Phần 8: Sự hợp tác giữ Nixon–Kissinger

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p179

Phần 8: Sự hợp tác giữ Nixon–Kissinger và sự Kết thúc Chiến tranh:
(Một “Chiến thắng bị Đánh mất” hoặc
“Không phải là Hòa bình hoặc cũng Không phải là Danh dự?”)

1968 là một năm đầy biến động ở cả Việt Nam và Hoa Kỳ. Cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân hoàn tất “một năm đẫm máu nhất” của cuộc chiến tranh với những thương vong nặng nề của người Việt Nam và Mỹ. Trên mặt trận quê nhà của Mỹ, đất nước này dường như “đang tan rã” khi những cuộc biểu tình phản đối chống chiến tranh gia tăng mạnh mẽ, những cuộc ám sát hạ gục Martin Luther King và Robert F. Kennedy, và Hội nghị của đảng Dân chủ Quốc gia xảy ra ở giữa bạo lực trên đường phố Chicago. Trong tháng Mười, những người Mỹ bầu một ứng cử viên của đảng Cộng hòa như là vị Tổng thống mới của họ, Richard Nixon, vốn là người đã bảo đảm với đồng bào của mình rằng ông ta có một kế hoạch để chấm dứt chiến tranh và rằng ông ta sẽ khôi phục lại “pháp luật và trật tự” trong nước và sự tôn trọng đối với Hoa Kỳ trên bình diện quốc tế.
Ông Nixon hứa rằng chính sách Việt Nam của ông ta sẽ mang lại “hòa bình trong danh dự.” Ông Nixon, với Henry Kissinger như là vị cố vấn an ninh quốc gia của mình, giới thiệu những thay đổi sâu rộng cho chính sách đối ngoại của Mỹ. Bi kịch nhất là, ông Nixon và ông Kissinger di chuyển về hướng hoà giải với các cường quốc cộng sản chính yếu bằng cách “mở cửa” cho Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc và làm giảm sự căng thẳng với Liên Xô, những thế chủ động lên đến cực điểm trong những cuộc viếng thăm vào năm 1972 của ông Nixon đến Beijing và Moscow theo sau năm đó. Đồng thời, ông Nixon và ông Kissinger nhìn nhận ra sự bắt buộc tháo mở sự ràng buộc Hoa Kỳ ra khỏi cuộc chiến tranh vốn đã cuối cùng đi đến sự phân rẽ một cách sâu sắc giữa những người Mỹ và không còn có vẻ như là rất quan trọng đối với sự an ninh quốc gia; Việt Nam là, ông Kissinger có lần đã nói, “cục xương trong cổ họng của quốc gia” mà nó phải mửa ra. Tuy thế, ông Nixon và ông Kissinger quyết tâm bỏ lại phía sau một chính phủ miền Nam Việt Nam có thể đứng vững.

p180

Trong khi Hoa Kỳ và miền Bắc Việt Nam đàm phán trong suốt nhiệm kỳ đầu tiên của mình như là vị Tổng thống, ông Nixon theo đuổi một chiến lược đổi mới cho việc đạt được “hòa bình trong danh dự” mà qua đó có chủ định kéo dài sự ủng hộ của quần chúng ở quê nhà (mà điều đó thường là thế) và củng cố chính phủ miền Nam Việt Nam về mặt chính trị và quân sự: việc rút dần những lực lượng quân sự của Hoa Kỳ, việc tăng cường sức mạnh cho Quân đội miền Nam Việt Nam, và sự tin cậy vào “cuộc chơi lớn” đôi khi –việc sử dụng sức mạnh của Mỹ theo những cách vốn đã từng là “ngoài những giới hạn” dưới thời Tổng thống Lyndon Johnson. Vì vậy, ông Nixon phê chuẩn một chiến dịch dội bom bí mật ở Cam-pu-chia vào năm 1969, một cuộc “xâm nhập” của Mỹ–miền Nam Việt Nam trong đất nước đó vào mùa xuân của năm 1970, sự hỗ trợ của Không quân Hoa Kỳ cho cuộc tấn công của miền Nam Việt Nam vào những vị trí của lực lượng Bắc Việt ở Lào vào năm 1971, việc thả mìn vào cảng Hải Phòng (một cảng chính của miền Bắc Việt Nam) khi cuộc thả bom miền Bắc Việt Nam được tiếp nối vào mùa xuân năm 1972. Sự đổi mới của cuộc thả bom miền Bắc Việt Nam bốn năm sau khi ông Johnson đã kết thúc nó, tượng trưng cho một yếu tố khác của việc sử dụng bất ngờ của ông Nixon sức mạnh của Mỹ và được thực hiện trong sự ứng phó đố với cuộc tấn công của Bắc Việt vào mùa xuân của năm 1972 trong cái gì được gọi là cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh mà qua đó mang lại cuộc giao chiến trải rộng ở những tỉnh phía bắc xa nhất của miền Nam Việt Nam. Hơn lúc nào hết, “cuộc chơi lớn” của ông Nixon có chủ ý không chỉ nhằm đạt được các mục tiêu quân sự, mà còn nhằm đe dọa miền Bắc Việt Nam và ép buộc những nhượng bộ về ngoại giao. Sau bốn năm chiến tranh và các cuộc đàm phán, sự tham gia quân sự của Hoa Kỳ ở Việt Nam kết thúc với Hiệp định Paris vào tháng Giêng năm 1973.
Chương này khám phá những phương thức gây ra tranh cãi của ông Nixon về việc tháo mở sự ràng buộc Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam. Những khác biệt đương thời giữa phe “diều hâu” và phe “bồ câu” phát triển trở thành hai cách giải bày lịch sử nổi bật: một “chiến thắng bị đánh mất” của phe xét lại và “không phải là hòa bình hoặc cũng không phải là danh dự” của phe chính thống. Sự học hỏi qua việc nghiên cứu về chính sách của ông Nixon nói đến một số lượng câu hỏi cơ bản. Có phải chăng bốn năm chiến tranh và các cuộc đàm phán tạo ra một hòa giải vào năm 1973 vốn là một cải tiến đáng kể trên các điều khoản hòa bình mà ông ta đáng lẽ ra đạt được vào năm 1969? (Có phải những điều khoản của Hiệp định Paris đáng giá cho sự hy sinh những mạng sống của con số 20.000 bổ sung những binh lính Mỹ và của nhiều hơn hàng ngàn thường dân và binh lính Việt Nam?) Có phải chăng việc mở rộng chiến tranh vào trong Cam-pu-chia được chứng minh là đúng về mặt quân sự hoặc chính trị? (Có phải là ông Nixon không cần thiết mở rộng cuộc chiến tranh theo những cách mà qua đó đóng góp vào sự bất ổn to lớn hơn trong khu vực?) Có phải những thế chủ động về chính trị và quân sự của chính quyền Nixon đạt được một “thắng lợi” muộn màng chỉ đánh mất nó bởi vì “sự phản bội”? (Có phải chăng miền Nam Việt Nam được củng cố quá mạnh mẽ đến nổi nó có được một lợi thế quyết định sau chiến tranh và có phải những người phản đối chiến tranh ở Mỹ ngầm phá hủy thành tích đó) Ở trọng tâm của những khác biệt dựa trên những điều kể trên tạo nên sự khác biệt quá quen thuộc của phe xét lại và phe chính thống: giả định của phe xét lại là có một phương thức về quân sự để đạt được mục tiêu chính trị của Mỹ cho một miền Nam Việt Nam độc lập và giả định của phe chính thống là sự quân bình về chính trị–quân sự của các lực lượng khiến cho mục tiêu đó hầu như không thể đạt được. Những sự kiện trong năm trước khi ông Nixon trở thành Tổng thống, đóng vai trò chính trở thành những lập luận của cả hai bên: đối với phe xét lại, “thắng lợi” trên cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân cung cấp những cơ hội mới cho Hoa Kỳ; đối với phe chính thống, sự “bế tắc” về biến cố Tết Mậu Thân nhấn mạnh đến sự vô ích của việc tiếp tục cuộc đấu tranh.

p181

A- Ông Nixon, ông Kissinget, và những Nguồn gốc của phe Xét lại:

Những tác phẩm phong phú của ông Nixon và Henry Kissinger sau khi họ chấm dứt nhiệm kỳ là một nguồn tài liệu quan trọng của chủ nghĩa xét lại. Sự học hỏi qua nghiên cứu về chính sách Nixon–Kissinger, nhiều hơn như thế so với các giải bày trên các khía cạnh khác của Chiến tranh Việt Nam, đã từng bị ảnh hưởng bởi những người tham gia chính yếu. Điều này phản ảnh phạm vi mà trong đó việc hoạch định chính sách được tập trung duy nhất vào vị Tổng thống và Ban Cố vấn An ninh Quốc gia của ông ta (và Bộ trưởng Ngoại giao sau năm 1973), nhưng, quan trọng hơn là, sự quyết tâm sâu sắc của cả hai người đàn ông để chắc chắn rằng lịch sử ghi nhận sự làm việc của họ một cách thuận lợi. Ngay cả trong đấu trường chính trị vốn là nổi tiếng cho những cái tôi được thổi phồng của nó, ông Nixon và ông Kissinger nhạy cảm một cách bất thường đối với những lời chỉ trích, sự cố chấp về bất đồng chính kiến, và tin tưởng về sự thành công cuối cùng của những quyết định của mình. Tánh khí đó đã từng hiển hiện trong phạm vi mà cả hai đã tìm cách hạn chế sự tiếp cận đến những tài liệu của họ và như thế hầu kiểm soát sự ghi nhận của lịch sử. Trong số tất cả thế chủ động về chính sách đối ngoại của họ, ông Nixon và ông Kissinger nhìn nhận rằng Việt Nam sẽ là trung tâm cho những xét đoán lịch sử về sự nghiệp của họ. Cả hai đi xa hơn các cuộc thảo luận kéo dài về chiến tranh trong những hồi ký của họ để viết ra những sách tập trung vào Việt Nam những quyết định về Việt Nam của mình: cuốn sách “Không còn Nữa hai Việt Nam” (No More Vietnams) của ông Nixon; “Sự kết thúc Chiến tranh Việt Nam” (Ending the Vietnam War) của ông Kissinger. Những cuốn sách nầy đưa ra những lời xin lỗi được khơi rộng, cả hai được đặc trưng bởi các yếu tố về tự thương mình, cho chính sách vốn đạt đến đỉnh điểm trong Hiệp định Paris vào tháng Giêng năm 1973. Trong khi họ chú trọng đến những khía cạnh khác nhau của câu chuyện (ông Kissinger quan tâm nhiều hơn với việc hợp lý hoá vấn đề ngoại giao mà trong đó ông ta dự vào) và giai điệu của cách viết của họ khác nhau (ông Nixon ồn ào rất nhiều hơn và không ngớt trong sự lên án của ông ta về những người phản đối trong nước), họ kể một câu chuyện tương tự về sự thành công chống lại hoàn cảnh trái ngược đáng kể, ngoại trừ một thành tích mà qua đó cuối cùng thất bại vì những lý do ngoài sự kiểm soát của họ.
Đến lúc ông Nixon và ông Kissinger nhậm chức, họ nhìn thấy những lựa chọn của họ bị giới hạn bởi sự thiếu khả năng của ông Kennedy và ông Johnson. Đối với ông Kissinger, chính quyền Nixon là một diễn viên cuối cùng trong một “thảm kịch vào lúc [nó] nắm lấy quyền lực, không có sự lựa chọn nào khác hơn những lựa chọn mà nó theo đuổi vốn bị loại bỏ ra. Khả năng chiến thắng đã bị từ bỏ bởi những người tiền nhiệm của chúng ta –sự bỏ rơi đơn giản được ngăn cản bởi quan niệm về danh dự của chúng ta.”1 Ông Nixon nói rõ về những thiếu sót của những người tiền nhiệm của mình: ông Kennedy và ông Johnson đã thất bại để hiểu được bản chất của đối phương với kết quả mà “chưa bao giờ trước đây phần nhiều đã được sử dụng một cách không hiệu quả như trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam.”2

p182

Ông Kennedy đã lầm lẫn cuộc chiến tranh xâm lược của miền Bắc cho một cuộc chiến tranh cách mạng và làm trầm trọng sự tính toán sai lầm đó bằng cách lật đổ Ngô Đình Diệm: “khi chính chúng ta tự giành lấy quyền lựa chọn một cách bất hợp pháp chính phủ miền Nam Việt Nam, chúng ta cũng nhận lấy trách nhiệm cho số phận của nó.”3 Sự cống hiến của ông Johnson cho chương trình Xã hội Vĩ đại đã cản trở ông ta từ việc tiến hành kiểu chiến tranh vốn là cần thiết —“mục đích chiến thắng là điều cần thiết cho một nền dân chủ đang có chiến tranh”4 –riêng biệt là việc tìm ra lỗi lầm cho sự thất bại tiến hành cuộc chiến tranh vào trong Lào và Cam-pu-chia và chiến lược quân sự không thích hợp trong việc tiến hành chiến tranh ở miền Nam Việt Nam. Không kể đến những thiếu sót nầy, khi cuối cùng một chiến thắng quyết định đạt được trong suốt cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, các phương tiện truyền thông bóp méo nó như là một thất bại, dẫn đến một chiều xoáy đi xuống trong sự ủng hộ cho cuộc chiến tranh và sự kết thúc của ông Johnson về cuộc dội bom miền Bắc Việt Nam. Vì vậy, vào lúc ông Nixon nhậm chức, ông Johnson đã bại trận.
Ông Nixon và ông Kissinger tuyên bố rằng những lựa chọn của Mỹ bị giới hạn không chỉ bởi những thất bại của ông Johnson và ông Kennedy, mà còn bởi phong trào phản chiến và các nhà phê bình trong Quốc hội và giới truyền thông vốn là những người đã từng phá ngầm sự ủng hộ cho chiến tranh và khuyến khích đối phương không chịu thỏa hiệp. Ông Kissinger nhận xét: “chúng ta vẫn còn bị mắc kẹt giữa một kẻ thù không có ý muốn thỏa hiệp và một phong trào phản chiến ở Quốc hội, qua việc từ chối thừa nhận rằng Hà Nội có lẽ là không thể nào xoa dịu hoặc từ chối ủng hộ hoạt động quân sự mà qua đó đã có thể khiến cho Hà Nội thay đổi các điều khoản của nó.”5 Được cổ vũ bởi các nhóm phân rẽ bên trong Mỹ, Bắc Việt cứ khăng khăng đòi hỏi không chỉ là về việc rút quân đơn phương của Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam, mà còn là về việc loại bỏ chính phủ được Mỹ ủng hộ đứng đầu là Tướng Nguyễn Văn Thiệu và việc giao quyền lực chính trị cho một chính phủ liên minh mà trong đó Mặt trận Giải phóng Dân tộc (bấy giờ được mệnh danh là Chính phủ Cách mạng Nhân dân) sẽ có một đại diện nổi bật.
Qua sự pha trộn khéo léo về ngoại giao và quyền lực, ông Nixon và ông Kissinger lập luận rằng họ vượt qua vị thế yếu kém của họ và đạt được “thắng lợi.” Ông Nixon tự hào rằng chiến lược năm điểm –Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh chiến tranh, công cuộc bình định, sự cô lập vấn đề ngoại giao của Bắc Việt, các cuộc đàm phán hòa bình, và những cuộc rút đi quân lính Hoa Kỳ dần dần– cuối cùng đạt được mục đích của ông ta: “nhằm ngăn chặn Bắc Việt Nam từ việc chinh phục miền Nam Việt Nam.”6 Hơn nữa, kể từ khi những phần cấu thành của chiến lược nầy đòi hỏi thời gian và kể từ khi Bắc Việt lưu tâm đến sức mạnh, ông ta cũng sử dụng sức mạnh quân sự. Ông Nixon có niềm tự hào trong việc làm cách nào ông ta khai thác tiếng tăm của mình như là một người chống cộng cuồng nhiệt để đe dọa và tận dụng việc sử dụng sức mạnh quân sự Mỹ theo những cách khó thể đoán trước được, không nhất thiết phải chấp nhận những giới hạn mà ông Johnson đã đặt để trên những hoạt động. Chiến lược của “người điên” nầy có chủ ý giữ cho đối phương mất thăng bằng, như nó đã làm trong cuộc dội bom Cam-pu-chia bí mật vào năm 1969–70, các cuộc xâm nhập vào Cam-pu-chia và Lào, và việc tiếp nối cuộc dội bom miền Bắc Việt Nam vào năm 1972 (Chiến dịch Hàng phòng Vệ (Linebacker) I và II).(pc 01) Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh thật thành công; nó cho phép Quân đội miền Nam Việt Nam, được hỗ trợ bởi sức mạnh Không quân Hoa Kỳ, đẩy lui cuộc Tổng tấn công Mùa Xuân 1972.

p183

Trong khi đó, những bước chủ động của ông Nixon và ông Kissinger nhằm xây dựng các mối quan hệ hiệu nghiệm với các cường quốc cộng sản chính yếu đã có tác dụng chủ ý của họ về việc đặt áp lực lên Hà Nội để đi đến những điều khoản với Hoa Kỳ. Ông Nixon viết rằng “sức mạnh to lớn của chúng ta về ngoại giao đã làm mất nhuệ khí Bắc Việt bằng cách cô lập họ khỏi Trung Quốc và Liên Xô.”7 Trong khi đó, trên vùng đất ở miền Nam Việt Nam, “những chương trình bình định và chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh chiến tranh của chúng ta thay đổi hoàn toàn cuộc chiến tranh…”8 Như là một kết quả của những áp lực về chính trị, quân sự và ngoại giao, Bắc Việt cuối cùng sẵn sàng để thỏa hiệp.
Vì vậy, khi bước đột phá trong các cuộc đàm phán cuối cùng đã đến vào mùa hè năm 1972, ông Nixon và ông Kissinger khăng khăng rằng đó là một Bắc Việt bị suy yếu mà qua đó phải thực hiện những nhượng bộ. Ông Kissinger đưa ra những vấn đề vốn đã không được giải quyết trên ba năm và những phiên họp đàm phán gồm 174 toàn thể và 18 riêng tư. Đỉnh cao trong số những vấn đề đó là cấu trúc chính trị ở Sài Gòn sau chiến tranh. Duyệt xét lại những khác biệt giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt, ông Kissinger viết: “đối với điều này như là nền tảng, người đọc có thể xác định bên nào di chuyển về hướng bên kia trong các cuộc đàm phán …”9 Vì thế “bước đột phá” đã đến khi Lê Đức Thọ, là Trưởng đoàn đàm phán Bắc Việt, từ bỏ nhu cầu cho một chính phủ liên minh và sự chấm dứt việc hỗ trợ của Hoa Kỳ cho chính phủ Sài Gòn và đồng ý chấm dứt sự xâm nhập người và quân nhu của Bắc Việt cho miền Nam Việt Nam. Một ông Kissinger phấn khởi tin rằng ông Thiệu sẽ nhìn thấy sự chấp nhận của Bắc Việt về sự tồn tại của chính phủ của ông ta như là một thành tựu lớn mà qua đó sẽ củng cố vị thế của ông ta trong giai đoạn sau chiến tranh. Ông Thiệu, tuy nhiên, từ chối chấp nhận các điều khoản; ông ta phẫn nộ trên những quy định (được chấp nhận bởi Hoa Kỳ trước khi “bước đột phá”) cho phép sự hiện diện tiếp tục của những cán binh Bắc Việt ở miền Nam Việt Nam. Ông Kissinger viết rằng “[Những người miền Nam Việt Nam]không hài lòng với sự tồn tại; họ muốn có một sự đảm bảo rằng họ sẽ chiếm ưu thế. Họ thích tiếp tục trận đấu quân sự hơn là phải đối mặt với một cuộc đấu tranh chính trị.”10 Đến lượt Bắc Việt từ chối mở lại những cuộc đàm phán. Ông Nixon và ông Kissinger tuyên bố những chống chọi của hai bên Việt Nam làm mất đi tính chất thiêng liêng sự tin tưởng đơn thuần, ông Nixon viết: “như ông Kissinger nhìn thấy điều đó, chúng tôi đứng lên chống lại tình huống nghịch lý mà trong đó miền Bắc Việt Nam, vốn trong thực thế đã bị bại trong cuộc chiến tranh, đang hành động như thể là nó đã thắng, trong khi miền Nam Việt Nam, vốn đã chiến thắng cuộc chiến một cách hiệu quả, đang hành động như thể nó đã thua.”11 Trong bất kỳ sự kiện nào, cái thế không lối thoát nầy đánh dấu sự khởi đầu của một nỗ lực ngoại giao kéo dài, được gia tăng thêm bởi cuộc dội miền Bắc Việt Nam vào ngày Giáng sinh, mà qua đó cuối cùng dẫn đến một hòa giải thỏa đáng cho Hoa Kỳ, miền Bắc Việt Nam và miền Nam Việt Nam. Ông Nixon tuyên bố rằng những biện pháp nầy tạo nên một vinh quang về quân sự và ngoại giao: “cuộc dội bom của chúng ta đạt được những mục đích của nó. Về mặt quân sự, chúng ta đã đánh tan vỡ khả năng tạo nên chiến tranh của Bắc Việt. Về mặt chính trị, chúng ta đã phá tan vỡ ý chí tiếp tục chiến tranh của Hà Nội… Vào ngày 27 tháng Giêng năm 1973 khi Bộ trưởng Ngoại giao William Rogers đã ký Hiệp định Hòa bình Paris, chúng ta đã chiến thắng cuộc chiến tranh ở Việt Nam.”12

p184

Trong bài viết tường thuật chi tiết của ông ta về các cuộc đàm phán, ông Kissinger bác bỏ thừa nhận bất kỳ nhượng bộ đáng kể nào của Mỹ.13 Đối với việc liên quan đến quy định mà chỉ có những quân lính Mỹ và đồng minh khác sẽ được rút ra khỏi Nam Việt Nam, do đó cho phép lực lượng Bắc Việt vẫn còn ở lại –vốn đã được chấp nhận một cách rộng rãi như là một sự nhượng bộ rất quan trọng– ông Kissinger lập luận rằng:
1) một sự sắp xếp như thế thì cố hữu trong những kế hoạch ngưng bắn,
2) và việc cấm đoán sự di chuyển của những cán binh và quân nhu bổ sung từ miền Bắc Việt Nam có nghĩa là các đơn vị của nó ở miền Nam sẽ dần dần hao mòn.

Ông Kissinger chuyển sự chú ý khỏi sự hiện diện quân sự của Bắc Việt bằng cách khăng khăng bảo vệ rằng điểm yếu sau chiến tranh của Mỹ là ngoài khả năng kiểm soát của mình, ông ta tranh luận rằng chính quyền Nixon đã lên kế hoạch để duy trì một lực lượng còn sót lại của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, nhưng điều này đã bị phá ngầm bởi “những người phản đối vô độ trong giới truyền thông và Quốc hội” vốn là những người yêu cầu một rút quân hoàn toàn. Vì vậy, Hoa Kỳ đã buộc phải rời khỏi Việt Nam toàn bộ; không giống như Hàn Quốc, nơi mà 50.000 quân lính Hoa Kỳ đã từng đóng quân kể từ khi hiệp ước đình chiến kết thúc cuộc Chiến tranh Triều Tiên và không giống như Tây Âu nơi mà một số khoảng 200.000 quân lính vẫn còn đóng quân 30 năm sau cuộc kết thúc Thế Chiến thứ II. Ông Kissinger viết: “Chúng tôi đưa ra ý định rút tất cả các lực lượng khỏi Việt Nam vốn đã từng phòng ngự lâu dài nhiều hơn và ít dễ dàng nhiều hơn những vùng biên giới và một kẻ thù thậm chí khó xoa dịu hơn [so với Hàn Quốc]… Việt Nam đã vẫn là cuộc chiến duy nhất vốn được kết thúc với cuộc một rút quân hoàn toàn của Mỹ.”14
Cuối cùng, ông Nixon và ông Kissinger cho rằng sự hiện diện tiếp tục của những lực lượng Bắc Việt ở miền Nam Việt Nam sẽ có nghĩa là nhỏ nhặt nếu Quốc hội sống đúng với trách nhiệm của mình để thực thi hòa bình. Ông Nixon bác bỏ những quan tâm của ông Thiệu về sự hiện diện của những cán binh Bắc Việt, qua việc lập luận rằng sự thỏa thuận thì đáng giá với sự nhượng bộ đó: “Hiệp định Paris là một điều cần thiết về chính trị nếu chúng ta tiếp tục trợ giúp miền Nam Việt Nam.”15 Sự thoả thuận cung cấp một cơ sở pháp lý và sự biện minh về chính trị cho việc đưa vào trở lại sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ trong trường hợp mà sự thoả thuận bị vi phạm bởi miền Bắc Việt Nam. Khi những sự vi phạm nầy xảy ra, ông Nixon chuẩn bị để trả đũa, nhưng Quốc hội cấm đoán một bước như thế:

[Điều] đó không phải là một sự thất bại theo ý muốn Tổng thống –Tôi quyết chí hành động– nhưng là sự xói mòn việc ủng hộ của Quốc hội… Một sự kết hợp bất ngờ –một sự chống đối khốc liệt từ phe bồ câu và sự thụ động im lìm từ phe diều hâu– cho phép những phương thức phản chiến giành được sự phê duyệt của Quốc hội vào năm 1973. Những điều nầy loại bỏ mối đe dọa cuối cùng đối với Bắc Việt về một sự trả đũa của Mỹ –và điều này, đến phiên nó, phá hủy cơ hội cuối cùng của chúng ta để đạt được một giải pháp hòa bình cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam.16

p185

Sự giải quyết trong nước bị phá hủy ngầm xa hơn nữa bởi vụ bê bối Watergate,(pc 02) mà qua đó làm suy yếu vai trò tổng thống. Khi ông ta rời chức vụ vào năm 1974, ông Nixon kinh hoàng bởi sự thờ ơ của Quốc hội đối với những hành động của Bắc Việt: “Tôi cảm thấy sửng sốt bởi sự thiếu trách nhiệm của các phần lớn chống chiến tranh ở Quốc hội.”17 Điều đó thiết lập một giai đoạn cho sự thất bại của Hoa Kỳ đáp trả cuộc xâm lược của Bắc Việt vào mùa xuân theo sau. Ông Nixon và ông Kissinger không tiếc những lời phản đối Quốc hội kịch liệt của họ cho việc không cung cấp sự viện trợ quân sự vào phút cuối cùng cho chính phủ miền Nam Việt Nam trong sự đối mặt với một cuộc tấn công dồn hết sức lực. Phản ảnh về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam vào năm 1975, ông Kissinger (không giống như ông Nixon) cho phép chính mình một khoảnh khắc thiếu tự tin:

[Điều gì đó] đã xé nát tim tôi kể từ dạo đó là liệu có phải sự thoái chí của cơ cấu Sài Gòn mà qua đó dẫn đến sự sụp đổ của nó vào năm 1975 được bắt đầu với tốc độ của các cuộc đàm phán mà chúng tôi đặt để vào năm 1972, tuy nhiên, chúng tôi thật sự suy xét những điều khoản là thuận lợi. Có phải chăng có một cơ sở cho sự phấn khởi của nhóm đàm phán của tôi và tôi vào ngày 8 tháng Mười năm 1972, khi Lê Đức Thọ, thực thể là, chấp nhận những đề nghị của chúng tôi, và chính chúng tôi nghĩ về bờ vực của sự kết thúc chiến trong danh dự và cả sự hòa giải dân tộc?18

Ông Kissinger, tuy nhiên, sẵn sàng suy xét lại và kết luận rằng chiến lược của ông ta không sai gì cả, vì nếu ông ta đã trì hoãn, “kết quả ngoại giao (nếu có) đã sẽ kém thuận lợi [và] Quốc hội đã có thể buộc phải kết thúc bằng cách cắt đứt các quỹ tài chánh.”19

B- Trường hợp của phe Xét lại về một “Chiến thắng bị đánh Mất”:

Phiên bản Nixon–Kissinger trong những năm cuối cùng của chiến tranh đóng khung lời giải bày về một “chiến thắng bị đánh mất,” mà qua đó đã được đưa ra chủ yếu là bởi các cựu sĩ quan quân đội và các quan chức dân sự cũng như bởi một số ít học giả. Nó được dựa trên lập luận rằng chính phủ và quân đội của miền Nam Việt Nam đã tạo nên sự tiến bộ đáng kể trên vùng đất vào giữa năm 1969 và 1973. Ba thay đổi có liên hệ trong những nỗ lực của Mỹ về chính trị–quân sự –việc từ bỏ chiến lược “tìm kiếm và tiêu diệt” thiếu hoàn thiện, sự chú trọng muộn màng trên công cuộc bình định, và sự cam kết đối với chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh– làm mạnh thêm chính phủ miền Nam Việt Nam đến một điểm nơi mà cuộc chiến tranh được giành lấy thắng lợi một cách thiết thực. Sự bày tỏ xuất sắc của trường phái về một “chiến thắng bị đánh mất” là cuốn sách “Một cuộc Chiến tranh Tốt hơn” (A Better War) của Lewis Sorley.
Như những người theo phe xét lại nhìn thấy điều đó, sự chuyển hướng trở lại của chính sách Hoa Kỳ thực sự bắt đầu trong những tháng cuối cùng của chính quyền Johnson khi vị Tướng Creighton Abrams thay thế ông Westmoreland như là vị Tổng tư lệnh, cho Ban chỉ huy Hỗ trợ Quân sự và William Colby đi đến Việt Nam như là vị Phó Ban của ông Abrams

p186

và chịu trách nhiệm cho một chương trình được mở rộng về công cuộc bình định đang mang một cái tên cồng kềnh là Những Hoạt động Dân sự và Hỗ trợ Phát triển Cách mạng (Civil Operations and Revolutionary Development Support = CORDS). Ông Abrams và ông Colby tìm cách để khai thác điểm yếu của Việt Cộng trong hậu quả của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân và để mở rộng quyền kiểm soát của chính phủ Thiệu của trên một phần lớn của miền Nam Việt Nam mà qua đó rất quan trọng đối với uy tín của riêng nó và đối với vị thế của nó trong trường hợp ngưng bắn . Nhờ vào những thế chủ động được chiếm lấy sau cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân vốn được nhấn mạnh bởi những phương sách của Tổng thống Nixon, mục tiêu của việc thành lập một miền Nam Việt Nam mạnh mẽ, có khả năng bảo vệ chính mình, được nhận thức một cách thực tế. Nhằm khai triển thêm chi tiết, sự giải bày vế “một chiến thắng bị đánh mất” dựa trên năm điểm chính.

Thứ nhất, việc đưa ra chiến lược “chiếm và giữ” của ông Abrams thay đổi động năng của chiến tranh trên bộ và tạo điều kiện thuận lợi cho một chương trình bình định thành công . Sự bác bỏ chiến lược “tìm kiếm và tiêu diệt” của ông Abrams phản ảnh những lời chỉ trích rộng rãi biến rộng rãi trong số các quan chức quân sự và dân sự về phương pháp giải quyết của ông Westmoreland như là lãng phí và phản tác dụng. Với sự chú trọng của nó vào việc gây tiêu hao sinh lực chiến đấu, chiến lược “tìm kiếm và tiêu diệt” đã cho phép Bắc Việt và Việt Cộng kiểm soát hầu hết đất nước. Theo ông Sorley, chiến lược được hướng dẫn sai lạc của ông Westmoreland – “tốn kém trong những phần về thời gian, công sức, và vật liệu, nhưng thường gây thất vọng trong những phần về kết quả”— đã góp phần cho “sự lạm dụng những năm tháng theo đúng nghĩa của nó về sự hỗ trợ lớn lao từ công chúng Mỹ, Quốc hội, và thậm chí giới truyền thông.”20 Chiến lược “chiếm và giữ” của ông Abrams khuyến khích về việc giữ an ninh cho những thôn ấp, và việc bảo vệ dân cư nông thôn. Không còn có những quân lính của Mỹ và miền Nam Việt Nam rời khỏi những hiện trường của trận chiến và cho phép các lực lượng cộng sản trở về, bây giờ họ đang làm việc để giữ lấy những khu vực chiếm được đó trong các trận chiến.
Điều này dẫn đến một chương trình bình định được mở rộng mà qua đó cuối cùng nói lên sự cần đến việc giành lấy “tâm và trí” của giới nông dân. Như với chiến lược “chiếm và giữ,” sự chú trọng của công cuộc bình định là một việc không thừa nhận phương cách giải quyết chiến tranh của ông Westmoreland, vì Westmoreland –phần lớn đối với sự chán nản của nhiều sĩ quan trong Quân đội và Thủy quân Lục chiến– đã luôn luôn giảm thiểu tầm quan trọng của công cuộc bình định và không bao giờ cho nó một ưu tiên cao. Như là một nét đặc trưng của Chiến dịch Bình định Gia tốc, ông Colby phát động cái gì đó trở nên được biết đến như là Chương trình Phượng hoàng, mà qua đó kết hợp các hoạt động quân sự với các chương trình dân sự trong một nỗ lực để cắt Việt Cộng khỏi nền tảng hỗ trợ của nó. Việt Cộng (VC) đã từng hoạt động “những chính quyền bóng tối” trong hàng trăm làng mạc và đã thu hút sức mạnh rộng lớn không ai tranh giành của mình trong nhiều vùng để duy trì các hoạt động du kích của nó. Trong khi những thương vong của VC đã từng lên cao trong suốt cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, hạ tầng cơ sở của nó ở nông thôn vẫn còn nguyên vẹn phần lớn. Được khuyến khích bởi ông Colby và được yễm trợ bởi những lực lượng Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam, Chương trình Phượng hoàng phá vỡ hạ tầng cơ sở đó bằng cách “vô hiệu hóa” vai trò lãnh đạo của VC.

p187

Trong khi nhiều VC(pc 03) bị giết chết trong các hoạt động của Chương trình Phượng hoàng, hầu hết bị bắt giữ (họ có giá trị như là các nguồn thông tin) và một số chuyển sang ủng hộ cho chính phủ miền Nam Việt Nam. Một chương trình Chiêu hồi nhằm mục đích lôi kéo đối phương từ bỏ nguyên nhân cộng sản và một “cuộc tập hợp” trong sự ủng hộ cho chính phủ miền Nam Việt Nam; ông Colby tuyên bố rằng trong năm đầu tiên của nó, chương trình Chiêu hồi thu hút một số khoảng 47.000 VC chuyển đổi phe phía.
Chiến dịch Bình định Gia tốc thì cần thiết cho sự thành công của chiến lược “chiếm và giữ.” Ông Abrams nhận xét về việc nó làm suy yếu Việt Cộng như thế nào: “Tuy nhiên, trong những điều kiện để có được công việc hoàn thành, điều duy nhất [VC] làm là sinh tồn. Họ không thu thuế được, họ không có được thông tin tình báo, họ không tuyên truyền người dân được, họ không thể xúi giục những người dân làm điều họ không muốn, và đại loại điều này. Họ không hoạt động được nơi mà tình hình [bình định] tồn tại.”21 Chương trình Phượng hoàng bị chỉ trích bởi một số lượng những thành viên của Quốc hội và các nhà lãnh đạo chống chiến tranh, bởi vì nó dường như thừa nhận việc ám sát của các nhà lãnh đạo VC. Khi ông Colby được triệu tập bởi một ủy ban Quốc hội để bảo vệ chương trình, các buổi điều trần nhấn mạnh những phân rẽ giữa những người vốn muốn truy tố chiến tranh và những người vốn không nhìn thấy mục đích trong sự tiếp tục của nó; trong hồi ký của mình, ông Colby phản ảnh: “sự bảo vệ của tôi mà qua đó một cuộc chiến tranh rõ ràng liên quan đến nỗ lực đạt được việc bắt giữ, những đầu hàng, hoặc cái chết của đối phương, cắt bỏ một ít thái độ lạnh lùng đối với những lời phê bình của tôi, mà một vị thế đơn giản của tôi đó là cuộc chiến tranh không nên tiếp tục diễn ra ở Việt Nam và sẽ không nếu Hoa Kỳ không ở đó.”22 Ông Colby và những người bảo vệ khác của Chương trình Phượng hoàng cho rằng nó đã thay đổi môi trường chính trị ở những khu vực nông thôn, một điểm được xác nhận bởi đối phương. Sau chiến tranh, một cựu quan chức Bắc Việt nói với một nhà báo Mỹ rằng Chương trình Phượng hoàng là “một chương trình duy nhất đạt hiệu quả nhất mà bạn đã sử dụng chống lại [chúng tôi] trong toàn bộ cuộc chiến tranh.”23
Sự đóng góp vào thành công đó là việc xây dựng sự ủng hộ cho chính phủ miền Nam Việt Nam. Dưới sự thúc giục từ Hoa Kỳ, chính quyền Thiệu phát động những bước đầu của việc cải cách đa dạng về xã hội và kinh tế. Quan trọng nhất là, Chương trình Người cày Có ruộng đã cho gần một triệu nông dân tư cách danh nghĩa đối với đất đai mà họ đã và đang thuê mướn.
Một lợi ích cuối cùng đối với công cuộc bình định đó là nó cũng khuyến khích một số trong hàng triệu người lánh nạn, vốn là những người đã chạy trốn đến các thành phố để thoát khỏi cuộc chiến tranh trong các khu vực nông thôn, để trở về làng. Điều này theo chiều hướng làm giảm những áp lực trên hạ tầng cơ sở của các thành phố đông đúc.

Thứ hai, chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh chuyển giao trách nhiệm bảo vệ miền Nam Việt Nam cho các lực lượng vũ trang của riêng nó, mà bấy giờ đủ mạnh để chịu đựng cuộc xâm lược của Bắc Việt . Những cuộc rút quân của Mỹ tiến hành đồng thời với sự cam kết về việc tài trợ và việc huấn luyện quân đội miền Nam Việt Nam để nó có thể tiếp tục đứng riêng mình. Điều này có nghĩa là việc biến đổi những đơn vị bộ binh, không quân, và hải quân của miền Nam Việt Nam trở thành một lực lượng chiến đấu hiệu quả có khả năng trong việc bảo tồn sự ổn định bên trong nước và việc chống lại sự xâm nhập và xâm lược từ miền Bắc Việt Nam.

p188

Từ năm 1969 đến 1972, những lực lượng vũ trang tổng hợp được gia tăng lên nhiều hơn 50%, từ 700.000 đến 1.100.000; hơn nữa, Hoa Kỳ cung cấp dồi dào đủ loại vũ khí và trang bị hiện đại. Trong suốt cùng giai đoạn, số lượng những quân lính Mỹ ở Việt Nam giảm xuống từ con số trên 500.000 đến vào khoảng 70.000. Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh vì thế cho phép miền Nam Việt Nam trong lần đầu tiên có được một lợi thế quân sự rõ ràng trên miền Bắc Việt Nam. Cùng với sự chú trọng về công cuộc bình định, sự tăng trưởng này và trách nhiệm của các lực lượng vũ trang nâng cao vị thế của chính phủ miền Nam Việt Nam giữa những người dân của nó.

Thứ ba, các cuộc xâm nhập vào trong Cam-pu-chia và Lào làm suy yếu kẻ thù và chứng tỏ sự tiến triển của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh . Lực đẩy của Mỹ–miền Nam Việt Nam vào trong Cam-pu-chia vào mùa xuân năm 1970 làm gián đoạn những tuyến đường cung cấp của Bắc Việt qua nước đó, làm giảm khả năng của đối phương sử dụng Cam-pu-chia như là một “nơi trú ẩn,” và tịch thu một kho dự trữ to lớn, trọng yếu của những vũ khí, các nguồn cung cấp, và tài liệu tình báo. Việc sử dụng bất ngờ sức mạnh của Mỹ này –ông Nixon, một “người điên” cho phép việc sử dụng sức mạnh của Mỹ theo những cách mà ông Johnson đã từng từ chối và qua đó những nhà lãnh đạo quân sự đã từ lâu từng tranh luận là cần thiết– mang chiến tranh vào trung tâm của các hoạt động của đối phương. (Một số cây viết về “một chiến thắng bị đánh mất” cũng phê bình về những hạn chế mà ông Nixon đặt lên trên hoạt động ở Cam-pu-chia, tức là những lực lượng Mỹ có thể tiến bước chỉ 30 km và phải rút lui trước ngày 30 tháng Sáu.) Tướng Dave Richard Palmer lên tiếng dùm cho nhiều cựu sĩ quan khi ông ta nói trong cuốn lịch sử chiến tranh của mình rằng mà sự can thiệp vào Cam-pu-chia thay đổi động lực của cuộc xung đột: “Vào một thời điểm khi Bắc Việt chỉ duy nhất cần đến một chiến thắng, nó nhận được một thất bại làm thất vọng đến choáng người… [Hơn nữa] cuộc xâm nhập là một chuẩn mực đo lường về sự trưởng thành của Quân Đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH), một điểm nơi mà sự tự tin và tinh thần bắt kịp với khả năng.”24
Cuốn sách “Chiến dịch Cam-pu-chia” (Cambodian Campaign) của John W. Shaw tìm thấy rằng sự xâm nhập là, như Tổng thống Nixon mô tả nó, “một hoạt động quân sự thành công nhất của Chiến tranh Việt Nam.” Được dựa trên sự nghiên cứu kỹ lưỡng trong những tài liệu Hoa Kỳ, tác phẩm của ông Shaw cho rằng chiến dịch “kéo dài thời gian cho công cuộc bình định và việc rút quân của Mỹ… [và] là điều cần thiết và hợp lý về mặt quân sự được tiến hành tốt đẹp” Việc tàn phá những nơi bí ẩn bất khả xâm phạm của đối phương có nghĩa là “những triển vọng ở miền Nam Việt Nam xem ra có nhiều hứa hẹn hơn trong những năm qua… Quan trọng là nó nâng cao tinh thần chiến đấu và sự lạc quan của Quân đội miền Nam Việt Nam và có nghĩa là theo chiều hướng nâng cao chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh.”25
Cuộc xâm lược vào trong Lào vào tháng Hai năm 1971 (Chiến dịch Lam Sơn 719) tương tự như thế được xét đoán là một thành công, bởi vì những cán binh Bắc Việt gánh chịu những thương vong to lớn hơn một cách thực thể so với những lực lượng của miền Nam Việt Nam và những lực lượng sống còn của Bắc Việt Nam bị mất tinh thần chiến đấu, chịu mất những số lượng lớn về vũ khí, và đã từng nhìn thấy những tuyến đường cung cấp của họ bị gián đoạn.

p189

Như đối với hoạt động ở Cam-pu-chia một năm trước đó, cuộc tấn công vào Lào tượng trưng cho sự từ bỏ những hạn chế trước đây về cuộc chiến tranh trên bộ ở đất nước đó; những lực lượng miền Nam Việt Nam, được yễm trợ bởi không lực của Mỹ lover, một lần nữa tiến hành trận chiến vào căn cứ hỗ trợ thiết yếu của đối phương. Ông Sorley viết:

Tướng Abrams mô tả Chiến dịch Lam Sơn 719 như là “một trận chiến lớn nhất của cuộc chiến tranh cho đến nay.” Khi những kết quả của chiến dịch bắt đầu được phản ảnh trong mức độ hoạt động chiến thuật bị giảm xuống của đối phương, thu hẹp số lượng hậu cần vào trong miền Nam Việt Nam, làm giảm tỷ lệ xâm nhập cán bộ, và sự tập trung vào việc phục hồi những tuyến đường thông tin liên lạc của đối phương, ông Abrams đạt đến một kết luận xúc động. “Tôi thực sự đang bắt đầu có sự tin chắc về Chiến dịch Lam Sơn 719 rằng sự kiện đó thực sự là một đòn giáng chết người,” ông ta nói trong suốt cuộc thảo luận về một đánh giá mới cho tình hình của đối phương vào giữa tháng Tám năm 1971.26

Điều này, được gọp chung với ý muốn của ông Nixon mở rộng những hoạt động quân sự của Hoa Kỳ, ngay cả khi những quân lính đang được rút ra, đã chứng tỏ sự hiệu quả liên tục của sức mạnh Mỹ và khả năng của nó mang lại những thay đổi đáng kể cho sự cân bằng chính trị–quân sự.

Thứ tư, trong việc đẩy lui cuộc Tổng tấn công Mùa Xuân 1972 của Bắc Việt, Quân đội miền Nam Việt Nam gặp phải một thử nghiệm quan trọng nhất của nó và chứng minh sự thành công của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh . Nhằm bảo vệ các tỉnh phía bắc của miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến đấu vốn kéo dài trong suốt mùa hè, QĐVNCH(pc 04) chiến đấu một cách hiệu nghiệm. Trong khi gánh chịu 8.000 người bị thiệt mạng, nó gây ra những thương vong nặng nề nhiều hơn trên những kẻ xâm lược (có lẽ khoảng 40.000 người bị thiệt mạng). Cuối cùng, quân đội Bắc Việt bị đánh bầm dập phải rút lui; điều đó sẽ mất ba năm trước khi Hà Nội có thể mở một cuộc tấn công khác như thế. Hơn nữa, việc đưa ra sức mạnh Không quân Hoa Kỳ của ông Nixon là điều rất quan trọng về mặt quân sự và chính trị. Việc chấm dứt những hạn chế về cuộc dội bom miền Bắc Việt Nam mà qua đó đã từng tồn tại kể từ năm 1968, ông ta tung ra Chiến dịch Hàng phòng Vệ I (Chiến dịch Linebacker I), vốn là một chiến dịch thả bom tập trung nhất của cuộc chiến tranh và là một thí dụ khác của việc không thể tiên đoán được của “một người điên.” Trong sáu tháng giữa tháng Năm và tháng Mười năm 1972, Chiến dịch Hàng phòng Vệ I thả xuống 150.000 tấn bom trên miền Bắc Việt Nam. Ngoài cuộc dội bom hầu như tất cả sự chuyển vận quân sự, và các những mục tiêu kỹ nghệ, ông Nixon cho phép việc giăng mìn cảng Hải Phòng và những bến cảng khác –một bước mà ông Johnson đã từng chống lại vì sự lo ngại trên việc tấn công các tàu của Liên Xô. Thêm vào việc thả bom miền Bắc Việt Nam, Không lực Hoa Kỳ tấn công các đơn vị Bắc Việt ở miền Nam, gây ra những thương vong nặng nề và hạn chế sự di động của họ. Việc sử dụng sức mạnh Không quân nầy gởi những tín hiệu quan trọng cho cả hai bên: đối với miền Bắc, nó làm sáng tỏ rằng Hoa Kỳ sẽ đứng bên đồng minh của mình ngay cả khi các lực lượng Mỹ đang được rút đi, vào Nam; đối với miền Nam, nó đưa ra sự cam đoan một lần nữa vốn giúp ích trong việc khích lệ tinh thần chiến đấu và lòng tự tin.
Trong cuốn sách “Về Chiến lược” (On Strategy), Đại tá Harry Summers nhấn mạnh đến sự phản ứng của Mỹ và miền Nam Việt Nam làm tiêu tan những tính toán của Bắc Việt như thế nào.

p190

Họ tin rằng họ có thể tiêu diệt các lực lượng vũ trang của miền Nam Việt Nam và rằng Hoa Kỳ sẽ không còn có khả năng hành động thay mặt cho họ. “Nhưng họ đã tính sai lầm một cách nghiêm trọng cả về khả năng chiến đấu của Quân đội miền Nam Việt Nam và khả năng của Hoa Kỳ phản ứng. Như Tổng thống Nixon nói, ‘Những tên chết tiệt chưa từng bao giờ bị ăn bom giống như họ sắp được cho ăn bom lần này.’ Kết quả là miền Bắc Việt Nam gánh chịu cuộc bại trận ‘thảm khốc’.”27

Thứ năm, như là một kết quả của công cuộc bình định và chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, nước Mỹ đạt được một “chiến thắng,” nhưng vào lúc cuối, điều đó đã bị lãng phí bởi sự thiếu giải pháp ở quê nhà . Ông Colby, người đứng đầu Chương trình Phượng hoàng, là một người tiêu biểu trong số những cây viết về “một chiến thắng bị đánh mất” qua sự nhìn thấy cuộc Tổng tấn công Mùa Xuân như là một bằng chứng chiến thắng cuối cùng: “Một nước Việt Nam tự do đã từng chứng minh rằng nó có ý chí và khả năng bảo vệ chính mình… Trên vùng đất ở miền Nam Việt Nam, cuộc chiến tranh đã từng được thắng lợi.”28 Đối với ông Sorley, kết quả thì rõ ràng như trước đó vào năm 1970:

Vào lúc thời gian đến khi chiến tranh được thắng lợi. Cuộc chiến đấu không chấm dứt, nhưng cuộc chiến tranh được thắng lợi. Thành tựu này có lẽ tốt nhất là nên được đánh dấu thời gian vào cuối năm 1970, sau cuộc xâm nhập ở Cam-pu-chia vào mùa xuân năm đó. Đến lúc đó, vùng nông thôn của miền Nam Việt Nam đã được bình định rộng lớn… Những lực lượng vũ trang của miền Nam Việt Nam, được mở rộng to lớn và được trang bị một cách uy dũng, thực thể có khả năng nhiều hơn ngay cả một vài năm trước đó. Những thu hoạch ngưỡng mộ nhất của họ là trong hàng ngũ của những lực lượng địa phương… qua việc cung sự an ninh gần bên cho những người dân ở vùng nông thôn. Chương trình bình định thành công… đang được mở rộng không chỉ là việc an ninh, mà còn là một chính quyền được bầu chọn, những quan chức thôn ấp và làng mạc được đào tạo, và những lợi ích về kinh tế đối với hầu hết dân cư.29

Cuộc “chiến thắng,” tuy nhiên, bị phá hủy ngầm và cuối cùng “bị đánh mất.” Ông Kissinger, những người theo phe xét lại thừa nhận, có thể đã thực hiện một số nhượng bộ không cần thiết trong Hiệp định Paris, nhưng điều đó được sự cân bằng bởi việc áp dụng sức mạnh cuối cùng. Cuộc dội bom Giáng sinh (Chiến dịch Hàng phòng Vệ II –Linebacker II) làm mạnh hơn vị thế thương lượng của Hoa Kỳ và cung cấp một cơ hội cho sự sống còn của miền Nam Việt Nam. Một số nhà quan sát, giống như một chuyên gia nổi tiếng người Anh về vấn đề chống cuộc nổi dậy, Robert Sir Thompson, tin rằng Chiến dịch Hàng phòng Vệ II đã từng quá hiệu quả đến nổi Hoa Kỳ đã có thể bức chế những điều khoản của thỏa thuận hòa bình và “cuộc chiến tranh đã có thể được thắng lợi, trong đó một nền hòa bình thực sự và được tôn trọng tuân theo đáng lý ra đã có thể có gặt hái được… Sau mười một ngày trong những cuộc tấn công đó của B-52 trên khu vực Hà Nội, bạn đã chiến thắng cuộc chiến tranh. Cuộc chiến đã chấm dứt.”30
Pierre Asselin, vốn là người đã viết lịch sử chi tiết nhất về Hiệp định Paris và vốn là người thường phê bình về việc ngoại giao của Mỹ dẫn đến sự hòa giải đó (tác phẩm của ông ta được thảo luận đầy đủ hơn sau đó trong chương nầy), có khuynh hướng ủng hộ Chiến dịch Hàng phòng Vệ II như là một “việc cần thiết tàn nhẫn.”31 Cuộc dội bom tạo ra một nhu cầu hỗ tương để giải quyết cuộc chiến tranh một lần cuối cùng: chính sự quyết định của ông Nixon khởi động Chiến dịch Hàng phòng Vệ II là một nỗ lực cuối cùng để thúc nhanh bước đột phá về ngoại giao và sự phản ứng đối với việc dội bom từ Quốc hội và từ phong trào phản chiến vốn đẩy mạnh sự cấp bách để đạt được một hòa giải;

p191

Bắc Việt không thể chịu đựng sự tiếp nối thiệt hại đáng kể gây ra bởi chiến dịch thả bom —“sự xóa sạch hoàn toàn nền tảng kinh tế của chúng tôi”32 theo những lời của một quan chức Hà Nội, không có sự hy sinh khả năng của mình để tiếp tục cuộc đấu tranh Cách mạng. Tóm lại, Chiến dịch Hàng phòng Vệ II đã để lại tuyệt vọng cho cả hai bên về một thỏa thuận. “Trong những ngày cuối cùng của năm 1972,” ông Asselin viết, “việc ký kết một thỏa thuận như thế trở thành một sự kết thúc trong chính nó ở Washington và cả Hà Nội.”33 Asselin, giống như những cây viết về “một chiến thắng bị đánh mất,” không nhìn thấy Chiến dịch Hàng phòng Vệ II cho Hoa Kỳ bất kỳ tuyên bố nào về một chiến thắng quân sự, chỉ thúc nhanh sự hòa giải.
Trong cuốn sách của mình “Một cuộc Chiến mà Mọi người đều Thua -và Thắng” (The War Everybody Lost –And Won), Timothy Lomperis nhấn mạnh về sự tiến triển của miền Nam Việt Nam. “Trên bờ vực của sự sụp đổ vào năm 1965, khi Hoa Kỳ can thiệp với những quân lính chiến đấu của riêng mình,” Lomperis viết, “miền Nam Việt Nam đã tìm thấy sóng thủy triều vào năm 1973 theo chiều hướng quyết định trong thuận lợi của mình cho giai đoạn tiếp theo, cuộc đấu tranh cho tính hợp pháp chính trị của người dân mình.” Ông ta cho rằng chính phủ Sài Gòn đã từng đạt được “tính hợp pháp tiêu cực,” nhưng “sự sụp đổ bất ngờ của nó… hai năm sau việc thỏa thuận hòa bình… chứng tỏ rằng mục đích lớn của việc biến đổi bản thảo mong manh của nó… thành [tính hợp pháp] tích cực chưa từng bao giờ đạt được.”34
Đối với ông Lomperis và những cây viết về “một chiến thắng bị đánh mất,” sự bại trận của miền Nam Việt Nam vào năm 1975 đưa đến kết quả chủ yếu từ sự từ chối của Quốc hội cung cấp sự hỗ trợ sau khi Hiệp định Paris được ký kết. Trong việc giải thích về chiến thắng cuối cùng của miền Bắc Việt Nam, ông Sorley liệt kê ba lý do, lý do thứ nhất trong số đó là: “việc chấm dứt ủng hộ chính trị, sự rút giảm hỗ trợ vật liệu, và cuối cùng ngay cả sự từ chối hỗ trợ tài chánh cho miền Nam Việt Nam bởi đồng minh Mỹ một lúc nào đó của họ. Đây là công việc của Quốc hội…”35 Điều này vang lại điều gì mà ông Kissinger tuyên bố vào năm 1975 và trong các tác phẩm sau này của ông ta về chiến tranh và cung cấp một sự nêu bật cuối cùng cho lịch sử “nếu-trừ-khi” của phe xét lại. Miền Nam Việt Nam đáng lý ra sẽ sống còn, họ lập luận, “nếu-trừ-khi” Quốc hội đã cung cấp sự hỗ trợ tài chánh khi Bắc Việt xâm lăng vào năm 1975. Gerald Ford, vốn là người đã từng vượt hơn ông Nixon vào tháng Tám năm 1974, yêu cầu 700$ triệu trong viện trợ quân sự khẩn cấp cho miền Nam Việt Nam, nhưng Quốc hội, hoài nghi về việc liệu bất kỳ sự giúp đỡ thêm nào của Mỹ sẽ có ý nghĩa quan trọng gì không, đã từ chối.

C- Lời giải bày của phe Chính thống về “Không phải là Hòa bình hoặc cũng Không phải là Danh dự”:

Lý luận về “một chiến thắng bị đánh mất” bị bác bỏ bởi lời giải bày của phe chính thống về “không phải là hòa bình hoặc cũng không phải là danh dự” mà qua đó cho rằng ông Nixon và ông Kissinger kéo dài cuộc chiến tranh cho những lợi ích rìa ngoài trong Hiệp định Paris.

p192

Những học giả, nhà báo, và những người tham gia nầy đặt câu hỏi cho những lời tuyên bố về sự tiến triển quân sự và chính trị đáng kể nào đó, nhấn mạnh đến sự bất lực của chính phủ miền Nam Việt Nam đối đầu với những thiếu sót lâu đời của nó, và tìm thấy không có lý do nào để tin rằng ông Nixon bằng cách nào đó đã có thể cứu lấy một lối thoát danh dự khỏi cuộc chiến tranh vốn thiếu hoàn thiện về cơ bản. Không có “chiến thắng” nào “bị đánh mất,” bởi vì nó không thể nào đạt được. Quan điểm về “không phải là hòa bình hoặc cũng không phải là danh dự,” vốn được trình bày một cách đầy đủ nhất trong cuốn sách “Cuộc chiến tranh Việt Nam của ông Nixon” (Nixon’s Vietnam War) của Jeffrey Kimball, dựa trên một số lượng lập luận.36

Thứ nhất, ông Nixon và ông Kissinger đánh giá thấp sự khó khăn của việc đạt được “hòa bình trong danh dự” và đánh giá quá cao khả năng của Hoa Kỳ thay đổi tình hình chính trị–quân sự ở miền Nam Việt Nam . Họ không có xu hướng nghiêng nhiều hơn so với những người tiền nhiệm của họ đi đến những thoả thuận với những nguồn gốc Việt Nam về cuộc chiến tranh và mức độ mà qua đó phong trào cộng sản đại diện cho chủ nghĩa dân tộc Việt Nam. Trong khi họ nhận ra rằng một chiến thắng quyết định về quân sự thì không còn có thể, ông Nixon và ông Kissinger không đánh giá cao những phức tạp của các vấn đề, như là điều hiển nhiên trong niềm tin của họ rằng họ có thể chấm dứt chiến tranh không lâu trên các điều khoản thỏa đáng cho Hoa Kỳ. Ông Kimball viết:

Đối với một người tự xưng là thực tế, những lời phê bình của [ông Nixon] [về việc kết thúc chiến tranh trong vòng một năm] tiết lộ một giả định ngây ngô và kiêu ngạo: khả năng kết thúc trong nhiệm kỳ của ông ra ít hơn một năm một cuộc chiến tranh vốn đã và đang tiếp tục diễn ra trong những thập kỷ, và qua đó Hoa Kỳ, theo sự đánh giá của hầu hết các chuyên gia, đang thua bại. Một tầm nhìn như thế về tính chất dễ uốn cong của thế giới là điều quá tự phụ hơn là có óc thực tế.37

Việc nhấn mạnh đến sự giả định này là niềm tin của ông Nixon mà qua đó ông ta có thể bù đắp cho sự yếu kém trên chiến trường bằng cách mưu mẹo hơn Bắc Việt, lừa gạt họ vào trong các nhượng bộ. Thông qua những đường lối ngoại giao, ông ta chiếu lên Hà Nội hình ảnh của một “người điên” –vị Tổng thống được biết đến trong suốt sự nghiệp của mình cho việc chống chủ nghĩa cộng sản ồn ào của ông ta– lúc bấy giờ ở Nhà Trắng và không bị ràng buộc như ông Johnson đã từng. Mối đe dọa của “điều không thể tiên đoán đến mức phi lý và vũ lực quá mức của [người điên]” có chủ ý đe dọa Bắc Việt và những cường quốc hỗ trợ chính của nó.38 Điều này có hiệu lực bề ngoài, tuy nhiên, bởi vì có những giới hạn về cái gì đó mà ông Nixon có thể làm một cách thực tế ở Việt Nam mà không có sự mạo hiểm cho một cuộc chiến tranh lớn hơn và việc mất mát sự hỗ trợ trong nước; có lẽ vấn đề khó khăn là ông ta không thể “đủ điên loạn” và mọi người biết điều đó.
Sự ưu tiên của chính sách Nixon–Kissinger đối với việc xác định lại mối quan hệ của Mỹ với Liên Xô và Trung Quốc cũng hạn chế họ ở Việt Nam. Điều đó cũng dẫn đến sự tính toán sai lầm rằng các cường quốc cộng sản chính yếu có thể buộc tạo ra áp lực lên Bắc Việt để chấp nhận các điều khoản của Mỹ cho việc chấm dứt chiến tranh. Mặc dù cả hai nước đều quan tâm đến việc theo đuổi những mối quan hệ được cải thiện với Mỹ, không phải là Liên Xô hoặc cũng không phải là Trung Quốc chứng tỏ là hữu ích trong việc thúc ép những nhượng bộ từ miền Bắc Việt Nam.

p193

Hơn nữa, mặc hình ảnh của sự táo bạo và đổi mới, ông Nixon và ông Kissinger thực sự chịu tác động ngược và bị kiềm chế nhiều hơn. Mặc những lời tuyên bố của ông ta có trái ngược, ông Nixon nhạy cảm đối với quan điểm của quần chúng và nhất định duy trì sự hỗ trợ trong nước, mà qua đó sẽ bị đe dọa bởi những hành động thiển cận ở Việt Nam. Những tấm gương từ năm đầu tiên của ông ta là điều học hỏi. Vào tháng Năm năm 1969, những lực lượng Hoa Kỳ chạm trán với Bắc Việt trong một trận chiến quy mô lớn mà qua đó trở nên được biết đến như là Ngọn đồi Thịt bầm; sự tham chiến này dẫn đến một sự đổi mới của cuộc biểu tình phản đối chống chiến tranh ở quê nhà trên sự dường như vô cảm của cuộc giao chiến. Vì thế, mặc những mất mát khá khiêm tốn của Hoa Kỳ và một phần của trận chiến Ngọn đồi Thịt bầm nằm trong chiến lược của Tướng Abrams về việc giữ an ninh vùng nông thôn miền Nam Việt Nam, ông Nixon đã ra lệnh không có sự lặp lại mức độ giao chiến đó; ông ta muốn giữ sự thương vong đến mức tối thiểu, nếu không ông ta mất sự ủng hộ ở quê nhà. Quan trọng hơn là, sự thận trọng này thì hiển hiện trong việc áp dụng lần đầu tiên chiến lược của “người điên.” Vào mùa hè của năm 1969, ông Nixon kín đáo đe dọa miền Bắc Việt Nam bằng mộc cuộc chiến tranh mới –“những biện pháp của hậu quả lớn nhất”– nếu Bắc Việt không thực hiện những nhượng bộ tại bàn đàm phán trước tháng Mười Một năm 1969. Quả thật, những kế hoạch bí mật được tạo ra cho một cuộc tấn công dội bom ào ạt vào miền Bắc Việt Nam (Chiến dịch Lưỡi câu Vịt).(pc 05) Sự đổi mới của cuộc thả bom sắp xảy ra này cung cấp một bối cảnh cho sự kêu gọi đầy xúc động được truyền hình của ông Nixon từ Văn phòng Bầu dục cho sự ủng hộ của “đại đa số thầm lặng” của những người Mỹ khi ông ta theo đuổi sách lược “hòa bình trong danh dự;” ông ta kết luận:

Chúng ta càng bị phân chia ở quê nhà, đối phương càng ít có khả năng đàm phán với chúng ta tại Hội nghị Paris. Hãy để cho chúng ta được đoàn kết vì nền hòa bình. Hãy để cho chúng ta được đoàn kết chống lại sự bại trận. Bởi vì hãy để cho chúng ta hiểu rằng: miền Bắc Việt Nam không thể đánh bại hoặc làm nhục Hoa Kỳ. Chỉ có những người Mỹ có thể làm điều đó.39

Mặc sự hỗ trợ của quần chúng được tạo ra bởi bài phát biểu về ” đa số im lặng,” khi Hà Nội không thực hiện một nhượng bộ nào, chính là ông Nixon vốn là người thoái lui. Ông ta lo sợ những hậu quả chính trị của những cuộc biểu tình phản đối chống chiến tranh lan rộng nếu ông ta tung ra Chiến dịch Lưỡi câu Vịt.
Vì thế, vào đầu nhiệm kỳ Tổng thống của ông Nixon, các mô hình của sự táo bạo được kiềm chế bởi sự thận trọng được thành lập. Chiến lược quân sự–ngoại giao của sự hợp tác Nixon–Kissinger được kiềm giữ bởi những suy xét về mặt trong nước và quốc tế.

Thứ hai, chính sách xây dựng một chính phủ miền Nam Việt Nam khả thi –qua chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh và công cuộc bình định– không thể vượt qua những vấn đề khó khăn lâu đời của chính phủ đó . Những dấu hiệu của sự tiến triển đang gây hiểu lầm. Mặc những số lượng gia tăng và đủ loại vũ khí được cải thiện, Quân đội miền Nam Việt Nam vẫn còn bị thủng lỗ chỗ với nạn tham nhũng, thiên vị, và các vấn đề về tinh thần chiến đấu. “Những số lượng khổng lồ của trợ giúp về quân sự, huấn luyện, và cố vấn ngay tại chỗ,” một học giả viết, “không thể biến đổi một quân đội bị chính trị hóa trở thành một lực lượng chiến đấu hiệu quả.”40

p194

Sự xét đoán đó được hỗ trợ bởi hai cuộc nghiên cứu về Quân đội miền Nam Việt Nam, được viết bởi James H. Willbanks và Robert K. Brigham. Trong cuốn sách “Sự ruồng bỏ ở Việt Nam” (Abandon in Vietnam), mà qua đó là một tác phẩm có căn cứ đích xác nhất về chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, ông Wilibanks kết luận rằng chiến lược đó thất bại, bởi vì những sai lầm của Mỹ và miền Nam Việt Nam. Để bắt đầu, Hoa Kỳ chờ đợi rất ư là quá lâu để bắt đầu chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh; đáng lý ra nó là trọng tâm cho các mục tiêu của Mỹ từ khởi đầu của sự can dự vào việc xây dựng một miền Nam Việt Nam khả thi 15 năm trước đó. Hơn nữa, sự huấn luyện gì đó xảy ra trong suốt những năm đầu, tập trung vào việc xây dựng một Quân đội miền Nam Việt Nam theo mô hình của Mỹ và với một thiếu sót đáng chú ý về việc học hỏi từ kinh nghiệm của Pháp mà qua đó miền Nam Việt Nam gần như phải đối mặt với cuộc chiến tranh du kích, không phải là một cuộc xâm lược dồn hết sức lực từ miền Bắc Việt Nam. Trong suốt giai đoạn của chiến lược Mỹ hoá chiến tranh bắt đầu vào năm 1965, quyền chỉ huy của Mỹ đã hạ thấp QĐVNCH(pc 04) cho một vai trò hỗ trợ. Điều này có nghĩa rằng chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh là một việc làm táo bạo vội vã để giao trách nhiệm bảo vệ cho miền Nam Việt Nam. Hoa Kỳ đã làm một điều dễ dàng nhất: về mặt thực thể xây dựng một QĐVNCH trong những phần về nhân lực và trang bị và những vũ khí tinh vi. Sự hỗ trợ của Mỹ bao gồm một chương trình được mở rộng bao la của các vị cố vấn cho QĐVNCH, nhưng điều này biến thành vĩnh viễn là sự phụ thuộc vào Hoa Kỳ và làm giảm tầm vóc của các sĩ quan QĐVNCH trong con mắt của những quân lính của họ. Một sĩ quan QĐVNCH nắm bắt được bản chất cần thiết của những thiếu sót của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh khi ông ta quan sát thấy rằng những người Mỹ “tìm cách biến chuyển một quân đội thực sự thiếu thích hợp trở thành một quân đội còn tồi tệ hơn, hoàn toàn phụ thuộc vào trang bị và học thuyết của Mỹ.”41
Bên cạnh những thiếu sót của Mỹ, chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh cũng gánh chịu những khiếm khuyết của hệ thống chính trị của miền Nam Việt Nam. Nạn tham nhũng lan rộng “bắt đầu ở đỉnh điểm của xã hội, tràn ngập mọi bước đi của cuộc sống và có một tác động tàn phá trên quân đội… [đang] phá hủy đạo đức và tinh thần chiến đấu, [và] [đang] đóng góp cho một tỷ lệ đào ngũ vô cùng cao.” Hệ thống cấp bậc quân sự mà trong đó những tướng lãnh được lựa chọn trên cơ bản của lòng trung thành đối với chế độ Thiệu, có nghĩa là “mục đích thực sự của quân đội không phải là quân sự mà là chính trị”42 Ban lãnh đạo thiếu khả năng này là một thảm họa trên chiến trường. Những lực lượng của QĐVNCH sụp đổ không phải vì thiếu trang bị, nhưng “tan rã khi các sĩ quan cao cấp của nó –là một tầng lớp của xã hội miền Nam Việt Nam vốn đã gần như độc quyền những phần thưởng vật chất và chính trị của nước đồng minh Mỹ– đã bỏ rơi nó.”43
Ông Brigham, tác giả của cuốn sách “QĐVNCH: sự Sống và cái Chết trong Quân Đội miền Nam Việt Nam” (ARVN: Life and Death in the South Vietnamese Army) khảo sát về chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh từ quan điểm của những quân lính chiến đấu. Cuốn sách của ông ta được dựa trên các nguồn tài liệu của Việt Nam và các cuộc phỏng vấn với những cựu thành viên của QĐVNCH và tìm thấy rằng bên trong hàng ngũ quân sự của miền Nam Việt Nam, chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh được xem như là một việc “bán tháo” của Mỹ.

p195

Hoa Kỳ, họ tin rằng, đang chịu thua. Họ nhận ra sự vượt trội của các lực lượng Bắc Việt, phẫn nộ vì bị đặt vào trong một tình trạng nguy hiểm to lớn hơn, và đặt câu hỏi về việc liệu Hoa Kỳ có từng bao giờ định muốn cho họ có khả năng “chiến đấu bên nhau chống lại những người cộng sản.” Nhiều người cũng phẫn nộ vì ngụ ý của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh mà qua đó QĐVNCH đã không được mang lấy phần việc chiến đấu của mình, khi trong thực tế những thương vong của nó luôn luôn đã từng vượt qua rất xa những mất mát đó của người Mỹ. Những vấn đề đào ngũ đang ở đỉnh cao luôn luôn vào năm 1969 –năm đầu tiên của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Sự hoài nghi nầy về chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh không chỉ thâm nhập giới quân sự miền Nam Việt Nam, mà còn các nhà lãnh đạo chính phủ và những sĩ quan quân đội Hoa Kỳ. Bên cạnh những vấn đề tiếp tục về tham nhũng, về thiên vị trong phạm vi quân đoàn sĩ quan, Quân đội miền Nam Việt Nam cũng vẫn còn đáng chú ý là không yêu nước. Chỉ là tương đối, một ít binh sĩ chấp nhận khái niệm về một “quốc gia” miền Nam Việt Nam; ý chí của quân đội chịu hy sinh phụ thuộc vào sự chấp nhận ý thức về sự dâng hiến cho một “quốc gia” và điều đó đã và đang luôn luôn thiếu trong xã hội miền Nam Việt Nam nói chung và QĐVNCH nói riêng. Hầu hết các binh sĩ lẽ ra ưa thích sống trong một miền Nam Việt Nam độc lập, nhưng vào đầu trong cuộc chiến tranh, họ đánh mất niềm tin vào chính phủ của họ và cuối cùng đặt nghi vấn về “việc-xây-dựng-quốc-gia” và vai trò của họ trong đó. Thiếu bất kỳ lịch sử nào về lòng yêu nước, QĐVNCH có khuynh hướng đi tìm nét đặc tính trong gia đình của họ, vốn là những người có truyền thống với quân đội. Sự tương phản đối với tinh thần chiến đấu và bản sắc dân tộc của các lực lượng cộng sản gây ấn tượng. Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh thất bại biến đổi QĐVNCH trở thành một lực lượng chiến đấu hiệu quả.44
Tương tự như thế, nỗ lực được mở rộng ở công cuộc bình định, đáng chú ý là Chương trình Phượng hoàng được Trung ương Tình báo Hoa Kỳ dẫn dắt, bị gây tệ hại bởi tính chất vô hiệu quả và nạn tham nhũng lan rộng, mà qua đó tạo nên “những thu hoạch” bị cáo buộc có vấn đề. Một phân tích của Bộ Quốc phòng vào năm 1971, mô tả Chương trình Phượng hoàng như là “chỉ hiệu quả bề ngoài… một nỗ lực nát vụn, thiếu sự điều hành tập trung, quyền kiểm soát và sự ưu tiên.” Một người tham gia Cục Tình báo mất hết ảo tưởng đặt vấn đề đó ra một cách thẳng thừng hơn: “Chiến dịch Phượng hoàng được nghĩ ra bởi những thiên tài và được thực hiện bởi những kẻ ngu.”45
Trong khi chính phủ miền Nam Việt Nam có thể đã được làm mạnh mẽ hơn một cách khiêm tốn nhờ những biện pháp này, nó vẫn bị cô lập phần lớn từ đại đa số dân cư của mình và thẩm quyền của mình bị phá ngầm bởi nạn tham nhũng. Sự thất bại của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và công cuộc bình định không phải nằm trong mục tiêu –chúng thì rất trọng yếu nếu Hoa Kỳ có bất kỳ hy vọng nào bỏ lại phía sau một chính phủ khả thi– nhưng trong giả định rằng các vấn đề của chế độ Thiệu có thể được giải quyết trong vòng một giai đoạn tương đối ngắn, nếu chỉ là thế. Hầu hết, sự cần thiết để thúc đẩy chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và công cuộc bình định sau 15 năm của việc xây-dựng-quốc-gia của Mỹ và 4 năm chiến tranh nhấn mạnh đến sự vô ích của toàn bộ nỗ lực của Hoa Kỳ.

Thứ ba, các cuộc xâm lược Cam-pu-chia vào năm 1970 không mang lại những lợi ích chiến lược lâu dài nào và đóng góp cho sự bất ổn của đất nước đó và vinh quang cuối cùng của Khmer Đỏ. Cuộc xâm nhập quân sự của Mỹ–miền Nam Việt Nam của năm 1970

p196

–mà qua đó được nhấn mạnh trong bài viết về “một chiến thắng bị đánh mất”– chỉ là một phần của sự tham gia về chính trị và quân sự đáng kể lớn hơn của Hoa Kỳ ở Cam-pu-chia mà qua đó được chứng minh là gây mất ổn định. Điều này bắt đầu với cuộc dội bom bí mật (Chiến dịch Thực đơn –Operation Menu) vào những tuyến đường cung cấp của miền Bắc Việt Nam và các căn cứ ở Cam-pu-chia trong khoảng giai đoạn 1969–70. Cuộc dội bom có một ảnh hưởng tàn phá trên cấu trúc chính trị mong manh của đất nước. Hoàng tử Norodom Sihanouk, chính phủ “trung lập” của ông ta đã từng ngầm dung nạp những hoạt động quân sự của Bắc Việt trong khu vực phía đông có dân cư thưa thớt của nó trong sự đáp lại cho Bắc Việt không hỗ trợ những người cộng sản Cam-pu-chia (Khmer Đỏ), đã bị làm suy yếu bởi chiến dịch thả bom và bị lật đổ bởi Tướng Lon Nol. Trong quan điểm của một số nhà quan sát, những nhân viên tình báo của Mỹ khuyến khích cuộc đảo chánh; bất kể sự đồng lõa của nó, chính quyền Nixon hoan nghênh chính phủ mới như là một chế độ chống cộng vốn sẽ làm mạnh hơn vị thế của Hoa Kỳ trong khu vực. Ngay sau khi Lon Nol lên nắm quyền, ông Nixon cho phép cuộc xâm nhập của Mỹ–miền Nam Việt Nam, mà qua đó mang lại (bất kể những tuyên bố của ông Nixon và những lời biện minh cho “một chiến thắng bị đánh mất”) những kết quả đáng thất vọng: những khu vực bất khả xâm phạm không bị loại bỏ, cấu trúc chỉ huy của cộng sản không được tìm thấy và bị phá hủy, và các tuyến đường cung cấp chỉ tạm thời bị gián đoạn. Nó cũng không tiến bước chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh; trong thực tế, Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird và Tướng Abrams cảm thấy rằng có một số khoảng 35.000 người của những lực lượng miền Nam Việt Nam “lang thang trên khắp Cam-pu-chia” thực sự làm suy yếu nổ lực bình định.46
Hơn nữa, những ảnh hưởng chính trị của cuộc xâm nhập, đến sau một năm của cuộc thả bom của Mỹ vào Cam-pu-chia, đang gây ra tàn hại. Vào đầu năm 1970, khi cuộc dội bom của Mỹ và sau đó là cuộc xâm lược quân sự đã buộc Bắc Việt rút xa hơn vào Cam-pu-chia và khi chính phủ Lon Nol có được sự hỗ trợ từ Hoa Kỳ, Bắc Việt và Khmer Đỏ bắt đầu cộng tác trong lợi ích chung của việc loại bỏ chính phủ Lon Nol. Điều này khiến Hoa Kỳ chịu trách nhiệm cho sự tồn tại của một chính phủ Cam-pu-chia dễ bị tổn thương; sự viện trợ quân sự của Mỹ bấy giờ chảy đến một thân chủ mới trong khu vực Đông Nam Á. Sự quan tâm về việc phá vỡ cấu trúc chính trị mong manh và tính chất trung lập trên danh nghĩa của Cam-pu-chia đã khiến ông Johnson bác bỏ những lời kêu gọi cho việc theo đuổi cuộc chiến tranh vào trong Cam-pu-chia; sau năm 1970, ông ta được xét không sai về lý do đó.
Trong năm năm tới, Lon Nol, được hỗ trợ bởi Hoa Kỳ cho đến khi nó rút khỏi Đông Dương vào năm 1975, đã chiến đấu một cuộc chiến tranh nội chiến chống lại Khmer Đỏ. Vinh quang kết cuộc của những người cộng sản vào năm 1975 dẫn đến một trong những nỗi kinh hoàng to lớn của thế kỷ 20 –một cuộc hủy diệt hàng loạt ở Cam-pu-chia– mà qua đó lấy đi những mạng sống của hàng triệu người Cam-pu-chia. Trong khi một số lượng của những yếu tố dẫn đến sự nổi dậy của Khmer Đỏ, sự can thiệp chính trị–quân sự của Mỹ ở Cam-pu-chia đã góp phần cho sự bất ổn. Sự hỗ trợ của nó cho cuộc đảo chánh Lon Nol, cuộc chiến tranh của nó vốn tạo động lực cho Bắc Việt và Khmer Rouge hợp tác (ít nhất cho đến năm 1975), sự trang bị của nó cho quân đội của Lon Nol, và sau đó sự bỏ rơi Cam-pu-chia của nó vào năm 1975 đã gây ảnh hưởng sâu sắc quá trình diễn biến buồn thảm của lịch sử Cam-pu-chia.

p197

Trong cuốn sách “Sự kiện phụ: ông Nixon, ông Kissinger, và sự Phá hoại Cam-pu-chia” (Sideshow: Nixon, Kissinger, and the Destruction of Cambodia), nhà báo William Shawcross truy tố ông Nixon và ông Kissinger cho vai trò của họ trong việc thoát khỏi Cambodia.47 Trong hồi ký của mình, ông Kissinger dài dòng bảo vệ cho chính sách, qua việc cho rằng sự bất ổn bắt đầu trước khi sự tham gia của Hoa Kỳ và rằng Khmer Đỏ lẽ đạt được vinh quang sớm hơn nếu Hoa Kỳ không can thiệp, đối với điều mà ông Kimball đáp lại:

Nhưng sự khẳng định của ông đưa ra vấn đề như là có thật về việc liệu điều đó sẽ sụp đổ hết nếu Cam-pu-chia không bị rơi vào trong cuộc nội chiến trên quy mô toàn diện bởi Chiến dịch Thực đơn. Cuộc đảo chánh Lon Nol, và cuộc xâm lược của Mỹ-miền Nam Việt Nam, đã dẫn đến việc Hà Nội và Khmer Đỏ đặt qua một bên những khác biệt của họ trong thời gian này và hợp tác trong việc hất cẳng Lon Nol.48

Thứ tư, những thiếu sót của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh thì rõ ràng trong cuộc xâm nhập vào trong Lào vào năm 1971 và cuộc chiến đấu trong suốt cuộc Tổng tấn công Mùa Xuân năm 1972. Cuộc xâm nhập vào trong Lào cung cấp một thử nghiệm rất quan trọng cho Quân đội miền Nam Việt Nam, bởi vì, không giống như cuộc công kích vào Cam-pu-chia, không có những quân lính bộ binh của Mỹ đi kèm theo họ. Thay vào đó, 17.000 người của lực lượng QĐVNCH chỉ được hỗ trợ sức mạnh Không quân Hoa Kỳ. Sau bước tiến đầu về hướng một thị trấn trọng yếu Tchepone, những binh lính miền Nam Việt Nam nhanh chóng thu nhỏ lại những hoạt động khi phải đối mặt với các đơn vị Bắc Việt mạnh mẽ. Việc từ bỏ kế hoạch ban đầu chiếm giữ thị trấn Tchepone và thực hiện một chiến dịch 90 ngày nhằm phá hủy các căn cứ của Bắc Việt trong khu vực, Tổng Thống Thiệu ra lệnh cho những tướng lãnh của mình rút lui. Những binh lính của miền Nam Việt Nam chiếm được thị trấn Tchepone bỏ hoang vào ngày 7 tháng Ba và từ bỏ nó vào ngày hôm sau. Cuộc rút quân về hướng miền Nam Việt Nam được kèm theo với cuộc giao chiến dữ dội được đánh dấu bởi những thương vong nặng nề trên cả hai bên, sức mạnh Không quân Mỹ gây ra hầu hết những thương vong phải gánh chịu bởi Bắc Việt và cung cấp sự yểm trợ không lực cho một cuộc rút quân được tổ chức yếu kém của miền Nam Việt Nam. Một số lượng những nhà phân tích quân sự Mỹ tìm thấy bằng chứng về cách làm việc đáng thất vọng của QĐVNCH qua ban lãnh đạo thiếu khả năng thích hợp đưa đến kết quả từ vấn đề chính trị hóa của quân đoàn sĩ quan; như là một kết quả, những thương vong thật đáng kể và những quân lính sống sót của QĐVNCH không còn tinh thần chiến đấu. Trong bài viết tường thuật của ông ta về chiến tranh, “Sự Trổi lên và Suy sụp Quân đội Mỹ” (The Rise and Fall of an American Army), Shelby Stanton viết rằng Chiến dịch Lam Sơn 719 “hóa ra là một cuộc bại trận chua cay, qua việc phơi bày sự những khiếm khuyết nghiêm trọng trong việc lên kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, huy động, và giám định hoạt động.” “Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh,” ông ta tiếp tục, “đã không mang sức mạnh quân sự của miền Nam Việt Nam đến một điểm nơi mà nó có thể an toàn thách thức những khu vực được bảo vệ bởi [Quân đội Bắc Việt].”49 Willbanks, trong cuốn sách “Việc từ bỏ Việt Nam” (Abandoning Vietnam), lưu ý ảnh hưởng của việc làm mất tinh thần chiến đấu qua cuộc rút quân và để lại phía sau những người chết và bị thương của QĐVNCH; ông ta viết:

p198

“Mặc dù ông Thiệu công bố chiến thắng, những người lính và gia đình họ không có ảo tưởng về kết quả của hoạt động và mất tinh thần bởi cái gì họ nhìn thấy như là một cuộc bại trận rõ ràng dưới bàn tay của Bắc Việt.”50 Điều này không bị mất đi trên các nhà lãnh đạo quân sự ở Hà Nội vốn là những người xem Chiến dịch Lam Sơn như là một bằng chứng cho thấy chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh đang thất bại và khuyến khích việc lên kế hoạch của họ cho một cuộc tấn công lớn vào năm 1972. Một nhà sử học quân sự của Bắc Việt sau này nhớ lại rằng Chiến dịch Lam Sơn 719 là “một bằng chứng mà chúng tôi có thể đánh bại những đơn vị giỏi nhất của [miền Nam Việt Nam]. Chúng tôi đã không chắc chắn rằng chúng tôi có thể làm điều này trước đây. ‘Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh’ đã thực sự tạo ra một Quân đội miền Nam Việt Nam mạnh mẽ… Vì vậy, năm 1971 là một thử thách lớn.”51

Cuộc Tổng tấn công Mùa Xuân 1972 của Bắc Việt thậm chí cho thấy theo một cách thuyết phục hơn những hạn chế của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Trong các trận chiến được mở rộng qua mùa xuân và mùa hè, QĐVNCH không còn nghi ngờ gì nữa đã chiến đấu một cách hiệu quả hơn bao giờ hết trước đây, mặc dù các vấn đề khó khăn lâu đời của ban lãnh đạo vô hiệu nghiệm và giới quân sự bị chính trị hóa gây cản trở những hoạt động của nó. Lời tuyên bố về “một chiến thắng bị đánh mất” mà qua đó cuộc rút quân cuối cùng của quân đội Bắc Việt cho thấy chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh quả thật thành công, đã không được hỗ trợ bởi những quan sát của gần như tất cả các vị chỉ huy, nhà báo và những người khác trên hiện trường vốn là những người tìm thấy rằng sức mạnh Không quân Hoa Kỳ đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định kết quả của cuộc Tổng tấn công Mùa Xuân. Nếu không có việc khai triển sức mạnh áp đảo của Không quân Hoa Kỳ qua Chiến dịch Hàng phòng Vệ I và các hoạt động liên quan, miền Nam Việt Nam lẽ ra sẽ không chịu đựng được cuộc xâm lược của miền Bắc. Vì vậy, trong ý nghĩa đó, những trận chiến đẫm máu của năm 1972 khẳng định không phải sức mạnh quân sự của miền Nam Việt Nam nhiều như nó đã thực hiện một sự phụ thuộc liên tục vào Hoa Kỳ. Hơn nữa, cường độ của cuộc giao chiến, tổng số nặng nề những thương vong dân sự, sự tàn phá mà nó mang cho các thành phố của các tỉnh phía bắc của miền Nam Việt Nam đã đóng góp cho “sự mòn mỏi bởi chiến tranh” trong số công chúng mà qua đó nhấn mạnh đến sự khát khao được nhìn thấy cuộc chiến dài lâu đi đến sự kết thúc. Sự xói mòn tinh thần miền Nam Việt Nam này, luôn luôn mong manh theo cách diễn tả tốt nhất, đã không báo trước điều tốt đẹp cho tương lai. Arnold Isaacs, một nhà báo, viết rằng các trận đánh và sự phá hoại được mở rộng của cuộc Tổng tấn công Mùa Xuân, trở thành “một hình ảnh hoàn toàn chính xác của cuộc chiến tranh năm 1972, một biểu tượng của tình thế tuyệt vọng, vô tận, đẫm máu, mà cuộc chiến tranh đã trở thành.”52
Cuộc nghiên cứu của ông Brigham về QĐVNCH củng cố sự đánh giá ảm đạm về cuộc Tổng tấn công Mùa Xuân. Bị thua trong phần nhiều chú trọng về cuộc rút quân của Bắc Việt khỏi các tỉnh phía bắc của miền Nam Việt Nam mà qua đó những đơn vị của Bắc Việt đã tấn công những phần khác của miền Nam Việt Nam, thu được vùng lãnh thổ mà họ không đầu hàng; vì thế những người cộng sản nắm giữ nhiều lãnh thổ hơn trước đây. Quan điểm đó không mất đi trong số các binh sĩ của QĐVNCH, nói chung vốn là những người chạy xa khỏi các trận đánh bị mấtt hết tinh thần chiến đấu. Một người lính nhớ lại rằng trong khi tất cả mọi người ca ngợi QĐVNCH cho cuộc chiến đấu anh dũng, ông ta và những người đồng đội mình biết được rằng “sự cố gắng hết sức của chúng tôi thì không đủ hiệu quả. Những người cộng sản chỉ đơn giản là thay thế những mất mát và tiếp tục hành quân.”

p199

Những người khác lưu ý rằng nếu Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh bắt đầu vào năm 1955, có lẽ QĐVNCH đã sẽ có khả năng đối sức với quân đội Bắc Việt, nhưng trong ba năm không đủ thời gian để xây dựng một lực lượng chiến đấu hiệu quả. Vì vậy, mặc dù những mất mát nặng nề của Bắc Việt và tất cả sự lạc quan của về hiệu suất của QĐVNCH, ông Brigham viết rằng “hầu hết binh lính trong QĐVNCH biết rằng chỉ là vấn đề thời gian cho đến khi một chiến thắng của cộng sản xảy ra.”53 Trong nhiều cách, cuộc Tổng tấn công Mùa Xuân đã báo trước sự sụp đổ của QĐVNCH vốn xuất hiện ba năm sau đó.
Ông Wilibanks đạt đến một kết luận tương tự:

Trong một phân tích cuối cùng, những lực lượng vũ trang miền Nam Việt Nam vẫn còn quá phụ thuộc vào Hoa Kỳ. Sức mạnh Không quân của Mỹ đã cứu lấy miền Nam Việt Nam. Những binh lính của miền Nam Việt Nam trong Quân khu I thậm chí dựa vào tiếng súng của Hải quân Hoa Kỳ để dập bỏ các khẩu pháo bị chiếm giữ bởi Bắc Việt… Máy bay vận chuyển của Mỹ di chuyển những quân lính của QĐVNCH và quân nhu trên toàn quốc. Các cố vấn Mỹ ủng hộ những đối tác của họ và phối hợp với sức mạnh Không quân Mỹ. Miền Nam Việt Nam đã sống còn qua cuộc xâm lược của [Bắc Việt] vào năm 1972, nhưng họ nợ phần lớn những thành công của họ đối với Hoa Kỳ và không phải đối với khả năng của riêng họ đánh bại [Quân đội Bắc Việt] trên chiến trường.54

Thứ năm, Hiệp định Paris chứng tỏ sự thất bại của chính sách của ông Nixon nhằm cải thiện vị thế thương lượng của Mỹ. Bốn năm của cuộc chiến tranh liên tục và chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, và những mưu tính khác nhau của “người điên” đã không thay đổi trong bất kỳ chiều hướng nào đáng kể về sự cân bằng chính trị–quân sự Việt Nam. Bắc Việt nắm giữ thế cao tay ấn hơn khi ông Nixon nhậm chức vào năm 1969 và họ vẫn làm điều đó khi các yếu tố thiết yếu của một thỏa thuận được đạt đến ba năm sau đó. Theo đó, một thỏa thuận không hoàn thiện, mà những điều khoản của nó trở nên được biết đến khi bản dự thảo được hoàn thành vào tháng Mười năm 1972, để lại một chính phủ miền Nam Việt Nam dễ bị tổn thương hơn bao giờ hết và bảo đảm rằng giải pháp cuối cùng của cuộc xung đột lâu dài sẽ được quyết định bằng biện pháp quân sự. “Gần như chắc chắn không có điều khoản tốt hơn nào có thể được bảo đảm…” William Bundy đã viết, “vì [trong] sự phân tích cuối cùng… các điều khoản của Hiệp định Paris cuối cùng phản ảnh một cách chính xác tác dụng của lực đòn bẩy thương lượng của các bên chính yếu.”55
Một phân tích chi tiết nhất về các cuộc đàm phán dẫn đến Hiệp định Paris tìm thấy rằng nó thiết lập ra điều “không phải là hòa bình hoặc cũng không phải là danh dự.” Trái ngược với những tuyên bố của ông Kissinger, Hoa Kỳ không chỉ được thực hiện những nhượng bộ, mà còn thoả hiệp nhiều hơn so với miền Bắc Việt Nam về các vấn đề quan trọng. Cuốn sách “Một hòa bình Cay đắng” (A Bitter Peace) của Pierre Asselin, mà qua đó dựa trên các nguồn tài liệu của Mỹ và Việt Nam, nhìn thấy những vị thế thương lượng của cả hai bên thay đổi theo những cách thức mà cuối cùng dẫn đến một sự hòa giải vốn cung cấp một thời gian nghỉ ngơi, nhưng không phải là một kết thúc, cho cuộc đấu tranh giành quyền kiểm soát miền Nam Việt Nam. Ông Asselin theo dấu vết các bước chính trong việc giải quyết tình trạng bế tắc ngoại giao.
Sự nhượng bộ quan trọng đầu tiên xảy ra trong hậu quả của cuộc xâm nhập vào trong Lào, mà qua đó, bất chấp những tuyên bố trước công chúng đối với sự mâu thuẩn, không phải là một thành công về quân sự mà ông Nixon đã từng tiên đoán;

p200

quả thật là cách làm việc đáng thất vọng của Quân đội miền Nam Việt Nam dẫn đến những lo ngại rằng Bắc Việt có thể nhấn mạnh lợi thế về quân sự của mình và do đó phơi bày những thiếu sót của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Vì vậy, vào ngày 31 tháng Năm năm 1971, ông Kissinger làm dịu lại vị thế của Hoa Kỳ, qua việc thối lui khỏi sự cương quyết về những cuộc rút quân hỗ tương từ miền Nam Việt Nam. Ông ta đồng ý với một điều khoản mà qua đó cho phép những cán binh Bắc Việt ở lại miền Nam Việt Nam ít nhất là tạm thời. Ông Asselin viết, rằng “đây là một nhượng bộ trọng yếu, được thực hiện mà không thông báo cho ông Thiệu.”56
Những kết quả quân sự của cuộc Tổng tấn công Mùa Xuân, kết hợp với những bước chủ động ngoại giao của ông Nixon đối với Liên Xô và Trung Quốc, cung cấp một sự thúc đẩy từ Hoa Kỳ hoặc cả hai bên hầu phá vỡ sự bế tắc ngoại giao. Tháng Sáu năm 1972, ban lãnh đạo của Hà Nội, cương quyết kết thúc cuộc dội bom của Chiến dịch Hàng phòng Vệ I, kết luận rằng việc dựa vào hoạt động quân sự không còn là sự khả thi trong một thời hạn ngắn ngủi và rằng điều đó bây giờ là tại một thời gian đúng lúc để “đẩy Hoa Kỳ vào trong việc thương lượng nghiêm túc.”57 Quan trọng hơn hết là, Bắc Việt bây giờ chuẩn bị thối lui khỏi đòi hỏi của họ về việc loại bỏ chính quyền ông Thiệu. Đây là một nhượng bộ quan trọng, bởi vì, bên cạnh việc xem chính phủ miền Nam Việt Nam như là một “bù nhìn” của Mỹ không thể chấp nhận được, Bắc Việt nhận ra rằng việc hỗ trợ một miền Nam Việt Nam không cộng sản đã từng là lý do cho cuộc chiến tranh của Mỹ. Miễn là ông Thiệu còn nắm quyền lực, Hoa Kỳ có một thế dòn bẩy ở Việt Nam. Nếu ông Thiệu còn tồn tại sau cuộc ngưng bắn, Hoa Kỳ có thể cảm thấy bắt buộc phải hỗ trợ chính phủ của ông ta, thậm chí đến mức của việc can thiệp quân sự một lần nữa, hoặc tệ hơn, để lại một đồn trú của những quân lính như nó đã từng làm ở Nam Hàn sau lệnh ngừng bắn trong quốc gia đó. Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh không có nghĩa nhất thiết là tất cả binh lính Hoa Kỳ sẽ được rút đi; một quan chức đã từng nói về những người Mỹ để lại phía sau “một lực lượng còn lại cho sự chiếm đóng dài hạn…”58 Điều nầy không phải là một nỗi sợ hãi không căn cứ, vì một số thành viên của chính quyền Nixon được biết là ủng hộ một lệnh ngưng bắn theo kiểu Hàn Quốc mà qua đó sẽ cho phép sự duy trì một lực lượng biểu hiện cho Hoa Kỳ.
Về phía Mỹ, chính quyền Nixon phản ứng vào mùa hè năm 1972 bằng những bước chủ động hầu phá vỡ sự bế tắc trước khi cuộc bầu cử tổng thống vào mùa thu đó. Thối lui xa khỏi lập trường trước đây của ông ta, ông Kissinger bây giờ chấp nhận rằng một thỏa thuận toàn diện sẽ xảy ra trước việc hoàn thành cuộc rút quân của Hoa Kỳ và việc trao trả những tù binh chiến tranh. Điều này là quan trọng đối với Bắc Việt vì làm yên lòng cuộc rút quân hoàn toàn của Hoa Kỳ. Ông Asselin viết: “Sự nhượng bộ này làm thỏa mản đòi hỏi cơ bản nhất của Hà Nội… Nó đảm bảo việc thoát ra của Mỹ và đạt được những đòi hỏi chính trị tối thiểu của nó trước khi từ bỏ con bài mặc cả cơ bản của nó, các tù binh chiến tranh của Mỹ.” Điều đó cũng có nghĩa rằng sẽ “không có hiệp ước đình chiến theo kiểu Triều Tiên và không có lực lượng Mỹ nào ở miền Nam Việt Nam sau cuộc hòa giải.”59
Sự thỏa thuận, theo một cách không định rõ được chấp nhận bởi Hoa Kỳ và miền Bắc Việt Nam vào tháng Mười năm 1972, là một chiến thắng ngoại giao cho Bắc Việt.

p201

Những điều khoản của dự thảo thỏa thuận tháng Mười có nghĩa là Washington sẽ không phải tháo bỏ chính phủ miền Nam Việt Nam, nhưng “sự cam kết của nó đối với chế độ Thiệu được dàn xếp một cách hiệu quả. Điều nầy cô lập ông Thiệu và chính phủ của ông ta và tương đương với sự từ bỏ họ. Trong việc chấp nhận các điều khoản này, Washington báo hiệu rằng cuộc viễn chinh ở Việt Nam đã chấm dứt.”60
Trong khi sự chấp nhận của họ về việc tiếp tục nắm quyền của ông Thiệu cho thấy Bắc Việt muốn sự thỏa thuận nhiều đến như thế nào, họ đã không thỏa hiệp những mục đích cách mạng của họ và, ngay cả khi nếu ông Thiệu còn tồn tại trong một thời gian ngắn, có chút lo ngại rằng Hoa Kỳ sẽ nhân danh ông ta can thiệp. Ông Asselin kết luận:

Nói một cách đơn giản, bản dự thảo thỏa thuận kết thúc sự tham gia của Mỹ ở miền Nam và cùng với điều đó là sự cam kết đối với [miền Nam Việt Nam], bắt buộc ông Thiệu và chính phủ của mình tiếp tục chống đỡ riêng mình. Sớm hay muộn, kết quả sẽ làm nghiêng cán cân quân sự và chính trị ở miền Nam về phía thuận lợi cho Cách mạng.61

Vì lý do đó, những phản đối của ông Thiệu đối với sự thỏa thuận là hợp pháp vì nó từ chối lời tuyên bố của chính phủ của ông ta về chủ quyền của miền Nam Việt Nam và dẫn đến việc xảy ra sau đó về cuộc vận động ngoại giao và quân sự qua hầu đạt được một thỏa thuận hời hợt giữa Hoa Kỳ, miền Bắc Việt Nam và miền Nam Việt Nam.

Thứ sáu, cuộc dội bom miền Bắc Việt Nam được bắt đầu lại –Chiến dịch Hàng phòng Vệ II– không mang lại sự thay đổi đáng kể nào trong Hiệp định và báo trước sự đổi mới của cuộc chiến tranh và chiến thắng cuối cùng của Bắc Việt. Khi Tổng Thống Thiệu phản đối kịch liệt các điều khoản của dự thảo thỏa thuận đạt được vào tháng Mười năm 1972, ông Nixon và ông Kissinger chuyển việc đổ lỗi cho những nhượng bộ của họ bằng cách yêu cầu rằng Hà Nội đồng ý với những thay đổi trong một thỏa thuận mà nó đã chấp nhận rồi. Khi Hà Nội lãng tránh, ông Nixon tung ra Chiến dịch Hàng phòng Vệ II. Chiến dịch thả bom dữ dội, cuối cùng này chống lại Bắc Việt Nam, vì vậy nó được tuyên bố bởi ông Nixon và ông Kissinger, cho phép họ buộc Hà Nội thực hiện những nhượng bộ. Nhưng trong thực tế, hiệp định của tháng Giêng năm 1973 được ký kết tại Paris khác biệt chỉ là trong những cách thức nhỏ nhặt từ bản dự thảo hiệp ước của ba tháng trước đó. Nhà báo Stanley Karnow viết rằng “chiến dịch thả bom kinh động của ông Nixon đã là dư thừa, ít nhất chỉ như là một công cụ ngoại giao.”62 Nhà sử học George Herring đồng tình là “cuộc dội bom không tạo ra một hòa giải khác biệt đáng kể từ một hòa giải mà Hoa Kỳ đã đàm phán trước đó… Những thay đổi từ hiệp định tháng Mười phần lớn là lớp phấn giả tạo bên ngoài, cho phép mỗi bên tuyên bố rằng không có gì bị từ bỏ.”63 Ngay cả một phụ tá của ông Kissinger, John Negroponte, sau đó lưu ý, với nhiều hơn là một chút mỉa mai, sự phi lý của Chiến dịch Hàng phòng Vệ II: “Chúng ta dội bom họ trở nên chấp nhận những nhượng bộ của chúng ta.”64
Chiến dịch Hàng phòng Vệ II gây cay đắng cho Bắc Việt, và lợi ích duy nhất của nó có thể đã là củng cố lại tinh thần chiến đấu của miền Nam Việt Nam. Bất kể là, ông Thiệu không có sự lựa chọn nào ngoài việc chấp nhận hiệp định (và việc lên kế hoạch cho một cuộc chiến tranh đổi mới vốn buộc phải tiến hành theo.)

p202

Mặc nhiên thừa nhận rằng hiệp định khiến cho miền Nam Việt Nam dễ bị tổn thương, ông Nixon xoa dịu ông Thiệu bằng cách hứa hẹn sẽ “đáp trả bằng toàn thể lực lượng” nếu Bắc Việt vi phạm những thỏa thuận. Để kiềm chế Hà Nội, ông Nixon bí mật hứa hẹn 3,25$ tỷ đồng trong việc hỗ trợ tái thiết. Những điều nầy là những lời hứa suông, phụ thuộc vào sự ủng hộ của Quốc hội và quần chúng vốn không thể nhận biết về điều đó, được đưa ra một ý nghĩa to lớn về việc cứu trợ mà qua đó kèm theo việc rút đi những quân lính chiến đấu cuối cùng của Mỹ và việc trao trả các tù nhân chiến tranh bị bắt giữ bởi Bắc Việt. Dân Mỹ nhất quyết quên đi cuộc chiến, như ông Nixon và ông Kissinger lẽ ra nhận biết. Vì vậy, sự thiếu thực tế của họ trong việc đối phó với Việt Nam tiếp tục đi đến sự chất dứt.
Thời điểm này là trọng tâm đối với sự tố cáo gay gắt về biện pháp gỡ thoát Hoa Kỳ của Nixon–Kissinger được cung cấp bởi Larry Berman trong cuốn sách “Không có Hòa bình, Không có Danh dự” (No Peace, No Honor) . Ông Berman lập luận rằng “sự phản bội” ở Việt Nam, như ông Nixon và ông Kissinger và những cây viết về “một chiến thắng bị đánh mất” tranh luận, không được tập trung ở Quốc hội; đúng hơn, chính là ông Nixon và ông Kissinger vốn là những người “phản bội” chính quyền ông Thiệu. Giống như các học giả khác, ông Berman chỉ trích Hiệp định Paris, qua việc gọi nó là “Hiệp định Vô nghĩa” –phức tạp đến buồn cười và không thể thi hành– mà qua đó chẳng khác gì là một cuộc bán tháo cho Bắc Việt và chắc chắn không phải là một sự biện minh về cuộc chiến tranh bốn năm. Ông ta viết: “chúng ta chỉ có thể kết luận rằng hàng chục ngàn người đã chết cho một việc rất ít… Ông Thiệu bị phản bội… bởi những người vốn giữ ông ta trong quyền lực và khiến cho ông ta phải ký kết cái gọi là hiệp định hòa bình.”65
Tất cả điều này chẳng khác gì đối với một “trò chơi bom đạn mang tính cách lịch sử to lớn” được đặt để bởi cặp bài trùng Nixon–Kissinger trên một ông Thieu không may mắn.66 Đi xa hơn những lời chỉ trích quen thuộc về Hiệp định Paris, lý luận về “sự phản bội” của ông Berman cho rằng ông Nixon và ông Kissinger, trong một tính toán sai lầm tai hại, không bao giờ có ý định chấm dứt sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Khi cả hai nhà lãnh đạo tranh luận trong các tác phẩm sau chiến tranh của họ, giá trị chính yếu của hiệp định là chính trị mà qua đó nó cung cấp một cơ sở cho việc biện minh một cuộc chiến tranh bắt đầu mới lại đối với Quốc hội và dân chúng Mỹ. Ông Kissinger sau đó tuyên bố:

[Điều gì] mà chúng tôi xét đoán sai trên tất cả những điều khác đó là xem chúng tôi có thể có được hòa bình trong danh dự, đó là chúng tôi sẽ đoàn kết dân chúng Mỹ vốn là những người sau đó sẽ bảo vệ hiệp định vốn đã được đạt đến bằng nổi đau đớn như thế. Đó là sự tính toán sai lầm trên cơ bản của chúng tôi. Điều đó không bao giờ xảy ra với tôi và tôi chắc chắn rằng nó không bao giờ xảy ra đối với Tổng thống Nixon, qua đó có thể có bất kỳ nghi ngờ về điều đó, bởi vì một hiệp định mà bạn không thi hành là một sự đầu hàng; nó chỉ viết xuống những điều khỏan đầu hàng.67

Ông Berman tìm thấy lập luận này không trung thực. Những kỳ vọng như thế, nếu chân thành, đã phản ảnh sự thiếu nhạy bén về chính trị về phần của ông Nixon và ông Kissinger. Những cuộc thăm dò dư luận được thực hiện vào đầu năm 1973 đã chứng tỏ rằng:
(A) hơn 50 % dân Mỹ không mong đợi chính quyền Sài Gòn tồn tại;
(B) trên 70% phản đối việc tiếp nối cuộc dội bom hoặc việc gởi đi những quân lính nếu Bắc Việt vi phạm Hiệp định Paris.

p203

Về điểm này, Walter Isaacson, một người viết tiểu sử chính về ông Kissinger, ủng hộ những ý luận của ông Berman: “ông Kissinger hoàn toàn biết rất rõ tâm trạng của một quốc gia mệt mỏi vì chiến tranh của ông ta, và ông ta không có ảo tưởng rằng nước Mỹ sẽ cho phép một loạt những can dự về quân sự bắt đầu lại.”68
Lời tranh luận của ông Nixon và ông Kissinger cho rằng vụ bê bối Watergate khiến quá suy yếu vai trò tổng thống mà qua đó không phải là ông Nixon hoặc cũng không phải là người kế nhiệm ông ta, Gerald Ford, có thể đáp trả một cách hiệu quả khi miền Nam Việt Nam phải chịu cuộc tấn công, là một lời giải thích đáng ngờ. Ông Isaacson bác bỏ điều đó như là một việc hợp lý hóa: “một khi Mỹ đã tìm thấy cách để thoát khỏi Việt Nam, không phải là Quốc hội hoặc cũng không phải là công chúng sẽ cho phép việc tham dự trở lại, dù có hoặc không có vụ Watergate.”69
Vì vậy, ông Nixon và ông Kissinger đã phản bội miền Nam Việt Nam với Hiệp định Vô nghĩa và lẫn lời hứa không thực tế về một cuộc chiến tranh được tiếp nối trở lại. Sau khi trích dẫn lời của một vị tướng Mỹ rằng “chúng ta đã để cho 39 triệu người rơi vào trong cảnh nô lệ,” ông Berman kết luận “điều đó như là một di sản của ‘hoà bình trong danh dự.’ “70
Vì thế, sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam vào năm 1975 cho thấy những thiếu sót của chính sách Nixon–Kissinger và các lực lượng chính trị cơ bản ở Việt Nam mà Hoa Kỳ không thể thay đổi. Sự thất bại của Quân đội miền Nam Việt Nam đưa ra sự đề kháng đối với việc xâm lược của Bắc Việt vào năm 1975 đã dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng, trong vòng chưa đầy hai tháng, của chính quyền Thiệu. Nhằm đề nghị rằng việc thêm vào viện trợ quân sự từ Hoa Kỳ đã có thể thay đổi kết quả đó, bỏ qua vấn đề 20 năm vô ích trong việc cố gắng bồi dưỡng một chính phủ miền Nam Việt Nam khả thi, những thiếu sót lâu đời của chính phủ đó, và khả năng phục hồi của những người nổi dậy miền Nam và Bắc Việt. Ông Nixon và ông Kissinger đã trì hoãn kết quả mà qua đó nếu không phải là không thể tránh khỏi, một kết quả vốn được báo trước bởi các lực lượng có lịch sử.

Tóm lược :

Trong cuộc tranh luận về chính sách Việt Nam của ông Nixon, những người theo phe xét lại tạo ra một trường hợp hợp lý về sự tiến triển to lớn hơn trên mặt trận quân sự so với sự thừa nhận theo những sự đánh giá truyền thống. Tuy nhiên, để công bố một “chiến thắng” khó được cho là hợp lý. Đáng kể là, những người theo phe xét lại ít chú ý đến các vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam và những phát triển bên trong Quân đội miền Nam Việt Nam. Để nhìn thấy một “chiến thắng,” tuy nhiên, là điều quan trọng đối với luận điểm cho rằng Việt Nam là một cuộc chiến tranh “có thể thắng được.” Và nó cũng là điều quan trọng trong những phần của một thông điệp cơ bản của chủ nghĩa xét lại: rằng dân sự kiềm chế của dân sự về quân sự trong suốt cuộc chiến tranh cần phải là tối thiểu.

p204

Do đó, ông Nixon có được sự tán thành của những người theo chủ nghĩa xét lại về việc cho phép những hoạt động vào trong Cam-pu-chia và Lào và cho việc giăng mìn ở cảng Hải Phòng, tất cả những việc mà ông Johnson đã bác bỏ. Khăng khăng với cách suy nghĩ của phe xét lại rằng sức mạnh của Mỹ đã được sử dụng một cách không đầy đủ trước đó, những bước chủ động này của ông Nixon được xem như là những bước thành công và quan trọng đi đến “chiến thắng.”
Ông Nixon và ông Kissinger có lẽ đã đúng, như những người theo phe xét lại lập luận, rằng một kết thúc đột ngột của cuộc chiến tranh vào năm 1969 là điều khả thi không phải về mặt chính trị hoặc cũng không phải về mặt ngoại giao. Họ đã thực sự đánh bóng với nhau một chiến lược hợp lý cho việc thoát ra dưới những hoàn cảnh đang cố gắng thử nghiệm; tuy thế, ông Nixon và ông Kissinger đã bị mắc kẹt bởi mức độ quan trọng của vấn đề mà họ thừa hưởng. Như những bài viết tường thuật của phe chính thống nhấn mạnh, họ thất bại nhận ra những hạn chế về khả năng của họ nhằm thay đổi cán cân quân bình của chính trị–quân sự ở miền Nam Việt Nam. Một khía cạnh đáng lo ngại nhất của các chính sách của họ vẫn còn những nghi ngờ về việc liệu sự thương lượng cuối cùng nhằm kết thúc chiến tranh của Hoa Kỳ có đáng giá bốn năm hy sinh liên tục những sinh mạng của người Mỹ và Việt Nam.
Các tác phẩm của ông Nixon và ông Kissinger đưa ra những lý do biện minh và những lý lẽ hợp lý hóa cho các quyết định của họ và sự thiếu thiện chí đáng chú ý thừa nhận bất kỳ khuyết điểm nào. Hồ sơ tài liệu, tuy nhiên, thì không quá tử tế như thế. Bất cứ điều gì mà họ đạt được ở Việt Nam không phải là “hòa bình trong danh dự,” hãy bỏ qua vấn đề “một chiến thắng bị đánh mất.”
(Ghi chú : p205-206)

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Chiến dịch Hàng Phòng Thủ : (Linebacker) là những chiến dịch dội bom miền Bắc Việt Nam từ khoảng giữa năm đến cuối năm 1972.
_ Chiến dịch Linebacker I : từ ngày 9/05–23/10/1972 : có sự tham chiến của Không lực VNCH và Hoa Kỳ.

Thiệt hại :
+ Hoa Kỳ : 134 máy bay bị bắn rơi.
+ QĐVNCH : 10 máy bay bị bắn rơi.
+ Bắc Việt : 68 máy bay bị bắn rơi.

_ Chiến dịch Linebacker II : từ ngày 18–20/12/1972 : chỉ là Không lực Hoa Kỳ.

Lực lượng :
+ Hoa Kỳ : 207 máy bay B-52 và 2.000 phi cơ hộ tống theo chiến thuật.
+ Bắc Việt : 23 tiểu đoàn phóng pháo SA-2, 50 phi cơ MiG.
Thiệt hại :
+ Hoa Kỳ : 16 B-52 và 12 phi cơ bị bắn rơi, và 43 tử thương và 49 bị bắt.
+ Bắc Việt : 6 phi cơ MiG bị bắn rơi.

pc 02_ Vụ bê bối Watergate : là một vụ bê bối về chính trị vốn xảy ra ở Hoa Kỳ trong thập niên 1970s như là kết quả của việc đột nhập vào tháng Sáu năm 1972 tại trụ sở chính của Ủy ban Dân chủ Quốc gia (Democratic National Committee = DNC) ở nhóm toà nhà văn phòng Watergate tại Washington, D.C., và sự che đậy không thành công của chính quyền Nixon về sự tham gia của mình. Vụ bê bối cuối cùng dẫn đến việc từ chức của Richard Nixon, vị Tổng thống của Hoa Kỳ, vào ngày 9 tháng Tám năm 1974, việc từ chức duy nhất của một vị Tổng thống Hoa Kỳ. Vụ bê bối cũng đưa đến sự truy tố trạng, xét xử, kết án và việc giam giữ 43 người, bao gồm hàng chục quan chức của chính quyền Nixon.
Vấn đề bắt đầu với việc bắt giữ năm người đàn ông cho việc đột nhập và bước vào trong trụ sở chính của Ủy ban Dân chủ Quốc gia ơ nhóm toà nhà văn phòng Watergate vào ngày 17 tháng Sáu năm 1972. Cục Điều tra Liên bang (FBI) liên kết vấn đề tiền mặt được tìm thấy trên các kẻ trộm đến một quỹ đen bất hợp pháp được sử dụng bởi Ủy ban Tái Ứng cử Tổng thống, là một nhóm vận động gây quỹ cho cuộc tranh cử của ông Nixon. Vào tháng Bảy năm 1973, khi bằng chứng tăng lên cao chống lại ban nhân viên của Tổng thống, bao gồm chứng được cung cấp bởi các cựu thành viên của ban nhân viên trong cuộc điều tra được tiến hành bởi Ủy ban Thượng viện Watergate, nó được tiết lộ rằng Tổng thống Nixon có một hệ thống băng ghi âm trong những văn phòng của ông ta và ông ta đã từng ghi lại nhiều cuộc trò chuyện. Những cuộc ghi âm từ những cuốn băng liên can đến tổng thống, qua việc tiết lộ rằng ông ta đã từng cố gắng che đậy những sự việc đang diễn ra thật đáng ngờ (và bất hợp pháp) mà qua đó đã từng xảy ra trong suốt vai trò quản trị của ông ta, cả trước và sau sự việc đột nhập. Sau khi một loạt những trận chiến tòa án cay đắng kéo dài, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ phán quyết rằng Tổng thống phải giao những băng ghi âm cho các nhà điều tra của chính phủ; cuối cùng ông ta phải tuân thủ.
Đối mặt với sự luận tội gần như chắc chắn ở Hạ viện và sự có thể của việc kết tội mạnh mẽ ở Thượng viện, ông Nixon từ chức vai trò tổng thống vào ngày 9 tháng Tám năm 1974. Người kế nhiệm của ông ta, là Gerald Ford, sau đó ban hành lệnh tha bổng cho ông Nixon.

pc 03_ VC : Việt Cộng.
pc 04_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 05_ Chiến dịch Lưỡi câu Vịt : (Operation Duck Hook) Lưỡi câu Vịt (được tên mật mã là “Dao Tỉa cành” bởi quân đội) là mật mã của Nhà Trắng về một chiến dịch của Tổng thống Richard Nixon mà qua đó đã từng đe dọa đưa ra chống lại miền Bắc Việt Nam trong suốt thời gian Chiến tranh Việt Nam, nếu Bắc Việt không nhân nhượng đối với những điều khoản của Washington tại cuộc đàm phán hòa bình Paris. Chiến dịch Lưỡi câu Vịt kêu gọi cuộc dội bom có thể là hạt nhân vào các mục tiêu quân sự và kinh tế trong và xung quanh Hà Nội, cuộc giăng mìn ở Hải Phòng và bến cảng khác, những cuộc không kích chống lại tuyến đông bắc của miền Bắc Việt Nam về hệ thống truyền thông tin tức cũng như những con đường thông thương và những cây cầu ở biên giới Trung Quốc, và các cuộc tấn công trên không và trên bộ vào các mục tiêu khác trên khắp Việt Nam.
Những tài liệu giải mật đã từng được tiết lộ cho thấy rằng Chiến dịch Lưỡi câu Vịt được xem là việc sử dụng những vũ khí hạt nhân. Một dữ liệu đính kèm vào bức thư ngắn báo tin từ Henry Kissinger cho ông Nixon hỏi, “Chúng ta có nên chuẩn bị sẵn sàng sử dụng vũ khí hạt nhân không?” Bức thư ngắn báo tin cảnh cáo rằng: “Kể từ khi chúng ta không thể tự tin dự đoán địa điểm chính xác ở nơi mà Hà Nội có thể có gần như phản ứng một cách tích cực, chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng để chơi nhạc tiễn đưa bất cứ là dây đàn cần thiết nào.” Bức thư ngắn báo tin của ông Kissinger cũng nói rằng: “Để đạt được hiệu quả đầy đủ của nó về cách suy nghĩ của Hà Nội, hành động phải thật tàn bạo.”
Một ít ngày trước đó, một tài liệu từ hai người trong số những phụ tá của ông Kissinger, Roger Morris và Anthony Lake, nói rằng Tổng thống phải được sẵn sàng “quyết định trước, một câu hỏi định mệnh về việc bao xa nữa chúng ta sẽ đi. Ông ta không có thể, thí dụ, đối đầu với vấn đề sử dụng những vũ khí hạt nhân theo chiến thuật ở giữa lúc thực hiện. Ông ta phải được chuẩn bị để chơi nhạc tiễn đưa bất cứ là dây đàn cần thiết nào trong trường hợp này.” Cách dùng từ giống như nhau trong bức thư ngắn báo tin của ông Kissinger làm rõ ràng là ông Kissinger đang đề cập đến vấn đề hạt nhân khi ông kêu gọi chơi nhạc tiễn đưa “bất cứ là dây đàn cần thiết nào.”
Ông Kissenger khuyến cáo chống lại Chiến dịch Lưỡi câu Vịt vào ngày 17 tháng Mười. Vào ngày 1 tháng Mười Một năm 1969, chính ông Nixon quyết định từ bỏ nó. Điều này theo như được báo cáo bởi vì:
_ Có những điều kiện hạn chế về sự hiệu quả tiềm năng của Chiến dịch Lưỡi câu Vịt;
_ Sự ủng hộ của công chúng cho cuộc chiến tranh tiếp tục giảm xuống;
_ Có những dấu hiệu lỡ lầm về chính trị; và
_ Vị Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird và vị Bộ trưởng Ngoại giao William P. Rogers phản đối sự leo thang quân sự

Đồng thời, ông ta hủy bỏ Chiến dịch Lưỡi câu Vịt, dường như là ông Nixon bắt tay vào một chiến lược mới để bắt đầu một “loạt biện pháp báo động về [hạt nhân] tăng thêm được trù tính hầu truyền đạt cho Liên Xô sự sẵn sàng gia tăng của những lực lượng chiến lược của Hoa Kỳ,” theo lời của người phụ tá của ông Kissinger, Đại tá Alexander Haig.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s