Phần 6: Những Phương tiện Truyền thông và Chiến tranh

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p133

Phần 6: Những Phương tiện Truyền thông và Chiến tranh:
(Uốn nắn hay Phản ảnh Quan điểm Công chúng?)

Không có “bài học” nào về Chiến tranh Việt Nam đã từng trở thành hơn là một phần của “sự khôn ngoan theo thông lệ” so với niềm tin mà những phương tiện truyền thông, đặc biệt là truyền hình, trình bày một cái nhìn méo mó và bất lợi về nỗ lực quân sự của Mỹ. Những phương tiện truyền thông, đối với những nhà phê bình khắc khe nhất của nó, “đánh mất” cuộc chiến tranh. Những hình ảnh mạnh mẽ từ các chiến trường thì quá sâu sắc đến nổi hàng triệu người Mỹ quay lưng chống lại chiến tranh và sự xói mòn việc ủng hộ của công chúng này ngầm phá hủy cách giải quyết của quốc gia. Đối với những nhà phê bình khác, những phương tiện truyền thông “góp phần” vào –cùng với các yếu tố khác– chiều hướng giảm sút sự hỗ trợ của công chúng. Một giả định cơ bản của tất cả các nhà phê bình là sự mô tả chiến tranh của Mỹ phản ảnh một “thành kiến tự do” mà qua đó được xem như là tạo ra đặc tính cho dòng chính của báo chí kể từ thập niên 1960s.
Ban lãnh đạo quân sự của Hoa Kỳ đã từng chấp nhận –như là một “bài học” chủ yếu về Việt Nam– tầm quan trọng của việc làm cho chắc chắn rằng “những phương tiện truyền thông tự do” sẽ không được phép một lần nữa ngầm phá hủy sự ủng hộ của công chúng. Vì thế, trong những can thiệp gần đây, chẳng hạn như là những can thiệp được ra lệnh bởi Tổng thống Ronald Reagan ở Grenada và Tổng thống C.W. Bush ở Panama, và trong Chiến tranh vùng Vịnh Ba Tư của năm 1991 và Chiến tranh Iraq kể từ năm 2003, việc tường trình của báo chí và truyền hình đã bị hạn chế.1
Chương này khảo sát những lý luận được tạo ra bởi các nhà phê bình về những phương tiện truyền thông vốn có thành kiến đối với các nhà báo tường thuật sai lạc về chiến tranh. Bản cáo trạng của các nhà phê bình về những phương tiện truyền thông sẽ được phân tích bằng cách xem xét các nghiên cứu về sự tường thuật về chiến tranh, đặc biệt là trên truyền hình. Sự cố gắng nầy nhằm hiểu được bản chất của việc tường thuật sẽ thu hút các quan sát của chính những nhà báo cũng như những tác phẩm của các học giả truyền thông đại chúng.

p134

A- Lời Phê bình của Các nhà lãnh đạo Thời chiến về những Phương tiện Truyền thông:

Khi chiến tranh được tiến hành ở Việt Nam, những quan chức chính trị và quân sự lo ngại về ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông. Tổng thống Lyndon Johnson đã kín đáo nổi giận về điều gì ông ta xem là báo chí và sự tường trình của truyền hình không thuận lợi, đặc biệt là sự thiếu thiện ý của nhiều phóng viên nắm bắt lời tuyên bố của chính quyền về sự “diễn tiến” trên chiến trường. Tuy nhiên, chỉ một lần, ông Johnson đả kích công khai, và ông ta đã làm như thế vào ngày 01 tháng Tư năm 1968, một ngày sau khi ông ta tuyên bố rút khỏi cuộc đua tổng thống của mình; nói chuyện với Hiệp hội của giới Truyền thông Quốc gia, ông Johnson cho biết:

Khi tôi ngồi trong văn phòng của tôi lúc buổi chiều tối cuối cùng, chờ đợi để nói chuyện, tôi nghĩ về việc nhiều lần trong mỗi tuần khi truyền hình mang chiến tranh vào trong nhà người Mỹ. Không ai có thể nói một cách chính xác ảnh hưởng như thế nào đối với những cảnh sống động đó có trên quan điểm của người Mỹ. Các nhà sử học chỉ phải đoán trên tác động mà truyền hình có thể gây ra trong suốt các cuộc xung đột trước đây về tương lai của quốc gia: trong suốt cuộc Chiến tranh Triều Tiên, vào thời điểm khi các lực lượng của chúng ta bị đẩy trở lui ở đó đến thành phố Pusan;(pc 01) hoặc Thế Chiến thứ II, Trận chiến của vùng Nở rộng,(pc 02) hoặc khi những người của chúng ta đang chiến đấu vất vả ở châu Âu hoặc khi hầu hết Lực lượng Không quân của chúng ta bị bắn rơi ngày hôm đó trong tháng Sáu năm 1942 bên ngoài nước Úc.2

Ngụ ý của sự than phiền của ông Johnson thật rõ ràng: việc tường thuật của truyền hình đã ngầm phá hủy sự hỗ trợ cuộc chiến tranh của ông ta từ quê nhà và có thể đã có ảnh hưởng tương tự trong Thế Chiến thứ II và Chiến tranh Triều Tiên, nếu những cuộc chiến tranh đó bị phơi bày cho cuộc tường thuật tương tự. Lời phê bình của ông Johnson có thể được nhìn thấy trong nhiều ánh sáng: như việc phản ảnh khuynh hướng mạnh mẽ của ông ta về sự tự thương mình; như việc rút ra những kết luận chưa được xác minh về bản chất và ảnh hưởng của cuộc tường thuật truyền hình; và như việc so sánh hai cuộc chiến tranh rất khác nhau ở Việt Nam.
Tuy nhiên, sự than phiền của ông Johnson trở thành một phần của lời giải thích thuận lợi về sự thất vọng trong chiến tranh vốn chuyển đổi trách nhiệm từ các nhà hoạch định chính sách đến các phóng viên và nhà sản xuất đài truyền hình. Trong suốt chiến dịch tranh cử tổng thống theo sau của năm 1968, Phó Tổng thống Hubert Humphrey, chiến đấu một trận chiến vượt đồi đầy gian truân chống lại Richard Nixon, đã lên tiếng chống lại những người truy vấn phản-chiến tại một trong những đại hội của mình và nhất thiết đổ lỗi cho giới truyền thông về việc tạo ra những lời chỉ trích vô trách nhiệm; khởi từ bài viết tay của mình, ông Humphrey khuyên nhủ những người quay phim cho đài truyền hình nên tập trung vào ông ta, không phải là những người biểu tình chống đối, vốn là những người hưởng lợi to lớn từ sự chú ý của phương tiện truyền thông.3
Ông Humphrey thất cử cho Richard Nixon, chính quyền của ông ta nêu bật những lời chỉ trích về giới truyền thông. Ông Nixon chỉ trích một cách tiêu biểu các đối thủ trong nước và giới truyền thông một cách gián tiếp, nhưng thông điệp của ông ta thì rõ ràng. Bài diễn văn chính, đầu tiên của ông ta về Việt Nam –vào ngày nổi tiếng 3 tháng Mười Một năm 1969 kêu gọi cho sự ủng hộ của “đại đa số những người Mỹ im lặng” –bao gồm những lời chỉ trích tế nhị của phe đối lập ở quê nhà:

p135

“Hãy để chúng ta được hợp nhất vì hòa bình. Hãy để chúng ta được hợp nhất chống lại bại trận. Bởi vì hãy để chúng ta hiểu: miền Bắc Việt Nam không thể đánh bại hoặc làm nhục Hoa Kỳ. Chỉ những người Mỹ có thể làm điều đó.”4 Như ông Nixon giải thích vào ngày hôm sau, mục tiêu của ông ta là “vượt qua hàng lớp những nhà viết xã luận” để tiếp cận với công chúng Mỹ. Ông Nixon chủ yếu dựa vào Phó Tổng thống Spiro Agnew để thực hiện một tấn công trực diện vào những mạng lưới truyền hình. Điều này bắt đầu trong sự phản ứng đối với điều gì mà ông Nixon xem là việc tường thuật không công bằng cho tiếng nói của “đa số im lặng,” cả trong “những phân tích cấp tốc” được đưa ra bởi các mạng lưới chính yếu và sau đó trên các tờ báo hàng đầu của quốc gia. Trong một bài phát biểu vào ngày 13 tháng Mười Một, ông Agnew tố cáo rằng các mạng lưới thành lập một nơi “tập trung quyền lực” dưới sự kiểm soát của Eastern, giới ưu tú thuộc phe tự do vốn là những người trình bày cuộc chiến tranh và cuộc biểu tình phản đối ở quê nhà từ một quan điểm chống chính quyền. Ông ta tấn công “những lời chỉ trích càu nhàu” và việc thực hành về sự “phân tích cấp tốc” theo một chiều hướng của những mạng lưới truyền thông.5 Ít lâu sau đó, ông Agnew tạo ra đặc trưng cho những nhà báo như là “những tay tài phiệt xu nịnh Âu châu ở Ấn Độ của chủ nghĩa tiêu cực.”
Ông Nixon không ngừng trong những lời chỉ trích của mình về giới truyền thông, tiếp tục viết bản cáo trạng vào trong hồi ký của mình:

Chiến tranh Việt Nam thì phức tạp bởi các yếu tố vốn chưa bao giờ xảy ra trước đây trong việc tiến hành chiến tranh của Mỹ… Các truyền thông tin tức của Mỹ đã cuối cùng đi đến việc thống trị quan điểm trong nước về mục đích và ý nghĩa của nó. Tin tức truyền hình vào mỗi buỗi tối và báo chí mỗi buổi sáng, chiến tranh được tường thuật từ trận chiến nầy đến trận chiến khác, nhưng ít hoặc không có ý nghĩa gì về mục đích cơ bản của các cuộc chiến đấu được chuyển tải. Cuối cùng, điều này đóng góp vào việc gây ấn tượng rằng chúng ta đang chiến đấu trong vũng cát lún quân sự và tinh thần chiến đấu… [Truyền] hình cho thấy sự gánh chịu đau khổ khủng khiếp của con người và sự hy sinh cho chiến tranh. Bất cứ chủ ý gì phía sau việc tường thuật không ngừng và theo nghĩa đen như thế, kết quả là một sự phá hoại đạo đức tinh thần nghiêm trọng của mặt trận ở quê nhà, đưa ra một câu hỏi liệu Mỹ có từng bao giờ một lần nữa có khả năng chiến đấu một kẻ thù ở ngoài nước bằng sự đoàn kết và sức mạnh của mục đích ở quê nhà.6

B- Sự tố cáo của phe Xét lại về giới Báo chí Vô trách nhiệm:

Từ những nguồn gốc trong thời kỳ chiến tranh nầy, việc cho là giới truyền thông chịu trách nhiệm, ít nhất một phần, cho sự thất bại của Mỹ đã trở thành một lý luận chính yếu của phe xét lại. Đối với những người theo chủ trương xét lại, việc xói mòn sự hỗ trợ ở quê nhà và việc mất ý chí kiên trì sự giúp đỡ để giải thích lý do tại sao quân đội Mỹ bị từ chối một cơ hội giành được chiến thắng. Đối với Đại tá Harry Summers, người phát ngôn hàng đầu của những lời chỉ trích của phe Clausewitz về việc tiến hành chiến tranh, cuộc tường thuật truyền hình tạo nên một tình huống xấu –việc chiến đấu một loại chiến tranh sai lầm– tất cả trở nên tồi tệ hơn.

p136

Tin tưởng rằng ban lãnh đạo quân sự đã từng cố gắng che chắn những người Mỹ từ những thực tế khắc nghiệt của chiến tranh, ông Summers ghi chú:

Chúng ta đã từng giấu kín những người Mỹ bản chất thực sự của chiến tranh vào thời điểm chính xác mà truyền hình mang những hiện thực của nó vào trong phòng khách của họ bằng màu sắc sống động. Kết quả là, đối với nhiều người Mỹ, Việt Nam trở thành một cuộc chiến tranh hủy hoại nhất, kinh hoàng nhất, khủng khiếp nhất, từng được tiến hành trong lịch sử của thế giới. Quan điểm này đã từng vẫn còn dường như là sự thật của tất cả bằng chứng lịch sử đối với điều trái ngược.7

Một số ít nhà báo, đáng chú ý nhất là Robert Elegant, đã từng là một nhân vật tiên phong của những lời chỉ trích về giới truyền thông. Trong một bài tiểu luận gây ảnh hưởng vào năm 1981, “Làm cách nào để Thua một cuộc Chiến tranh” (How to Lose a War), ông Elegant truy tố những thành kiến và hạn chế của đại đa số các nhà báo đồng nghiệp của ông ở Việt Nam. Sau khi bao phủ vùng Đông Dương trong suốt những năm cuối cùng của sự cai trị của Pháp, ông Elegant là một người sớm hoài nghi về sự can dự ngày càng gia tăng của Mỹ từ năm 1955 đến 1965, và trên chuyến trở lại Việt Nam của ông ta vào năm 1966, ông ta cảm thấy sửng sốt bởi sự kém hiệu quả và rối loạn của sự hiện diện quân sự to lớn của Hoa Kỳ và nhận ra những thiếu sót của chính phủ và quân đội miền Nam Việt Nam. Nhưng ông ta cũng tin rằng, sau khi thực hiện sự cam kết, Hoa Kỳ đã nâng cao tầm quan trọng của miền Nam Việt Nam trong Chiến tranh Lạnh và không có lựa chọn, ngoài việc vẫn vẫn giữ đều đặn sự hỗ trợ của nó cho đến khi miền Nam Việt Nam có thể tự bảo vệ chính mình. Điều này tạo cho ông ta, ông ta dám chắc rằng, trở thành một nhân vật hiếm hoi trong số các nhà báo. Không kể đến những giải thưởng cho việc tường thuật này, ông ta mất đi những cơ hội để xuất bản trong các tạp chí Mỹ. Ông Elegant đổ lỗi cho Hoa Kỳ thua bại ở những phóng viên kém sáng suốt, có thành kiến:

Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, kết quả của một cuộc chiến tranh đã được quyết định không phải trên chiến trường, nhưng trên trang giấy được in ra, và, trên tất cả, trên màn hình truyền hình… Những lực lượng [miền Nam] Việt Nam và Mỹ thực sự đã chiến thắng cuộc đấu tranh quân sự hạn chế. Họ thực sự nghiền nát Việt Cộng (VC)… và sau đó họ đẩy lui cuộc xâm lược của những sư đoàn chính quy Bắc Việt. Tuy thế, cuộc Chiến tranh cuối cùng bị thua cho những kẻ xâm lược sau việc buông ra của Mỹ bởi vì các áp lực chính trị được dựng lên bởi giới truyền thông tạo nên việc bất khả thi cho Washington duy trì ngay cả sự hỗ trợ tối thiểu về vật liệu và tinh thần mà qua đó đáng lý ra tạo khả năng cho chế độ Sài Gòn tiếp tục sự đối kháng hiệu quả… Không nói đến những dù lỗi lầm vô số và nghiêm trọng của họ, người miền Nam Việt Nam, trước hết và sau cùng, bị đánh bại theo một cách quyết định ở Washington, New York, London, và Paris. Những việc phá hại của giới truyền thông đó tạo ra những cuộc bại trận tiếp theo không thể tránh khỏi của họ trên chiến trường.8

Trong số những thành viên của đoàn báo chí ở Sài Gòn, ông Elegant nói tiếp, một đặc tính xói mòn của một tập thể được phát triển, mà qua đó khen thưởng những câu chuyện vốn mô tả cuộc chiến tranh của Mỹ theo cách không thuận lợi. Công việc tường thuật chiếm được ưu thế hơn bởi các phóng viên trẻ, nhiều người xoay vòng vào-ra Việt Nam trên những nhiệm vụ ngắn hạn, có cơ hội thăng tiến nghề nghiệp.

p137

Đối với các phóng viên có được chỉ là kiến thức hời hợt về lịch sử, văn hóa, hoặc ngôn ngữ Việt Nam, họ nhanh chóng trở thành một phần của một thế giới khép kín, tự chịu đựng của các phóng viên vốn quý trọng những câu chuyện mà qua đó chất đầy sự sĩ nhục trên chính phủ Hoa Kỳ. Hầu hết các phóng viên lớn tuổi chọn một tầm nhìn tách biệt hơn; một người trong số họ, là một Marguerite Higgins chiếm được giải thưởng, đã viết rằng “những phóng viên ở đây muốn nhìn thấy Hoa Kỳ thua bại cuộc chiến tranh để chứng minh họ đúng.”9
Cuộc trình tường thuật của truyền hình đã từng được chọn ra điều gì mà các nhà phê bình nhìn thấy như là việc thiếu tinh thần trách nhiệm của nó. Mạng lưới tin tức “trưởng thành” trong suốt thập niên 1960s như là một tổ chức có khả năng gây ảnh hưởng đến những thái độ và quan điểm của công chúng, tuy nhiên các nhà phê bình cho rằng mà nó dùng sức mạnh đó ngầm phá hoại những người đang cầm quyền. Truyền hình nhấn mạnh đến những câu chuyện ngoạn mục, các mạng lưới truyền thông “đòi hỏi” cảnh hành động đẫm máu, trong khi sự chú ý nhỏ nhoi được dành cho sự hiểu biết ít bi thảm, nhưng cuối cùng những câu chuyện quan trọng hơn, giống như công cuộc bình định. Nhà chuyên viết xã luận thuộc tổ chức cung cấp bài báo, Marquis Childs, tường thuật từ Sài Gòn vào năm 1969 về những căng thẳng giữa quyền chỉ huy quân sự Mỹ và đoàn báo chí vốn hoài nghi về những bài báo cáo chính thức về sự tiến triển và nói về những áp lực trên các phóng viên:

Những phóng viên làm việc chăm chỉ… đã học được… rằng chiến tranh, bạo lực xuất hiện trên trang 1 và các chương trình tin tức. Khi người điều hành của một mạng lưới thông tin đặt ra vấn đề: “Họ muốn máu… nếu họ có thể bắt ai đó chết trên máy quay phim, đó là điều tuyệt vời.” Cuộc tường thuật có chiều sâu về những xảo quyệt của chính trị, những phức tạp của một tình huống rắc rối cao độ, đôi khi không bao giờ được gởi và không bao giờ được sử dụng. Từ phía giới chức vốn than phiền –hình ảnh bị bóp méo mà công chúng Mỹ nhận được theo thuật ngữ không khác gì là bạo lực.10

Thay vì nghề báo chí khách quan, việc tường thuật về chiến tranh đã trở thành, đặc biệt là trong số các mạng lưới truyền hình, một “sự cạnh tranh theo cách bẩn thỉu” để mô tả cuộc chiến tranh của Mỹ như là vô đạo đức và phá hoại một cách phi lý.11 Đối với vụ bê bối Lạm dụng Quyền lực (Watergate) theo sau chiến tranh không xa, một Ủy ban Ba bên tiến hành một nghiên cứu về “khả năng cai trị” của phe dân chủ; thảo luận về những thay đổi ở Mỹ, nhà khoa học chính trị Samuel Huntington viết về sự xuất hiện việc gây ảnh hưởng của giới truyền thông đại chúng:

Một nguồn mới, đáng chú ý nhất về sức mạnh của quốc gia vào năm 1970, như được so sánh với năm 1950, là các phương tiện truyền thông quốc gia… Có… bằng chứng đáng kể cho thấy rằng sự phát triển của nghành viết tin cho truyền hình đóng góp cho sự phá hoại ngầm cơ quan chính phủ… Những tổ chức [mạng lưới] truyền thông… trở thành, “một sự đối lập chính trị có tín nhiệm cao độ, không bao giờ mệt mỏi, một nhóm thứ ba không thuộc đảng phái chính trị nào vốn không bao giờ cần đối mặt với một kinh nghiệm nghiêm túc về sự quản trị.”12

Về bản chất, với việc tường thuật về Việt Nam dẫn đường, các phương tiện truyền thông, đặc biệt là truyền hình, được xem như trở thành một đối thủ mạnh mẽ về việc thành lập và ngầm phá hủy chính quyền của mình.

p138

Những nhà phê bình giới truyền thông thường lần theo những lời chỉ trích về các phương tiện truyền thông đến “nghành báo chí mới” và sự sụp đổ của nghành báo chí khách quan. Theo một cách đa dạng, nghành báo chí được gọi là “điều tra” hoặc “đối thủ” hoặc “đảng phái” “nghành báo chí mới” bào chữa quan điểm trên một vấn đề và thường tạo ra những vấn đề. “Cái thiện và cái ác được đặt vào trong cuộc xung đột khá rõ ràng,” Michael Novak viết, “việc ‘đánh mạnh’ của cuộc tường thuật theo tính chất điều tra được liên kết một cách bí ẩn đến những hình thức cổ điển của Mỹ về chủ nghĩa anh hùng có đạo đức; người phá vỡ tội phạm, cảnh sát liêm khiết”13 Một “bản năng theo nhóm” được thêm vào việc gây ảnh hưởng của nghành báo chí có phe phái này, vì khi những phóng viên phát triển một định nghĩa rộng rãi về việc làm cách nào để đóng khung một vấn đề, điều đó trở thành một chuẩn mực mà qua đó gần như tất cả trong số họ trình bày tin tức cho những độc giả và khán giả của họ. Trong trường hợp của các phóng viên Sài Gòn, thành kiến chống chính phủ được đề cao bởi sự mất lòng tin ngày càng tăng của họ về giới lãnh đạo quân sự, mà qua đó họ (thậm chí một số nhà phê bình về giới truyền thông nhận biết) cung cấp thông tin sai lạc. Đối với mộ tờ báo ngày càng hoài nghi, những cuộc họp báo hàng ngày của Bộ Tư lệnh Mỹ ở Sài Gòn dần dà được biết đến như là “những trò điên rồ lúc năm giờ.”
Các nhà phê bình chỉ ra một số lượng trường hợp về việc tường thuật mà qua đó dựng lên hình ảnh chiến tranh của Mỹ một cách không thuận lợi. Riêng biệt là, điều nầy liên quan đến những câu chuyện mô tả việc sử dụng sức mạnh quân sự không đối xứng chống lại những thường dân và tài sản của họ. Sơm như vào tháng Tám năm 1965, cuộc tường thuật của truyền hình trở thành tranh cãi khi phóng viên CBS, Morley Safer, tường trình cuộc tấn công của Thủy quân Lục chiến (TQLC) Hoa Kỳ vào ngôi làng Cần Ne (Cẩm Nê ?), vốn gần căn cứ Không quân Hoa Kỳ ở Đà Nẵng và được xem là một địa điểm mạnh mẽ của VC.(pc 03) Bài tường thuật của ông Safer về trận chiến được tiến hành tại Cần Ne, vốn chấm dứt với những việc đốt cháy 150 ngôi nhà bởi những người Mỹ, khác biệt trong một vài mặt nào đó từ phiên bản chính thức của quân đội, đặc biệt là dường như giảm thiểu mức độ sức mạnh của VC trong làng. Ông Safer nhận biết rằng TQLC đã từng cố gắng thuyết phục những dân làng rời khỏi nhà của họ trước khi chúng bị phá hủy, nhưng hình ảnh minh họa sinh động nhất của cuộc tường thuật, khi cuối cùng được phát sóng trên chương trình Tin tức Chiều tối của, đó là của một binh lính TQLC trẻ đang bắt lửa một túp lều bằng cái bật lửa thuốc lá; điều này được kèm theo với lời bình luận của ông Safer:

Hoạt động của ngày hôm nay cho thấy sự thất vọng của Việt Nam trong hình ảnh thu nhỏ. Có ít nghi ngờ rằng sức mạnh hỏa lực của Mỹ có thể giành được một chiến thắng quân sự ở đây. Tuy nhiên, đối với một nông dân Việt Nam mà nhà của ông ta có ý nghĩa như cả đời lao động cật lực, điều đó sẽ mất nhiều hơn là những lời hứa của tổng thống để thuyết phục ông nông dân rằng chúng ta đang ở cùng phiá với ông ta.14

Trong cuộc tường thuật tiếp theo sau, ông Safer phỏng vấn nhiều TQLC vốn là những người đã từng chiến đấu tại Cần Ne và họ nói rằng, trong số những điều khác, tất cả người Việt Nam phải được đối xử như thể họ là kẻ thù và rằng những người Mỹ phải cho “những người này… [thấy rằng] chúng ta đã đùa với họ xong rồi,” và rằng trận chiến Cần Ne “[đã từng] chứng minh quan điểm của chúng ta.”

p139

Đài tin tức CBS cũng tường thuật rằng chính sách chính thức của TQLC(pc 04) là không bao giờ đốt những ngôi nhà trừ khi chúng tăng gấp đôi như là những công sự và rằng túp lều bị đốt cháy ở đoạn đầu che dấu một lối vào đường hầm. Những quan chức quân sự cố gắng nhờ đài CBS triệu hồi ông Safer, nhưng đài CBS bảo vệ cuộc tường thuật của ông ta và lưu giữ ông ta ở Việt Nam.
Một câu chuyện tương tự là bài tường thuật của Jonathan Schelfs trên tờ báo The New Yorker (i.e Dân Nữu Ước) và cuốn sách tiếp theo sau, “Làng Bến Súc” (The Village of Ben Suc), về sự hủy hoại một ngôi làng như là một phần của Chiến dịch “Cedar Falls.” Vào đầu năm 1967, chiến dịch tìm-kiếm-và-tiêu-diệt to lớn đó nhổ bật những nông dân khỏi nhà của họ. Dự định loại bỏ thành trì của đối phương trong khu vực được gọi là Tam Giác Sắt, Chiến dịch Cedar Falls, trong bài tường thuật của ông Schell, tung ra cuộc dội bom và pháo binh gây chết người vốn làm kinh hoàng những dân làng. Những quân lính Mỹ tự ý bắt giữ những người bị tình nghi là VC và gom lại và dời chỗ ở cho những phụ nữ và trẻ em trước khi san phẳng bằng xe ủi đất làng Bến Súc. Cuối cùng những chiếc máy bay thả bom được gọi đến trong một nỗ lực làm sụp đổ các đường hầm bên dưới ngôi làng. Trong khi đó, cảnh hỗn loạn lan tỏa ở trung tâm tái định cư. Hoạt động quân sự này làm mất tinh thần những quan chức bình định của Hoa Kỳ, vốn là những người đã và đang làm việc trong khu vực và nhìn thấy những nỗ lực của họ cho việc giành được “tâm và trí” bị tan vỡ từng mảnh bởi việc sử dụng sức mạnh nầy của Mỹ. Những quan chức quân sự lên án bài tường thuật của ông Schell. Họ bảo vệ Chiến dịch Cedar Falls trên những lý lẻ rằng chiến dịch đã phá vỡ các hoạt động của cộng sản và rằng các đường hầm rộng lớn bên dưới làng Bến Súc và tịch thư được những tài liệu vốn xác minh sự mở rộng mạng lưới của VC(pc 03) trong khu vực. Họ lập luận rằng trên cơ sở quân sự, chiến dịch được chứng minh là đúng và thành công.15
Ngay trước khi Chiến dịch Cedar Falls, Harrison Salisbury, một phóng viên nổi tiếng và là biên tập viên quản lý của tờ báo New York Times, làm cuộc hành trình đến Hà Nội và từ nơi đó đã viết một loạt các bài báo vốn ghi chép lại những tác động tàn phá của việc dội bom của Mỹ. Vào tháng Mười Hai năm 1966, ông Salisbury trở thành người phóng viên đầu tiên từ một tờ báo lớn thăm viếng miền Bắc Việt Nam và ông ta đi với mục đích minh bạch về việc xác định liệu cuộc dội bom đang bừa bãi giết chóc những thường dân và gây hư hại những mục tiêu phi quân sự, như các nhà phê bình phản-chiến ở quê nhà và chính phủ Bắc Việt đang tuyên bố. Ông ta gặp gỡ với các quan chức Bắc Việt và thăm viếng những thị trấn và làng mạc vốn đã bị đánh trúng bởi những trái bom. Những bài tường thuật của ông ta cho rằng những tuyên bố của Không lực Hoa Kỳ không phải tất cả là đúng về việc thả bom được tập trung vào các mục tiêu quân sự, kỹ nghệ và truyền thông. Ông ta mô tả mỗi một cảnh tượng tan hoang bị gây ra bởi các cuộc dội bom, và viết về việc tại sao, trong một trường hợp, một quả bom được dành cho một chỗ đậu xe tải đã phá hủy một trường trung học, khiến cho nhiều người tin rằng Hoa Kỳ đang cố tình nhắm mục tiêu vào các cơ sở dân sự. “Bất cứ lời giải thích gì,” ông Salisbury viết, “người ta có thể thấy rằng những chiếc máy bay Hoa Kỳ đang thả xuống một trọng lượng chất nổ khổng lồ trên những mục tiêu hoàn toàn là dân sự.” Sau những bài tường thuật thu hút sự chú ý rộng rãi của ông Salisbury, Bộ Quốc Phòng thừa nhận rằng những sai lầm đã xảy ra, nhưng nhấn mạnh rằng chưa từng bao giờ có bất kỳ cuộc tấn công có chủ ý vào các mục tiêu không phải là chiến lược.

p140

Việc gây phiền nhiễu như là những bài tường thuật của ông Salisbury, đối với các nhà phê bình về ông ta, vấn đề khó khăn như nhau đó là ông ta ngấm ngầm cho chính phủ Bắc Việt tính hợp pháp bằng cách giải thích những mục đích chiến tranh của nó, những quan điểm của nó về chính phủ miền Nam Việt Nam và về sự can thiệp của Mỹ.16
Như vẫn là một minh họa khác về thành kiến bị cáo buộc của giới truyền thông, điều đó đã được lập luận rằng giới truyền thông dành nhiều chú ý hơn đến hành động tàn ác của Mỹ ở Mỹ Lai hơn là những tội ác của cộng sản, đáng lưu ý là cuộc tàn sát của một số khoảng 3.000 thường dân ở Huế trong suốt cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Khi những vụ giết hại thường dân vào tháng Ba năm 1968 do một đơn vị quân đội Mỹ tại làng Mỹ Lai đã bị phá vỡ bởi một nhà báo điều tra, Seymour Hersh, vào tháng Mười Một năm 1969, nó nhanh chóng trở thành một câu chuyện chính yếu trong giới truyền thông Mỹ. Việc giết hại những thường dân đoán chừng là vô tội, hầu hết là những phụ nữ và trẻ em, làm mạnh mẽ thêm hình ảnh tàn bạo của Mỹ. Những bức ảnh cho thấy những thể xát của phụ nữ, trẻ em và những người già rải rác khắp làng. Cuộc tường trình về chính sự tàn bạo, cũng như cuộc xét xử của Quân đội về Trung úy William Calley và một cuộc điều tra của quốc hội vào trong những cố gắng nhằm che đậy biến cố lúc ban đầu của Quân đội, vẫn còn có giá trị thực chất hoàn toàn cho năm 1970. Trong suốt giai đoạn này, một câu hỏi thường được đặt ra: tại sao sự tàn bạo của Bắc Việt tại thành phố Huế đã không từng nhận được sự chú ý tương tự?17 Trong suốt cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, một số khoảng 3.000 quan chức miền Nam Việt Nam và những người ủng hộ chính phủ Sài Gòn đã bị giết, với những tử thi của họ bị vất bỏ vào trong một ngôi mộ tập thể.(pc 05) Hoặc điều gì của việc giết chóc của cộng sản một số khoảng 250 người Thượng (những người miền núi vốn trung thành với chính phủ miền Nam Việt Nam) với những người ném lửa ở làng Đắk Song? Đó là một biến cố khác mà hầu như được bỏ qua bởi giới truyền thông Mỹ.18
Ngoài các câu chuyện rất quan trọng, những hình ảnh phải chịu đựng nhất được ghi lại trên phim cũng thế dường như để truyền đạt ý nghĩa của sự vô ích qua các nỗ lực của Mỹ. Những sự kiện thực tế cụ thể được biến đổi trở thành những thể hiện tượng trưng của một bi kịch đang diễn ra. Như một cựu phóng viên CBS sau đó phản ảnh, việc đốt cháy một ngôi làng Việt Nam bởi TQLC(pc 04)“trong thời đại của chủ nghĩa biểu tượng… không chỉ là một trường hợp của một ngôi làng bị đốt cháy.” Nhu cầu cho hình ảnh đã dẫn dắt những phóng viên thực sự ép buộc những người lính vào trong việc can dự vào những hành động như thế, bao gồm một thí dụ thường được trích dẫn nơi mà một phóng viên bị cáo buộc đưa ra cái bật lửa hiệu Zippo của mình cho một người lính để đốt rụi một ngôi nhà. Hình ảnh chụp được, phổ biến rộng rãi sớm nhất đã đẩy lùi thời gian đến việc Mỹ hóa chiến tranh. Đây là vụ tự thiêu vào tháng 6 năm 1963 của một tu sĩ Phật giáo tại một ngã tư trên những đường phố Sài Gòn; bức ảnh chụp về một thể xác bị bao bọc trong những ngọn lửa nằm trên các trang nhất của các tờ báo trên toàn thế giới, hành động tử vì đạo của ông ta biến đổi cuộc biểu tình phản đối của Phật giáo chống lại một chính phủ được Mỹ hỗ trợ của Ngô Đình Diệm trở thành một vấn đề chính trị lớn ở Washington và Sài Gòn.
Hình ảnh được làm mạnh thêm bởi dòng chữ “nghiêng”. Một nghiên cứu về việc tường thuật của đài CBS về cuộc chiến tranh vào năm 1972 tìm thấy rằng những khán giả của chương trình Tin tức Chiều tối, “60 Phút,”

p141

và những chương trình đặc biệt đa dạng khác đã chứng kiến những câu chuyện và nghe những lời bình luận mà qua đó luôn chỉ trích lan tràn về sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ và các hoạt động của nó và việc chính phủ Hoa Kỳ gây ngộ nhận cho công chúng về toàn bộ tình hình Việt Nam. Những chủ đề quan trọng về Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam vượt hơn các chủ đề về hỗ trợ bằng một tỷ lệ của 4 đối với 1. Kết quả là người xem dựa vào đài CBS đã có thể nhìn thấy sự tham gia của Hoa Kỳ như là điều “tàn nhẫn, vô tri, bất công, và vô đạo đức” và chính phủ miền Nam Việt Nam như là “tham nhũng, đàn áp, không phổ biến, và là sự cản trở cho hòa bình,” trong khi Bắc Việt sẽ được xem như là một “dân tộc khắc kỷ, những lực lượng vũ trang của nó [chiến đấu] một cách can đảm và [đối xử] tốt với những tù binh chiến tranh của Mỹ.”19

C- Sự phản ứng: việc Tường thuật Ủng hộ, Thận trọng và Chính xác:

Lý luận về “giới truyền thông đánh mất cuộc chiến tranh” vì thế, dựa trên các giả định rằng việc tường thuật của giới truyền thông thì bất lợi và việc này biến đổi công chúng chống lại chiến tranh. Những phản ứng đối với phe xét lại bắt đầu phần lớn từ những người bảo vệ việc tường thuật của giới truyền thông cũng như từ một số nhà quan sát vốn là những người cho rằng giới truyền thông thì không đủ quan trọng. Phản luận này dựa trên nhiều quan điểm:

Thứ nhất, đại đa số các phóng viên và báo chí, tạp chí, và các mạng lưới truyền thông mà chúng đại diện, ủng hỗ những mục tiêu của Mỹ . Những nhà báo và biên tập viên của họ đại diện cho tư duy về Chiến tranh Lạnh của thế hệ của họ và quen thuộc với cách làm việc gần gũi với các quan chức chính phủ và với cách bảo vệ chính sách an ninh quốc gia của Mỹ. Vì vậy, giới truyền thông hỗ trợ chiến lược ngăn chận các cường quốc cộng sản và đứng bên những vị Tổng thống của đảng Dân chủ va đảng Cộng hòa trong suốt những cuộc khủng hoảng ở Berlin, Hàn Quốc, Cuba và nơi khác. Việc tăng cường sự ủng hỗ này là sự phụ thuộc hỗ tương của các quan chức chính phủ và các nhà báo –những quan chức chính phủ cần các phương tiện truyền thông để giúp giải thích vị thế của nó và các nhà báo cần đến những quan chức để có được sự tiếp cận đến thông tin và các nguồn tài liệu. Truyền thống nầy về các giả định được chia sẻ về Chiến tranh Lạnh được phản ảnh theo những cách mà các nhà báo tiếp cận cuộc khủng hoảng ở Việt Nam.
Từ những giai đoạn đầu của sự tham gia của Hoa Kỳ đến thời kỳ Mỹ hóa chiến tranh vào năm 1965 và sự leo thang của nó qua năm 1967, việc tường thuật của giới thông tin được ủng hộ rộng rãi. Khi Tổng thống Kennedy và Johnson gia tăng một cách đáng kể số lượng của những vị cố vấn quân sự và sứ mệnh hỗ trợ chiến đấu của họ từ năm 1961 đến 1964, hiệp hội báo chí tương đối nhỏ ở Sài Gòn (chưa có cuộc tường thuật truyền hình nào nói về những vấn đề đó) dần dà bị phân chia một cách sâu sắc trên những phương cách hiệu quả nhất để đạt được những mục tiêu của Mỹ, nhưng không ai trong số họ đặt câu hỏi liệu Hoa Kỳ có lợi ích tối quan trọng nào trong sự sống còn của chính phủ miền Nam Việt Nam.

p142

Một số ít phóng viên trẻ –David Halberstam của tờ Thời Nữu Ước (New York Times), Malcolme Browne của Báo chí Liên hợp (Associated Press), và Neil Sheehan của Báo chí Hợp nhất Quốc Tế (United Press International)— có tiếng tăm vì thái độ hoài nghi của họ về phiên bản chính thức của miền Nam Việt Nam và Mỹ về việc chiến đấu chống lại VC(pc 03) và những lời chỉ trích của họ về chính phủ Ngô Đình Diệm vì các biện pháp đàn áp của nó, đặc biệt là chống lại những người biểu tình phản đối của Phật giáo. Về mặt khác, những phóng viên kỳ cựu là Marguerite Higgins và Joseph Alsop, cả hai người đi đến Việt Nam vào năm 1963, trình bày một thẩm định quả quyết lạc quan hơn về chiến tranh và chính quyền Sài Gòn. Trong khi ông Halberstam, Browne, và ông Sheehan thường được chọn riêng ra cho việc ngầm phá hoại vị thế của Mỹ, họ tin rằng những lời chỉ trích của họ sẽ làm mạnh mẽ hơn nỗ lực của Hoa Kỳ. Những chính sách ương ngạnh, họ tin rằng, đang phá ngầm cuộc chiến tranh chống lại VC, mà qua đó họ xem là tối quan trọng đối với sự an ninh của Mỹ.20 Ông Halberstam đã viết vào năm 1965 rằng Việt Nam là “một phần hợp pháp của cam kết toàn cầu của [Mỹ]. Một quốc gia chiến lược trong một khu vực trọng yếu, có lẽ nó là một trong những chỉ có năm hoặc sáu quốc gia trong thế giới vốn thực sự là quan trọng đối với những lợi ích của Hoa Kỳ.”21
Một nghiên cứu của tờ New York Times về cách giải quyết những sự kiện từ biến cố Vịnh Bắc Bộ vào tháng Tám năm 1964 đến thời kỳ Mỹ hóa chiến tranh vào tháng Bảy năm 1965 không tìm thấy nghi vấn đáng kể nào về phiên bản chính thức của những sự kiện. Không có nỗ lực nào kiểm tra những lời tuyên bố của ông Johnson về những cuộc tấn công của Bắc Việt vào những chiếc tàu Mỹ trong vùng Vịnh Bắc Bộ, qua đó cung cấp sự biện minh cho việc sử dụng sức mạnh Không quân lần đầu tiên chống lại miền Bắc Việt Nam và giải pháp của Quốc hội ban cho vị Tổng thống một ngân phiếu trống thực sự để tiến hành chiến tranh. Vì vậy sau đó, tạp chí Times do dự trình bày những lời chỉ trích về những quyết định của ông Johnson trừ khi nó có thể tìm thấy bằng chứng rằng các quan chức –“những nguồn tư liệu đáng tin cậy”– trong chính quyền đang nghi vấn về chính sách của ông ta. Những câu chuyện về tình hình đang xấu đi ở miền Nam Việt Nam được thêm vào trong những phần của Chiến tranh Lạnh về “cuộc xâm lược của cộng sản” chống lại một đồng minh bị bao vây của Thế giới Tự do. Khi Hoa Kỳ nhận lãnh một vai trò quân sự trực tiếp, qua việc bắt đầu với cuộc dội bom Bắc Việt và sau đó với việc gởi đi các lực lượng bô binh đầu tiên, tạp chí Times tường thuật rằng “nhiều cuộc tranh luận về cuộc xung đột của Việt Nam bây giờ đang làm ầm lên khắp nơi trên Hoa Kỳ.” Tuy nhiên, như một học giả về truyền thông, Daniel Hallin, lưu ý, “có ít bằng chứng về một cuộc tranh luận như thế trong những mục của tạp chí Times vào bất cứ thời gian nào trong suốt cuộc leo thang của gian đoạn 1964–65.”22
Việc phản ảnh về ý thức hệ chi phối Chiến tranh Lạnh, qua những cột tin tức và các trang chủ bút của tạp chí Times, hơn là việc kêu gọi sự chú ý đến mức độ của những can dự mà ông Johnson đang thực hiện trong giai đoạn 1964–65, trình bày một câu chuyện như ông Johnson muốn nó kể về: một vị Tổng thống miễn cưỡng vốn là người muốn tránh một cuộc chiến tranh lớn hơn qua việc dùng đến những bước quân sự được tính toán nhằm cho thấy sự quyết tâm của Hoa Kỳ cứu lấy miền Nam Việt Nam.23
Quả thật từ năm 1965 đến 1967, việc tường thuật của giới thông tin, nói chung, tán đồng ủng hộ nỗ lực của Hoa Kỳ. Việc viết bài tường thuật nồng nhiệt được nêu bật bởi một số lượng phóng viên vốn là những người tạo nét đặc trưng cho các hoạt động của Mỹ bằng ngôn ngữ anh hùng.

p143

Một nhà báo kỳ cựu nổi tiếng, Jim G. Lucas, của tổ chức cung cấp bài báo Scripps Howard(pc 06) đã từng nhận được tám ngôi sao trận chiến cho việc tường thuật về các chiến dịch chiến đấu của TQLC(pc 04) ở Thái Bình Dương trong Thế Chiến thứ II. Ông ta mang những hình ảnh của cuộc chiến tranh trước đó đến những khu rừng già của Việt Nam. Đến Việt Nam vào năm 1964, ông Lucas đã thất vọng tìm thấy rằng ông ta là một phóng viên duy nhất trong khu vực của mình vốn là người thường xuyên làm việc song song với những quân lính tác chiến. Ông ta viết về sự cống hiến và lòng dũng cảm của họ, “một chủ nghĩa anh hùng thầm lặng là chất liệu của chiến tranh” Tương tự như vậy, Frank Harvey sống và bay với các phi công Mỹ trên những chuyến thả bom của họ, đánh dấu ngoặc kép vào sự dấn thân của họ và nhìn thấy chiến tranh như là điều cần thiết: “Hoa Kỳ là một lãnh đạo thế giới và… chúng tôi chủ định cứ giữ nó như thế… Chúng tôi được chuẩn bị để chiến đấu, nếu cần thiết, hầu bám giữ vào điều gì mà chúng tôi đã từng có được và nhận thêm. Ở Việt Nam. Ở Nam Mỹ. Bất cứ nơi nào.”24 Một nghiên cứu về các quan điểm trên cuộc chiến tranh từ năm 1965 đến 1968 được cung cấp bởi ba tạp chí tin tức chính yếu —U.S. News & World Report, Time, và Newsweek— tìm thấy rằng họ có chiều hướng nói trong phạm vi của một “bế tắc” của năm 1967 nhiều hơn so với các tờ báo. Nhưng họ không đồng ý trên những lý do về sự bế tắc, như tạp chí U.S. NewsTime mạnh mẽ ủng hộ chiến tranh, với tạp chí U.S News không ngừng phê phán về những hạn chế được áp đặt lên thường dân qua những hoạt động quân sự. Tạp chí Newsweek, ngược lại, có khuynh hướng ôn hoà hơn trong lời bình luận của mình và nghi ngờ về toàn bộ nổ lực của Mỹ.25 Nhìn chung, tuy nhiên, bài tường thuật trên các báo chí và tạp chí tán thành chiến tranh một cách nhiệt tình.

Thứ hai, những người theo phe xét lại đã từng hiểu sai cuộc tường thuật của truyền hình và phóng đại việc gây ảnh hưởng của nó . Kể từ khi quá nhiều những lời chỉ trích đã từng tập trung vào sự thiếu trách nhiệm và việc gây ảnh hưởng bị cáo buộc của cuộc tường thuật của truyền hình, điều gì đó mà những người Mỹ thực sự nhìn thấy trên truyền hình và như thế nào cuộc tường thuật đó gây ảnh hưởng trên quan điểm, vốn xứng đáng một cuộc khảo nghiệm chặt chẽ. Các học giả về truyền thông đã từng nhấn mạnh đến ba điểm quan trọng:
(1) rằng ảnh hưởng của cuộc tường thuật truyền hình bị hạn chế;
(2) rằng những bài báo tràn đầy tinh thần yêu nước trong giai điệu và nội dung;
(3) rằng hầu hết cảnh quay làm giảm thiểu bạo lực và đổ máu.

Đối với quyền lực của truyền hình, các nghiên cứu tìm thấy –trái ngược với những lời tuyên bố của những nhà phê bình– việc gây ra ảnh hưởng được hạn chế. Để bắt đầu với, một số đối tương ít người Mỹ thực sự dựa vào truyền hình cho kiến thức của họ về chiến tranh. Chỉ vào khoảng một phần ba của công chúng xem bất kỳ tin tức nào trên truyền hình, và hầu như không đến một nửa công chúng xem ít nhất một lần chương trình phát sóng qua mạng lưới tin tức trong một tháng. Hơn nữa, có hay không truyền hình thay đổi những quan điểm là câu hỏi có thể được đưa ra; thay vào đó, nghiên cứu về truyền thông cho thấy rằng những khán giả tham gia trong “nhận thức chọn lựa” –nhìn thấy trong cuộc tường thuật của truyền hình vốn củng cố quan điểm của họ. Thí dụ, trong một nghiên cứu vào năm 1968 về các khán giả của chương trình Walter Cronkite trên đài CBS và chương trình Bản tin của Chet Huntley-David Brinkley trên đài NBC, 75% trong số những người theo dõi đó vốn là những người tự xem mình là một “con diều hâu,” tin rằng ông Cronkite là một con diều hâu và phần nào tin tưởng hơn rằng ông Huntley và ông Brinkley là “những con diều hâu” thuộc phe chủ trương chủ chiến.

p144

Về mặt khác, một phần lớn “những con bồ câu” thuộc phe chủ trương hiếu hòa nghĩ rằng tất cả ba phát thanh viên là “những con bồ câu.” Những ảnh hưởng tác động không rõ ràng của cuộc tường thuật truyền hình được chú ý vào năm 1967 trong một cuộc thăm dò ý kiến công chúng, mà qua đó cho thấy rằng 31% những người Mỹ nói rằng truyền hình khiến họ chống lại chiến tranh; nhưng khi một phần nhóm đó của công chúng đã được hỏi có hay không truyền hình muốn họ “hỗ trợ các chàng trai ở Việt Nam” hoặc phản đối chiến tranh, bằng một tỷ lệ hai-đối-với-một họ cho biết tác động của truyền hình là làm cho họ “hỗ trợ các chàng trai.” Cuối cùng, những khán giả dường như đã có những khoảng thời gian chú ý ngắn ngủi và quên đi một cách nhanh chóng điều gì họ đã từng nhìn thấy trên truyền hình. Những nghiên cứu đã nhấn mạnh rằng những người xem thường là không thể nhớ lại những câu chuyện mà họ vừa theo dõi trên truyền hình. Ngay cả đối với một cái gì đó bi thảm như cuộc tường thuật về cuộc chiến tranh (mà qua đó những người xem thực sự có khuynh hướng nhớ lại tốt hơn so với những câu chuyện khác), những khán giả gặp khó khăn trong việc nhớ lại một cách chính xác điều gì họ đã từng nhìn thấy. Tất nhiên, những hình ảnh nào đó thực sự còn lại lâu dài và là tác động tạo ra ảnh hưởng của họ, thì rất khó để ước tính. Tuy nhiên, khái niệm mà hàng triệu những người Mỹ đã chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi sự tiếp xúc hàng ngày với cuộc chiến tranh trên truyền hình, chỉ đơn giản là không được hỗ trợ bởi bằng chứng theo thói quen của những người xem.26
Điều gì đó mà những người Mỹ nhìn thấy trên truyền hình, vã lại, có nhiều khả năng khơi dậy lòng yêu nước hơn là bất đồng chính kiến. Gần như tất cả cảnh quay của những trận đánh nhấn mạnh đến những người Mỹ “đang thi hành nhiệm vụ,” một phản ảnh về cái gì đó mà những khán giả muốn nhìn thấy. Hỏa lực của Mỹ đã được mô tả như là “đập vỡ… giáng mạnh… loại ra khỏi… tàn phá” đối phương. Đối phương đó riêng biệt được xác định như là phe “Đỏ” hoặc những người Cộng Sản, không phải là Bắc Việt hoặc VC.(pc 03) Thường là những vấn đề được nhắc đến được tạo thành các trận đánh đáng nhớ trước đó, đặc biệt là từ Thế Chiến thứ II, do đó liên kết “cuộc chiến tranh hay nhất” với thách thức mới ở Việt Nam. Những mạng lưới truyền thông nghiêm túc tường thuật và chấp nhận cách định nghĩa chính thức về sự thành công –đếm thể xác; vì thế mỗi chiều tối Thứ năm, những người Mỹ xem con số tổng kết hàng tuần vốn cho thấy một bản báo cáo liên tục của những người Mỹ và người miền Nam Việt Nam chiến thắng trong cuộc chiến tranh gây tiêu hao sinh lực chiến đấu.
Có vô số những thí dụ về cuộc tường thuật mang tính chất yêu nước, phần lớn trong đó liên hệ Việt Nam với những cuộc chiến tranh trước đó của Mỹ. Để trích dẫn một vài trường hợp: bài tường trình của Bản tin CBS về cuộc dội bom Bắc Việt vào tháng Tám năm 1965 mô tả những chiếc phản lực của Mỹ cho “Cộng sản Việt Nam những đòn đánh nặng nề nhất của cuộc chiến tranh” và bằng chứng trích dẫn rằng “các cuộc đột kích thả bom và những cuộc càn quét bằng bộ binh của chúng ta đang gây ra một tổng số thiệt hại nặng nề cho tất cả các các loại dụng cụ của phe Đỏ.” Một câu chuyện của đài NBC vào tháng Hai năm 1966, đề cao Đại tá Hal Moore, như là “một anh hùng của [trận chiến] thung lũng Ia Drang vào tháng Mười năm [1965]” và như là một “nhà lãnh đạo của những người dũng cảm.”
Chương trình phát sóng của NBC News vào ngày 4 háng Bảy 1966 ký kết phát hình về “Sư đoàn I Bộ binh, biệt hiệu là Màu Đỏ To số 1 (Big Red 1) của Bắc Phi, qua những trận chiến trên Bãi biển Omaha, Bãi biển Normandy, Đức Quốc, và bây giờ là biên giới Cam-pu-chia.” Cuộc tường trình của CBS về Chiến dịch “Attleboro” vào cuối năm 1966 đề cập đến về việc làm cách nào sau “cuộc gặp gỡ ba ngày của sự kháng cự tuyệt vọng, gần như tự sát của Việt Công, những quân lính của chúng ta tìm thấy kẻ thù mất dạng vào trong nơi ẩn núp ủ rũ, hỏa lực của chúng ta quá mạnh mẽ không thể đối mặt.”

p145

Những cuộc tường thuật của NBC về các chiến dịch đổ bộ của TQLC(pc 04) vào tháng Bảy năm 1966, sau khi đề cập đến những cuộc đổ bộ ở Normandy vào năm 1944, tìm thấy rằng “[TQLC] thì đầy máu, và đó là điều gì mà họ muốn. Họ đã đuổi theo các ngọn đồi và những ngọn núi tìm kiếm kẻ thù và họ cuối cùng đã tìm thấy đối phương, và giá cả là máu và nước mắt.” Một bài tường thuật của CBS về cuộc thả bom Bắc Việt một ngày mô tả chuyến phi hành như là “một giấc mơ của phi công, một quả bom rơi xuống đúng ngay trên cây cầu đường xe lửa… Những người Cộng sản bây giờ sẽ phải đi đường vòng, và dòng chảy của các nguồn cung cấp sẽ bị chậm lại… [Trong khi những phi công Mỹ] dự định ăn mừng sau khi đánh trúng cây cầu.”
Đối với phạm vi mà giới truyền thông chú ý đến kẻ thù, chúng được được mô tả như là “độc ác, tàn nhẫn, cuồng tín” thiếu bất kỳ tính hợp pháp chính trị nào. Những câu chuyện về VC và Bắc Việt tập trung vào các trường hợp khủng bố và những sự tàn bạo.
Việc báo cáo từ Việt Nam giữa năm 1965 và 1967 do đó chuyển tải một ý nghĩa rõ ràng về sự thành công của Mỹ. Những câu chuyện mô tả Hoa Kỳ như là việc chiếm lấy thế chủ động trong gần như 60% các trận đánh được bảo phủ, đối với đối phương làm như thế là 30% thời gian. Trong cuộc chiến tranh của truyền hình, sự kết hợp của tính di động và hỏa lực đang mang lại thành công. Trong số các trận đánh được chứng kiến trên truyền hình, 62% được trình bày như là “những chiến thắng” của Mỹ và 28% như là những thành công cho phía bên kia. Trong 80% trên tất cả những đánh giá về cuộc chiến tranh, nỗ lực của Mỹ được diễn tả một cách thuận lợi; chỉ vào khoảng 7% những đánh giá mô tả tình hình như là thuận lợi cho phía bên kia, và vào khoảng 7% như bị bế tắc. Như Daniel Hallin, vốn là người đã từng nghiên cứu về việc tường thuật chiến tranh của truyền hình, đã viết, “ắt hẵn rất khó khăn trong giai đoạn đầu tiên này đối với những khán giả trung bình của truyền hình để tưởng tượng về sự có thể mà vũ khí của Mỹ có lẻ cuối cùng không thành công ở Việt Nam.”27
Giới truyền thông cũng mạnh mẽ ủng hộ đường lối ngoại giao của Tổng thống Johnson. Khi ông ta tung ra một “cuộc công kích hòa bình” được công khai rộng rãi, trên toàn thế giới vào tháng Mười Hai năm 1965–tháng Giêng năm 1966 được đánh dấu bởi việc tạm ngừng 38 ngày trong cuộc dội bom miền Bắc Việt Nam, truyền hình trình bày thế chủ động này trong các điều khoản của những người Mỹ “tốt” đang tìm kiếm hòa bình chống lại những người Bắc Việt “ác,” vốn là những người bác bỏ lời đề nghị của Washington. Những đồ thị hàng ngày minh họa chiều dài của việc tạm ngừng dội bom, cho thấy ông Johnson đang hành động “hợp lý” như thế nào, một điểm được làm nổi bật khi David Brinkley của NBC nói rằng ông Johnson đang đưa ra “mọi thứ trong các giỏ hòa bình, ngoại trừ đầu hàng.” Gần như lặp lại lời hùng biện của ông Johnson, ông Brinkley tường thuật rằng “Hoa Kỳ đang sẵn sàng đi đến bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào và đàm phán bất cứ điều gì.” Walter Cronkite trên CBS đại diện cho dòng chính thức khi ông ta mở chương trình tin tức của mình bằng cách nói rằng “Hoa Kỳ đang đưa ra lời đề nghị để làm chậm lại tốc độ cuộc Chiến tranh Việt Nam như là một khúc dạo đầu cho những cuộc đàm phán hòa bình.”

p146

Sau đó, ông Brinkley đáp lại sự cáo buộc của Bắc Việt rằng “cuộc công kích hòa bình” là một “giả tạo” bằng cách nói rằng: “Nếu là vậy, họ có thể đến chiếc bàn đàm phán và phơi bày điều đó. Nhưng họ không làm thế.” Peter Jennings trên đài ABC đề cập đến “vị thế không nhượng bộ” của Bắc Việt và “thách thức cứng đầu” của nó. Bị bỏ qua trong tất cả điều này là sự nhìn thấy rõ một phía câu chuyện của Bắc Việt; tức là, Hoa Kỳ không chuẩn bị đàm phán điều ưu tiên quan trọng nhất của nó: quyền lực chính trị ở miền Nam Việt Nam.28

Cuối cùng, việc tường thuật của truyền hình –trái ngược với những nhà phê bình về nó– có khuynh hướng làm mờ, không nêu nổi bật, tính chất tàn bạo của chiến tranh. Chỉ có khoảng một phần năm những bản tin của phim ảnh trước khi cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân đã phơi bày cuộc chiến đấu thực sự, và điều này là tối thiểu riêng biệt và được gạn lọc –một vài viên đạn súng cối đang bay đến hoặc lằn đạn của kẻ bắn tỉa và các cuộc không kích trong khoảng cách để “loại bỏ” một kẻ thù vô hình. Khoảng một phần tư những bản tin cho thấy những người bị thương hoặc thiệt mạng –một lần nữa thường là những cảnh chụp ngắn ngủi về những chiến sĩ bị thương đang được nâng lên vào trong chiếc trực thăng. Những thi thể của những người Mỹ bị thiệt mạng được cho thấy chỉ sau khi họ đã được bao phủ hoặc được đặt trong những cái bao thi thể.29 Những bản tin truyền hình riêng biệt trình bày một cuộc chiến tranh thiếu kết nối (vốn được bắt nguồn từ bản chất tự nhiên của cái gì đó chủ yếu là cuộc nổi dậy của một đơn vị nhỏ trong cuộc chiến đấu rải rác rộng lớn), với ít bạo lực, và với hầu hết cuộc chiến đấu nằm ngoài tầm của máy quay phim. Theo những lời thường được trích dẫn của nhà phê bình về truyền hình, Michael Arlen, đó là một “cuộc chiến tranh trong phòng khách” –một nhóm chữ có chủ ý nhấn mạnh đến việc tường thuật về chiến tranh không còn gây khó chịu hoặc khích động nhiều hơn những khán giả riêng biệt như thế nào so với các chương trình tiếp theo sau đó vào buổi chiều tối. Ông Arlen nhận xét:

[Cái gì đó] mà một người xem truyền hình về cuộc chiến tranh [thường thường] nhìn thấy… là một cái nhìn tổng quát theo kiểu về đêm, thường là mơ hồ về một cuộc xung đột rời rạc mà qua đó được cấu thành chủ yếu gồm những cảnh của những chiếc trực thăng đáp xuống, những đám cỏ cao đang tung bay trong làn gió của những chiếc trực thăng, những chiến binh Mỹ dàn ra khắp một sườn đồi… với thỉnh thoảng (trong tiếng ghi âm) một hoặc hai tiếng đạn bay vèo xa khỏi, và đôi khi (như là một phần kết thúc thực sự uy nghiêm) là một cột khói cuồn cuộn đen ngòm cách xa nửa dặm, mà lúc nào cũng được mô tả như là một bãi đạn dược đang bốc cháy của Việt Cộng.30

Tóm lại, là một cuộc chiến tranh nhạt nhẽo và vô thưởng vô phạt diễn ra ở những phòng khách của người Mỹ.

Thứ ba, bên cạnh việc thực hiện những câu chuyện thuận lợi cho nỗ lực của Hoa Kỳ, giới truyền thông báo chí và truyền hình miễn cưỡng đưa ra những câu chuyện quan trọng . Kinh nghiệm của một phóng viên nổi tiếng Martha Gellhorn, vốn là người đã từng tường trình những cuộc xung đột trong 30 năm trước đó, là một minh họa. Đến Việt Nam vào năm 1966, cô ta quyết định khảo sát liệu xem những người Mỹ có giành được “tâm và trí” của những người dân miền Nam Việt Nam, mà qua đó cô ta đã từng được cho biết bởi các quan chức Mỹ là cách duy nhất mà người Mỹ thực sự sẽ chiến thắng chiến tranh. Tham quan các khu vực giao tranh mãnh liệt chuyên sâu, cô Gellhorn dần dà tin rằng pháo binh và những quả bom của Mỹ đang phá ngầm các mục tiêu chính trị; những người Mỹ không phải là “những con quái vật và những kẻ điên cuồng” nhưng sức mạnh hỏa lực của họ đang gây ra thương tật và giết hại những thường dân rất nhiều hơn so với VC.(pc 03)

p147

Cô ta cũng viết về những điều kiện đáng thương trong các trại lánh nạn nơi chứa hàng triệu những nông dân vốn là những người đã bị buộc ra khỏi mảnh đất của họ bởi chiến tranh của Mỹ. Những kết luận của cô ta thật cứng rắn: “tâm-và-trí, sau tất, sống trong những cơ thể… có phải đây là một cách danh hạnh cho một quốc gia khổng lồ chiến đấu một cuộc chiến tranh 8.000 dặm từ quê hương an toàn của nó”? Ở đây là mối lợi cho giới truyền thông bị cáo buộc chống chiến tranh. Báo chí, tuy nhiên, từ chối một loạt năm bài viết của cô Gellhorn, những biên tập viên nhiều lần nói với cô ta rằng những bài viết đó sẽ làm quá khó chịu cho những độc giả Mỹ; cuối cùng một tờ báo Mỹ đã thực sự xuất bản hai bài viết tương đối nhẹ nhàng, nhưng cô Gellhorn phải đi đến Anh Quốc để tìm một tờ báo mà nó sẽ xuất bản tất cả những bài viết. Tương tự như thế, Philip Jones Griffiths vốn là người có bức ảnh miêu tả tác động của chiến tranh trên những thường dân Việt Nam, tìm thấy các báo chí và tạp chí không muốn đăng chúng lên, vì các biên tập viên lo sợ rằng họ sẽ gây quá đau lòng cho những độc giả của họ. Ông Griffiths cuối cùng ấn hành những bức ảnh chụp được của mình trong một cuốn sách.31
“Một mặt khác” về một số trong những câu chuyện mà qua đó giới truyền thông đã từng bị chỉ trích, nhấn mạnh đến sự miễn cưỡng của các nhà xuất bản và những người điều hành mạng lưới truyền thông thách thức chính quyền. Có vấn đề tự kiểm duyệt đáng kể. Những câu chuyện của Harrison Salisbury trên tờ New York Times về cuộc dội bom trong số những mục tiêu dân sự là một câu chuyện lớn vào đầu năm 1967, nhưng phần lớn bài tường thuật phản ảnh cuộc tranh cãi to lớn trong phạm vi giới truyền thông trên sự chính xác và chuẩn mực của các bài viết. Điều gì đó đưa đến kết quả chủ yếu là sự cô lập ông Salisbury trong phạm vi giới truyền thông hơn là bất kỳ “bầy” theo sau sự dẫn dắt của ông ta. Một số lượng những đồng nghiệp viết rằng ông Salisbury đã ngây thơ hoặc bị chúng lừa bịp và đã viết những câu chuyện về tính xác thực đáng nghi vấn. Tờ báo The Washington Post tuyên bố là đã từng tìm thấy những sự mâu thuẫn trong những câu chuyện của ông Salisbury và phóng viên Chalmers Roberts, được mô tả như là “một hiện thân thực sự của một phóng viên chính thức hóa,” đã viết rằng những bài viết của ông Salisbury là vũ khí mới của Hồ Chí Minh, “một người khéo léo bày tỏ giống như những cái chông tre được tẩm chất độc trên đầu mà những người của ông ta cấm sâu dưới chân dành cho kẻ thù thiếu thận trọng.” Howard K. Smith của tờ báo ABC nói rằng ông Salisbury có tội về việc tường thuật cẩu thả, “sự bất cẩn của tạp chí Times về những thực hành đơn giản cơ bản của công việc tường thuật công bằng và chính xác… đã đào một lỗ hổng tín nhiệm của mình.” Willam Randolph Hearst, Jr. so sánh ông Salisbury với chương trình phát sóng phản nghịch trong Thế Chiến thứ II của đài Lord Haw-Haw và Tokyo Rose. Nhà viết xã luận Joseph Alsop suy tư: “liệu một phóng viên Hoa Kỳ có nên đi đến thủ đô của đối phương để ủy quyền cái tên tác giả của mình cho những nhân vật tuyên truyền của của đối phương, là một câu hỏi thú vị.”
Nổi bật nhất là mức độ mà qua đó chính tờ báo New York Times lùi xa khỏi những tuyên bố của ông Salisbury. Nó có một phóng viên quân sự của mình, Hanson Baldwin, viết một bài trên trang nhất, mà nó được dựa trên các nguồn tài liệu của Lầu Năm Góc, qua đó kháng cự lại những lời tuyên bố và kết luận của ông Salisbury. Ban biên tập của tạp chí Times bác bỏ “những sự tố giác chung chung và những kết luận sai lạc” về cuộc dội bom vốn được rút ra từ những câu chuyện của ông Salisbury.

p148

Trực tiếp bẻ lại phóng viên của mình, ban biên tập lên tiếng rằng “những hạn chế nhắm đến mục tiêu đã là quá chính xác và chuẩn định đến nổi quân đội cảm thấy một số phi công đã dâng hiến cuộc sống của mình vì điều này”. Và biên tập viên quản lý, Clifton Daniel, yêu cầu những biên tập viên của mình để chạy những câu chuyện mà qua đó làm quân bình những bài báo của ông Salisbury. (Cuộc tranh cãi về ông Salisbury mở rộng đến Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Pulitzer, vốn bị từ chối đối với ông Salisbury dù đã giải thưởng của ông ta được đề nghị bởi ban giám khảo của giải thưởng.)32
Việc tường thuật về cuộc thảm sát Mỹ Lai cung cấp một thí dụ khác về sự cẩn trọng của nhà báo. Không có một tờ báo hoặc các mạng lưới truyền hình nào đưa ra cuộc tường thuật nổi bật, hoặc tiếp tục theo dõi, cho những dấu hiệu đầu tiên mà qua đó một Trung úy Quân đội đã bị buộc tội vi phạm luật lệ chống lại những thường dân miền Nam Việt Nam. Một cựu chiến binh vốn là người có thông tin về vụ việc, không thể tạo nên thú vị cho bất kỳ tờ báo lớn nào trong câu chuyện. Sau khi Seymour Hersh cuối cùng chắp lại với nhau trở thành một bài tường thuật kỹ lưỡng về biến cố ở làng Mỹ Lai, câu chuyện của ông ta bị từ chối bởi các tạp chí lớn trước khi một cơ sở nhỏ, phản chiến là Dịch vụ Chuyển Tin đồng ý mang lấy tài liệu của ông Hersh và bán nó cho báo chí; từ một nguồn tài liệu mờ khuất đó, tiếp theo là câu chuyện được chọn lấy lúc ban đầu bởi 36 tờ báo và nhanh chóng chiếm được sự chú ý của quần chúng. Thậm chí sau đó, mặc dù phần lớn giới truyền thông từ chối diễn tả biến cố như là những vụ giết người phi lý; nhiều tờ báo chỉ vào hồ sơ giết hại những thường dân bởi Bắc Việt và vào sự thất vọng của những người Mỹ đang chiến đấu trong những khu rừng rậm nơi mà đối phương không thể được xác định. Cũng không có bằng chứng nào mà qua đó việc tường thuật rộng rãi về biến cố làng Mỹ Lai gây ảnh hưởng đến những thái độ đối với chiến tranh. Thay vào đó, những nghiên cứu về dư luận cho thấy rằng nó đi theo một mô hình quen thuộc của thành kiến được xác nhận, như những người Mỹ đó vốn là những người ủng hộ một kết thúc nhanh chóng cho chiến tranh, nói rằng họ cảm thấy “thất kinh” bởi biến cố làng Mỹ Lai, trong khi những người ủng hộ chiến tranh nhìn thấy nó như là một bằng chứng mà “chiến tranh là chiến tranh.”33

Thứ tư, cuộc tranh cãi mà giới truyền thông đưa ra cuộc tường thuật thiếu cân xứng, khô khan, thuận lợi cho cuộc biểu tình chống chiến tranh không được hỗ trợ bằng chứng cứ . Những nghiên cứu về sự luận bàn của báo chí và truyền hình về các cuộc biểu tình, tuần hành, và những hình thức phản đối khác cho thấy rằng những người Mỹ nhìn thấy phong trào phản chiến như là thiếu kết hợp và cực đoan. Ngoài việc nói với những khán giả của mình rằng những người biểu tình muốn Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam, những bài viết trên báo chí, tạp chí và trên tin tức truyền hình hiếm khi cố gắng giải thích lý lẻ cho việc thoát ra. Thay vào đó, bài tường thuật tập trung vào kích thước và thành phần của những đám đông biểu tình, hành vi kỳ lạ hoặc phản văn hóa, và, dĩ nhiên, một vài bạo lực. Hơn nữa, bài tường thuật thường hay bao gồm các cuộc chống biểu tình hoặc những hoạt động khác của các nhóm ủng hộ chiến tranh. Khi những cuộc đụng độ và đôi khi bạo lực xảy ra, các nhà báo ít có nỗ lực để dàn xếp những vấn đề về trách nhiệm. Những hình ảnh của giới thanh niên tóc dài ve vẫy những lá cờ Bắc Việt, mang theo những áp phích của nhân vật cách mạng Cuba, Che Guevera, hoặc la hét các khẩu hiệu như “Nầy Nầy, LBJ, Có Bao nhiêu Trẻ em Ông Giết ngày Hôm nay?” được tượng trưng cho những vòng ngoài của phong trào phản đối, nhưng điều đó không có ý nghĩa rõ ràng đối với những người Mỹ như khi họ theo dõi tin tức truyền hình.

p149

Điều đó đã cho thấy rằng sự diễn tả của giới truyền thông về cuộc biểu tình phản đối vô kỷ luật, cực đoan, làm nản lòng nhiều dân Mỹ, làm tan ảo tưởng về cuộc chiến tranh, từ việc tham gia vào các nhóm chống chiến tranh. Trong tất cả mọi khía cạnh, tuy nhiên, điều đó dường như hợp lý để kết luận rằng dân Mỹ ngày càng kết hợp với cuộc biểu tình phản đối với bạo lực, vì thế phá hủy ngầm sự tin cậy vào phong trào phản chiến.34

Thứ năm, giới truyền thông bỏ qua những khía cạnh quan trọng của chiến tranh và đã làm quá ít trong việc tường thuật chuyên sâu . Thay vì quá chỉ trích, lý luận có thể được tạo ra, đến nổi các phóng viên không đủ phê bình về cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ. Có rất ít suy xét về nhiều vấn đề quan trọng, bao gồm: khả năng chiến đấu tương đối của quân đội miền Nam Việt Nam và Bắc Việt / VC;(pc 03) bối cảnh lịch sử của chiến tranh của Mỹ (đó là nếu Việt Nam không có lịch sử nào trước khi sự xuất hiện của những người Mỹ, vì vậy, vai trò lãnh đạo của Hồ Chí Minh, chủ nghĩa dân tộc Việt Nam và cuộc chiến tranh chống Pháp và di sản của nó chưa bao giờ được thảo luận); những thái độ phân biệt chủng tộc lan rộng trong số các binh sĩ Mỹ (chữ “gook”(pc 07) –một phần của từ ngữ hàng ngày của những binh lính Mỹ– hiếm khi được nghe trên những bài báo), sự thiệt hại làm nên cho những thường dân ở cả hai miền Bắc và miền Nam Việt Nam bị gây ra bởi cuộc dội bom; và việc tái định cư trong xã hội bị gây ra bởi cuộc chiến tranh ồ ạt của Mỹ. Chiến lược tìm-kiếm-và-tiêu-diệt và sự dựa vào việc “đếm thể xác” có nhiều người phê bình ở Việt Nam và ở Lầu Năm Góc, nhưng những cái nhìn thách thức chiều hướng quân sự của ông Westmoreland hiếm khi nổi lên trên truyền hình.

Cuối cùng, giới truyền thông tường thuật, nhưng không cỗ vũ, làm gia tăng sự bất mãn của công chúng đối với chiến tranh . Cuối cùng sau đó, sự kết nối giữa tất cả các hình ảnh và những tranh cãi từ Việt Nam và dư luận là gì? Việc tường thuật về cuộc chiến tranh có thể được xem như là phần chính “phản ảnh” quan điểm công chúng, không phải “dẫn dắt” nó. Điều nầy được xác minh bởi bằng chứng mà sự trình bày về chiến tranh bị thay đổi khi vấn đề Việt Nam trở thành nhiều tranh cãi hơn ở quê nhà, và công chúng Mỹ dần dần quay lưng lại chống nó.
Bắt đầu vào giữa năm 1967, những sự dè dặt về những tuyên bố của chính quyền Johnson về sự tiến triển ngày càng trở nên rõ ràng trong Quốc hội, học viện, và cộng đồng doanh nghiệp; cuộc thăm dò ý kiến công chúng nhấn mạnh đến sự xói mòn đều đặn sự ủng hộ chiến tranh trong số các nhóm thành phần lớn của xã hội Mỹ. Những bài tường thuật trên các phương tiện thông tin làm tăng cường khuynh hướng này.
Những người điều hành của chương trình tin tức trong mạng lưới truyền thông và của các tờ báo và tạp chí lớn tìm thấy những phóng viên của họ trong một lãnh vực hoài nghi này về phiên bản chính thức của các sự kiện. Vừa vào đầu tháng tư, tạp chí Life báo cáo rằng một xung lực quân sự được kỳ vọng thì chưa rõ ràng. Hội Biên tập Báo chí Mỹ đưa ra câu hỏi về việc có hay không những sự kiện hỗ trợ sự khẳng định của chính quyền về sự “tiến triển to lớn.” Tờ báo U.S. News and tờ World Report hỏi cùng một câu hỏi, nhưng sau đó được thêm vào câu trả lời của riêng mình: rằng những bài viết từ miền Nam Việt Nam kể về một câu chuyện ít lạc quan hơn. Tạp chí Newsweek, dành toàn bộ ấn bản ngày 10 tháng Bảy, 1967 của nó cho chiến tranh, đã viết rằng “bị nứt nẻ bởi những nghi ngờ và bị dày vò bởi những thất vọng, quốc gia của Ngày Độc lập nầy bị ám ảnh bởi cuộc phiêu lưu mơ hồ gặm nhắm nhất ở ngoài nước.”

p150

Vào tháng Tám, một phóng viên của tờ báo New York Times ở Sài Gòn, Johnny Apple, viết một bài báo có tựa đề “Những dấu hiệu Bế tắc” (Signs of Stalemate) mà trong đó liệt kê nhiều dấu hiệu cho thấy rằng chiến tranh sẽ không xảy ra tốt đẹp; ông ta trích dẫn một vị Tướng Hoa Kỳ được giấu tên, vốn là người nói rằng khi Tướng William Westmoreland khen ngợi Quân đội miền Nam Việt Nam, ông ta muốn hỏi vị Tướng đó lý do tại sao ông ta luôn đòi hỏi thêm những quân lính Hoa Kỳ, “nhu cầu của ông ta cho việc củng cố là một thước đo sự thất bại của chúng ta.” Và đến tháng Mười, tạp chí Times đăng một bài xã luận rằng “lương tâm và chính trị thực thi bức chế như nhau mà qua đó Chính quyền sáng tạo ra và theo đuổi mọi chọn lựa thay thế có thể tưởng tượng được cho cuộc chiến tranh trong phạm vi quyền lực của mình.”35
Việc làm tăng thêm sự phản đối chiến tranh ở quê nhà dẫn đến chiến dịch quan hệ công chúng của ông Johnson vào cuối năm 1967 mà qua đó có chủ ý thuyết phục những người Mỹ rằng chiến tranh quả thật đang diễn ra tốt đẹp. Giới truyền thông theo nhiệm vụ sẵn sàng đưa lên một cuộc tường thuật nổi bật cho những đánh giá lạc quan được đưa ra bởi Tướng Westmoreland, Đại sứ Ellsworth Bunker, Phó Tổng thống Hubert Humphrey, và những người khác, nhưng cũng có sự tức giận trên nỗ lực vận động trắng trợn của ông Johnson. Hơn nữa, lời hứa về “ánh sáng ở cuối đường hầm” mời đến sự xem xét cẩn thận hơn nữa. Vì vậy, trong khi phần lớn cuộc tường thuật truyền hình và phần lớn các gới truyền thông báo chí chấp nhận những tuyên bố của chính quyền (tờ báo U.S. News và tờ World Report, thí dụ, dành riêng hai câu chuyện hàng đầu trong những ấn bản tháng Mười Một cho chủ đề về một “cuộc chiến tranh đã đổi sang thuận lợi cho nước Mỹ”), những truyền thông khác, như tờ báo New York Times và tạp chí Newsweek, tương phản các phiên bản chính thức về cuộc chiến tranh với những phiên bản của những nhà quan sát khác ở Việt Nam vốn là những người nhìn thấy sự bế tắc. Biệu thị của mối quan hệ bị thay đổi giữa các quan chức và giới truyền thông là lời kêu gọi từ Phó Tổng thống Humphrey đến các phóng viên ở Sài Gòn khi ông ta đến thăm ở đó vào mùa thu năm 1967 để “đưa sự lợi ích của nghi ngờ cho phía chúng ta.” Một phóng viên trả lời, “Quỷ thần, ông nghĩ chúng tôi đã và đang làm gì trong sáu năm qua?”36
Vì vậy, những lời chỉ trích về nỗ lực chiến tranh trở nên phổ biến hơn vào cuối năm 1967 bởi vì điều đó phản ảnh những phát triển trong nước và là “tin tức” mà không thể bỏ qua. Tuy nhiên, hầu hết những bài báo về chiến tranh tiếp tục phản ảnh sự ủng hộ và chấp nhận các mục tiêu của chính quyền. Việc suy xét về mức độ mà qua đó vấn đề Việt Nam đã từng gây phân rẽ công chúng Mỹ và bằng chứng từ chiến trường mà những lực lượng Mỹ và miền Nam Việt Nam không giành được chiến thắng, điều đó có thể thuộc về việc thiếu tinh thần trách nhiệm của giới truyền thông bỏ qua mặt khác của câu chuyện.

Tóm lược :

Việt Nam đã từng được mô tả như là một “cuộc chiến tranh được tường thuật hay nhất nhưng ít được hiểu biết” của Mỹ. Việc thiếu sự hiểu biết phản ảnh sự nhầm lẫn không thể tránh khỏi về việc theo đuỗi một cuộc “chiến tranh không có mặt trận” và sự kém hiểu biết đáng buồn –mà qua đó những nhà báo đã làm rất ít để sửa chữa– về bối cảnh lịch sử-chính trị của chiến tranh.

p151

Sự mở rộng của việc tường thuật có nhiều việc phải làm đối với hàng trăm nhà báo được nhét vào trong một quốc gia nhỏ bé và, dĩ nhiên, với sự lối vào của truyền hình vào trong chiến trường. Có lẽ David Brinkley nắm bắt được thực chất tác động của các phương tiện truyền thông. “Điều gì mà truyền hình đã làm trong thập niên sáu mươi,” ông Brinkley phản ảnh, “là phơi bày cho dân Mỹ nầy đến dân Mỹ khác… Nó thực sự cho thấy những nơi và những điều về con người mà họ chưa từng thấy trước đây… Một số việc họ thích và một số họ không thích. Không phải là truyền hình sản xuất hoặc tạo ra bất kỳ cái gì của nó.”37
Mô hình đó tiếp tục trở thành việc tường thuật về cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân (vốn sẽ được thảo luận trong chương kế tiếp) mà nó dẫn đến sự quyết định của ông Johnson ngưng lại hầu như tất cả các cuộc dội bom miền Bắc Việt Nam. Tiếp tục qua cuộc bầu cử của ông Nixon và lời hứa của ông ta về một “hòa bình trong danh dự,” những phóng viên đánh giá về chiến tranh theo những lời lẻ về việc liệu nó có đang dẫn đến việc thoát ra cuối cùng của Mỹ. Vào một thời điểm khi những mức độ quân lính Hoa Kỳ đang được rút giảm, các cuộc đàm phán tiếp tục giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt, và thêm nhiều người Mỹ xem cuộc chiến tranh là một “sai lầm,” sự luận bàn của giới truyền thông thay đổi sao cho phù hợp. Cuộc chiến tranh được đóng khung một cách khác biệt: từ “chiến tranh của chúng ta,” nó trở thành “một cuộc chiến tranh”; “những liên kết” hợp pháp hóa với những cuộc chiến tranh trước đó bị biến mất; việc “đếm thể xác” vẫn được báo cáo, nhưng với sự chú ý nhiều hơn đến những tổn phí về nhân mạng mà nó tượng trưng. Tương tự như thế, những phóng viên đặt câu hỏi về việc liệu cuộc chiến tranh tiếp tục có sinh ra những lợi ích chiến lược vốn có thể dẫn đến một giải pháp thỏa đáng. Ngay cả trong những giai đoạn sau của cuộc chiến tranh, cuộc tường thuật của truyền hình hiếm khi cho thấy sự bạo lực và giết chóc. Trong một phân tích có hệ thống về các chương trình tin tức của mạng lưới truyền thông từ năm 1968 đến 1973, Oscar Patterson kết luận rằng “truyền hình không cho chúng ta thấy người chết, người đang hấp hối và người bị thương mỗi đêm trên chương trình tin tức hàng đêm, mặc dù nó đã thực sự tường thuật. Không phải là những người Mỹ theo dõi cuộc chiến đấu và chết chóc ở Việt Nam theo cơ bản quy củ trên các chương trình tin tức truyền hình của mạng lưới truyền thông thường lệ.”38
Giới truyền thông không “đánh mất” chiến tranh. Cuộc tường thuật của nó về chiến tranh phản ảnh nhiều hơn là nó thay đổi quan điểm công chúng. Các nhà báo là đại diện của những người Mỹ của thế hệ của họ: dự vào những sự bắt buộc hành động của Chiến tranh Lạnh vào giữa thập niên 1960s, thường thường ủng hộ cuộc chiến tranh được tiến hành trong cái tên chứa đựng chủ nghĩa cộng sản, và cuối cùng bị vỡ mộng bởi những phân rẽ trong nước bị gây ra bởi chiến tranh và bởi bằng chứng về sự vô ích cuối cùng của nó. Việt Nam có lẽ là một cuộc chiến tranh đầu tiên trên truyền hình, nhưng nó không phải là cuộc chiến tranh đầu tiên thiếu sự ủng hộ của công chúng Mỹ. Hầu hết các cuộc chiến tranh trước đó –Thế Chiến thứ II là một ngoại lệ dễ thấy– đã từng gây ra tranh cãi và trong nhiều trường hợp, sự ủng hộ của công chúng bị xói mòn khi quần chúng trở nên mệt mỏi vì tính chất thiếu quyết định trên chiến trường. Điều đó đã từng xảy ra trong Chiến tranh Triều Tiên, vốn vừa mới kết thúc 12 năm trước khi những quân lính đầu tiên của Mỹ bước vào trong Việt Nam, và cuộc xung đột đó không được truyền hình vào trong nhà người Mỹ. Vì vậy, để đổ lỗi cho điều gì đó gần như sẽ xảy ra, nếu đưa ra bản chất của chiến tranh — sự mệt mỏi về chiến tranh có thể đoán trước– trên một hiện tượng mới của những chương trình tin tức truyền hình bỏ qua bối cảnh lịch sử của công chúng Mỹ và những cuộc chiến tranh của quốc gia.39 Về bản chất, những người chủ trương xét lại khiến cho giới truyền thông trở thành một “vật tế thần” cho những thiếu sót của các chính sách của các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự của quốc gia.
(Ghi chú : p153)

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Thành phố Pusan : đây là một thành phố lớn thứ hai sau thủ đô Seoul của Nam Hàn. Nơi đã diễn ra “Trận chiến Vành đai Pusan” vốn là một trận chiến trên quy mô lớn giữa những lực lượng của Liên Hiệp Quốc và Bắc Hàn kéo dài từ ngày 4 đến 18 tháng Chín năm 1950. Nó là một trong những cuộc giao tranh lớn, đầu tiên của cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Một đội quân với 140.000 quân lính của Liên Hiệp Quốc, sau khi đã bị đẩy lui đến bờ vực của sự bại trận, được tập hợp để làm một thế đứng cuối cùng chống lại cuộc xâm lược của quân đội Bắc Hàn, 98.000 người mạnh mẽ.
Sau sáu tuần, lực lượng Bắc Hàn sụp đổ và rút lui trong thất bại sau khi lực lượng của Liên Hiệp Quốc tung ra một cuộc phản công ở thị trấn Inchon vào ngày 15 tháng Chín. Trận chiến sẽ là một chiến trường xa nhất mà những cộng quân Bắc Hàn có thể tiến bước trong chiến tranh, như là một lý lẻ giao chiến theo sau, cuộc chiến tranh trở thành bế tắc.Với những kết quả như sau :
_ Bắc Hàn : 50–60 ngàn người bị thiệt mạng và bị thương; 3.380 người bị bắt; 239 xe tăng T-34 bị hủy.
_ Quân đồng minh : 60.504 người bị thương vong; với riêng Hoa Kỳ là 4.500 người hy sinh, 12.058 bị thương, 2.700 người bị mất tích, và 400 người bị bắt.

pc 02_ Trận chiến của vùng Nở rộng : (The Battle of the Bulge) còn được gọi là “Cuộc Tổng phản công vùng Ardennes.” Là một cuộc chiến lớn nhất và đẫm máu nhất trong Thế Chiến thứ II trong vùng rừng núi Ardennes trải dài qua Bĩ, Lục Xâm Bảo (Luxembourg) và Pháp, với sự chiến thắng của đồng minh nhưng với cái giá rất đắt.
_ Hoa Kỳ : 19.000 người hy sinh, 47.500 người bị thương, và 23.000 bị mất tích và bị bắt. Tổng cộng thương vong là 98.500 người
_ Anh Quốc : 200 người hy sinh, 989 người bị thương, và 239 người mất tích. Tổng cộng là 1.408 người thương vong.
_ Đức Quốc Xã : 67.300 đến 100.000 người thương vong.

pc 03_ VC : Việt Cộng.
pc 04_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 05_ “…với những tử thi của họ bị vất bỏ vào trong một ngôi mộ tập thể.” : thật ra phải nên nói là “những” ngôi mộ tập thể, vì có rất nhiều ngôi mộ tập thể chỉ dùi lấp vội vã hoặc nổi cao như cái gò nhỏ, với những số lượng tử thi khác nhau, cũng như cách bị giết, hành hạ cũng khác nhau.
Con số thường dân, công chức, và một số người ngoại quốc, Cha dòng, v.v. bị thảm sát là khoảng 2.800 đến 6.000 (theo wikipedia), nhưng đối với tác giả, con số đó vào khoảng 3.000 người. Nếu tính trung bình, cho ra con số vào khoảng 4.500 người. Dường như con số nầy gần đúng nhất theo những nguồn tài liệu khác của một số người thuật lại.

pc 06_ Tổ chức cung cấp bài báo Scripps Howard : là một Cơ sở Truyền thông Phục vụ Tin tức Scripps-Howard : (Scripps Howard News Service) được thành lập vào năm 1917, đã từng bao phủ vùng Washington và thế giới, đưa đến đọc giả tin tức, bình luận, kinh doanh, giải trí, lối sống, sức khỏe, tiền bạc, thể thao, tội phạm, kỹ nghệ và tôn giáo.
Cơ sở Truyền thông Phục vụ Tin tức Scripps Howard cung cấp tin tức, phân tích và việc tường thuật hậu trường từ ban nhân viên quốc gia của họ. Họ cung cấp nội dung từ tờ báo và các đài truyền hình của Scripps và những cây viết đóng góp từ báo chí, bao gồm cả tờ San Francisco Chronicle, Pittsburgh Post-Gazette, Providence Journal, Tampa Bay Times, Winston-Salem Journal, Raleigh News và Observer, The Seattle Times, Minneapolis Star Tribune, The Sacramento Bee và Newsday.

pc 07_ gook : chữ ám chỉ Việt Cộng (bao gồm cộng binh Bắc Việt và cộng binh Nam Việt) trong cách khinh khi xem thường. Nói chung, ám chỉ dân Á Châu, Trung Đông theo cách đó.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s