Phần 9: Kết luận

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p207

Phần 9: Kết luận

Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến tranh riêng biệt đối với những người Mỹ trong nhiều khía cạnh, bao gồm cách mà nó đã từng được giải bày. Tác phẩm về những nguồn gốc của các cuộc chiến tranh khác của Mỹ đã từng theo một mô hình giải bày theo tiêu chuẩn của phe chính thống bảo vệ sự can thiệp của Mỹ, được theo sau bởi những người theo phe xét lại thách thức sự cần thiết của chiến tranh hoặc ít nhất là biện pháp mà qua đó đất nước bước vào chiến tranh; kế đó, một nhận định tổng hợp của phe hậu-chủ nghĩa xét lại xuất hiện, trong đó kết hợp những lý luận mạnh mẽ hơn của phe chính thống và những cây viết của phe xét lại. Sự tổng hợp theo một cách riêng biệt không phải là một thỏa hiệp của hai quan điểm; nó gần như thường tái khẳng định sự biện minh cho chiến tranh, nhưng được mở rộng bởi sự kết hợp của những lý luận thúc ép nhất của phe xét lại.
Trong trường hợp của Thế Chiến thứ I, tác phẩm sớm nhất vào những năm 1920s ủng hộ đường lối ngoại giao của Tổng thống Woodrow Wilson trong phản ứng với Đức, riêng biệt là cuộc chiến tranh tàu ngầm của nó, như là sự biện minh cho quyết định tối hậu cho chiến tranh. Đến thập niên 1930s –một thời gian khi mà tâm trạng dân Mỹ chuyển về hướng chủ nghĩa cô lập và hầu hết công chúng đã cuối cùng xem việc tham gia trong chiến tranh như là một sai lầm– nhà văn của phe xét lại đặt câu hỏi về việc liệu chính sách của ông Wilson phản ảnh những lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ và đưa ra ý kiến rằng những lực lượng kinh tế được gia tăng lên bởi sự tuyên truyền của người Anh làm dính líu Mỹ trong một cuộc chiến tranh không cần thiết. Có những ý kiến về những mưu toan, nếu không phải là những âm mưu, bởi các nhà sản xuất vũ khí và những chủ nhân ngân hàng nhằm bảo vệ những lợi ích của họ. Cuối cùng, trong suốt và sau Thế Chiến thứ II –khi đất nước lại một lần nữa phải tham gia sâu vào trong các cuộc xung đột quốc tế nóng và lạnh– một nhận định tổng hợp nổi lên mà qua đó bảo vệ chính sách của ông Wilson, bao gồm sự quyết tâm của ông ta nhằm nâng cao nền kinh tế Mỹ cũng như các quyền chính trị và những nỗ lực của ông ta làm trung gian hòa giải cuộc chiến tranh ở châu Âu, trước khi sự tiếp nối trở lại của Đức về cuộc chiến tranh tàu ngầm không hạn chế vốn ép buộc một cuộc chiến tranh với Hoa Kỳ.

p208

Trong trường hợp của Thế Chiến thứ II, tác phẩm sớm nhất trong suốt thời gian ngay sau vinh quang chiến thắng trên các cường quốc thuộc phe Trục ủng hộ đường lối ngoại giao của Tổng thống Franklin Roosevelt trong phản ứng đối với một thế giới trong cuộc khủng hoảng của giai đoạn 1940–41. Những người theo phe xét lại –xây dựng trên sự oán giận lâu đời phe bảo thủ của FDR (i.e. Tổng thống Franklin Delano Roosevelt) và sự căng thẳng kéo dài của phe cô lập bên trong Đảng Cộng hòa– chẳng bao lâu thách thức phiên bản chính thức và cho rằng ông Roosevelt đã từng mưu tính để buộc đất nước vào trong chiến tranh. Những người theo phe xét lại cho rằng sự ủng hộ của ông ta cho người Anh trong giai đoạn 1940–41 tìm cách khiêu khích Đức Quốc xã vào trong cuộc tấn công Hoa Kỳ, nhưng thất bại trong nỗ lực đó, ông Roosevelt quay về phía Nhật Bản như là một phương tiện của việc mang đất nước vào trong cuộc chiến tranh. Những hành động của ông ta hướng về Nhật Bản là việc khiêu khích và sau đó ông ta đã cố tình mời cuộc tấn công của Nhật vào Trân Châu Cảng bằng cách phơi bày hạm đội Mỹ. Vì vậy, tinh thần yêu nước được khuấy lên vào ngày 7 tháng Mười Hai năm 1941 mang những người Mỹ vào trong cuộc chiến tranh mà FDR(pc 01) đã từ lâu muốn có; cuộc công kích vào đảo Hawaii cung cấp một “cửa sau” cho cuộc chiến tranh chống lại Hitler. Một yếu tố cực đoan nhất của sự phê phán của phe xét lại về ông Roosevelt không xếp thành tài liệu; không bao giờ có bất kỳ bằng chứng rằng ông ta đã đâm mưu để mời cuộc tấn công vào Trân Châu Cảng. Những câu hỏi của phe xét lại về chính sách của ông ta đối với các cuộc chiến tranh ở châu Âu và châu Á trong giai đoạn 1940–41, tuy nhiên, đã thực sự thúc đẩy sự thẩm định rất quan trọng nhiều hơn của các sử gia thuộc dòng chính thống. Một nhận định tổng hợp vốn xuất hiện, nói chung thừa nhận rằng FDR(pc 01) xác nhận sức mạnh của Mỹ theo những cách mà các nước thuộc phe Trục nhìn thấy như là đang đe dọa (và theo cách quyết định không trung lập) và rằng ông ta có thể đã cố gắng vận động công chúng Mỹ bằng một số việc báo cáo lừa đảo và không đầy đủ. Tuy thế, cùng lúc đó, hầu hết các nhà sử học cho rằng ý thức của ông Roosevelt về những thách thức to lớn được đặt ra bởi các cường quốc thuộc phe Trục ông Roosevelt biện minh cho những bước chủ động của ông ta trong các sự kiện dẫn đến Thế Chiến thứ II. Vì vậy, cuối cùng, ông Roosevelt, giống như ông Wilson, xuất hiện trong văn học lịch sử như là đại diện cho những lợi ích của đất nước một cách hiệu nghiệm.
Trong trường hợp của Chiến tranh Lạnh, tác phẩm sớm nhất –phản ảnh tâm trạng của đất nước trong suốt những năm rối loạn về cuộc đối đầu khơi màu giữa Xô–Mỹ– nhìn thấy Liên Xô như là hoàn toàn chịu trách nhiệm cho sự căng thẳng sau Thế Chiến thứ II. Hoa Kỳ đang đáp lại mối đe dọa ở châu Âu gợi nhớ đến sự lan rộng sức mạnh Đức trước Thế Chiến thứ II; vì thế chính sách ngăn chận Liên Xô là cần thiết nhằm bảo vệ an ninh quốc gia. Chẳng bao lâu, phe xét lại nâng cao thêm một thách thức mạnh mẽ đối với phe chính thống này, đáng chú ý nhất là trong suốt những năm 1960s khi cuộc Chiến tranh Việt Nam thúc đẩy sự hoài nghi về những lời giải thích chính thức của chính sách. Phe xét lại đổ cho Hoa Kỳ chịu trách nhiệm cho cuộc Chiến tranh Lạnh, qua việc cho rằng chính sách của Mỹ đe dọa sự an ninh của Liên Xô và buộc nó bước vào trong những biện pháp phòng thủ chống lại sự ngăn chận. Sự nhận định tổng hợp của phe hậu-chủ nghĩa xét lại thường thừa nhận một trách nhiệm chung –mà qua đó cả hai bên đã hành động theo những cách mà phía bên kia theo một cách hợp lý đã nhìn thấy như là khiêu khích và đã dẫn đến những biện pháp “phòng thủ” phản ngược.

p209

Các sử gia tiếp tục không đồng ý về việc phía bên nào chịu “trách nhiệm lớn hơn” cho việc làm suy giảm những mối quan hệ Xô–Mỹ và sự khởi đầu của Chiến tranh Lạnh, nhưng các phiên bản trước đó đặt lỗi vào một bên hoặc bên kia bây giờ được xem như là quá đơn thuần và không được hỗ trợ bởi những tài liệu hiện có.1
Việc xem xét lại lịch sử nầy của những cuộc chiến tranh lớn trong thế kỷ 20 của Mỹ nhấn mạnh đến sự riêng biệt nhất của những lời giải bày của hai phe chính thống–xét lại trong tác phẩm về cuộc chiến tranh Việt Nam. Trong trường hợp này, chính là phe xét lại vốn là những người bảo vệ sự cần thiết của chiến tranh và lập luận rằng chiến tranh đó “có thể chiến thắng” (và trong thực tế đã được “thắng lợi”) trong khi những cây viết phe chính thống phủ nhận sự cần thiết của nó và xem nó như là việc đầu tư liều lĩnh tất phải chịu là “không thể thắng được.”
Tuy nhiên, có ít bằng chứng về sự nhận định tổng hợp của phe hậu-chủ nghĩa xét lại, như những sự khác biệt giữa phe hai chính thống–xét lại vẫn còn sâu sắc. Điều đó có thể giảm bớt khi phe xét lại tiếp tục di chuyển xa hơn các tác phẩm của các nhà lãnh đạo quân sự vốn là những người tin rằng họ buộc phải từ khước một cơ hội để giành lấy chiến thắng, và hướng đến các công trình học thuật hơn. Yếu điểm lớn nhất của chủ nghĩa xét lại là sự vượt trội về tác phẩm học thuật, hỗ trợ cho việc giải bày của phe chính thống. Mức độ mà qua đó những thay đổi sẽ xác định ảnh hưởng cuối cùng của chủ nghĩa xét lại. Có phải chăng ảnh hưởng của chủ nghĩa xét lại giống y như điều đó của Thế Chiến thứ I và Thế Chiến thứ II nơi mà những người theo phe xét lại mở rộng những quan điểm như lời giải bày của chính thống được trình bày lại và trở nên được chấp nhận rộng rãi? Hoặc có phải chăng những người theo phe xét lại sẽ có một kiểu gây ảnh hưởng của Chiến tranh Lạnh nơi mà cuối cùng họ ép buộc một thỏa hiệp cần thiết với phe hậu-chủ nghĩa xét lại và sự kết hợp của cả hai cách giải bày của phe chính thống và phe xét lại? Hoặc có phải chăng tính chất riêng biệt nhất của Việt Nam sẽ khẳng định chính nó một lần nữa và phe xét lại cuối cùng sẽ chiếm ưu thế trong việc viết về chiến tranh?
Vào thời điểm mà dường như lý luận mạnh mẽ nhất của phe xét lại cho là cuộc chiến thì “cần thiết” cả trong những phần về lợi ích an ninh quốc gia của Hoa Kỳ như được xác định vào lúc và trong cuộc đấu tranh lâu dài của Chiến tranh Lạnh. Điều này thách thức sự tranh luận của chính thống mà qua đó ban lãnh đạo thông thái hơn ở Washington đáng lý ra đã tránh được một cuộc chiến tranh thảm khốc và sẽ được nếu ông Johnson đã nghe theo các vị cố vấn đúng đắn. Mặc dù việc giải bày nầy đáng thuyết phục trong nhiều cách (ông Johnson có những vị cố vấn do dự rất nhiều hơn, thí dụ, so với Tổng thống Harry Truman đã có trong việc đưa đất nước đến cuộc chiến tranh ở Hàn Quốc), người ta cũng phải đối phó với vấn đề chính trị trong nước và quốc tế trong giai đoạn 1964–65 mà qua đó thực hiện việc thoát ra dường như thật liều lĩnh. Những luận điệu về “nếu-trừ-khi” của phe xét lại cho rằng một chiến lược theo lý thuyết quân sự Clausewitz hoặc sự chú trọng vào vấn đề “tâm và trí” đã có thể làm thay đổi hậu quả của sự gánh chịu chiến tranh từ vấn đề của việc lựa chọn một sự kiện có thể biến đổi như là một yếu tố quyết định trong một tình hình phức tạp về chính trị–quân sự.
Tuy nhiên, giữa hai sự lựa chọn thay thế, trường hợp “tâm và trí” dường như thúc ép hơn, vì nó thực sự nói lên những vấn đề chính trị của miền Nam Việt Nam mà không thay đổi toàn bộ bản chất của cuộc chiến tranh, như những người theo học thuyết quân sự Clausewitz trù tính.

p210

Những người theo phe xét lại tuyên bố về “những chiến thắng bị đánh mất” dưới vai trò lãnh đạo của Ngô Đình Diệm và sau đó dưới chiến lược Nixon sau biến cố Tết dường như quá cường điệu, nhưng chúng thực sự thúc đẩy một cuộc khảo sát kỹ hơn về tình hình chính trị–quân sự bên trong miền Nam Việt Nam trong suốt thời gian đó. Lý luận “nếu-trừ-khi” liên quan đến cuộc tường thuật về chiến tranh của “giới truyền thông tự do,” tuy nhiên việc làm an lòng nó có thể là đối với những người vốn đổ lỗi cho phe tự do cho tất cả các vấn đề quốc tế của Mỹ, dường như là yếu tố yếu nhất của chủ nghĩa xét lại.
Những tuyên bố về “một chiến thắng bị đánh mất” là cần thiết cho phản ứng của những người theo phe xét lại đối với những nhà phê bình vốn là những người đã từng lập luận rằng những người theo phe xét lại đã bỏ qua những thực tế chính trị ở Việt Nam, đặc biệt là sức mạnh của lực lượng cộng sản nổi dậy ở miền Nam và khả năng phục hồi và các nguồn cung cấp của miền Bắc Việt Nam. Bằng cách làm nổi bật điều gì họ nhìn thấy như là sự tiến triển và “những chiến thắng” thuộc hồi tưởng thời xa xưa, những người theo phe xét lại nghiên cứu sâu vào trong thế giới dễ gây phiền nhiễu và phức tạp của cuộc đấu tranh chính trị–quân sự ở miền Nam Việt Nam. Một số trong những lý luận của họ đáng được xem xét đầy đủ hơn. Tuy nhiên, những bài viết tường thuật có căn cứ đích xác nhất về lịch sử của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam, sự phát triển chính trị của miền Nam Việt Nam dưới thời Ngô Dình Diệm và những người kế vị của ông ta, và của cán cân quân bình về quân sự và chính trị ở nông thôn miền Nam Việt Nam mạnh mẽ ủng hộ sự tranh luận của chính thống về yếu điểm cơ bản của vị thế Mỹ ở miền Nam Việt Nam và sự thiếu mất bất kỳ sự thay đổi có ý nghĩa nào trong suốt giai đoạn chiến tranh của Hoa Kỳ. Hơn nữa, khả năng của Bắc Việt thu hút sự hỗ trợ của Liên Xô và Trung Quốc khi nó tiến hành chiến tranh ở miền Nam Việt Nam cùng với Việt Cộng nhấn mạnh đến mức độ nghiêm trọng của thách thức đối với các chiến lược gia Hoa Kỳ.
Chính là sự mất quân bình chính trị bên trong Việt Nam –mà nó luôn luôn thuận lợi cho nguyên nhân của phe dân tộc / cộng sản và nó là trọng tâm của trường hợp được tạo nên chống lại chiến lược Mỹ hóa chiến tranh bởi những người hoài nghi bên trong chính quyền Johnson trong giai đoạn 1964–65 và bởi phe bồ câu trong suốt cuộc chiến tranh diễn ra sau đó– vẫn còn là một yếu tố mạnh mẽ nhất của việc giải bày của phe chính thống về một cuộc chiến tranh trên cơ bản “không thể thắng được.” Đó không phải là điều dễ dàng để nhận thức về việc bản chất học thuật sẽ thay đổi đáng kể như thế nào động lực thúc đẩy của việc giải bày lịch sử chính trị Việt Nam của nửa thế kỷ trước. Đối với mức độ mà người ta có thể mạo hiểm một dự đoán của những cuốn sách về Chiến tranh Việt Nam cách đây một phần tư thế kỷ, dường như là một nhận định tổng hợp của phe hậu-chủ nghĩa xét lại có thể xuất hiện, nhưng ảnh hưởng của phe xét lại hầu như sẽ được phản ảnh trên các rìa ngoài của sự giải bày của chính thống được trình bày trở lại. Trong lúc nầy, chúc may mắn cho cuộc tranh luận tiếp tục!

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ FDR : vị Tổng thống thứ 32 của Hoa Kỳ, Franklin Delano Roosevelt.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s