Phần 4: Lời phê bình của những người Chủ trương Xét lại về “Chiến lược Đánh bại”

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p84

Phần 4: Lời phê bình của những người Chủ trương Xét lại
về “Chiến lược Đánh bại”

(Một chọn lựa khác là Lý thuyết Quân sự Clausewitz(pc 01))

Chiến lược quân sự của Hoa Kỳ trong suốt giai đoạn leo thang từ năm 1965 đến 1968 có một ít người bảo vệ. Giả sử rằng sức mạnh hỏa lực thượng thừa, tính di động, và kỹ thuật sẽ làm tê liệt những người cộng sản Việt Nam, ban lãnh đạo quân sự theo đuổi một chiến lược có hai chiều hướng: một cuộc chiến tranh trên bộ ở miền Nam Việt Nam được dựa trên học thuyết “tìm kiếm và tiêu diệt” và một cuộc chiến tranh trên không chống lại miền Bắc Việt Nam, “Chiến dịch Sấm Vang.” Sức mạnh quân sự của Mỹ trên bộ và trong không trung được áp dụng dần dần. Sự leo thang gia tăng này có chủ ý chứng tỏ sự “hợp lý” và lẫn “quyết tâm” cho những người cộng sản Việt Nam và các cường quốc cộng sản chính yếu. Qua sự kiềm chế của mình, Mỹ đang “ra tín hiệu” rằng nó muốn tránh một cuộc chiến tranh lớn hơn. Đồng thời, sự leo thang gia tăng cũng có chủ ý được đang đe dọa; mỗi bước leo thang nhắc nhở kẻ thù về sức mạnh tùy nghi sử dụng của Mỹ. Mục tiêu cuối cùng là tìm thấy “đỉnh điểm đau đớn” của những người cộng sản –một điểm nơi mà sức mạnh của Hoa Kỳ sẽ buộc họ phải từ bỏ cuộc đấu tranh của họ và chấp nhận một miền Nam Việt Nam độc lập, phi-cộng-sản.

(Chân dung của Carl Philipp Gottfried von Clausewitz
qua nét vẽ của họa sĩ Đức Karl Wilhelm Wach)

Trong việc theo đuổi “điểm quá mức,” một số lượng nhân viên quân sự của Hoa Kỳ ở Việt Nam tăng lên một cách đều đặn:

1965: 184.300
1966: 385.300
1967: 485.600
1968: 534.7001

Và, như được cho thấy trong Bảng 4.1, Chiến dịch Sấm Vang cũng thế leo thang mỗi năm.

Năm Những Phi vụ Tấn lượng bom thả
1965
1966
1967
25.000
79.000
108.000
63.000
136.000
226.000

(Bảng 4.1 : Chiến dịch “Sấm Vang”)

p85

Sự thành công được đo lường không phải trong những phần thu hoạch và giữ lấy lãnh thổ hoặc cưỡng ép sự đầu hàng của kẻ thù. Trong cuộc chiến tranh trên bộ ở miền Nam Việt Nam, sự tiến triển được dựa trên việc “đếm xác,” vốn cho rằng qua việc gây tiêu hao sinh lực đối kháng, Hoa Kỳ và Quân đội miền Nam Việt Nam có thể gây ra những thương vong nặng nề như thế trên Việt Cộng và Bắc Việt mà qua đó sự tổn phí của cuộc chiến tranh liên tục sẽ trở nên khó thể chịu đựng nổi. Trong cuộc chiến tranh trên không chống lại Bắc Việt, sự tiến triển được xác định bởi mức độ mà nó phá hủy khả năng kỹ nghệ và tạo ra chiến tranh, làm gián đoạn hệ thống thông tin liên lạc và giao thông vận chuyển, chận ngưng dòng chảy của những cán bộ quân sự và những nguồn cung cấp cho miền Nam Việt Nam, và làm mất tinh thần công chúng.
Khi chiến tranh đang được tiến hành và trong những thập kỷ kể từ đó, tất cả các khía cạnh của chiến lược này đã bị chỉ trích bởi các nhà phê bình và cả những người bảo vệ sự quyết định của Mỹ đi đến chiến tranh vào năm 1965. Đối với những nhà phê bình thời chiến và những nhà văn của phe chính thống vốn là những người đi theo truyền thống của họ, một chiến tranh xác nhận sự vô ích về việc tiến hành cuộc chiến vốn “không thể thắng được” trong bất kỳ việc sử dụng sức mạnh kha khá nào của Mỹ. Hơn nữa, việc sử dụng hỏa lực ào ạt phá ngầm tầm vóc quốc tế của Mỹ và làm tồi tệ hơn tình hình xã hội và kinh tế ở miền Nam Việt Nam. Đối với phe diều hâu hiếu chiến và các nhà văn thuộc phe xét lại, Hoa Kỳ lãng phí tính ưu việt về quân sự của mình qua một “chiến lược đánh bại” vốn vi phạm những quy tắc cơ bản về chiến tranh. Nếu sức mạnh của nó được áp dụng một cách thích hợp, Mỹ có thể đã đạt được những mục tiêu của mình. Đối với trường phái của phe chính thống, sự thất bại là cố hữu trong bối cảnh chính trị của cuộc chiến tranh, trong khi đối với phe xét lại, một cơ hội chiến thắng bị đánh mất vì những thiếu sót về chiến lược.

A- Lời phê bình của phe Chính thống: Sự vô ích của hiến tranh trên không và trên bộ:

Việc giải bày của phe chính thống kết tội các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự cho việc tiến hành một cuộc chiến tranh phá hoại cao độ, được dựa trên sự ứng dụng hỏa lực ào ạt, mà qua đó không thể đạt được mục tiêu chính trị của một miền Nam Việt Nam độc lập. Cả chiến dịch trên không chống lại Bắc Việt và cuộc chiến tranh trên bộ ở miền Nam Việt Nam được dựa trên những tính toán sai lầm về hiệu quả đe dọa của sức mạnh Hoa Kỳ,

p86

tính chất dễ bị tổn thương của Bắc Việt và Việt Cộng, và khả năng của chính phủ miền Nam Việt Nam và quân đội.2
Trong sự giải bày của họ về chiến dịch Sấm Vang, những nhà văn của phe chính thống quy sự thất bại của chiến dịch thả bom cho việc ứng dụng sai học thuyết thả bom theo chiến lược chống lại một quốc gia sơ khai về kỹ nghệ phải dự vào một cuộc chiến tranh nổi dậy vượt ra ngoài những biên giới của nó và thu hút các nguồn cung cấp cần thiết từ các đồng minh chính yếu của mình. Chiến dịch thả bom dồn hết sức lực, vốn đã từng hữu hiệu trong suốt Thế Chiến thứ II để tiêu diệt phần lớn các cơ sở kỹ nghệ của Đức và Nhật Bản, và chiến dịch đó đã từng được lên kế hoạch cho cuộc chiến tranh chống lại Liên Xô, thì không có thể áp dụng được ở Việt Nam. Những mục tiêu –sự phá hủy khả năng tạo ra chiến tranh, sự ngăn chận việc di chuyển nhân lực và những nguồn cung cấp đến miền Nam, sự xói mòn tinh thần quần chúng– đã vượt quá khả năng của việc thả bom của Mỹ. Kết luận này được củng cố bởi các nghiên cứu được minh chứng bằng tài liệu dồi giàu, đáng chú ý nhất là cuốn sách “Những giới hạn của Sức mạnh Không quân” (The Limits of Air Power) của nhà sử học về quân sự, Mark Clodfelter. Một sự phân tích về những mục tiêu và cách làm việc nhấn mạnh đến những thiếu sót của chiến dịch Sấm Vang.

Về mục tiêu thứ nhất, miền Bắc Việt Nam, với ngành kỹ nghệ không đáng kể và hạ tầng cơ sở chưa phát triển của nó, thì không dễ bị tổn thương đối với việc thả bom theo chiến lược. Chiến dịch Sấm Vang được dựa trên một tính toán sai lầm cơ bản là: sự phá hủy hệ thống kỹ nghệ và thông tin liên lạc sẽ buộc Bắc Việt Nam phải từ bỏ các cuộc nổi dậy miền Nam. “Các nhà lãnh đạo dân sự và những vị chỉ huy Không quân cũng như nhau,” ông Clodfelter viết, “nghĩ rằng bộ máy kỹ nghệ của miền Bắc thì dễ bị tổn thương đối với cuộc không kích và rằng sự dễ bị tổn thương của nó đưa ra một phương pháp để kết thúc chiến tranh.”3 Theo lịch sử của Gian Gentile, nhà sử học và là một sĩ quan quân đội, về các chiến dịch thả bom theo chiến lược kể từ Thế Chiến II, ông ta đề cập đến một nhận xét thường được trích dẫn của năm 1965 của vị Trưởng ban tham mưu Không quân trước đây, Tướng Curtis LeMay, rằng Hoa Kỳ nên dội bom miền Bắc Việt Nam “trở lại thời kỳ đồ đá.” Vấn đề khó khăn, ông Gentile lưu ý, đó là “ông LeMay bỏ qua một sự kiện thực tế tương đối mà qua đó, nếu so sánh với sức mạnh kỹ nghệ của Hoa Kỳ, miền Bắc Việt Nam đang trong “thời kỳ đồ đá rồi.”4
Chắc chắn là, việc thả bom các mục tiêu gần như hàng ngày ở miền Bắc Việt Nam giữa giai đoạn 1965 và 1968 gây ra sự thiệt hại to lớn, làm tê liệt việc sản xuất của kỹ nghệ, và làm gián đoạn sự sản xuất của nông nghiệp và phân phối. Chiến dịch Sấm Vang, tuy nhiên, không có ảnh hưởng đáng kể đối với khả năng tiến hành chiến tranh của Bắc Việt. Miền Bắc Việt Nam có ít kỹ nghệ để tấn công và bất cứ thứ gì về những nguồn tài lực mà nó cần đến đều được cung cấp qua những hàng ngoại nhập từ Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc (CHNDTQ).
Điện năng, thí dụ, thì không cần thiết đối với việc tạo ra chiến tranh của miền Bắc Việt Nam. Nhà máy điện năng lớn nhất, bị phá hủy bởi cuộc dội bom vào năm 1967, chỉ sản xuất được một số lượng công suất cần đến cho một thành phố Mỹ với 25.000 người.

p87

Đến cuối năm đó, Không Lực Hoa Kỳ tuyên bố rằng khả năng của Bắc Việt tạo ra điện đã bị giảm xuống 85% mà qua đó sẽ gây dao động đến một nền kinh tế kỹ nghệ hóa, nhưng trong trường hợp này một số khoảng 2.000 máy phát điện bù lại cho những mất mát của thủy điện năng.
Hà Nội sử dụng chiến dịch dội bom để thúc ép sự hỗ trợ lớn hơn từ các cường quốc cộng sản lớn, mà qua đó chủ yếu tạo ra sự tranh đua để xem cường quốc cộng sản nào có thể cung cấp sự hỗ trợ lớn nhất cho đồng minh nhỏ bé của họ. Dụng cụ, hàng hóa trợ cấp, và đủ loại vũ khí cần thiết cho nỗ lực chiến tranh đổ vào trong miền Bắc Việt Nam, nơi mà thiết yếu trở thành một trung tâm chuyển vận, qua việc di chuyển những hàng ngoại nhập từ Liên Xô và CHNDTQ(pc 02) đến các lực lượng ở miền Nam Việt Nam. Việc phá hủy một số ít nhà máy trong nước và các cuộc tấn công vào các kho chứa dầu thì dễ dàng bù đắp bằng những hàng ngoại nhập. Miền Bắc Việt Nam đòi hỏi một số lượng tương đối khiêm tốn 1.600 tấn dầu mỗi năm, chủ yếu là cho những xe chở hàng để mang những tiếp liệu đến miền Nam Việt Nam. Những thùng dầu xe hàng nhập từ Liên Xô nhanh chóng được chất lên những chiếc thuyền nhỏ và được phân tán qua mạng lưới đường thủy phức tạp khắp đất nước. Được biết, một số khoảng 60.000 tấn dầu được trữ trong các kho chứa xa xôi, mà qua đó hầu như tránh được cuộc thả bom. Sự viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc, có giá trị hơn 2 $ tỷ giữa giai đoạn 1965 đến 1968, là vấn đề sống còn đối với khả năng của miền Bắc Việt Nam chịu đựng chiến dịch Sấm Vang.
Hơn nữa, người dân miền Bắc Việt Nam gia nhập công việc công cộng của mình để xây dựng lại những cây cầu, con đường, các công trình xây dựng, và những cơ sở khác bị hư hại bởi cuộc dội bom. Trên 500.000 nam giới và phụ nữ, bao gồm những số lượng lớn lớp người trẻ, được huy động để sửa chữa hệ thống vận chuyển và để phân tán các kho dự trữ những nguồn cung cấp. Một số lượng 150.000 người khác được sử dụng cho việc cung cấp người điều khiển những cây súng phòng không và xây dựng cũng như tu bổ những hầm tránh bom.

Về mục tiêu thứ hai, việc ngăn chận dòng người và các nguồn cung cấp thì không thể đạt được. Ông Clodfelter viết rằng “phần kỹ nghệ duy nhất rất quan trọng đối với khả năng tạo ra chiến tranh của miền Bắc là hệ thống chuyển vận của nó và nó không phải hoạt động ở mức hữu hiệu cao nhất để có được hiệu quả”5 Cơ bản nhất là, những hoạt động quân sự của cộng sản ở miền Nam Việt Nam đòi hỏi một ít hỗ trợ từ miền Bắc Việt Nam. Vào khoảng gần cuối năm 1967, phần lớn việc chiến đấu chống lại những người Mỹ và dân miền Nam Việt Nam nằm trong tay của những quân nổi dậy miền Nam, một lực lượng Việt Cộng, tất cả họ lên đến khoảng 245.000 người và họ dễ dàng trà trộn vào dân cư và chủ yếu sống nhờ vào địa phương. Những bộ đội Bắc Việt có tổng số khoảng 55.000. Những lực lượng nầy –Việt Cộng và Bắc Việt– không thường xuyên chiến đấu, tiêu biểu khoảng một lần trong ba mươi ngày. Những suy xét này có nghĩa là việc quân sự của cộng sản cần đến khoảng 380 tấn thực phẩm và tiếp liệu mỗi ngày, nhưng họ có thể có được gần như tất cả thứ đó từ bên trong miền Nam Việt Nam. Tất cả thứ đó được yêu cầu từ miền Bắc, thì vào khoảng 34 tấn một ngày. Những hàng ngoại nhập từ Liên Xô và Trung Quốc có tổng số là 3.400 tấn một ngày, vì vậy, chỉ có 1% vật liệu đó phải đến được miền Nam mỗi ngày.

p88

Không có cách nào mà qua đó cuộc dội bom có thể ngăn chận số lượng vật liệu chiến tranh rất nhỏ đó (tương đương chỉ với 17 xe hàng loại 2 tấn) tìm cách xuống Đường mòn Hồ Chí Minh từ miền Bắc đến miền Nam Việt Nam. Những kho hậu cần của đường mòn Hồ Chí Minh –một mạng lưới phức tạp của những lòng đường, đường mòn, dòng suối và những con sông vốn chạy ngoằn ngoèo theo con đường của nó qua các vùng rừng núi, với những nguồn cung cấp di chuyển trên xe hàng, xe đạp, sông ngòi và trên lưng– làm cho nó tránh được bất kỳ chiến lược “khép kín” hiệu quả nào của cuộc không kích. Hơn nữa, các lực lượng cộng sản ở miền Nam cũng nhận được nguồn cung cấp bằng đường biển, khi những chiếc tàu mang vật liệu từ miền Bắc Việt Nam đến cảng Sihanoukville của Cam-pu-chia và từ đó băng qua Cam-pu-chia vào trong Việt Nam. Tóm lại, những nguồn cung cấp cần đến là một dòng nước quá nhỏ không thể khóa lại bằng sức mạnh Không quân. Cũng như thế, sức mạnh Không quân không ngăn chận được Bắc Việt Nam di chuyển thêm bộ đội hơn vào trong miền Nam, qua việc đi từ một số lượng ước đoán là 35.000 người vào năm 1965 đến 90.000 người vào năm 1967. Việc xem xét lại thời gian ba năm của chiến dịch Sấm Vang, nhà khoa học chính trị Robert Pape trong việc nghiên cứu của ông ta về cuộc dội bom và sự áp bức, đã viết:

Vấn đề cuối cùng là liệu cuộc đánh phá từ trên không có thể cản trở khả năng của miền Bắc Việt Nam hỗ trợ lực lượng nổi dậy hay không. Về điều này, không có câu hỏi nào cả: điều đó có thể không, ngành kỹ nghệ của miền Bắc Việt Nam không phải là một nguồn quan trọng về vật liệu chiến tranh –một sự kiện thực tế mà qua đó đã từng ít nhận được sự đề cập đến một cách hiếu kỳ bởi quân đội Hoa Kỳ… Miền Bắc Việt Nam chính yếu là một đường dẫn cho dụng cụ liên quan đến quân sự được sản xuất ở Liên bang Sô-Viết và CHNDTQ.”6

Trong cuốn sách của Ronald Frankum, một sử gia, “Giống như Sấm Vang” (Like Rolling Thunder), mà qua đó phân tích những chiến dịch dội bom của Hoa Kỳ khắp Đông Dương, ông ta đi đến một kết luận tương tự:

Những phi vụ của chiến dịch Sấm Vang phá hủy hoặc gây hư hại toà nhà, cây cầu, kho chứa, và các mục tiêu chuyển vận vốn đã từng hỗ trợ nỗ lực chiến tranh, nhưng [miền Bắc Việt Nam] có khả năng thích ứng một cách phi thường trong việc tìm kiếm những phương cách thay thế khác để giữ những tuyến đường cung cấp khai thông. Không có sự bảo vệ nào cho nhóm người sửa chữa vốn là những người lấp đầy những hố bom trên một con đường chính gần như ngay sau khi cuộc dội bom xảy ra, trừ khi có cuộc đánh phá liên tục vào khu vực đó. Hoa Kỳ không có những nguồn tài lực thả xuống pháp lệnh ở khắp mọi nơi luôn luôn, cũng không phải [miền Bắc Việt Nam] sẽ cho phép những tốc độ xuất kích như thế mà không gây ra thiệt hại nào trên chiếc máy bay Hoa Kỳ.7

Về mục tiêu thứ ba, chiến dịch Sấm Vang thất bại trong việc đe dọa Bắc Việt. Ông Clodfelter vẫn nhấn mạnh đến một tính toán sai lầm cơ bản khác:

Ngoài việc đánh giá quá cao tầm quan trọng của kỹ nghệ miền Bắc, những nhà lãnh đạo Mỹ đánh giá quá thấp sự quyết tâm của kẻ thù của họ…

p89

“Tôi có cảm giác, phía bên kia thì không dai sức đến thế,” [Vị Ngoại trưởng] Rusk nói với ông Johnson… Vị Đại sứ Maxwell Taylor nhớ lại rằng những nhà lãnh đạo dân sự và quân sự Mỹ ít biết về các nhà lãnh đạo miền Bắc và hầu như không biết gì về những ý định của họ. Tuy nhiên, ông Johnson chắc chắn rằng dân miền Bắc Việt Nam có cái giá của họ và ông ta tin rằng sức mạnh Không quân sẽ giúp ông ta tìm thấy cái giá đó. Không phải ông ta cũng không phải các vị cố vấn chính trị và những vị chỉ huy Không quân của ông ta tưởng tượng rằng kẻ thù thuộc Thế giới Thứ ba của họ có thể chịu được ngay cả một chiến dịch dội bom hạn chế. Khi các sự kiện chứng minh họ sai, điều đó đến như là một sự ngỡ ngàng to lớn đối với tất cả họ.8

Chắc chắn là, chiến dịch Sấm Vang giết chết nhiều thường dân miền Bắc Việt Nam (52.000 người giữa giai đoạn năm 1965 đến 1967) và gây thương tích hơn hàng ngàn người, và có sự thiệt hại lan rộng. Nhưng chính phủ Hà Nội hạn chế những thương vong bằng cách di tản những số lượng lớn người dân khỏi các thành phố lớn của Hà Nội và Hải Phòng (dân số của mỗi nơi giảm xuống vào khoảng 30% giữa giai đoạn năm 1965 đến 1967), qua việc điều chỉnh những lịch trình làm việc nhằm giảm đi sự dễ bị tổn thương trong suốt những lần bị tấn công (những cuộc oanh kích dội bom có khuynh hướng theo những thường lệ có thể đoán được), và việc đào một hệ thống những đường hầm phức tạp (người dân trong những khu vực bị dội bom nặng nề trải qua phần lớn thời gian của họ dưới lòng đất). Hơn nữa, chính phủ sử dụng cuộc đánh phá từ trên không để truyền dẫn sự đối của công chúng chống lại “những kẻ xâm lược” người Mỹ; vì thế cuộc dội bom góp phần làm tăng thêm, không phải phá hủy, tinh thần chiến đấu. Và lòng yêu nước đó được chuyển vào các dự án tái xây dựng mà qua đó bù đắp sự hư hại cho hệ thống vận chuyển và các cơ sở trọng yếu khác.
Đối với chiến dịch “tìm kiếm và tiêu diệt” ở miền Nam Việt Nam, những nhà văn thuộc phe chính thống nhấn mạnh rằng điều đó không “tiêu diệt” được các lực lượng Việt Cộng và Bắc Việt, nhưng thực sự “phá hủy” phần lớn đất nước mà Hoa Kỳ đang “cứu vớt” Như đối với cuộc chiến trên không, các nhà lãnh đạo quân sự dùng đến chiến lược và chiến thuật mà họ quen thuộc nhất. Việc lên kế hoạch cho một cuộc chiến tranh quy ước chống lại Liên Xô nhấn mạnh đến hỏa lực và tính di động, và những chiến thuật đó bây giờ được dùng đến chống lại một kẻ thù hư ảo trong những khu rừng già và dãy núi. Việc gây tiêu hao sinh lực chiến đấu như là thước đo của sự thành công đã bị dẫn lạc hướng. Thậm chí cho phép những việc “đếm xác” không đáng tin cậy, những người Mỹ và người miền Nam Việt Nam gây ra những thương vong nặng nề cho Bắc Việt và Việt Cộng, nhưng sau ba năm hỏa lực được gia tăng đều đặn, không có nghĩa là kẻ thù đã bị ép buộc ra khỏi chiến trường. Trong điều kiện tốt nhất, cái thế gây bế tắc, mà qua đó nói về lợi thế của những người cộng sản, đã đạt được. Phát biểu với các phóng viên vào tháng Tư năm 1967 về sự thất bại khuất phục cuộc nổi dậy, Tướng William Westmoreland, vị Tổng tư lệnh những lực lượng Hoa Kỳ ở Việt Nam, chỉ cho biết nhiều hơn về một cuộc chiến tranh giống nhau mà ông ta sẽ làm việc: “Chúng ta sẽ chỉ tiếp tục làm họ chảy máu đến mức độ thảm họa quốc gia cho các thế hệ. Họ sẽ phải đánh giá lại vị thế của họ.”9

p90

Thay vì, điều đó nhắc nhở rằng ông Westmoreland đáng lý ra nên xem xét lại chiến lược “tìm kiếm và tiêu diệt” của Hoa Kỳ vốn đang thất bại trên nhiều phương diện.

Thứ nhất, bất chấp tính di động của Mỹ, những đơn vị quân sự của Bắc Việt–Việt Cộng kiểm soát hầu hết các cuộc giao tranh, và giữ lại chủ động . Họ khởi động vào khoảng 90% những cuộc giao tranh nhỏ và những trận đánh và hầu như cũng luôn luôn nắm lấy sự quyết định khi nào tách ra khỏi cuộc chiến đấu trước khi lẫn trốn vào trong rừng. Kể từ khi không có nỗ lực nào được thực hiện bởi những người Mỹ và các lực lượng miền Nam Việt Nam nhằm giữ “an ninh” lãnh thổ, họ bỏ lại sau những trận đánh, vì thế cho phép đối phương trở lại. Ba hoạt động “tìm kiếm và tiêu diệt” trên quy mô lớn vào cuối năm 1966 và đầu năm 1967 (có tên là Attleboro, Cedar Falls và Junction City) làm sáng tỏ các vấn đề. Những chiến dịch này được có chủ ý loại bỏ những người cộng sản khỏi cơ sở hoạt động của họ trong các khu vực được mệnh danh như là Tam giác Sắt và Chiến khu C đến vùng tây bắc Sài Gòn dọc theo biên giới Cam-pu-chia. Chúng đưa đến “những chiến thắng” đáng kể khi được đo lường bằng sự phá hủy được gây ra bởi hỏa lực và việc “đếm xác,” và sự rút lui của các lực lượng cộng sản, nhưng sau những hoạt động, những người Mỹ và người miền Nam Việt Nam rời khỏi khu vực và chẳng bao lâu Bắc Việt và Việt Cộng trở lại.

Thứ hai, sự chiến thắng qua chính việc gây tiêu hao sinh lực chiến đấu thì không thể xảy ra . Việt Cộng và Bắc Việt Nam có quá đủ nhân lực để bù đắp những mất mát. Những con số thống kê chính thức về quân sự ước tính rằng một số khoảng 220.000 “kẻ thù” bị giết giữa giai đoạn năm 1965 và 1967, mà hầu hết trong những người đó là Việt Cộng. Việt Cộng tiếp tục, tuy nhiên, tuyển dụng các thanh niên và thanh nữ vào hàng ngũ của mình từ vùng nông thôn miền Nam Việt Nam; quả thật, những con số của họ tăng lên bất chấp những thương vong nặng nề. Và ở miền Bắc Việt Nam, mỗi năm một số khoảng 200.000 thanh niên đến tuổi quân dịch,(pc 03) một con số vượt xa những mất mát hàng năm của nó trong cuộc chiến đấu.

Cuối cùng, những ảnh hưởng của chiến tranh Mỹ trên xã hội miền Nam Việt Nam đang tàn phá và phản tác dụng . Hỏa lực từ pháo binh trong các cuộc công kích vào những vị trí cộng sản, thường được hỗ trợ bởi không lực, và việc sử dụng những hóa chất khai hoang để dọn sạch các khu vực có rừng đã phá hủy phần lớn miền Nam Việt Nam. Có lẽ nhiều như 500.000 thường dân bị thiệt mạng và 1.000.000 người khác bị thương tích bởi cuộc chiến tranh vốn tràn ngập vùng đất của họ. Điều này làm tan vỡ cấu trúc xã hội, khi hàng triệu người bị ép buộc rời khỏi các khu vực nông thôn nơi mà nhà cửa và đất đai của họ bị phá hủy và vào trong các thành phố đông đúc vốn thiếu những điều kiện thuận lợi để dung chứa họ. Biến động xã hội này thêm vào những vấn đề khó khăn quá tràn ngập rồi đang đối mặt chính phủ Việt Nam dễ đổ vỡ. Sự thiếu tín nhiệm lâu năm của chính phủ đối với người dân của họ chỉ trở nên tồi tệ hơn. Sự khai triển ào ạt của hỏa lực khắp phần lớn miền Nam Việt Nam xoá sạch bất kỳ ảo tưởng về việc giành được “tâm và trí” của công chúng.

p91

Xem xét lại toàn bộ chiến tranh của Mỹ khắp Việt Nam, nhà sử học Marilyn Young viết:

Trong vòng một thời gian rất ngắn, chiến tranh của Mỹ chống lại [Mặt trận Giải phóng Dân tộc] và đồng minh phía bắc của nó đã biến đổi mọi khía cạnh của xã hội Việt Nam và trở thành một cuộc chiến tranh chống Việt Nam như là, miền Bắc và miền Nam, thành thị và nông thôn, giới ưu tú và không ưu tú, Việt Công, Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, “trung lập.” Thông thường, là một khu vực xuất cảng gạo, miền Nam Việt Nam phải nhập cảng 750.000 tấn gạo trong năm 1967. Đến năm 1968, dân số đô thị của miền Nam Việt Nam đã tăng lên từ 15 đến 40% tổng số dân cư (nó sẽ là 65% đến năm 1974); trong số dân cư 17 triệu [người miền Nam Việt Nam], 5 triệu người chính thức được phân loại như là những người tị nạn.10

Những cái giá phải trả đó đối với người dân miền Nam Việt Nam không thể được chỉnh hóa. Nhân danh việc chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản, các học giả thuộc phe chính thống kết luận, Hoa Kỳ đang chiến đấu một cuộc chiến tranh “không thể thắng” của sự tàn phá khủng khiếp mà qua đó ngầm phá hủy thẩm quyền đạo đức của nó trên thế giới.

B- Vị thế của phe Xét lại: Chiến lược Chiến thắng:

Những lời chỉ trích về việc tiến hành chiến tranh từ năm 1965 đến 1968 là nền tảng đối với những tuyên bố của phe xét lại về một “cuộc chiến có thể thắng.” Trong khi chiến tranh đang được tiến hành, một số lượng những nhà phân tích quân sự đặt câu hỏi về những chiến lược trên không và trên bộ và những hạn được chế đặt trên những hoạt động, và trong hậu quả của chiến tranh, một nội dung tác phẩm đáng suy xét đã từng đưa ra lý luận rằng nước Mỹ lãng phí kỹ thuật siêu việt, nhân lực, và các nguồn tài lực của nó. Những chiến lược thay thế khác, họ lập luận, đã có thể đạt được “chiến thắng.” Phần lớn những lời chỉ trích như thế đã đến từ bên trong cơ sở quân sự, bao gồm nhiều sĩ quan có chức vụ cao của thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Trong khi chia sẻ một niềm tin rằng việc tiến hành chiến tranh thì cơ bản thiếu hoàn thiện, những người thuộc phe xét lại khác nhau trong số họ về việc xác định một vấn đề cơ bản. Nói chung, có hai cách giải bày chủ yếu của phe xét lại về việc giải thích sự thất bại và một chiến lược thay thế cho phù hợp. Họ không đồng ý về việc liệu Việt Nam có là một cuộc chiến tranh quy ước hay du kích (những cách giải bày theo lý thuyết quân sự Clausewitz và theo “tâm và trí” một cách tương ứng với hai sự kiện trên) và những biện pháp sửa chữa của họ khác biệt theo sau những sự kiện đó. (Nhóm chọn về chiến tranh du kích của phe xét lại được thảo luận trong phần kế tiếp).
Được biết đến nhiều nhất là những người thuộc phe xét lại đó –có danh hiệu là trường phái Clausewitz– vốn là những người cho rằng Hoa Kỳ thực sự tham gia trong cuộc chiến tranh quy ước và nên theo các học thuyết cổ điển về chiến tranh, như được nêu ra trong tác phẩm hội thảo, “Về Chiến tranh,” được viết bởi một sĩ quan Phổ, Karl von Clausewitz vào đầu thế kỷ thứ mười chín.

p92

“Về Chiến tranh” đã từng gây ảnh hưởng sâu sắc trên tư duy chiến lược của các cường quốc Tây phương và, theo những người thuộc phe xét lại, bị bỏ qua một cách thảm hại bởi các nhà lãnh đạo Mỹ khi họ tiến hành chiến tranh ở Việt Nam. Những sự bày tỏ sớm nhất thời hậu chiến về cách suy nghị như thế là cuốn sách “Những báo cáo của Một người Lính” (A Soldier Reports), một cuốn hồi ký của Tướng Westmoreland, “Chiến lược Đánh bại” (Strategy for Derfeat) của U.S. Grant Sharp, một đô đốc về hưu vốn là vị Tổng tư lệnh Thái Bình Dương từ 1964 đến 1968, và “Những âm thanh Triệu tập của tiếng Kèn” (Summons of the Trumpet) của Dave Richard Palmer, một vị tướng vốn là người đã từng phục vụ trong những vị trí chỉ huy khác nhau ở Việt Nam.11 Chính là, tuy nhiên, cuốn sách của năm 1982, “Về chiến Lược: Một phân tích quan trọng về Chiến tranh Việt Nam” (On Strategy: A Critical Analysis of the Vietnam War), được viết bởi vị Đại tá cựu chiến binh Việt Nam, Harry Summers vốn xuất hiện như là sự bày tỏ được biết đến (và gây tranh cãi) nhiều nhất của trường phái Clausewitz. Ông Summers tương phản một cách có hệ thống những tiêu chuẩn chiến lược hiệu quả của Clausewitz đối với các hành động của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Một số lượng những sĩ quan khác của Chiến tranh Việt Nam, bao gồm Bruce Palmer, Shelby Stanton, và Philip R. Davidson, đã từng góp vào những tác phẩm theo sau cho nội dung của văn học Clausewitz. Xuyên qua hết tác phẩm này là lý luận về “nếu-trừ-khi”: “nếu-trừ-khi” những nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đã nhận ra bản chất đích thực của chiến tranh và hành động theo các học thuyết cổ điển về chiến tranh, Hoa Kỳ có thể đã thắng thế.
Trường phái Clausewitz tập trung vào một số lượng những lý luận. Thứ nhất, cuộc xung đột là một chiến tranh quy ước: Bắc Việt tham gia vào cuộc xâm lược chống lại miền Nam Việt Nam . Việt Cộng không phải là một cuộc nổi dậy bản địa ở miền Nam; đúng hơn, nó là một công cụ của miền Bắc Việt Nam. Việt Cộng được hỗ trợ và bị điều khiển bởi người miền Bắc Việt Nam. Những nhà lãnh đạo Mỹ thất bại nhận ra bản chất đích thực của cuộc xung đột ở Việt Nam và đã gởi đi quân đội bắt đầu tiến hành một loại chiến tranh sai lầm: cuộc phản nổi dậy. Sức mạnh của Hoa Kỳ –đúng với những lời quả quyết của trường phái Clausewitz – đáng lý ra nên được tập trung chống lại Bắc Việt. Hơn nữa, sức mạnh quân sự phải được áp dụng một cách đầy đủ, không dần dần, như thế nhằm gây ra một cuộc đánh bại quyết định vào đối phương.
Trong cuốn sách “Sự sao lãng Nhiệm vụ” (Dereliction of Duty), của H.R. McMaster, một nhà sử học và là sĩ quan quân đội chuyên nghiệp, đã chỉ trích các quan chức dân sự và quân sự cho sự thiếu sót to lớn về việc thất bại xác định bản chất chiến tranh mà qua đó họ bắt đầu dấn thân vào năm 1965. Tập trung vào giai đoạn giữa thời gian năm 1963 và 1965, ông McMaster lập luận rằng ông Johnson bắt đầu giải quyết các vấn đề của Việt Nam qua lăng kính chính trị trong nước và sự quyết tâm của ông ta xây dựng một Xã hội Vĩ đại; điều này đã dẫn đến sự tính toán sai lầm trầm trọng của ông ta tham dự vào một cuộc chiến tranh leo thang dần dần. Ban Tham mưu Kết hợp nhận ra khuyết điểm của cách giải quyết đó, nhưng họ thất bại làm cho những lý luận của họ được biết đến, về phần do bởi Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara, vốn là người muốn khẳng định quyền kiểm soát của ông ta trên những lý luận đó như thế để nâng cao tầm vóc của ông ta với Tổng thống, và ông Johnson, vốn là người có mối quan hệ không thoải mái với ban lãnh đạo quân sự, đã loại bỏ chúng ra ngoài trong tiến trình ra quyết định.

p93

Bản thân Ban Tham mưu Kết hợp gánh chịu khốn đốn từ sự cạnh tranh lâu đời qua phục vụ bên trong chính quyền và giả định rằng một khi chiến tranh bắt đầu, họ có thể làm cho ông Johnson nhìn thấy lỗi lầm của chiến lược từng bước và chiến đấu một loại chiến tranh vốn sẽ mang lại chiến thắng. Vì vậy, ông McMaster chê trách những nhà lãnh đạo dân sự và lẫn quân sự cho việc lập kế hoạch vớ vẩn cho chiến tranh, nhưng chính là sự cam kết của cặp Johnson–McNamara đối với chiến lược từng bước mà qua đó tạo số phận bất lợi cho Mỹ đến sự thất vọng ở Việt Nam. Ông McMaster viết:

Cuộc chiến tranh ở Việt Nam… bị đánh mất ở Washington, DC, ngay cả trước khi những người Mỹ nhận lấy trách nhiệm riêng mình vào năm 1965 và trước khi họ nhận thức rằng đất nước đang có chiến tranh… [Trách] nhiệm… được chia sẻ bởi Tổng thống Johnson và những vị cố vấn quân sự và dân sự chính yếu của mình.12

Tóm lại, ông Johnson với ông McNamara ở bên cạnh, thất bại đối đầu với thách thức quân sự đang đối mặt Hoa Kỳ ở Việt Nam, và Ban Tham mưu Kết hợp, một nhóm vốn có thể thúc ép việc xem xét lại nghiêm túc, thất bại trong trách nhiệm của nó.13
Sự nhất định trên việc xem Việt Nam như là một cuộc chiến tranh quy ước nhấn mạnh sự khinh miệt của phe xét lại đối với cuộc chiến tranh hạn chế. Vị Tướng về hưu, Philip Davidson, trong cuốn sách “Việt Nam đang có Chiến tranh” (Vietnam at War) của ông ta, bác bỏ “cuộc ‘chiến tranh hạn chế’ [như] là một bộ não trẻ con của một nhóm những nhà lý thuyết học thuật vốn là những người tin rằng cuộc chiến tranh có thể được chiến đấu bằng các phương tiện giới hạn cho một mục tiêu hạn chế.” Điều gì đó riêng biệt làm phiền những người thuộc phe xét lại đó là chiến lược “từng bước” là một phần của lý thuyết chiến tranh hạn chế; điều này dạy rằng sức mạnh quân sự được áp dụng chủ yếu như là một phương tiện của việc gởi đi “những tín hiệu” cho đối phương như là một phần của tiến trình mà qua đó sẽ dẫn đến một giải pháp cho những khác biệt thiển cận của một cuộc chiến tranh dồn hết sức. Trích dẫn từ một trong số những nhà lý thuyết đó (như là Robert Osgood), ông Davidson chỉ trích khái niệm về việc áp dụng “lực lượng theo một loạt lực lượng liên tục mà trong đó những đối thủ sẽ thương lượng với nhau qua trung gian của những đối đáp về quân sự được thay đổi theo những mức độ”14 như là việc ngầm phá hủy việc theo đuổi hiệu nghiệm những mục tiêu quân sự.

Thứ hai, ông Johnson đáng lý ra nên huy động công chúng Mỹ cho cuộc chiến tranh chống lại Bắc Việt . Thay vì hạ thấp tầm quan trọng của những cam kết vào năm 1965 và theo đuổi việc cải cách ở nhà và lẫn chiến tranh ngoài nước (theo ý nghĩa về “bơ và súng”), ông Johnson đáng lý ra nên tìm kiếm một tuyên bố chiến tranh chính thức của Quốc hội, vì thế liên lụy Quốc hội vào chiến tranh và khóa lại phần lớn những lời chỉ trích mà sau này ông ta đối mặt từ các thượng nghị sĩ và dân biểu tình chống chiến tranh. Nó cũng sẽ bảo đảm sự ủng hộ của công chúng rộng lớn hơn, do đó cô lập cuộc biểu tình chống chiến tranh. Cũng thế, ông Johnson đáng lý ra nên huy động những lực lượng từ đội ngũ Dự bị Hoa Kỳ và Vệ binh Quốc gia. Ngoài việc cung cấp nhân lực cần thiết, bước này cũng sẽ giúp đỡ tạo ra sự ủng hộ cho chiến tranh bằng cách chiến đấu với một quân đội vốn là tiêu biểu của một loạt tầng lớp rộng lớn của xã hội Mỹ. Như thế, việc dựa vào chế độ quân dịch để đáp ứng những nhu cầu nhân lực đưa đến việc gởi đến Việt Nam một quân đội vốn bao gồm giới nghèo khó và những nhóm dân tộc nhỏ một cách không tương xứng.

p94

Bởi việc thất bại thu hút công chúng Mỹ vào trong chiến tranh, ông Johnson, theo ông Summers, tìm cách chiến đấu “trong máu lạnh” mà qua đó hy sinh sự thành công ở mức xa cho sự hỗ trợ ngắn hạn. Khi chiến tranh đang tiếp diễn, đó là điều dễ dàng cho nhiều người Mỹ quay sang chống lại nó bởi vì họ đã không được yêu cầu để thực hiện bất kỳ can dự nào hoặc hy sinh.15

Thứ ba, chiến lược “tìm kiếm và tiêu diệt” làm tuôn chảy các nguồn tài lực của Mỹ vào trong việc chiến đấu với “sai” kẻ thù và làm lợi cho mục tiêu chiến tranh kéo dài của cộng sản . Những hoạt động “tìm kiếm và tiêu diệt,” trong khi thường thường thành công theo chiến thuật và gây ra những thương vong đáng kể đối với Việt Cộng và Bắc Việt, tiếp tục kéo dài mà không có kết quả quyết định và với sự gia tăng những thương vong của Mỹ, vì thế góp phần vào tình trạng bất ổn ở quê nhà. Ông Westmoreland cảm thấy có tội về việc hiểu sai sự quyết tâm và khả năng của miền Bắc Việt Nam. Các nhà lãnh đạo quân sự Mỹ tạo nên “lỗi lầm chính yếu về việc đánh giá thấp kẻ thù” ví có dư dật bằng chứng từ tình báo Hoa Kỳ rằng kẻ thù có thể dễ dàng thay thế những mất mát bắt phải chịu bởi chiến tranh của Mỹ. Bởi việc thất bại tạo ra sự hỗ trợ của công chúng, bởi việc can dự của những lực lượng Mỹ vào cuộc chiến tranh bất tận ở miền Nam, và bởi áp dụng sức mạnh của Mỹ dần dần, Hoa Kỳ dần dà bị sa lầy trong một cuộc chiến tranh kéo dài, mà qua đó làm lợi cho lợi thế chiến lược của kẻ thù của nó. Bắc Việt tính toán rằng họ có thể thắng thế bằng cách tồn tại lâu hơn những người Mỹ, giống như họ đã từng làm trong chiến tranh chống Pháp của họ. Ông Summers thích trích dẫn cuộc nói chuyện của ông ta với một Đại tá miền Bắc Việt Nam sau khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975: ” ‘Anh biết rằng anh không bao giờ đánh bại Hoa Kỳ trên chiến trường,’ vị Đại tá Mỹ nói. Vị Đại tá Bắc Việt suy nghĩ nhận xét này trong khoảnh khắc, ‘Điều đó có thể là vậy,’ ông ta trả lời, ‘nhưng nó cũng là không xác đáng.’ “16
Thời gian, vị sĩ quan Bắc Việt đang nói, thuộc về phía cộng sản, vì thế làm cho kết quả của những trận chiến riêng lẽ không đáng kể.

Thứ tư, chiến dịch Sấm Vang thất bại bởi vì nó vi phạm học thuyết chiến lược về không lực, mà qua đó dạy rằng sức mạnh Không quân có thể là quyết định nếu nó được áp dụng một cách mãnh liệt và liên tục chống lại kỹ nghệ và cơ sở hạ tầng của kẻ thù . Trong khi ông Summers và những người khác thuộc phe xét lại với một kiến thức về quân đội tin rằng sức mạnh Không quân đáng lý ra nên được áp dụng một cách mãnh liệt hơn, sự phê phán về chiến dịch Sấm Vang đã là mối quan tâm đặc biệt của các sĩ quan Không quân trước đây. Những người nồng nhiệt với sức mạnh Không quân nầy, bước vào tư tưởng chiến lược của thời hậu Thế Chiến thứ II mà qua đó theo hướng những học thuyết Clausewitz, đã bắt đầu trong suốt chiến tranh chỉ trích những hạn chế bị đặt để bởi các nhà lãnh đạo dân sự. Từ vị Trưởng ban Tham mưu của Lực lượng Không quân, Tướng John P. McConnell, tiếp tục xuống đến, các sĩ quan có chức vụ cao biểu hiện ít nỗ lực để che giấu sự bất bình của họ trên các quy tắc khống chế chiến dịch Sấm Vang. Sau một cuộc họp báo về cuộc chiến tranh trên không vào năm 1967, ông McConnell than thở: “Tôi không thể nói cho bạn biết tôi cảm thấy như thế nào… Tôi quá chán nản về điều đó… Tôi chưa từng bao giờ quá thất vọng đến thế trong cuộc đời của mình.”17 Khi ông ta nghỉ hưu vào năm 1969, lời nhận xét chia tay sắc sảo của ông McConnelfs cho Hội đồng An ninh Quốc gia ngắn gọn như sau: “Việc dội bom của chúng ta thì không hiệu quả vì những hạn chế đặt lên trên Lực lượng Không quân. Chúng ta nên dỡ bỏ những hạn chế này và chúng ta sau đó sẽ có được những kết quả.”18

p95

Không kém thẳng thắn là vị Tổng tư lệnh Lực lượng Không quân 7, Tướng William W. Momyer, vốn là người đã viết cho ông McConnell:

Sự hối tiếc của tôi là chúng ta đã không chiến thắng cuộc chiến tranh. Chúng ta có sức mạnh, kỹ năng và trí thông minh, nhưng các nhà lãnh đạo dân sự của chúng ta đã sẽ không buông lỏng Mỹ ra. Chắc chắn Lực lượng Không quân của chúng ta đã từng sống xứng đáng cho tất cả những kỳ vọng trong phạm vi những hạn chế vốn đã được đặt trên nó. Nếu có một bài học để ra khỏi cuộc chiến tranh này, nó ắt hẵn là sự tái khẳng định của một châm ngôn –đừng để bị lôi cuốn vào việc gây hấn trừ khi anh bạn chuẩn bị sẵn sàng để làm bất cứ điều gì cần thiết để thắng.19

Như lời phát biểu của ông Momyer nhấn mạnh, những vị Tư lệnh Không quân tin rằng họ buộc từ chối cơ hội để chiến thắng cuộc chiến tranh. Cảm nghĩ này tiếp tục trong các tác phẩm thời hậu chiến của những người nồng nhiệt với sức mạnh Không quân, vốn là những người được hợp thành gần như toàn bộ gồm các sĩ quan Không quân trước đây, cũng như Đô đốc Sharp, là người viết trong cuốn sách “Chiến lược Đánh bại” (Strategy for Defeat):

Sức mạnh Không quân của chúng ta không làm Hoa Kỳ thất vọng; chính là những người ra quyết định… Giống như tôi dứt khoát tin rằng rằng ban lãnh đạo dân sự là tối cao theo Hiến pháp, vì vậy tôi cho điều đó là hợp lý mà qua đó, một khi can dự vào, ban lãnh đạo chính trị nên tìm kiếm, và chủ yếu là chú ý, lời khuyên của quân đội trong việc tiến hành của những hoạt động quân sự.20

Những người nồng nhiệt với Không quân chê trách ban lãnh đạo dân sự trên ba điểm có liên quan:
(1) quá nhiều kiểm soát trên những hoạt động;
(2) quá nhiều quan tâm với những dính líu chính trị quốc tế về việc dội bom;
(3) quá kém nhận thức về tiềm năng của sức mạnh Không quân.

Vì sự không chắc chắn của các lãnh đạo dân sự về bản chất chiến tranh, họ đưa ra sự hướng dẫn khó hiểu và luôn thay đổi những mục đích. Từ ông Johnson và ông McNamara trở xuống, những thường dân kiểm soát việc chọn lựa mục tiêu, cường độ, và chiến thuật của chiến dịch trên không. Điều này phản ảnh phần lớn mối quan tâm bị gạt qua một bên của họ về chính trị của việc dội bom. Ông Johnson và ông McNamara cương quyết tránh sự can thiệp của Liên Xô hay Trung Quốc và quan tâm về những lời chỉ trích của việc dội bom ở quê nhà cũng như ở phần lớn châu Âu và châu Á. Điều này dẫn đến việc sử dụng sức mạnh Không quân theo bản chất nhút nhát chống lại Bắc Việt. Chiến lược từng bước có nghĩa là Hoa Kỳ bỏ rơi thế chủ động và cho Bắc Việt thời gian để tái xây dựng và phát triển một hệ thống phòng không hùng mạnh. Hơn nữa, thay vì việc gởi “những tín hiệu” cho Bắc Việt về “sự kiềm chế” của Mỹ đối với “mối đe dọa” tiềm ẩn, chiến lược từng bước chuyển tải sự thiếu giải pháp và điểm yếu.
Hơn nữa, chiến lược từng bước, theo những lời của sử gia C. Dale Walton, có một “tác động lạc hướng” vì nó không đòi hỏi việc tấn công vào nhiều “mục tiêu có lợi” cho đến khi điều đó rõ ràng là các cuộc không kích vào những mục tiêu kém quan trọng đã thất bại phá vỡ quyết tâm của Bắc Việt. Ông Walton viết:

p96

Bằng cách xây dựng và sau đó cố gắng bổ sung lý thuyết dường như thanh lịch về áp lực thay đổi theo những mức độ, các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ bị gậy ông đập lưng ông –sự kết hợp của tiến trình chọn mục tiêu quá phức tạp và chính sách không tấn công các mục tiêu hấp dẫn nhất của Bắc Việt vốn có tác động làm cắt đứt mạch chính của chiến tranh trên không chống lại Bắc Việt.21

Thay vì, chiến dịch Sấm Vang đáng lý ra nên sử dụng chiến lược vốn đã từng có hiệu nghiệm trong Thế Chiến thứ II: sự áp dụng sức mạnh ào ạt tức thời và liên tục. Một chiến dịch như thế đã sẽ có thể chận lại việc viện trợ từ Trung Quốc và Nga Xô, phá hủy tất cả các cơ sở quân sự ở miền Bắc Việt Nam, và quấy nhiễu và cắt đứt cuộc di chuyển người và những nguồn cung cấp cho miền Nam Việt Nam. Nếu được giải tỏa các hạn chế về dân sự, như vậy Không Lực đã sẽ có thể cô lập Bắc Việt từ chiến trường ở miền Nam Việt Nam. Bằng cách khai thác một cách rất toàn diện những điểm dễ bị tổn thương của miền Bắc, chiến dịch Sấm Vang sẽ tạo ra một cảm giác tuyệt vọng giữa các nhà lãnh đạo và công chúng, vì thế buộc họ phải từ bỏ cuộc chiến tranh.

Thứ năm, Hoa Kỳ đáng lý ra nên cô lập miền Bắc Việt Nam . Cuộc phản nổi dậy chỉ đối phó với ngoại vi sức mạnh của miền Bắc: “nếu cuộc xâm nhập không thể đặt dưới quyền kiểm soát,” ông Summers viết, “Miền Nam Việt Nam không bao giờ có thể giải quyết các vấn đề nội bộ của mình.” Hoa Kỳ đã vi phạm những nguyên tắc của Clausewitz bởi càng lúc bị sa lầy trong cái gì chủ yếu là một chiến lược phòng thủ; Bắc Việt, tuy nhiên, có tầm nhìn chiến lược rõ ràng hơn. Ông Summers viết:

Mặc dù… Bắc Việt cũng trong tư thế phòng thủ, có một sự khác biệt rất quan trọng. Bắc Việt đang đang ở vị thế phòng thủ theo chiến thuật như là một phần của cuộc tấn công theo chiến lược để chinh phục miền Nam Việt Nam. Cách ứng dụng phòng thủ theo chiến lược của chúng ta là một ngõ cụt trong chính nó và chúng ta đã từng thay thế mục đích tiêu cực của cuộc phản nổi dậy cho mục tiêu tích cực của sự cô lập của chiến trường. Đây là một khuyết điểm rất nguy hại. Như ông Clausewitz nói, ‘Một chiến thắng to lớn chỉ có thể thu được bằng các phương pháp tích cực nhắm mục đích vào sự quyết định, không bao giờ chỉ đơn giản bằng cách chờ đợi sự những kiện.’22

Thay vì “chờ đợi những sự kiện,” Hoa Kỳ đáng lý ra nên nắm lấy “mục tiêu tích cực” của việc “cô lập” nguồn lực của chiến tranh –Bắc Việt Nam– tách khỏi cuộc nổi dậy ở miền Nam. Vì thế, thêm vào chiến dịch dội bom theo gia tốc, Hoa Kỳ đáng lẽ nên phong tỏa Bắc Việt hầu ngăn chận cuộc di chuyển người và các nguồn cung cấp vào miền Nam Việt Nam xuyên qua Khu phi Quân sự (KpQs) vốn phân chia Việt Nam và xuống đến Đường mòn Hồ Chí Minh. Điều này sẽ đòi hỏi việc khai triển nhiều như tám sư đoàn để giành quyền kiểm soát tuyến đường trải dài từ biển Đông đến biên giới Thái Lan –qua việc cắt ngang qua KpQs và di chuyển về phía đông xuyên qua Lào. Điều này có thể được thực hiện mà không cần xâm nhập miền Bắc Việt Nam và không có rủi ro về sự can thiệp của Trung Quốc.

p97

Sự can dự bằng nhân lực có thể suy xét lại, nhưng nó vẫn sẽ ít hơn so với con số thực sự của các lực lượng cần có để tiến hành chiến tranh trên khắp miền Nam Việt Nam. Điều này cũng có nghĩa là bằng cách bảo đảm an ninh những vị trí thuận lợi dọc theo tuyến phòng thủ, những người Mỹ và người miền Nam Việt Nam sẽ kiểm soát vị trí chiến đấu và sẽ buộc một cuộc chiến tranh quy ước nếu Bắc Việt cố gắng xâm nhập. “Lá chắn” này dọc theo KpQs(pc 04) sẽ cho phép Quân đội miền Nam Việt Nam tập trung vào việc đánh bại các đơn vị Việt Cộng. Nếu bị chận đứng sự hỗ trợ bên ngoài, cuộc nổi dậy của Việt Cộng cuối cùng sẽ phải “héo khô trên dàn nho.” Vì thế, sự “cô lập” miền Bắc Việt Nam rất quan trọng đối với việc bảo đảm mục tiêu của một miền Nam Việt Nam độc lập.
Cuối cùng, Hoa Kỳ đáng lý ra nên mở rộng sức mạnh Hải quân của mình trong Vịnh Bắc Bộ . Hải quân nên phong tỏa những cảng của Bắc Việt Nam, vì thế hạn chế khả năng nhận được sự hỗ trợ bên ngoài của nó. Và sự hiện diện mở rộng của Hải quân có thể đã được sử dụng để đe dọa một cuộc xâm lược. Bằng cách đặt một lực lượng lớn Hải quân ở Vịnh Bắc Bộ bao gồm những chiếc tàu đổ bộ, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục khiến cho Bắc Việt ước đoán về việc liệu Hoa Kỳ sẽ thực sự xâm lược đất nước của họ. Một sai lầm lớn là dấu hiệu cho thấy trước đây của Mỹ rằng nó không có ý định xâm lược miền Bắc Việt Nam, do đó cho đối phương một sự bảo đảm rằng sự sinh tồn của nó không đang bị đe dọa; điều này khiến cho Hoa Kỳ mất đi “một lợi thế to lớn về chiến lược –ưu thế của việc leo thang– khả năng đặt mối đe dọa lên đối phương hầu nâng cao mức độ chiến tranh vượt ngoài khả năng (hoặc ý muốn) của mình để đáp ứng.”23

Thứ sáu, Hoa Kỳ đáng lý ra có thể tiến hành một cuộc chiến tranh trực tiếp hơn chống lại Bắc Việt mà không có nguy cơ đáng kể về sự can thiệp của Trung Quốc hay Liên Xô . Nếu đưa ra sự gần gũi và quyền lợi lớn hơn ở Việt Nam, Trung Quốc là một cường quốc cộng sản phần nhiều dám có thể can thiệp theo cách quân sự. Theo những người chủ trương xét lại, những nhà lãnh đạo dân sự cảm thấy bị tổn thương bởi ký ức về sự can thiệp của CHNDTQ(pc 02) trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên và họ không nhận ra những khác biệt trong những quan tâm lợi ích của Trung Quốc và khả năng giữa giai đoạn năm 1950 và 1965. Trong bài tường thuật của Tướng Dave Richard Palmer về cuộc đụng chạm trực tiếp đầu tiên của những lực lượng bộ binh của Hoa Kỳ và Bắc Việt vào mùa thu năm 1965, ông ta viết:

Chính quyền Johnson đã chận một con đường chắc chắn đến chiến thắng –để có cuộc tấn công theo chiến lược chống lại nguồn lực chiến tranh. Những ký ức về sự phản ứng của Mao Tse-Tung (Mao Trạch Đông) khi Bắc Hàn bị tràn ngập bởi những quân lính Liên hiệp Quốc vào năm 1950, đã ám ảnh Nhà Trắng. Nỗi lo sợ về chiến tranh của Mỹ với Trung Cộng bảo vệ miền Bắc Việt Nam chắc chắn hơn so với bất kỳ công cụ chiến tranh nào mà Hà Nội có thể đưa vào chiến trận.24

Ông Summers cho rằng Hoa Kỳ bị “lừa” bởi Trung Quốc, qua cách lập luận rằng “lỗi của chúng ta không phải là chúng ta cảm thấy sợ hãi về những nguy hiểm của chiến tranh hạt nhân và về sự can thiệp của Trung Quốc hoặc Nga Xô ở Việt Nam… lỗi lầm là chúng ta bàn bạc về những nỗi sợ hãi nầy và trong cách làm như thế, khiến tê liệt cách suy nghĩ về chiến lược của chúng ta.”25 Cùng với những người chủ trương xét lại khác, ông Summers ngụ ý rằng những nỗi sợ này được phóng đại.

p98

Mối đe dọa của Trung Quốc có thể được bàn luận qua loa, những người theo phe xét lại tuyên bố, bởi vì vào cuối thập niên 1960s, CHNDTQ(pc 02) có những vấn đề ưu tiên quan trọng hơn cuộc xung đột ở Việt Nam: những khác biệt về lãnh thổ và tư tưởng hệ của nó với Liên Xô, mà qua đó khiến cho Trung Quốc có thể bị tấn công từ phía bắc nếu nó ngày càng can dự về quân sự trong khu vực Đông Nam Á; sự quyết tâm của Chủ tịch Mao Zedong (Mao Trạch Đông) nhằm đạt được sự thuần khiết về tư tưởng hệ ở trong nước dẫn đến một cuộc Cách mạng Văn hóa, mà qua đó tạo ra cảnh hỗn loạn bên trong Trung Quốc và làm giảm bớt những triển vọng can thiệp ở Việt Nam; và cuối cùng, dân Việt Nam, quan tâm về những cuộc tấn công của Trung Quốc trong hàng thế kỷ trên đất nước họ, không tin tưởng về những ý định của Trung Quốc và không muốn đội quân ở Việt Nam. Hơn nữa, bất kỳ hoạt động nào tại Việt Nam sẽ ở cuối tuyến đường cung cấp dài, dễ vỡ, và dễ bị tổn thương. Tất cả những suy xét này làm giảm sự khả dĩ can thiệp của Trung Quốc.26
Trong cuốn sách “Huyền thoại về cuộc Bại trận Không thể tránh khỏi của Hoa Kỳ ở Việt Nam” (The Myth of Inevitable U.S. Defeat in Vietnam), C. Dale Walton kết luận rằng khả năng của Trung Quốc “đánh lừa” ông Johnson vào trong việc tin tưởng rằng nó sẽ can thiệp vào Việt Nam mà qua đó cho phép CHNDTQ(pc 02) đạt được mục tiêu của nó về việc cản trở Hoa Kỳ. Cho rằng CHNDTQ không bao giờ xem miền Bắc Việt Nam “đủ giá trị để có lý do xác đáng cho một cuộc chiến to lớn với Hoa Kỳ… và những quan tâm ngắn hạn chính yếu của nó là phòng thủ,” ông Walton tìm thấy rằng Hoa Kỳ bị “bất lợi vô cùng bởi những nhận thức sai lầm của nó.” Những người ra quyết định ở Washington bị “ngăn cản… từ việc xâm lược miền Bắc Việt Nam, một hành động vốn tạo ra cơ hội tốt nhất cho phép việc giải quyết nhanh chóng và thuận lợi tình hình Việt Nam.”27
Lời tuyên bố của những người chủ trương xét lại về sự chiếm giữ chiến thắng lâu dài đang hấp dẫn đối với những người Mỹ vốn là những người tìm thấy đó là điều khó khăn để hiểu rõ làm thế nào Hoa Kỳ có thể thất bại trong một cuộc chiến tranh chống lại một nước nhỏ, lạc hậu. Những lý luận mà Việt Nam “dạy” rằng việc sử dụng theo cách áp đảo của sức mạnh Mỹ sẽ đạt được chiến thắng và rằng ban lãnh đạo dân sự nên giao việc chiến đấu cho các tướng lãnh vốn là những người đã trở thành “thông thái về chiến tranh quy ước” trong số nhiều nhà hoạch định chính sách và phần lớn công chúng. Trong cuộc Chiến tranh vùng Vịnh Ba Tư năm 1991 và cả cuộc chiến tranh chống Iraq kể từ năm 2003, Tổng thống George H.W. Bush và George W. Bush đã từng tự hào chình mình về việc áp dụng những “bài học” đó.

C- Phản ứng đối với Phe xét lại: Lịch sử được Thành lập Không vững và Giả định đầy rủi ro “Nếu-trừ-khi”:

Có phải “bài học” nầy là từ lịch sử hợp lý của Việt Nam? Phần nhiều qua sự nghiên cứu mang tính cách học thuật cho là không. Một số lượng các nhà văn phe chính thống đã phản ứng một cách trực tiếp đối với phe xét lại. Những lý luận của họ đã từng được củng cố bởi những phát hiện của các chuyên gia đang làm việc trên các khía cạnh quan trọng của cuộc chiến tranh, lịch sử chính trị Việt Nam, và những mối quan hệ Việt Nam–Trung Quốc.

p99

Thứ nhất, sự nghiên cứu mang tính cách học thuật về chủ nghĩa dân tộc Việt Nam từ chối cách giả định của phe xét lại rằng Việt Nam là một cuộc chiến tranh quy ước . Để nhìn thấy cuộc nổi dậy của Việt Cộng như là một công cụ của Bắc Việt, và phụ thuộc vào nó mà qua đó bỏ qua những cội rễ ăn sâu bên trong miền Nam Việt Nam và mối quan hệ phức tạp giữa những người cộng sản ở miền Bắc Việt Nam và miền Nam Việt Nam. Cuộc nổi dậy ở miền Nam bắt đầu trên thế chủ động của riêng nó và chiến đấu chống lại chính quyền miền Nam Việt Nam trước khi có được bất kỳ sự hỗ trợ đáng kể nào từ miền Bắc Việt Nam.
Khi Việt Nam bị “tạm thời” phân chia thành hai “khu vực” bởi Hiệp định Genève năm 1954, Đảng Lao Động Cộng sản bao gồm các đại diện từ cái gì mà cả hai phần trở nên thường được biết đến như là miền Bắc Việt Nam và miền Nam Việt Nam, và trong suốt 20 năm kế tiếp, Lê Duẩn, nhà lãnh đạo miền Nam, trực tiếp tham gia vào việc ra quyết định. Trong suốt cuối thập niên 1950s, ban lãnh đạo miền Bắc Việt Nam được phân chia trên những phương pháp để đạt được các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội và sự thống nhất. Nhóm vượt trội hơn dành ưu tiên cho việc củng cố cuộc cách mạng ở miền Bắc Việt Nam bằng cách nói về các vấn đề kinh tế nghiêm trọng của khu vực; việc thống nhất đất nước, họ tin rằng, sẽ đưa đến kết quả sớm hơn hay muộn hơn từ sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn do sự hỗn loạn chính trị ở miền Nam. Vị thế đó bị thách thức bởi một nhóm khác vốn dành ưu tiên cho việc “giải phóng” miền Nam và do đó đạt được sự thống nhất một cách nhanh chóng. Một thỏa hiệp dành ưu tiên cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Việt Nam, nhưng điều đó cũng cho quyền những người cộng sản ở miền Nam Việt Nam sử dụng những phương pháp bạo lực chống lại chính quyền Sài Gòn. Những người nổi dậy ở miền Nam (cái tên gọi Việt Cộng là chữ viết tắt có chủ ý miệt thị cho “những người Cộng sản Việt Nam” được áp dụng lần đầu tiên vào năm 1959) chẳng bao lâu kêu gọi sự hỗ trợ từ miền Bắc Việt Nam trong việc đối mặt với các cuộc tấn công của quân đội miền Nam Việt Nam.
Việc đáp lại những áp lực đó cũng như việc cảm nhận rằng sự hỗn loạn ngày càng tăng ở miền Nam Việt Nam đang tạo ra một tình hình cách mạng, miền Bắc Việt Nam năm vào giai đoạn 1959–60 trở nên trực tiếp tham gia trong việc hỗ trợ những quân nổi dậy, bấy giờ kêu gọi cuộc đấu tranh vũ trang, xây dựng một tuyến đường xâm nhập (sự khởi đầu của Đường mòn Hồ Chí Minh) để di chuyển người và những nguồn cung cấp, gởi trở lại miền Nam những người Việt Minh trước đây vốn là những người đã đi đến Bắc Việt sau năm 1954, và cuối cùng bằng cách nuôi dưỡng sự thành lập Mặt trận Giải Phóng, như là một tổ chức được dẫn dắt bởi cộng sản để mang lại với nhau tất cả các nhóm bất đồng chính kiến ở miền Nam. Từ thời điểm đó về sau, sự hỗ trợ của miền Bắc thật quan trọng đối với Việt Cộng, nhưng Việt Cộng tiếp tục làm hầu hết việc chiến đấu chống lại Quân đội miền Nam Việt Nam và sau đó là Mỹ, ít nhất là cho đến năm 1968. Ở đó luôn luôn vẫn còn một yếu tố căng thẳng giữa các nhà lãnh đạo ở miền Bắc Việt Nam và Việt Cộng về mức độ hỗ trợ của miền Bắc cũng như những bất đồng về chiến lược. Vì vậy, Việt Cộng có lẽ tốt nhất được xem như là một phong trào cách mạng thực sự (pc 05) mà qua đó thu hút cảm hứng, hỗ trợ, và chiều hướng từ Bắc Việt.28

p100

Ông Summers và những người chủ trương xét lại khác đặt cơ bản những lời tuyên bố của mình về cuộc chiến tranh quy ước một phần dựa vào sự kiện thực tế mà qua đó những năm cuối của cuộc chiến tranh được đánh dấu bởi các cuộc tấn công theo quy ước của miền Bắc Việt Nam vào miền Nam Việt Nam. Điều đó không có nghĩa rằng, tuy nhiên, cuộc chiến đã bắt đầu như, và luôn luôn là một cuộc chiến tranh quy ước. Thay vào đó, hầu hết các nhà sử học nhìn thấy chiến tranh như có những nguồn gốc cách mạng, và trong khi nó có thể được tiến hành sau đó bằng những phương pháp quy ước hơn, mục tiêu cách mạng của nó vẫn còn nguyên vẹn. Quả thật, sự khẳng định của phe xét lại rằng Chiến tranh Việt Nam phải phù hợp vào trong một kiểu “quy ước” hoặc “cách mạng” vốn thất bại đi đến những thoả thuận với sự suy nghĩ về chiến lược của những người cộng sản Việt Nam đối với sự nhấn mạnh của nó trên cuộc “đấu tranh” đa dạng và kết hợp. Douglas Pike, vốn là người cống hiến phần lớn sự nghiệp của mình cho việc nghiên cứu tư tưởng hệ và chiến lược của phong trào cộng sản ở Việt Nam, đã viết trong cuốn sách lịch sử của quân đội Bắc Việt của mình:

Thậm chí không phải là một cuộc chiến tranh theo ý nghĩa lề lối xa xưa của từ đó. Thay vì nó là một cuộc đấu tranh , một cách chính xác như những người cộng sản cho rằng nó là thế. Cuộc đấu tranh này thì một phần về quân sự và từ đó về sau, là chiến tranh như chúng ta đã từng luôn luôn biết đến chiến tranh. Cũng như, đó là điều phi quân sự, một cuộc tắm máu thù nghịch cực đoan đến chắc chắn, nhưng vẫn là phi quân sự.29

Vì vậy, những sự phân biệt giữa vấn đề chính trị và quân sự, và giữa các loại khác nhau của cuộc chiến đấu, khó có thể được áp dụng khi đối đầu với kẻ thù mà “cuộc đấu tranh” đối với họ được tiến hành rộng rãi và đa dạng.

Thứ hai, trong sự khẳng định rằng chiến tranh phải được tiến hành như là một cuộc chiến tranh quy ước, một cuộc chiến theo lý thuyết quân sự Clausewitz trái ngược với nguyên lý cơ bản của ông Clausewitz: nghĩa vụ quân sự chấp nhận bản chất chiến tranh mà chúng được kêu gọi để tiến hành . Ông Clausewitz nhấn mạnh đến tầm quan trọng –trên hết– của các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự trong việc nhận ra những đặc điểm của cuộc xung đột mà họ đang tham gia. Ông ta viết:

Trước tiên, việc tối ưu, hành động xét đoán khó đạt được nhất mà chính khách và người chỉ huy phải làm thì [đáng để hiểu] loại chiến tranh mà họ đang bắt tay vào, không phải là việc lầm lẫn nó với cái gì đó, cũng không là việc cố gắng biến chuyển nó trở thành cái gì đó vốn xa lạ với bản chất của nó. Đây là câu hỏi đầu tiên trong số tất cả các câu hỏi về chiến lược và bao hàm toàn diện nhất.30

Theo Hiến pháp Mỹ, nhiệm vụ của người chỉ huy quân sự là tiến hành cuộc chiến tranh được xác định của các nhà lãnh đạo dân sự. Đối với ông Johnson, không bao giờ có bất kỳ nghi ngờ nào rằng Việt Nam phải được tiến hành như là một cuộc chiến tranh phản nổi dậy hạn chế, nhưng các nhà lãnh đạo quân sự vào thời điểm đó và những người theo phe xét lại kể từ khi đã nổi giận vì những hạn chế của “kiểu chiến tranh đó.” Những người theo lý thuyết quân sự Clausewitz nhất thiết thừa nhận rằng những học thuyết chiến lược của Hoa Kỳ bị phá sản khi nó đi đến việc chiến đấu một cuộc chiến tranh mà vấn đề quân sự được quy định ở Việt Nam.

p101

Ông Johnson và các nhà lãnh đạo dân sự khác lo sợ một cách dễ hiểu, và chính xác cho một cuộc chiến tranh lớn hơn và nhất định rằng việc chiến đấu ở Việt Nam tuy thế không nên gây ra một cuộc xung đột với Liên Xô hoặc Trung Quốc. Một ký ức sống động về cuộc Chiến tranh Hàn Quốc và “những bài học” cung cấp tư liệu cho cách suy nghĩ của họ. Họ nhớ lại làm cách nào Hoa Kỳ từ bỏ mục tiêu “hạn chế” của việc khôi phục bộ phận của Hàn Quốc trước thời ký chiến tranh và thay vì theo đuổi “chiến thắng” trên vấn đề Bắc Hàn; mục tiêu được xác định lại này đã đưa những quân lính Mỹ đến biên giới Hàn Quốc–Trung Quốc chỉ gây ra sự can thiệp quân sự của Trung Quốc mà qua đó được tiếp nối bằng việc rút quân dài nhất của quân đội Hoa Kỳ trong lịch sử của nó. Cuối cùng, những người Mỹ đã chận đứng Trung Quốc và cuộc chiến tranh kết thúc không phải với sự hủy diệt của Bắc Hàn, nhưng bằng sự phục hồi của một Triều Tiên bị phân chia, qua sự can thiệp của Trung Quốc đã buộc Hoa Kỳ quay trở lại mục tiêu “giới hạn” ban đầu của nó. Kinh nghiệm về Hàn Quốc dẫn dắt ông Johnson đến nhà nước từ khởi đầu sự can thiệp của Hoa Kỳ mà mục tiêu của nó là bộ phận tiếp tục của đất nước, bằng cách buộc Bắc Việt phải từ bỏ cuộc chiến tranh của nó chống lại miền Nam Việt Nam. Để tránh sự hiểu lầm với CHNDTQ(pc 02) và sự lặp lại một hành động khiêu khích vốn đã từng dẫn đến sự can thiệp của Trung Quốc ở Hàn Quốc, ông Johnson nói rõ rằng Hoa Kỳ sẽ không xâm nhập miền Bắc Việt Nam.
Hơn nữa, luận điệu của những người chủ trương xét lại cho rằng các nhà lãnh đạo quân sự –Ban tham mưu Kết hợp và các vị chỉ huy quân đội, lực lượng không quân và Thủy quân Lục chiến ở Việt Nam– biết làm cách nào để chiến thắng chiến tranh, chỉ là bị ép buộc “chiến đấu với một tay bị trói sau lưng họ” vốn làm đơn giản hóa cách suy nghĩ về quân sự và bản chất của các mối quan hệ dân sự-quân sự. Robert Buzzanco trong cuốn sách “Những bậc thầy của Chiến tranh” (Masters of War) vẽ lên một bức tranh ảm đạm của các nhà lãnh đạo quân sự vốn là những người đặt câu hỏi về khả năng của Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh thành công ở Việt Nam, nhưng họ thất bại chuyển tải những quân lính dự phòng của họ một cách mạnh mẽ và điều động cách nhà lãnh đạo dân sự cho các mục đích chính trị (mà qua đó đã từng phục vụ cho ban lãnh đạo quân sự một cách tốt đẹp cũng kể từ vấn đề Việt Nam).
Ông Buzzanco phân chia những thái độ của sĩ quan quân đội đối với việc chiến đấu ở Việt Nam thành năm loại: những người bất đồng chính kiến, những người nghi ngờ, các nhà phê bình, những con buôn chính trị, và những người có niềm tin thật sự. Như sự phân loại đó cho thấy, đây là một cuộc chiến tranh mà phần lớn ban lãnh đạo quân sự không muốn chiến đấu. Ba nhóm đầu tiên bao gồm các vị chỉ huy quân sự nổi bật như là những vị Tướng Matthew B. Ridgway (vốn là người đã từng chỉ huy các lực lượng Liên Hiệp Quốc tại ở Hàn Quốc), James Gavin, J. Lawton Collins, Lionel McGarr, Maxwell Taylor, Harold K. Johnson, Wallace M. Greene, và Victor Krulak. “Các nhà lãnh đạo quân sự Hoa Kỳ,” ông Buzzanco viết, “cảnh giác về việc can thiệp ở Việt Nam từ năm 1954 trở về sau và, một khi can dự vào ở đó, bị chia rẽ một cách sâu sắc trên vấn đề đó và đưa ra những phân tích thẳng thắn và thường bi quan về những triển vọng của Mỹ.”31

p102

Sau khi cuộc chiến tranh được biến thành cuộc chiến tranh Mỹ hóa và mặc dù phần lớn bằng chứng là chiến lược của họ không có hiệu nghiệm, Tướng Westmoreland, Đô đốc Sharp, và Ban tham mưu Kết hợp (hầu hết tất cả “những con buôn chính trị” trong các nhóm thành lập của ông Buzzanco) không bao giờ góp ý kiến cho ông Johnson hoặc ông McNamara rằng họ sẽ không thể nào hoàn thành các mục đích của Hoa Kỳ. Thay vào đó, họ bất cần đạo lý gây áp lực lên ông Johnson bằng các biện pháp khác nhau hầu gia tăng cường độ chiến tranh mà họ không tin rằng sẽ mang lại những lợi thế quân sự nhưng qua đó họ biết rằng ông ta sẽ từ chối. Việc vận động nầy xem như dồn trách nhiệm cho ban lãnh đạo dân sự chịu lỗi cho bất kỳ sự thất bại nào. Ông Buzzanco viết rằng “mô hình của quân sự về những đánh giá chán chường và những khuyến nghị cũ mèm chắc chắn bổ sung cho phương pháp giải quyết chậm chạp và do dự của chính quyền Johnson đối với Việt Nam.” Ông ta tiếp tục rằng các sĩ quan quân đội “dường như quan tâm với việc duy trì quyền lực ở quê nhà và với chiều hướng mà họ sẽ được xét đoán sau chiến tranh như sự quan tâm với việc tìm kiếm phương cách ra khỏi cuộc xung đột”32 Tóm lại, ban lãnh đạo quân sự bị chính trị hóa ở mức độ cao đã thất bại trong những trách nhiệm của mình đối với vai trò lãnh đạo dân sự và đối với những người đang chiến đấu dưới mệnh lệnh của nó.

Thứ ba, sự nghiên cứu mang tính chất học thuật về những mối liên hệ giữa Trung Quốc–Việt Nam cho rằng sự hiểu biết tường tận của ông Johnson về một cuộc chiến tranh lớn hơn có cơ sở vững vàng . Nền tảng cho việc đánh giá trường hợp của phe xét lại về một chiến thắng quyết định trên miền Bắc Việt Nam là câu hỏi về việc liệu những quan tâm của chính quyền Johnson về sự can thiệp của Trung Quốc có cơ sở vững vàng; nói cách khác: Có phải chăng Trung Quốc xem sự sống còn của miền Bắc Việt Nam là tối quan trọng đối với sự an ninh của nó? Dưới những điều kiện nào, nếu có bất kỳ thứ gì, có phải Trung Quốc sẽ trở thành một nước tham chiến ở Việt Nam? Câu hỏi phải được diễn đạt qua sự đánh giá những hành động và lời nói của Trung Quốc. Hầu hết các học giả của Trung Quốc thuộc Mao Zedong (Mao Trạch Đông) nói chung đồng ý rằng Trung Quốc can dự một cách mạnh mẽ vào sự nghiệp của miền Bắc Việt Nam và sẵn sàng mạo hiểm chiến tranh hầu bảo đảm sự sống còn của miền Bắc. Nhiều điểm nổi bật trong việc đạt đến kết luận đó.33

Thứ nhất, trước việc can thiệp của Hoa Kỳ, miền Bắc Việt Nam đã và đang di chuyển hướng tới mối quan hệ gần gũi hơn với Trung Quốc . Khi sự chia rẽ giữa Liên Xô và Trung Quốc phát triển vào đầu thập niên 1960s, chính quyền Hà Nội đứng cùng hàng với Beijing (Bắc Kinh) và luôn luôn tìm kiếm sự góp ý của nó trên bất kỳ những quyết định quan trọng nào. Liên Xô thì khá cách xa vào thời điểm đó, ít quan tâm đến khu vực Đông Nam Á và có khuynh hướng đưa ra sự ưu tiên cho sự tồn tại hòa bình với Hoa Kỳ (mà qua đó đã là nguồn chính của những lời chỉ trích của Trung Quốc về vai trò lãnh đạo của “phe xét lại” Sô-Viết).
Đối với Trung Quốc, việc hỗ trợ Bắc Việt Nam là một phần trong tổng thể đối với việc đáp ứng những thách thức được đặt ra do sự cạnh tranh của nó với Liên Xô và cả các vấn đề trong nước. Bằng cách chứng tỏ quyết tâm của nó làm giảm bớt ảnh hưởng của Mỹ ở châu Á, CHNDTQ(pc 02) sẽ được nhìn thấy như là người lãnh đạo của các nước đang phát triển chống lại chủ nghĩa đế quốc tư bản nói chung, mà qua đó sẽ nâng cao vai trò lãnh đạo quốc tế và nội bộ của ông Mao.

p103

Sự quyết định của Trung Quốc cam kết những nguồn tài lực cho Bắc Việt phát triển ra từ sự nhận thức của ông Mao về mối đe dọa của Hoa Kỳ đối với sự an ninh của Trung Quốc, sự cam kết của ông ta đối với những phong trào giải phóng dân tộc, những lời chỉ trích của ông ta về chính sách đối ngoại của Sô-Viết, và sự quyết tâm của ông ta biến đổi xã hội Trung Quốc. Ông Mao nhìn thấy sự hỗ trợ cho miền Bắc Việt Nam như là việc chống lại đế quốc Hoa Kỳ ở vùng Đông Á và Đông Nam Á, và là việc ngăn ngừa Mỹ di chuyển gần hơn đến biên giới Trung Quốc. Ông ta cũng nhìn thấy Việt Nam như là một phần của phong trào rộng lớn hơn trên khắp châu Á, châu Phi và châu Mỹ La-tin và tin tưởng rằng CHNDTQ(pc 02) cần phải là một người bạn thực sự của các cuộc cách mạng; và trong cách làm như thế, Trung Quốc sẽ tỏ ra mất tín nhiệm vào chính sách sống chung hòa bình của Khrushchev. Như nhà sử học Qiang Zhai viết: “Chiến tranh Việt Nam sẽ thử nghiệm và xác nhận chính hình ảnh tương phản được ứng dụng của Trung Quốc như là một tay vô địch của các phong trào giải phóng dân tộc trong Thế giới Thứ ba.”34 Cuối cùng, những căng thẳng ở Đông Dương sẽ là hữu ích trong việc huy động dân cư Trung Quốc theo sau những chương trình cấp tiến trong nước của ông Mao. Ông Mao cần có một ngôi nhà của riêng mình nhằm mục đích phá hoại chủ nghĩa xét lại và tránh người thứa kế thuộc phe xét lại theo kiểu Sô-Viết. Vì vậy, sự quyết định của ông Mao khởi động cuộc Cách mạng Văn hóa không làm giảm xuống sự không bằng lòng của ban lãnh đạo CHNDTQ(pc 02) chấp nhận cuộc công kích của Mỹ trên miền Bắc Việt Nam; quả thật, cuộc Cách mạng Văn hóa thì tương hợp với một chiến dịch chống Mỹ mà trong đó ông Mao tìm cách tẩy sạch “những người chủ trương xét lại” vốn là những người được nhìn thấy như hỗ trợ sự hợp tác của Sô-Mỹ.

Thứ hai, trong suốt giai đoạn leo thang quân sự của Mỹ từ năm 1965 đến 1968, Trung Quốc thực hành việc ngăn chận ở Việt Nam bằng cách sử dụng các nguồn tài lực của mình để hạn chế sự hiệu quả của cuộc chiến tranh của Mỹ chống lại đồng minh của mình và bằng cách làm rõ tầm quan trọng mà nó gắn liền với sự tồn tại của miền Bắc Việt Nam . Trong vòng một tháng của việc tung ra chiến dịch Sấm Vang và việc gởi đi lần đầu tiên vài ngàn binh lính chiến đấu của Hoa Kỳ, ngoại trưởng Zhou Enlai (Chu Ân Lai) gởi qua những người trung gian một cảnh cáo rõ ràng đến ông Johnson; thông điệp của ông ta có bốn điểm:
(1) Trung Quốc sẽ không lấy thế chủ động để khiêu khích chiến tranh với Hoa Kỳ;
(2) nếu bất kỳ quốc gia nào ở châu Á, châu Phi, hay ở nơi nào khác là nạn nhân của cuộc xâm lược đế quốc Mỹ, Trung Quốc sẽ cung cấp sự hỗ trợ và viện trợ;
(3) nếu Hoa Kỳ áp đặt chiến tranh trên Trung Quốc, một khi đã tham gia, Hoa Kỳ sẽ không thể rút ra; và
(4) một khi chiến tranh bắt đầu, nó sẽ không có ranh giới.

Ông Qiang nhận xét: “đây là lời cảnh cáo nghiêm trọng nhất được ban hành bởi chính phủ Trung Quốc cho Hoa Kỳ, và giả như sự thận trọng được thực hiện bởi ông Johnson trong việc tiến hành các hoạt động của chiến dịch ‘Sấm Vang’, đó chính là điều mà Washington đã không bỏ qua sự chú ý.”35 Trên cấp độ ngoại giao, các cuộc đàm thoại giữa những đại sứ Hoa Kỳ và Trung Quốc ở thủ đô Warsaw thuộc Ba Lan là sự liên kết mà qua đó Hoa Kỳ đưa ra những bảo đảm rằng nó không tìm kiếm sự phá hủy miền Bắc Việt Nam. Người ta tin tưởng rộng rãi rằng đến cuối năm 1965, hai bên đã đạt được một sự hiểu biết ngầm rằng nếu Hoa Kỳ không xâm lược miền Bắc Việt Nam hoặc tấn công Trung Quốc, CHNDTQ(pc 02) sẽ không trực tiếp bước vào chiến tranh.

p104

Ngoài những áp lực ngoại giao của nó, Trung Quốc cung cấp sự hỗ trợ quan trọng cho miền Bắc Việt Nam bằng hình thức những khí giới, đạn dược, xe tải, xăng dầu, xe lửa, quần áo, và các loại hạt thực phẩm. Bắt đầu vào tháng Sáu năm 1965, Trung Quốc gởi những phi đạn đất-đối-không, pháo phòng không, đường sắt cho xe lửa, máy rà mìn, và các đơn vị hậu cần. Đến đầu năm 1966, gần 50.000 binh sĩ của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (QĐGPNDTQ) hiện diện ở miền Bắc Việt Nam, qua việc cung cấp người cho những nơi phòng thủ chống máy bay, tiến hành công việc hậu cần, và sửa chữa sự thiệt hại của bom đạn. Giữa tháng Mười năm 1965 và tháng Ba năm 1968, một tổng số 320.000 quân lính Trung Quốc phục vụ ở miền Bắc Việt Nam, với đỉnh điểm là 170.000 người vào năm 1967.(pc 06) Sự hỗ trợ của Trung Quốc cho phép Bắc Việt gởi một số lượng bộ đội lớn hơn vào miền Nam cho việc chiến đấu. Hơn nữa, các đơn vị của QĐGPNDTQ giữ lại những danh xưng đơn vị bình thường của họ, mặc những đồng phục chính quy, và sử dụng những phương tiện truyền thông không an toàn, do đó bảo đảm rằng Hoa Kỳ biết về mức độ của những hoạt động nầy và tính chất nghiêm trọng của những ý định của Trung Quốc. Trung Quốc không chính thức thừa nhận vai trò quân sự của mình ở miền Bắc Việt Nam, nhưng điều đó không bị bỏ qua trên tình báo Mỹ.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập những nguồn cung cấp, CHNDTQ tạo ra một tuyến đường vận chuyển bí mật ven biển để chuyển chở hàng hóa đến những hòn đảo ngoài khơi miền Trung Việt Nam cho việc vận chuyển đến miền Nam. Một bến cảng bí mật trên đảo Hainan (Hải Nam) của Trung Quốc được xây dựng để phục vụ cho tuyến đường này. Trung Quốc cũng điều hành một đường dây vận chuyển tốn kém qua Cam-pu-chia để gởi vũ khí, đạn dược, thực phẩm, và những tiếp liệu y tế; giữa giai đoạn năm 1965 và 1967, những khí giới của Trung Quốc đủ để trang bị cho 50.000 cộng quân đến bằng tàu qua Sihanoukville và được chuyển vào nội địa cho những đơn vị Bắc Việt và Việt Công ở miền Nam Việt Nam.
Thêm vào đó, CHNDTQ(pc 02) và Bắc Việt Nam hợp tác trong cuộc chiến tranh trên không chống lại Hoa Kỳ. Lực lượng không quân của Bắc Việt hoạt động từ các căn cứ ở miền nam Trung Quốc, và mạng lưới radar hợp nhất bao gồm các trạm ở phía nam Trung Quốc bao phủ toàn bộ miền Bắc Việt Nam và cung cấp thông tin tình báo về các chiến dịch trên không của Hoa Kỳ. Máy bay của QĐGPNDTQ(pc 06) tham gia vào cuộc chiến đấu, qua việc Trung Quốc tuyên bố đã bắn rơi 9 máy bay Mỹ vốn xâm nhập không phận của họ và có thể từng có máy bay Hoa Kỳ bị bắn hạ bởi những chiếc máy bay của Bắc Việt được lái bởi người Trung Quốc.(pc 07)

Thứ ba, mục tiêu chung của việc đánh bại những người Mỹ giảm thiểu hóa những quan điểm va chạm trong quan hệ Trung–Việt . Sự hiện diện của đội quân Trung Quốc nhắc nhở dân Việt Nam về lịch sử phản kháng của họ đối với Trung Quốc và chính quyền Hà Nội tạo ra một quan điểm về sự hạn chế tiếp xúc của dân Việt Nam với người Trung Quốc. Ngoài ra, khi Liên Xô trở thành một người ủng hộ tích cực của miền Bắc Việt Nam và vun trồng mối quan hệ gần gũi hơn, chính quyền Hà Nội lèo lái những đám người kình địch về Trung–Xô cho lợi thế của nó. Bắc Việt tìm cách, thí dụ, để có được sự hợp tác Trung–Xô về việc vận chuyển qua Trung Quốc những vũ khí và những nguồn cung cấp của Liên Xô được chở đến Việt Nam. Khi thêm nhiều hàng hóa đến từ Liên Xô, Trung Quốc không ngừng nhắc nhở Việt Nam rằng họ đã và đang giúp đỡ lâu dài hơn Sô-Viết và rằng Sô-Viết không nên đặt tin cậy.

p105

Cuối cùng, CHNDTQ đang chuẩn bị cho cuộc chiến tranh nếu nó trở nên cần thiết. Bắt đầu vào năm 1964, Trung Quốc xây dựng một căn cứ kỹ nghệ to lớn, tự cung cấp nằm sâu bên trong nước của nó. Được gọi là Mặt trận Thứ ba, dự án khổng lồ này lôi cuốn đến việc tháo dỡ và di chuyển các cơ sở kỹ nghệ từ các khu vực đô thị ven biển với những nhà máy được phân tán rộng rãi và được kết nối bởi các tuyến đường sắt. Mặt trận Thứ ba được thực hiện trên giả định rằng chiến tranh với Hoa Kỳ là sự khả dĩ mạnh mẽ. Người Trung Quốc không chỉ nhìn thấy trước cuộc chiến tranh với Hoa Kỳ ở Việt Nam, mà còn lường trước một cuộc tấn công của Mỹ vào chính đất nước Trung Quốc. Nỗ lực của Trung Quốc về việc ngăn chận Hoa Kỳ thì rất tốn kém. Ngoài những khoản chi phí để hỗ trợ Bắc Việt Nam, đến lúc đội quân Trung Quốc cuối cùng rời khỏi Việt Nam vào tháng Tám năm 1973,(pc 08) 1.100 người đã bị thiệt mạng và 4.200 người bị thương ở đó. Như sử gia John W. Garver viết, “có dồi dào bằng chứng… là Beijing can dự một cách sâu sắc vào Hà Nội [và điều đó cho thấy] mức độ nghiêm trọng của những lời cảnh cáo của Trung Quốc. Nếu gọp lại với nhau, chúng lập luận một cách mạnh mẽ theo chiều hướng thuận lợi của sự thận trọng của chính sách của Washington về việc hạn chế cuộc xung đột với Hà Nội hầu tránh một cuộc chiến tranh rộng lớn hơn với Trung Quốc.”36
Vì lý do đó, những người theo học thuyết quân sự Clausewitz tuyên bố rằng Hoa Kỳ có thể tiến hành một cuộc chiến tranh lớn hơn một cách đáng kể mà không bị thiệt hại mặc dù không chú ý đầy đủ đến vị thế của CHNDTQ. Rõ ràng là Trung Quốc sẽ không đứng bên cạnh nếu những người Mỹ tung ra một chiến dịch thả bom dốc toàn sức chống lại miền Bắc Việt Nam hoặc đóng kín những biên giới của nó hoặc phong tỏa những hải cảng của nó. Những phương pháp như thế sẽ đe dọa sự tồn tại của miền Bắc Việt Nam, mà qua đó không thể chấp nhận vai trò lãnh đạo ở Beijing. Nếu CHNDTQ đang “lừa bịp” như những người chủ trương xét lại tuyên bố, chính là một cú “bịp bợm” đắt tiền.

Thứ tư, lời kêu gọi của những người chủ trương xét lại cho việc huy động sự ủng hộ của công chúng từ chối chấp nhận bản chất của một cuộc chiến tranh hạn chế và bỏ qua những sự phân rẻ trong nước và quốc tế của nó . Có phải chăng một tuyên bố về chiến tranh dễ dàng đạt được hoặc có thể mong muốn? Việc thông qua Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ vào tháng Tám năm 1964 không nên xem như là dấu hiệu cho thấy ý muốn của của Quốc hội tuyên bố chiến tranh. Nghị quyết đó được thông qua một cách dễ dàng bởi vì chính quyền Johnson tuyên bố rằng những cuộc tấn công khiêu khích vào các chiếc tàu của Hải quân Mỹ và hầu hết những người Mỹ tin tưởng cần một sự trả đũa và sự hỗ trợ cho Tổng thống được chứng minh là đúng. Các thành viên của Quốc hội hoàn toàn nhận thức rằng họ cho ông Johnson một “ngân phiếu trống” để sử dụng sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á, nhưng nói chung nó được được xem như là một phương pháp cho thấy cách giải quyết theo quốc gia. Nó cũng phục vụ mục đích chính trị hữu ích cho ông Johnson về việc thể hiện “tính chất cứng rắn” nhưng ” kiềm chế,” mà qua đó phá ngầm trách nhiệm của Thượng nghị sĩ Barry Goldwater ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng hòa về một giải pháp bế tắt trong khu vực Đông Nam Á. Một tuyên bố chiến tranh, tuy nhiên, là một vấn đề khác. Những người Mỹ suy xét một cách đúng đắn lời tuyên bố chiến tranh liên quan đến một cam kết đáng kể (đó là điều gì mà những người chủ trương xét lại tất nhiên là muốn), nhưng đó là điều gì sẽ tạo nên sự chấp thuận của Quốc hội về một tuyên bố có vấn đề.

p106

Có phải chăng công chúng và Quốc hội đã từng thừa nhận một tuyên bố chiến tranh trên cơ bản của một “tình hình nguy hiểm” sơ sài ở Vịnh Bắc Bộ hoặc sau khi những lực lượng Hoa Kỳ đã bị thiệt mạng trong các biến cố ở miền Nam Việt Nam vào đầu năm 1965? Thậm chí nếu một tuyên bố được thông qua trong bối cảnh đó, có khả năng là một thiểu số đáng kể có thể đã bỏ phiếu chống lại nó, vì thế khó mà tiêu biểu cho “ý muốn can dự” của công chúng vào việc tiến hành chiến tranh.
Hơn nữa, nếu chiến tranh đã được tuyên bố chống lại miền Bắc Việt Nam, nó sẽ phát khởi một tình hình nghiêm trọng với Liên Xô và Trung Quốc và tạo ra nhiều chỉ trích của quốc tế, không chỉ từ các nước thuộc khối cộng sản mà còn từ các nước trung lập và thậm chí những đồng minh của Mỹ ở châu Âu và châu Á. Ít nhất, điều đó sẽ buộc những người Sô-Viết và Trung Quốc cung cấp cho miền Bắc Việt Nam sự viện trợ về quân sự và kinh tế trên quy mô lớn ngay lập tức; có lẽ nó sẽ dẫn đến việc những binh sĩ chiến đấu của Liên Xô và / hoặc của Trung Quốc cũng được gởi đi. Tóm lại, nó đã có thể nâng cao nguy cơ Thế Chiến thứ III.(pc 09)
Bên trong Hoa Kỳ, việc can dự vào chiến tranh, mà qua đó những người chủ trương xét lại nhìn thấy như là rất quan trọng, sẽ là điều khó khăn kiểm soát miền Bắc Việt Nam, vì mục tiêu là sự ngăn chận, không phải là đánh bại. “Những con chó của chiến tranh” một khi được thả ra thì thật khó kiểm soát. Việc tiến hành một cuộc chiến tranh cho các mục tiêu hạn chế luôn luôn thể hiện một thách thức đối với những nhà lãnh đạo về sự ủng hộ của công chúng; họ cần đến một sự đồng thuận phía sau cuộc chiến tranh, nhưng họ không muốn tạo ra những nhu cầu cho thắng lợi hoàn toàn. Trong cả hai cuộc chiến tranh Hàn Quốc và Việt Nam, những vị Tổng thống gặp khó khăn trong việc cân bằng những xung lực của quần chúng đang tranh đua. Một tuyên bố chiến tranh đã có thể tạo nên sự quản lý như thế nhiều khó khăn hơn.
Đối với sự tín nhiệm của họ, ông Johnson và các vị cố vấn của ông ta nhận ra những vấn đề khó khăn về việc tiến hành cuộc chiến tranh hạn chế. Sự quyết tâm của họ thực thi sự kiềm chế trên chiến trường và ở quê nhà được thấy rõ trong lời phát biểu của ông Johnson vào ngày 28 tháng Bảy năm 1965 mà trong đó ông ta đã công bố một cam kết vô thời hạn của những lực lượng Hoa Kỳ: “Đây là một loại chiến tranh khác. Không có quân đội tiến bước hoặc những lời tuyên bố long trọng.” Nhà sử học George Herring viết:

Giọng điệu hạ thấp của “thông điệp chiến tranh” của ông Johnson và sự từ chối của ông ta khơi dậy những cảm xúc dân tộc phản ảnh sự quyết tâm của chính quyền chiến đấu cuộc chiến tranh “bằng máu lạnh,” theo cách bình thản như có thể và với sự gián đoạn tối thiểu những cuộc sống của người Mỹ. [Vị ngoại trưởng Mỹ] Dean Rusk và Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara cả hai chắc chắn rằng đây là cách duy nhất mà chiến tranh có thể được chiến đấu trong một thời đại khi mối đe dọa của Cộng sản quá lan tràn và những vũ khí hạt nhân quá tai hại. Họ cũng được thuyết phục rằng người dân Mỹ phải trở nên quen dần với việc chiến đấu theo cách này kể từ khi… đây là một loại chiến tranh mà Hoa Kỳ gần như sẽ chiến đấu trong nửa thế kỷ kế tiếp.37

Những học giả thuộc phe chính thống tin rằng đó là một sai lầm bước vào trong cuộc chiến tranh từ lúc đầu; tuy nhiên việc chọn lấy đường lối huy động công chúng được ủng hộ bởi những người theo phe xét lại có thể tạo ra một tình hình xấu của việc chiến đấu một “cuộc chiến không thể thắng được” tồi tệ hơn nhiều.

p107

Thứ năm, chiến dịch dội bom dồn hết sức lực chống lại miền Bắc Việt Nam khó có khả năng đạt được lợi thế quyết định được hình dung bởi phe xét lại . Như được đề cập trước đó, hồ sơ của chiến dịch Sấm Vang nhấn mạnh đến các giới hạn của việc áp dụng học thuyết thả bom theo chiến lược chống lại miền Bắc Việt Nam. Khi chiến tranh đang được tiến hành, một số lượng những nghiên cứu bác bỏ lập luận rằng sức mạnh Không quân, nếu được áp dụng một cách đầy đủ và không ngừng, sẽ đạt được những mục tiêu của nó. Sớm nhất là vào tháng Hai năm 1966, một nghiên cứu của Tình báo Trung ương Mỹ về các hoạt động dội bom kết luận: “Chúng tôi không tin rằng ngay cả sự mở rộng nhất các chương trình không kích sẽ ngăn chận cuộc di chuyển người và các nguồn cung cấp trong những số lượng thích hợp để duy trì hoặc thậm chí tăng mức độ hoạt động của [Việt Cộng / Quân đội Bắc Việt].”38 Sau khi chiến dịch Sấm Vang được đưa vào hoạt động trong hơn hai năm, một đánh giá khác được thực hiện bởi Tình báo Trung ương Mỹ và Viện Phân tích Quốc phòng vào tháng Mười năm 1967 đã tạo ra cùng một quan điểm: “Không có một chiến dịch thả bom nào có thể được dự tính mà có thể hoặc là làm giảm dòng chảy từ Bắc vào Nam một cách đáng kể hoặc là làm tăng lên tổn phí của việc duy trì dòng chảy đến một mức độ nào đó không thể chịu đựng nổi.”39 Cuối cùng, vị Bộ trưởng McNamara đã nói trong một phiên họp kín về Ủy ban Phục vụ Vũ trang Thượng viện cùng năm đó rằng “những hoạt động của kẻ thù ở miền nam, trên cơ bản của bất kỳ báo cáo nào mà tôi đã từng thấy, không thể bị chận dừng bằng cuộc không kích bắn phá dội bom –ngắn gọn, đó là, sự hủy diệt thực sự miền Bắc Việt Nam và người dân của nó.”40
Nhìn lại những hạn chế đó dường như có nền tảng vững chắc. Ronald Frankum, thí dụ, quan sát thấy rằng khi ông Johnson loại bỏ một số trong những điều hạn chế trước đó về việc dội bom, cuộc thả bom đưa đến kết quả không mang lại những lợi ích chiến lược:

Những sự kiềm chế về chính trị… đưa ra sự bảo vệ cho một số trong những cơ sở hạ tầng tạo ra chiến tranh [của Bắc Việt] quan trọng nhất. Khi những hạn chế được nới lỏng hoặc bãi bỏ, quân đội Hoa Kỳ không phải lúc nào cũng thành công trong chiến lược tổng thể của nó mặc dù những mục tiêu riêng biệt bị phá hủy hoặc hư hại không thể sử dụng được. Thí dụ như khi những điều kiện thuận lợi cho việc dự trữ ba loại nhiên liệu dầu [dầu khí, dầu nhớt, dầu nhờn]… bị giảm xuống đến mức kém hơn 15% dung lượng trước lúc cuộc dội bom, dòng chảy của những cán bộ và những vật liệu vào Nam vẫn không ngừng, hoặc cũng không là đội quân [Bắc Việt]–Việt Cộng nới lỏng áp lực của họ trên chính phủ [miền Nam Việt Nam].41

Theo Earl Tilford, một sử gia và là sĩ quan về hưu của lực lượng Không quân vốn là người phục vụ ở Việt Nam, tầm nhìn hạn hẹp về chiến lược ban lãnh đạo lực lượng Không quân là nền tảng cho sự thất bại của chiến dịch thả bom. Ông ta viết:

Những tướng lãnh của lực lượng Không quân vốn là những người lên kế hoạch và thực hiện chiến dịch Sấm Vang thì không phải là ngu ngốc mà cũng không là ác độc. Họ bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm lịch sử của họ… với quá nhiều niềm tin vào các học thuyết thả bom theo chiến lược…

p108

Lực lượng Không quân không được trang bị hoặc là bằng máy bay hoặc học thuyết thích hợp cho việc chiến đấu một cuộc chiến tranh giới hạn và không quy ước chống lại một kẻ thù có kỹ nghệ và nông nghiệp sơ khai… Hơn nữa, các nhà lãnh đạo của nó đã không có tâm trạng đối với việc chiến đấu loại chiến tranh đó. Tự tin rằng không sớm thì muộn các nhà lãnh đạo chính trị dân sự của họ sẽ “đi đến những cảm giác tập thể của họ” và buông lỏng sức mạnh Không quân đầy tiềm năng, họ chắc chắn rằng những lý thuyết xây dựng xưa cũ về cuộc thả bom theo chiến lược sẽ thích ứng.42

Tóm lược :

Sự phản ứng đối với chủ trương xét lại cho thấy rằng trong khi Lyndon Johnson làm vài điều đúng đắn ở Việt Nam, sự quyết tâm của ông ta tránh một cuộc chiến tranh lớn hơn là một trong những điều đúng đó. Nếu người Trung Quốc đang ngăn chận Hoa Kỳ qua việc đe dọa như những người thuộc phe xét lại khẳng định, có lẽ nó thành lập một “vụ lừa bịp” tốn kém nhất trong lịch sử. Về vấn đề đó, sự quyết tâm của ông Johnson kiểm soát “những con chó của chiến tranh” ở quê nhà thì cũng cần thiết nhằm mục đích cản trở loại nhiệt tình yêu nước mà qua đó có thể phá ngầm những cuộc chiến tranh hạn chế. Tuy thế, ông Johnson và ông McNamara cũng thất bại đối phó trực tiếp bằng sự thất vọng có thể hiểu được về ban lãnh đạo quân sự trong việc đòi hỏi tiến hành một loại chiến tranh mà qua đó dân tộc được chuẩn bị yếu kém. Đất nước, và những người của nó đang chiến đấu ở Việt Nam, được phục vụ tồi tệ bởi việc huy động chính trị và việc tự thương hại vốn đặc trưng cho cả hai bên trong quan hệ dân sự-quân sự từ 1965 đến 1968.
Thể thức hồi tưởng quá khứ “nếu-trừ-khi” của những người chủ trương xét lại cho một thắng lợi không chịu đựng được sự giám sát chặt chẽ. Cuộc chiến tranh giới hạn chống lại cuộc nổi dậy trong các khu rừng già của Việt Nam không thể phù hợp trong mô hình Clausewitz. Về mặt khác, trừ ra ông Westmoreland và các vị phụ tá gần gũi nhất của ông ta, không ai tin rằng cuộc chiến tranh gây tiêu hao sinh lực đối kháng “phần nhiều giống nhau” vốn được tiến hành, có thể buộc những người cộng sản ra khỏi chiến trường. Vì vậy, có lẽ thảm kịch của chiến tranh, như quan điểm của phe chính thống giữ lấy, đó là tất cả các chiến lược là những chiến lược đánh bại.
(Ghi chú : p109–111)

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Lý thuyết Quân sự Clausewitz : là một Lý thuyết Quân sự theo trường phái Carl von Clausewitz : Carl Philipp Gottfried von Clausewitz ( ngày 1/7/1780–16/11/1831) là một người lính Đức Phổ và là nhà lý luận quân sự vốn là người nhấn mạnh đến “tinh thần chiến đấu” (theo thuật ngữ hiện đại, “tâm lý”) và các khía cạnh chính trị của chiến tranh. Tác phẩm đáng chú ý nhất của ông ta, “Về Chiến tranh” (“Vom Kriege” hoặc “On War”), chưa được hoàn tất vào lúc qua đời của ông ta.
Ông Clausewitz qua đời mà không hoàn thành cuốn sách “Về Chiến tranh”, nhưng bất chấp điều này, những ý tưởng của ông ta đã từng có ảnh hưởng rộng rãi trong lý thuyết quân sự và đã có một ảnh hưởng mạnh mẽ trên tư tưởng quân sự của Đức một cách đặc biệt. Sau đó những vị Tướng nước Phổ và Đức như là Helmuth Graf von Moltke rõ ràng chịu ảnh hưởng bởi Clausewitz: lời phát biểu đáng chú ý của ông Moltke là “Không có một kế hoạch chiến dịch nào sống còn trong sự tiếp xúc lần đầu tiên với kẻ thù” là một phản ánh cổ điển về sự nhấn mạnh của Clausewitz trên những vai trò của cơ hội, va chạm, “mù mờ”, không chắc chắn, và tương tác trong chiến tranh.
Sau năm 1890, hoặc gần như thế, ảnh hưởng của lý thuyết Clausewitz cũng lan tràn đến cách suy nghĩ của người Anh. Một thí dụ là nhà sử gia về hải quân, Julian Corbett (1854-1922), mà tác phẩm của ông ta phản ảnh một chiều sâu như gắn bó theo phong cách riêng với những khái niệm của lý thuyết Clausewitz. Clausewitz có ít ảnh hưởng trên tư tưởng quân sự của Mỹ trước năm 1945, nhưng gây ảnh hưởng trên Karl Marx, Friedrich Engels, Vladimir Lenin và Mao Trạch Đông, và vì thế các truyền thống của người Cộng sản và Liên Xô, như là Lenin nhấn mạnh sự tất yếu của những cuộc chiến tranh giữa các nước tư bản trong thời đại của chủ nghĩa đế quốc và trình bày cuộc đấu tranh vũ trang của giai cấp công nhân là con đường duy nhất hướng đến việc loại bỏ cuối cùng của chiến tranh. Vì Lenin là một người hâm mộ ông Clausewitz và gọi ông ta là “một trong những cây viết vĩ đại về quân sự”, ảnh hưởng của ông ta trên Hồng quân thật rộng lớn. Nhà sử học Nga A.N. Mertsalov nhận xét rằng: “Chính là một sự mỉa mai của số phận mà quan điểm ở Liên Xô là điều mà chính Lenin vốn là người định hướng quan điểm theo lý thuyết Clausewitz, và lời tuyên bố chính thức của Lenin rằng chiến tranh là một nối tiếp của chính trị được rút ra từ công việc chống-cách-mạng chống-chủ-nghĩa-nhân-văn này.” Lý thuyết quân sự Clausewitz trực tiếp ảnh hưởng đến Mao Trạch Đông, vốn là người đọc cuốn sách “Về Chiến tranh” vào năm 1938 và tổ chức một hội thảo về lý thuyết Clausewitz như là một phần của chương trình giáo dục cho ban lãnh đạo của Đảng ở Yan’an (Diên An). Vì vậy, nội dung của lý thuyết “Clausewitz” trong nhiều tác phẩm của Mao thì không chỉ đơn thuần là kiến thức đã được dùng thông qua Lenin (như nhiều người đã giả sử thế), nhưng phản ảnh sự nghiên cứu chuyên sâu của riêng Mao.
Sau năm 1970, một số nhà lý luận tuyên bố rằng sự gia tăng vũ khí hạt nhân khiến cho những khái niệm của lý thuyết Clausewitz lỗi thời sau giai đoạn của thế kỷ 20 mà chúng chiếm ưu thế trên thế giới. Đến cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, người đã từng nhìn thấy nhiều trường hợp về những quân đội nhà nước đang cố gắng đàn áp những cuộc nổi loạn, khủng bố, và các hình thức khác của cuộc chiến tranh không đối xứng. Nếu lý thuyết Clausewitz tập trung duy nhất vào những cuộc chiến tranh giữa các quốc gia với những quân đội được định nghĩa rõ ràng, như nhiều nhà bình luận đã từng lập luận, sau đó có lẽ cuốn sách “Về Chiến tranh” đã đánh mất khía cạnh phân tích của nó như là một công cụ cho sự hiểu biết về chiến tranh như nó hiện đang phải chiến đấu.
Một số người đã đi xa hơn và cho rằng câu cách ngôn nổi tiếng nhất của ông Clausewitz, đó là chiến tranh là sự nối tiếp của chính sách bằng những phương cách khác, thì không chỉ là mơ hồ ngày hôm nay mà còn là bất khả ứng dụng trong lịch sử. Những người khác lập luận rằng những điều cần thiết của phương pháp giải quyết theo lý thuyết của ông Clausewitz vẫn còn có giá trị, nhưng rằng cách suy nghĩ của chúng ta phải thích ứng đối với những thực tế của những thời điểm và địa điểm riêng biệt. Biết rằng “chiến tranh là sự biểu hiện về chính trị bằng những phương cách khác” không giúp được gì cho chúng ta trừ khi chúng ta sử dụng một định nghĩa về “chính trị” vốn phù hợp với hoàn cảnh và các khuynh hướng văn hóa của những người chiến đấu trong mỗi tình huống; điều này đặc biệt đúng khi chiến tranh được thực hiện khắp vùng phân chia về văn hóa hoặc nền văn minh, và những người đối lập không chia sẻ phần lớn sự hiểu biết thông thường như nhiều người trong số những người tham gia trong Thế Chiến thứ I và thứ II.
Trong những học viện quân sự, trường học, và các trường đại học trên toàn thế giới, án văn của ông Clausewitz thường bắt buộc phải đọc.

pc 02_ CHNDTQ : Cộng hòa Nhân dân Trung quốc.
pc 03_ “Và ở miền Bắc Việt Nam, mỗi năm một số khoảng 200.000 thanh niên đến tuổi quân dịch” : điều nầy là ý tưởng của phe chính thống nhưng qua đó cho thấy sự sai lạc đến độ thiếu khách quan và thậm chí mơ hồ một cách lố bịch. Vì nếu tính như “mỗi năm” số thanh niên đến tuổi quân dịch là thế, trong khi con số mất mát vượt hơn tỷ lệ thanh niên trưởng thành hàng năm, thì lấy đâu ra con số bù đấp. Đó là chưa nói đến kế hoạch sinh đẽ ở miền Bắc lúc bấy giờ –nhằm bảo tồn nền kinh tế cạn kiệt chỉ nhờ vào phần lớn sự viện trợ lương thực từ Liên Xô và Trung Quốc nhưng vẫn không đủ cho dân chúng, ngay cả quân đội– mà có lẽ những sử gia thuộc phe chính thống ở Mỹ không bao giờ biết đến. Họa chăng, những gì họ biết được là từ những lời tuyên truyền từ các quan chức cộng sản miền Bắc và mớ tài liệu không bao giờ xác thực của họ. Thật ra, số tuổi được tính cho người đến tuổi quân dịch ở miền Bắc rất thấp, thay vì ít nhất là 18 tuổi.

pc 04_ KpQs : Khu phi Quân sự.
pc 05_ “Vì vậy, Việt Cộng có lẽ tốt nhất được xem như là một phong trào cách mạng thực sự…” : đó là theo thiển cận của phe chính thống khi xét về Việt Cộng dù họ biết chắc chắn rằng Việt Cộng là một bộ phận của đảng cộng sản Hà Nội tạo nên, bởi chính những cựu cộng sản ở miền Nam. Vì nếu xét theo cái nhìn rộng lớn hơn, cách giải bày của phe chính thống sẽ hoàn toàn sụp đổ nếu cho rằng Việt Cộng là cánh tay nối dài của cộng sản Hà Nội và hoàn toàn không phải là một cách mạng gì cả ở miền Nam. Những chứng cứ qua lịch sử không thể không kết luận Việt Cộng là cánh tay của cộng sản Hà Nội trong khi chủ thuyết của họ hoàn toàn thuộc chủ nghĩa cộng sản.

pc 06_ “Giữa tháng Mười năm 1965 và tháng Ba năm 1968, một tổng số 320.000 quân lính Trung Quốc phục vụ ở miền Bắc Việt Nam, với đỉnh điểm là 170.000 người vào năm 1967” : đây là một bằng chứng khó chối cải đối với những luận điệu tuyên truyền của đảng cộng sản Hà Nội về sự chối bỏ sự hiện diện của quân đội Trung cộng trên miền Bắc Việt Nam. Trong khi đó, họ lại rêu rao miền Nam Việt Nam là tay sai của Mỹ vì sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ ở miền Nam. Những thực tế nầy, quá hiển nhiên vì số lượng không nhỏ của quân đội Trung cộng tham gia, và chắc chắn rằng dân miền Bắc cũng đã từng biết, thậm chí va chạm hoặc chịu thiệt thòi vì quyền lợi cho số đông binh lính Trung cộng, nhưng dường như người dân miền Bắc không bao giờ dám nhìn nhận sự thật hay nói lên điều đó. Có lẽ vì tính đảng mà họ cần bảo vệ cho nó khỏi bị hoen ố và sự mù quáng mà họ bị tiêm nhiễm qua cách tuyên truyền của cộng sản.

pc 06_ QĐGPNDTQ : Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
pc 07_ “… những chiếc máy bay của Bắc Việt được lái bởi người Trung Quốc.” : đây lại là một bằng chứng về sự phụ thuộc của Hà Nội vào Trung cộng. Và những chiếc máy bay đó có thể là do Liên Xô giao cho Bắc Việt trong những ký kết phần lớn là vay nợ và một phần nhỏ là hỗ trợ. Những ký kết nầy với Liên Xô cũng không khác gì mấy đối với những ký kết với Trung cộng về phần nợ và cho và sẽ được quy ra bằng những lợi ích về đặc quyền về kinh tế, quân sự, và thậm chí bàn giao đất đai –như trường hợp của Trung cộng– và những trang trải thực chất như có thể sau nầy.

pc 08_ “…đội quân Trung Quốc cuối cùng rời khỏi Việt Nam vào tháng Tám năm 1973…” : đây lại là một bằng chứng về sự hiện diện của quân đội Trung cộng ở miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, theo tác giả cho là Trung cộng rút toàn bộ vào tháng Tám năm 1973, có nghĩa là sau Hiệp định Paris (1973). Cũng có thể hiểu rằng, chắc chắn phần nào của quân đội Trung cộng sẽ được để lại –nhất là những người cố vấn quân sự– hòa trộn vào bộ đội miền Bắc trong quân phục Hà Nội như Trung cộng đã từng làm thế ở Bắc Hàn. Những đội quân “ma” nầy –với những gương mặt của dân Á châu đều tương tự như nhau qua cái nhìn của dân Tây phương– dễ dàng đánh lừa thế giới sau khi Trung cộng phơi bày cuộc rút quân trước mắt tình báo Tây phương, cũng như lời tuyên bố của Zhou Enlai (Chu Ân Lai) trong cam kết chung sống hòa bình với Hoa Kỳ được thể hiện qua việc rút quân khỏi miền Bắc Việt Nam. Vì sau đó, Trung cộng gia tăng số lượng viện trợ lên gấp đôi cho Bắc Việt kể từ năm 1973 đến 1975. Điều nầy càng chứng tỏ rằng, một lực lượng không nhỏ của Trung cộng hòa trộn trong bộ đội miền Bắc nên nhu cầu viện trợ gia tăng không chỉ là tiếp liệu cho riêng quân đội Hà Nội mà còn dự trù cho kế hoạch cộng sản hóa toàn diện Đông Dương dưới quyền Trung cộng.

pc 09_ “Tóm lại, nó đã có thể nâng cao nguy cơ Thế Chiến thứ III.” : nếu người ta cứ theo cách lý luận đó, có nghĩa là một khi nơi nào có sự kết hợp tiềm năng giữa Sô cộng và Trung cộng là có nguy cơ Thế Chiến thứ III và cũng có nghĩa là Hoa Kỳ nên khôn ngoan thoái lui và chấp nhận làn sóng đỏ cộng sản xâm chiếm vùng đó. Hiện tình các nước Đông Âu sau Thế Chiến thứ II trước làn sóng đỏ của Sô cộng cho thấy Hoa Kỳ đứng ngoài sự kiện. Dường như đó là chính sách an ninh của riêng Hoa Kỳ vì lo sợ sự đối đầu trực diện với Liên Xô và thậm chí thiếu chính nghĩa cho cuộc chiến, nếu có, trên bàn cờ thế giới. Cái họa cộng sản chỉ mới bắt đầu, chưa tạo ra những đại họa thế giới hay nói đúng ra là đường lối tuyên truyền và cách che giấu cái xấu xa của chế độ cộng sản khiến thế giới chưa bừng tỉnh và dốc lòng chiến thắng cho chính nghĩa như trong Thế Chiến thứ II chống lại Phát-xít Đức.
Trong chính sách “thoái lui” đó của Hoa Kỳ càng chứng tỏ cái thế bị động mà qua đó khối cộng sản khai thác triệt để đến nổi Hoa Kỳ phải chùng bước khi muốn mở rộng vòng đai an ninh cho mình. Nỗi lo sợ đó tạo ra sự phân rẽ trong giới học giả Mỹ và phe chống đối Chiến tranh Việt Nam dùng hình ảnh Thế Chiến thứ III như là một biện minh cho lý luận của họ. Và điều gì sẽ xảy ra, nếu cái đà kết hợp Sô–Trung tiếp diễn trên nhiều nước khác, như thế những nước được gọi là đồng minh của Mỹ sẽ dần dần bị xâm chiếm bởi làn sóng đỏ ?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s