Phần 7: Cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p154

Phần 7: Cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân:
(Một chiến thắng Quyết định của Mỹ
hoặc sự Kéo dài Thời hạn bế tắc?)

Cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân là một sự kiện quyết định nhất về Chiến tranh Việt Nam, những bài tường thuật của phe xét lại và phe chính thống khác nhau một cách sâu sắc về ý nghĩa của chúng. Họ bất đồng ý trên các điểm cơ bản: Bên nào “chiến thắng” và tại sao? Những kết quả về chính trị-quân sự của các trận chiến của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân là gì?
Trong suốt mùa hè năm 1967, các nhà lãnh đạo Bắc Việt bắt đầu lên kế hoạch cho cuộc tấn công vào tháng Giêng năm 1968 vốn làm thay đổi chiều hướng của cuộc chiến tranh. Như được trù tính bởi Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Tướng Võ Nguyên Giáp, chính là một hoạt động táo bạo: những cuộc công kích đồng thời vào các thành phố của miền Nam Việt Nam trong suốt cuộc ngưng bắn hàng năm để cử hành dịp Tết, lễ năm mới theo âm lịch và lễ hội lớn nhất trong số những ngày lễ của Việt Nam. Trong lần đầu tiên, cuộc chiến tranh sẽ được đưa đến các khu vực đô thị. Đối với các nhà lãnh đạo ở Hà Nội, cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân có nhiều mục đích; lạc quan nhất là bằng cách chứng minh sự dễ tổn thương của chính phủ Sài Gòn và ân nhân Mỹ của nó, nó sẽ phát khởi một “cuộc tổng nổi dậy” giữa dân miền Nam Việt Nam. Họ sẽ nắm lấy chính nghĩa cộng sản, mà qua đó sẽ chứng minh một lần sau cùng tính bất hợp pháp của chính phủ miền Nam Việt Nam. Sự thành công của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân phụ thuộc vào trò mánh khoé lừa bịp và sự bất ngờ. Giai đoạn sơ bộ của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân bắt đầu vào cuối năm 1967 với các cuộc đột kích bất ngờ ở những vùng cao nguyên và các tỉnh phía bắc của miền Nam Việt Nam; những cuộc đột kích nầy có ý định thu hút những lực lượng Mỹ và miền Nam Việt Nam vào trong việc phòng thủ các tiền đồn hẻo lánh. Tầm quan trọng nhất của những cuộc tấn công nghi binh nầy là cuộc bao vây căn cứ Thủy quân Lục chiến (TQLC) của Hoa Kỳ ở Khe Sanh vốn bắt đầu vào ngày 21 tháng Giêng năm 1968. Trong số các nhà lãnh đạo Mỹ, cuộc tấn công vào trại quân 6.000 người ở Khe Sanh phát khởi sự bất đồng về việc liệu các nguồn tài lực nên được dành cho việc bám giữ căn cứ đó ở góc phía tây bắc của miền Nam Việt Nam, nằm ở vị trí 20 dặm từ Khu phi Quân sự và vào khoảng tám dặm từ biên giới Lào.

p155

Tổng thống Lyndon Johnson và Tướng William Westmoreland, tuy nhiên, nhanh chóng quyết định rằng Khe Sanh thuộc tầm trọng yếu chiến lược và thực hiện một cam kết nhằm bảo vệ nó bằng bất cứ giá nào. Trong suốt những cuộc tấn công vào Khe Sanh và các tiền đồn khác, lực lượng Việt Cộng xâm nhập những cán binh và các nguồn cung cấp vào trong những thị trấn và thành phố ở miền Nam Việt Nam. Họ trở thành một phần của đoàn người di chuyển hàng năm của những dân làng đến các thành phố để ăn mừng dịp Tết. Sau đó, vào ngày 30–31 tháng Giêng xuất hiện các cuộc tấn công bất ngờ trên khắp miền Nam Việt Nam, đập vỡ thỏa thuận ngưng bắn vào dịp Tết. Đánh vào 36 trong tổng số 44 thị xã và năm thành phố lớn khác, bao gồm Sài Gòn, các cuộc công kích của cộng sản mang chiến tranh vào trong các thành phố và thay đổi những động lực của cuộc xung đột. Cuộc tấn công vào Sài Gòn nhắm mục tiêu vào những biểu tượng thẩm quyền của Mỹ và chính phủ Sài Gòn: Đại sứ quán Mỹ, Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhất, Dinh Độc lập, và Tổng hành dinh của Ban tham mưu thuộc Quân đội miền Nam Việt Nam.
Trong điều kiện quân sự nghiêm ngặt, cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân dường như là một thất bại của cộng sản. Với một ngoại lệ, các lực lượng của Mỹ và miền Nam Việt Nam mau chóng lấy lại quyền kiểm soát các thành phố, thường là trong vòng hai hoặc ba ngày. Điều ngoại lệ là cuộc giao tranh kéo dài ở Huế, một đế đô lịch sử, vốn tiếp tục kéo dài trong một tháng trước khi những người Mỹ và miền Nam Việt Nam giữ được an ninh cho nó. Vã lại, không có “cuộc tổng nổi dậy” nào –công chúng không tập hợp để ủng hộ “những người giải phóng” của họ. Cuộc vây hãm ở Khe Sanh kéo dài cho đến đầu tháng Tư, trước khi Bắc Việt cuối cùng rút đi. Bên cạnh việc thất bại đoạt được lãnh thổ, những cán binh Việt Cộng và Bắc Việt gánh chịu những thương vong nặng nề, có lẽ khoảng 40.000 cái chết trên chiến trường, so với vào khoảng 1.100 binh lính Mỹ và 2.300 chiến sĩ miền Nam Việt Nam.
Cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, tuy nhiên, hóa ra lại là một chiến thắng chính trị cho Việt Cộng và Bắc Việt. Nó xảy ra ngay sau khi Tổng thống Johnson đã bắt đầu thuyết phục công chúng Mỹ rằng cuộc chiến tranh đang giành được thắng lợi. Vào cuối năm 1967, ông Johnson phát động một Chiến dịch Chiến thắng trong quan hệ công chúng như là một phương thức chống lại sự phản đối chiến tranh đang dâng cao giữa công chúng Mỹ, giới ưu tú trong chính sách ngoại giao, và các thành viên của Quốc hội. Ông Johnson triệu tập ông Westmoreland và Đại sứ Ellsworth Bunker trở về nước; trong các bài diễn văn và các cuộc phỏng vấn, họ nhìn thấy trước chiến thắng ở đường chân trời. Ngay sau khi ông Westmoreland và ông Bunker trở lại Sài Gòn, những người Mỹ cảm thấy hoảng hốt bởi cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Năng lực của kẻ thù tung ra một cuộc tấn công có tầm cở như thế đã chứng minh khả năng phục hồi và sự kiên định của nó đối với những người Mỹ vốn là những người chứng kiến lần đầu tiên –do cuộc tường thuật mở rộng của truyền hình– những cuộc tấn công gây sửng sốt lúc ban đầu vào Sài Gòn và các thành phố khác. Cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân đang làm mất tinh thần chiến đấu đối với những người Mỹ và được thêm vào các xu hướng giảm sút trong sự ủng hộ cho chiến tranh và niềm tin vào vai trò lãnh đạo của ông Johnson.

p156

Với nền tảng chính trị của mình đang bị xói mòn, ông Johnson từ chối lời yêu cầu của ông Westmoreland và Ban Tham mưu Kết hợp cho 206.000 quân lính thêm và đưa ra một bước quyết định để bắt đầu cho việc thoát ra của Mỹ. Vào ngày 31 tháng Ba, ông Johnson tuyên bố việc chấm dứt cuộc thả bom gần như tất cả miền Bắc Việt Nam, một cam kết nhằm theo đuổi các cuộc đàm phán, và việc rút lui của ông ta khỏi cuộc đua tổng thống cho năm 1968. Hai tháng trước đó, một sự thay đổi gây xúc động như thế trong chính sách của Mỹ có thể là dường như khó thể tưởng tượng được. Chính là kết quả trực tiếp của tác động gây choáng váng của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân trên công chúng Mỹ và các nhà lãnh đạo của họ.
Chương này khám phá sự bất đồng sâu sắc giữa phe xét lại và phe chính thống về những hậu quả quân sự và chính trị của hàng loạt trận chiến quan trọng nhất của chiến tranh. Mặc dù những cây viết của phe xét lại và lẫn phe chính thống chấp nhận kết quả chủ yếu của “sự thất bại về quân sự, chiến thắng về chính trị” của Bắc Việt / Việt Công, họ không đồng ý về mức độ “bại trận” và xem “chiến thắng” là việc có thể tránh được. Theo cách giải bày của phe xét lại, sự bại trận của cộng sản gây ra thảm hại, với những sự việc theo sau dài hạn đáng kể. Theo cách phân giải của chính thống, sự thất bại của cộng sản là tạm thời với những mất mát vốn có thể thay thế được. Trong việc giải thích của phe xét lại, phản ứng trong nước đối với cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân bị hướng dẫn sai lạc và về cơ bản không hợp lý và dẫn đến việc từ bỏ một cơ hội để khai thác yếu điểm của đối phương. Cuộc tường thuật của giới truyền thông không chính xác về cuộc giao tranh được xem như là gây hiểu lầm cho công chúng Mỹ nhìn thấy cuộc bại trận, chứ không phải chiến thắng. Những quan chức thiếu quyết tâm ở Washington lãng phí lợi thế quân sự đưa đến kết quả từ cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Theo cách giải bày của phe chính thống, phản ứng trong nước phản ảnh một đánh giá chính xác về những hậu quả chính trị và quân sự của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân và thúc ép việc đánh giá lại quá hạn đã lâu về chiến lược và các mục đích của Hoa Kỳ, dẫn đến một quyết định hợp lý để bắt đầu việc thoát ra.1

A- Phe xét lại: Sự thất bại Khai thác Lợi thế Quân sự:

Việc giải bày của phe xét lại về cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân tích hợp các chủ đề quen thuộc: sự ưu thế quân sự của Mỹ, tính chất dễ bị tổn thương của đối phương, việc tường thuật không thuận lợi của giới truyền thông, và ban lãnh đạo dân sự thiếu khả năng. Như đối với những khía cạnh khác của phe xét lại, sự giải thích về cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân bắt nguồn trong các tác phẩm của những sĩ quan quân sự vốn là những người phục vụ ở Việt Nam. Trong cuốn sách của mình, “Cuộc chiến tranh 25-Năm” (The 25-Year War), Tướng Bruce Palmer trình bày một lập luận cơ bản:

Mặc dù nó đã kết thúc như là một chiến thắng về quân sự của đồng minh ở Việt Nam, ở quê nhà nó đưa đến kết quả trong sự bại trận về chính trị và tâm lý đến choáng váng cho Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa. Đối với Hà Nội, đó là điều ngược lại, sự bại trận về quân sự trên chiến trường theo những tỷ lệ lớn, mà qua đó bao gồm sự hủy diệt gần như hoàn toàn cấu trúc chính trị dưới lòng đất của Việt Cộng ở miền Nam Việt Nam, nhưng, về tác động to lớn hơn nhiều, một chiến thắng quyết định về chính trị. Từ đó về sau, Hà Nội chủ yếu dựa vào Quân đội Bắc Việt để chinh phục miền Nam Việt Nam.2

p157

Trong bài viết tường thuật của mình về chiến tranh, “Những âm thanh Triệu tập của tiếng Kèn” (Summon of the Trumpet), Tướng Dave Richard Palmer, một cựu chiến binh Việt Nam khác, đưa ra một tóm lược tương tự:

Cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân là một bại trận thảm hại nhất mà miền Bắc Việt Nam phải chịu đựng trong cuộc Chiến tranh dài. Thật nghịch lý, đó cũng là một chiến thắng vang dội nhất của miền Bắc. Để tìm lời giải thích cho sự đổi hướng kỳ lạ của những sự kiện, người ta phải khám phá không chỉ về những khía cạnh quân sự và chính trị của chiến tranh, mà còn về tâm lý. Các cuộc đụng độ của các lực lượng chiến đấu trên chiến trường tạo ra một kết quả về chiến thuật, quân sự –việc đánh bại miền Bắc Việt Nam– hoàn toàn trái ngược đối với sự thu hoạch về chiến lược, tâm lý của nó ở Washington –cuộc chiến thắng dành cho Bắc Việt.3

Lý luận của những người chủ trương được xây dựng trên năm quan điểm liên quan:
_ Thứ nhất, cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân là một hoạt động sai lạc của một đối phương tuyệt vọng;
_ Thứ hai, những lực lượng của Mỹ và miền Nam Việt Nam đã giáng đòn đánh bại quyết định trên Bắc Việt và Việt Cộng;
_ Thứ ba, biến cố ngày Tết Mậu Thân đánh dấu một bước ngoặt đối với người miền Nam Việt Nam, vốn là những người đứng phía sau chính phủ của họ và quân đội của họ chiến đấu một cách hiệu quả;
_ Thứ tư, giới truyền thông bị bóp méo một cách tồi tệ những trận đánh trong biến cố Tết Mâu Thân, khiến những người Mỹ đi đến kết luận rằng cuộc tấn công là một thất bại;
_ Thứ năm, cơ hội để khai thác chiến thắng qua biến cố Tết Mậu Thân bị mất đi khi ông Johnson nhượng bộ những áp lực trong nước và bắt đầu việc thoát ra.

Thứ nhất, và cơ bản đối với phe xét lại là luận điểm cho rằng cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân là một kế hoạch liều lĩnh, kém nhận thức về quân sự .4 Trong mùa hè năm 1967 khi việc lên kế hoạch cho dịp Tết bắt đầu tại Hà Nội, các nhà lãnh đạo Bắc Việt đang hoạt động từ một vị thế yếu đuối; họ nhận ra rằng những thương vong nặng nề và cuộc chiến tranh thiếu quyết đoán đang xói mòn tinh thần cán quân và rằng hoạt động dội bom và chiến dịch tìm-kiếm-và-tiêu-diệt đang làm suy yếu hệ thống hậu cần của cộng sản ở miền Nam Việt Nam. Cuộc thả bom miền Bắc Việt Nam của Mỹ đã gây ra sự thiệt hại rộng lớn, đã nhất thiết đòi hỏi việc phân chia lại ào ạt các nguồn tài lực và nhân lực để sửa chữa những hoạt động, và có tiềm năng gây ra sự suy giảm lao nhanh trong tinh thần của công chúng. Hơn nữa, những mất mát trong sản xuất đưa đến từ cuộc dội bom thiết yếu đòi hỏi sự phụ thuộc gia tăng vào Liên Xô và Trung Quốc cho những vũ khí, dầu, và các nguồn cung cấp. Sự phụ thuộc này đang gây phiền hà trong bất kỳ sự kiện nào, nhưng bị nguy ngập thêm do những vấn đề khó khăn bên trong thế giới cộng sản. Trung Quốc phải bận lo bởi cuộc Cách mạng Văn hóa phân rẽ, trong khi những mối quan hệ Trung-Xô bị căng thẳng một cách tồi tệ trên các vấn đề địa dư chính trị và ý thức hệ. Bắc Việt muốn tránh đứng về phía một trong hai là Liên Xô hoặc Trung Quốc, nhưng họ không có thể làm vui lòng cả hai người đỡ đầu của họ, vì Trung Quốc muốn họ tiếp tục chiến đấu một cuộc chiến tranh du kích kéo dài và tránh các cuộc đàm phán, trong khi Liên Xô thì nghiêng nhiều hơn về việc khuyến khích một cuộc chiến tranh đô thị và thương lượng với Hoa Kỳ. Cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân hứa hẹn một kết thúc sớm cho chiến tranh, do đó cung cấp một sự “sửa chữa nhanh chóng ” đối với những vấn đề khó khăn về nội bộ và quốc tế.

p158

Việc lên kế hoạch, tuy nhiên, là quá mức lạc quan và vi phạm những nguyên tắc cơ bản về quân sự. Được tiến hành trước đó bởi các cuộc tấn công nghi binh ở các khu vực nông thôn, lực đẩy chính yếu của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân là mang chiến tranh đến các thành phố, qua “[việc] đánh trực tiếp đối phương trong hang ổ sâu nhất của chúng” và việc phát khởi một cuộc tổng nổi dậy giữa dân cư miền Nam. Bắc Việt tính toán rằng miền Nam Việt Nam thật dễ bị tổn thương, như là một kết quả của những chia rẽ chính trị đưọc dâng cao bởi các cuộc biểu tình phản đối của Phật giáo, những cuộc tản cư xã hội bị gây ra bởi chiến tranh, và sự xói mòn tinh thần chiến đấu của quân đội miền Nam Việt. Phải đối mặt với các cuộc tấn công của Cộng sản vào các thành phố, những đơn vị quân sự của miền Nam Việt Nam sẽ rạn nứt và công chúng sẽ nổi dậy. Sự ký vọng nầy của cuộc nổi dậy đã chứng minh là một tính toán sai lầm nghiêm trọng; theo những lời của một người theo phe xét lại: “việc mơ tưởng, mưu toan trong thế giới khép kín về thần thoại và tưởng tượng của họ, hệ thống phân quyền của Hà Nội đào cái bẫy của riêng họ khi họ cố gắng lặp lại những thành công trong quá khứ của họ.”5
Một lỗi khác về việc lên kế hoạch của Hà Nội được bắt nguồn từ đầu. Yếu tố mánh khoé lừa bịp và bất ngờ rất quan trọng đối với sự thành công, nhưng Bắc Việt phân chia thêm những nguồn tài lực cho các thế chủ động phân tán sự chú ý hơn là một cuộc đột kích chính yếu vào các thành phố. Lỗi này là kết quả từ việc đánh giá quá cao sức mạnh của cộng sản bên trong miền Nam Việt Nam và khả năng bừng lên một cuộc tổng nổi dậy. Sự can dự quá mức nầy vào các cuộc tấn công theo nghi binh, mỉa mai thay lại tác dụng cho lợi thế của Bắc Việt theo một cách rất quan trọng: nó khiến cho sự phát hiện của Mỹ về những cuộc tấn công chính yếu gần như kém khả năng hơn. Việc đạt được yếu tố bất ngờ trong suốt cuộc đột kích phản ảnh một sự thất bại của tình báo Hoa Kỳ, nhưng điều đó có thể hiểu được. “Đối với các đồng minh tiên đoán về cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân,” James Wirtz viết trong một cuốn sách lịch sử đầy đủ nhất về tình báo trước khi có biến cố Tết, “Họ có lẽ sẽ phải vượt qua vấn đề gay go nhất vốn có thể đối đầu với những phân tích của tình báo: họ sẽ phải nhận ra rằng kế hoạch cho cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân được dựa trên một sai lầm của cộng sản.”6 Ông Wirtz tiếp tục lập luận rằng nếu tình báo Hoa Kỳ phát hiện những kế hoạch, Hoa Kỳ có thể đã ngăn chận các cuộc tấn công vào các thành phố và gây ra một cuộc đánh bại thậm chí còn tàn phá nhiều hơn vào đối phương.

Thứ hai, một phần như là kết quả của việc lên kế hoạch kém cỏi của cộng sản, cuộc công kích dịp Tết vào các thành phố đưa đến một chiến thắng quyết định cho các lực lượng của Mỹ–miền Nam Việt Nam . Bằng cách nhanh chóng lấy lại quyền kiểm soát các thành phố (ngoại trừ đối với Huế) và gây ra những thương vong đáng kể trên Việt Cộng và Bắc Việt, những lực lượng của Mỹ và miền Nam Việt Nam đánh tan vỡ những mục tiêu của cộng sản. Và trận chiến kéo dài một tháng ở Huế, mặc dù được đánh dấu bởi sự hủy hoại khổng lồ và những thương vong nặng nề, đã kết thúc trong một chiến thắng quyết định của những người Mỹ–miền Nam Việt Nam. Sau khi trận chiến của Huế kết thúc, những chiến sĩ của miền Nam Việt Nam làm một khám phá khủng khiếp: một số khoảng 3.000 người thường dân ủng hộ hoặc những người bị nghi ngờ có cảm thông với chính phủ Sài Gòn đã bị hành quyết một cách vội vã bởi Bắc Việt và Việt Cộng.

p159

Sự tàn bạo này làm mất uy tín bất kỳ tuyên bố nào đối với tính hợp pháp của cộng sản và cũng báo trước điều gì sẽ xảy ra nếu họ chiến thắng chiến tranh. Trong suốt cuộc giao chiến vào dịp Tết Mậu Thân, Việt Cộng đặc biệt gánh chịu những mất mát thảm hại, hầu như chấm dứt sự tồn tại của nó như là một lực lượng chiến đấu.7
Việc lên kế hoạch đầy khiếm khuyết của Bắc Việt trở thành hiển hiện khi cuộc tấn công bị sụp đổ: rõ ràng những lực lượng cộng sản đã được trải ra quá mỏng không thể có hiệu lực. “Cuộc tấn công của Bắc Việt là một sự thất bại vang dội,” Đại tá Harry Summer viết, “họ mở rộng… vào khoảng một nửa toàn bộ sức mạnh của họ… mà không có bất kỳ lợi ích rõ ràng. Bắc Việt đã vi phạm nguyên tắc của Số Đông và họ phải trả một cái giá có thể đoán được.”8 Dave Richard Palmer cho biết thêm: “Theo chiến lược, bằng cách tấn công mọi nơi, ông Giáp không có một sức mạnh siêu việt ở bất cứ nơi nào. Chỉ đơn giản nói rằng, ông ta thất bại tập trung những lực lượng của mình, một lỗi lầm chiến lược mà ông ta nhúng tay vào một cách cố ý, nhưng tuy thế là một lỗi. Những chiến thắng về quân sự không giành được bằng cách vi phạm những nguyên tắc quân sự.”9

Thứ ba, biến cố dịp Tết tượng trưng cho một bước ngoặt cho chính phủ miền Nam Việt Nam, chứ không phải bị lật đổ bởi một cuộc nổi dậy của quần chúng như ý thức hệ của cộng sản nhìn thấy trước, chính phủ vượt ra khỏi những trận đánh dịp Tết trở thành mạnh mẽ nhiều hơn . Để chắc chắn, quân đội miền Nam Việt Nam và dân chúng bị dao động dưới sự công kích khởi đầu của cuộc tấn công, nhưng họ cho thấy ý chí chính trị lớn hơn so với trước đó và cuối cùng họ đã gặp thách thức. Chính phủ Sài Gòn có được sự tín nhiệm đối với người dân của riêng họ và sự tự tin trong khả năng của mình để thắng thế trên những người cộng sản. Trước dịp Tết, chính phủ Sài Gòn gần như không có một cơ hội sống còn nào nếu không có sự hỗ trợ của Mỹ trên quy mô lớn, nhưng sau đó những triển vọng của nó cho một thành công dài hạn thì đáng kể nhiều hơn. Quân đội miền Nam Việt Nam phần lớn được phê bình đã chiến đấu một cách hiệu quả, anh hùng tại các địa điểm. Những đơn vị của nó chịu đựng mũi dùi của các cuộc tấn công, nhưng hầu hết các chiến sĩ vẫn còn lòng trung thành và chiến đấu để giành lại các thành phố. Trong nhiều trận đánh dữ dội, những đơn vị giỏi nhất của Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) –như sư đoàn Dù và nhiều sư đoàn Biệt động Quân của nó– gánh chịu những mất mát nặng nề nhưng cuối cùng đã thắng thế. Một cựu chiến binh và là sử gia về chiến tranh, Đại úy Shelby Stanton viết rằng: “những lực lượng vũ trang của người miền Nam Việt Nam đã làm việc tuyệt vời nếu suy xét về cường độ của trận chiến và sự rối loạn gây ra từ sự bất ngờ. Ở nhiều vùng của đất nước, đó là một trận chiến dữ dội nhất từng được kinh nghiệm qua. Tết-68 vì thế, đẩy mạnh QĐVNCH trở lại vào trong tuyến đầu của cuộc chiến tranh…”10
Quan trọng nhất là, những cuộc công kích của cộng sản tung ra một cảm giác của lòng nhiệt thành yêu nước trong số người dân miền Nam Việt Nam. “Chưa bao giờ sự quan hệ giữa người dân và những lực lượng vũ trang, và người dân và chính phủ đã từng gần gũi đến thế,” một vị Tướng về hưu, Phillip Davidson, viết trong cuốn sách “Việt Nam đang có Chiến tranh” (Vietnam at War), “[đối với] biến cố Tết Nguyên đán, Chính phủ Việt Nam đã chiến thắng một trận đánh lớn cho tâm-và-trí của những người dân miền Nam Việt Nam.”11 Tương tự như vậy, Bruce Palmer, nhấn mạnh về việc tinh thần hăng hái nầy như thế nào khiến chính phủ Sài Gòn trở nên tin chắc hơn về nền tảng bản chính trị của nó và lẫn quyết tâm hơn trong việc chiến đấu chống lại những người cộng sản:

p160

[Trong] lần đầu tiên chính phủ Sài Gòn cảm thấy đủ tự tin về sự ủng hộ của công chúng để ra lệnh tổng động viên, và vô số thanh niên trẻ tình nguyện phục vụ trong lực lượng vũ trang. Đây là một cải tiến rất đáng kể bởi vì nó có nghĩa là chính phủ bây giờ có thể không chỉ duy trì những quân lính thường xuyên và những lực lượng an ninh khác của nó, mà còn mở rộng sức mạnh của những lực lượng. Thật ra, Tổng Thống Thiệu đã đi qua xa khi khởi động sự hình thành của một lực lượng nhân dân tự vệ rất to lớn cho toàn quốc, và cung cấp cho họ vũ khí và đạn dược.12

Thứ tư, do việc tường thuật thiếu chính xác trên truyền hình và báo chí, công chúng Mỹ không hiểu được kết quả thực sự của cuộc tấn công của cộng sản; họ nhìn thấy sự bại trận, không phải là chiến thắng . Nói chung, những người chủ trương xét thì hay chỉ trích cuộc tường thuật của giới truyền thông về Chiến tranh Việt Nam, nhưng không có một khía cạnh nào về của cuộc xung đột là bản cáo trạng gay gắt hơn của họ so với dịp Tết. Cả ông Johnson và ông Westmoreland thấy chính mình như là những nạn nhân của giới truyền thông vô trách nhiệm. Trong hồi ký của mình, ông Johnson viết về “những bài tường thuật ghê gớm và gây ra chán nản” và về “vật chướng ngại hàng ngày của sự thất vọng và gần như thất bại” mà qua đó khiến công chúng suy nghĩ “rằng chúng ta đã từng gánh chịu một cuộc bại trận.”13 Tiêu biểu khía cạnh này về cách giải bày của người theo phe xét lại là George Donelson Moss vốn là người viết trong cuốn sách “Việt Nam: Một thử thách của Mỹ” (Vietnam: An American Ordeal): “Phạm vi, quy mô, và cường độ của cuộc tấn công dịp Tết của Việt Cộng làm choáng váng hầu hết những người Mỹ. Ban đêm, tin tức truyền hình chiếu những cảnh và âm thanh… về các trận đánh… vào trong phòng khách người Mỹ sống… Ban đầu là những câu chuyện qua bức điện thư, sau đó chỉnh sửa, phóng đại những thành công của Cộng sản, góp phần cho một cảm giác được chia sẻ rộng rãi rằng biến cố Tết đã từng là một thảm họa cho đồng minh.”14
Dẫn đầu những lời chỉ trích của giới truyền thông là một người của riêng nó: Peter Braestrup, tác giả của một nghiên cứu cho hai pho sách khổng lồ về sự tường thuật biến cố Tết có tựa đề là “Câu chuyện Lớn” (Big Story). Ông Braestrup, vốn là người đã tường trình chiến tranh cho cả hai tờ báo New York TimesWashington Post, phân tích những bài tường thuật trên báo chí và truyền hình về cuộc tấn công và tìm thấy một mô hình hiểu sai lầm về những phát triển quân sự và chính trị. Trái ngược với những tuyên bố thông thường của phe xét lại về thành kiến chống chiến tranh giữa các nhà báo và ban biên tập, ông Braestrup cho rằng những câu chuyện không chính xác về biến cố Tết gây ra kết quả từ sự thiếu chuẩn bị của các phóng viên, và sự hiểu biết về các sự kiện đáng ngạc nhiên của đầu năm 1968. Bất kể những lý do gì, việc tường thuật chuyển tải những ấn tượng sai lầm về người Mỹ và người miền Nam Việt Nam trong cuộc rút lui và phân tán và về khả năng phục hồi và thành công của Bắc Việt và Việt Cộng. Trong khi một bằng chứng áp đảo được trích dẫn trong danh mục của ông Braestrup về việc tường thuật sai lạc nâng cao hiệu quả hoạt động của những lực lượng Mỹ, ông ta cũng phê bình giới truyền thông về việc đôi khi không nhận ra một vài thiếu sót của các hoạt động quân sự của Hoa Kỳ. Thông điệp của ông ta, tuy nhiên, thì rõ ràng: “cuộc tường thuật của truyền hình về cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân chuyển hướng khỏi thực tế một cách rộng rãi” theo những cách vốn gây bất lợi cho chính nghĩa của Mỹ.15

p161

Việc tường thuật về những hoạt động của đối phương, ông Braestrup lập luận đầy đủ chi tiết, là thiện chí thiếu nhận định phê bình.16 “Người ta tìm kiếm trong vô vọng qua những mô tả của hầu hết giới truyền thông về kẻ thù, cũng như ngay cả vào trong tháng Ba năm 1968,” ông Braestrup viết, “vì những dấu hiệu cho thấy rằng việc lên kế hoạch, chiến thuật, thực hiện, lòng nhiệt tình và đủ loại vũ khí của đối phương thì kém hơn sự hoàn hảo.”17 Giả như vô số những sai lầm và những tính toán sai lạc của Bắc Việt được bỏ qua, bao gồm sự thất bại khai thác yếu tố bất ngờ đạt được trong các cuộc tấn công trước đó. Nhìn kỹ vào bài tường thuật trên tờ báo New York Times, ông Braestrup viết rằng “nhìn tổng quát… có một ít gợi ý mà trong đó những phân tích của báo chí hoặc bài tường thuật về chiến trường rằng kẻ thù là bất cứ thứ gì ngoại trừ tính chất khôn ngoan, gan lì, không thể sai lầm, và khả năng gây ra đe dọa, và trong đó xem báo chí có phần lớn cộng sự.”18 Trong số các tạp chí lớn, TimeNewsweek cũng tương tự thế, ca tụng sức mạnh và quyết tâm của đối phương.
Sự việc làm trầm trọng thêm vấn đề là việc đánh giá thấp của giới truyền thông về tầm quan trọng của sự thành công về quân sự của Mỹ và miền Nam Việt Nam.19 Cuộc bao vây 77-ngày tại Khe Sanh được dựng lên hình ảnh như là một “thảm họa trong việc thực hiện.” Một cách không ngừng Bắc Việt tấn công vào căn cứ TQLC(pc 01) của Hoa Kỳ được so với chiến thắng quyết định của Việt Minh trên đồn trú của Pháp tại trận chiến Điện Biên Phủ năm 1954; giả như những khác biệt rõ ràng được bỏ qua giữa hai trận đánh. Việc xem căn cứ Khe Sanh qua những ống kính của Điện Biên Phủ khiến các phóng viên trình bày TQLC như là chịu quyền gia ân của lực lượng Bắc Việt và phóng đại những mất mát của Mỹ. Tương tự như thế, tác động của cuộc tấn công vào chương trình bình định ở những khu vực nông thôn có xu hướng được trình bày theo những ngôn ngữ đơn giản hóa hơn. Việc bỏ qua những sự phát triển phức tạp về chính trị ở những khu vực nông thôn, công cuộc bình định được xem như đã bị phá vỡ, do đó là việc giải quyết một trở ngại nghiêm trọng đối với những nỗ lực của Mỹ–miền Nam Việt Nam để giành được “tâm và trí.”20
Trong khi Bắc Việt đã được dựng lên hình ảnh trong những ngôn ngữ anh hùng, cuộc tường thuật về Quân đội miền Nam Việt Nam bỏ qua sự hiệu quả của nó, đưa ra lời khen ngợi mờ ám nhất cho những thành tích không mong đợi.21 Bất kể sự bới móc lâu đời của giới truyền thông về ban lãnh đạo tham nhũng của QĐVNCH, (pc 02) việc huấn luyện không đạt tiêu chuẩn, và tỷ lệ đào ngũ cao, quân đội ở lại phòng tuyến trong suốt biến cố Tết: “những hoạt động hiệu quả của các đơn vị miền Nam Việt Nam làm thay đổi một cách rộng lớn dưới sự choáng váng, nhưng, đại để là, sự đề kháng dũng cảm của họ là một yếu tố thiết yếu trong sự thất bại về quân sự của Hà Nội.”22 Một phần đáng chú ý đến việc tường thuật sai lạc về trận chiến Khe Sanh đó là nó bỏ qua sự đóng góp của QĐVNCH. Howard K. Smith của đài ABC News, một nhà báo kỳ cựu vốn là người ngày càng vỡ mộng bởi điều gì đó mà ông ta xem là một cuộc tường thuật không chính xác của những đồng nghiệp mình, sau đó phát biểu rằng trận chiến Khe Sanh đã nổ ra trong nhiều tuần “trước khi phóng viên tiết lộ rằng người miền Nam Việt Nam đang chiến đấu ở những phía của chúng ta và rằng họ có những thương vong cao hơn… Chúng ta chỉ cho thấy những hình ảnh ngày nầy đến ngày khác của những người Mỹ phải chịu cái địa ngục đá họ ra khỏi lực lượng.”23

p162

Liên quan đến sự hoạt động hiệu quả của chính phủ Sài Gòn, những bài báo nhắc lại một chủ đề quen thuộc mà nó thiếu sự ủng hộ của quần chúng. Bị bỏ qua khả năng phục hồi bất ngờ của nó, mà qua đó bao gồm sự sống còn của cơ cấu hành chính và năng lực của nó để đối phó với các vấn đề được đặt ra bởi một số khoảng 500.000 người lánh nạn mới ở giữa sự hủy hoại to lớn của đô thị.
Không có một hình ảnh nào của quân đội miền Nam Việt Nam phù hợp với tác động của bức ảnh chụp được của Eddie Adams được xem rộng rãi và đoạn phim truyền hình về Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan hành quyết miễn xét xử một sĩ quan Việt Cộng bị bắt được trên đường phố Sài Gòn. Những lý do cho sự nổi bật được đưa đến cho bức ảnh trên các tờ báo Mỹ và cho đoạn phim của chương trình tin tức buổi tối của NBC và ABC thì, ông Braestrup thừa nhận, không rõ ràng. Ông ta hỏi: có phải nó cho thấy sự khủng khiếp của chiến tranh như biên tập viên về hình ảnh của tờ New York Times tuyên bố? Có phải chăng bức ảnh chụp được và phim ảnh truyền đạt thông tin gì? Và sau đó ông ta trả lời: “rằng một vị Trưởng cuộc cảnh sát can đảm nhưng mệt rã rời, với một lịch sử bất ổn về cảm xúc, một cách không tha thứ bắn vào kẻ thù được phủ trong lớp quần áo dân sự trong sức nóng của trận chiến? Rằng các đồng minh miền Nam Việt Nam của chúng ta có khuynh hướng tàn ác? Rằng những người Á châu đánh giá trị cuộc sống một cách rẻ mạt? Rằng miền Nam Việt Nam là một nhà nước cảnh sát tàn bạo?” Trong khi tính chất độc đáo của câu chuyện (ghi nhận việc giết chóc tàn bạo) và không phải là chính trị có thể quy cho sự nổi bật của nó, một thông điệp ngầm là đưa ra những câu hỏi về đạo đức của đồng minh của Mỹ.24
Trong một phân tích được mở rộng về ảnh hưởng của việc bắn người của ông Loan, David Culbert, một sử gia về giới truyền thông, cho rằng bức ảnh và phim ảnh có một tác động chống chiến tranh sâu sắc.25 Chính việc hư cấu về vụ việc –một thanh niên Việc Cộng không có khả năng tự vệ mặc quần ngắn màu đen và áo sơ mi kẻ sọc với chéo áo của nó đang vỗ trong gió, ông Loan cánh tay dang ra của mình chĩa một khẩu súng lục cách một ít đốt tay từ đầu của nạn nhân, sự nhăn mặt rõ ràng các của kẻ bị bắt trong dự đoán của cái chết chắc chắn– được theo sau bởi tiếng súng, máu phun ra từ đầu, cái chết tức thời và thể xác sụp xuống truyền đạt, như một bài tường thuật mô tả về nó, “một công lý thô thiển trên đường phố Sài Gòn.” Với những bài tường thuật trên báo chí và truyền hình không trình bày bất kỳ bối cảnh nào về việc bắn người, nhiều người Mỹ mặc nhiên đồng ý với một nghị sĩ vốn là người đã phản đối rằng không có gì “có thể biện minh hay tha thứ cho những hành động… mà chúng chìm xuống đến mức độ này. Việc giết người, tra tấn những tù nhân là điều khủng khiếp và không phải kiểu Mỹ.” Tại một thời điểm không có gì chắc chắn của công chúng rộng lớn, việc bắn người của ông Loan cung cấp một động lực cho nhiều người Mỹ để kết luận rằng chiến tranh là điều sai lầm. Ông Culbert kết luận:

Cảnh quay và những bức ảnh về ông Loan làm hợp thức hóa những lý luận đạo đức của phong trào phản chiến. Những chiếc áo thung phản chiến sử dụng phác họa của bức ảnh của ông Loan như là một biểu tượng. Cảnh quay về ông Loan có một tác động biệt lệ bởi vì người ta đang tìm kiếm một lý do để thay đổi những quan điểm của họ về vấn đề chính sách. Trong thời điểm này của cuộc khủng hoảng, một câu chuyện tin tức của truyền hình đã trở thành một phần của quá trình tạo ra chính sách đối ngoại cho một người trung bình, cho một chính trị gia đang tìm kiếm những hình ảnh gây cảm xúc mà qua đó khoác vào những lời hứa trong năm ra tranh cử của mình và cho các nhà hoạch định chính sách, cả quân sự và dân sự.26

p163

Cuối cùng, những nỗ lực của giới truyền thông để trình bày một “bức tranh lớn,” đã thất bại sửa chữa những sai lầm trước đó và quả thật lặp lại câu thần chú của sự thất bại của Mỹ. Sự thiếu thốn dễ thấy rõ là bất kỳ sự phân tích có hệ thống nào về những phát triển của chính trị và quân sự, bao gồm việc làm mạnh thêm chính phủ miền Nam Việt Nam. Đáng kể nhất là người đưa tin tức của đài NBC, một chương trình truyền hình “đặc biệt” về Việt Nam vào ngày 27 tháng Hai của Walter Cronkite. Ông Cronkite là người đưa tin tức được tôn trọng nhất của Mỹ và “Tin tức Chiều tối CBS” của ông ta là một chương trình tin tức hàng đầu của mạng lưới truyền thông của thời đại. Ông Cronkite đã đến thăm Việt Nam vào đầu tháng và đã từng chứng kiến lần đầu tiên cuộc giao chiến gay go ở Huế. Trong suốt chuyến thăm vòng quanh của mình, ông Cronkite đã bị choáng váng bởi tác động của cuộc tấn công: sự phá hủy trải rộng, những hàng người tị nạn kéo dài, và sự gián đoạn của công cuộc bình định. Những sự quan sát này khiến ông mất tin tưởng vào những bài tường thuật về sự thành công quân sự của Mỹ và miền Nam Việt Nam. Trong khi những nghi ngờ nầy đã là tiềm ẩn trong những chương trình tin tức hàng đêm của mình, một chương trình nửa giờ “đặc biệt” kết luận với lời bình luận thuộc ban biên tập của ông Cronkite. Ông ta nhìn thấy biến cố Tết như là một bại trận vốn báo hiệu sự cần đến việc thoát ra của Mỹ. Ông ta nói với một số khán giả lớn của truyền hình:

Dường như bây giờ chắc chắn hơn bao giờ hết rằng những kinh nghiệm đẫm máu về Việt Nam sắp sửa kết thúc trong bế tắc… Trên một cơ hội mất đi mà các nhà phân tích quân sự và chính trị thì đúng, trong vài tháng tới, chúng ta phải thử nghiệm những ý định của đối phương, trong trường hợp điều này quả thực là ngụm thở lớn cuối cùng của đối phương trước khi có các cuộc đàm phán. Nhưng điều đó ngày càng rõ ràng đối với phóng viên này là cách hữu lý duy nhất thoát ra sau đó sẽ là thương lượng, không phải như là những người chiến thắng, nhưng như là một dân tộc có danh dự vốn là những người cố sống xứng đáng cho lời cam kết của họ bảo vệ nền dân chủ, và làm hết mình như họ có thể.27

Lời kêu gọi của ông Cronkite về việc thoát ra cung cấp một tấm đá được mài nhẵn cho sự khẳng định của giới truyền thông rằng những trận chiến của biến cố Tết Mậu Thân lập nên một thất bại của Mỹ. Trong vòng một ít ngày, đài NBC có một chương trình “đặc biệt” về Việt Nam của riêng mình, hình ảnh nổi bật là Frank McGee, một người đưa tin tức được tôn trọng cao. Nó cung cấp một hình ảnh thuận lợi về Việt cộng, và trong khi thừa nhận rằng những người Mỹ và người miền Nam Việt Nam chiến thắng trận chiến cho quyền kiểm soát Sài Gòn, lợi thế về tâm lý và chính trị thuộc về Việt Cộng. Ông McGee kết thúc với những lời chỉ trích về chính phủ Sài Gòn và sự thất bại cho những mục tiêu của Mỹ: “việc xây dựng một đất nước tự do –không phải là gần hơn, nhưng xa hơn từ hiện thực. Tóm lại, cuộc chiến tranh, như chính quyền đã từng xác định nó, đang bị thua.”28

Thứ năm, sự giải bày sai lạc này về những trận đánh đưa đến việc lạm dụng các cơ hội có được của chiến thắng Tết Mậu Thân . Những bài học sai lạc được bắt nguồn từ những trận chiến của năm 1968. Ông Johnson đã thất bại như là một nhà lãnh đạo.

p164

Vào thời điểm khi công chúng cần cuộc nói chuyện thẳng thắn và hành động quả quyết, một ông Johnson bối rối và sợ hãi “bị đóng băng” và đầu hàng đối với các nhà phê bình phản chiến của mình. Bên trong chính quyền của ông ta, vị Bộ trưởng Quốc phòng mới, Clark Clifford, chẳng bao lâu trở thành nhà lãnh đạo của một số lượng những quan chức “bồ câu” trong Bộ riêng của mình cũng như Bộ Ngoại giao và Nhà Trắng vốn là những người có quyết tâm thuyết phục ông Johnson bắt đầu việc thoát ra. Ông Davidson viết rằng “điều gì đó xảy ra là ông Johnson đã sa thải một ông Thomas đáng ngờ (McNamara) chỉ để thay thế ông ta với một Judas.”29
Những chiến thắng của Mỹ trong suốt cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân để lại cho kẻ thù dễ bị tổn thương, cho phép Hoa Kỳ nắm bắt cuộc tấn công theo chiến lược. Thay vì các nhà lãnh đạo dân sự, bị choáng ngợp bởi tình hình chính trị trong nước, lay động. Qua sự thụ động và hành động gián tiếp, họ cắt bớt mệnh lệnh quân sự. Ông Stanton viết:

Những trận chiến phải chiến đấu trong suốt những tuần sôi nổi đó đã là cực kỳ bạo lực và tốn kém, nhưng những tính chất có thể về chiến lược được cổ võ bởi lời kết luận thành công của họ đã bị đánh mất cho một chính phủ bị choáng váng bởi cuộc tàn sát bên ngoài. Kết quả là, một áp lực to lớn được mang ra chống lại vấn đề quân sự để ngăn chận những thương vong nhiều hơn. Sự mong muốn của mệnh lệnh này nhằm cắt đi những mất mát xa hơn ngăn chận bất kỳ cơ hội nào của một chiến dịch tàn nhẫn theo sau nhắm mục đích vào việc thanh toán hết những [Việt Cộng] còn sót lại và việc gây nản lòng cho sự hoạt động trong tương lai của [Quân đội Bắc Việt] ở miền Nam Việt Nam.30

Và trong sự nghiên cứu của họ trên “những bài học” về Việt Nam, W. Scott Thompson và Donaldson D. Frizzell thêm:

Sau biến cố Tết có một cơ hội bằng vàng để khai thác yếu điểm của đối phương. Thay vào đó, Washington phản ứng bằng một cuộc điều tra vào trong những cáo buộc rằng các lực lượng Mỹ đã bị đánh chiếm bởi yếu tố bất ngờ trong các cuộc tấn công phối hợp. Có một cơ hội vào thời điểm này trong chiến tranh để chuyển đổi sự thành công về quân sự trở thành lợi ích chính trị đầy ý nghĩa. Thay vào đó, cách giải quyết của chúng ta rõ ràng là bị dao động, chúng ta bắt đầu khoanh tay và bắt đầu tìm kiếm một lối thoát khỏi chiến tranh.31

Ông Davidson cho rằng những trận chiến của biến cố Tết Mậu Thân nhấn mạnh đến việc thiếu một chiến lược cho chiến thắng, nhưng cũng cung cấp một biện pháp khắc phục rõ ràng. “Bài học” thì tự hiển hiện:

Những chính sách về chiến tranh, những nguyên tắc, và các chiến lược vốn đã từng chi phối Chiến tranh Việt Nam từ năm 1966, đã bị phá hủy bởi cuộc tấn công Tết Mậu Thân và một chuỗi những sự kiện lửa đạn mà qua đó nó đã bừng lên. Mảnh vỡ từ vụ nổ đã trở lại trái đất, và tất cả đống đổ nát thì quá rõ ràng đối với Nhà Trắng. Cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân và hậu quả của nó hẳn đã tiết lộ một tình trạng thiếu sót về chiến lược mà trong đó chính sách Hoa Kỳ đã và đang hoạt động kể từ năm 1966. Vấn đề không phải là Hoa Kỳ đang theo đuổi một chiến lược sai lầm ở Việt Nam: vấn đề là nó không đang theo đuổi một chiến lược nào.32

p165

Điều gì được cần đến vào thời điểm đó là ban lãnh đạo dân sự nêu rõ các mục tiêu chính trị ở Việt Nam và để cho ban lãnh đạo quân sự thực hiện kế hoạch để đạt được những mục đích. Ông Johnson đã trong ba năm thất bại nêu lên “mục tiêu chính trị cơ bản của chiến tranh –và đó là sự thất bại của ông ta, và chỉ một mình ông ta. Ông ta, một vị Tổng thống, đã không thành công trong một công việc thời chiến mà ông ta phải làm.”33 Việc thiếu một giải pháp đó tiếp tục khi ông Johnson chưa hấp thụ được “những bài học” của biến cố Tết Mậu Thân. Chiến lược tìm-kiếm-và-tiêu-diệt không thể được tiếp tục, nhưng trong hậu quả của biến cố Tết Mậu Thân, điều đó trở nên rõ ràng rằng Hoa Kỳ nên và có thể chuyển càng lúc càng nhiều hơn nữa các cuộc giao tranh cho Quân đội miền Nam Việt Nam. Với việc huấn luyện và những cung cấp bổ sung của Hoa Kỳ, QĐVNCH,(pc 02) với sự tín nhiệm và tinh thần chiến đấu được nâng cao bởi cách làm việc của nó trong suốt những trận chiến của biến cố Tết, có thể bảo vệ đất nước riêng của mình. Tóm lại, cái gì sau đó được gọi là Việt Nam hóa chiến tranh đã trở thành một chiến lược quyết định. Nền tảng cho sự thành công của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh là một chương trình đổi mới và mở rộng của công cuộc bình, tức là giữ an ninh cho vùng nông thôn chống lại những tàn tích của Việt Cộng và Bắc Việt. “Lần đầu tiên trong chiến tranh,” Davidson lập luận, “chính phủ Hoa Kỳ đã nghĩ ra một chiến lược vốn có tính chất chặt chẽ, kết hợp, và, trên hết là, có thể đạt được.”34 Ông Johnson, tuy nhiên, không thể tự đem chính mình để thay đổi một chiến lược kém hơn nhiều hầu chia sẻ một quyết định như thế với công chúng Mỹ hoặc chính phủ miền Nam Việt Nam, vì điều đó sẽ là một thừa nhận sự thất bại của những hai năm rưỡi chiến dịch tìm-kiếm-và-tiêu-diệt và chiến dịch Sấm Vang. Ông Johnson đã khăng khăng từ chối đưa ra một mục tiêu chính trị rõ ràng. Đối với ông Davidson: “cuối cùng những kỵ cảnh binh giông bão của thực tế đã xâm phạm các bức tường của thành lũy ảo tưởng cuối cùng, Nhà Trắng. Và khi họ làm điều đó, ông Johnson giương lên cờ trắng.”35
Vì vậy, đối với những người theo phe xét lại, cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân lập nên một chiến thắng quyết định về quân sự và chính trị cho Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam, mà qua đó cung cấp một cơ hội để đánh bại Bắc Việt (Việt Cộng đã bị loại bỏ một cách hiệu quả). Mức độ chiến thắng không được biết rõ bởi công chúng Mỹ bị lừa dối hoặc các nhà lãnh đạo của họ. Chồng chất thêm những thất bại trước đó của ông ta như là vị Tổng tư Lệnh, ông Johnson không thể hiểu rõ cơ hội được phơi bày bởi biến cố Tết Mậu Thân và lãng phí vị thế sức mạnh của Mỹ–miền Nam Việt Nam.

B- Phe chính thống: Sự Mất mát gây Tê liệt:

Luận điểm của phe chính thống rằng cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân lập nên một thất bại về quân sự và chính trị của Mỹ–miền Nam Việt Nam, diễn giải các sự kiện của đầu năm 1968 và những hậu quả của chúng khác biệt xa hơn. Nó dựa trên bốn lý luận liên quan:
_ Thứ nhất, Bắc Việt đạt được mục đích về việc buộc Hoa Kỳ vào bàn đàm phán trên các điều khoản của họ;

p166

_ Thứ hai, những trận chiến của biến cố Tết Mậu Thân thì không có kết quả cuối cùng, một sự tiếp nối của một bế tắc vốn mang thuận lợi cho miền Bắc Việt Nam;
_ Thứ ba, việc tường thuật của giới truyền thông về những trận chiến của biến cố Tết Mậu Thân, trong khi không phải là không có những sai lạc, phản ảnh sự phản ứng của những người Mỹ đối với một sự kiện chưa từng có trước đây và khó lường trước được;
_ Thứ tư, sự quyết định của ông Johnson nhằm thoát ra là một đánh giá thực tế về tác động của chiến tranh trên vị thế chính trị-kinh tế trong nước và quốc tế của Mỹ.36

Thứ nhất, trong khi những người theo phe xét lại nhấn mạnh đến sự thất bại của Bắc Việt bám giữ các thành phố và châm ngòi cho cuộc tổng nổi dậy, các học giả phe chính thống cho rằng những mục tiêu của họ thì phức tạp hơn và đạt được một cách đáng kể . Hà Nội thật ra đạt được mục đích cơ bản của nó vốn là để bảo đảm việc ngừng dội bom miền Bắc Việt Nam được theo sau bởi các cuộc đàm phán; việc chấm dứt cuộc thả bom đã luôn luôn là điều kiện của Hà Nội cho các cuộc đàm phán. Điều này đạt được mục đích của việc đưa cuộc xung đột lên giai đoạn “đàm phán trong khi chiến đấu” –mà qua đó ban lãnh đạo Bắc Việt tin rằng điều đó sẽ gây tác động cho lợi thế của nó. Thay vì tượng trưng cho một “ngụm thở cuối cùng” của một đối phương mất tinh thần chiến đấu như những người theo phe xét lại tranh luận, cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân được lên kế hoạch bởi các quan chức cán bộ vốn là những người nhận ra rằng cuộc chiến tranh đã bị bế tắc và vốn là những người nhìn thấy một cơ hội khai thác những lợi thế của họ: quyền kiểm soát có lẽ 80% vùng nông thôn miền Nam Việt Nam, sự bất ổn của chính phủ Sài Gòn, và những việc chuyển dời vị trí về kinh tế–xã hội bị gây ra bởi chiến tranh. Họ cũng nhìn thấy một cơ hội đánh lừa công chúng Mỹ qua lời hứa của ông Johnson về một chiến thắng sắp xảy ra. Một khái niệm cơ bản của biến cố Tết Mậu Thân không phải là mới: kể từ đầu thập niên 1960s, Hà Nội đã từng suy xét việc gởi “những làn sóng chấn động” khắp miền Nam Việt Nam như là một phương tiện của việc phá hoại ngầm chính phủ Sài Gòn và những người ủng hộ Mỹ của nó. Cuộc “tổng nổi dậy” đánh lý ra là một kết quả tối hậu, nhưng việc “đàm phán trong khi chiến đấu” là một mục tiêu cấp bách hơn và là một trong số tầm quan trọng lâu dài đáng kể. Như Ngô Vĩnh Long(pc 03) viết, biến cố Tết thành công “trong việc hoàn thành mục tiêu chính về việc buộc Hoa Kỳ giảm leo thang chiến tranh ở miền Bắc Việt Nam và bắt đầu các cuộc đàm phán vốn cuối cùng sẽ dẫn đến một thỏa thuận hòa bình được dựa trên những điều khoản của Mặt trận Giải phóng Dân tộc vào tháng Giêng năm 1973.”37

Thứ hai, cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân nhấn mạnh đến sự bế tắc về chính trị–quân sự ở miền Nam Việt Nam, mà qua đó, như những nhà lãnh đạo Bắc Việt tính toán, tác động đến lợi ích dài hạn của họ . Mặc dù Bắc Việt và Việt Cộng gánh chịu những thương vong rất nặng nề hơn trên chiến trường so với Mỹ và miền Nam Việt Nam, lực lượng liên quân đó không phải là “những người chiến thắng.” Cuộc giao tranh phá hoại một miền Nam Việt Nam đã bị tàn phá bởi chiến tranh rồi. Vào khoảng 12.500 thường dân miền Nam Việt Nam bị thiệt mạng. Các trận chiến tạo ra một triệu người lánh nạn mới và họ chen chúc trong những thành phố mà những hạ tầng cơ sở của chúng đã thực sự bị choáng ngặp bởi những cuộc di dân do chiến tranh gây ra trước đây từ các khu vực nông thôn.
Tầm quan trọng có ý nghĩa riêng biệt về điều gì xảy ra trên mặt đất trong hậu quả của cuộc tấn công là cuốn sách, “Sau Tết: Năm Đẫm máu nhất của cuộc Chiến tranh” (After Tet: The Bloodiest Year of the War), được viết bởi nhà sử học quân sự và là cựu chiến binh Việt Nam, Ronald Spector.

p167

Trong một đánh giá quân bình về chiều hướng của chiến tranh trong suốt thời gian còn lại của năm 1968, ông Spector tìm thấy phần nhiều bằng chứng vốn hỗ trợ cách giải bày của chính thống. Những trận chiến trong suốt mười tháng cuối cùng của năm 1968 —“giai đoạn đẫm máu nhất của cuộc chiến tranh Việt Nam cũng như hầu hết cuộc chiến bị bỏ qua”— là quyết định trong sự định đoạt kết quả cuối cùng của cuộc chiến tranh. Thiết yếu là, một năm bắt đầu và kết thúc trong bế tắc, và điều đó gây tác động cho lợi thế của những người cộng sản. Trái ngược với những bài tường thuật của phe xét lại, biến cố Tết Mậu Thân đã không mang lại những lợi thế đáng kể về quân sự và chính trị cho Mỹ–miền Nam Việt Nam.
Cuộc chiến tranh bộ binh về cơ bản không thay đổi, ông Spector lập luận, khi cả hai bên cố chấp trong niềm tin sai lầm rằng phía bên kia đang trên bờ vực của sự sụp đổ. Sự tiếp tục của cuộc chiến tranh nói lên với sự bất lực của các vị chỉ huy Mỹ thích nghi với những phương pháp hoạt động đối với những điều kiện đặc biệt ở Việt Nam, sự quyết tâm được đeo bám của Hà Nội nhằm thống nhất Việt Nam với bất kỳ giá nào, mối quan tâm của các nhà lãnh đạo Mỹ về sự tín nhiệm và thanh danh và lòng trung thành của họ đối với người đồng minh miền Nam Việt Nam, và sự tham nhũng bất tận, yếu kém, và tình trạng lộn xộn của đồng minh đó. Điều nầy “bảo đảm rằng đối với tất cả những thành công trên chiến trường và những tiến triển trong công cuộc bình định mà Hoa Kỳ có thể thưởng thức, chiến tranh sẽ vẫn còn bị bế tắc.”38
Sau những trận chiến của biến cố Tết Mậu Thân bắt đầu vào cuối tháng Giêng và các cuộc tấn công tiếp theo của cộng sản trong tháng Năm và tháng Tám, Hoa Kỳ quả thật có được một lợi thế trên chiến trường, nhưng không phải là một lợi thế quyết định. Trong khi đó những người cộng sản phải mất đi hai năm để phục hồi hoàn toàn từ những mất mát của năm 1968, sự kết hợp việc tái khôi phục ổn định của họ, những việc không thoả đáng xưa nay của Quân đội miền Nam Việt Nam và chính phủ, những cuộc tản cư xã hội bị gây ra bởi một “năm đẫm máu nhất,” và một sự xói mòn việc ủng hộ chiến tranh của công chúng Hoa Kỳ đã đưa đến một tình trạng bế tắc tiếp tục.
Sức mạnh phục hồi của đối phương bù đắp cho những cú đấm của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Bắc Việt phải chịu những mất mát và có những dấu hiệu mệt mỏi về chiến tranh; nhiều người trong số những cán binh của họ đã được dẫn dắt bởi sự tuyên truyền trước Tết kỳ vọng vào một chiến thắng. Tuy nhiên, Quân đội Bắc Việt không tan rã; ông Specter viết rằng “sự hiện diện tiếp tục của 550.000 chiến binh Mỹ ở miền Nam Việt Nam tiếp tục cung cấp cho cán binh Cộng sản với sự thúc đẩy mạnh mẽ nhất của mình để tiếp tục chiến đấu.”39
Trọng tâm sự thất vọng của Mỹ là sự yếu kém của đồng minh mình. Bất cứ khả năng chiến đấu như thế nào đã được chứng tỏ bởi một vài đơn vị trong suốt biến cố Tết, Quân đội miền Nam Việt Nam vẫn còn thiếu hiệu quả và không đáng tin cậy. Những sĩ quan của nó vẫn chịu ơn các vị thế cho những kết nối về chính trị và gia đình và bị thu hút từ một tầng lớp xã hội khó loại bỏ khỏi những người Việt Nam sắc nét. Sự chấn động của biến cố Tết Mậu Thân không kết thúc những thực thi xói mòn của tính bè phái chính trị, hối lộ, và tham nhũng với những sĩ quan quân khu; nó cũng không đảo ngược tỷ lệ đào ngũ cao của QĐVNCH.

p168

“Những lực lượng vũ trang Việt Nam,” ông Spector viết, “tiếp tục khép lại hàng ngũ sĩ quan của mình đối với tất cả mọi người ngoại trừ những người có nền giáo dục tốt, tiếp tục trải nghiệm vấn đề đào ngũ ào ạt, và tiếp tục gánh chịu khốn đốn từ ban lãnh đạo tham nhũng và không đủ tài năng. Đó là một quân đội vốn đã từng học hỏi rất nhiều kể từ năm 1963 về việc làm cách nào nắm quyền, nhưng quá ít về việc làm cách nào chiến đấu.”40
Việc khiến trầm trọng thêm vấn đề quân sự đó là vào năm 1968, quân dội Mỹ bắt đầu cho thấy những dấu hiệu sắp tan rã dưới sự căng thẳng liên tiếp của việc chiến đấu một cuộc chiến tranh bế tắc cho các mục đích vốn không rõ ràng hoặc cũng không hấp dẫn và qua đó không còn có sự hỗ trợ của hầu hết những người Mỹ. (Tinh thần chiến đấu rạn nứt nầy sẽ phá ngầm quân đội Hoa Kỳ trong suốt phần còn lại của cuộc chiến tranh, được chồng chất thêm bởi những căng thẳng gia tăng về vấn đề phân biệc chủng tộc và sự lạm dụng ma túy bên trong quân đội Mỹ.)
Công cuộc bình định ở vùng nông thôn bị gián đoạn, cho phép những lợi ích cho cả hai bên trong các khu vực khác nhau, nhưng những người Mỹ và người miền Nam Việt Nam không còn có được lợi thế dài hạn như là một kết quả của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Trong một số khu vực, sự tập trung của các đơn vị Việt Cộng ở các thành phố trong suốt cuộc tấn công cho phép Mỹ và miền Nam Việt Nam tạo nên những thu hoạch. Tuy nhiên trong các khu vực khác, sự rút đi của các lực lượng Mỹ và miền Nam Việt Nam để bảo vệ các thành phố có nghĩa là một sự mất mát trong những chương trình bình định mà từ đó những người cộng sản hưởng lợi. Tuy thế, như ông Spector nhấn mạnh, sau biến cố Tết, các đơn vị Bắc Việt nói chung đảm nhận một vai trò lớn hơn trong chiến tranh và những người miền bắc thay thế những người miền Nam trong nhiều đơn vị Việt Cộng; điều này có nghĩa là, khi kết hợp với sự yếu kém liên tục của chế độ Sài Gòn, “sự suy giảm của Đồng Minh trong vùng nông thôn chỉ là [là] tạm thời.”41
Trong khi một số đơn vị của TQLC(pc 01) vẫn tham gia trong công cuộc bình định hiệu nghiệm, hầu hết các binh sĩ Mỹ vẫn còn nghi ngờ về, và phân biệt văn hóa từ, những người dân quê Việt Nam. Việt Cộng dần dần lấy lại sức mạnh, vẫn tuyển dụng giới thanh niên nam nữ vào hàng ngũ của nó. Cuộc nói chuyện của Mỹ về việc “giành được tim và trí” dường như xa vời hơn trong một đất nước bị chiến tranh tàn phá. Ông Spector quan sát:

Mặc dù những người Mỹ vẫn nói về một cuộc chiến tranh để giành được người dân và bảo vệ cách sống theo ‘truyền thống’, cuộc chiến tranh vào năm 1968 chỉ là mang lại thêm sự gánh chịu khốn khổ hơn, sự đổ vỡ nhiều hơn, và thêm nhiều cái chết hơn, bao gồm những điều đó ở làng Mỹ Lai, nơi mà trong một ý nghĩa nào đó, nỗ lực chiến tranh của Mỹ đạt đến điểm cao của nó về sự hủy diệt vô nghĩa. Đối với người dân ở giữa, quả thật chính là một năm đẫm máu nhất.42

Trái ngược với những tuyên bố của phe xét lại về sự biến đổi đầy cảm xúc của công chúng miền Nam Việt Nam, quân đội, và chính phủ trở thành một lực lượng hiệu quả, biến cố Tết Mậu Thân là “một đòn giáng tàn khốc vào chế độ Sài Gòn.” Thay vì kích thích những người miền Nam tập hợp phía sau chính phủ Sài Gòn, cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân sinh ra, theo sự nghiên cứu của Ngô Vĩnh Long,(pc 03) một mong muốn lan rộng cho hòa bình. Điều này thì phổ biến thiết thực ở những khu vực thành thị và nó làm suy yếu thẩm quyền của chế độ Sài Gòn và đẩy sự ủng hộ vào tình trạng hiểm nghèo cho nổ lực chiến tranh của Mỹ.43

p169

Ông Spector kết luận rằng các trận đánh lớn của năm 1968 quyết định phần lớn bởi việc không quyết định gì cả. Điều gì đó mà biến cố Tết và hậu quả của nó nhấn mạnh đến là sự khác biệt sâu sắc giữa những quan điểm của người Mỹ và người Việt Nam về cuộc chiến tranh mà họ tham gia vào. Một ít quan chức Mỹ từng hiểu rõ cuộc chiến tranh từ quan điểm của đối phương: rằng điều gì đó đối với những người Mỹ là một cuộc chiến tranh hạn chế buộc phải chiến đấu bằng bằng những phương tiện hạn chế, thì đối với những người cộng sản Việt Nam là một cuộc chiến tranh không giới hạn cho sự sống còn và cuối cùng là sự thống nhất đất nước. Sự sai biệt đó trở nên rõ ràng hơn trong năm 1968 đẫm máu. Lê Lý Hiệp (Le Ly Hyslip ?), một người phụ nữ Việt Nam mà cuốn hồi ký của bà ta cung cấp cái nhìn sâu sắc vào trong thế giới của kẻ thù của Mỹ, viết rằng trong hậu quả của biến cố Tết Mậu Thân “mọi thứ mà chúng ta biết, ra lệnh cho Hoa Kỳ chiến đấu. Những tổ tiên của chúng tôi kêu Hoa Kỳ vào chiến tranh. Những huyền thoại và truyền thuyết của chúng tôi kêu Hoa Kỳ vào chiến tranh. Những lời dạy của cha mẹ chúng tôi kêu gọi Hoa Kỳ vào chiến tranh. Cán bộ của Bác Hồ kêu gọi Hoa Kỳ vào chiến tranh.”44

Thứ ba, việc tường thuật của giới truyền thông, đặc biệt là truyền hình, phản ảnh và làm gia tăng thêm sự phản ứng của những người Mỹ vốn là những người đang cố gắng hiểu rõ một trận chiến với những kích thước chưa từng có trước đây . Biến cố Tết Mậu Thân là một tình hình nguy hiểm đích thực, mà qua đó có thể được hiểu là có một tác động sâu sắc trên công chúng Mỹ và những nhà lãnh đạo của nó. Mức độ của các cuộc tấn công của cộng sản phá hủy ngầm những lời tuyên bố của chính quyền Johnson về một chiến thắng sắp xảy đến trong Chiến dịch Thắng lợi vào cuối năm 1967 và qua đó giới truyền thông đã tường thuật theo ý thức nhiệm vụ. Trước biến cố Tết, cuộc tường thuật về chiến tranh, nói chung, đã từng là sự ủng hộ cho nỗ lực quân sự của Hoa Kỳ và hầu hết những bài báo đã từng mô tả sự thành công trên chiến trường. Biến cố Tết Mậu Thân thì khác biệt: những người Mỹ và người miền Nam Việt Nam chợt thấy bất ngờ và gánh chịu những thất bại, và những hậu quả chính trị của những trận chiến của biến cố Tết Mậu Thân là điều phương hại cho những lợi ích của Mỹ.45
Trái ngược với những bài tường thuật của phe xét lại, công chúng không bị dẫn dắt sai lạc bởi những bài báo không chính xác của giới truyền thông từ Việt Nam. Hơn hẳn bất kỳ thời điểm nào khác trong suốt chiến tranh, biến cố Tết với những trận chiến được sắp đặt của nó ở Khe Sanh và Huế và cuộc giao chiến dễ dàng được tường trình trên những đường phố Sài Gòn và các thành phố khác đã cho phép một cuộc tường thuật sinh động và nhanh chóng chưa từng có trước đây. Các hình ảnh từ Việt Nam trong suốt những ngày đầu tiên của các trận đánh dịp Tết không thể không gây chấn động những người Mỹ. Nỗi thống khổ và điều không xác thực của chúng dẫn đến những nghi ngờ về các phiên bản chính thức của những sự kiện.
Việc tường thuật theo sau dòng chảy của các sự kiện. Trận chiến ở Khe Sanh là một câu chuyện quan trọng; sau cùng, cả ông Johnson và ông Westmoreland được thuyết phục về tầm quan trọng chiến lược của Khe Sanh và cam kết những nguồn tài lực đáng kể cho sự phòng ngự của nó. Những cuộc tấn công vào các thành phố có thể chỉ được đưa lên hình ảnh, như là chúng nằm trong tay của giới truyền thông, như là việc đưa miền Nam Việt Nam vào một cuộc công kích chưa từng có trước đây. Những hình ảnh của Sài Gòn dưới cuộc bao vây –những chiếc xe tăng trên đường phố, những chiếc máy bay chiến đấu đánh vào những mục tiêu trong vùng lân cận dân cư, những người lánh nạn buộc phải trốn chạy thêm một lần nữa– kể về một câu chuyện chính yếu không thể phủ nhận.

p170

Cuộc tường thuất không phải luôn luôn chính xác (làm thế nào điều đó có thể xảy ra khi việc tường trình các sự kiện phơi bày và chưa từng có trước đây?), chẳng hạn như những câu chuyện trước đây về vụ bắt được Việt Cộng trong tòa nhà Đại sứ quán Mỹ khi mà thật ra họ chỉ vào vùng đất của tòa Đại sứ quán (một lỗi sai mà qua đó được nhanh chóng sửa chữa bởi các mạng lưới truyền thông và các cơ sở dịch vụ tin tức). Trong khi những người theo phe xét lại khiển trách giới truyền thông cho việc giảm thiểu những thành tựu của Quân đội miền Nam Việt Nam và chính quyền Sài Gòn và cho việc cường điệu những tái năng chiến đấu của Bắc Việt và Việt Cộng, những bài tường thuật trên truyền hình và báo chí phản ảnh cách suy nghĩ của nhiều nhà lãnh đạo của Mỹ về quân sự và dân sự vào thời điểm đó. Nếu việc tường trình thì không chính xác, vì vậy, những bài báo chính thức cũng thế.
Trong tình huống này, đối với câu hỏi về các tuyên bố chính thức về sự “tiến triển” và “thắng lợi” thì khó mà không hợp lý. Joseph Harsch của đài ABC chỉ trích nỗ lực của chính quyền vận động giới báo chí: “điều gì mà các quan chức nói riêng, mang một hình thức gần giống như sự cổ vũ tốt đẹp của công chúng được hòa điệu cao độ”; kẻ thù đang làm “ngược lại hoàn toàn về điều gì mà các nhà lãnh đạo của nước Mỹ đã và đang trong nhiều tháng bảo Hoa Kỳ mong đợi.”46 Chet Huntley, phụ tá phát ngôn viên của chương trình tin tức hàng đêm của đài NBC và được biết đến là một người ủng hộ chiến tranh mạnh mẽ, nêu lên câu hỏi về phiên bản chính thức mà qua đó các cuộc tấn công vào các thành phố có chủ định thu hút những người Mỹ xa khỏi tuyến phòng ngự Khe Sanh; ông Huntley nói rằng ngay cả nếu các cuộc tấn công là nghi binh, chúng vẫn là sức phá hoại cao độ. Một “bức tranh lớn” ảm đạm được trình bày bởi ông Cronkite và các phóng viên khác sau một tháng giao tranh đã xác nhận một sự bất mãn vốn hiển hiện trong các cuộc thăm dò ý kiến công chúng và trong các phòng họp của Quốc hội. Nói cách khác, lời kêu gọi nổi tiếng của ông Cronkite về việc thoát ra của Hoa Kỳ đã đưa ra sự chứng thực về thanh thế của mình theo chiều hướng cảm tình của quần chúng và giới học thức ưu tú.

Thứ tư, sự quyết định của ông Johnson bắt đầu việc thoát ra được dựa trên việc đánh giá lại hợp lý về lợi ích và khả năng của Mỹ . Ông Johnson và các vị cố vấn của mình kết luận rằng cuộc chiến tranh về cơ bản thì không thể thắng được: mà qua đó những mục tiêu của Mỹ không thể đạt được bằng một mức độ sức mạnh của Mỹ có thể chấp nhận được, với sự tổn phí có thế chấp nhận, và trong phạm vi một khoảng thời gian có thể chấp nhận. Đây không phải là một phán xét được dựa trên sự hiểu lầm về những sự kiện đầy biến động vào đầu năm 1968; hơn thế, nó phản ảnh sự chính xác và mức đánh giá về những hậu quả kinh tế, chính trị, và quân sự của những sự kiện đó.47 Ba vấn đề suy xét có liên quan dẫn đến sự hợp lý của việc thoát ra:
(1) những liên quan tai hại của cuộc chiến tranh trên nền kinh tế của Mỹ;
(2) sự xói mòn xa hơn nữa việc ủng hộ trong nước cho chiến tranh;
(3) sự thiếu mất bất kỳ triển vọng nào cho việc đạt được những mục tiêu quân sự.

Những yếu tố này đè nặng trên ông Johnson và các vị cố vấn của mình khi họ phải vật lộn với những việc xảy ra sau nầy của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân.

Thứ nhất, cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân thúc đẩy sự suy xét có hệ thống về tác động của chiến tranh trên nền kinh tế trong nước và vị thế tài chánh quốc tế của Mỹ .

p171

Những chi phí cho chiến tranh đã góp phần nâng cao sự lạm phát và những thâm hụt về con số cân bằng–thanh toán. Việc tiếp tục cuộc chiến tranh ở những mức độ trước khi có cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân sẽ khiến gia tăng những xu hướng đó, nhưng sự đòi hỏi cho quân lính của ban lãnh đạo quân sự sẽ phải tổn phí thêm 2,5$ tỷ đô-la trong năm 1968 và 10$ tỷ đô-la vào năm 1969. Điều đó sẽ cần thiết đòi hỏi cả việc tăng thuế to lớn và việc cắt giảm mạnh mẽ trong các chương trình trong nước. Về mặt quốc tế, việc nâng cao những thâm hụt cân bằng–thanh toán đã thực sự dẫn đến sự xói mòn niềm tin vào nền kinh tế Mỹ và phát khởi một “cuộc khủng hoảng vàng” mà trong đó những người nắm giữ đô-la chủ ở nước ngoài vội vã trao đổi chúng cho vàng. Sự ổn định của hệ thống tài chính quốc tế được thành lập vào cuối Thế Chiến thứ II phụ thuộc vào sức mạnh của đồng đô-la, mà qua đó được chống đỡ bởi sự nắm giữ của Hoa Kỳ 12$ tỷ đô-la bằng cổ phiếu về vàng. Vào tháng Giêng năm 1968 khi Hoa Kỳ mất hàng triệu đô-la trong việc trao đổi vàng, ông Johnson được cảnh cáo về “sự suy giảm rất quan trọng về tình hình kinh tế thế giới.” Tháng sau, vị cố vấn an ninh quốc gia của ông Johnson, là nhà kinh tế Walt W. Rostow, nói thêm rằng “tình hình có thể biến thành một cuộc khủng hoảng niềm tin và tự nó tăng trưởnggiống y như sự điều hành ngân hàng.” Để giúp ổn định tình hình, ông Johnson kêu gọi Quốc hội ban hành một khoản phụ thu thuế, mà qua đó đã được xem xét kể từ cuối năm 1967, để tài trợ cho chiến tranh; cuối cùng Quốc hội đã làm như vậy, và trong quá trình, nó cũng cắt giảm 6$ tỷ đô-la từ chương trình xã hội được ấp ủ trong lòng của ông Johnson. Vào giữa tháng Ba, những chủ nhân ngân hàng của các nước được kỹ nghệ hóa buộc phải dùng đến những biện pháp đặc biệt để ổn định đồng đô-la, nhưng Hội đồng cố vấn kinh tế của ông Johnson nói với ông ta rằng những biện pháp nầy chỉ cung cấp một “khoảng trống để thở” và rằng quốc gia cần làm cho “ngôi nhà trong nước của nó trật tự.” Vào thời điểm đó, tầng lớp kinh doanh của đất nước đang đặt ra câu hỏi liệu nền kinh tế có thể tiếp tục tài trợ cho cuộc chiến tranh. Nhiều tạp chí kinh doanh, mà trước đó đã từng ủng hộ cuộc chiến, bây giờ kêu gọi cho việc giảm leo thang. Chiến tranh Việt Nam, tóm lại, đã nghiêm trọng làm suy yếu nền kinh tế của Mỹ với những quan hệ quốc tế sâu sắc.48

Thứ hai, phản ứng trong nước đối với cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân khiến hạn chế những lựa chọn của ông Johnson . Việc tiếp tục cuộc chiến tranh ở những mức độ trước khi có biến cố Tết Mậu Thân hoặc việc mở rộng chiến tranh gặp phải những rủi ro đáng kể về chính trị. Xu hướng của các cuộc thăm dò ý kiến công chúng kể từ cuối năm 1967 cho thấy một sự xói mòn đều đặn việc ủng hộ chiến tranh, với một đất nước đang phân rẽ gần như đồng đều giữa phe diều hâu và bồ câu. Điều đó đã được nhấn mạnh vào đầu năm 1968, khi cảm tình cho phe bồ câu tăng lên. Ra tranh cử như là một ứng cử viên chống chiến tranh, Thượng nghị sĩ Eugene McCarthy của tiểu bang Minnesota thách thức ông Johnson cho việc đề cử tổng thống năm1968 của Đảng Dân chủ. Vận động tranh cử ở tiểu bang New Hampshire, một địa điểm của hội nghị tuyển lựa ứng cử viên tổng thống đầu tiên của quốc gia, ông McCarthy có được sự quảng cáo rộng lớn từ sự phản ứng của quần chúng đối với cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Sau đó vào ngày 10 tháng Ba –chỉ hai ngày trước khi cuộc lựa chọn của hội nghị tuyển cử– tờ New York Times phá vỡ câu chuyện về sự yêu cầu của ban lãnh đạo quân sự cho 206.000 quân thêm, mà qua đó nhiều người Mỹ và các thành viên của Quốc hội nhận lấy bằng sự hoài nghi.

p172

Làm thế nào ông Johnson có thể có đủ khả năng để thuyết phục những người Mỹ ủng hộ một sự gia tăng 40% trong việc can dự của quân lính sắp đến chỉ vài tuần sau khi “ánh sáng ở cuối đường hầm” của Chiến dịch Thắng lợi và sự chấn động của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân? Kết quả của hội nghị tuyển cử ở tiểu bang New Hampshire đúng ra là một “thắng lợi” của ông Johnson, nhưng ông McCarthy đi đến trong vòng một vài trăm lá phiếu vượt trội hơn một vị Tổng thống đương nhiệm; sức mạnh của ông ta rõ ràng phản ảnh sự không hài lòng với chính sách chiến tranh của ông Johnson. (Một sự phân tích theo sau về sự ủng hộ cho ông McCarthy chỉ ra rằng ông ta thu hút nhiều con diều hâu hơn bồ câu, do đó gây lầm lẫn những đánh giá lúc đó rằng những người bỏ phiếu cho ông McCarthy chấp nhận quan điểm chống chiến tranh của ông ta.) Tính chất dễ bị tổn thương của ông Johnson chẳng bao lâu được khai thác bởi Thượng nghị sĩ Robert Kennedy, vốn là người được thúc đẩy bởi sự thành công của cuộc vận động ở tiểu bang New Hampshire của ông McCarthy, thông báo vai trò ứng cử của mình cho sự đề cử của Đảng Dân chủ. Giống như McCarthy, ông Kennedy đang tranh cử như là một ứng cử viên chống chiến tranh được thừa nhận, vốn là người nhìn thấy trước một cuộc giải pháp qua đàm phán và sự thỏa hiệp như là những phương tiện khả thi duy nhất về việc kết thúc chiến tranh. Những cuộc thăm dò ý kiến công chúng, các cuộc biểu tình phản đối trên đường phố, những lời chỉ trích từ các thành viên nổi bật của Quốc hội và những thách thức của ông McCarthy và ông Kennedy chứng thực cho áp lực trong nước muốn Hoa Kỳ thoát ra khỏi cuộc chiến tranh.

Thứ ba, chiến lược quân sự của Hoa Kỳ dường như bị phá sản, không đưa ra một triển vọng nào về việc đạt được chiến thắng . Clark Clifford, vốn là người mang vào trong chức vụ được bổ nhiệm của mình như là Bộ trưởng Quốc phòng, một tiếng tăm như là phe diều hâu, được chỉ định bởi ông Johnson đứng đầu một lực lượng đặc nhiệm để duyệt xét lại sự yêu cầu về việc thêm 206.000 quân của ban lãnh đạo quân sự; những hướng dẫn của ông Johnson khẳng định: “hãy cho tôi điều ít tai hại hơn.” Lực lượng đặc nhiệm nhận được những đánh giá ảm đạm về tình hình ở Việt Nam từ Cơ quan Tình báo Trung ương và Văn phòng Vấn đề An ninh Quốc tế của Bộ Quốc phòng, mà qua đó sau khi được gọp lại với nhau, đã nhìn thấy trước một sự tiếp nối bế tắc về quân sự ngay cả khi Hoa Kỳ gởi thêm những quân lính, một sự suy yếu về vị thế chính trị–quân sự của của chính phủ miền Nam Việt Nam, và có khả năng rằng cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân đã giết chết những triển vọng của công cuộc bình định. Những dấu hiệu trước đó của sự tiến triển là ảo tưởng: “chúng ta trở nên bị mê hoặc bởi những thống kê về giá trị đáng nghi ngờ được biết đến.”
Thời điểm đáng kể nhất của Lực lượng Đặc nhiệm đã đến khi ông Clifford có khóa hội họp ba ngày với Ban Tham mưu Kết hợp. Ông ta học hỏi được rằng họ không thể đưa ra một kế hoạch cho việc chiến thắng cuộc chiến ngay cả với 206.000 quân lính thêm và trong thực tế không thể ước tính bao nhiêu binh sĩ thêm nữa sẽ phải đòi hỏi để đạt được chiến thắng. Tất cả những gì mà họ có thể hứa là sự tiếp tục cuộc chiến vốn đã dẫn đến tình trạng bế tắc. Ông Clifford sau này nhớ lại một số trong những câu hỏi của mình và Ban Tham mưu Kết hợp trả lời:

“Có phải là 200.000 người thêm sẽ hoàn thành công việc không?” Tôi tìm thấy không có bảo đảm nào rằng họ sẽ. “Nếu không, bao nhiều người thêm nữa sẽ được cần đến –và khi nào?” Không có cách nào để biết… “Đối phương có thể đáp trả bằng sự bồi đấp lên của riêng nó không?” Đối phương có thể và có lẽ sẽ làm… “Bao lâu nữa chúng ta phải tiếp tục gởi những người của chúng ta và mang gánh nặng chủ yếu về chiến đấu?” Những người miền Nam Việt Nam đang làm việc tốt hơn, nhưng họ chưa sẵn sàng để thay thế những quân lính của chúng ta và chúng ta không biết khi nào họ sẽ được sẵn sàng.

p173

“Có ai nhìn thấy bất kỳ sự giảm bớt nào trong ý chí của đối phương sau bốn năm từng có mặt ở đó của chúng ta, sau những thương vong to lớn và sau sự tàn phá khổng lồ từ cuộc dội bom của chúng ta?” Câu trả lời là không.49

Trong hồi ký của mình, ông Clifford viết: “Tôi cảm thấy kinh hoàng. Không có gì đã chuẩn bị truớc tư tưởng cho tôi về sự yếu kém của trường hợp quân sự.”50 Ông Clifford kết luận “qua đó chiều hướng của quân sự mà chúng ta đang theo đuổi, thì không chỉ là vô tận, mà còn là vô vọng” và việc gởi 206.000 quân lính khác “chỉ có thể làm gia tăng sự tàn phá và Mỹ hoá chiến tranh.”51
Cách làm việc đáng thất vọng của Ban Tham mưu Kết hợp, nhà sử học Robert Buzzanco lập luận, đã phản ảnh một sự kiện thực tế là sự yêu cầu về quân lính là một tính toán về chính trị, không phải là một trù tính về chiến lược.52 Trong suốt cuộc khủng hoảng của biến cố Tết, những báo cáo của ông Wheeler và ông Westmoreland đã thường là trái ngược nhau, đối với những đánh giá lạc quan về đối phương trong cuộc rút lui tương phản với những trù hoạch ảm đạm làm tồi tệ hơn tình hình. Những báo cáo của ông Westmoreland, theo ông Buzzanco, phản ảnh một cách chính xác hơn cách suy nghĩ của ban lãnh đạo quân sự. Ban Tham mưu Kết hợp nhìn nhận rằng cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân đã nghiêm trọng làm suy yếu miền Nam Việt Nam, qua việc đưa ra những câu hỏi về khả năng tiếp tục chiến đấu của QĐVNCH,(pc 02) khả năng tồn tại của chính phủ Sài Gòn, và liệu công cuộc bình định ở các khu vực nông thôn có thể được tiếp nối. Họ biết rằng những người cộng sản có thể thay thế những mất mát của họ và có thể tương đồng với bất kỳ sự gia tăng trong sức mạnh số quân lính Hoa Kỳ. Họ cũng nhận ra rằng ông Johnson sẽ không cho phép việc kêu gọi những quân lính trừ bị, vì thế sự từ chối đó về lời yêu cầu được ước đoán trước. Tuy nhiên, cùng lúc đó, họ từ chối sự suy xét về những chiến lược thay thế khác. Sự yêu cầu về quân lính do đó đã là một sự vận động đáng hoài nghi nhằm chuyển trách nhiệm về sự thất bại sau đó cho ông Johnson: sự từ chối có thể được hiểu như là một vị Tổng thống không cung cấp cho quân đội những quân lính mà nó cần đến để đạt được chiến thắng. “Hoạt động chính trị của quân đội ở Washington,” ông Buzzanco viết, “đã từng vượt quá những nỗ lực của nó trên chiến trường trong chiến tranh.”53
Vì vậy, khi các hậu quả về kinh tế của việc tiếp tục chiến tranh và của tình hình chính trị–quân sự ảm đạm ở Việt Nam trở nên rõ ràng hơn, một sự đồng thuận được phát triển giữa các vị cố vấn chính yếu của ông Johnson rằng Hoa Kỳ phải thay đổi chiều hướng. Gần như tất cả trong số những người nầy đã từng ủng hộ chiến tranh, nhưng bây giờ họ đánh giá lại những vị thế của họ và họ bắt đầu làm việc để thuyết phục ông Johnson rằng đó là lúc bắt đầu việc thoát ra. Ở trọng tâm của quá trình chuyển đổi là ông Clifford, vốn là người sau các cuộc họp của ông ta với Ban Tham mưu Kết hợp đã trở thành một “con bồ câu”. Ông ta phối hợp với các quan chức khác trong Nhà Trắng, Bộ Ngoại giao, và Bộ Quốc phòng vốn là những người chia sẻ những nhận thức của ông ta. Đáng chú ý là, ông ta thu hút sự ủng hộ từ hai người trong số các kiến trúc sư chính về chiến lược ngăn chận trước đây của Hoa Kỳ. Paul Nitze, Phó Bộ trưởng Quốc phòng vốn là người được biết đến như là tác giả tài liệu NSC-68(pc 04) của năm 1950 mà qua đó thực hiện một trường hợp thú vị cho việc kiềm chế sự mở rộng của cộng sản trên khắp thế giới, đã từ lâu xem sự can thiệp ở Việt Nam là một sự trệch hướng đầy lãng phí các nguồn tài lực xa khỏi những lợi ích quốc tế hấp dẫn hơn.

p174

Ngoài ra, Dean Acheson, vốn là người đã từng là vị Bộ trưởng Ngoại giao từ năm 1949 đến 1953, và đã từ lâu là một người ủng hộ chiến tranh rất ồn ào, được thuyết phục bởi những sự kiện đầu năm 1968 rằng cuộc chiến không thể được tiếp tục. Tóm lại, ông Nitze và ông Acheson xem sự can dự vào Việt Nam như là một sự mở rộng không thích hợp của học thuyết ngăn chận.
Ông Acheson là trong số những người được gọi là “những người đàn ông thông thái” –một nhóm các cựu quan chức được tôn trọng từ cả hai chính quyền Cộng hòa và Dân chủ– vốn là những người đã thỉnh thoảng hội họp với ông Johnson về các vấn đề chính sách đối ngoại; “những người thông thái” gần đây nhất là tháng Mười Một năm 1967 đã góp ý cho ông Johnson theo đuổi cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Vào tháng Ba năm 1968, ông Clifford và ông Acheson sắp xếp cho “những người thông thái” được triệu tập lần nữa đến Nhà Trắng. Theo sau những cuộc họp báo mở rộng về tình hình ở Việt Nam, 13 “người thông thái” gặp gỡ với ông Johnson và khuyên ông ta rằng đó là thời điểm thoát ra khỏi cuộc chiến tranh vô ích. Ông Johnson cảm thấy chấn động và giận dữ, nhưng ông ta không thể bỏ qua sự đồng thuận của các nhân vật thuộc tổ chức được tôn trọng. Thêm vào đó, vị Bộ trưởng Ngoại giao Dean Rusk, từ lâu là một người ủng hộ trung thành chính sách chiến tranh của ông Johnson và là người mà ông Johnson tin cậy hơn bất kỳ quan chức nào khác, đã khuyên Tổng thống ngưng lại, ít nhất là tạm thời, cuộc dội bom miền Bắc Việt Nam như là một phương thức về việc thử nghiệm sự nghiêm túc của Bắc Việt Nam trong các cuộc đàm phán và về việc làm im lặng những lời chỉ trích trong nước.
Việc chấp nhận sự hữu lý của lời khuyên vốn đến từ hầu như mọi phía là một viên thuốc đắng cho ông Johnson. Những thiên hướng của ông ta là tham chiến: nhằm đả kích các nhà phê bình trong nước và theo đuổi kẻ thù trên chiến trường; vào giữa tháng Ba, ông ta đưa ra hai bài phát biểu rất hiếu chiến về việc hứa hẹn một chiến thắng và việc hô hào công chúng ủng hộ những quân lính và các nhà lãnh đạo của quốc gia. Tuy nhiên, cuối cùng, ông Johnson cam chịu theo sự bắt buộc về chính trị–chiến lược cho việc thoát ra. Bài diễn văn vào ngày 31 tháng Ba được thu hình của ông ta từ Văn phòng Bầu dục của Tổng thống bắt đầu: “Tối nay, tôi muốn nói chuyện với bạn về vấn đề hòa bình ở Việt Nam.” Trong sự quan tâm về các cuộc thảo luận nhanh chóng và nghiêm trọng, ông ta tuyên bố rằng ông ta đang thực hiện “bước đầu tiên để giảm leo thang cuộc xung đột. Chúng ta đang giảm xuống –giảm xuống một cách đáng kể– mức độ thù nghịch hiện tại. Và chúng ta đang làm như thế một cách đơn phương, và ngay lập tức.” Cuộc dội bom miền Bắc Việt Nam, ngoại trừ khu vực ngay phía bắc của khu phi quân sự, sẽ kết thúc; nói thêm rằng “ngay cả việc dội bom miền Bắc có hạn chế này có thể đi đến một kết thúc sớm nếu sự kiềm chế của chúng ta được tương xứng bởi sự kiềm chế ở Hà Nội.” Hoa Kỳ được chuẩn bị sẵn sàng để bước vào trong các cuộc thảo luận với Bắc Việt bất cứ lúc nào và địa điểm nào. Ông Johnson kết thút bằng cách rút lui khỏi cuộc đua tổng thống: “Tôi không tin rằng tôi nên dành một giờ hoặc một ngày thời gian cho bất kỳ nguyên nhân đảng phái cá nhân nào hoặc cho bất kỳ nhiệm vụ nào khác hơn những nhiệm vụ tuyệt vời của văn phòng này… Tôi sẽ không tìm kiếm, và tôi sẽ không chấp nhận, sự đề cử của đảng của tôi cho một nhiệm khác như là vị Tổng thống của các bạn.”54

p175

Như vậy, trong việc giải bày của phe chính thống, sự quyết định thoát ra của ông Johnson là một việc chắn chắn không thể tránh khỏi. Sự nỗ lực của quân sự để cứu lấy một chính phủ Nam Việt Nam yếu đuối, theo quan điểm của họ, được định mệnh an bài thất bại. Những sự kiện của biến cố Tết, tình trạng bất ổn ở quê nhà, và tình trạng khó khăn về tài chính đang đối mặt với quốc gia đã khẳng định sự vô ích của cuộc chiến tranh mà qua đó đáng lý ra không bao giờ phải chiến đấu. Vào ngày 31 tháng Ba năm 1968 là ngày kết liểu.

Tóm lược :

Cuộc tranh luận trên vấn đề về cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân đánh dấu sự khởi đầu của sự khác biệt đáng kể giữa các cây viết thuộc phe chính thống và phe xét lại về kết quả của các hoạt động quân sự. Trong việc nhìn lại chiến lược của Hoa Kỳ từ năm 1965 đến 1968, cả hai bên chấp nhận dự kiến rằng cuộc chiến tranh sẽ không tốt đẹp, nhưng họ không đồng ý về việc liệu một chiến lược khác nhau sẽ tạo nên bất kỳ sự khác biệt nào. Khi họ tiếp cận các trận đánh của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, tuy nhiên, những bài tường thuật của phe chính thống và phe xét lại khác biệt một cách sâu sắc về mức độ mà sự thành công của Mỹ–miền Nam Việt Nam trong việc đẩy lui các cuộc tấn công vào các thành phố đã làm thay đổi các động lực chính trị–quân sự ở miền Nam Việt Nam. Một đánh giá chính xác trở nên phức tạp bởi các báo cáo thường xuyên tạo ra xung đột từ ông Westmoreland và những người khác mà qua đó cho thấy sự khó khăn to lớn về việc nhìn xuyên qua “lớp sương mù của chiến tranh.” Dường như, tuy nhiên, rằng những lời tuyên bố của phe xét lại về một chiến thắng quyết định trên chiến trường vốn thiết lập một giai đoạn cơ hội để kết thúc chiến tranh một cách thuận lợi, được phóng đại. Sự xét đoán đó không phải để phủ nhận rằng vị thế của Mỹ–miền Nam Việt Nam có thể đã từng mạnh hơn các bài tường thuật của chính thống cho phép, nhưng nó thực sự phản ảnh sự vượt trội của những đánh giá về chính trị-quân trong lĩnh vực này và ở Lầu Năm Góc và các kết luận được suy xét của nhà sử học quân sự cuộc chiến đấu được tiến hành trong suốt năm 1968. Ông Spector nhấn mạnh, quân đội miền Nam Việt Nam và chính phủ vẫn chịu gánh nặng bởi các vấn đề lâu đời mà qua đó phá hủy ngầm tiềm năng của nó để hoàn tất tầm nhìn của phe xét lại về biến cố Tết Mậu Thân như là sự chuẩn bị cho một bước ngoặt hướng đến thắng lợi.
(Ghi chú : p176–178)

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 02_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 03_ Ngô Vĩnh Long : (lược theo wikipedia.vn) Là người được sinh ra từ làng Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, miền Bắc Việt Nam, theo gia đình vào miền Nam Việt Nam trong cuộc di cư năm 1954 nhằm trốn chạy cái họa cộng sản, mặc dù người cha của ông ta đã từng hoạt động cách mạng trong việc tham gia phong trào Việt Minh kháng chiến chống Pháp.
Sau khi vào miền Nam Việt Nam, ông ta được gia đình nuôi ăn học và nhờ chế độ tự do của chính quyền Diệm, cũng như những cải cách về nền giáo dục, ông ta đỗ được tú tài với số điểm rất cao. Tuy nhiên, Ngô Vĩnh Long thuộc thế hệ đầu tiên tham gia phong trào được gọi là “sinh viên yêu nước” ở Sài Gòn để biểu tình chống chế độ Nguyễn Khánh sau khi ông Diệm bị lật đổ. Cùng lúc ấy, ông ta thi lấy học bổng của Trường Đại học Harvard, và là người Việt Nam duy nhất học ở đó.
Năm 1964, ông ta được sang Hoa Kỳ du học, vào khoảng 8 năm sau, một sự kiện đáng nhớ nhất trong thời trẻ của ông ta là việc cùng với một nhóm các sinh viên Việt Nam khác vào ngày 10/2/1972 đã chiếm giữ toà lãnh sự của chính phủ Sài Gòn ở New York trong lúc các nhân viên đang ăn trưa nhằm đưa ra các tuyên bố với thế giới những đòi hỏi của “nhân dân Việt Nam”…
Sau khi tốt nghiệp trường Đại học Harvard, ông ta làm Tổng Giám đốc Trung tâm tài liệu Việt Nam ở Cambridge và hiện nay là giáo sư giảng dạy khoa lịch sử tại trường đại học Maine, thành phố Orono, tiểu bang Maine. Cũng là một trong những học giả Việt kiều nổi tiếng tại Mỹ, nghiên cứu về lịch sử Đông Nam Á, Đông Á, quan hệ châu Á–Mỹ.
Ngoài các bài viết trên báo chí Việt Nam sau năm 1975, cũng như các trí thức Việt kiều khác, ông ta thường xuyên về nước tham gia các cuộc tọa đàm với những học giả trong nước về các vấn đề xã hội và tham gia các cuộc hội thảo với các trường đại học trong nước về những vấn đề “thời sự nóng bỏng” trên thế giới hiện nay mà sẽ có những ảnh hưởng lớn đến kinh tế của một số quốc gia cũng như Việt Nam, ngoại trừ vấn đề “tranh chấp Biển Đông của Trung Quốc”.

pc 04_ NSC-68 : (National Counsil Report 68) là bản Báo cáo Hội đồng Quốc gia năm 1968, một chính sách tối mật 58 trang được phát hành bởi Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ vào ngày 14 tháng Tư năm 1950, trong suốt vai trò Tổng thống của Harry S. Truman. Đó là một trong những tuyên bố quan trọng nhất của chính sách của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh. NSC-68 phần lớn biến đổi hình thái chính sách đối ngoại của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh trong 20 năm tới, và liên quan đến một quyết định nhằm thực hiện sự ngăn chận sự chống lại sự bành trướng của cộng sản như là một ưu tiên tối cao. Chiến lược được nêu ra trong NSC-68 được cho là đạt được một thắng lợi cuối cùng với sự sụp đổ của Liên Xô và sự xuất hiện theo sau của một “trật tự thế giới mới” được tập trung vào chỉ là những giá trị của chủ nghĩa tư bản tự do kiểu Mỹ. Ông Truman chính thức ký NSC-68 vào ngày 30 tháng Chín năm 1950. Nó không được xem là một bí mật quốc gia nữa vào năm 1975.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s