp tục sự cai quản trận chiến, trí thông minh và khả năng lãnh đạo của anh Huế ngay lập tức trở nên rõ ràng đối với những người bạn đồng hướng mới quen biết của mình và đối với những sĩ quan bên trên của mình. Khi anh ta có mặt với Đại đội 3 ở A Shau, Trần Ngọc Huế dẫn Hắc Báo vào trong trận chiến từ phía trước, phơi bày sự dũng cảm cá nhân to lớn. Trung thực và thẳng thắn, tuy là một người khắt khe về kỷ luật, anh Huế trở nên được một người lãnh đạo có tiếng trong số những người của Hắc Báo. Như là một kết quả của vai trò lãnh đạo chiến đấu có hiệu quả của anh Huế, chỉ hai tháng sau chuyến đến với Hắc Báo của anh ta, Tướng Trưởng đánh dấu một ngôi sao trẻ đang lên nhận lấy quyền chỉ huy của một đơn vị ưu tú.
Trong một thời gian ngắn, cả anh Đính và anh Huế, rất tương đương trong mức độ cống hiến cho QĐVNCH và miền Nam Việt Nam, đã chứng minh chính bản thân họ đối với một vị Tướng Trưởng nhiều yêu cầu, luôn hợp lý. Như Tướng Chuẩn trước ông ta, Tướng Trưởng nhận hai sĩ quan trẻ dưới sự giám hộ của mình; anh Đính và anh Huế đang và sẽ ở trong sự bảo vệ của ông Trưởng. Trong phạm vi QĐVNCH và nhóm người cố vấn Mỹ và Úc, ông Trưởng nổi tiếng về việc lựa chọn những sĩ quan nòi của mình bằng sự chú tâm kỹ lưỡng.

p70

Không giống như một số sư đoàn khác của QĐVNCH,(pc 02) không có sự khởi động chính trị hay bạn chí thân giữa những người lãnh đạo chiến đấu của Sư đoàn 1 QĐVNCH. Trong phạn vi những tiêu chuẩn đòi hỏi khắc khe về sự tuyệt hảo của ông Trưởng, điều đó đang cho thấy rằng ông ta chọn lựa anh Đính và anh Huế cho hai vai trò chỉ huy quan trọng nhất mà ông ta đã từng đưa ra cho những sĩ quan trẻ như thế –trong trường hợp của Anh Đính, quyền chỉ huy một tiểu đoàn bắt phải gánh vác với sự thành công hoặc thất bại của một dự án thử nghiệm quan trọng và, trong trường hợp của anh Huế, quyền chỉ huy của một cơ cấu ưu tú nhất trong Sư đoàn 1 QĐVNCH.
Những cuộc sống và sự nghiệp của hai người cùng chí hướng đã giao nhau một lần nữa khi họ quyết sẵn sàng trải nghiệm cuộc chiến của ông Westmoreland từ hai viễn ảnh rất khác nhau. Trần Ngọc Huế và đội Báo Hắc sắp chiếm lấy khía cạnh sắc nét của cuộc chiến gây-tiêu-hao-sức-đề-kháng đang diễn ra của QĐVNCH, trong khi Phạm Văn Dinh bước vào một thế giới đầy bóng tối, chính trị hóa của cuộc chiến bình định tại mỗi trọng tâm của Chiến tranh Việt Nam, mà qua đó tượng trưng hoặc là cho niềm hy vọng tốt nhất cho một chiến thắng của miền Nam Việt Nam hoặc một con đường chắc chắn nhất đến sự thất bại cuối cùng.

b- Công cuộc bình định :

Miền Nam Việt Nam đã từng để hết tâm trí vào một số hình thức bình định, thường với sự viện trợ và hỗ trợ của Hoa Kỳ, kể từ năm 1954 trong một cố gắng bằng cách nào đó để tách riêng những người nổi dậy VC(pc 03) từ người dân, nguồn hỗ trợ và cứu giúp được lợi dụng xem như của họ. Thậm chí quan trọng hơn, công cuộc bình định hứa hẹn sẽ cung cấp cho dân cư nông thôn an ninh và công lý, so với những điềm báo trước cần thiết để dành lầy sự ủng hộ quần chúng rộng rãi cho chính phủ miền Nam Việt Nam còn non trẻ. Đại tá Nguyễn Văn Đài, vị sĩ quan chỉ huy cảnh sát miền Nam Việt Nam, đặt ra một trường hợp đối với vấn đề an ninh một cách thẳng thắn, phát biểu rằng “Hầu hết người miền Nam Việt Nam có một giấc mơ rất đơn giản. Họ muốn có cuộc sống yên bình và không phải lo lắng về việc có thực phẩm. Họ không muốn phải sợ về một người nào đó bắt họ hoặc tra tấn hay giết chết họ. Họ ủng hộ bất cứ ai vốn có thể mang lại hòa bình.”10 Tuy nhiên, những nổ lực bình định khác nhau của miền Nam Việt Nam, bao gồm Làng Bình định và các chương trình Ấp Chiến lược, đã bị ngăn chận, đã gánh chịu khốn khổ từ sự thiếu kém sự ủng hộ của chính phủ, và cuối cùng đã thất bại trong việc đáp ứng những nhu cầu an ninh người dân. Để công bằng, những nổ lực đã phải đối mặt với những điều kiện khó khăn gây nản lòng thật sự trong việc cố gắng nhổ bật gốc cơ sở hạ tầng của Việt Cộng từ những ngôi làng nơi mà cơ sở đó đã từ lâu nắm lấy quyền lực và là nơi mà những lực lượng của chính phủ đã không có trát lệnh và ít hỗ trợ.

p71

Trong một cuộc chiến quan trọng cho vùng nông thôn, tuy thế, chính phủ miền Nam Việt Nam quá thường xuyên chống đối VC(pc 03) chỉ bằng cách gian lận lồng vào những kẻ chuyên quyền địa phương vô tích sự trên dân cư trong khi cung cấp không phải là sự an ninh thực sự hoặc cũng không là bất kỳ lý do được chấp nhận nào để kết hợp với chủ nghĩa dân tộc ở miền Nam. Những cuộc đảo chánh thường xuyên và những bất hạnh vể chính trị chỉ phục vụ làm cho tình hình tồi tệ hơn, và như là một kết quả, nổ lực bình định đạt thời điểm vận đen nhất của nó vào năm 1965, với chính quyền Sài Gòn sử dụng thẩm quyền đầy chủ ý trên ít như 25 phần trăm dân số.11 Phần lớn giới nông dân sống trong sợ hãi liên tục, trong khi Việt Cộng hoàn thành quyền kiểm soát những vùng được khai khẩn rộng lớn của nông thôn gần như được quyền sử dụng và ra vào.
Đối với sự hỗ trợ cho một miền Nam Việt Nam độc lập, và quả thực, chính nổ lực chiến tranh, vào thời điểm quan trọng, nó rơi vào những người Mỹ để làm mới hơn một kế hoạch bình định đang thất bại và để cung cấp sự an ninh nông thôn. Tuy nhiên, cả phong cách của Mỹ về cuộc chiến và tính khí của TlBChhHtrQsHKVN(pc 01) chứng tỏ kém phù hợp với nhiệm vụ. Một sĩ quan tình báo cao cấp của ông Westmoreland, Trung Tướng Phillip B. Davidson, đặt tình hình một cách cô động bằng cách phát biểu rằng “Mối quan tâm của ông Westmoreland luôn luôn nằm trong một cuộc chiến với đơn vị lớn. Công cuộc bình định làm ông ta chán ngán.”12 Ông Westmoreland tin rằng phương pháp gây-tiêu-hao-sức-đề-kháng của mình sẽ chiến thắng cuộc xung đột một cách mau chóng và thực hiện những nhiệm vụ khó khăn về việc nhỗ bật rễ hỗ trợ cho VC(pc 03) và đưa ra những điểm có thể bàn luận về sự an toàn của người dân. Như thế ông ta để lại vấn đề bình định trong tay của người miền Nam Việt Nam. Về bản chất, sau đó, Hoa Kỳ chiến đấu bằng một nổ lực chiến tranh được phân hai nhánh, với phần lớn nhất của những nguồn tiếp tế và sự chú ý được đưa ra cho những trận chiến gây-tiêu-hao-sức-đề-kháng đang tiếp tục.13 Công cuộc bình định –một cuộc đấu tranh cho lòng trung thành của người dân miền Nam Việt Nam– suy giảm, một phần của cuộc chiến của Mỹ gần như bị lãng quên, cho đến khi sự hình thành, vào năm 1967, của những Hoạt động Dân sự và Hỗ trợ Phát triển Cách mạng (i.e. CORDS) dưới quyền của ông Robert Komer, là cựu phụ tá đặc biệt cho Tổng thống Johnson về những vấn đề an ninh quốc gia.14 Chỉ sau khi cuộc Tổng Tấn công Tết Mậu Thân và sự ra đời của Tướng Creighton Abrams như là TlBChhHtrQsHKVN(pc 01) những cố gắng về công cuộc bình định trở nên tích hợp vào cuộc chiến rộng lớn hơn và đạt được thành công đáng khích lệ.15
Bị bỏ lại với những phương pháp của riêng mình, những người miền Nam Việt Nam quyết cố gắng hướng đến công cuộc bình định vốn đạt được một ít kết quả có ý nghĩa. Những cải cách xã hội, chính trị, và quân sự được đòi hỏi để gặt hái thành công trong công cuộc bình định đáng lý ra sẽ lôi cuốn vào một nổ lực khó khăn và lâu dài, một cái gì đó theo lý luận là vượt quá khả năng hoặc mong muốn của tầng lớp có quyền lợi bản thân và quân sự nhiễm chính trị hóa mà qua đó họ điều khiển nhà nước miền Nam Việt Nam. Điều đó dễ dàng nhìn thấy lý do tại sao, sự bất ổn trong quyền lực của riêng nhà nước và việc tin tưởng thực sự rằng người Mỹ sẽ chứng minh thắng lợi như ông Westmoreland hứa,

p72

chế độ miền Nam Việt Nam đặt sự nhấn mạnh hơi thiếu thực tế trên những cố gắng vốn có thể, vào thời điểm cuối, đã từng làm suy giảm thẩm quyền của riêng mình. Chính phủ miền Nam Việt Nam vì vậy bắt chước quan điểm của Mỹ về cuộc xung đột, qua việc đẩy sang một bên những khuynh hướng về chống sự nổi đích thật và bỏ cho QĐVNCH chiến đấu như là phụ trợ cho cuộc chiến “đơn vị lớn,” một cuộc chiến mà qua đó nó không thể hỗ trợ mà không có viện trợ đáng kể của Mỹ –một ảnh hưởng đáng lo ngại khác của kế hoạch Mỹ hóa Chiến tranh về cuộc xung đột ở Việt Nam.
Chính phủ miền Nam Việt Nam liên tục lập kế hoạch và phát động những chương trình bình định tiếp nối với các danh hiệu cao quý như là Chương trình Phát triển nông thôn và Chương trình Mô hình Bình định Mới. Tuy nhiên, những sự phối hợp không chắc chắn, quá phức tạp, và lôi cuốn hàng loạt những nhiệm vụ gây bối rối khác nhau từ những cố gắng để đạt được năng suất gạo cao hơn trên mỗi mẫu đất đến những vấn đề chiến thuật về việc cung cấp sự an ninh cho những dân làng được chuẩn bị cho trận chiến. Việc tổ chức lộn xộn của các chương trình bình định khác nhau rơi vào một liên minh phiền phức, có ba tầng lớp của thường dân và những tổ chức quân sự. Nhìn chung, lực lượng nồng cốt dân sự chịu trách nhiệm những phần về xã hội và kinh tế của các chiến dịch, trong khi sự an ninh nằm trong phạm vị ảnh hưởng của ĐPQ & NQ(pc 12) không đạt tiêu chuẩn như được thừa nhận.16
Trong phạm vi cuộc sống xã hội bị lộn xộn và hỗn loạn về công cuộc bình định, Phạm Văn Đính chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Như là một Quận trưởng, anh ta sẽ là người đại diện địa phương của nổ lực bình định và sẽ có cả kiến thức không thể thiếu về địa phương của và lẫn sự kiểm soát trên những thôn ấp, làng mạc riêng lẻ trong khu vực hoạt động của mình. Như thế, những Quận trưởng, thường thường các sĩ quan trẻ có cấp bậc hoặc là Đại tá hoặc Trung tá, phải đối mặt với vô số nhiệm vụ khác nhau từ các hoạt động chiến đấu đến an ninh thôn ấp, đến các dự án phát triển kinh tế đủ loại.17 Thường thường được hỗ trợ bởi một nhóm tám cố vấn Hoa Kỳ, những quận trưởng có thể kêu gọi một loạt những lực lượng quân sự trong các nổ lực bình định của họ, bao gồm 3 đến 6 đại đội Lực lượng Địa phương, có khả năng di động, và thường lên đến bốn mươi trung đội Lực lượng Nghĩa quân, thường đi đôi với những nhiệm vụ phòng thủ trong các thôn ấp, làng mạc riêng lẻ. Những lực lượng này thành lập lá chắn phòng thủ địa phương có nhiệm vụ bảo vệ những thôn ấp và làng mạc từ những cuộc tấn công bất ngờ của Việt Cộng và bảo vệ những quan chức làng và thôn, lực lượng nồng cốt của chương trình Phát triển Cách mạng, lực lượng cảnh sát, và các thành viên của những tổ chức dân sự có chủ ý giúp đỡ dân cư địa phương.18
Nhiều Quận trưởng chỉ đơn giản là những người được bổ nhiệm mang tính chất chính trị vốn là những người điều hành quyền chỉ huy của họ giống như những lãnh địa nhỏ thời phong kiến và tham gia vào tất cả cách thức ăn hối lộ và tham nhũng

p73

trong khi cung cấp cho người dân một ít theo cách an ninh đích thực. Những Thôn trưởng ở nhiều huyện là những người vắng mặt và viếng thăm ngôi làng của họ chỉ thu thuế và như thế từ bỏ vai trò đáng kể trong vấn đề an ninh địa phương. Trong những tình huống như vậy, những trung đội lực lượng Nghĩa quân thường không tồn tại hoặc bị bỏ mặc cho riêng họ, không được hỗ trợ và không được giúp đỡ, để giữ vị trí những đồn trú phòng ngự nhỏ bé, thiếu tích cực trong một vùng quê tràn ngập với những người có cảm tình với Việt Cộng. Những quân đồn này cho một ảo giác về sự kiểm soát của chính phủ trong một khu vực, khi đó trong thực tế, đội ngũ Nghĩa quân không bao giờ dám mạo hiểm ra khỏi vùng ranh giới thuộc những vị trí phòng thủ của nó. Trong những trường hợp khác, những Quận trưởng là những sĩ quan trung thực nhưng không có kinh nghiệm chiến đấu của QĐVNCH(pc 02) vốn là những người oán ghét công tác được giao phó cho những nhiệm vụ bình định và mong ước việc trở lại bước thăng tiến nghề nghiệp nhanh chóng của công việc chiến đấu.19 và bỏ bê cả việc huấn luyện và sử dụng chiến thuật của những lực lượng quân sự bằng quyền chỉ huy của họ.

c- Những lực lượng Địa phương Quân và Nghĩa quân :

Được đặt bởi Tướng Trưởng tại điểm điểm tựa của cuộc chiến bình định, cuộc chiến nhân tâm, Phạm Văn Đính nhanh chóng phát hiện ra rằng quân lính thường được giao nhiệm vụ bình định, là những Lực lượng Địa phương Quân và Nghĩa quân, là điều sai lầm từ nền tảng. ĐPQ & NQ(pc 12) đã từng tăng trưởng ra khỏi dân quân thuộc Quân đoàn Bảo vệ Dân sự và Tự vệ, các nhóm của những lực lượng bán quân sự được thành lập vào năm 1955 và ban đầu được giao công việc với những nhiệm vụ an ninh trong vùng. Những lực lượng “phố nhà” như thế, theo ý kiến của Tướng Trưởng, ngụ ý “khả năng nhận biết và xác định kẻ thù trong dân chúng, một sự quen thuộc với tất cả những lối ra vào, những nơi ẩn náu trong các thôn ấp, một mối quan hệ và liên lạc chặt chẽ đang làm việc với dân cư, và trên hết, một sự hợp tác và ủng hộ của người dân.”20
Nhận thấy tầm quan trọng của họ, miền Nam Việt Nam ban đầu hỗ trợ chuyển việc tạo ra các lực lượng địa phương có khả năng đóng vai trò quan trọng chống lại cuộc nổi dậy. Tuy nhiên, Hoa Kỳ không đồng ý, thay vì giúp đỡ trong việc xây dựng một lực lượng quân sự truyền thống ở miền Nam Việt Nam, chọn ý muốn rời bỏ các lực lượng địa phương ngoài Chương trình Hỗ trợ Quân sự. Kết quả là, những lực lượng địa phương vẫn luôn được huấn luyện một cách yếu kém và không được sử dụng đúng mức và trong một số trường hợp thực sự trở thành một phần của nan đề trong những khu vực nông thôn dễ biến đổi.21

p74

Thay vì bảo vệ dân cư, những lực lượng địa phương thường được dùng để thu hoạch cà phê, cây lúa, hoặc bắt cá bằng những chiếc ghe của phe nhóm cho vị Tỉnh trưởng tham nhũng của họ.22 Theo những lời của Tướng James Lawton Collins, vốn là người phục vụ như là vị cố vấn cấp cao của Hoa Kỳ cho các Lực lượng Địa phương Quân và Nghĩa Quân Việt Nam, “Nhiều đơn vị thì ít nhiều giống như những băng nhóm thanh niên được vũ trang; những người khác là những quân đội riêng và các băng đảng ‘có tổ chức liê n kết’ trở thành sự phục vụ của chính phủ Việt Nam.”23
Bắt đầu từ năm 1960, tuy thế, khi cuộc nổi dậy trở nên một mối đe dọa nghiêm hại ở miền Nam Việt Nam, những thái độ của Mỹ đối với các lực lượng địa phương bắt đầu thay đổi. Đến năm 1964, các lực lượng địa phương được kết hợp trở thành một cấu trúc đội quân của QĐQĐVNCH và dần dà được biết đến như là những Lực lượng Địa phương Quân và Nghĩa Quân. Trong sự tái sinh mới mẻ của họ, ĐPQ & NQ có được một cấu trúc đội quân có một ít hỗn loạn nào đó và nhận lãnh những vai trò của họ như là những người bảo vệ các tỉnh, huyện, làng xã, và thôn ấp của miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, sự quan tâm và cải thiện đã đến quá muộn những mười năm và không thể nhanh chóng vượt qua những năm bị bỏ bê và trì trệ.
Vào lúc bắt đầu của cuộc chiến của Mỹ, sau đó, thay thế bằng một lực lượng vũ trang địa phương có hiệu quả đứng lên chống lại cuộc nổi dậy, ĐPQ & NQ là một minh chứng cho tầm nhìn thiển cận của toàn bộ nổ lực chiến tranh của Mỹ và miền Nam Việt Nam. Phần chính của vấn đề là, ĐPQ & NQ thiệt thòi từ sự thiếu sót việc huấn luyện gần như hoàn toàn.24 Sau năm 1964, với sự thừa nhận muộn màng của Mỹ về chức năng an ninh quan trọng của các lực lượng địa phương, lúc đó bắt đầu một cái gì đó của một khóa huấn luyện cấp tốc cho những đơn vị của ĐPQ & NQ, nhưng việc đào tạo đó vẫn rơi xuống mức 60 phần trăm thiếu hụt những mục tiêu mong mỏi.25 Chỉ với giá trị cao được đặt trên vấn đề bình định sau việc thành lập chương trình Hỗ trợ Hoạt động Dân sự và Phát triển Cách mạng, vào năm 1967, việc huấn luyện những đơn vị của ĐPQ & NQ bắt đầu đáp ứng bất cứ điều gì như các tiêu chuẩn đồng phục quân sự.
Trong suốt cuộc Chiến tranh Việt Nam, ĐPQ & NQ(pc 12) chịu khốn khổ từ những vấn đề lãnh đạo liên tục. Những người được đề cử thuộc sĩ quan giỏi nhất đã gia nhập vào QĐVNCH,(pc 02) mà qua đó tìm thấy các lực lượng địa phương như là một người anh em họ đáng thương vốn tạo ra ít cơ hội để thăng tiến hơn. Những Thôn trưởng và Quận trưởng vốn là những người chỉ các huy lực lượng địa phương thường là các quan chức văn phòng tham nhũng vốn là những người chưa bao giờ thăm viếng quân lính của họ, lấy trộm ngân quỹ ít ỏi của họ, biết rất ít về vai trò chỉ huy quân sự, và trốn chạy trước cảnh nguy hiểm đầu tiên. ĐPQ & NQ cũng khốn khổ từ mức lương rất thấp, thấp nhiều hơn mức lương kiếm được bởi những người anh em của QĐVNCH của họ. Cuối cùng, kể từ khi ĐPQ & NQ phục vụ tại địa phương, những vấn đề gia đình là một nan đề thường xuyên.

p75

Khi Việt Cộng tấn công, những người lính của ĐPQ & NQ phải đối mặt với sự lựa chọn bảo vệ tiền đồn của mình hoặc bảo vệ gia đình mình.26
Khiến cho vấn đề tồi tệ hơn, ĐPQ & NQ mang loại vũ khí lỗi thời, nhận được chỉ là vũ trang Hoa Kỳ của thời Thế Chiến thứ II, bao gồm súng trường carbine M-1 sau năm 1960. Đồng thời, các đơn vị Việt Cộng bắt đầu nhận được những súng AK-47 và RPG-7,(pc 11) vượt hơn hẳn một cách nghiêm trọng hỏa lực phối hợp của ĐPQ & NQ, mà qua đó cũng nhận được ưu tiên thấp nhất cho sự hỗ trợ hỏa lực trong tất cả các hạng và như thế không có thể ngay cả bình thường kêu gọi ưu thế pháo binh và không lực ào ạt của Hoa Kỳ / QĐVNCH để làm nghiên cán cân trận chiến về phía lợi của họ. Một nghiên cứu về Quân đoàn III vào năm 1967 cho thấy thực tế đáng lo ngại rằng, trong tổng số 234 hành động khởi đầu thân thiện của ĐPQ & NQ mà qua đó các cuộc gọi ra ngoài cho sự hỗ trợ hỏa lực, gần như 200 hành động không nhận được sự hỗ trợ như thế.27
Mặc dù những nhiệm vụ của họ về vấn đề an ninh địa phương thì dường như thường trực, ĐPQ & NQ gánh chịu con số những thương vong cao nhất trong số bất kỳ lực lượng đồng minh nào trong cuộc xung đột. Được trải mỏng ra trên khắp vùng nông thôn và thiếu sự hỗ trợ hậu cần và hỏa lực, những tiền đồn của ĐPQ & NQ nhanh chóng trở thành mục tiêu cho những cuộc tấn công biển người của Việt Cộng hoặc QĐBV. Tình hình vào lúc tồi tệ nhất trong năm 1968 khi một số 477 tiền đồn của ĐPQ & NQ đã bị tràn qua ngay trong suốt tháng đầu tiên của cuộc tộng tấn công Tết Mậu Thân.28 Thêm vào đó, trong khi các sư đoàn, lữ đoàn và tiểu đoàn của QĐVNCH(pc 02) và Hoa Kỳ có thể nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe hoặc thậm chí chỉ cần tìm thấy những lần tạm lắng trong nhiệm vụ chiến đấu của họ, điều giống như thế không hề được nghe nói về cuộc chiến của những lực lượng địa phương có đơn vị nhỏ. Trong một cuộc chiến không có tiền tuyến, ĐPQ & NQ(pc 12) thì luôn trên mặt tiền tuyến, không có nơi trú ẩn an toàn và không có sự nghĩ ngơi và thư giãn (i.e. R & R). Thay vào đó, ĐPQ & NQ đối mặt với cuộc chiến chạm súng liên tục, luôn luôn tuần tra và luôn luôn cảnh giác đối với kẻ thù vốn có thể là bất cứ đâu –ngay cả ở các l àng mạc, thôn ấp của riêng họ. Đối với ĐPQ & NQ, chiến tranh là một trạng thái của đời sống hàng ngày, một trận chiến gây-tiêu-hao-sức-đề-kháng chậm chạp và không bao giờ kết thúc vốn kéo dài, đối với một số binh lính, trong hai mươi năm.
Không có gì ngạc nhiên rằng tinh thần chiến đấu và tính hiệu quả của ĐPQ & NQ, trong khi chỉ được huấn luyện một phần nào đó, kém dẫn dắt, thiếu vũ trang, và không được hỗ trợ, vẫn còn thấp. Rằng những lực lượng của ĐPQ & NQ tiếp tục chiến đấu hết mình là một minh chứng cho sự kiên trì của dân cư miền Nam Việt Nam và xem như là một dấu hiệu cho thấy xa hơn rằng nơi đó tồn tại một nguồn ủng hộ thực sự cho chủ nghĩa dân tộc của người miền Nam –một nguồn mà cả Hoa Kỳ và miền Nam Nam Việt Nam thất bại trong việc nuôi dưỡng một cách thích hợp.29 Chính là vũng nước đọng nầy của cuộc chiến, một thế giới tối tăm của công cuộc bình định –một tầm nhìn thiếu trình độ chính trị và một vùng chiến tranh của ĐPQ & NQ thiếu hoàn thiện– mà qua đó anh Đính bấy giờ chuẩn bị bước vào.

p76

d- Cuộc chiến nông thôn và Cuộc chiến gây tiêu hao :

Vào năm 1967, quận Quảng Điền, nằm trong những vùng đồng bằng màu mỡ chỉ một vài cây số về phía bắc của thành phố Huế, chứa một dân số khoảng 46.000 người ở rải rác trong tám ngôi làng chính và là nơi hội tụ của những thôn ấp con bị phân tán. Khu vực được ghi nhận cho việc sản xuất gạo của nó và như thế là một mục tiêu xâm nhập liên tục của Việt Cộng trong những nổ lực bảo đảm nguồn lương thực. Trong “Cuộc chiến Gạo” đang diễn ra, đó là nhiệm vụ của các lực lượng Hoa Kỳ và QĐVNCH để gặp gỡ và đánh bại những đơn vị chính của VC(pc 03) và QĐBV(pc 07) vốn tìm cách tiếp cận những vùng đồng bằng, nhưng rào cản mà họ cung cấp thì có lỗ hổng. Kết quả là, sự hiện diện của VC khá lớn tồn tại trong khu vực vốn chứng tỏ rất khó khăn cho ĐPQ & NQ loại bỏ. Do đó, mặc dù có hai đại đội Địa phương Quân trong quận và mỗi làng được đưa vào một trung đội Nghĩa quân, vào năm 1967 tình hình ở quận Quảng Điền vẫn còn rất nhiều trong sự nghi ngờ, qua việc để cho sự chiếm ưu thế của Việt Cộng trên một nửa những làng mạc và thôn ấp của quận và trong sự kiểm soát phần lớn những nguồn cung cấp của khu vực. Theo những lời của một cố vấn Mỹ quen thuộc với khu vực, Việt Công “lây nhiễm vùng nông thôn.”30
Một loạt các sự kiện vốn đã dẫn đến việc đề cử của anh Đính như là Quận trưởng của Quảng Điền được bắt đầu vào năm 1965, khi vị Tham mưu trưởng Quân đội là Tướng Harold K. Johnson ủy nhiệm một nhóm những chuyên gia quân sự và dân sự của Mỹ nghiên cứu vấn đề an ninh nông thôn ở miền Nam Việt Nam trong “Chương trình Bình định và Phát triển Dài hạn miền Nam Việt Nam” (CtrBd&PtrDhmNVN). Những kết luận của việc nghiên cứu đang gây sự chú ý và đề nghị bước di chuyển khỏi ý kiến nổi bật hiện thời trên kế hoạch tìm-kiếm-và-tiêu-diệt và khuyến khích sự tin cậy vào công cuộc bình định và sự cố gắng giành lấy con số thường dân cho sự nghiệp của chính phủ Nam Việt Nam. Phiên bản cuối cùng của việc nghiên cứu của CtrBd&PtrDhmNVN kết luận:

Tình hình ở miền Nam Việt Nam đã xấu đi một cách nghiêm trọng. Năm 1966 có thể cũng là cơ hội cuối cùng để đảm bảo sự thành công sau cùng. “Chiến thắng” chỉ có thể đạt được qua việc đưa ra một cá nhân Việt Nam, thường là một nông dân nông thôn, để hỗ trợ Chính phủ Việt Nam hết lòng. Những hoạt động quan trọng là những hoạt động vốn xảy ra ở cấp làng, quận và tỉnh. Đây là nơi mà cuộc chiến buộc phải chiến đấu; đây là nơi mà chiến tranh và đối tượng xa hơn thế buộc phải chiến thắng.31

Tóm lại, CtrBd&PtrDhmNVN(pc 13) bác bỏ toàn bộ chính sách của quân đội Mỹ kể từ việc phát triển của NhCv&HtrQs, (pc 14) bao gồm việc tạo ra QĐVNCH trong hình ảnh của Quân đội Hoa Kỳ.

p77

Như là một giải pháp, CtrBd&PtrDhmNVN ủng hộ về điều gì đó mà rất nhiều vị chỉ huy trẻ của các đơn vị trên chiến trường, bao gồm anh Đính và anh Huế, và những cố vấn của họ đã từ lâu ủng hộ. Thay vì lực lượng QĐVNCH và Hoa Kỳ càn quét qua những khu vực chỉ để cho chúng dễ bị xâm nhập trở lại bởi Việt Cộng, CtrBd&PtrDhmNVN kêu gọi việc tạo ra các lực lượng an ninh “được liên kết và xen kẽ với người dân trên cơ sở lâu dài.”32 Một đề nghị cụ thể liên quan đến công tác của những tiểu đoàn thường trực của QĐVNCH đối với những nhiệm vụ bình định ở tỉnh và huyện, với ĐPQ & NQ được chuyển đổi thành một lực lượng cảnh sát. Theo đề nghị, nó bắt đầu từ một QĐVNCH được trang bị vũ khí tốt hơn, được huấn luyện tốt hơn, và được lãnh đạo tốt hơn nhằm nhổ bật gốc cơ sở hạ tầng VC(pc 03) trong khi ĐPQ & NQ tập trung vào việc giữ yên bình nơi mà công cuộc bình định đã thành công rồi.
Những đề nghị đáng lo ngại đến nổi ngay cả người bảo trợ của CtrBd&PtrDhmNVN, là Tướng Johnson, cấm cuộc thảo luận về việc nghiên cứu hoặc thậm chí thừa nhận sự tồn tại của nó bên ngoài Lầu năm Góc. Cuối cùng, những vị Tham mưu trưởng Liên kết và ông McNamara được tường trình tóm lược về cuộc nghiên cứu và chuyển tiếp một bản sao đến ông Westmoreland cho những ý kiến phê bình của ông ta.33 Vẫn giữ lại niềm tin của mình trong chiến tranh gây-tiêu-hao-sức-đề-kháng, ông Westmoreland từ chối đề án đầy hứa hẹn. Với sự ủng hộ hoàn toàn không phải của người bảo trợ ban đầu của nó cũng không phải của vị chỉ huy trong lãnh vực này, CtrBd&PtrDhmNVN(pc 13) chứng minh là một cơ hội bị bỏ lỡ và thất bại trong việc thay đổi cán cân của cuộc chiến ở Việt Nam. Mặc dù ông ta không ủng hộ ý tưởng xen lẫn QĐVNCH với người dân, ông Westmoreland chọn cách cho phép những cá nhân chỉ huy của QĐVNCH giao cho các tiểu đoàn bộ binh những nhiệm vụ bình định ở tỉnh hoặc quận trên một cơ sở được sắp đặt trước cho mục đích đó.34
Vào năm 1967, Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự cho Việt Nam (BChHTrQsVN) đưa ra một ý tưởng với một bước xa hơn qua Kế hoạch Chiến dịch Kết hợp Hoa Kỳ–miền Nam Việt Nam, mà qua đó hình dung sự gắn bó những tiểu đoàn bộ binh thường trực của QĐVNCH với các tỉnh thành để đạt được “sự thống nhất về nổ lực.” Theo kế hoạch, những vị chỉ huy quân đoàn quyết định trên cơ bản mỗi một trường hợp khi giao những đơn vị thường trực cho chính quyền tỉnh để hoạt động như là những lực lượng an ninh. Tuy nhiên, kế hoạch đổi mới nhằm sử dụng quân lính của QĐVNCH(pc 02) trong những nổ lực bình định đích sự phải đối mặt với phe đối lập, cả ngấm ngầm và công khai, gần như tất cả các cấp độ của cơ cấu chỉ huy đồng minh. Về phần mình, ông West-Moreland xem ý tưởng như là một cái gì đó của một biện pháp tạm thời vốn lấy đi những lực lượng xa khỏi “cuộc chiến của đơn vị lớn.” Trong khi một số thành phần của chính quyền Sài Gòn nhìn thấy chính sách như là cách tốt nhất để tích hợp những lực lượng thường trực vào trong một nổ lực an ninh, hầu hết những vị chỉ huy của miền Nam Việt Nam người xem sự thực hành bằng những mức độ chán ghét khác nhau. Những vị chỉ huy sư đoàn thường nhìn thấy sự tách biệt đội của những tiểu đoàn cho những nhiệm vụ tỉnh thành như là một mối đe dọa cho cả sức mạnh chiến đấu của họ và lẫn quyền lực chính trị rất quan trọng của họ.

p78

Những hàm ý của kế hoạch nhằm tách ra các tiểu đoàn cho sự kiểm soát của tỉnh gây tác động thậm chí ở ngay những cấp bậc quyền lực rất cao. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu liệt kê nhiều người trong số những người chỉ huy sư đoàn giữa những người ủng hộ mạnh mẽ nhất của mình, trong khi những vị lãnh đạo tỉnh thường là những người ủng hộ của đối thủ chính trị không đội trời chung của mình, Nguyễn Cao Kỳ.35 Như thế, một sự chuyển đổi những tiểu đoàn như việc buôn bán sỉ cho sự kiểm soát của tỉnh đe dọa một thay đổi to lớn trong những cuộc đấu tranh khốc liệt về chính trị và quân sự đang tiếp tục vốn gây quá tai hại cho miền Nam Việt Nam, và kết quả là chính sách chuyển đổi những tiểu đoàn của QĐVNCH cho những tỉnh thành và quận bị tàn dần. Sự thất bại của chính sách, điều mà có thể đã liên kết QĐVNCH tốt hơn với người dân, trong nhiều mặt là một minh chứng cho vô số những thất bại của chính Chiến tranh Việt Nam –hy sinh cho những mong muốn của người Mỹ để chiến đấu một cuộc chiến gây tiêu hao bằng đơn vị lớn và cho những thất bại chính trị của chế độ miền Nam Việt Nam.
Trẻ trung, đổi mới, và ít quan tâm đến chính trị hơn nhiều người trong số những người anh em quân ngũ của mình, Tướng Ngô Quang Trưởng là một trong số ít các vị chỉ huy sư đoàn của QĐVNCH(pc 02) vốn là người nhìn thấy những cơ hội đến và chọn cách tận dụng lợi thế của chính sách mới, chọn lấy anh Đính đặt vào vị trí và 2/3(pc 15) QĐVNCH trong quận Quảng Điền trong một năm duy nhất. Trong khi nhiều sĩ quan của QĐVNCH chống lại việc phân công cho cái gì mà họ xem là một vai trò kém quan trọng của sự ủng hộ công cuộc bình định,36 anh Đính nhìn thấy sự phân công như là điều không thể cưỡng lại. Anh ta từ lâu đã nhận ra rằng sự kiểm soát đích thực trên nông thôn tượng trưng cho một cơ hội tốt nhất đạt chiến thắng cho miền Nam Việt Nam. Từ những kinh nghiệm chiến đấu sớm nhất của anh ta gần Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, anh Đính cuối cùng đã tin rằng việc càn quét qua những làng mạc chỉ để lại chúng phải chịu dưới quyền sinh sát của Việt Cộng, là một sai lầm cơ bản. Anh ta bây giờ có cơ hội để chiến đấu một cuộc chiến theo cách đúng đắn.
Đến năm 1967, 53 tiểu đoàn di động của QĐVNCH được giao cho một phần nào vai trò hỗ trợ công cuộc bình định.37 Tuy nhiên, những đơn vị này vẫn đóng vai trò như là một lá chắn phòng ngự di động, bên trong chống lại Việt Cộng, qua việc chiếm lấy một phần nào vùng đất tiếp giáp ở giữa cuộc chiến gây-tiêu-hao-sinh-lực-đối-kháng và cuộc chiến bình định. Những đơn vị tuần tra từ các doanh trại căn cứ để đuổi đi các đơn vị đối phương và ngăn chận những tuyến đường cung cấp của họ. Vai trò của 2/3(pc 15) QĐVNCH, tuy thế, thì khác nhau trên cơ bản. Anh Đính là người nhưng trong số rất ít những sĩ quan của ARVN vốn là quận trưởng và lẫn vị chỉ huy một tiểu đoàn. Bởi vì vai trò kép của mình, 2/3 QĐVNCH trở thành một phần phối hợp của việc bảo vệ quận Quảng Điền, không chỉ làm tăng thêm những nổ lực của ĐPQ & NQ mà còn sinh sống bên cạnh những dân làng và nông dân.

p79

Quận Quảng Điền vào tháng Hai năm 1967 đã trở thành một tâm điểm hoạt động của đối phương khi VC(pc 03) và QĐBV tìm cách áp đặt sự kiểm soát trên các vùng đồng bằng sản xuất, không chỉ nhằm tịch thu thêm lương thực mà còn nhằm chuyển hướng chú ý của QĐVNCH và Hoa Kỳ khỏi thành phố Huế trong việc chuẩn bị cho cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân sắp đến.38 Trong sự đối mặt với cuộc tấn công dữ dội, những lực lượng ĐPQ & NQ kém đào tạo và lãnh đạo của quận đã có trong một số trường hợp chỉ đơn giản bị tan rã, để lại một lực lượng sức mạnh tiểu đoàn của VC lang thang vùng nông thôn trong tình trạng tương đối an toàn. Sự xuất hiện của anh Đính, tuy thế, tạo thành công trong việc chiếm lợi thế trên Việt Cộng. Không muốn liều lĩnh cuộc chiến đấu kéo dài với một tiểu đoàn QĐVNCH,(pc 02) những đơn vị chủ lực nằm vùng của đối phương nhanh chóng rút quân vào trong những vùng cao nguyên và đặt những tầm nhìn của họ vào các mục tiêu yếu hơn ở các quận khác. Tuy nhiên, Quảng Điền vẫn còn bị xâm nhập hoàn toàn bởi cơ sở hạ tầng của Việt Cộng, và anh Đính cảm thấy rằng những lực lượng ĐPQ & NQ(pc 12) địa phương thì quá kém vũ trang, đào tạo, và chỉ huy để gây ra mối đe dọa thực sự đối với sự thống trị khu vực của VC, yếu kém nhiều hơn không thể đứng vững trong việc phòng thủ chống lại các cuộc tấn công khởi đầu lại bởi các đơn vị lực lượng chủ yếu. Sự xuất hiện của 2/3(pc 15) đã làm thăng bằng sự chênh lệch ở Quảng Điền và anh Đính cuối cùng tin rằng việc đóng quân của những tiểu đoàn QĐVNCH như là những lực lượng phối hợp trong phạm vi các quận —QĐVNCH và người dân như là một– thì hoàn toàn có thể là câu trả lời cho cuộc chiến bình định.
Hệ thống bình định, tuy thế, không phải là của anh Đính để thay đổi, bỏ mặc anh ta lao lực dưới cấu trúc hỗn loạn của quyền chỉ huy song đôi vốn là một yếu tố chủ yếu của cuộc chiến tranh bị phân làm hai nhánh. Như là một vị chỉ huy tiểu đoàn, anh ta, cùng với những lực lượng QĐVNCH của mình, báo cáo lên trung đoàn. Tuy nhiên, như là một vị Quận trưởng, anh ta, cùng với thành phần ĐPQ & NQ của mình, báo cáo lên Tỉnh trưởng. Đôi khi cơ cấu chỉ huy song đôi làm việc với những mục đích trái ngược, và những phần tử của tiểu đoàn QĐVNCH của anh ta thường được gọi ra ngoài tham gia vào các nhiệm vụ chiến đấu ở nơi khác. Ngoài ra, đại đội ĐPQ của ông ta thường đi khỏi để nhận lãnh những nhiệm vụ không báo trước của tỉnh. Như vậy, ngay cả với sự kiểm soát gần như thống nhất của anh Đính, tình trạng chỉ huy vẫn còn phần nào không thể đoán trước, và, đối với các đơn vị QĐVNCH trên khắp đất nước vốn chỉ đơn thuần được gắn liền vào những tỉnh, hoặc quận, tình hình thì vô cùng tồi tệ hơn.
Việc huấn luyện cũng là một lãnh vực rất mực quan tâm đối với anh Đính. Những binh lính của ĐPQ & NQ, theo quan điểm của anh ta, có đủ khả năng và lòng dâng hiến, nhưng không ai trong số các lực lượng dưới quyền chỉ huy của mình đã từng nhận được bất kỳ cuộc huấn luyện đơn vị dù thế nào đi nữa, bỏ mặc họ ở thế bất lợi có tiềm năng gây tử vong chống lại VC(pc 03) và QĐBV.(pc 07) Anh Đính làm việc để tự mình huấn luyện các đơn vị và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc huấn luyện đơn vị chính thức và sự đòi hỏi về vấn đề trang bị vũ khí tốt hơn ở vị Tỉnh trưởng.

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ TlBChhHtrQsHKVN : Vị Tư lệnh của Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự Hoa Kỳ cho Việt Nam (COMUSMACV = Commander, U.S. Military Assistance Command, Vietnam).

pc 02_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 03_ VC : Việt cộng.
pc 04_ LlThgLnTQLC : Lực lượng Thiết giáp Lội nước Thủy quân Lục chiến (MAF = Marine Amphibious Force).

pc 05_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 06_ KpQs : Khu phi Quân sự.
pc 07_ QĐBV : Quân đội Bắc Việt.
pc 08_ Khe Sanh : là một thị trấn của huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, cách Đông Hà 63 km về phía Tây, cách cửa biên giới Lao Bảo 20 km về phía đông. Chiến trận tại Khe Sanh 1968 lịch sử được chính quyền Hà Nội xem là “Trận Điện Biên Phủ thứ hai” hay là chốn “Địa ngục Trần gian” theo cách nghĩ của quân lính Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ. Nó có một vị trí chiến lược rất quan trọng, vì thế quân đội Mỹ đã thiết lập căn cứ Khe Sanh với hy vọng sẽ ngăn chận được sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam của Quân đội Bắc Việt và sẽ cắt được đường mòn Hồ Chí Minh.
Khe Sanh nằm trong một thung lũng đất đỏ cao hơn mặt nước biển 400 m. Năm 1965-1966, Quân đội Mỹ và Quân đội Việt Nam Cộng hòa đã xây dựng Khe Sanh thành cứ điểm lớn nhất trong tuyến phòng thủ đường số 9. Đây là một trong ba “mắt thần” (Khe Sanh, Làng Vây và Tà Cơn) của hàng rào điện tử McNamara. Tại Khe Sanh đã diễn ra những trận đánh lớn trong chiến dịch Đường số 9–Khe Sanh vào năm 1968, và chiến dịch Đường 9–Nam Lào vào năm 1971.

pc 09_ Đồi Đống đá : là Đồi Rockpile nằm trong Khu phi Quân sự, cũng là một trong những căn cứ quân sự của Mỹ vốn được dùng làm tháp canh để quan sát những hoạt động của Quân đội Bắc Việt ở Quảng Trị từ năm 1966 đến 1968. Nó nằm trên đường số 9, cách Đông Hà 29 km về phía tây, cách cầu Đakrông 20 km về phía đông, và cách sông Bến Hải, cầu Hiền Lương khoảng 18 km tính theo đường chim bay.
Đồi Rockpile cao khoảng 230 m, không có đường lên xuống. Mọi tiếp tế đến đó đều bằng trực thăng mang đến, thậm chí lính Mỹ dùng nước từ trực thăng phun xuống để tắm. Quần áo dơ được gom lại trước khi chuyển đến Philipines.

pc 10_ Cồn Tiên : (người Mỹ hay viết là Con Thien) trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam là một căn cứ của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, nằm cách khoảng 3 km về phía bắc của Khu phi Quân sự. Đây là nới diễn ra trận đánh khốc liệt từ tháng 2 năm 1967 đến tháng 2 năm 1968. Cồn Tiên được tạo ra thành một căn cứ cho hàng rào McNamara nhằm ngăn chận Quân đội Bắc Việt vượt qua Khu phi Quân sự. Căn cứ này là một địa thế chiến lược quan trọng vì nó cung cấp tầm quan sát 15 km về phía đông bờ biển và về phía bắc của bắc Việt Nam. Căn cứ này cũng rất dễ thương tổn vì nằm trong tầm pháo của Bắc Việt.
Ban đầu nó được thiết lập là một trại Lực lượng Đặc nhiệm\CIDG trước khi được chuyển cho Thủy quân Lục chiến vào tháng 12 năm 1966. Cồn Tiên với các căn cứ khác của Thủy quân Lục chiến như là Giao Linh, Đông Hà và Cam Lộ, bao quanh một khu vực được Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ gọi là Công trường Leatherneck (Cổ áo bằng da, là tiếng lóng cho TQLC Hoa Kỳ).

pc 11_ RPG-7 : Súng phóng lựu loại phi đạn có cánh (RPG = Rocket-Propelled Grenade Launcher) hay còn được gọi là “súng chống tăng cá nhân” được sản xuất bởi Liên Xô. Thật ra, loại súng phóng lựu đó phỏng theo khẩu súng Bazooka đầu tiên kiểu 1944 cũ của Hoa Kỳ trong thời kỳ Thế Chiến thứ hai
B40 (cón mang tên khác là Bazooka 40 ly, mặc dù nòng súng của B41 vẫn là 40 ly) là một tên gọi ở Việt Nam cho RPG-2 vốn vào miền Bắc Việt Nam sau 1954. Loại súng này được sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh Việt Nam, sau đó dần dần được thay bằng đời sau là B41 (hoặc RPG-7). B41 là loại vũ khí mang hiệu năng cao nhất kể từ năm 1959. Thông thường, mỗi tiểu đội của QĐBV có ít nhất vài khẩu B41 và B40 vốn sử dụng được nhiều kiểu phi đạn khác nhau của Liên Xô hoặc Trung Quốc. Quả thật, Chúng là nổi kinh hoàng đối với lực lượng xe tăng của miền Nam Việt Nam.
Trong khi đó, QĐVNCH lúc bấy giờ, trong thời điểm biến cố của Kinh Thành Huế, vẫn sử dụng những khẩu súng Bazooka của Hoa Kỳ thời Đệ nhị Thế chiến và chỉ dùng được phi đạn của Mỹ vốn không có nhiều loại phi đạn cho nhiều mục đích khác nhau như B40 và B41. Và sau nầy, những khẩu súng Bazooka lỗi thời đó tỏ ra không mấy hiệu lực đối với loại xe tăng đời sau của QĐBV là T54 của Liên Xô vì sức công phá bị hạn chế đối với lớp thép dầy ở một vài nơi bảo vệ của T54.

pc 12_ ĐPQ & NQ : Địa phương Quân và Nghĩa quân.
pc 13_ CtrBd&PtrDhmNVN : Chương trình Bình định và Phát triển Dài hạn miền Nam Việt Nam (PROVN = Program for the Pacification and Long-Term Development of South Vietnam).

pc 14_ NhCv&HtrQs : Nhóm Cố vấn và Hỗ trợ Quân sự (MAAG = Military Assistance and Advisory Group).

pc 15_ 2/3 : Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 3, có nghĩa chỉ là một tiểu đoàn với 300 đến 1.300 người.

pc 16_ NHlQdUVN : Nhóm Huấn luyện của Quân đội Úc cho Việt Nam (AATTV = Australian Army Training Team Vietnam).

pc 17_ Trung đội : khoảng 26 đến 55 người.
pc 18_ TdHdKh : Những Trung đội Hoạt động Kết hợp (CAPS = Combined Action Platoons)

pc 19_ BChHtrQsVN : Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự cho Việt Nam (MACV = Military Assistance Command, Vietnam).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s