Phần 5: Lời phê bình của những người Chủ trương Xét lại về một cuộc “Chiến tranh Khác”

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p112

Phần 5: Lời phê bình của những người Chủ trương Xét lại
về một cuộc “Chiến tranh Khác”

(Một hoạch định “Tâm và Trí” cho Chiến thắng)

Không phải tất cả những người chủ trương xét lại là những người theo lý thuyết quân sự Clausewitz.(pc 01) Một dòng thứ hai của chủ nghĩa xét lại –cách giải bày về “tâm và trí”– khác biệt từ những người theo lý thuyết Clausewitz trên bản chất chiến tranh và lẫn cách thức nó cần phải được tiến hành. Không giống như sự chú tâm của những người theo lý thuyết Clausewitz trên miền Bắc Việt Nam xem như là kẻ thù, những người chủ trương “tâm và trí” cho rằng Hoa Kỳ thất bại nhận ra tầm quan trọng của việc chiến đấu chống lại sức mạnh của lực lượng nổi dậy của cộng sản –Mặt trận Giải phóng Dân tộc và Việt Cộng– bên trong những ngôi làng ở miền Nam Việt Nam. Miễn là những người cộng sản kiểm soát phần lớn vùng miền Nam Việt Nam thôn dã, những người theo phe xét lại nầy nhấn mạnh, những nỗ lực của Mỹ nhằm làm mạnh hơn chính quyền Sài Gòn thì nhất định thất bại.
Như đối với chiến lược quân sự được tiến triển bởi những người theo lý thuyết Clausewitz, lý luận về “tâm và trí” tính ngược lại từ ngày những bất đồng giữa các quan chức quân sự và dân sự trong suốt chiến tranh. Một số lượng những sĩ quan quân đội tin rằng chiến lược “tìm kiếm và tiêu diệt” của Tướng William Westmoreland đang thất bại nói lên điều gì đó mà họ xem là một vấn đề bị gạt qua một bên về sức mạnh của cộng sản ở vùng nông thôn miền Nam Việt Nam. Đối với những nhà phê bình đó, các nguồn tài lực của Mỹ đáng lý ra cần phải được điều hành hướng đến công cuộc bình định. Điều này có nghĩa là giành được quyền kiểm soát các làng mạc, cung cấp vấn đề an ninh chống lại các lực lượng cộng sản, làm việc với giới nông dân, và giới thiệu những cải cách hầu cải thiện cuộc sống của họ, vì thế, dần dần chiếm được sự ủng hộ của họ cho chính phủ miền Nam Việt Nam. Công cuộc bình định –thường được đề cập đến như là một cuộc “chiến tranh khác”– đưa ra phương pháp duy nhất về việc đối phó với sự bám giữ lâu dài của phong trào cộng sản ở vùng miền Nam Việt Nam thôn dã, nơi mà 8% dân số sinh sống. Việc chiếm được “tâm và trí” là con đường dẫn đến chiến thắng.

p113

Như vậy, trong khi những người theo lý thuyết Clausewitz lập luận cho cuộc chiến tranh quy ước lớn hơn được điều hành chống lại Bắc Việt và khả năng chiến đấu của nó ở miền Nam Việt Nam, những người theo phe xét lại chủ trương “tâm và trí” cho rằng sự chú trọng đáng lý ra nên được đặt trên việc đối kháng với Việt Cộng bên trong miền Nam Việt Nam. Tóm lại, một cuộc “chiến tranh khác” lẽ ra là “một cuộc” chiến tranh.
Chương này đánh giá về sự lựa chọn thay thế của công cuộc bình định. Nó sẽ xem xét trường hợp được tạo ra bởi những người ủng hộ chủ trương “tâm và trí” đương thời và đầy tính học thuật cho việc tập trung vào công cuộc bình định nông thôn ở miền Nam Việt Nam và những phản luận của những người vốn đặt câu hỏi liệu một nỗ lực như thế sẽ đạt được những mục đích của nó. Điều quan trọng trong việc đánh giá hai bên là những nghiên cứu cá nhân về lịch sử của cuộc đấu tranh cho quyền kiểm soát về chính trị những làng mạc và khu vực ở miền Nam Việt Nam.

A- Những đề xướng về một cuộc “Chiến tranh Khác” trong Thời kỳ Chiến tranh:

Trong số những nhà phê bình nổi bật trong thời kỳ chiến tranh về chiến lược “tìm kiếm và tiêu diệt” là ba người trong số các sĩ quan ở Việt Nam được biết đến nhiều nhất của quân đội Mỹ –John Paul Vann, David Hackworth, và Edward G. Lansdale. Ông Vann, là chủ đề của một cuốn tiểu sử giành được giải thưởng “Lời nói dối Sáng chói” (A Bright Shining Lie) của Neil Sheehan, là một sĩ quan gần như huyền thoại trong vai trò lớn hơn của một thập kỷ trước lúc qua đời của ông ta trong một tai nạn trực thăng vào năm 1972. Cố chấp, kiêu ngạo, và lôi cuốn, ông Vann tin rằng chiến lược tìm-kiếm-và-tiêu-diệt ràng buộc những lực lượng Mỹ ở những vùng núi nội địa có dân cư thưa thớt khi họ đáng lý ra nên được tập trung vào việc kiểm soát và “bình định” các khu vực đông dân dọc theo đồng bằng ven biển. Ông Vann nói từ kinh nghiệm đáng kể trong lần đầu tiên bắt tay vào công việc. Như là một vị cố vấn cho quân đội miền Nam Việt Nam vào đầu thập niên 1960s và sau đó là một quan chức dân sự trong công cuộc bình định, ông ta làm việc gần gũi hơn so với hầu hết những người Mỹ với người miền Nam Việt Nam. Ông ta trải qua phần lớn sự nghiệp của mình bày tỏ sự giận dữ chống lại những cấp trên vốn là những người không nhận ra chiến tranh như ông ta.1 Ông Hackworth cũng thế. Được biết đến nhiều về những thành tích trên chiến trường của mình như là một sĩ quan bộ binh trong cả hai cuộc Chiến tranh Hàn Quốc và Việt Nam, ông Hackworth thẳng thắn cho rằng những thiếu sót của chiến lược “tìm kiếm và tiêu diệt” thì luôn luôn hiển hiện. Lực lượng Mỹ, theo những lời của ông Hackworth, “được tổ chức theo quy ước và [được nghĩ] theo cách thông thường [và] mục tiêu của nó là chiến đấu những trận chiến to lớn gồm nhiều tiểu đoàn.” Ông Westmoreland có “đủ những quân lính và biểu đồ và những đồ thị để làm mọi thứ ngoại trừ giành chiến thắng và giải quyết cuộc xung đột,” nhưng ông ta thất bại để hiểu được bản chất của chiến tranh du kích —“một sự thiếu sót gần như phạm tội.” Một chính phủ miền Nam Việt Nam tham nhũng và vô hiệu quả gây thêm vấn đề khó khăn, qua việc để lại giới nông dân, có thể nói theo khía cạnh tốt nhất, dửng dưng hoặc, theo mặt tồi tệ nhất, thù nghịch đối với nó; ông Hackworth viết rằng “không có sự trợ giúp tích cực của người dân, lực lượng nổi dậy không thể bị đánh bại.”2

p114

Không ai lên tiếng với thẩm quyền lớn hơn ông Lansdale, vốn là người được biết nhiều đến như là cha đẻ của học thuyết hiện đại chống cuộc nổi dậy. Quả thật, sự nghiệp của một Lansdale rực rỡ và tự tin tạo cảm hứng cho các nhân vật trọng tâm và không tâng bốc trong hai cuốn tiểu thuyết có ảnh hưởng: đó là của Alden Pyle trong cuốn sách “Người Mỹ thầm Lặng” (The Quiet American) của Graham Greene và đó là của vị Đại tá Hillandale trong cuốn sách “Người Mỹ xấu Xí” (The Ugly American) của Eugene Burdick và William Lederer. Khi ông ta lần đầu tiên đến Việt Nam vào thập niên 1950s như là một sĩ quan của lực lượng Không quân được cắt cử cho Cơ quan Tình báo Trung ương, ông Lansdale đã thực sự được biết nhiều đến với vai trò nổi bật của mình trong chiến dịch thành công chống lại quân nổi dậy của cộng sản ở Philippines. Ông Lansdale trở thành vị cố vấn cho Tổng thống miền Nam Việt Nam, Ngô Đình Diệm, vốn là người tin cậy ông Lansdale (nhiều hơn như thế so với bất kỳ người Mỹ nào khác) và chấp nhận một số những đề nghị của ông ta mà qua đó chứng minh là công cụ trong việc củng cố quyên lực của ông Diệm. Khi ông Diệm thiếu khôn ngoan cuối cùng dựa nhiều hơn vào người em trai của mình, ông Nhu, ảnh hưởng của ông Lansdale giảm xuống và ông ta trở lại Hoa Kỳ, trở thành Phó Giám đốc Văn phòng Hoạt động Đặc biệt (cơ quan chịu trách nhiệm cho việc chống lại cuộc nổi dậy) ở Bộ Quốc phòng. Bên trong và bên ngoài chính phủ, ông Lansdale kêu gọi cho việc nhìn nhận tầm quan trọng của công cuộc bình định ở Việt Nam. Trong một bài báo vào năm 1964, “Việt Nam: Chúng ta Hiểu được cuộc Cách mạng không?,” ông Lansdale cảnh cáo rằng “ắt hẵn có một chính nghĩa chân thành mà qua đó chính phủ hợp pháp tuyên thệ, một chính nghĩa vốn tạo nên sự hấp dẫn mạnh mẽ hơn đối với người dân so với chính nghĩa của Cộng sản…”3 Theo sau việc nghỉ hưu của ông Lansdale từ lực lượng Không quân, Tổng thống Johnson gởi ông ta trở lại Việt Nam vào năm 1965 với chức vụ Bộ trưởng để làm việc trên các vấn đề về công cuộc bình định. Thời gian nghĩa vụ cuối cùng đó ở Việt Nam, vốn kéo dài cho đến năm 1968, tạo cảm giác chán nản cho ông Lansdale, khi ông Westmoreland bỏ qua những lời kêu gọi của ông ta cho sự can dự trên quy mô lớn vào công cuộc bình định và Đại sứ quán Hoa Kỳ tướt đoạt ông ta bất kỳ thẩm quyền thực sự nào một cách hiệu quả.4
Sau chiến tranh, sự giải bày về “tâm và trí” được thúc đẩy trong cuốn sách vào năm 1978 của Guenter Lewy, “Mỹ ở Việt Nam” (America in Vietnam), vốn là một tác phẩm sớm nhất hiểu biết toàn diện theo cách học thuật của phe xét lại. Trong số các lý luận chính yếu của ông Lewy là lời chỉ trích bén nhọn của ông ta về sự bỏ qua hiện thực của Quân đội Hoa Kỳ trong công cuộc bình định, và những ảnh hưởng tác hại của chiến tranh của nó trên những chương trình chống cuộc nổi dậy. Ông Lewy viết:

Bất chấp phần nhiều cuộc nói chuyện về việc “chiến thắng tâm và trí,” Hoa Kỳ thất bại để hiểu được những tình thế nguy hiểm thực sự trong cuộc chiến tranh cách mạng và đối với tất cả họ bỏ qua quá lâu những xung đột trong xã hội Việt Nam mà qua đó Việt Cộng khai thác và sử dụng để thúc đẩy những lực lượng của họ. Hoa Kỳ cũng không bao giờ thực sự học hỏi chiến đấu một cuộc chiến tranh chống cuộc nổi dậy và sử dụng lực lượng theo phần lớn những cách truyền thống, và người miền Nam Việt Nam bắt chước theo những lầm lẫn của chúng ta.5

p115

B- Những lý luận về Chiến lược “Tâm và Trí” :

Những sự bày tỏ đầy đủ nhất qua việc giải bày về “tâm và trí” được cung cấp bởi Andrew Krepinevich trong cuốn sách “Quân đội và Việt Nam” (The Army and Vietnam) và bởi Larry Cable trong cuốn sách “Cuộc xung đột của những Huyền thoại” (Conflict of Myths), và cuốn “Thánh vật Thiếu linh Thiêng” (Unholy Grail). Cả ông Krepinevich, vốn là người phục vụ trong Quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam, và lẫn ông Cable, vốn là người tham gia trong công việc tình báo ở khu vực Đông Nam Á trong 20 năm, tạo nên việc sử dụng rộng rãi hồ sơ mang tính cách tài liệu để phát triển những lý luận tương tự. Trường phái “tâm và trí,” vốn được hỗ trợ bởi các tác phẩm của một số lượng những học giả khác trên các quan điểm riêng biệt, dựa trên năm lý luận:
(1) Hoa Kỳ tiến hành một cuộc chiến tranh quy ước vốn bỏ qua kẻ thù thực sự;
(2) chiến tranh quy ước thực sự làm mạnh thêm vị thế của cộng sản ở vùng miền Nam Việt Nam thôn dã;
(3) chương trình bình định của Thủy quân Lục chiến đưa ra một mô hình vốn có thể thực thi trên khắp miền Nam Việt Nam;
(4) chiến thuật tạo ra những người lánh nạn của Quân đội, trái ngược với lý lẽ của nó, làm suy yếu thẩm quyền của chính phủ miền Nam Việt Nam;
(5) việc can dự vào công cuộc bình định, khi điều đó cuối cùng đã đến, thì “quá ít và quá muộn” để tạo nên sự khác biệt.

Gọp chung với nhau, những quan điểm này cho thấy rằng việc phân bổ lại trên nền tảng nhân lực Mỹ và các nguồn tài lực đã có thể giải quyết những vấn đề khó khăn về chính trị cơ bản cản vốn gây tai họa cho các chiến dịch quân sự ở miền Nam Việt Nam.

Thứ nhất, Hoa Kỳ thực sự chiến đấu một cuộc chiến tranh quy ước, mà qua đó hiệu nghiệm cho lợi thế của cộng sản . Sự phản ảnh miễn nhiệm vai trò lãnh đạo Quân đội thuộc niềm đam mê của Tổng thống Kennedy đối với việc chống lại cuộc nổi dậy truy cập như là điều thích thú lạ đời, Tướng Westmoreland sử dụng sức mạnh Mỹ theo những cách vốn ứng dụng những kế hoạch cho việc chiến đấu một cuộc chiến tranh quy ước ở châu Âu đến một cuộc chiến tranh du kích trong những khu rừng rậm Á châu. Sự phụ thuộc vào kỹ thuật, sức mạnh hỏa lực, và tính di động đã thu hút những sức mạnh của Hoa Kỳ và dẫn đến một chiến lược tìm-kiếm-và-tiêu-diệt. Điều này có nghĩa là việc tiến hành chiến tranh theo “kiểu Mỹ” qua cách di chuyển trên không của “chiến thuật tổn phí cao kết quả thấp.” Chiến lược gây tiêu hao sinh lực chiến đấu –sự thắng lợi qua cách “đếm xác”– dường như đưa ra một viễn ảnh thắng lợi mau chóng. Sự thất bại giành được và giữ lấy lãnh thổ có nghĩa là Hoa Kỳ bỏ qua nền tảng cuộc nổi dậy của Việt Cộng. Chiến lược “tìm kiếm và tiêu diệt” thất bại theo như dự đoán. Ông Cable viết: “Tồi tệ hơn hết, chiến lược [tìm kiếm và tiêu diệt]giả định rằng đó là điều có thể cho một quân đội tự giết chính mình đi đến chiến thắng.”6 Ông Krepinevich nhận xét: “Sự thiếu tiến triển trong việc đánh bại quân nổi dậy trong suốt giai đoạn 1965–1968 có thể được quy cho, một phần nào đó, chiến lược của Quân đội phản ảnh những phương pháp hoạt động theo truyền thống trong cuộc xung đột vốn khác biệt một cách đáng kể từ những cuộc chiến tranh của nó hơn nửa thế kỷ trước.”7 Và ông Cable tạo ra quan điểm phần nhiều giống nhau: “Ý tưởng của Mỹ rằng những cuộc chiến tranh du kích có thể được chiến đấu một cách thành công bằng cách sử dụng điều gì đó thiết thực là những lực lượng quy ước, chiến thuật và học thuyết, thì rõ ràng là không đúng và không dễ được ủng hộ từ sự ghi nhận theo lịch sử, ngoại trừ trong sự hạn hẹp nhất của những tình huống.”8

p116

Mặc dù đạt đến những kết luận tương tự, ông Krepinevich và ông Cable khác biệt về những lý do cho sự thiếu sót của chiến lược của Quân đội. Trong khi ông Krepinevich đổ lỗi điều đó trên vai trò lãnh đạo thiếu khả năng suy nghĩ xa hơn cuộc chiến tranh quy ước, ông Cable quy điều đó cho sự hiểu lầm của Quân đội về bản chất chiến tranh du kích. Như ông ta nhìn thấy điều đó, Quân đội tin rằng tất cả các cuộc chiến tranh du kích là “đảng phái,” có nghĩa là những quân du kích đã được tài trợ bởi một nước láng giềng và được hỗ trợ bởi quân đội chính quy của nước đó. Điều này bị bỏ qua cuộc chiến tranh du kích mang tính chất “nổi dậy,” vốn được cấu thành gồm những người bất đồng quan điểm được trang bị vũ khí bên trong một xã hội đang tìm kiếm những thay đổi mang tính chất cách mạng và vốn hoạt động mà không có sự hỗ trợ từ bên ngoài. Việt Cộng tiêu biểu cho cuộc chiến tranh “nổi dậy,” nhưng các nhà chiến lược quân sự khăng khăng vào việc nhìn thấy Việt Cộng như là một phong trào thuộc “đảng phái;” đó là, như một tay chân của Bắc Việt, và phụ thuộc vào nó. Sự từ chối này về những nguồn gốc của Việt Cộng như là một phong trào cách mạng chống lại chính phủ miền Nam Việt Nam do đó biện minh cho sự chú trọng vào việc phá hủy khả năng tạo ra chiến tranh của miền Bắc Việt Nam, những tuyến đường cung cấp của nó, và sự di chuyển qua những cộng quân của nó vào miền Nam Việt Nam. Việc nhìn thấy Việt Cộng như là một “cánh tay” của miền Bắc Việt Nam và vì thế bỏ qua những gốc rễ của nó bên trong miền Nam Việt Nam cung cấp một lý lẽ cho việc “đếm xác” như là cách đo lường của sự tiến triển về quân sự. Đây là một chiến lược sai lầm. Thách thức thực sự, ông Cable kết luận, là đối đầu với Việt Cộng như là một phong trào “nổi dậy” bằng cách nhận ra và giải quyết những lý do nội bộ về sức mạnh của nó. “Hơn là tập trung trên vô số những vấn đề dường như khó sửa chữa ở miền Nam Việt Nam mà qua đó đã trợ giúp cho Việt Cộng một cách mạnh mẽ trong suốt thời gian năm 1964,” ông Cable viết, “Chính quyền thật ra không có một cơ sở hợp lý xác định rằng nguồn gốc của sự thành công của những quân du kích là miền Bắc Việt Nam.”9 Những bài học lịch sử đáng lý ra nên được chú trọng; bản chất của chiến tranh du kích và làm cách nào chiến đấu nó thì hiển hiện từ cuộc “nổi dậy” của Phi Luật Tân chống lại Hoa Kỳ vào thời điểm chuyển giao của thế kỷ hai mươi, cuộc nổi loạn của cộng sản sau thời kỳ Thế Chiến thứ II ở Phi Luật Tân, cuộc nổi dậy của cộng sản Mã Lai Á, và các trường hợp khác. “Bi kịch cuối cùng của sự can thiệp của Mỹ và những thất bại của nó,” ông Cable nói, “đó là không có nhu cầu học hỏi về công việc. Các bài học đúng và không đúng của cuộc chiến tranh chống cuộc nổi dậy là tất cả được đọc thấy trong các trang lịch sử.”10
Bất kể những khác biệt của họ trên các lý lẽ về chiến lược của Quân đội, những người chủ trương về “tâm và trí” đồng ý rằng các hoạt động tìm-kiếm-và-tiêu-diệt bỏ qua nhu cầu giải cứu dân cư. Không có động cơ thúc đẩy nào còn lại ở đó và dần dần không có được quyền kiểm soát nào trên các khu vực tranh chấp, những hoạt động của Hoa Kỳ không bao giờ ngăn chận được những người nổi dậy với nguồn sức mạnh là: sự tiếp cận đến người dân. Đối với ông Lewy:

Lý thuyết về công cuộc bình định thành công được biết đến rộng rãi. Từ cả hai điểm về quân sự và chính trị… những hoạt động “dọn sạch và bám giữ” thì hiệu quả nhất, trong khi những hoạt động “càn quét” nói chung là một sự lãng phí thời gian. Người dân sẽ không hợp tác với các lực lượng bạn khi họ biết rằng nhiều ngày sau đó, họ sẽ bị bỏ rơi cho quyền sinh sát của VC.11

p117

Tóm lại, chiến lược “tìm kiếm và tiêu diệt” thất bại trong việc phối hợp các hoạt động quân sự với các mục tiêu chính trị; ông Clausewitz viết một câu nổi tiếng rằng “chiến tranh là sự nối tiếp của chính trị bằng các phương pháp khác” –một sự nhắc nhở hữu ích rằng chiến tranh không phải là sự chấm dứt trong chính nó. Trong khi chiến lược “tìm kiếm và tiêu diệt” mất tầm nhìn về yếu tố cơ bản của chiến lược, kẻ thù của Mỹ thì không. Bắc Việt nhận ra tầm quan trọng của các mục tiêu chính trị. Ông Lansdale nhận xét:

Những tướng lãnh của Cộng sản Việt Nam nhìn thấy những lực lượng vũ trang của họ như là những công cụ chủ yếu để giành được những mục đích chính trị. Những tướng lãnh của Mỹ nhìn thấy những lực lượng của họ chủ yếu như là những công cụ để đánh bại các lực lượng kẻ thù về mặt quân sự. Một bên chiến đấu những trận chiến nhằm gây ảnh hưởng đến những quan điểm ở Việt Nam và trên thế giới, bên khác chiến đấu những trận chiến hầu tận diệt kẻ thù qua việc kiểm tra bằng cách đếm tử thi.12

Một cách tương tự, Ngài Robert Thompson, một chuyên gia người Anh về vấn đề chống cuộc nổi dậy –được biết đến với vai trò của ông ta trong việc đàn áp cuộc nổi dậy của cộng sản ở Mã Lai Á trong suốt những năm cuối của sự cai trị của Anh và vốn là người bình luận nhiều về chiến tranh của Hoa Kỳ ở Việt Nam– đã viết về sự không thích hợp về chính trị thiết thực của chiến lược “tìm kiếm và tiêu diệt”: “các lực lượng Mỹ chiến đấu mộc cuộc chiến tranh riêng biệt mà qua đó bỏ qua những khía cạnh về chính trị và thứ khác của nó, và không theo chiều hướng va chạm với Việt Cộng và Bắc Việt, vốn là những người vì vậy có sự điều hành tự do trong cuộc chiến tranh thực sự.”13

Thứ hai, cuộc chiến tranh quy ước thực sự nâng cao sức mạnh của cả Việt Cộng và Bắc Việt ở các khu vực nông thôn . Việc tung ra các mức độ hỏa lực ào ạt –cùng với sự phụ thuộc vào những thuốc diệt cỏ và hóa chất làm rụng lá nhằm “dọn sạch” các khu vực dưới quyền kiểm soát của “kẻ thù”– đã làm xa lánh dân cư vùng nông thôn, bao gồm những người có khuynh hướng ủng hộ đối với chính quyền Sài Gòn, và đã cung cấp cho Việt Cộng sự tuyên truyền hiệu quả.14 Hơn nữa, cuộc thả bom miền Bắc Việt Nam trở thành một động lực cho sự xâm nhập tăng lên, có nghĩa là số lượng những cộng quân Bắc Việt ở miền Nam Việt Nam tăng lên gấp ba lần giữa khoảng thời gian năm 1965 và 1967. Ông Cable cho rằng “việc leo thang của Mỹ, khó chận ngừng miền Bắc, xem như kích thích việc leo thang tương xứng và ngược lại của miền Bắc.”15 Và đối với sự mở rộng mà Việt Cộng là những thương vong của các hoạt động “tìm kiếm và tiêu diệt,” vốn chỉ khiến cho gia tăng sức mạnh tương ứng của cộng quân Bắc Việt ở miền Nam. Vì vậy, ông Cable viết, “trong nỗ lực giải quyết vấn đề khó khăn vốn không tồn tại, [Hoa Kỳ] tạo ra một vấn đề vốn không thể giải quyết được.”16
Trong khi ông Westmoreland tuyên bố vào năm 1966 rằng “chúng ta sẽ không và không thể nhẫn tâm đối với người dân,” thật ra, chiến lược của ông ta khuyến khích một mức độ sức mạnh hỏa lực vốn vượt quá sự cần thiết về quân sự và gây ra sự tàn phá rộng rãi và sự xáo trộn xã hội.

p118

Việc lạm dụng hỏa lực đưa đến kết quả từ yếu tố “sẵn có,” tức là sự dễ dàng mà qua đó những vị chỉ huy có thể dùng đến những vũ khí rất tinh vi cung cấp một động lực mạnh mẽ cho việc sử dụng của họ. Mức độ bất thường của sức mạnh Không quân (tấn lượng thả bom ở Đông Dương vượt hơn số lượng vốn được dùng bởi Hoa Kỳ trong Thế chiến thứ II) và việc lạm dụng đạn dược của pháo binh đưa đến không phải từ những mục tiêu rõ ràng (việc tìm kiếm và trừng phạt kẻ thù là một vấn đề chính yếu ở Việt Nam). Thay vì sức mạnh hỏa lực áp đảo có thể được giải thích bởi sự “sẵn có” và “những động lực thúc đẩy có tổ chức” của chiến lược “tìm kiếm và tiêu diệt” –sự chú trọng vào chiến lược gây tiêu hao và phá hủy. Thêm vào đó, những người Mỹ bị bối rối bởi việc thực thi của Việt Cộng (VC) về việc “bám chặt người dân vào quyền kiểm soát của họ.” Lặp lại, VC sẽ hoạt động trong hoặc gần những làng mạc, riêng biệt là những ngôi làng mà trong đó các chương trình bình định đang được thực hiện, trong sự quan tâm của việc thu hút những cuộc tấn công của Mỹ, mà qua đó, dĩ nhiên, làm xa lánh giới nông dân. Ông Vann quan sát vào năm 1972:

Tôi đã từng chứng kiến cách làm việc của kẻ thù về chiến thuật này trong mười năm qua… Mục tiêu cụ thể của đối phương là lôi cuốn những lực lượng bạn của chúng ta tham gia vào việc phá hoại nguy hiểm như là tự sát những thu hoạch của công cuộc bình định mà họ khó giành được thắng lợi. Một cách không đổi, đối phương luôn thành công, vì trong sức nóng của trận chiến cách suy nghĩ hợp lý và những ảnh hưởng lâu dài thường đóng vai trò phụ thuộc đối với những mục tiêu ngắn hạn.17

Cuộc chiến tranh thiếu suy nghĩ thiết thực này ngầm phá hủy bất kỳ hy vọng nào về việc giành được “tâm và trí” của những người nông dân. Ông Vann viết về những kinh nghiệm của mình:

[Điều đó] không phải đã từng là bất thường khi có một thôn ấp bị phá hủy và tuyệt đối không tìm thấy bằng chứng nào về sự thiệt hại cho đối phương. Tôi nhớ lại… việc hủy hoại và đốt cháy bởi cuộc không kích của 900 ngôi nhà trong một thôn ấp… không có bằng chứng nào về chỉ một kẻ thù bị thiệt mạng… Việc phá hủy một thôn ấp bởi hỏa lực bạn là một sự kiện vốn sẽ luôn luôn được ghi nhớ và thực tế là không bao giờ được tha thứ bởi những thành viên đó của dân cư vốn là những người mất đi nhà cửa của họ.18

Cuộc chiến tranh lãng phí và phản tác dụng này có nghĩa là những thương vong của Mỹ phải gánh chịu là vô ích. Điều nầy thật bi thảm và lẫn mỉa mai mà qua đó một trong những mục đích của chiến lược “tìm kiếm và tiêu diệt” là hạn chế những thương vong của Mỹ. Vì vậy, sự ưu tiên được đưa ra cho việc chịu đựng một số ít thương vong giúp bảo đảm rằng những thương vong gì đó phải gánh chịu, sẽ không phải là mục đích nào cả.

Thứ ba, chương trình bình định của Thủy quân Lục chiến cung cấp một mô hình cho sự lụa chọn thay thế về chiến lược trên quy mô lớn . Đơn độc giữa các lực lượng Hoa Kỳ ở Việt Nam, Quân đoàn Thủy quân Lục chiến Mỹ thực hiện một nỗ lực nghiêm túc hầu đạt được những kết quả vĩnh viễn và lâu dài trong khu vực trách nhiệm về chiến thuật của mình bằng việc tìm kiếm cách bảo vệ dân cư nông thôn. Thủy quân lục chiến (TQLC) có một lịch sử dài về những hoạt động như thế, với những nguồn cội qua việc phục vụ “những cuộc chiến tranh nhỏ” trong nửa đầu thế kỷ 20.

p119

Vì thế, họ sử dụng chiến lược truyền thống chống cuộc nổi dậy ở Quân khu I (những tỉnh tận cùng phía bắc của miền Nam Việt Nam) nơi mà những quân lính của họ được tập trung. Tướng Lewis Walt, vốn là người chỉ huy Sư đoàn 3 TQLC và Lực lượng Đổ bộ TQLC thứ ba ở Việt Nam từ năm 1965 đến l967, nhận ra rằng việc chống lại Việt Cộng và Bắc Việt trong các khu vực nông thôn đòi hỏi sự bảo vệ những làng mạc và cách làm việc với những người nông dân.
Những Trung đội Hành động Kết hợp (TđHđKh) được thành lập của TQLC(pc 03) trong đó một tiểu đội súng trường TQLC hoạt động với trung đội Địa phương Quân (ĐPQ) hoặc Nghĩa Quân (NQ) của miền Nam Việt Nam để cung cấp sự an ninh thôn làng, mà qua đó là bước đầu tiên cần thiết đi đến việc giành được “tâm và trí.” Những TđHđKh trở thành thông dụng, với 57 đơn vị như thế được tung ra ở Quân khu I vào năm 1966 và số lượng tăng trưởng lên 79 vào năm 1967. Mỗi TđHđKh gồm có 15 binh lính TQLC và 34 binh sĩ NQ sống trong một ngôi làng hoặc ấp; sự chú trọng là về việc phá hủy hạ tầng cơ sở của quân nổi dậy, việc bảo vệ công chúng, việc tổ chức những mạng lưới tình báo địa phương, và việc huấn luyện lực lượng dân quân địa phương. Những TđHđKh gặp phải những vấn đề khó khăn, bao gồm rào cản ngôn ngữ và sự thất bại của vai trò lãnh đạo của TQLC tổ chức những TđHđKh trở thành một mạng lưới kết chặt vào nhau của các đơn vị giữ an ninh. Một mạng lưới như thế đánh lý ra sẽ phù hợp với nguyên tắc “vết mực” của công cuộc bình định; điều này đẩy mạnh dự kiến rằng những khu vực được kết nối bình định hóa dần dần mở rộng và cung cấp an ninh cho những số lượng người dân đang gia tăng một cách đều đặn. Mặc những thiếu sót của nó, TđHđKh(pc 04) dường như tạo ra sự an ninh to lớn hơn (Hệ thống Đánh giá Thôn ấp của Bộ Quốc phòng [HES = Hamlet Evaluation System] cho những xếp hạng cao về vấn đề “an ninh” đối với các làng mạc của TđHđKh). Ông Krepinevich viết rằng “tính hiệu quả của phương pháp giải quyết của TQLC được sinh ra do những kết quả: trong suốt lịch sử của chương trình chỉ có một TđHđKh từng bị tàn phá.”19 Ông Thompson, một chuyên gia Anh Quốc chống cuộc nổi dậy, ca ngợi nỗ lực của TQLC,(pc 03) nói rằng “việc sử dụng những TđHđKh là một ý tưởng khá hay nhất mà tôi đã từng thấy ở Việt Nam, và nó hiệu nghiệm một cách tuyệt vời.”20
Quân đội, tuy nhiên, chống đối công cuộc bình định. Dưới áp lực phải làm nhiều hơn trong “cuộc chiến tranh khác” nầy, nó đã thực sự bắt đầu phiên bản của TđHđKh được thu nhỏ của riêng nó. Điều này lôi cuốn những nhóm Quân đội bốn người làm việc với một sĩ quan miền Nam Việt Nam và các lực lượng bán quân sự ở làng mạc trong khoảng một tháng và sau đó tiếp tục tiến triển. Điều này phản ảnh phương pháp giải quyết “ổn định mau chóng” ít tổn phí; bốn người cung cấp an ninh trong một tháng có thể không được hiệu quả như 13 người trong một giai đoạn kéo dài. Ông Krepinevich viết: “Quân đội sẽ không chấp nhận sự kiện thực tế mà qua đó khiến cho người dân tin rằng bạn sẽ bảo vệ họ, vốn đòi hỏi một lực lượng an ninh hiệu quả của chính phủ mà qua đó sẽ luôn luôn có mặt ở đó, cũng như nhiều thời gian và các nguồn tài lực. Việc chống cuộc nổi dậy trên cái giá rẻ sẽ không hiệu nghiệm.”21 Sự thiếu sót đó phản ảnh sự can dự hạn chế của Quân đội, vốn không bao giờ cho phép các chương trình bình định lấy đi các nguồn tài lực từ một cuộc chiến tranh “thực sự” của chiến lược “tìm kiếm và tiêu diệt.”
Những người theo chủ trương “tâm và trí” bác bỏ lý lẽ của ông Westmoreland về tính dè dặt của ông ta theo đuổi một “cuộc chiến tranh khác.” Ông Westrnoreland cho rằng ông ta không có đủ quân lính để đặt một tiểu đội Mỹ vào trong mọi làng mạc và thôn ấp.

p120

Tuy thế, nếu nguyên tắc “vết mực” của công cuộc bình định đã được cố gắng thử nghiệm, một sự can dự như vậy sẽ không là điều cần thiết. Nhưng ngay cả nếu việc đặt những người Mỹ trong mỗi làng là cần thiết, sự chuyển đổi theo nhiệm vụ quân sự đáng lý ra sẽ cung cấp đầy đủ binh lính cho một chương trình toàn quốc. Theo một nghiên cứu của Bộ Quốc phòng vào năm 1967, chương trình đó sẽ đòi hỏi 167.000 binh sĩ để bao phủ mọi ngôi làng. Trong số 550.000 nhân viên quân sự ở Việt Nam tính đến năm sau, chỉ có 80.000 là những quân lính chiến đấu; số còn lại là những đơn vị hỗ trợ. Một chương trình bình định, dựa vào các đơn vị bộ binh hạng nhẹ vốn đòi hỏi sự hỗ trợ hậu cần ít hơn, đã có thể được cung cấp nhân viên mà không làm tăng mức độ tổng thể của lực lượng Mỹ.22

Thứ tư, chiến thuật của Quân đội về việc tạo ra những người lánh nạn từ các khu vực nông thôn ngầm phá hủy công cuộc bình định . Khi các hoạt động “tìm kiếm và tiêu diệt” phá vỡ xã hội miền Nam, hàng trăm ngàn nông dân bị cưỡng ép rời khỏi nhà của họ và di tản, chủ yếu là đến các thành phố, mà qua đó không thể tạo nơi trú ngụ sinh sống cho họ. Giữa giai đoạn năm 1964 và 1969, khoảng 3,5 triệu người miền Nam Việt Nam –hoặc một phần tư dân số nông thôn– đã trở thành những người lánh nạn cùng một lúc hay lúc khác; con số này không bao gồm hàng triệu những người khác vốn là những người tạm thời phải di chuyển chỗ ở do những hoạt động của chiến tranh.(pc 06) Những người lánh nạn thường đông đúc trong các trại ảm đạm, mà nơi đó cung cấp một số ít dịch vụ hoặc các cơ hội tìm việc. Trong nhiều trường hợp, những người tị nạn được tạo ra trực tiếp bởi các hoạt động quân sự. Trong hai thí dụ đáng chú ý là, những chiến dịch trên quy mô lớn của “Cedar Falls”“Junction City,”(pc 07) vào đầu năm 1967, được tiến hành trước bởi việc tái định cư cưỡng ép những dân làng; điều này cho phép các lực lượng Mỹ tham gia vào việc thả bom, pháo kích, và chiến tranh trên bộ mở rộng mà không sợ những thương vong dân sự.

(Chiến dịch “Cedar Falls” ở vùng đường hầm Củ Chi
của Việt Cộng và Bắc Việt, ngày 8–26/01/1967)

(Chiến dịch “Junction City” ở Tây Ninh,
ngày 22/02–14/05/1967)

Bộ Tư lệnh Quân đội cuối cùng xem việc dời chỗ ở như là điều cần thiết đối với nỗ lực quân sự. Việc di tản vùng nông thôn được xem như là việc lấy đi nguồn sức mạnh của Việt Cộng –những người được tuyển dụng, những người sản xuất thực phẩm, và những người ủng hộ khác– trong khi cũng dọn trống những chiến trường. Bên cạnh việc ngăn chận đối phương khỏi sự hỗ trợ ở nông thôn của nó và việc tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động quân sự, sự di dân cưỡng ép cũng được biện minh trên lý lẽ chính trị. Các quan chức Mỹ giải bày số lượng gia tăng của những người lánh nạn như là một dấu hiệu mà các nông dân đang “đi sang” phía chính phủ miền Nam Việt Nam. Một báo cáo của TQLC(pc 03) vào năm 1967 nói rõ rằng “sự hiện diện của con số 539.000 [người tị nạn] theo ước tính ở [Quân khu I]… là sự phản ảnh của niềm tin đang phát triển của dân Việt Nam vào chính phủ của họ.” Ông Lewy nhận thấy: “Đó là điều dễ dàng nhìn thấy thái độ nầy như thế nào đối với vấn đề người tị nạn sẽ khá hợp lý dẫn đến việc tạo ra những người lánh nạn là có chủ ý.”23 Vì vậy, dòng người tị nạn cuối cùng được xem như là một dấu hiệu của sự diễn tiến trong chiến tranh.
Chiến thuật này, tuy nhiên, thì phản tác dụng. Những cuộc tái định cư cưỡng bách dẫn đến những khối đông người bất mãn và phi sản xuất đang sống trong các trại tị nạn, thường là trong các điều kiện đáng thương. Họ trở thành những mục tiêu tuyển mộ của Việt Cộng;

p121

quả thật, Việt Cộng thường di chuyển cùng với những dân làng thân hữu của mình vào trong những thành phố. Hơn nữa, việc di dân không tướt khỏi VC(pc 02) những tân binh, vì các trại lánh nạn chứa đầy dân cư hầu hết là những người già, phụ nữ, và trẻ em; một số ít là thanh niên vào tuổi quân sự.
Hơn nữa, ngược với những tuyên bố rằng việc di dân cho thấy niềm tin của công chúng vào chính phủ miền Nam Việt Nam, thật ra đó là nguồn gốc của sự bất mản đối với điều đó. Việc di dân kịch hóa không thành công, ngoài sự thất bại. Điều đó mang nghĩa gì, đối với hàng triệu nông dân, chính là chính phủ miền Nam Việt Nam không thể bảo vệ dân cư của riêng mình. Phần đông những người tị nạn khắp nơi chỉ muốn trở lại làng mạc của họ, và hàng ngàn người đã làm như thế bất chấp những cố gắng của chính phủ giữ họ lại trong các thành phố. Một báo cáo vào năm 1967 của Hoa Kỳ ghi nhận:

Đối với một người dân thực dụng như những nông dân Việt Nam dường như là, mà qua đó một thông điệp có ngụ ý về sự di chuyển của người tị nạn là một thông điệp rõ ràng — “Chính phủ [miền Nam Việt Nam] không có khả năng bảo vệ ngay cả những người ủng hộ của nó từ những người nổi dậy, vì vậy, người ta tốt nhất là từ chối thực hiện bất kỳ cam kết công khai nào đối với chính phủ.”24

Cuối cùng, công cuộc bình định đòi hỏi có những nông dân trong các ngôi làng của họ. Việc giành được “tâm và trí” của những dân làng bất mãn bị cưỡng ép vào trong các trại tị nạn, hoặc trên việc trở lại nhà cửa của mình, là một thực thi vô ích. Công cuộc bình định có cơ hội thành công chỉ khi nào những dân làng cảm thấy được an ninh.

Thứ năm, đến lúc sự chú trọng lớn hơn được đưa ra cho công cuộc bình định, đó là một trường hợp “quá ít và quá muộn.” Đến năm 1966, Tổng thống Johnson đã dần dà tin rằng “cuộc chiến tranh khác” cần đến sự ưu tiên cao hơn, qua đó dẫn đến sự hợp nhất của công cuộc bình định và các chương trình đa dạng khác về sự phát triển kinh tế và xã hội trở thành một cơ quan duy nhất, là Hoạt động Dân sự và Hỗ trợ Phát triển Cách mạng (HđDs&HTrPTrCM) và sự kết hợp của nó trở thành cấu trúc chỉ huy quân sự của Hoa Kỳ. HđDs&HTrPTrCM được thành lập vào tháng Năm năm 1967 dưới sự điều hành của Robert Komer, vốn là người nắm giữ chức vụ của vị Đại sứ và cả vị Phó Tư lệnh dân sự dưới quyền ông Westmoreland. Đồng thời, chính phủ miền Nam Việt Nam đồng ý phân bổ những đơn vị quân đội của mình để làm việc với những người Mỹ trong HđDs&HTrPTrCM, qua đó đưa đến kết quả qua những lực lượng Địa phương Quân và lực lượng Nghĩa Quân lớn hơn nhằm cung cấp sự an ninh cho làng mạc. HđDs&HTrPTrCM thành lập những đội dân sự-quân sự bình định trong tất cả 44 tỉnh của miền Nam Việt Nam. Đến năm 1969, 6.500 nhân viên quân sự và 1.100 nhân viên dân sự tham gia trong các khía cạnh khác nhau của những hoạt động của HđDs&HTrPTrCM. Chương trình tham vọng nhất là bộ phận Phát triển Cách mạng, mà qua đó gởi đi những đội 59 thành viên để cung cấp sự an ninh và thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở cấp làng mạc. Mặc dù HđDs&HTrPTrCM thì bao hàm toàn diện nhiều hơn những cố gắng của công cuộc bình định trước đây, chương trình có tiếng tăm này, giống như những chương trình trước đó của nó, vẫn là đứa con riêng của Quân đội. Sự nhiệt tình làm việc của nhân viên tương đối rời rạc nhấn mạnh đến thái độ khinh thị tiếp diễn của Ban Chỉ huy Quân đội đối với công cuộc bình định.

p122

Ngay cả nếu Quân đội cung cấp sự hỗ trợ to lớn hơn, HđDs&HTrPTrCM(pc 05) phải đối mặt với một nhiệm vụ vô ích về việc bù đắp cho hai năm của cuộc chiến tranh phản tác dụng. Vấn đề khó khăn là trong khi các chương trình bình định “tiến hành chiến tranh trong các thôn ấp; lực lượng chính… tất cả những đơn vị quá thường xuyên tiến hành chiến tranh trên những thôn ấp.” HđDs&HTrPTrCM phải đối diện với những ảnh hưởng tàn phá của cuộc chiến tranh “trên” những làng mạc: hỏa lực từ pháo binh và cuộc dội bom đã phá hủy những ngôi làng, những hóa chất làm rụng lá và thuốc diệt cỏ đã tàn phá những khu rừng, và hàng triệu những dân làng đã phải bỏ chạy đến các thành phố. Tất cả điều này góp phần vào sự xói mòn sự ủng hộ luôn luôn bấp bênh ở nông thôn đối với chính phủ miền Nam Việt Nam, và vào việc gia tăng sức mạnh cho Việt Cộng. Vì vậy, ông Cable tranh luận: “Nếu phương pháp giải quyết này được thực hiện vào năm 1965, điều đó có thể đã được chứng minh là hiệu quả, nhưng đến năm 1967, đặc tính của chiến tranh đã bị thay đổi và điều đó không còn phù hợp nữa. Những thất bại của cuộc chiến tranh trên không và chiến tranh trên bộ đã tạo nên thành công một ‘cuộc chiến tranh khác’ cả về mặt mơ hồ và phần lớn không thích hợp.”25
Một trở ngại thậm chí lớn hơn đối với HđDs&HTrPTrCM(pc 05) là sự miễn cưỡng của chính phủ miền Nam Việt Nam giải quyết những mối quan tâm cấp bách nhất của những nông dân. Nó đưa ra một công cuộc cải cách khiêm tốn, trong khi Mặt trận Giải phóng Dân tộc (MtGpDt) rao giảng và đưa ra một cuộc cách mạng xã hội. Trong những chương trình bình định của chính phủ miền Nam Việt Nam, sự chú trọng được đưa ra trong việc xây dựng những con đường và trường học, việc đào những cái giếng, việc cải thiện vấn đề chăm sóc y tế, và những phạm vi khác nữa. Những người Mỹ và người miền Nam Việt Nam tham gia vào các chương trình vốn tạo ra những mức độ “tiến triển” theo thống kê, tuy nhiên qua đó chúng bỏ qua sự cần đến công cuộc cải cách về kinh tế và xã hội. MtGpDt, bằng cách ngược lại, giải quyết sự bất bình đẳng và những xung đột trong xã hội Việt Nam. Đối với những nông dân, “những nỗ lực của chính phủ Sài Gòn được nhận thức như là sự duy trì hiện trạng xã hội, mặc dù trên một mức độ cao hơn.”26 Hơn nữa, các đại diện của chính phủ miền Nam Việt Nam trong các làng mạc là một phần của một chế độ tham nhũng có tiếng, mà những chương trình bình định của nó bị ngầm phá hoại bởi sự ăn hối lộ và tính thiên vị. Như là một hậu quả, công cuộc bình định thất bại có được sự ủng hộ của những dân làng, mà những thanh niên của họ không màng đến những lời kêu gọi tồng quân của chính phủ Sài Gòn và dễ dàng được tuyển mộ bởi VC.(pc 02) Chỉ hơi muộn vào đầu thập niên 1970s, chính phủ Sài Gòn, dưới áp lực từ chính quyền Hoa Kỳ, cuối cùng tham gia vào một số cải cách ruộng đất.
Vì vậy, đối với trường phái về “tâm và trí,” sự thất bại chính yếu ở Việt Nam là việc bỏ qua cuộc đấu tranh về xã hội, kinh tế và chính trị ở vùng nông thôn. Chỉ là bằng cách tập trung những nguồn tài lực của nó vào công cuộc bình định có thể Hoa Kỳ đã giành được sự ủng hộ của giới nông dân và, đối với họ, trận chiến ý thức hệ chống lại những người cộng sản. Những người Mỹ có nhân lực, kiến thức và kinh nghiệm cần thiết để tham gia với MtGpDt / VC trong trận chiến về tư tưởng hệ, nhưng thay vì chính phủ Hoa Kỳ lãng phí những nguồn tài lực của nó vào một cuộc chiến tranh gây tiêu hao sinh lực chiến đấu, thiếu suy nghĩ thiết yếu và phản tác dụng. Tóm lại, chiến lược của Mỹ thất bại nhận ra rằng “tâm và trí” thì quan trọng hơn so với việc “đếm xác.”

p123

C- Sự phê bình về “Tâm và trí” –Những giới hạn của ảnh hưởng Mỹ:

Có phải chăng sự chú trọng vào công cuộc bình định sẽ cho phép những người Mỹ và người miền Nam Việt Nam tập hợp giới nông dân phía sau nguyên nhân chống cộng? Chiến lược chọn lựa thay thế là “tâm và trí” đã bị thách thức bởi các học giả, vốn là những người lập luận rằng những người biện hộ của nó có khuynh hướng quá đơn giản hóa tầm quan trọng của sự thách thức. Những người chỉ trích về phe xét lại chủ trương “tâm và trí” không phải là những người bảo vệ chiến lược “tìm kiếm và tiêu diệt” bằng bất kỳ giá nào. Thay vào đó, họ phản ảnh giả định của phe chính thống rằng các mục tiêu của Hoa Kỳ về cơ bản không thể đạt được. Trường hợp của họ được xây dựng xung quanh ba vấn đề tranh cãi liên quan:
(1) là công cuộc bình định được dựa trên một giả định đơn giản về khả năng của Mỹ biến đổi xã hội Việt Nam;
(2) là những TđHđKh(pc 04) có sự tiện ích giới hạn như là một mô hình cho một chương trình trên quy mô lớn;
(3) là sự mất cân bằng của quyền lực chính trị giữa những người cộng sản và chính chủ Sài Gòn ở các khu vực nông thôn ngầm phá hủy những triển vọng của công cuộc bình định.

Chủ yếu là, họ kết luận rằng tình hình bất hòa chống lại công cuộc bình định thật đáng kể, nếu không thể vượt qua.

Thứ nhất, và cơ bản nhất, những chương trình về “tâm và trí” phản ảnh một giả định kiêu ngạo rằng những người Mỹ có thể biến đổi xã hội Việt Nam . Điều nói đầu tiên là sự cố vấn và các nguồn tài lực của Mỹ nếu được đưa ra trong những số lượng thích hợp ở cấp địa phương sẽ đánh bại Việt Cộng và tạo ra một cộng đồng chính trị tập hợp phía sau chính phủ miền Nam Việt Nam vốn tượng trưng cho “sự kiêu ngạo của quyền lực” –như Thượng nghị sĩ J. William Fulbright định rõ đặc điểm sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam một cách nổi tiếng.27 Eric Bergerud vốn là người nghiên cứu về chiến tranh ở một tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, viết:

Trên hết, những người lập luận rằng một nỗ lực được tập trung hơn vào cấp độ thôn ấp, làng mạc có thể mang lại thành công, là sai lầm bởi vì họ ngầm giả định rằng xã hội miền Nam Việt Nam thì dễ uốn nặn như đất sét… Tuy nhiên, tất cả những nỗ lực của Mỹ… không mang lại một sự thay đổi cơ bản nào trong những thái độ chính trị ở dân cư nông thôn.28

Những chương trình bình định đối đầu với một xã hội xa lạ bị biến dạng bởi những thể chế và thực thi phản ảnh qua những thế hệ về sự phát triển chính trị và kinh tế. Những tầm nhìn của Mỹ về một “cuộc sống tốt đẹp hơn” thì không dễ dàng thực hiện, đặc biệt là trong một tình huống mang tính cách mạng.

Thứ hai, chương trình bình định của Thủy quân Lục chiến thì khiêm tốn, với những hạn chế như là một mô hình toàn quốc . Các nhà phê bình về những TđHđKh(pc 04) thừa nhận rằng họ đạt được một số thành công, nhiều hơn như thế so với các chương trình bình định khác, và với tổn phí tương đối thấp.

p124

Tuy nhiên, sự can dự của vai trò lãnh đạo của TQLC(pc 03) đối với những TđHđKh thì tối thiểu. Không lúc nào TQLC sử dụng hơn 2.500 người trong những TđHđKh; ở đỉnh cao của chiến tranh, TQLC có 79.000 quân ở Việt Nam. Michael E. Peterson, vốn là người phục vụ trong chương trình của TđHđKh ở Việt Nam và đã từng viết một lịch sử về những TđHđKh, nhận thấy rằng “ngay cả sự đáp lại của TQLC đối với chiến tranh của cuộc nổi dậy cuối cùng là một thực thi cố gắng tối thiểu.”29 Vai trò lãnh đạo của TQLC chủ yếu đã phản bội truyền thống phục vụ và “ra quân” qua cách tự vướng vào nhiệm vụ “tìm kiếm và tiêu diệt.” Quả thật, những đơn vị của TQLC tiến hành một số trong những ứng dụng hỏa lực tàn bạo nhất trong chiến tranh. Trong phạm vi mà TQLC cam kết các nguồn tài lực cho sự nỗ lực của TđHđKh,(pc 04) chúng phản ảnh những giả định đơn giản về công cuộc bình định. Những TđHđKh có chiều hướng hài lòng, mà qua đó đối với các nhà lãnh đạo tin rằng họ có thể dễ dàng đạt được những mục tiêu và không cung cấp sự huấn luyện thích ứng cho nhân viên. Đối với những người hoài nghi, các báo cáo phóng đại về sự tiến triển được đưa ra bởi Tướng Victor Krulak, vị chỉ huy Lực lượng Hạm đội TQLC, Thái Bình Dương từ năm 1964 đến 1968, dần dà thông thường được biết đến như là “những truyện ngụ ngôn của Krulak.”(pc 09)
Trong nghiên cứu của ông ta về chiến tranh chống cuộc nổi dậy của TQLC ở Việt Nam, Michael Hennessy cho rằng chiến lược tìm-kiếm-và-tiêu-diệt và chương trình bình định không nên được xem như là những chiến lược loại trừ lẫn nhau, nhưng thay vào như là củng cố lẫn nhau. Việc thách thức của ông Krepenivich và ông Cable, ông Hennessy quan sát rằng sự tập trung vào công cuộc bình định sẽ khiến cho những người cộng sản tự do tấn công, vì vậy đó là điều quan trọng để theo đuổi cuộc chiến tranh mãnh liệt chống lại Việt Cộng và cộng quân Bắc Việt. Cuộc tranh luận về “tâm và trí” mà qua đó xây dựng lực lượng Mỹ trở thành những đơn vị vũ trang nhẹ chống lại cuộc nổi dậy, theo quan điểm của ông Hennessy, thì không phải là con đường đi đến chiến thắng. Ông ta, vì thế, kết luận rằng câu trả lời không được quần chúng ưa chuộng thừa nhận đối với các vấn đề của Mỹ là nhiều hơn quân lính ở chiến trường này, vì vậy mà cả hai giai đoạn của cuộc chiến tranh trên bộ có thể được tiến hành một cách thành công.30
Để đáp lại, ông Peterson, trong nghiên cứu của ông ta về chương trình của TđHđKh, cho biết rằng thêm quân lính không phải là câu trả lời. Những TđHđKh bị giới hạn chỉ là một phần bởi số lượng nhỏ của những quân lính can dự vào chương trình, nhưng sự thiếu sót chủ yếu là vấn đề không được quần chúng ưu chuộng chính phủ miền Nam Việt Nam; “nếu chính quyền thân chủ đã từng cho thấy một giải pháp thay thế tốt hơn từ lúc đầu, sẽ có thể không có lực lượng nổi dậy để chống lại.” Sự quan sát đó dẫn ông Peterson đi đến kết luận:

Tôi không tin rằng nếu [Bộ chỉ huy quân sự] đã từng dùng đến một Chương trình TđHđKh(pc 04) trên toàn quốc, Hoa Kỳ sẽ chiến thắng cuộc chiến tranh… Việt Nam là một vấn đề mà qua đó không có giải pháp nào của Mỹ. Tuy nhiên, việc sử dụng các học thuyết kinh tế về sức mạnh và sự tập trung hỏa lực nhằm vào mục đích bảo vệ –hơn là phá vỡ– các thôn ấp, chúng ta sẽ đã không bị thua một cách khủng khiếp như vậy, như chúng ta đã.31

p125

Thứ ba, sức mạnh của phong trào cộng sản ở các khu vực nông thôn đặt ra một trở ngại có lẽ không thể vượt qua đối với công cuộc bình định . Một thách thức cơ bản nhất là vấn đề khả thi giành được “tâm và trí” –nếu đưa ra vấn đề lịch sử của phong trào cộng sản và bản chất của cuộc đấu tranh chính trị ở vùng miền Nam Việt Nam thôn dã, có phải chăng MtGpDt thực sự đã từng giành được “tâm và trí” của giới nông dân? Để trả lời câu hỏi đó, những hiểu biết sâu sắc hữu ích được cung cấp bởi những điều phát hiện của nhiều nghiên cứu về những tỉnh và các làng mạc của vùng miền Nam Việt Nam thôn dã mà qua đó theo dấu vết những sự phát triển về chính trị và xã hội ở cấp địa phương. Được thực hiện trong suốt thời gian chiến tranh hoặc sau đó, những nghiên cứu này, trong khi khác nhau theo những phần về bản chất nghiên cứu, các miền địa phương được nghiên cứu, và những giai đoạn thời gian được bao phủ (khác nhau trong khoảng từ 4 năm đến 35 năm), đạt đến những kết luận tương tự.32
Vào lúc chiến tranh trở thành Mỹ vào năm 1965, những người cộng sản được thành lập vững chắc ở những khu vực nông thôn và hưởng được tính hợp pháp lan rộng đối với những người nông dân. Ngay từ đầu thập niên 1930s, Đảng Cộng sản đã tổ chức sự oán giận của nông dân chống lại thực dân Pháp. Sức mạnh của nó gia tăng trong suốt Thế Chiến thứ II dưới ngọn cờ của Việt Minh, mà đỉnh cao là trong bản tuyên ngôn độc lập Việt Nam của Hồ Chí Minh vào năm 1945. Di sản của những năm đó thật trọng đại: David Elliott, vốn là người đã từng nghiên cứu sự phát triển chính trị ở một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đưa ra lời bình luận: “Trên cấp độ quốc gia, vai trò lãnh đạo phong trào độc lập của Đảng Cộng sản vào năm 1945 tạo ra một nơi lưu trử có độ sâu hợp về tính hợp pháp của chính trị mà qua đó duy trì cuộc cách mạng qua các thời kỳ khó khăn trong ba thập kỷ tới.”33
Trong suốt cuộc đấu tranh diễn ra sau đó chống lại người Pháp, Việt Minh có được quyền kiểm soát trên phần lớn khu vực nông thôn, mang theo với họ là cuộc cải cách ruộng đất vốn đưa đến việc tịch thu và phân phối lại những tài sản ruộng đất lớn. Những năm sau đó, những người nông dân nhớ lại thời kỳ Việt Minh kiểm soát như là thời gian tốt nhất trong lịch sử [của tỉnh].34 Đến năm 1954, “cấu trúc quyền lực xưa cũ đã bị lật đổ không thể cứu vãn.”35 Khi chính phủ miền Nam Việt Nam sau đó đảo ngược công cuộc cải cách ruộng đất,(pc 10) nó làm xa lánh những người nông dân và dẫn đến các cuộc tấn công của họ vào những điền chủ và cảnh sát và lực lượng dân quân vốn là những người cố gắng thu tiền thuê đất; bất chấp, những nông dân duy trì quyền kiểm soát gần như trên tất cả vùng đất bị thu giữ trong suốt cuộc chiến tranh chống Pháp. Sự thất bại tổ chức các cuộc bầu cử thống nhất đất nước vào năm 1956, như đã từng được quy định của Hiệp định Genève, và chiến dịch tàn bạo của ông Diệm chống lại những người cộng sản gây ra một cuộc chiến tranh mới,(pc 11) được dẫn dắt bởi cái gì đó dần dà thường được biết đến như là Việt Cộng (VC). Việc tham gia trong cuộc đấu tranh là những số lượng lớn của những người theo Việt Minh trước đây có nguồn gốc ở miền Nam –được dán nhãn là “những người trở lại”– vốn là những trở về những ngôi làng của họ từ phía Bắc nơi mà họ đã bỏ đi sau sự chia cắt “tạm thời” của đất nước vào năm 1954. Rõ ràng là, lực lượng nổi dậy có những nguồn gốc địa phương và không bị điều hành bởi miền Bắc Việt Nam.(pc 12)
Dưới áp lực từ các nhà lãnh đạo miền Nam để cung cấp viện trợ, những nhà lãnh đạo miền Bắc Việt Nam, qua Đảng Lao động Việt Nam, thành lập Mặt trận Giải phóng Dân tộc.

p126

Nắm quyền kiểm soát các khu vực lớn hơn, MtGpDt / VC kết hợp sự cải cách với chủ nghĩa dân tộc, hứa hẹn sẽ chấm dứt sự cai trị của chính phủ Diệm “bù nhìn của Mỹ.” Phong trào cộng sản do đó được duy trì như là một lực lượng mạnh mẽ, ăn sâu ở vùng miền Nam Việt Nam thôn dã. Đến đầu thập niên 1960s, James Trullinger tìm thấy, ba phần tư người dân trong làng mạc mà ông ta nghiên cứu, đã từng tham gia vào MtGpDt,(pc 08) một phần do lòng yêu nước và một phần vì nó đưa đến những câu trả lời cho những vấn đề của họ.36 Race Jeffrey kết luận rằng trong tỉnh Long An (ở Đồng bằng sông Cửu Long gần Sài Gòn), Việt Cộng vào năm 1965 “đã giành được thắng lợi trong hầu hết tất cả các khu vực nông thôn” với khả năng chiếm giữ một số ít thị trấn dưới thẩm quyền của chính phủ miền Nam Việt Nam. Một tiểu đoàn VC(pc 02) hoạt động trong tỉnh đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì MtGpDt, qua việc ba dịp trong suốt đầu thập niên 1960s từng đánh bại những lực lượng quân đội miền Nam Việt Nam lớn nhiều hơn trong chiến trường. Những hệ quả phức tạp thật là quan trọng: “Quân đội Việt Nam Cộng hoà (QĐVNCH) đã không tiến hành một chiến dịch tàn nhẫn để săn lùng và tiêu diệt [tiểu đoàn Việt Cộng], do đó làm tiêu tan bất kỳ niềm hy vọng thực sự nào cho công cuộc bình định của tỉnh Long An.”37
Trong nghiên cứu của ông ta về một tỉnh lân cận, Eric Bergerud lưu ý là sự nghiên cứu chính thức của Lầu Năm Góc kết luận rằng “đến cuối năm 1965, MtGpDt đã chiến thắng cuộc chiến tranh…” Bergerud lập luận rằng tình huống này không phải là riêng biệt, bởi vì một số lượng những tỉnh cuối cùng cũng thế đã đi đến dưới quyền kiểm soát của cộng sản:

Những tỉnh này có đặc điểm quan trọng chung –chúng mang tính chất dân tộc Việt Nam, dân cư đông đúc, và thuộc nền nông nghiệp. Nếu cho rằng đa số người dân miền Nam Việt Nam là dân tộc Việt Nam, không Công giáo, và thuộc giới nông dân, điều đó dẽ dàng cho thấy là, đến năm 1965, Sài Gòn đã mất đi bổn phận đối với chính phủ của một bộ phận lớn nhất và quan trọng nhất của dân số.38

Sức mạnh tiềm ẩn này đã cho phong trào cộng sản khả năng phục hồi mà nó cần đến để qua khỏi được những mất mát đáng kể phải gánh chịu trong suốt cuộc chiến tranh của Mỹ. Cơ cấu của cộng sản ở các khu vực nông thôn phải cam chịu và vẫn được mạnh hơn so với các cơ quan của chính phủ miền Nam Việt Nam. Những phát hiện của các nghiên cứu địa phương là điều minh họa.
Trong sự phân tích của ông ta về một ngôi làng trong khu vực chiến tranh nặng nề ở phần phía bắc của miền Nam Việt Nam, ông Trullinger tìm thấy rằng sự hiện diện đáng kể của Mỹ không mang lại bất kỳ thay đổi chính trị đáng kể nào. Vào lúc những người Mỹ bắt đầu bước vào khu vực với những số lượng lớn, đại đa số những dân làng đã tham MtGpDt. Vào năm 1965, một căn cứ TQLC Hoa Kỳ được thành lập ở gần đó và TQLC(pc 03) mang một đơn vị TđHđKh(pc 04) đến một ngôi làng. Bất cứ những cải cách gì mà TđHđKh mang lại, bị phám ngầm bởi những người dân làng, làm gia tăng tính chất dễ bị tổn thương đưa đến kết quả từ các cuộc tấn công thường xuyên của VC(pc 02) vào lực lượng TđHđKh. Hầu hết những dân làng vẫn còn trung thành đối với MtGpDt, đáng chú ý là dần dà tham gia trong Phong trào Đấu tranh, mà qua đó dẫn đến các cuộc biểu tình chống lại chính phủ Sài Gòn.

p127

Sau đó, vào năm 1968, sự hiện diện của Hoa Kỳ tăng lên một cách đáng kể, khi nó chiếm một lãnh thổ và xây dựng Doanh trại Eagle của Sư đoàn Dù 101, vì thế mang 10.000 người Mỹ vào trong làng mạc. Mặc dù Doanh trại Eagle buộc các nhà lãnh đạo của MtGpDt và VC lẫn tránh đi và đưa đến kết quả trong một vài xói mòn nào đó vào sự hỗ trợ (được ước tính theo sự gia giảm từ 85% đến 50% dân số), MtGpDt điều chỉnh và tiếp tục tuyên truyền.
Sự hiện diện quân sự lớn ở tỉnh được kèm theo với sự chú ý lớn hơn đến một “cuộc chiến tranh khác,” mà qua đó mang lại những kết quả hỗn hợp. Những người Mỹ và chính phủ miền Nam Việt Nam thực hiện một nỗ lực lớn cho công cuộc bình định, qua việc giới thiệu các giống gạo sinh ra thu hoạch cao và các chương trình khác nhau nhằm gia tăng việc sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, những thay đổi này cũng dẫn đến sự lạm phát và những lợi nhuận cho một số ít các nhà bán lẻ. Quan trọng nhất là, những chương trình này làm mất uy tín chính phủ miền Nam Việt Nam, mà qua đó được cho là lợi ích của công cuộc bình định. Sự lệ thuộc của chính phủ Sài Gòn vào những người Mỹ là nét đặc trưng có thể nhìn thấy về công cuộc bình định. Vị Trưởng thôn và những quan chức khác của chính quyền miền Nam Việt Nam “bị mất mặt” khi họ được xem như là đang làm việc với những người Mỹ. Những dân làng cuối cùng nhìn thấy những người Mỹ như là sự cấu thành chủ yếu một chính phủ song song. Trong suốt cuộc Tổng tấn công mùa Lễ Phục Sinh năm 1972, những dân làng chứng kiến sự sụp đổ thẩm quyền của chính phủ Sài Gòn và sự cứu giải nó của những người Mỹ. Vì thế, cuộc nổi dậy không chỉ tồn tại trong suốt giai đoạn tham gia mạnh mẽ của Mỹ từ năm 1965 đến 1973, nhưng khi chiến tranh kết thúc, nó ở trong một vị thế tái khẳng định sức mạnh của nó.39
Viết về một tỉnh khác có nhiều tranh cãi dữ dội ở Đồng bằng sông Cửu Long nơi mà bước đầu đưa vào những số lượng đáng kể của quân lính Mỹ và bộ đội miền Bắc Việt Nam mang lại sự phá hoại rộng rãi, Jeffrey Race quan sát rằng chính quyền của chính phủ miền Nam Việt Nam vẫn còn mong manh. Vấn đề quân sự chính yếu của người Mỹ và người miền Nam Việt Nam và những nỗ lực về một “cuộc chiến tranh khác” phần lớn không thích hợp. Sự phụ thuộc của Hoa Kỳ vào hỏa lực phản ảnh một giả định rằng sức mạnh của MtGpDt là kết quả từ bạo lực, khủng bố và đe dọa của nó, nhưng lời giải thích đó bỏ qua việc vun trồng lâu đời sự ủng hộ ở cấp độ làng mạc và những chương trình cải cách ruộng đất. Vì vậy, chính những người Mỹ đã mang đến mức độ bạo lực vốn không phù hợp với tình hình. Khi chiến tranh tiếp diễn, những người Mỹ và người miền Nam Việt Nam giới thiệu những chương trình bình định mới, nhưng những chương trình nầy không khác biệt một cách đáng kể từ những cố gắng thất bại trước đó. Chúng phải chịu khốn đốn từ quyền kiểm soát tập trung và những đại diện của chính phủ miền Nam Việt Nam di chuyển từ làng này sang làng khác. Điều này trái ngược với các chương trình của MtGpDt mà qua đó những cán bộ hoạt động trong những khu vực quê nhà của họ. Trong một cố gắng giải quyết những mối bất bình vốn đã từng góp phần vào sự thu hút của MtGpDt, chính quyền Sài Gòn giới thiệu những cải cách mới, như là Chương trình Xây dựng Nông thôn phần nhiều được cổ võ, nhưng điều này cung cấp một số ít hơn những lợi ích đích thực cho những dân làng so với MtGpDt đã từng phân chia trong các khu vực dưới quyền kiểm soát của nó. MtGpDt, chắc chắn là, gánh chịu những mất mát trong cuộc chiến đấu và những người theo nó kinh nghiệm qua một mức độ mệt mỏi về chiến tranh, nhưng nó đã sống sót qua những lúc khó khăn trong quá khứ và được đặt vào vị thế để làm như vậy một lần nữa.

p128

Vì vậy, mặc dù một sự đầu tư đáng kể của những người Mỹ–miền Nam Việt Nam về nhân lực và các nguồn tại lực, vấn đề chính trị của tỉnh Long An không thay đổi. Thật vậy, Lầu Năm Góc vào năm 1968 xếp nó trong số ba tỉnh “không an ninh nhất” trong 44 tỉnh của miền Nam Việt Nam.40
Vấn đề chính trị của tỉnh lân cận được nghiên cứu bởi Eric Bergerud kể lại phần lớn câu chuyện giống nhau về sự tiến triển nhỏ nhoi của người Mỹ–miền Nam Việt Nam và khả năng phục hồi của MtGpDt. Trong cuộc chiến đấu ở Hậu Nghĩa, Việt Cộng gánh chịu những thương vong đáng kể, nhưng không ngừng xây dựng lại. Những chương trình bình định cho phép chính phủ miền Nam Việt Nam mở rộng thẩm quyền của mình, nhưng bộ máy chính trị của MtGpDt vẫn còn nguyên vẹn, cho phép nó giữ lại quyền kiểm soát tất cả làng mạc gần bên của tỉnh về đêm và cũng như phần lớn tỉnh vào ban ngày. Vào năm 1967, Hệ thống Đánh giá Thôn ấp xếp hạng chỉ là 17 trong số 115 làng mạc trong tỉnh như là đang dưới quyền kiểm soát hữu hiệu của chính phủ miền Nam Việt Nam; ngược lại 67 làng mạc được xem như là “dưới quyền kiểm soát hoàn toàn của VC” và con số 31 làng mạc khác như là “phần lớn dưới sự kiểm soát của VC.” Điều này có nghĩa rằng ngay cả sau hai năm chiến tranh của Mỹ, MtGpDt vẫn nắm được thế chủ động về chính trị.
Cuộc chiến tranh tiếp tục, tuy nhiên, tỏ ra tốn kém cho Việt Cộng, như phần lớn cuộc chiến đấu trong tỉnh đã diễn ra ở các khu vực của sức mạnh MtGpDt –một mục tiêu của các hoạt động tìm-kiếm-và-tiêu-diệt. Những bước thối lui thất bại nầy, tuy nhiên, không biến chuyển làm tăng thêm sức mạnh cho chính phủ Nam Việt Nam ở địa hạt tỉnh. Trong suốt các hoạt động quân sự, những quân lính của Hoa Kỳ–miền Nam Việt Nam thường xuyên buộc phải tái định cư những nông dân, trong khi những người khác trốn chạy một cách tự nguyện hầu thoát khỏi các hoạt động tìm-kiếm-và-tiêu-diệt. Việc di dân nầy tước đoạt VC những nguồn thực phẩm và tuyển dụng lâu đời. Cuộc giao tranh dữ dội của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân cũng làm suy yếu MtGpDt, vốn lôi cuốn những thương vong nặng nề. Như là một kết quả của những mất mát này, MtGpDt trở nên phụ thuộc hơn vào miền Bắc Việt Nam cho tất cả các loại viện trợ. Vì vậy, khi MtGpDt bị suy yếu, kết quả là nâng cao ảnh hưởng của Bắc Việt.41
Suốt cuộc chiến tranh, chính phủ miền Nam Việt Nam không bao giờ vượt qua được những vấn đề cơ bản của nó trong tỉnh và vẫn không thể thách thức tính hợp pháp của MtGpDt. Ông Bergerud viết rằng “[chính phủ miền Nam Việt Nam] không bao giờ có thể chuyển đổi điểm yếu của Mặt trận (Giải phóng Dân tộc) trở thành sức mạnh của chính phủ.” Chính phủ “thì hoàn toàn phụ thuộc vào những lực lượng từ bên ngoài.” Như mọi khi, những quan chức, binh lính, lực lượng nồng cốt Saigon “là từ những khu vực ngoài tỉnh tăng lên đến một mức độ đáng ngạc nhiên.”42 Những điểm yếu nầy không riêng biệt là tỉnh Hậu Nghĩa. Như một báo cáo của HđDs&HTrPTrCM(pc 05) lưu ý:

Ý tưởng khó khăn nhất để thành lập một hệ thống cho [những tỉnh xung quanh Sài Gòn] đó là [chính phủ miền Nam Việt Nam] phải thật sự quan tâm đến phúc lợi của những công dân của mình và sẽ bảo vệ họ chống lại sự khai thác hoặc là bởi VC hay những quan chức tham nhũng. Có một số ít bằng chứng chắc chắn để hỗ trợ cho chủ đề này và một số tương đối những thí dụ khá rõ ràng để bác bỏ nó.43

p129

Việc kết hợp khả năng của mình để bù đắp cho những mất mát và sự yếu kém cơ bản của đối phương của nó có nghĩa là “[MtGpDt] đã làm rất tốt… ở cả Hậu Nghĩa và tất cả Việt Nam. Mặc dù vị thế của nó đã bị suy yếu về vật chất, điều gì Mặt trận tạo ra, đã phải từ bỏ chỉ sau một cuộc giao tranh dữ dội… Sự hiện diện tiếp tục của Mặt trận trong rất nhiều khu vực của Việt Nam… tạo nên lổ hổng trong bất kỳ tuyên bố chính thức nào về sự tiến triển…”44 Vì vậy, MtGpDt tiếp tục kiểm soát những phần lớn của miền Nam Việt Nam và tranh giành gần như tất cả các khu vực nông thôn khác. Bộ máy chính trị của nó tiếp tục tồn tại trong khu vực nông thôn mà chính phủ miền Nam Việt Nam tuyên bố kiểm soát. Bộ máy tuyên truyền của nó vẫn còn nguyên vẹn và có thể tung ra một thông điệp của Mặt trận khắp miền Nam Việt Nam.
Trên nền tảng của cuộc đấu tranh này là “đức tính cảm nhận được” của MtGpDt mà qua đó cho nó một “uy lực tinh thần chiến đấu… mà [chính phủ miền Nam Việt Nam] không bao giờ có khả năng chống lại. Ở đây, những người Mỹ không thích hợp đối với việc làm cho cân bằng.” “Đức tính” của Mặt trận được bắt nguồn từ “lòng tự tin tuyệt đối, không thể lay chuyển của nó mà rất nhiều trong số những cuộc cách mạng có được chiến thắng cuối cùng của họ…” Những người ủng hộ chính phủ miền Nam Việt Nam nói về cuộc chiến thắng sắp đến theo cách rất khác nhau, nghĩa là giả định rằng những người Mỹ sẽ không bao giờ bỏ rơi họ.“Chính là một điều để tin rằng bạn không có thể thua,” ông Bergerud viết, “chính là một điều khác để tin rằng bạn sắp chiến thắng.”45 Mặt trận có được sự hỗ trợ của những thành phần dân cư nông thôn có nhận thức về chính trị nhất và có sự kiên quyết nhất; “không có gì nghi ngờ… rằng Mặt trận có một ổ khóa thực sự trên ‘những người giỏi nhất và sáng dạ nhất’ của giới thanh niên nông thôn.” Trên cơ bản của câu chuyện đó là ban lãnh đạo của cộng sản có một tầm nhìn rõ ràng và một sự hiểu biết vững chắc về tình hình.

Sự phân tích của Đảng về tình hình ở nông thôn Việt Nam vào năm 1965 thì đúng [và] sự phân tích của chúng ta là sai… Những cán bộ Đảng tin rằng [chính phủ miền Nam Việt Nam] không bao giờ có hoặc cũng chưa từng bao giờ có thể có được tính hợp pháp bởi vì các yếu tố cấu trúc mà qua đó không thể thay đổi được. Đảng xem sự thiếu khả năng và hàng loạt tham nhũng vốn tạo nên đặc trưng cho [chính phủ] ở mọi cấp độ như là một kết quả không thể tránh khỏi của những mâu thuẫn xã hội. Một tầng lớp thành thị, tầng lớp Tây phương hóa, và phần lớn là giới ưu tú Công giáo, Đảng vẫn duy trì, không bao giờ có thể tạo ra một xã hội ham muốn –hoặc một xã hội được xem chỉ như là của giới nông dân– trong một đất nước nghèo nàn, thuộc vùng Á châu thôn dã. Đảng lập luận, bằng sự biện minh đáng kể, rằng ông Diệm và những người thừa kế của ông ta đã giữ lấy nguyên vẹn bộ máy thực dân Pháp với những người Mỹ tiếp nối vai trò của kẻ bảo vệ.46

p130

Richard Hunt, vốn là người đã từng viết về sự nghiên cứu công cuộc bình định đầy đủ nhất ở Việt Nam, đã kết luận sự phân tích vô tư của mình bằng những quan sát vốn nhấn mạnh đến những vấn đề cơ bản của nỗ lực:

Có phải chăng kết quả cuối cùng của cuộc chiến tranh đã có thể sẽ khác biệt nếu Hoa Kỳ thực sự tiến hành những chương trình bình định, trực tiếp thuê và sa thải các quan chức miền Nam Việt Nam, và chỉ huy những lực lượng bán quân sự của miền Việt Nam? Nếu đưa ra sự quyết tâm sắt đá của những người cộng sản nhằm thống nhất Việt Nam, sự kiên nhẫn và khả năng phục hồi của họ, tính linh hoạt chiến lược và chiến thuật của họ, trên một mặt, và những vấn đề hệ thống của chính quyền Sài Gòn, trên một mặt khác, câu trả lời là không. Những người biện hộ cho công cuộc bình định hy vọng rằng nó sẽ tạo ra một sự biến chuyển nền tảng miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, ngay cả nếu sự biến đổi đó đã xảy ra, điều đó gần như sẽ mất một thời gian rất lâu và trong bất kỳ trường hợp nào sẽ cạn kiệt sự kiên nhẫn của người dân Mỹ, chắc chắn gây xói mòn sự ủng hộ về chính trị ở Hoa Kỳ.47

Tóm lược :

Những sự quan sát của ông Hunt giúp đóng khung sự phân tích đưa đến kết luận về những người chủ trương “tâm và trí” của phe chủ nghĩa xét lại. Trong một ý nghĩa nào đó, các nhà văn này đã đúng: nếu Hoa Kỳ trong một thời gian dài có bất kỳ hy vọng thắng thế nào trong mục tiêu của nó về việc thiết lập một miền Nam Việt Nam an ninh, không Cộng sản, đó là điều cần thiết mà giới nông dân phải được giành lấy. Không có hy vọng nào cho một chính phủ miền Nam Việt Nam có thể đứng vững nếu nó vẫn còn xa lánh người dân của mình. Sự tập trung vào công cuộc bình định có khả năng sẽ tạo ra những sự chia sẻ lợi ích tốt hơn là các chiến dịch tìm-kiếm-và-tiêu-diệt. Việc phá hoại phần lớn miền Nam Việt Nam qua hỏa lực và những hóa chất làm rụng lá không chỉ sinh ra những kết quả không thỏa đáng trên mặt quân sự, nhưng trong phần xây dựng đất nước, đó là điều phản trực giác và trong thực thi là việc phản tác dụng.
Không giống như những người theo lý thuyết Clausewitz, một trường phái về “tâm và trí” cố gắng tìm kiếm một phương pháp hầu đạt được những mục tiêu mà không cần thách thức những hạn chế về sức mạnh của Hoa Kỳ và khăng khăng về việc chiến đấu một loại chiến tranh hoàn toàn khác biệt. Nó chấp nhận cuộc chiến tranh được đưa đến những vị chỉ huy: một cuộc chiến tranh chống cuộc nổi dậy theo hạn chế.
Bất chấp những sức mạnh của họ, tuy nhiên, những người chủ trương “tâm và trí” không hiểu rõ được mức độ của sự thách thức. Như những nghiên cứu địa phương mang tích chất học thuật nhấn mạnh, phong trào cộng sản có khả năng phục hồi đáng lưu ý, và được hưởng lợi to lớn từ sự phụ thuộc rõ ràng của chính phủ miền Nam Việt Nam vào Hoa Kỳ. Ông Hunt nhắc nhở Hoa Kỳ về sự kiên quyết của Bắc Việt / MtGpDt hầu đạt được tầm nhìn của họ về một nước Việt Nam tái thống nhất. Chính phủ Diệm đã từng đánh bầm dập một cách tồi tệ những người cộng sản ở các khu vực nông thôn trong suốt giữa thập niên 1950s, nhưng họ có khả năng sinh tồn và xây dựng lại. Vì vậy, dường như là ngay cả chương trình bình định như tưởng tượng và khó đạt được của người miền Nam Việt Nam– Mỹ có thể, theo chiều hướng tốt nhất, đã đạt được một số lợi ích ngắn hạn nào đó.

p131

Những trở ngại gặp phải bởi các chương trình khiêm tốn vốn được thành lập, cho thấy điều đó khó khăn như thế nào để đạt được một thành công khiêm nhượng, hãy bỏ qua kiểu xây dựng đất nước vốn là cần thiết để bảo đảm sự sống còn của chính phủ miền Nam Việt Nam.
(Ghi chú : p132)

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Lý thuyết Quân sự Clausewitz : là một Lý thuyết Quân sự theo trường phái Carl von Clausewitz : Carl Philipp Gottfried von Clausewitz ( ngày 1/7/1780–16/11/1831) là một người lính Đức Phổ và là nhà lý luận quân sự vốn là người nhấn mạnh đến “tinh thần chiến đấu” (theo thuật ngữ hiện đại, “tâm lý”) và các khía cạnh chính trị của chiến tranh. Tác phẩm đáng chú ý nhất của ông ta, “Về Chiến tranh” (“Vom Kriege” hoặc “On War”), chưa được hoàn tất vào lúc qua đời của ông ta.
Ông Clausewitz qua đời mà không hoàn thành cuốn sách “Về Chiến tranh”, nhưng bất chấp điều này, những ý tưởng của ông ta đã từng có ảnh hưởng rộng rãi trong lý thuyết quân sự và đã có một ảnh hưởng mạnh mẽ trên tư tưởng quân sự của Đức một cách đặc biệt. Sau đó những vị Tướng nước Phổ và Đức như là Helmuth Graf von Moltke rõ ràng chịu ảnh hưởng bởi Clausewitz: lời phát biểu đáng chú ý của ông Moltke là “Không có một kế hoạch chiến dịch nào sống còn trong sự tiếp xúc lần đầu tiên với kẻ thù” là một phản ánh cổ điển về sự nhấn mạnh của Clausewitz trên những vai trò của cơ hội, va chạm, “mù mờ”, không chắc chắn, và tương tác trong chiến tranh.
Sau năm 1890, hoặc gần như thế, ảnh hưởng của lý thuyết Clausewitz cũng lan tràn đến cách suy nghĩ của người Anh. Một thí dụ là nhà sử gia về hải quân, Julian Corbett (1854-1922), mà tác phẩm của ông ta phản ảnh một chiều sâu như gắn bó theo phong cách riêng với những khái niệm của lý thuyết Clausewitz. Clausewitz có ít ảnh hưởng trên tư tưởng quân sự của Mỹ trước năm 1945, nhưng gây ảnh hưởng trên Karl Marx, Friedrich Engels, Vladimir Lenin và Mao Trạch Đông, và vì thế các truyền thống của người Cộng sản và Liên Xô, như là Lenin nhấn mạnh sự tất yếu của những cuộc chiến tranh giữa các nước tư bản trong thời đại của chủ nghĩa đế quốc và trình bày cuộc đấu tranh vũ trang của giai cấp công nhân là con đường duy nhất hướng đến việc loại bỏ cuối cùng của chiến tranh. Vì Lenin là một người hâm mộ ông Clausewitz và gọi ông ta là “một trong những cây viết vĩ đại về quân sự”, ảnh hưởng của ông ta trên Hồng quân thật rộng lớn. Nhà sử học Nga A.N. Mertsalov nhận xét rằng: “Chính là một sự mỉa mai của số phận mà quan điểm ở Liên Xô là điều mà chính Lenin vốn là người định hướng quan điểm theo lý thuyết Clausewitz, và lời tuyên bố chính thức của Lenin rằng chiến tranh là một nối tiếp của chính trị được rút ra từ công việc chống-cách-mạng chống-chủ-nghĩa-nhân-văn này.” Lý thuyết quân sự Clausewitz trực tiếp ảnh hưởng đến Mao Trạch Đông, vốn là người đọc cuốn sách “Về Chiến tranh” vào năm 1938 và tổ chức một hội thảo về lý thuyết Clausewitz như là một phần của chương trình giáo dục cho ban lãnh đạo của Đảng ở Yan’an (Diên An). Vì vậy, nội dung của lý thuyết “Clausewitz” trong nhiều tác phẩm của Mao thì không chỉ đơn thuần là kiến thức đã được dùng thông qua Lenin (như nhiều người đã giả sử thế), nhưng phản ảnh sự nghiên cứu chuyên sâu của riêng Mao.
Sau năm 1970, một số nhà lý luận tuyên bố rằng sự gia tăng vũ khí hạt nhân khiến cho những khái niệm của lý thuyết Clausewitz lỗi thời sau giai đoạn của thế kỷ 20 mà chúng chiếm ưu thế trên thế giới. Đến cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, người đã từng nhìn thấy nhiều trường hợp về những quân đội nhà nước đang cố gắng đàn áp những cuộc nổi loạn, khủng bố, và các hình thức khác của cuộc chiến tranh không đối xứng. Nếu lý thuyết Clausewitz tập trung duy nhất vào những cuộc chiến tranh giữa các quốc gia với những quân đội được định nghĩa rõ ràng, như nhiều nhà bình luận đã từng lập luận, sau đó có lẽ cuốn sách “Về Chiến tranh” đã đánh mất khía cạnh phân tích của nó như là một công cụ cho sự hiểu biết về chiến tranh như nó hiện đang phải chiến đấu.
Một số người đã đi xa hơn và cho rằng câu cách ngôn nổi tiếng nhất của ông Clausewitz, đó là chiến tranh là sự nối tiếp của chính sách bằng những phương cách khác, thì không chỉ là mơ hồ ngày hôm nay mà còn là bất khả ứng dụng trong lịch sử. Những người khác lập luận rằng những điều cần thiết của phương pháp giải quyết theo lý thuyết của ông Clausewitz vẫn còn có giá trị, nhưng rằng cách suy nghĩ của chúng ta phải thích ứng đối với những thực tế của những thời điểm và địa điểm riêng biệt. Biết rằng “chiến tranh là sự biểu hiện về chính trị bằng những phương cách khác” không giúp được gì cho chúng ta trừ khi chúng ta sử dụng một định nghĩa về “chính trị” vốn phù hợp với hoàn cảnh và các khuynh hướng văn hóa của những người chiến đấu trong mỗi tình huống; điều này đặc biệt đúng khi chiến tranh được thực hiện khắp vùng phân chia về văn hóa hoặc nền văn minh, và những người đối lập không chia sẻ phần lớn sự hiểu biết thông thường như nhiều người trong số những người tham gia trong Thế Chiến thứ I và thứ II.
Trong những học viện quân sự, trường học, và các trường đại học trên toàn thế giới, án văn của ông Clausewitz thường bắt buộc phải đọc.

pc 02_ VC : Việt Cộng.
pc 03_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 04_ TđHđKh : Trung đội Hành động Kết hợp (CAP = Combine Action Platoon).

pc 05_ HđDs&HTrPTrCM : Hoạt động Dân sự và Hỗ trợ Phát triển Cách mạng (CORDS = Civil Operations and Revolutionary Development Support). Là chương trình bình định của quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam.

pc 06_ “…con số này không bao gồm hàng triệu những người khác vốn là những người tạm thời phải di chuyển chỗ ở do những hoạt động của chiến tranh.” : đáng lý ra vấn đề nầy nên được đặt vào câu hỏi là Hoa Kỳ nên làm gì để chận đứng sự xâm nhập của Bắc Việt, hơn là đổ lỗi cho chình quyền miền Nam Việt Nam qua chương trình bình định không ngoài mục đích bảo vệ dân cư nông thôn trong giai đoạn tạm thời trước khi phát triển nó hơn nữa nhằm chống lại lực lượng bám dân của Việt cộng và bộ đội Bắc Việt. Trong khi những mục tiêu cần phá hủy dọc theo Đường mòn Hồ Chí Minh và những căn cứ hậu cận của cộng quân dọc biên giới Lào thì dường như bị bỏ qua bởi những hoạt động thiếu kiên quyết của Hoa Kỳ. Khi sự xâm nhập của cộng quân đã leo thang đến mức báo động, chính sách bình định dĩ nhiên là phương án tạm thời nhưng chắc chắn mang lại hiệu quả mà chính những tài liệu của cộng sản Hà Nội cũng phải thừa nhận những thất bại thê thảm của họ trong thời kỳ đó.
Một đất nước trong cơn chiến tranh quyết liệt và mù quáng của khối cộng sản Hà Nội thì hiện tình đau thương phải chấp nhận cho những người nông thôn ở miền Nam Việt Nam là điều không thể tránh được. Giải pháp bình định là loại bỏ một phía lằn đạn mà giới nông dân phải hứng lấy. Dù muốn dù không, họ cũng phải nhận lấy những đau thương nhưng nếu họ được bình yên trong những thành phố hay trại lánh nạn, dĩ nhiên hơn là gánh chịu hai lằn đạn vào mình. Cũng như không có bằng chứng nào cho thấy rằng nếu họ bám theo Việt cộng và cộng quân Bắc Việt, cuộc sống của họ được bình yên hơn. Vì họ là chỗ tựa cho lương thực và nhân lực cho xương máu của Việt cộng và Bắc Việt để tiến hành chiến tranh lâu dài ở miền Nam Việt Nam.

pc 07_ Những chiến dịch “Cedar Falls” và “Junction City” : gây ra nhiều thiệt hại cho Việt
Cộng và cộng quân Bắc Việt. Riêng chiến dịch Cedar Falls với 750 cộng quân tử vong và 280 bị bắt, so với 72 binh sĩ Hoa Kỳ thiệt mạng và 337 bị thương, cùng 11 binh lính VNCH thiệt mạng và 8 bị thương, trong cuộc càn quét căn cứ đường hầm Củ Chi trong địa phận Sài Gòn từ ngày 8 đến 26/01/1967.
Chiến dịch Junction City với 2.728 cộng quân tử vong và bị thương, so với 282 quân lính liên minh (Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam) thiệt mạng và 1.100 bị thương. Đây là một chiến dịch quy mô với 6 mũi tấn công vào những căn cứ Việt Cộng và cộng quân Bắc Việt ở Tây Ninh bằng không vận chuyển quân và tiếp tế trong hơn 4 tháng từ ngày 22/02 đến 14/05/1967. Tuy nhiên, kết quả thu hoạch khá khiêm tốn so với tổn phí và thời gian kéo dài trong chiến dịch, vì sự lẫn tránh khôn khéo của cộng quân nơi vùng biên giới.

pc 08_ MtGpDt : Mặt trận Giải phóng Dân tộc.
pc 09_ “Những truyện ngụ ngôn của Krulak” : các báo cáo thường xuyên từ Tướng Krulak vẫn được đề cập đến như là “Những truyện ngụ ngôn của Krulak” trong Bộ phận Bảo tàng và Lịch sử Quân đoàn Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ bởi vì bản chất chính trị của chúng, trong đó chúng mang chủ ý gây ảnh hưởng đến những người ra quyết định ở Sài Gòn và Washington, và những tuyên bố của họ về sự thành công cho phương pháp giải quyết việc chống lại cuộc nổi dậy được dựa trên Hệ thống Đánh giá Thôn ấp (HES = Hamlet Evaluation System) mà qua đó quy định ‘mức điểm cho công cuộc bình định’ đối với các thôn ấp được dựa trên một tập hợp các tiêu chuẩn ban đầu được soạn thảo bởi Thủy quân Lục chiến nhưng sau đó được ứng dụng bởi chương trình Hoạt động Dân sự và Hỗ trợ Phát triển Cách mạng (CORDS = Civil Operations and Revolutionary Development Support).

pc 10_ “Khi chính phủ miền Nam Việt Nam sau đó đảo ngược công cuộc cải cách ruộng đất,…” : đây là lý luận của phe chính thống, vốn là những học giả Mỹ có thể chưa lần nào đặt chân đến quan sát tình hình miền Nam Việt Nam, thậm chí chưa bao giờ đến miền Bắc Việt Nam để tận mắt nhìn công cuộc cải cách ruộng đất ở đó khác biệt như thế nào đối với miền Nam.
Quả thật, giữa hai cuộc cải cách ruộng đất hoàn toàn trái ngược theo cái mà họ nghe, nhưng cái mà họ thấy và hiểu tường tận thì lại hoàn toàn ngược lại trong lý luận của họ khi họ cho rằng cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc rất thành công, làm vừa lòng giới nông dân. Tuy nhiên, khi phân tích một vấn đề, người ta không chỉ nhìn hiện thực mà bỏ qua những gì liên quan đến nó từ quá khứ hay dự đoán ngày mai và ngay cả hoàn cảnh, tình thế, tình huống của sự kiện, biến cố. Những người cộng sản luôn luôn dùng cách tuyên truyền nầy để che đập hiện thực bằng những hành động “tốt đẹp phô trương,” nhưng chỉ tạm thời, và che đậy những tiến trình tạo ra hoặc hậu quả của nó. Vì lịch sử không thể bỏ qua những chi tiết liên quan đến hiện thực, bởi thế nếu những học giả đó đã từng chịu khó nghiên cứu thêm ít nhiều về công cuộc cải cách ở miền Bắc, ắt hẵn họ sẽ e ngại khi buông ra những lý luận đó.

pc 11_ “…và chiến dịch tàn bạo của ông Diệm chống lại những người cộng sản gây ra một cuộc chiến tranh mới,…” : đây là cách nhìn của phe chính thống trong lý luận của họ. Dù họ biết rằng cuộc Chiến tranh Việt Nam không phải là một cuộc nội chiến đơn thuần theo ý nghĩa của nó, mà là một cuộc chiến tranh giữa hai ý thức hệ hoàn toàn trái ngược : tự do cộng hòa và độc quyền cộng sản. Thì những hành động của ông Diệm cho dù có gọi là “tàn bạo” như những học giả nầy rêu rao, nhằm chống lại làn sóng đỏ của cộng sản –mà sự tàn bạo của họ có thể đáng giá gấp nhiều hơn của ông Diệm– dĩ nhiên điều đó chẳng có gi là sai trái.
Trước sự xâm lược, gây hấn chiến tranh lan tràn ở miền Nam Việt Nam bởi cộng quân, chiến dịch của ông Diệm không thể nương tay trước sức mạnh nhiều phía của đối phương. Điều đó là đương nhiên. Cũng thế, những người học giả nầy chỉ đem ra một khía cạnh để lý luận trước dòng chảy liên tục của lịch sử, là điều hoàn toàn sai lầm và ngụy biện.

pc 12_ “Rõ ràng là, lực lượng nổi dậy có những nguồn gốc địa phương và không bị điều hành bởi miền Bắc Việt Nam.” : điều nầy càng chứng minh sự u tối trong cái nhìn của phe chính thống. Họ, những người học giả Mỹ, không phải là những người miền Nam Việt Nam, nên càng sai lầm trong cái nhìn thiển cận chỉ qua tài liệu tuyên truyền của Hà Nội. Dù rằng họ thừa nhận rằng, những người nổi dậy ở miền Nam là những người từng theo Việt Minh và trở lại từ miền Bắc Việt Nam, nhưng họ không tin và dám mạnh dạn tin rằng –vì nếu thế, tất cả lập luận của họ sẽ bị sụp đổ– chính cộng sản Bắc Việt chỉ thị mọi hoạt động của những người “nổi dậy” vì những người cầm đầu cuộc nổi dậy đó chính là những người cộng sản, dù rằng họ là những người bản địa ở miền Nam.
Không thể xét rằng, trừ khi nào những người cầm đầu cuộc nổi dậy đó là những người miền Bắc thì cuộc nổi dậy mới đích thực là do cộng sản điều hành. Đây là một lý luận quá non trẻ khi nói đến vấn đề chính trị. Điều đáng ngạc nhiên là, mãi đến hôm nay, ít nhất là vào năm 2009 của cuốn sách nầy ra đời, nhưng tư duy của phe chính thống cho dù đi ngược lại 10 năm trước đó (1999) cũng còn quá mơ hồ khi họ chưa nhận định được rõ ràng Việt Cộng là gì. Trong khi chính danh từ đó đã hàm chứa một ý nghĩa hoàn toàn xác định cho nó dù nó được diễn tả bằng Anh ngữ hay Việt ngữ.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s