Phần 3: “Chủ nghĩa Biệt lệ của ông Kennedy”

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p50

Phần 3: “Chủ nghĩa Biệt lệ của ông Kennedy”
hoặc “Một cơ Hội Hòa bình bỏ Lỡ”
hoặc “Một chiến thắng bị Mất ?”

(Sự di Chuyển Hướng đến Chiến tranh, 1961–1965)

Việc tiến hành chiến tranh ở Việt Nam thì khác biệt từ các cuộc chiến tranh khác của Mỹ. Những cuộc chiến tranh trước đây chống lại Vương quốc Anh vào năm 1812, Mễ Tây Cơ vào năm 1846, Tây Ban Nha vào năm 1898, Đức và các Cường quốc Trọng tâm vào năm 1917, những sức mạnh phe Trục vào năm 1941, và Bắc Triều Tiên vào năm 1950 đã xác định những điểm khởi đầu. Tất cả xuất hiện sau khi những tình hình nghiêm trọng vốn kéo dài một ít ngày như trong trường hợp của Hàn Quốc hoặc lâu hơn như trong các cuộc chiến tranh khác, nhưng trong mỗi trường hợp có một khoảnh khắc khi lời cam kết của quốc gia đối với việc sử dụng lực lượng quân sự thì rõ ràng. Những tuyên bố khai chiến chính thức phục vụ cho mục đích đó vào năm 1812, 1846, 1898, 1917, và 1941, và sự cam kết của các lực lượng bộ binh của Hoa Kỳ, như là một phần hoạt động của Liên hiệp Quốc, vào ngày 30 tháng Sáu năm 1950 kết thúc sự không chắc chắn về việc liệu bước đi đó sẽ là cần thiết hầu ngăn chận sự mất đi Hàn Quốc. Trong hai cuộc chiến tranh kể từ Việt Nam, những vị Tổng thống George H.W. Bush và George W. Bush cả hai bảo đảm những Nghị quyết của Quốc hội cho phép sử dụng vũ lực chống lại Iraq và sau đó, trong vòng những ngày vào năm 1991 và trong vòng năm tháng vào thời gian năm 2002–03, họ bắt đầu chiến tranh.
Ở Việt Nam, tuy nhiên, chiến tranh xuất hiện từ từ. Giữa khoảng thời gian năm 1961 và 1965, tình hình ở Việt Nam chuyển từ “vấn đề khó khăn” đến “tình hình nghiêm trọng.” Trong tình trạnh hiểm nghèo, đó là mục tiêu của việc giữ vững một miền Nam Việt Nam không-cộng-sản, mà qua đó chính sách của Mỹ từ năm 1954 đã giả định là cần thiết để hạn chế ảnh hưởng của Trung-Xô ở Đông Nam Á. Chống lại hiện trạng của việc gia tăng các cuộc tấn công của Việt Cộng, việc dâng cao sự hỗn loạn về chính trị, và thẩm quyền gây xói mòn của chính quyền Sài Gòn, Tổng thống John F. Kennedy và Lyndon B. Johnson gia tăng đều đặn sự hỗ trợ của Mỹ, qua việc di chuyển từ các chương trình viện trợ kinh tế và quân sự, bao gồm chỉ là một vài trăm vị cố vấn quân sự,

p51

đến việc nhận lãnh vai trò cố vấn được mở rộng hết mức, việc phê chuẩn cho những hoạt động bí mật chống lại Bắc Việt, việc sắp đặt một cuộc đảo chánh chính phủ Ngô Đình Diệm ở Sài Gòn, và cuối cùng việc sử dụng trực tiếp không quân Mỹ và sức mạnh bộ binh. Ông Kennedy và ông Johnson chấp thuận một loạt các bước vốn chuyển đổi vai trò của Mỹ từ việc trở thành ân nhân của chính phủ miền Nam Việt Nam đến người bảo đảm sự sống còn của nó.
Sự nghiên cứu học thuật nghiêm túc về việc di chuyển hướng đến chiến tranh được chiếm ưu thế hơn bởi của các nhà văn thuộc phe chính thống. Họ tin rằng sự thất bại cuối cùng của Mỹ là đương nhiên trong quyết định tiến hành chiến tranh từ lúc đầu; cuộc chiến tranh “sai lầm” là một kết quả của sự tính toán sai lầm về phần của các quan chức Mỹ. Vì thế các học giả phe chính thống đã dành nhiều thời gian cho việc cố gắng tìm hiểu và giải thích điều gì mà họ nhìn thấy như là một lỗi lầm bi thảm trong việc ra quyết định. Với một ít ngoại lệ, những người theo phe xét lại, sau khi đưa ra sự tin tưởng chắc chắn của họ rằng cuộc chiến tranh là “cần thiết” và rằng sự thất bại đưa đến từ những sai lầm tạo ra sau khi chiến tranh đã được Mỹ hóa, đã không tập trung vào con đường dẫn đến chiến tranh. Với sự xuất bản của cuốn sách “Niềm vui Chiến thắng bị Bỏ rơi” (Triumph Forsaken) của Mark Moyar, tuy nhiên, bây giờ có một bài tường thuật toàn diện của phe xét lại về giai đoạn rất quan trọng khi Mỹ dần dà bị lôi cuốn sâu hơn ở Việt Nam.
Vì vậy, hai bài viết tường thuật tranh đua nhau hình thành những sự trình bày về giai đoạn rất quan trọng 1961–65. Bài tường thuật vượt trội, được rút ra từ trường phái chính thống, nhấn mạnh đến một nước Mỹ đang di chuyển từng bước một vào trong sự tham gia sâu hơn trở thành vấn đề bảo vệ miền Nam Việt Nam và đặt ra những câu hỏi về việc làm cách nào cuộc chiến tranh xảy ra sau đó đã có thể tránh được. Bài tường thuật tranh đua của phe xét lại nhìn thấy Hoa Kỳ đang thất bại nhận ra vị thế sức mạnh của nó và thất bại sử dụng sức mạnh quân sự của mình một cách hiệu quả, vì thế khuyến khích cuộc xâm lược của Bắc Việt. Đối với các nhà văn phe chính thống, sự quyết định của ông Johnson về chiến tranh vào năm 1965 đưa đến kết quả từ sự yếu kém khó chữa của chính phủ miền Nam Việt Nam, trong khi đối với phe xét lại, nó đưa đến từ việc thiếu giải pháp của Mỹ.
Chương này xem xét các câu bài viết tường thuật tranh đua nhau vốn tạo ra bối cảnh của sự di chuyển hướng đến chiến tranh và việc liệu Mỹ đã nên đặt sự nhấn mạnh vào sức mạnh quân sự ít hoặc nhiều hơn. Có phải Hoa Kỳ đang hoạt động từ một vị trí yếu đuối hay mạnh mẽ ở miền Nam Việt Nam? Nếu vị thế không thể giữ được, có những lựa chọn hữu hiệu khác nào không cho chiến tranh hay Hoa Kỳ buộc rút lui vào trong một “vũng lầy” khó thể tránh? Có phải ông Kennedy đang dự tính việc thoát ra mà qua đó sẽ cứu khỏi những lợi ích của Mỹ mà không có chiến tranh? Có phải chăng sự chống đối những cơ hội cho cuộc một thương thuyết qua đàm phán của ông Johnson bắt nước Mỹ phải chịu một cuộc chiến tranh thê thảm? Hoặc là có phải những quan chức Hoa Kỳ thất bại nhận ra sức mạnh của miền Nam Việt Nam và họ cần phải tiến hành sức mạnh quân tức thời hơn là do dự? Có phải chăng điều đó sẽ đưa ra lý do cho Bắc Việt tạm dừng? Tóm lại, có phải sự chọn lựa thay thế khác là việc đàm phán chiến tranh và rút lui hoặc việc cản trở quân sự?

p52

A- Bài viết tường thuật của phe Chính thống:

Những bài viết tường thuật trội hơn hẳn của phe chính thống nhấn mạnh đến những cách thức mà mỗi tám bước làm sâu sắc thêm sự cam kết của Mỹ để cứu hộ miền Nam Việt Nam.

Thứ nhất, ông Kennedy mở rộng một cách đáng kể chương trình viện trợ quân sự cho miền Nam Việt Nam. Nhìn thấy Việt Nam như là một thử nghiệm về việc liệu Hoa Kỳ có thể đánh bại “những cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc” được dẫn dắt bởi cộng sản trong các nước đang phát triển, ông Kennedy gia tăng viện trợ quân sự, bao gồm số lượng những vị cố vấn quân sự. Từ một số ít hơn 700 người vào tháng Giêng năm 1961, ông Kennedy đã gởi hơn 2.000 người trong năm đầu tiên của mình nắm chính quyền và các nhân viên quân sự Mỹ được gia tăng lên đến 11.000 người vào cuối năm 1962 và lên 16.000 đến tháng Mười Một năm 1963. Sự tăng trưởng này về sự hiện diện quân sự của Mỹ cũng mang đến một sứ mệnh được tăng thêm, mà qua đó di chuyển vượt ra ngoài sự nhấn mạnh trước đây về việc huấn luyện Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) nhằm bao gồm việc đi theo những đơn vị của Hoa Kỳ vào trong trận chiến, việc hỗ trợ lực lượng không quân của miền Nam Việt Nam trên những phi vụ bắn phá và thả bom chống lại những vị trí của Việt Cộng, và việc cung cấp người cho những chiếc trực thăng để nâng cao sự di chuyển của QĐVNCH.(pc 01) Những người Mỹ cũng tung ra những hoạt động tuyên truyền và chính trị được điều hành hướng về việc làm mất sự tín nhiệm của Việt Cộng và việc xây dựng sự hỗ trợ cho chính quyền Sài Gòn trong số dân cư nông thôn. Đặc biệt là, Hoa Kỳ bắt đầu việc đếm những thương vong của nó vào năm 1961, và trong khi số lượng những tử vong và thương tích thì tương đối thấp trước năm 1965, chúng là một minh chứng cho sự cam kết quân sự được mở rộng. Tuy thế, vai trò của quân sự của Mỹ vẫn còn là “cố vấn” –qua việc hỗ trợ và huấn luyện những lực lượng vũ trang miền Nam Việt Nam. Ông Kennedy chống lại những đề nghị mà ông ta cam kết với những quân lính chiến đấu của Mỹ.

Thứ hai, Hoa Kỳ bồi dưỡng Chương trình Ấp chiến Lược, một hoạt động có tính cách quy mô nhằm chống lại sức mạnh của cuộc nổi dậy của cộng sản ở nông thôn miền Nam Việt Nam . Có ý định cắt đứt khả năng của Việt Cộng kéo đến những làng mạc tìm nhân lực và sự hỗ trợ, và nâng cao sự tín nhiệm vào chính phủ miền Nam Việt Nam của giai cấp nông dân, những ấp chiến lược được xây dựng trong các khu vực của sức mạnh QĐVNCH.(pc 01) Chương trình liên quan đến việc di chuyển toàn thể làng mạc vào trong những thôn ấp “an ninh,” nơi mà chính phủ miền Nam Việt Nam sẽ được nhìn thấy như là không chỉ cung cấp sự an toàn, mà còn là một nguồn cung cấp về sức khỏe, giáo dục, và các dịch vụ xã hội khác. Chính phủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm thực hiện sự cam kết quan trọng cho chương trình, qua việc hứa hẹn sẽ xây dựng 12.000 ấp chiến lược, mà trong đó sẽ bao phủ hầu như tất cả vùng nông thôn miền Nam Việt Nam.

Thứ ba, ông Kennedy phê chuẩn tội đồng lõa của Mỹ, qua Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA), trong việc lật đổ ông Diệm vào tháng Mười Một năm 1963 . Điều này có chủ ý nhằm khôi phục sự ổn định chính trị sau những tháng ngày chồng chất sự bất mãn đang tập trung vào các cuộc biểu tình có cơ sở ở đô thị, được dẫn dắt bởi Phật giáo chống lại những chính sách đàn áp của ông Diệm mà qua đó đã làm tê liệt chính phủ miền Nam Việt Nam.

p53

Cuộc đảo chính, rộng rãi hơn, phản ảnh sự bực tức đối với ông Diệm, vốn là người trong gần một thập niên đã chống lại những cải cách xã hội và kinh tế mà những người Mỹ tin là cần thiết để nâng cao tầm vóc chính phủ của ông ta.1

Thứ tư, ông Johnson khai thác biến cố Vịnh Bắc Bộ vào tháng Tám năm 1964 để gây áp lực Bắc Việt trong việc từ bỏ sự hỗ trợ cuộc nổi dậy của Việt Cộng . “Tình hình hiểm nguy” u ám nầy –mà trong đó một chiếc khu trục của Mỹ tham gia trong cuộc trao đổi hỏa lực ngắn ngủi với những tàu tuần tra của Bắc Việt vào ngày 2 tháng Tám và được theo sau bởi một “cuộc tấn công lần thứ hai” bị cáo buộc nhưng chưa được xác minh của những tàu Bắc Việt thuyền hai đêm sau đó– đã cho ông Johnson cơ hội để đe dọa miền Bắc Việt Nam. Ông ta cho phép một cuộc không kích trả đũa chống lại Bắc Việt –sự sử dụng trực tiếp lần đầu tiên lực lượng quân sự Mỹ ở Việt Nam– và yêu cầu sự chấp thuận của Quốc hội về một nghị quyết hỗ trợ việc sử dụng quyền lực khi một vị Tổng thống xem là cần thiết để gìn giữ các lợi ích của Mỹ trong khu vực. Những người Mỹ ủng hộ một cách rộng rãi những biện pháp này, và Quốc hội, với sự bất đồng quan điểm không đáng kể, mau chóng thông qua Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ mà qua đó cung cấp ông Johnson với một “tấm ngân phiếu trống”(pc 02) để tiến hành chiến tranh. Sự bày tỏ sức mạnh qua hai sự kiện này có chủ định ép buộc Bắc Việt trong việc từ bỏ sự hỗ trợ cuộc nổi dậy ở miền Nam Việt Nam.
Không một biện pháp nào trong số nầy cho thấy hiệu nghiệm:
(a) Mặc sự hỗ trợ được gia tăng từ Hoa Kỳ, QĐVNCH(pc 01) đều đặn bị mất đất cho Việt Cộng, mà qua đó cuối cùng nắm quyền kiểm soát những phần lớn hơn chưa từng có của vùng nông thôn miền Nam Việt Nam. Bắc Việt gia tăng sự trợ giúp về nhân lực và dụng cụ cho Việt Cộng. Trong những trận chiến với Việt Cộng, một trận chiến đáng chú ý nhất tại Ấp Bắc vào năm 1963, QĐVNCH, mặc dù có ưu thế về nhân lực và vũ khí nhờ vào sự hỗ trợ của Mỹ, thực hành kém cỏi.

(b) Chương trình Ấp chiến Lược thất bại đẩy lui cuộc nổi dậy. Nó vội vàng được nghĩ đến và thực hiện yếu kém. Giới nông dân phẫn nộ, và thường chống đối, qua việc bị đưa đi khỏi các làng mạc tổ tiên của họ. Một số ít thanh thiếu niên nằm trong số những người bị buộc di chuyển đó, cho thấy rằng Việt Cộng tiếp tục thu hút họ vào trong hàng ngũ của mình. Chính quyền Sài Gòn được xem chương trình là một biện pháp của việc kiểm soát dân cư nông thôn không thể tin cậy, hơn là một cơ hội để có được sự ủng hộ của nó; kết quả là, những thôn ấp có khuynh hướng giống y như những nhà tù. Các ấp chiến lược, hơn nữa, trở thành một mục tiêu ưa thích của các cuộc tấn công của Việt Cộng, vì thế phá hoại tình trạng “an ninh” của họ. Trong vòng hai năm, Chương trình Ấp chiến Lược đã bị bỏ rơi.

(c) Việc lật đổ ông Diệm gây ra sự bất ổn chính trị. Trái ngược với những tính toán của Mỹ rằng dân miền Nam Việt Nam sẽ tập hợp xung quanh vai trò lãnh đạo quân sự vốn nắm lấy quyền lực vào tháng Mười Một năm 1963, rằng chính phủ kéo dài chỉ gần hai tháng và được theo sau bởi một loạt các nhà lãnh đạo không qua cuộc bầu cử. Cuộc đảo chánh nối tiếp cuộc đảo chính khác làm tê liệt miền Nam Việt Nam, khi các phe phái quân sự và dân sự ganh đua quyết liệt cho quyền lực, qua việc làm tiêu tan bất kỳ ý nghĩa nào về giải pháp của miền Nam Việt Nam nhằm chống lại cuộc nổi dậy.

p54

(d) Miền Bắc Việt Nam không bị đe dọa bởi sự phô trương sức mạnh của ông Johnson sau biến cố Vịnh Bắc Bộ và thay vào đó, gia tăng sự hỗ trợ của nó cho cuộc cách mạng ở miền Nam. Với các biện pháp trước đó đã thất bại và chính quyền Sài Gòn và quân đội trong một tình trạng bấp bênh, ông Johnson quay về biện pháp quân sự. Động lực hướng đến chiến tranh tiếp tục với bốn bước bổ sung có ảnh hưởng sâu rộng vào đầu năm 1965.

Thứ năm, ông Johnson vào tháng Hai phê chuẩn một chiến dịch thả bom sắp đến chống lại Bắc Việt –một hoạt động quân sự lần đầu tiên được duy trì bởi Mỹ ở Việt Nam . Chiến dịch “Sấm Vang” có chủ định làm suy yếu cơ sở hạ tầng tạo ra chiến tranh của Bắc Việt và cắt đứt những tuyến đường tiếp vận, vì thế làm giảm khả năng của nó trợ giúp những người nổi dậy miền Nam.

Thứ sáu, tháng sau ông Johnson cho phép việc gởi đi những quân lính chiến đấu của Mỹ lần đầu tiên –một số khoảng 3.500 Thủy quân Lục chiến– để bảo vệ những căn cứ không quân của Mỹ.

Thứ bảy, vai trò chiến đấu chẳng bao lâu được mở rộng, với 40.000 quân lính Mỹ bổ sung được gởi đi vào tháng Tư và sứ mệnh được tăng thêm hầu cho phép các hoạt động tấn công.

Cuối cùng, ông Johnson đã quyết định vào tháng Bảy năm 1965 cho một cam kết quân sự vô giới hạn . Ông ta hứa sẽ cung cấp bất cứ sự hỗ trợ gì cho các ban lãnh đạo quân sự cho thấy là cần thiết để đẩy lui cuộc nổi dậy và sự xâm nhập của Bắc Việt bằng người và nguồn cung cấp tiếp liệu. Ngay cả khi ông ta bắt đầu một bước khổng lồ, ông Johnson đánh giá thấp tầm quan trọng của nó. Trong một thông báo kém tích cực, vị Tổng thống đã nói chuyện với đồng bào của mình về sự cần thiết tiến hành “một loại chiến tranh khác biệt,” nhưng ông ta từ chối chia sẻ các phí tổn và hy sinh vốn sắp xảy ra.

Tuy thế, chiến tranh đã được Mỹ hóa. Chiến dịch Sấm Vang được gia tăng tốc độ và hàng ngàn quân lính bộ binh buộc đổ xô đến Việt Nam, đạt đến một tổng số 190.000 quân đến cuối năm đó và gần 400.000 đến cuối năm 1966. Cuối cùng, Hoa Kỳ cam kết hơn 500.000 quân lính Mỹ đến Việt Nam.

B- Sự trình bày về “vũng lầy”: Những nhà Lãnh đạo bị Kẹt trong Chiến lược:

Trong phần lớn tác phẩm của phe chính thống về những nguồn gốc chiến tranh, sự “bắt buộc của Chiến tranh Lạnh” được xem như là việc lôi kéo Hoa Kỳ một cách không thể lay chuyển được, từng bước một, cáng lúc càng sâu hơn, vào trong một “vũng lầy.” Giống như nhiều khía cạnh của việc chép sử về Chiến tranh Việt Nam, quan điểm này có những nguồn gốc của nó vào thập niên 1960s. Quả thật, nhà báo David Halberstam trong cuốn sách của mình vào năm 1964, “Việc tạo ra một Vũng lầy” (The Making of a Quagmine), được giới thiệu là một từ ngữ thường được sử dụng vào trong từ vựng về chiến tranh. Ý nghĩa nầy về một cuộc chiến tranh thiếu thận trọng trở thành một điệp khúc quen thuộc của các nhà phê bình thời chiến

p55

và tìm thấy sự bày tỏ đáng chú ý trong cuốn sách vào năm 1968 “Một di sản Cay đắng” (The Bitter Heritage) của một sử gia nổi tiếng và là vị cố vấn một thời cho ông Kennedy, Arthur M. Schlesinger, Jr, vốn là người đã viết, rằng “mỗi bước chỉ dẫn đến bước kế tiếp” cho đến khi những người Mỹ tìm thấy chính mình trong “một vùng đất chiến tranh ở Châu Á –một cuộc chiến mà không có một vị Tổng thống nào, bao gồm Tổng thống Johnson, mong muốn hoặc có ý định.”2 Theo một số cách nào đó, lập luận này vang lại việc bảo vệ chiến tranh của chủ nghĩa xét lại như là một chức năng của một cuộc Chiến tranh Lạnh không thể thoát được, nhưng các nhà văn của phe xét lại và chính thống không đồng ý, dĩ nhiên, về việc liệu cuộc chiến tranh đưa đến là cần thiết hay sai lầm.
Việc trình bày về “vũng lầy” thiết yếu miễn cho các nhà lãnh đạo của Mỹ như những người có lý do hành động trên cơ sở các giả định đang tồn tại và như là “bị kẹt” trong những hậu quả của các bước trước đó vốn làm sâu thêm việc can dự vào. Những hậu quả thật bi thảm. Quả thật, trong cuốn sách “Vào trong Vũng lầy” (Into a Quagmine), mà qua đó là một bài viết tường thuật mang tính chất học thuật nhất về con đường dẫn đến chiến tranh phản ảnh sự trình bày này, Brian Van de Mark viết:

Với mỗi quyết định về Việt Nam, tính chất dễ bị tổn thương của ông Johnson đối với áp lực quân sự và xung lực quan chức tăng lên một cách sâu sắc. Mỗi bước tạo ra những nhu cầu cho bước khác, thậm chí bước to lớn hơn –mà qua đó LBJ(pc 03) tìm thấy ngày càng khó khăn chống lại… Giống như những nhân vật trong một bi kịch Hy Lạp, niềm tự hào thúc đẩy những người đàn ông tự tin mãnh liệt hơn nữa vào thảm cảnh.3

Việc phản ảnh sự trình bày về “vũng lầy,” ông Johnson được nhìn thấy trong phần lớn bằng tác phẩm về chiến tranh –như ông ta thích nhìn thấy chính mình– như bị “mắc bẫy” bởi những cam kết mà ông ta thừa hưởng và sự bắt buộc, được thúc đẩy bởi Chiến tranh Lạnh trong phạm vi bối cảnh chính trị trong nước, đứng bên miền Nam Việt Nam.
Một số ít học giả đã thăm dò bên dưới bề mặt của việc hoạch định chính sách trong một nỗ lực để giải thích động lực dường như không ngừng hướng đến chiến tranh. Những tác phẩm của Robert D. Dean và Gareth Porter đưa ra mức độ quan trọng của cái gì đó mà họ dán nhãn là “tình huynh đệ đế quốc” và “hệ thống quan liêu của an ninh quốc gia” theo một cách tương ứng.
Đối với ông Dean trong cuốn sách “Tình huynh đệ Đế quốc” (Imperial Brotherhood), những vấn đề về giới tính gây ảnh hưởng đến các biện pháp giải quyết cho Việt Nam của Kennedy-Johnson. Hai vị Tổng thống và những vị cố vấn chính yếu của họ loại bỏ lời khuyên hợp lý hầu giảm bớt sự can dự vào của Mỹ, bởi vì họ “nhận định nam phái bằng việc chống chủ nghĩa cộng sản đế quốc hiếu chiến.” “Tình huynh đệ đế quốc,” được nuôi dưỡng trong các trường học và đại học ưu tú dành cho những người vốn là một phần của chính sách ngoại giao ưu tú của quốc gia, đã khuyến khích giới nam tính trong việc khẳng định những quyền lợi của Hoa Kỳ. Ông Johnson thường lấy làm thích thú trong cách nói chuyện mang tính cách nam giới khi thảo luận về Việt Nam, qua việc đôi khi so sánh chính mình với một võ sĩ quyền anh đấu lấy giải thưởng và thường nhắc đến dục tính; thí dụ như, sau việc thả bom miền Bắc Việt Nam trong sự trả đáp đối với cuộc khủng hoảng Vịnh Bắc Bộ, ông Johnson nói: “Tôi không chỉ xoáy vào Hồ Chí Minh, tôi cắt bỏ dương vật của ông ta.” Ngôn ngữ mặn mà của ông Johnson có thể được xem như là một phần của nhân cách lớn-hơn-cuộc-sống mình,

p56

nhưng nó cũng chỉ rõ về cuộc đàm luận bị giới tính hoá như thế nào phản ảnh một mức độ mà qua đó các nhà lãnh đạo lo sợ bị bị nhìn thấy như là yếu đuối. Họ nhất quyết trở thành mạnh mẽ. Điều này giúp giải thích lý do cho sự từ chối các cuộc đàm phán. “Quan điểm chính trị về giới tính” kết hợp sự lựa chọn thay thế đó với phái nữ hay phái đồng tính luyến ái và vì thế giúp thúc đẩy quốc gia đến chiến tranh.4
Sự nhấn mạnh của sự trình bày về “vũng lầy” trên “tính chất dễ bị tổn thương đối với áp lực về quân sự và xung lực quan liêu” là trọng tâm của cuốn sách “Những rủi ro về quyền Thống trị” (Perils of Dominance) của ông Porter. Ông Porter lập luận rằng “hệ thống quan liêu của an ninh quốc gia” tích cực đẩy mạnh một giải pháp quân sự cho các vấn đề ở Việt Nam. Những quan chức dân sự và quân sự của Bộ quốc Phòng và ban nhân viên của bộ Hội đồng An ninh Quốc gia tin rằng Mỹ lấy làm thích thú trong việc chiếm ưu thế như thế về chiến lược trên Liên Xô mà qua đó nó có thể sử dụng vũ lực để đạt được những mục tiêu của mình mà không bị trừng phạt. Vì vậy, các quan chức đó không ngừng khuyến cáo những lựa chọn quân sự và gây áp lực lên ông Kennedy và ông Johnson, cả hai người đều miễn cưỡng bắt đầu những bước như thế. Ông Kennedy đã thành công hơn về việc chống lại “hệ thống quan liêu của an ninh quốc gia”, nhưng Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara, Tướng Maxwell Taylor, và những người khác thực chất giỏi chiến thuật hơn ông Johnson và tiếp tục gây áp lực lên ông ta, cuối cùng cưỡng chế sự đầu hàng của ông ta qua thỏa ước có điều kiện. Ông Porter chỉ trích ông McNamara, thí dụ như, về việc giữ kín thông tin từ ông Johnson về những chi tiết của biến cố Vịnh Bắc Bộ, mà qua đó sẽ cho ông Johnson lý do để tạm ngưng lại trước khi tung ra các cuộc không kích trả đũa. Ông Porter mô tả về những áp lực ngày càng tăng trên ông Johnson và điều gì mà ông ta xem như sự phá vỡ Hiến pháp:

Chắc chắn là không có vấn đề song song trong lịch sử hiện đại đối với mười hai nỗ lực riêng biệt bởi hệ thống quan liêu của an ninh quốc gia trong một gian đoạn 14 tháng để được ông Johnson cho phép sử dụng lực lượng quân sự chống lại tình trạng tương tự… Vì thế, động thái của hoạch định chính sách… mà qua đó hệ thống quan liêu của an ninh quốc gia có lực đòn bẩy mạnh mẽ trên tổng thống để tạo nên những nhượng bộ cho sở thích chiến tranh của họ vốn phá hủy một nguyên tắc mà qua đó đáng lý ra chi phối những quyết định về việc sử dụng lực lượng quân sự trong một xã hội dân chủ: mà trong đó những quyết định như thế không chỉ được thực hiện chính thức bởi Tổng thống và được phê duyệt bởi Quốc hội, ngoài ra thực sự phản ảnh sự phán đoán được suy xét của một quan chức cao nhất được tuyển chọn.5

Ông Porter có lẽ phóng đại về mức độ mà “hệ thống quan liêu của an ninh quốc gia” nghĩ về các giải pháp ở Việt Nam chỉ từ một quan điểm quân sự và mức độ mà qua đó nó cuối cùng được quyết định cho chính sách. Tuy nhiên, công việc của ông ta là lời nhắc nhở hữu ích về tính cố chấp của những cá nhân và các cơ quan có quyền lực trong phạm vi chính phủ qua việc theo đuổi chương trình nghị sự của họ.
Trong khi sự trình bày về “vũng lầy” tiếp tục đóng khung phần lới tư duy về những nguồn gốc của chiến tranh và trình bày những quyết định về chiến tranh như là một hệ quả hầu như khó thể tránh khỏi của Chiến tranh Lạnh, nhiều nhà sử học của phe chính thống đã từng bị thu hút theo việc phân tích những cách mà chiến tranh đã có thể tránh được.

p57

Khi làm như vậy, họ đã hưởng lợi từ việc tiếp cận tài liệu dẫn chứng bao quát bây giờ mở ra trên việc hoạch định chính sách Hoa Kỳ, mà qua đó đã nhấn mạnh đến mức độ mà chính sách của Việt Nam được thảo luận trong chính quyền Kennedy và Johnson. Theo đó, các sử gia có thể đưa ra câu hỏi về việc liệu có những lựa chọn thay thế hữu hiệu đối với các bước được thực hiện giữa năm 1961 và 1965 và để đánh giá một cách đầy đủ những lựa chọn và quyết định của hai vị Tổng thống. Ngoài sự suy xét lại này về chính sách của Mỹ đã nổi lên hai lựa chọn thay thế khác cho chiến tranh khiến phải suy nghĩ:
(1) “Tính chất biệt lệ của ông Kennedy” –có phải ông Kennedy là một nhà lãnh đạo “biệt lệ” vốn là người nhận ra sự vô ích của việc tham dự sâu hơn và có phải ông ta lặng lẽ đang lên kế hoạch rút lại sự ủng hộ của Mỹ?
(2) “những cơ hội bỏ lỡ” –có phải ông Johnson từ chối những khởi đầu đầy hứa hẹn vốn đã có thể dẫn đến một giải pháp hòa bình?

C- “Tính chất Biệt lệ của ông Kennedy” –Việc thoát ra có phải như là một lực chọn thay thế khác cho chiến tranh? :

Giống như ý tưởng về “vũng lầy,” một đề nghị về “tính chất biệt lệ của ông Kennedy” cũng nổi lên khi chiến tranh nhấn chìm quốc gia. Một số ít người phụ tá của ông Kennedy tuyên bố rằng vị Tổng thống bị giết đã từng công nhận sự vô ích về việc hỗ trợ miền Nam Việt Nam và đã từng lên kế hoạch một cách âm thầm để rút khỏi Việt Nam sau khi ông ta được tái đắc cử vào năm 1964. Bằng chứng để hỗ trợ lời tuyên bố đó thì luôn bị giới hạn và gián tiếp do hoàn cảnh, nhưng nhiều học giả gần đây đã nắm giữ những nguồn tài liệu hiện có mới mẻ nhằm đổi mới một lập luận mà qua đó ông Kennedy quả thật đang di chuyển về phía cách thoát ra và, nếu ông ta đã sống qua tháng Mười Một năm 1963, ông ta sẽ ít nhiều gần như thế hơn ông Johnson Mỹ hóa chiến tranh vào năm 1965. Vì vậy, ông Kennedy nổi lên như là một nhà lãnh đạo “biệt lệ” với tầm nhìn xa để tránh một cuộc chiến tranh tai hại.
Sự trình bày về “tính chất biệt lệ của ông Kennedy” –vốn đã được nâng cao trong các hình thức khác nhau bởi Robert Dallek, David Kaiser, Lawrence Freedman, Fredrick Logevall, John M. Newman và Howard Jones– nhấn mạnh đến khuynh hướng của ông Kennedy đối với sự kiềm chế trong việc đối phó với cuộc khủng hoảng và sự nhận ra dần dần của ông ta về những giới hạn ảnh hưởng của Mỹ ở Việt Nam.6 Tiền đề cơ bản đó là ông Kennedy là một “nhà ngoại giao sáng suốt tự nhiên,” thận trọng không hành động một cách bừa bãi và có ý muốn đối với cuộc đàm phán và sự chấp nhận tính chất trung lập. Trong suốt cuộc khủng hoảng về phi đạn Cuba vào tháng Mười năm 1962, ông Kennedy được nhìn thấy như đã chọn lấy một sự khẳng định về sức mạnh quân đội tương đối ở bậc thấp và vui lòng đạt được mục đích của mình qua một giải pháp thương lượng. Cuộc khủng hoảng về phi đạn là một lời nhắc nhở đúng mức về những rủi ro của cuộc chiến tranh hạt nhân và gây ảnh hưởng đến quyết định của ông Kennedy ủng hộ một thỏa thuận cấm thử nghiệm hạt nhân, vốn được ký kết vào tháng Bảy năm 1963.

p58

Đối với sự quan tâm đến Đông Dương, ông ta chú trọng đến những lời cảnh cáo từ Tổng thống Pháp Charles de Gaulle về những cạm bẫy của chiến tranh được dựa trên sự thất vọng và cuối cùng bại trận của Pháp ở đó và từ vị Tướng về hưu, Douglas MacArthur, về sự khó khăn trong việc chiến đấu chống lại quân du kích trong những khu rừng già Á châu. Ông Kennedy từ chối cam kết uy tín và sức mạnh quân đội của Mỹ trong khu vực Đông Nam Á. Điều nầy rõ ràng trong chính sách của ông ta đối với Lào mà qua đó, vào thời điểm nhậm chức của mình, được xem là một vấn đề quan trọng hơn so với nước Việt Nam láng giềng. Trong việc đối mặt với tình hình phức tạp ở Lào, ông Kennedy từ chối đề nghị của Bộ Quốc phòng gởi 60.000 quân để hỗ trợ chính phủ bấp bênh của Hoàng gia Lào; thay vào đó, ông Kennedy theo đuổi con đường đàm phán, mà qua đó dẫn đến Hiệp định Genève trên Nước trung Lập Lào. Cách giải quyết này đối với Lào nhấn mạnh rằng ông Kennedy “không bao giờ xem khu vực Đông Nam Á như là một nơi thuận lợi để khai triển sức mạnh của Mỹ.”7
Hơn nữa, tính thận trọng bẩm sinh của ông Kennedy kết hợp với thái độ hoài nghi của mình về khả năng của Mỹ giải quyết vấn đề Việt Nam khó thể lành. Khi cuộc nổi dậy của cộng sản tăng lên nhịp độ chiến dịch của nó chống lại một quân đội miền Nam Việt Nam kém dẫn dắt và mất tinh thần, ông Kennedy quả thật gia tăng một cách đáng kể số lượng những vị cố vấn quân sự Hoa Kỳ và cho phép một sứ mệnh hỗ trợ chiến đấu được mở rộng hơn, nhưng ông ta hạn chế sự tham gia của Mỹ ở mức độ đó và thật ra, đã lên kế hoạch rút giảm số lượng những vị cố vấn quân sự Mỹ. Quan trọng nhất là, ông ta từ chối những khuyến nghị mà qua đó Hoa Kỳ nắm lấy vai trò chiến đấu trực tiếp ở Việt Nam. Ông Kennedy cuối cùng nhận ra năng lực hạn chế của Mỹ để làm đảo ngược sự xói mòn thẩm quyền của chính quyền ông Diệm.
Trong vòng một năm nhậm chức, ông Kennedy đã bắt đầu đặt câu hỏi về những đánh giá thuận lợi mà các vị cố vấn dân sự và quân sự đang cung cấp về tình hình. Đến tháng Năm 1963, ông ta bí mật đang lên kế hoạch cho việc rút về toàn bộ các vị cố vấn quân sự Hoa Kỳ, nhưng ông ta nói với những ngưiờ phụ tá của mình rằng ông ta không thể làm như thế cho đến khi sau cuộc bầu cử tổng thống năm 1964. Như là một bước đầu tiên, tuy nhiên, ông ta lên kế hoạch rút đi 1.000 vị cố vấn đến cuối năm 1963. Ông ta lo sợ rằng nếu ông ta thực sự rút hết toàn bộ trước ngày bầu cử, sẽ có một phản ứng chống đối mạnh mẽ của phe bảo thủ —“chúng ta đã từng có một Joe McCarthy khác trong tay của chúng ta,” ông ta nói với một người bạn thân tình– nhưng sau khi ông ta được tái đắc cử, ông ta có thể hoàn thành nhiệm vụ . Đối với những người khác vốn cho rằng kế hoạch này hy sinh những sinh mạng người Mỹ cho lợi ích chính trị phe phái, Dallek, người viết tiểu sử chính yếu về ông Kennedy, lập luận rằng “ông Kennedy không bao giờ quên rằng việc hoạch định chính trị và chính sách là một nghệ thuật của sự kiện có thể xảy ra. Ông ta không có ý định bị lôi kéo vào trong việc mở rộng các lực lượng bộ binh của Mỹ. Đồng thời, ông ta chưa sẵn sàng để nói ngay khi nào ông ta sẽ rút giảm những lực lượng Hoa Kỳ và mang tất cả họ về nhà.”8 Vã lại, sau khi có một kế hoạch không cùng sự việc như việc tạo ra một cam kết; trong khi nhìn thấy việc rút lui như là một chiều hướng hành động thích hợp hơn trong một thời gian dài, ông Kennedy cũng nhận ra những lựa chọn của mình chưa giải quyết.

p59

Khi ông Diệm khiêu khích một cuộc khủng hoảng với sự lãnh đạo của Phật giáo vào năm 1963, ông Kennedy can thiệp, nhưng làm một cách rất miễn cưỡng vì ông ta nghi ngờ rằng liệu bất kỳ hành động nào của Mỹ sẽ cải thiện được tình hình chính trị ở miền Nam Việt Nam. Trong suốt mùa hè năm 1963, khi sự hỗn loạn làm sáng tỏ chính quyền Sài Gòn, ông Kennedy đã do dự. Ông Dallek viết: “việc không đáp ứng của ông ta phản ảnh không phải là sự thờ ơ nhưng là một ý nghĩa của những hạn chế tiếp tục… Ông ta vẫn còn không chắc chắn làm gì và lo lắng về việc bị mắc kẹt trong một cuộc chiến tranh không thể thắng được.”9 Ông Kennedy sau cùng phê chuẩn cuộc đảo chánh chống ông Diệm, nhưng tiếp tục có những nghi ngờ về một âm mưu khi cuộc vận động ngầm của Cơ quan Tình báo Hoa Kỳ với các tướng lãnh đang tiến hành. Ông ta đặt câu hỏi cho cả hai vấn đề là liệu cuộc đảo chánh sẽ thành công và, nếu nó thành công, liệu một vai trò lãnh đạo mới sẽ cung cấp sự ổn định và điều hành không. “Ông ta không có quyết tâm loại bỏ ông Diệm,” ông Freedman viết, “bởi vì ông ta không chắc chắn rằng ông ta có thể, và ông ta nhận thức về những hậu quả nguy hiểm của sự thất bại. Chính sách mới là hai năm quá muộn. Đây là sự điên rồ, bởi vì nó để lại cho Hoa Kỳ chỉ với những lựa chọn khó chịu khi chế độ bắt đầu sụp đổ.”10 Ông Kennedy cố gắng cảnh cáo ông Diệm về những giới hạn kiên nhẫn của Mỹ và thuyết phục ông Diệm từ bỏ chiến dịch chống Phật giáo của mình. Trong hai cuộc phỏng vấn truyền hình thường được trích dẫn vào tháng Chín, ông Kennedy đã gởi đi những thông điệp rõ ràng. Trong một thông điệp, ông ta bày tỏ: “Tôi không nghĩ rằng… trừ khi một nỗ lực lớn hơn được thực hiện bởi chính phủ [Sài Gòn] để giành lấy sự ủng hộ của quần chúng mà qua đó chiến tranh có thể được thắng lợi ở ngoài đó. Trong phân tích cuối cùng, chính là cuộc chiến tranh của họ. Họ là những người vốn phải chiến thắng nó hay mất nó. Chúng ta có thể giúp đỡ… nhưng họ phải chiến thắng nó, người dân Việt Nam chống lại Cộng sản…” Đồng thời, ông Kennedy cho biết, điều đó sẽ là một “sai lầm lớn” cho Hoa Kỳ rút lui (mặc dù theo một cách riêng tư, đó là điều gì mà ông ta đang dự tính). Trong một cuộc phỏng vấn khác, ông Kennedy được hỏi liệu ông ta tin tưởng vào lý thuyết domino, mà qua đó ông ta trả lời: “Tôi tin tưởng [vào] điều đó. [Việc mất đi Việt Nam] sẽ [cho] một ấn tượng rằng làn sóng tương lai ở Đông Nam Á là Trung Quốc và những người Cộng sản.” Ông Dallek quan sát rằng các cuộc phỏng vấn “ngụ ý rằng, bất chấp sự từ chối của ông Kennedy và những ý nghĩa dí dỏm của lý thuyết domino, ông ta sẽ suy xét việc rút lui trừ khi miền Nam Việt Nam gặp phải mối đe dọa của cộng sản một cách đáng ngại.”11
Trong suốt ba tuần giữa khoảng thời gian sự lật đổ và vụ giết chết ông Diệm và việc ám sát ông Kennedy, vị Tổng thống đang tìm kiếm một cách để thay đổi chính sách Việt Nam vốn đang thất bại. Khi ông ta đang rời khỏi cho chuyến công du định mệnh của mình đến tiểu bang Texas, ông Kennedy nói với một vị cố vấn rằng ông ta muốn “tổ chức một nghiên cứu chuyên sâu về mỗi lực chọn có thể có mà chúng tai đã có ở Việt Nam, bao gồm việc ra khỏi nơi đó. Chúng ta phải xem xét lại toàn bộ điều này từ dưới lên trên.”12
Cách lý luận về “tính chất biệt lệ của ông Kennedy” vì thế kết luận rằng ông Kennedy –sau khi đưa ra tính chất và hồ sơ của ông ta như là một nhà lãnh đạo vốn là người cân nhắc một cách cẩn thận những phí tổn và lợi lộc của chính sách đối ngoại– sẽ tránh được việc Mỹ hóa chiến tranh. Ông Dallek viết:

p60

Việc đọc kỷ càng hồ sơ cho thấy rằng ông Kennedy có rất mong muốn giữ Việt Nam ngoài quỹ đạo của Liên Xô-Trung Quốc. Nhưng ông ta không muốn trả bất cứ giá nào và mang bất kỳ gánh nặng nào cho nền tự do của Sài Gòn khỏi quyền kiểm soát của cộng sản. Thái độ hoài nghi của ông ta về sự cam kết của miền Nam Việt Nam đối với việc bảo vệ nền tự do của nó bằng cách tập hợp đất nước xung quanh những chính sách và các nhà lãnh đạo có tiếng tăm, đã thúc đẩy sự do dự của ông ta lôi cuốn Hoa Kỳ một cách sâu hơn trong cuộc xung đột. Những lo sợ của ông ta về việc biến chuyển chiến tranh trở thành một cuộc đấu tranh trên một quy mô với cuộc chiến đấu ở Hàn Quốc và về việc bị mắc kẹt trong một cuộc chiến tranh vốn đòi hỏi thêm hơn bao giờ hết những nguồn tài lực của Hoa đã trở thành những lý do vào năm 1963 cho ông ta lên kế hoạch cho những rút giảm nhân viên quân sự Mỹ ở Việt Nam… Không ai có thể chứng minh, dĩ nhiên, điều gì ông Kennedy sẽ làm về vấn đề Việt Nam giữa khoảng thời gian năm 1964 và 1968. Những hành động và những lời phát biểu của ông ta, tuy nhiên, mang tính chất gợi ý đến một sự tạm ngưng hoạt động quân sự được tính toán một cách cẩn thận ra khỏi kiểu tham gia vốn đã xảy ra dưới sự quyết định của LBJ Johnson nhằm tung ra chiến dịch “Sấm Vang”… thì không có gì ông Kennedy đã ký vào. Không phải là ông Kennedy từng đồng ý đối với việc gởi đi 100.000 quân lính chiến đấu ở Việt Nam, như ông Johnson đã làm vào tháng Bảy [1965].13

Ông Dallek cũng đưa ra ý kiền rằng sự thành công của ông Kennedy trong chính sách đối ngoại cho ông ta một tầm vóc và tự tin lớn hơn ông Johnson:

Đến tháng Mười Một năm 1963, ông Kennedy đã tự tạo dựng chính mình như là một nhà lãnh đạo có chính sách đối ngoại mạnh mẽ. Sau việc đối mặt đầy tự tin và mạnh mẽ với ông Khrushchev trong cuộc khủng hoảng phi đạn và việc thành công trong cách giải quyết với quân đội Liên Xô và Hoa Kỳ và sự đối kháng của Thượng viện đối với hiệp ước cấm thử nghiệm, ông Kennedy đã có uy tín lớn hơn nhiều về vấn đề an ninh quốc gia hơn ông Johnson đã có. Điều đó đã cho ông Kennedy sự tự do nhiều hơn để thuyết phục người dân ở quê nhà và nước ngoài rằng việc tránh xa sự can thiệp quân sự trên quy mô lớn ở Việt Nam nằm trong sự quan tâm nhất của Hoa Kỳ.14

Trong cuốn sách “Những cuộc Chiến tranh của ông Kennedy” (Kennedy’s Wars), ông Freedman cho rằng ông Kennedy sẽ tránh được việc Mỹ hóa chiến tranh cuộc xung đột. Cách chế ngự tình hình khủng hoảng của ông Kennedy cho thấy rằng ông ta sẽ rất có thể chống lại những áp lực vốn đưa đến ông Johnson thả bom miền Bắc Việt Nam và mở đầu việc gởi đi những quân lính chiến đấu của Mỹ. Ngay cả khi ông Kennedy không rút toàn bộ khỏi Việt Nam như ông ta đưa ra, ông ta sẽ kiên trì bằng cách “cung cấp thêm sự hỗ trợ về quân sự và kinh tế chỉ miễn sao ông ta có thể tuyên bố rằng đây vẫn là một cuộc chiến tranh Việt Nam.” Hồ sơ của ông Kennedy để lại sự nghi ngờ đáng kể về việc liệu ông ta sẽ theo chiều hướng của ông Johnson. “Những khởi đầu trong chính sách của ông Kennedy,” ông Freedman tranh luận “được trù tính để cung cấp cho ông ta một phạm vi quyền lực tối đa, ông ta ưa thích thêm vào những lựa chọn hơn là loại bỏ chúng… và ông ta không thích những quyết định dứt khoát, không thể đảo ngược.”15

p61

Fredrik Logevall, trong cuốn sách “Việc lựa chọn cuộc Chiến tranh” (Choosing War), xây dựng trên cùng những quan điểm, khi ông ta tương phản những điểm mạnh của ông Kennedy và những điểm yếu của ông Johnson về những vấn đề an ninh quốc gia. Kinh nghiệm của ông Kennedy, đặc biệt là trong tình hình khủng hoảng về phi đạn và trong việc đàm phán hiệp ước cấm thử nghiệm hạt nhân, đã cho ông ta “một quỹ khá lớn về sự tín nhiệm trong chính trị như là một nhà lãnh đạo có chính sách đối ngoại, một cái gì đó mà LBJ(pc 03) không bao giờ có được.” Ông Kennedy “riêng cá nhân nghi ngờ sự vững chắc của lý thuyết domino thô thiễn… [Và] ông ta nhận thức ra từ sớm về điều mà có những giới hạn đối với cái gì đó mà Hoa Kỳ có thể hoàn tất phần đó của thế giới.” Vì vậy, như ông Logevall viết, “có những cam kết và ở đó là những cam kết.” Không có gì là không thể thương lượng. Việc gây ảnh hưởng đến ông Kennedy là ý thức của ông ta về những hạn chế sức mạnh của Mỹ trong việc gây ra tác động trên cái gì đó chủ yếu là một cuộc nội chiến Việt Nam. Hơn nữa, “tầm nhìn về thế giới của ông ta chứa đựng một tính chất hoài nghi rõ ràng mà [ông Johnson đã] thiếu,” qua sự phản ảnh sự kiện thực tế là “ông Kennedy có một trí óc linh hoạt và phản xạ hơn, ít nhất đối với những công việc đối ngoại.” Ông Kennedy vì thế khuyến khích một môi trường đưa ra quyết định không thành kiến, mà qua đó tương phản một cách sâu sắc với quyết định của ông Johnson. Nếu ông Kennedy sống, điều này có nghĩa là các quan chức Mỹ trong việc đối mặt với cuộc khủng hoảng ngày càng tăng lên của khoảng thời gian 1964–65 sẽ có “khuynh hướng hơn… để hỏi những câu hỏi thực sự cơ bản về cuộc chiến tranh và để lắng nghe nhiều tiếng nói vốn là những người đang dự đoán một thảm họa nếu Hoa Kỳ can thiệp theo cách quân sự.16
Trong một bày tỏ minh bạch nhất về “tính chất biệt lệ của ông Kennedy,” John M. Newman trong cuốn sách “JFK và Việt Nam” (JFK and Vietnam) rút ra một sự kết nối ngẫu nhiên giữa vụ ám sát ông Kennedy và việc Mỹ hóa chiến tranh. Ông ta viết: “Thảm kịch ở tiểu bang Texas, cuối cùng, mang lại kết quả mà ông Kennedy đã từng phản đối trong suốt nhiệm kỳ tổng thống của mình: sự can thiệp có quy mô toàn diện của Mỹ ở Việt Nam… Rõ ràng là hậu quả bi thảm nhất của cái chết của ông Kennedy là sự leo thang chiến tranh theo sau.”17 Nhưng trái lại, các học giả khác tránh việc bày tỏ với sự chắc chắn về điều gì ông Kennedy sẽ làm nếu ông ta sống qua tháng Mười Một năm 1963 và xem bất kỳ kế hoạch rút lui nào như có tính cách dự kiến nhiều hơn là vững chắc, ông Newman không thể mập mờ trong việc cho rằng ông Kennedy từ năm 1961 trở đi, nhìn nhận rằng Hoa Kỳ không thể đạt được mục tiêu của nó về một miền Nam Việt Nam không-cộng-sản mà không có một cuộc chiến tranh lớn mà qua đó ông ta quyết tâm tránh né; ông ta đã cam kết chính mình với một kế hoạch bí mật nhằm rút đi tất cả những lực lượng Hoa Kỳ sau 1964. Công việc của ông Newman tìm thấy ông Kennedy bị cô lập bên trong chính quyền của mình –mâu thuẫn với các cơ sở quân sự và tình báo cũng như hầu hết các vị cố vấn dân sự của ông ta, bao gồm Phó Tổng thống Johnson– trong quyết tâm của ông ta gỡ Hoa Kỳ thoát khỏi Việt Nam. Sau cái chết của ông Kennedy, những người lãnh đạo đó và các cơ quan họ đại diện, chiếm ưu thế hơn trong chính sách Việt Nam và đưa đất nước đến chiến tranh. Cuốn sách của ông Newman được viết phần nào như là một cách phân tích nguyên nhân mang tính cách học thuật cho cuốn phim “JFK” của Oliver Stone, mà qua đó giải thích về vụ ám sát ông Kennedy như là phần nào của một âm mưu, mà trong đó bao gồm Phó Tổng thống, để bảo đảm rằng Hoa Kỳ sẽ không do dự trong sự cam kết của nó đối với miền Nam Việt Nam. (Không có một bằng chứng nào về một âm mưu khổng lồ như thế.)

p62

D- Lời phê bình về “Tính chất biệt lệ của ông Kennedy” –JFK như là một Chiến binh Lạnh:

Nhiều sử gia đã từng thách thức việc trình bày về “tính chất biệt lệ của ông Kennedy.” Họ cho rằng quá trình chuyển đổi Kennedy–Johnson được đánh dấu bằng sự “tiếp tục” không phải là “thay đổi.” Đối với nhóm này của các sử gia phe chính thống –được đại diện bởi George Herring, Robert Schuizinger, George M. Kahin, Thomas Patterson, Lawrence Bassett, Stephen Pelz, và những người khác– chức vụ tổng thống của ông Kennedy đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong sự tham gia của Hoa Kỳ đang tăng lên một cách đều đặn. Những khởi đầu của ông Kennedy khiến cho bất kỳ sự suy xét nào về tất cả giải pháp thoát ra khó khăn hơn.
Những học giả nầy nhấn mạnh rằng ông Kennedy là một Chiến binh Lạnh có lòng thành, vốn là người có quyết tâm theo đuổi cuộc đấu tranh trên toàn cầu. Chiến dịch vận động tranh cử tổng thống của ông ta vào năm 1960 đã từng được dựa trên sự cần đến cho một chính sách đối ngoại mạnh mẽ hơn nữa, bao gồm sự chú ý lớn hơn, và tính linh hoạt trong việc đối phó, “những cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc” –mà trong đó cuộc nổi dậy của cộng sản ở Việt Nam là một thí dụ điển hình. Bài diễn văn nhậm chức của ông ta nói về những cam kết vô thời hạn của Mỹ và hứa sẽ “trả bất kỳ giá nào, chịu bất cứ gánh nặng nào” trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa cộng sản. Ông Kennedy và các vị cố vấn của mình có lòng cam kết, đặc biệt là việc tạo ra những lợi ích trong số các “dân tộc đang nổi lên,” như hiển nhiên là trong việc thành lập Đoàn Hòa bình mà qua đó gởi đi hàng ngàn người hầu hết là những thanh niên Mỹ để làm việc trong các chương trình giáo dục, y tế, và phát triển, sự ra đời của Liên minh Tiến bộ là một là một chủ trương viện trợ khổng lồ về kinh tế đang tiến hành ở châu Mỹ La tinh hỗ trợ, và sự gia tăng đáng kể trong viện trợ về quân sự và kỹ thuật cho các quốc gia khắp thế giới đang phát triển.
Trong trường hợp của Việt Nam, các nhà phê bình về “tính chất biệt lệ của ông Kennedy” lập luận rằng điều gì mà ông làm giữa khoảng thời gian năm 1961 và 1963, thì quan trọng nhiều hơn so với điều gì mà ông ta không làm hoặc điều gì mà ông ta có lẽ đã từng lên kế hoạch để làm. Việc chống lại “tính chất biệt lệ của ông Kennedy” nhấn mạnh vào sự tránh né vai trò chiến đấu trực tiếp của ông ta, các học giả của quan điểm “tiếp tục” cho rằng sự gia tăng kỳ lạ các vị cố vấn quân sự và những sứ mệnh được mở rộng của họ khiến cho cuộc xung đột càng lúc càng nhiều hơn đối với sự chịu đựng của Mỹ. Sự cam kết này, hơn nữa, phản ảnh niềm đam mê của ông Kennedy đối với những thách thức của một cuộc “chiến tranh bất quy ước” mà qua đó dẫn đến sự nhấn mạnh của Lầu năm Góc về việc phản-nổi-dậy và sự giới thiệu về đội quân Mũ Xanh như là một đơn vị ưu tú. Đó là điều khó khăn để tưởng tượng ông Kennedy thoái xa khỏi cuộc đấu tranh mà qua đó ông ta xem như là nền tảng đối với việc chận đứng chủ nghĩa cộng sản ở các nước đang phát triển.

p63

Bên cạnh đó là việc leo thang mức độ tham gia quân sự, việc phê chuẩn của ông Kennedy về sự đồng lõa của Mỹ trong việc lật đổ của chính phủ Diệm khiến cho Hoa Kỳ bị lôi cuốn sâu hơn trong những vấn đề nội bộ của chính quyền Sài Gòn. Trong cuốn sách “Sự can Thiệp” (Intervention), George Mc T. Kahin tạo ra quan điểm rằng cuộc đàn áp những Phật tử của chế độ ông Diệm tạo một cơ hội cho ông Kennedy rút lui, nhưng thay vào đó ông ta bắt đầu những bước vốn kéo Mỹ sâu hơn vào bãi lầy:

Nếu ông Kennedy đã từng tìm kiếm cách giữ thể diện và phòng thủ trong nước ra khỏi Việt Nam, ông Diệm và ông Nhu trình bày điều đó với ông ta trong suốt mùa hè năm 1963 với các cuộc tấn công của họ vào các Phật tử. Truyền thông tin tức Mỹ đưa tin rộng rãi về bản chất độc ác và tính chất thô bạo đến kinh ngạc về chính trị mà qua đó đánh dấu chiến dịch này… Tuy nhiên, vị Tổng thống đã bỏ qua cơ hội và thay vào đó chọn phản ứng bằng cách leo thang sự tham gia chính trị của Mỹ một cách đột ngột… [Hơn] là để cho sự phẫn nộ của công chúng đối với các hành động của ông Diệm và ông Nhu phục vụ như là một lý do có vẻ hợp lý cho việc thoát [ra]… ông ta đã chọn để tiếp tục trên cùng một con đường bằng cách thay thế những người lãnh đạo đó với những người khác, những người mà ông ta hy vọng sẽ chứng minh biết phục tùng hơn đối với sự giám hộ của Mỹ và hiệu quả hơn trong việc chiến đấu chống những người nổi dậy.18

Ông Bassett và ông Pelz lập luận một cách như nhau: “Qua việc cam kết công khai và riêng tư, Hoa Kỳ đối với sự sinh tồn của một nhà nước chống-cộng-sản ở miền Nam Việt Nam, ông ta khiến cho nó khó khăn nhiều hơn để đổ lỗi cho chính phủ miền Nam Việt Nam về những thất bại của riêng mình và để rút lui.”19 Vì vậy, trong khi ông Kennedy nói về người Việt Nam phải chiến đấu những cuộc chiến tranh của riêng mình, ông ta thực sự bắt đầu những bước vốn kéo Hoa Kỳ sâu nhiều hơn về quân sự và chính trị vào trong sự sinh tồn tại của miền Nam Việt Nam và khiến cho nó gần như là một cuộc chiến tranh của Mỹ.
Không có lý do nào để tin rằng, theo quan điểm “tiếp tục,” ông Kennedy từng đặt câu hỏi về sự cần thiết của việc bám giữ phòng tuyến chống lại chủ nghĩa cộng sản ở Đông Dương. Trong bài diễn văn mà ông Kennedy sắp phát biểu ở thành phố Dallas thuộc tiểu bang Texas vào ngày định mệnh đó của tháng Mười Một khi ông ta bị ám sát, ông ta đã lên kế hoạch để khẳng định những cam kết của Mỹ ở các nước đang phát triển; bài diễn văn bao gồm đoạn sau đây: “sự viện trợ của chúng ta cho những quốc gia nầy có thể là đau đớn, liều lĩnh, và tốn kém, như là sự thật trong khu vực Đông Nam Á ngày nay. Nhưng chúng ta không dám mệt mỏi về cuộc thử nghiệm.” Những vị cố vấn thân cận nhất của ông Kennedy đặt câu hỏi liệu ông ta có một kế hoạch rút quân không. Vị Bộ trưởng Ngoại giao của ông ta, Dean Rusk cho biết rằng: “Tôi nói chuyện với ông ta hàng trăm lần về Việt Nam, và vào một dịp không phải là duy nhất ông ta từng nói thầm bất kỳ điều như thế,” bằng một cách nhấn mạnh nói thêm rằng nhằm trì hoãn việc rút quân cho đến khi sau cuộc bầu cử “sẽ là một quyết định có những người Mỹ trong bộ đồng phục trong chiến đấu vì những lý do chính trị trong nước. Không một vị Tổng thống nào có thể làm điều đó và sống cùng nó.”20 Theodore Sorensen, một người bạn thân tình lâu năm của ông Kennedy và là người thảo diễn văn chính yếu, quan xét rằng ông Kennedy “so sánh [Việt Nam] với những cuộc đấu tranh lâu dài chống lại các du kích Cộng sản ở Hy Lạp, Malaya, và Philippines…

p64

Ông ta chỉ đơn giản sắp sửa làm mòn rã nó ra, một mớ hỗn độn, kinh tởm, rối beng mà qua đó không có một giải pháp nào khác có thể chấp nhận được. Cuộc nói chuyện về việc từ bỏ một đồng minh quá bất ổn định và một cam kết quá tốn kém ‘điều đó chỉ làm dễ dàng cho những người Cộng sản,’ vị Tổng thống nói, ‘Tôi nghĩ chúng ta nên ở lại.’ “21
Thay vì có một kế hoạch cho việc đối phó với vấn đề Việt Nam, ông Kennedy, theo cách nhìn của nhiều học giả, giải quyết vấn đề Việt Nam theo một cách tăng dần, di chuyển từ một quyết định khó khăn đến một quyết định kế tiếp và chủ yếu là kéo dài thời gian và hy vọng cho điều tốt nhất. Mà qua đó ông ta không đạt được gì cả: tình hình chính trị-quân sự ở miền Nam Việt Nam đều bị suy thoái một cách đều đặn. Kết quả là một cuộc khủng hoảng đang diễn ra, trở nên tồi tệ hơn trong một vài phương diện bởi những hành động của ông Kennedy. Một số nhà sử học không tiếc lời chỉ trích của mình. Đối với ông Schuizinger trong cuốn sách “Một thời cho Chiến tranh” (A Time for War) “ông Kennedy để lại một di sản khủng khiếp cho người kế nhiệm của mình.” Đối với ông Herring cuốn sách “Cuộc chiến tranh Dài nhất của Mỹ” (American’s Longest War), “ông Kennedy để lại cho người kế nhiệm của mình một vấn đề có tiếng là nguy hiểm hơn so với vấn đề mà ông ta thừa hưởng.”22
Vì vậy đối với các nhà phê bình của nó, sự trình bày về “tính chất biệt lệ của ông Kennedy” đưa ra một cái nhìn méo mó, khá lãng mạn về ông Kennedy mà qua đó giải tội cho ông ta khỏi vai trò đáng kể của mình trong việc đưa đất nước đến chiến tranh.

E- Ông Johnson và các cuộc Đàm phán: Một lựa chọn Sống còn đối với chiến tranh? :

Bất cứ những bất đồng gì của họ trên chính sách của ông Kennedy, những nhà sử học của phe chính thống nói chung đồng ý rằng vai trò lãnh đạo của ông Johnson từ tháng Mười Một năm 1963 đến tháng Bảy năm 1965 trên cơ bản thì thiếu hoàn thiện. Tuy nhiên, ông ta đã có thể bị hạn chế bởi những cam kết được thừa hưởng và những thúc ép quốc tế và trong nước, ông Johnson chịu trách nhiệm cuối cùng cho việc Mỹ hóa chiến tranh.
Một sự chọn lựa thay thế khác đối với chiến tranh là một thương lượng qua đàm phán. Frederik Logevalfs trong cuốn sách “Việc lực chọn Chiến tranh” (Choosing War) tạo nên một lý luận được mở rộng mà qua đó Hoa Kỳ bác bỏ nhiều cơ hội cho một thương lượng hòa bình. Vào những thời điểm khác nhau trong suốt năm 1964 và bước vào đầu năm 1965, Liên Hiệp Quốc cũng như một số lượng của từng quốc gia riêng lẻ –Nhật Bản, Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, Gia Nã Đại, Pháp, Anh và Liên Xô– tiến đến những dự kiến đề nghị về hòa bình. Ông Johnson từ chối tất cả họ. Tổng thống Pháp de Gaulle nhắc lại lời kêu gọi của mình cho một thương lượng mà qua đó sẽ trung lập hóa Việt Nam, Lào, và Campuchia. Như ông de Gaulle lý luận vào năm 1964, hàng tỷ đô la trong việc viện trợ cho Việt Nam và sự hiện diện của hàng ngàn các vị cố vấn đã thất bại đạt được những mục đích của Mỹ. Việt Cộng vẫn bám lấy những khu vực rộng lớn và chính quyền Sài Gòn đang đổ nát; ông de Gaulle cho biết: ” ‘kể từ khi cuộc chiến tranh không thể mang lại một giải pháp, người ta phải tạo ra hòa bình.’ “23 Tóm lại, Hoa Kỳ cần chấp nhận những giới hạn sức mạnh của mình và cần đàm phán. Như những lời bình luận của ông de Gaulle được nhấn mạnh, ông ta và các nhà lãnh đạo khác của Tây phương,

p65

vốn là những người dần dà tham gia vào việc tìm kiếm hòa bình, tin rằng Hoa Kỳ đã bắt tay vào một chiều hướng sai lầm. Kinh nghiệm của Pháp trong việc từng chiến đấu một cuộc chiến tranh thê thảm ở Đông Dương đã cho thêm niềm tin đối với thông điệp của ông de Gaulle. Hơn nữa, các nhà lãnh đạo khác trên thế giới và Tổng thư ký Liên hiệp Quốc U Thant, vốn là người cũng thúc ép cho các cuộc đàm phán, tin tưởng rằng sự tách biệt đang mở rộng hơn giữa Liên Xô và Trung Quốc và những quan hệ được cải thiện giữa Hoa Kỳ và Liên Xô làm giảm xuống những sự phân rẽ quốc tế về các cuộc xung đột trong các nước đang phát triển. Nói cách khác, cuộc đấu tranh giữa những người cộng sản và không-cộng-sản ở Việt Nam không còn là một vấn đề quan trọng đáng kể của Chiến tranh Lạnh. Những khởi đầu cho các cuộc đàm phán, qua việc tiến hành như nhiều nước đã làm từ các đồng minh truyền thống, nhấn mạnh đến mức độ mà qua đó sự quyết tâm của Hoa Kỳ giữ lấy miền Nam Việt Nam khiến nó bị cô lập theo cách quốc tế quan.
Hơn nữa, miền Bắc Việt Nam cho thấy ý muốn sẵn sàng của nó bước vào trong những cuộc đàm phán. Sau một vài do dự, đến năm 1964, chính phủ Hà Nội kết luận rằng những quan tâm của nó sẽ được phục vụ bởi một thương lượng hòa bình. Đối với các sự kiện ở miền Nam Việt Nam việc di chuyển theo hướng thuận lợi và cảm thấy rõ của họ mà qua đó Hoa Kỳ dám có thể can thiệp bằng quân sự, những người miền Bắc Việt Nam sẵn sàng thương lượng. Vì vậy, vào tháng Chín năm 1964, Bắc Việt bảo đảm với U Thant rằng nó sẵn sàng bước vào các cuộc thảo luận với Hoa Kỳ. Hai tháng sau đó, J. Blair Scaborn của chính phủ Canada đến thăm Hà Nội trong sự quan tâm về việc đứng làm trung gian để điều đình những sự khác biệt giữa Bắc Việt và Hoa Kỳ, và ông ta tìm thấy các quan chức Bắc Việt dễ tiếp nhận. Vị thế sẵn lòng giúp đỡ này cũng được phản ảnh trong các cuộc thảo luận về chiến lược vốn đã từng diễn ra vào tháng 10 năm 1964 ở Bắc Kinh giữa Thủ tướng Bắc Việt, Phạm Văn Đồng và Thủ tướng Trung Quốc Mao Zedong (Mao Trạch Đông). Họ đồng ý hạn chế cuộc giao chiến để không khiêu khích Hoa Kỳ. Phạm Văn Đồng nói: “Nếu Hoa Kỳ dám bắt đầu một cuộc chiến tranh [lớn hơn], chúng tôi sẽ chiến đấu với Hoa Kỳ, nhưng sẽ tốt hơn là nếu Hoa Kỳ không đi đến điều đó.” Ông Mao nói thêm rằng “Không phải là hoàn toàn là một điều xấu để đàm phán. Anh bạn đã thực sự có được những khả năng tiêu chuẩn để đàm phán. Một vấn đề khác chính là trong bất cứ trường hợp nào cuộc đàm phán sẽ thành công.”24 Vì vậy, như là một năm định mệnh của năm 1965 bắt đầu, Bắc Việt Nam dường như sẵn sàng đàm phán.
Ông Johnson từ chối tất cả những lời đề nghị. Thật vậy, chính phủ Mỹ đi đến một thời gian dài đáng kể làm mất đi sự tín nhiệm vào các kế hoạch vốn đã được đưa ra. Đồng thời, Mỹ không ngừng (nhưng vô ích) cố gắng quy tụ sự ủng hộ của quốc tế cho vị thế của nó và nó làm rõ đối với các nhà lãnh đạo sau-thời-ông-Diệm ở Sài Gòn rằng sự hỗ trợ của Hoa Kỳ sẽ bị từ chối đối với ai vốn là những người ủng hộ việc đàm phán với những người cộng sản. Hoa Kỳ, hơn nữa, quy định rằng bất kỳ cuộc đàm phán nào sẽ diễn ra trên các điều khoản của Hoa Kỳ, có nghĩa là sự nhìn nhận của cộng sản về tính hợp pháp của chính quyền Sài Gòn. Ông Johnson thừa nhận rằng tình hình chính trị-quân sự vào giai đoạn 1964–65 mang ý nghĩa là Hoa Kỳ có thể đang thương lượng từ một vị thế yếu. Các cuộc đàm phán rất có thể sẽ dẫn đến một chính phủ liên minh ở Sài Gòn, mà trong đó sẽ bao gồm những đại diện của Mặt trận Giải phóng Dân tộc.

p66

Đối với các quan chức Mỹ, điều này thì không thể chấp nhận được, bởi vì một chính phủ liên minh gần như chắc chắn sẽ bị chiếm lấy bởi những người cộng sản, vốn là những người thuộc một nhóm có tổ chức tốt nhất và chính trị phổ biến nhất; một chính phủ cộng sản ở miền Nam Việt Nam sẽ là một điềm báo trước về sự thống nhất Việt Nam dưới quyền Hồ Chí Minh. Vì vậy, những khởi đầu của ông U Thant và ông Seaborn gặp phải sự kháng cự của Mỹ: khi ông U Thant báo cáo về ý muốn sẵn sàng đàm phán của Bắc Việt, ông ta tìm thấy không chút thú vị nào nơi Washington; và khi ông Seaborn yêu cầu cho một thông điệp để đưa đến Hà Nội, Hoa Kỳ chỉ khẳng định sự cam kết của mình đối với miền Nam Việt Nam.
Ông Johnson, theo sự trình bày về một “cơ hội bỏ lỡ,” thực sự thích thú cách giải quyết linh hoạt tốt đẹp về vấn đề Việt Nam, khi số lượng người Mỹ ngày càng tăng hoan nghênh việc thoát ra. Sự bất ổn ở miền Nam Việt Nam đã thuyết phục nhiều người Mỹ rằng vị thế của đất nước họ đã trở nên không thể giữ được. Những người nầy bao gồm phần lớn lực lượng của chính sách đối ngoại, gồm có: nhà báo nổi tiếng Walter Lippmann, Phó Bộ trưởng Ngoại giao George Ball, Lãnh tụ Đa số Thượng viện Mike Mansfield (D, MT),(pc 04) Chủ tịch Ủy ban Quan hệ Đối ngoại Thượng viện J. William Fulbright (D, AR ),(pc 05) Thượng nghị sĩ Hubert Humphrey (D, MN)(pc 06) vốn là người trở thành Phó Tổng thống vào năm 1965, và ngay cả Bộ trưởng Quốc phòng McNamara. Dư luận Mỹ bị chia rẽ trên vấn đề quan trọng của Việt Nam và liệu Hoa Kỳ có nên làm một cam kết lớn lao. Đảng Cộng hòa Bảo thủ hình thành một khối ủng hộ mạnh mẽ nhất cho việc “giữ lấy chiều hướng” và không cho phép một chiến thắng của cộng sản. Trên hết, tuy nhiên, tình hình chính trị ở quê nhà dường như trong tình trạng luôn thay đổi. Ông Humphrey nói với ông Johnson ngay sau khi họ đã được nhậm chức vào năm 1965 rằng sự bắt đầu nhiệm kỳ của ông ta là thời gian lý tưởng để thoát ra khỏi một tình huống mà qua đó sẽ không thích hợp với một giải pháp quân sự.
Một dự nghị hòa bình của ông Johnson –“TVA(pc 07) cho vùng đồng bằng sông Cửu Long”– làm sáng tỏ sự ác cảm đối với các cuộc đàm phán và một sự hiểu lầm của đối thủ của ông ta. Đáp ứng với những lời chỉ trích về việc tung ra chiến dịch Sấm Vang và việc gởi đi những quân lính bộ binh lần đầu tiên, ông Johnson làm một cử chỉ hòa giải đầy kịch tính. Phát biểu tại Đại học Johns Hopkins vào ngày 7 tháng Tư năm 1965, ông ta đưa ra một chương trình đa phương trên quy mô lớn về việc trợ giúp kinh tế mà qua đó sẽ biến đổi vùng Thung lũng sông Cửu Long rộng lớn. Những chiều hướng và tiềm năng của nó được mô phỏng theo chương trình Thẩm quyền Thung lũng Tennessee (Tennessee Valley Authority) nổi tiếng vốn đã từng biến đổi nền kinh tế của vùng thượng Nam của tiểu bang. Cam kết một tỷ đô-la Mỹ cho dự án, mà qua đó sẽ tạo lợi ích cho người dân trên khắp Việt Nam và các nước lân cận, ông Johnson hình dung cuộc cải cách kinh tế và xã hội mà qua đó “sẽ chuyển vùng đồng bằng sông Cửu Long bị tàn phá trở thành một Thung lũng Tennessee nhộn nhịp.” Những điều khoản của thỏa thuận là Bắc Việt phải bước vào những “cuộc thảo luận vô điều kiện.”

p67

Một nửa phần khác của bài diễn văn của ông ta, mà trong đó phần lớn đã bị bỏ qua trong hầu hết những bài tường thuật của báo chí, báo động miền Bắc Việt Nam. Dự nghị của ông Johnson được đặt trước bởi việc bảo vệ chính sách của Mỹ được diễn đạt mạnh mẽ, ở Đông Nam Á, mà trong đó ông ta tuyên bố một cách dứt khoát quyết tâm của mình giữ nền độc lập của miền Nam Việt Nam. Ông ta cảnh cáo Hà Nội và những ai “vốn là những người tìm kiếm chia sẻ cuộc chinh phục của họ” mà Hoa Kỳ sẽ “không bị đánh bại” và sẽ không bao giờ “rút lui, hoặc công khai hoặc dưới lớp áo phủ ngoài của một thoả thuận vô nghĩa.” Mở rộng hơn trường hợp của mình, ông Johnson nói về những điều khoản đáng ngại của “bóng tối đang trở nên sâu thẳm của Cộng sản Trung Quốc. Những nhà lãnh đạo ở Hà Nội được tiếp tục khuyến khích bởi Bắc Kinh… Cuộc tranh chấp ở Việt Nam là một phần mô hình [của Trung Quốc] về những mục đích xâm lược.”25 Vì vậy, mục tiêu của dự án Thung lũng sông Cửu Long là nhằm đẩy lui những trù tính bá quyền của Trung Quốc trên các nước láng giềng yếu đuối của nó. Ông Johnson vì thế đang kêu gọi đến miền Bắc Việt Nam từ bỏ nước đồng minh Trung Quốc của nó và tham gia vào một kế hoạch phát triển được Tây phương tài trợ và cảm hứng từ Tây phương.
Sau bài diễn văn, ông Johnson nói riêng rằng: “Hồ Chí Minh già nua không thể nào từ chối điều đó.” Tuy thế, đối với ban lãnh đạo Bắc Việt, ông Johnson đưa ra một hối lộ: từ bỏ mục tiêu của nó về việc tái thống nhất Việt Nam đổi lại cho sự hào phóng của Mỹ. Hà Nội đã từ chối lời đề nghị.

F- Ông Johnson như là một nhà Lãnh đạo Không hiệu quả:

Những nhà sử học thuộc phe chính thống –không quan tâm về những quan điểm của họ về việc liệu ông Kennedy có là “biệt lệ” hoặc liệu cuộc thương lượng qua đàm phán có là khả thi– thường mô tả ông Johnson như là một nhà lãnh đạo vốn là người kém thích hợp cho mức độ to lớn của thách thức mà ông ta phải đối mặt ở Việt Nam. Những tác phẩm của họ giúp giải thích việc từ chối những cuộc đàm phán của ông Johnson và khuynh hướng của ông ta thiên về việc dựa vào những biện pháp quân sự để gìn giữ vị thế Hoa Kỳ.
Không một nhà sử học nào nhìn thấy ông Johnson như chịu trách nhiệm một mình cho chiến tranh, khi tất cả họ đều có nhận thức về những hạn chế mà theo đó ông ta hoạt động. Họ chê trách vai trò lãnh đạo của ông ta, tuy nhiên trên nhiều lý lẽ: một cam kết không bị phê phán cho tư duy về Chiến tranh Lạnh và sự thiếu hiểu biết tương xứng về lịch sử Việt Nam để tìm thấy chính trị; một mối bận tâm với chính trị trong nước; một quá trình ra quyết định vốn tránh né sự xem xét đầy đủ về những thách thức chính trị-quân sự ở Việt Nam. Tiêu biểu cho quan điểm này là sự đánh giá của Michael Hunt trong cuốn sách “Chiến tranh của Lyndon Johnson” (Lyndon Johnson’s War). Trong khi nhận thức rằng Việt Nam “cũng là một cuộc chiến tranh của Mỹ, một cuộc viễn chinh cấp quốc gia mà những nguồn tài lực của nó vượt quá một người đàn ông,” ông Hunt tiếp:

Lyndon Johnson phải mang lấy trách nhiệm trước đó cho Chiến tranh Việt Nam. Ông ta tiến đến một quyết định tự tin vào tháng Bảy 1965 của ông ta trong niềm tin Chiến tranh Lạnh của mình, là những lý tưởng dân tộc chủ nghĩa, và quy tắc của đức tính man giới của mình.

p68

Ông ta cố ý tiến hành, qua việc suy xét những rủi ro mà ông ta gặp phải trong việc tìm cách minh oan cho những lý tưởng ởViệt Nam. Ông ta phần lớn hành động thiếu hiểu biết về chính đất nước Việt Nam và chỉ với sự hâm nóng thỏa thuận của công chúng. Đó là điều dễ dàng trong việc nhìn lại quá khứ để nhìn thấy tầm cỡ của những sai lầm của ông ta và điểm mặt vào tội lỗi.26

Trong hầu hết các tác phẩm của phe chính thống, ông Johnson thì ở trung tâm của việc leo thang tham gia về quân sự.27 Mặc dù ông Johnson nêu bật quyết tâm hoàn tất những mục tiêu của người tiền nhiệm của mình –“để cho Hoa Kỳ tiếp tục” là một điệp khúc quen thuộc của ông Johnson trong gian đoạn 1963–64– ông bởi khí chất là một nhà lãnh đạo hiếu động, một “người hành động” vốn là người nhất quyết thúc đẩy chương trình nghị sự của mình. Trong các cuộc họp với các vị cố vấn về tình hình Việt Nam ngay sau khi vụ ám sát ông Kennedy, ông Johnson “nắm lấy trách nhiệm” và khẳng định điều gì đó mà một trong số họ nhìn thấy như là một “giai điệu của ông Johnson” –một sự di chuyển hướng đến sự nương tựa to lớn hơn vào những biện pháp quân sự. Giống như ban lãnh đạo quân sự, ông Johnson xem tội đồng lõa trong việc lật đổ ông Diệm như là một sai lầm, qua việc chuyển hướng sự chú ý khỏi cuộc đấu tranh quân sự. Như là một vị Phó Tổng thống, ông Johnson đã từng đến thăm miền Nam Việt Nam vào năm 1961 và đã từng trở nên thuyết phục rằng ông Diệm đưa ra niềm hy vọng tốt nhất cho việc xây dựng một chính phủ khả thi. Từ thời điểm mà ông ta trở thành tổng thống, ông Johnson khẳng định rằng sự cố gắng chính yếu phải là quân sự: “để thắng chiến thắng.” Không lâu sau đó, ông Johnson phê chuẩn một chương trình của những hoạt động quân sự bí mật và việc thu thập tình báo được tiến hành trực tiếp ở miền Bắc Việt Nam. Vào năm 1964, trong khi liên tục thúc ép người miền Nam Việt Nam chiến đấu một cách hiệu quả hơn nữa, ông Johnson làm tăng thêm sức mạnh cho sứ mệnh quân sự của Hoa Kỳ. Một “đội quốc gia” mạnh mẽ được đưa vào. Ông Johnson phong chức một vị Tướng nổi tiếng Maxwell Taylor như là một vị Đại sứ Hoa Kỳ, vì thế tăng cường sự nhấn mạnh về quân sự; và Tướng William Westmoreland được bổ nhiệm là vị Tổng tư lệnh của Bộ Chỉ huy Trợ giúp Quân sự của Hoa Kỳ.
Năm bầu cử mang tính chất chính trị khiến ông Johnson kết hợp sức mạnh với sự kiềm chế. Biến cố Vịnh Bắc Bộ tạo cơ hội cho ông Johnson khởi động một cuộc không kích trả đũa chống lại Bắc Việt và có được sự ủng hộ của quốc hội cho một giải pháp bằng “ngân phiếu trống” nghị quyết “trắng kiểm tra” để đổi mới chiến tranh nếu cần thiết. Việc giải quyết của ông ta về tình hình khủng hoảng này giành được sự ca ngợi rộng rãi cho việc chứng minh cách giải quyết của người Mỹ theo một phong cách thận trọng đắn đo. Điều nầy làm bớt căng thẳng những lời chỉ trích của ứng cử viên đảng Cộng hòa, Thượng nghị sĩ Barry Goldwater, rằng ông Johnson thì “yếu đuối” về vấn đề Việt Nam và cho phép ông Johnson ra tranh cử như là một “ứng cử viên cho hòa bình.” Ông Johnson bảo đảm với những người Mỹ rằng ông ta “sẽ không gởi đi những chàng trai Mỹ chín hoặc muời ngàn dặm xa nhà để làm điều gì mà những chàng trai Á châu nên làm cho chính mình.”28
Tuy thế, sau khi thắng cuộc bầu cử trong sự chiến được số phiếu to lớn, ông Johnson bắt đầu trở lại sự thúc đẩy thiếu kiên nhẫn của mình cho giải pháp của vấn đề Việt Nam qua những khởi đầu về quân sự. Điều này đi đến chống lại hiện trạng của sự bất ổn đang tiếp tục trong chính quyền miền Nam Việt Nam, sự vô hiệu quả của Quân đội Việt Nam Cộng hòa, và của những cuộc tấn công đang dâng cao của Việt Cộng chống lại các căn cứ Mỹ.

p69

Vào ngày 30 tháng Mười Hai, ông Johnson viết cho ông Taylor, chủ yếu về việc đòi hỏi sự tiến hành quân sự rộng lớn hơn nhiều:

Mỗi lần tôi nhận được một đề nghị về quân sự, điều đó dường như đối với tôi rằng nó kêu gọi cho việc thả bom trên quy mô lớn. Tôi chưa bao giờ cảm thấy rằng chiến tranh này sẽ được thắng lợi từ không lực, và điều đó dường như đối với tôi rằng điều gì đó thì cần đến nhiều hơn nữa và sẽ hiệu quả hơn, là việc sử dụng to lớn hơn và mạnh mẽ hơn… sức mạnh quân sự thích hợp trên mặt đất và trên hiện trường. Tôi sẵn sàng mong đợi với sự ủng hộ to lớn về kiểu nỗ lực gia tăng của Mỹ, trực diện với những quân du kích và nhắm mục đích làm khó khăn hơn sự gây hấn của các đơn vị quân đội Việt Nam… Bất kỳ đề nghị nào mà bạn hoặc Tướng Westmoreland thực hiện theo ý nghĩa này sẽ có sự chú ý tức thời từ tôi, mặc dù tôi biết rằng điều đó có thể liên quan đến sự chấp nhận hy sinh lớn hơn của Mỹ. Chúng tôi đã từng xây dựng sức mạnh của mình để chống lại loại chiến tranh này kể từ năm 1961, và chính tôi sẵn sàng gia tăng đáng kể số lượng những người Mỹ ở Việt Nam nếu đó là điều cần thiết để cung cấp loại lực lượng chiến đấu nầy chống lại Việt Cộng.29

Đúng như lời của ông ta, ông Johnson phê duyệt những yêu cầu cho việc leo thang vào những tháng theo sau. Việc tung ra chiến dịch Sấm Vang, sự giới thiệu về những quân lính chiến đấu đầu tiên –tóm lại là, việc Mỹ hóa chiến tranh dần dần– bắt nguồn một cách hợp lý từ sáng kiến của ông Johnson. Quả thật, khi ban lãnh đạo quân sự dường như đang chuyển động quá chậm chạp, ông Johnson nói với vị tổng tham mưu quân đội vốn là người đã đang đi đến Việt Nam cho việc xem xét tình hình: “Ông không cho tôi bất cứ ý kiến nào và bất kỳ giải pháp nào cho cái đất nước không có giá trị bé nhỏ chết tiệt này. Bây giờ, tôi không cần mười tướng lãnh đến đây mười lần và bảo tôi thả bom. Tôi muốn có một vài giải pháp. Tôi muốn những câu trả lời. Ông đang khiến mọi việc sôi sục, Đại tướng.”30 Không có gì đáng ngạc nhiên, Bộ Chỉ huy Kết hợp chẳng bao lâu đưa ra đề nghị cho một sứ mệnh quân sự được mở rộng bao quát.
Những khởi đầu của ông Johnson phản ảnh một sự hội tụ của chính trị quốc tế và trong nước. Ông ta chấp nhận một cách tâm đắc sự bắt buộc của học thuyết ngăn chận, qua việc tin rằng Việt Nam là một “thử nghiệm” khác của cách giải quyết của Mỹ và rằng sự thất bại bám giữ vị thế của Mỹ ở miền Nam Việt Nam sẽ phá ngầm sự tín nhiệm của quốc gia. Trong khi thừa nhận sự yếu kém của chính quyền Sài Gòn, ông tin rằng sức mạnh của Hoa Kỳ có thể bảo đảm sự sống còn của nó. Về mặt trận ở quê nhà, tham vọng vượt trội của ông Johnson là đạt được một chương trình cải cách tự do theo truyền thống của Franklin Roosevelt; ông ta muốn được nhớ đến như là một vị Tổng thống vốn là người sử dụng những nguồn tài lực của chính phủ liên bang để nâng cao những cuộc sống của người nghèo và những người bị tước quyền công dân. Đạo luật Dân Quyền của năm 1964 và Đạo luật Quyền bầu Cử của năm 1965 chuyển đổi tư cách pháp lý của những người Mỹ gốc Phi châu, và ông Johnson hình dung ra sự việc đang tiếp tục diễn ra từ đó để phát động một cuộc Chiến tranh về Nghèo đói. Ông ta hứa sẽ xây dựng một Đại Xã hội qua các chương trình về việc đổi mới đô thị, những cơ hội giáo dục được nâng cao và phúc lợi xã hội.

p70

Ông Johnson tin tưởng rằng hai cuộc chiến tranh –về sự nghèo đói ở quê nhà và trong các khu rừng già của Việt Nam– là một và giống nhau, cả hai đều dựa vào một niềm tin trong sự cải cách tự do để biến đổi những cuộc sống của tất cả mọi người. Lloyd Gardner viết trong cuốn sách “Trả bằng mọi Giá” (Pay any Price) rằng ông Johnson cho rằng “những cam kết đang củng cố lẫn nhau, qua việc thấm nhuần niềm tin vào sự lãnh đạo của ông ta và vì thế bảo đảm vinh quang của chương trình Đại Xã hội ở quê nhà và nước ngoài.”31 Trên một mức độ chính trị, ông Johnson lo ngại những hậu quả trong nước “làm mất” miền Nam Việt Nam. Nhớ lại Tổng thống Harry Truman đã từng bị chỉ trích như thế nào bởi phe bảo thủ vì việc “mất” Trung Quốc cho chủ nghĩa cộng sản vào năm 1949, ông Johnson quyết định tránh một phản ứng tương tự. “Bài học” thật rõ ràng: những người Mỹ sẽ từ chối một vị Tổng thống vốn là người không kiên quyết. Và, dĩ nhiên, việc gây suy yếu hơn chức vụ tổng thống của ông ta cũng sẽ diệt vong chương trình Đại Xã hội. Trong cuốn sách “Những cuộc Chiến tranh Việt Nam” (The Vietnam Wars), Marilyn B. Young quan sát cách ông Johnson nhìn thấy tình thế tiến thoái lưỡng nan của mình như thế nào:

Việt Nam là một cây tầm ma lớn mà ông Johnson nắm lấy bằng cả hai tay. Điều gì ông ta thực sự muốn, ông ta nhiều lần đã nói vào thời điểm đó và từ đó về sau đó, là tập trung vào việc cải cách trong nước về các quyền dân sự và phúc lợi xã hội. Thay vì, ông tìm thấy mình phải có trách nhiệm với cuộc chiến tranh, ông ta tuyên bố rằng ông ta không thể từ bỏ… Phàn nàn rằng ông ta có thể không thể làm khác hơn, ông Johnson đã chọn chiến tranh, những sự xác định của một người mà ông ta không bao giờ đặt câu hỏi. “Việc thất bại chương trình Đại Xã hội là một ý nghĩ khủng khiếp,” ông ta nói với một người viết tiểu sử, “nhưng không khủng khiếp như ý nghĩ chịu trách nhiệm cho việc thất bại cuộc chiến tranh của Mỹ cho những người cộng sản. Không có gì tồi tệ hơn điều đó.”32

(Cây tầm na gai nầy là một loại phổ thông)

Larry Berman trong cuốn sách “Việc lên kế hoạch một Chiến lược” (Planning a Tragedy) đặt ra điều đó một cách ngắn gọn: ông Johnson tiến hành chiến tranh vì sợ hãi “rằng việc đánh mất Việt Nam vào mùa hè năm 1965 sẽ phá hỏng kế hoạch của ông ta cho chương trình Đại Xã hội thực sự.”33
Bị thuyết phục về sự cần thiết để di chuyển về phía trước, ông Johnson điều động một hệ thống ra quyết định. Khi ông ta gia tăng đều đặn mức độ sức mạnh quân sự, ông Johnson và các vị cố vấn chính yếu của mình –đáng chú ý là vị Ngoại trưởng Rusk, vị Cố vấn An ninh Quốc gia McGeorge Bundy, và vị Bộ trưởng Quốc phòng McNamara (gạt sang một bên những nghi ngờ của mình về việc chiến đấu ở Việt Nam)– giả định rằng ở một vài mức độ leo thang của Mỹ, Bắc Việt Nam sẽ chấp nhận sự vô ích của việc tiếp tục “cuộc xâm lược” của nó chống lại miền Nam Việt Nam. Và Việt Cộng, bị tước đoạt sự hỗ trợ của miền Bắc, sẽ “khô héo trên dàn nho,” vì thế cho phép chính phủ Sài Gòn trở thành một thành lũy chống-chủ-nghĩa-cộng-sản, cân bằng sức mạnh của cộng sản Bắc Việt. Điều này dẫn đến một khuynh hướng trong những nhóm làm ra chính sách nhằm giảm đến mức tối thiểu khả năng của các lực lượng cộng sản và sức mạnh của Việt Cộng trong số dân cư nông thôn. Vì vậy, những quyết định rất quan trọng của ông Johnson tránh bất kỳ sự kiểm tra theo hệ thống của các giả định về những mục tiêu của Hoa Kỳ hoặc sự xem xét về những lựa chọn thay thế khác; trong các cuộc thảo luận về Việt Nam, ông ta đặt gánh nặng của việc chứng minh vào phe ủng hộ hòa bình của mình, nhưng không bao giờ vào phe hiếu chiến của ông ta, là các vị cố vấn. Điều này dẫn đến một biện pháp không có tính hệ thống về việc ra quyết định mà những kết quả của nó được sắp đặt trước.

p71

Vì vậy, vào giữa tháng 7 năm 1965 khi ông Johnson ra lệnh cho việc “đánh giá chính sách” toàn diện, thuộc bí mật hàng đầu, điều đó trở thành một quá trình gần như không mạch lạc; “một dòng nước xoáy khổng lồ của những khuyến nghị và những phân tích chính sách… chỉ đơn giản trôi qua vị Tổng thống.”34 Những quan chức phe “bồ câu” vốn là những người lập luận về sự kiềm chế, qua việc tranh luận rằng Hoa Kỳ không thể đạt được những mục tiêu của mình qua những biện pháp quân sự, được “nghe” đến trên danh nghĩa, nhưng những mối quan tâm của họ không được đưa ra cho việc suy xét nghiêm túc. Được dẫn đầu bởi George Ball, họ cảnh cáo rằng Việt Nam sẽ trở thành một nơi bòn rút trên những nguồn tài lực và uy tín và sẽ phân rẻ quốc gia. Một số đồng nghiệp cũ của ông Johnson trong Thượng viện –đáng chú ý là Mike Mansfield, Richard Russell, J. William Fuibright– cũng đã cố gắng để hạn chế sự di chuyển hướng tới chiến tranh. Ở trọng tâm của sự bất đồng giữa các vị cố vấn “diều hâu” và “bồ câu” vào năm 1965 là một sự khác biệt trên những liên quan mật thiết của sự bất ổn ở Sài Gòn. Đối với những người thuộc phe diều hâu, Hoa Kỳ phải can thiệp để cứu lấy miền Nam Việt Nam khỏi sự sụp đổ. Đối với những người thuộc phe bồ câu, sự yếu kém của miền Nam Việt Nam –không kể đến 10 năm viện trợ của Mỹ– trở thành một lý do để thoát ra. Ông Mansfield nói với ông Johnson rằng Hoa Kỳ chỉ đang hỗ trợ quân đội, nhưng không có một chính phủ thực sự ở Sài Gòn.
Trong cuốn sách “Một thời cho chiến tranh” (A Time for War), Robert Schuizinger thảo luận về những tiếng nói đó về sự hạn chế là điều tiên đoán như thế nào và cũng như khó khăn như thế nào trong năm 1965 đối với các nhà lãnh đạo Mỹ nhận thức được về sự thất bại:

Nhìn lại quá khứ, rõ ràng là ông Ball và những người bên ngoài như John Kenneth Galbraith thì đúng khi họ lập luận rằng hầu hết các vị cố vấn của ông Johnson đã nói quá tầm quan trọng của Việt Nam đối với Hoa Kỳ. Bất cứ điều gì trả cho sự tín nhiệm của Mỹ sẽ theo sau một cuộc bại trận của chính phủ Việt Nam thân Mỹ, thì ít hơn nhiều so với cái giá cuối cùng được trả bằng máu, của cải, và sự hài hòa trong nước của người Mỹ bị gây ra bởi việc Mỹ hóa chiến tranh. Hình ảnh này, quá rõ ràng sau năm 1968, ngoài cơn ác mộng tiềm năng vào năm 1965. Ông Johnson và một vài người trong số những vị cố vấn của ông ta lờ mờ nhận ra một số trong những hiểm nguy, nhưng họ không tin những kết quả tồi tệ nhất có thể xảy ra… [Không] có gì thảm khốc như kinh nghiệm Việt Nam đã từng xảy ra trước đây trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, vì vậy tại sao những người rao truyền tư tưởng bi quan thì đúng lúc bấy giờ?… Trong khi kinh nghiệm của mười năm trước đây ở Việt Nam khiến cho các nhà hoạch định chính sách tạm dừng, những thành công của họ ở những nơi khác trên thế giới trong Chiến Thế thứ II và thời kỳ đầu của Chiến tranh Lạnh đã cho họ một cảm giác gần như vô địch. Gần như tất cả các vị cố vấn cao cấp của ông Johnson vào năm 1965 tin rằng tốt hơn là làm một điều gì đó –gần như như bất cứ điều gì– để giải quyết một vấn đề khó khăn hơn là thừa nhận rằng hành động của Mỹ sẽ không làm cho mọi việc tốt hơn.35

Quả thật, trạng thái tâm lý “có-thể-làm” đó –“để làm một cái gì đó”– cũng dẫn đến một sự thất bại để suy xét một cách đầy đủ sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ như thế nào có thể được sử dụng một cách hiệu quả nhất. Vì vậy, ông Johnson và các sĩ quan dân sự khác chỉ đơn giản giả định rằng Hoa Kỳ, bằng cách sử dụng sức mạnh rộng lớn của nó theo một cách thức sáng suốt và qua sự leo thang dần dần, sẽ “siết chặt” đối phương một cách gia tăng liên tục.

p72

Như ông Johnson diễn đạt về việc đó, ông ta sẽ làm điều gì cần thiết, nhưng chỉ là điều gì cần thiết để đạt được những mục tiêu của mình. Trong cuốn sách “Cuộc chiến tranh Dài nhất của Mỹ” (America’s Longest War), George Herring phân tích những câu hỏi nghiêm túc chưa được trả lời trong quyết định đi đến chiến tranh:

Như chính bản thân ông Johnson đã từng dự đoán, việc bước vào chiến tranh sẽ dễ dàng nhiều hơn so với việc thoát ra. Những quyết định của chính quyền vào năm 1964 và 1965 được dựa trên hai tính toán sai lầm chết người. Trong việc tìm kiếm để làm điều gì đó sẽ “đủ nhưng không quá nhiều,” vị Tổng thống và các vị cố vấn không bao giờ phân tích bằng bất kỳ sự chính xác thực tế nào về việc bao nhiêu sẽ là đủ… Những quyết định xảy ra trong một khoảng trống chiến lược, là việc xem xét phớt qua được đưa ra cho sự trình bày rõ ràng chính xác về các mục tiêu, và làm cách nào sức mạnh của Mỹ có thể được sử dụng tốt nhất để đạt được những mục tiêu đó. Là những nhà lãnh đạo của một quốc gia mạnh mẽ nhất trong lịch sử thế giới, nhiều quan chức Hoa Kỳ không thể nhận thức được rằng một đất nước nhỏ bé, lạc hậu, có thể đứng lên chống lại họ… Sự tính toán sai lầm những phí tổn mà Hoa Kỳ sẽ phải chịu, Chính quyền không thể giúp đỡ gì ngoài việc đánh giá quá cao sự sẵn sàng của quốc gia để trả… Ông Mansfield [cảnh cáo ông Johnson] … rằng Quốc hội và dân tộc ủng hộ ông ta vì ông ta là Tổng thống, không phải bởi vì họ hiểu hoặc dự sâu vào chính sách của ông ta ở Việt Nam, và rằng có sự bối rối khó hiểu bám lại bên dưới bề mặt sự kiện và sự không chắc chắn mà qua đó có thể bùng nổ theo thời gian tạo thành sự chống đối công khai.36

Như ông Herring đề nghị, việc lập kế hoạch cho chiến tranh thì thiếu soát kinh khủng. Vì tin rằng ông ta có thể có cả “súng và bơ” –mà chương trình Đại Xã hội có thể được xây dựng ở quê nhà và cuộc chiến tranh có thể thắng được– ông Johnson hạ thấp những phí tổn của vai trò chiến đấu vô thời hạn của Mỹ ở Việt Nam. Khi việc leo thang được lên kế hoạch, Nhà Trắng không thông báo cho Quốc hội, các quan chức ngân sách, và những người khác về tình trạng căng thẳng sắp xảy ra trên những nguồn tài lực. Những chương trình tốn kém của Đại Xã hội sau đó được bổ sung và những mệnh lệnh quân sự được gia tăng bao quát của Lầu Năm Góc dẫn đến tình trạng đun nóng quá mức nền kinh tế. Mức ảnh hưởng đến năm 1966 là những sự thâm hụt ngân sách và lạm phát, mà qua đó làm tê liệt một nền kinh tế mạnh mẽ của đầu thập niên 1960s.37
Trong buỗi diễn thuyết về các câu hỏi nằm trong trọng tâm của sự di chuyển hướng đến chiến tranh giữa thời gian năm 1961 và 1965, các sử gia gặp phải những sự xét đoán khó khăn. Tất cả nhận biết rằng ông Kennedy, ông Johnson, và các quan chức khác bị ảnh hưởng bởi những áp lực mạnh mẽ về ý thức hệ và thể chế đang tăng trưởng từ Chiến tranh Lạnh, mà qua đó đã hạn chế những phần lựa chọn của họ. Các nhà lãnh đạo luôn luôn hoạt động trong phạm vi một vài cưỡng ép nào đó, nhưng họ cũng được kỳ vọng thực hiện những lựa chọn khó khăn. Sau hết, trách nhiệm cuối cùng của họ là làm những quyết định vốn bảo đảm vấn đề an ninh của quốc gia. Vì vậy, những người ủng hộ về những lựa chọn thay thế khác –“tính chất biệt lệ của ông Kennedy” và “những cơ hội bỏ lỡ”– nhấn mạnh tầm quan trọng và trách nhiệm của vai trò lãnh đạo và sự lựa chọn của Tổng thống, trong khi những người hoài nghi về các lựa chọn thay thế khác có khuynh hướng nhìn về những sự thúc ép trong nước và quốc tế –một khái niệm về “vũng lầy”– như việc hạn chế quyền rộng rãi hiện có đối với ông Kennedy và ông Johnson.

p73

Cuộc tranh luận về “tính chất biệt lệ của ông Kennedy” trong số các nhà sử học thuộc phe chính thống đề cập trực tiếp đến những tiếng tăm lịch sử của ông Kennedy và ông Johnson. Nó trân trọng ông Kennedy như là một chính khách vốn là người có thể tránh được một cuộc chiến tranh thảm khốc và nhấn mạnh rằng ông Johnson như là một lực tác động cho chiến tranh –“con diều hâu” không phải là một “chiến binh miễn cưỡng.” Việc trình bày về “sự tiếp tục,” tuy nhiên, nhìn thấy một trách nhiệm chia sẽ cho chiến tranh, với cả hai nhà lãnh đạo có phần lựa chọn giới hạn, với sự lựa chọn của ông Johnson tạo nên tất cả phần nhiều hơn như thế bởi vì vai trò của ông Kennedy trong việc dấn sâu thêm sự tham gia của Mỹ. Tóm lại, họ chê trách những quyết định của cả hai vị Tổng thống cho việc dẫn đến cuộc chiến tranh “sai lầm.”
Việc thoát ra khỏi Việt Nam vào năm 1965, như được thúc đẩy trên ông Johnson bởi các vị cố vấn thuộc phe bồ câu của mình, sẽ rất khó khăn. Trong cuốn sách của họ “Cách suy nghĩ theo Thời gian” (Thinking in Time), nhà khoa học về chính trị, Richard Neustadt và sử gia Ernest May khảo sát sự quyết định của ông Johnson và tìm thấy những phần lựa chọn của ông ta bị hạn chế. Họ tìm thấy rằng ông Johnson không thể hợp lý hóa một trong hai việc rút lui hoặc một cuộc chiến tranh với quy mô lớn chống lại miền Bắc Việt Nam (như một số sĩ quan quân đội và tình báo cố gắng thuyết phục), họ viết: “Thật ra, càng thường xuyên hơn chúng tôi xem xét lại trường hợp, càng khó khăn hơn chúng tôi tìm thấy nó để giải thích cho người dân Mỹ lý do tại sao ông ta đang bỏ rơi những người đồng minh Việt Nam của JFK(pc 08) hoặc, một cách khác hơn, lý do tại sao ông đang bắt đầu một cuộc chiến tranh dốc hết toàn lực chống lại Hà Nội vì điều gì xảy ra ở Sài Gòn.”38
Điều đó có thể đúng, nhưng các nhà phê bình về ông Johnson sẽ trả lời rằng ông ta quá bị thúc ép, phần lớn bởi vì kể từ tháng Mười Một năm 1963, ông ta đã từng gia tăng một cách đều đặn sự tham gia của Mỹ và như là một hệ quả sinh động vào năm 1965 với những phân nhánh của các hành động khiếm khuyết của mình. Ông May và ông Neustadt thực sự tiếp tục đề nghị rằng ông Johnson đã có một biện pháp khả thi về việc thoát ra khỏi Việt Nam vào năm 1965: “Một lựa chọn khác của LBJ(pc 08) là một lựa chọn gần như không được gợi ý gì cả thậm chí bởi ông Ball, cụ thể là một sự kiện gậy ông đập lưng ông khác của năm 1963: qua việc bày ra một sự thay đổi của chế độ ở Sài Gòn, nhưng lần nầy mang lại một bè phái vốn sẽ kêu gọi cho sự trung lập và việc rút quân của Mỹ.”39
Dù bất cứ những sự lựa chọn thay thế về chính trị-quân sự và bối cảnh chính trị như thế nào mà trong đó họ hóa giải từ năm 1961 đến 1965, những quyết định của các nhà lãnh đạo Mỹ dẫn đến sự thất bại khủng khiếp nhất trong lịch sử Mỹ. Không một nhà lãnh đạo nào muốn được nhớ đến như là một “người thua cuộc,” nhưng đôi khi nổi lo sợ về tai tiếng đó có thể dẫn đến những quyết định thiếu cân nhắc. Một số ít quan chức Mỹ vượt qua khỏi kinh nghiệm Việt Nam với những tầm vóc tiến triển được nâng cao, như chúng ta được nhắc nhớ trong cuộc tranh luận về những di sản của ông Kennedy và ông Johnson.

G- Lý luận của phe Xét lại: Sự thất bại Xây dựng trên Sức mạnh:

Việc thách thức sự trình bày thông thường về một tình huống đang vượt dần dần khỏi tầm kiểm soát vì tính chất không thích hợp của hình ảnh về những sự phát triển của miền Nam Việt Nam vào đầu thập niên 1960s là luận điểm của phe chính thống mà qua đó Hoa Kỳ chịu trách nhiệm cho sự bất ổn dẫn vốn dẫn đến chiến tranh.

p74

Bài viết tường thuật của phe xét lại nhấn mạnh việc Hoa Kỳ ngầm phá chính phủ miền Nam Việt Nam và để lại một nước đồng minh của mình dễ bị tổn thương như thế nào. Theo sự trình bày này, chính quyền ông Diệm tạo ra sự tiến triển đáng kể trong suốt thời gian cuối thập niên 1950s và thuận lợi trên con đường của nó đi đến việc thiết lập quyền kiểm soát vững chắc trên đất nước, nhưng nó là một tính chất không thích hợp đối với Mỹ, qua việc bắt đầu với một quyết định được hướng dẫn sai lầm nhằm thay thế ông Diệm và việc tiếp tục với sự thiếu cách giải quyết khi bị thách thức bởi cuộc xâm lược của Bắc Việt, mà qua đó dẫn đến sự hỗn loạn chính trị-quân sự của năm 1965. Tóm lại, một chính sách thực tế hơn của Hoa Kỳ sẽ bảo tồn và xây dựng trên thành tựu của ông Diệm.
Đối với Mark Moyar, tác giả của bài viết tường thuật hoàn toàn nhất của phe xét lại trong thời kỳ này, đó là một “niềm vui chiến thắng bị từ bỏ”40 Điều đó cũng có thể được dán nhãn là một “chiến thắng bị mất” –Lần đầu tiên trong hai lần khi những người xét lại tin rằng Hoa Kỳ thất bại trong việc khai thác những thế mạnh của chính phủ và quân đội miền Nam Việt Nam, một “chiến thắng bị mất” lần thứ hai xảy ra trong chính quyền của Richard Nixon. Ngoài ra, cuốn sách “Niềm vui Chiến thắng bị Từ bỏ” (Triumph Forsaken) của ông Moyar, một quan điểm của phe xét lại vào đầu thập niên 1960s cũng được phản ảnh trong cuốn sách “Màn mở đầu cho Bi kịch: Việt Nam, 1960–1965” (Prelude to Tragedy: Việt Nam, 1960–1965) một tác phẩm được chỉnh sửa mà qua đó cung cấp cho những bài tường thuật của người Mỹ và miền Nam Việt Nam vốn là những người tham gia trong những cố gắng xây dựng quốc gia và trong cuốn sách “Kinh nghiệm Đông Dương của người Pháp and Mỹ” (The Indochinese Experience of the French and the Americans) của Arthur Dommen, mà qua đó nhấn mạnh Mỹ vô tình phá ngầm những người theo chủ nghĩa dân tộc chống-chủ-nghĩa-cộng-sản ở Việt Nam, Lào, và Cam-pu-chia.41
Để thêm chi tiết, bài viết tường thuật về “Chiến thắng bị mất” dựa trên nhiều điểm. Thứ nhất, chính quyền miền Nam Việt Nam trong suốt thời gian cuối thập niên 1950s và đầu thập niên 1960s đang chiến thắng cuộc đấu tranh của mình với những người cộng sản . Nó thành lập quyền kiểm soát vững chắc trên vùng nông thôn miền Nam Việt Nam. Sự trỗi lên của cuộc nổi dậy của Việt Cộng và chương trình khủng bố và ám sát của nó vào cuối thập niên 1950s “đã không thay đổi thực tế rằng những người Cộng sản bám lấy gần như không có quyền lực trong những làng mạc của miền Nam Việt Nam” –một điểm được thừa nhận trong các tài liệu của cộng sản ở giai đoạn 1959–60 mà qua đó nhấn mạnh đến việc chính quyền Sài Gòn đã từng thành lập quyển kiểm soát một cách hoàn toàn như thế nào.42 Trong suốt đầu thập niên 1960s, chính quyền ông Diệm củng cố sức mạnh Quân đội của mình và xây dựng Chương trình Ấp chiến Lược trở thành một phương tiện cho công cuộc bình định lâu dài. Điều nầy nâng cao quyền kiểm soát của vùng nông thôn.
Trái ngược với những bài tường thuật của phe chính thống mà qua đó nhìn thấy ông Diệm là một nhà lãnh đạo cách biệt và thiếu sự ủng hộ ở những khu vực nông thôn, ông Dommen viết về một nhà lãnh đạo vốn là người thích thú việc thăm viếng những làng mạc và việc nói chuyện với các nhóm nhỏ của giới nông dân “về những vấn đề thiết thực và ăn uống đơn giản với một số ít những người lớn tuổi trong làng.” Những chuyến đi cho thấy “sự quan tâm chú biệt của ông ta trong các vấn đề địa phương ở nông thôn,” mà qua đó ông ta có “đầy những ý tưởng và những đề nghị ngay tại chỗ cho các công cuộc cải tiến,” và có một “bản chất thân thiện [vốn] là đặc tính người Việt.”43

p75

Những quan chức Mỹ, tuy nhiên, thất bại nhận ra một trong hai là tầm quan trọng hoặc các thành tựu của những chương trình nông thôn nầy. Trong phần kết luận của cuốn sách “Màn mở đầu cho Bi kịch” (Prelude to Tragedy), những biên tập viên của tập sách là Harvey Neese và John O’Donnell đã viết: “Chúng tôi tin rằng những chương trình này có hiệu quả trong việc giành được thắng lợi trên dân cư nông thôn và việc cô lập Việt Cộng, và, nếu được tiếp tục và mở rộng… có thể dẫn đến một kết quả khác biệt nhiều hơn ở Việt Nam.” Trách nhiệm nằm ở Washington; họ tiếp tục: “Thật không may, những chương trình này không ủng hộ, khi ông McNamara và các nhà hoạch định chính sách khác đặt sự nhấn mạnh ngày càng tăng vào các khía cạnh thuần túy quân sự của cuộc đấu tranh.”44

Thứ hai, chính quyền ông Kennedy, bị ám ảnh với các cuộc biểu tình chống đối của Phật giáo ở các thành phố –một sự kiện được kịch tính hóa quá độ bởi những phóng viên ngây thơ của Mỹ trong việc báo cáo của họ từ Sài Gòn– đã tạo nên một sự sai lầm rất quan trọng về việc lật đổ chính quyền ông Diệm . Sự sụp đổ của ông Diệm loại bỏ được một nhà lãnh đạo hiệu quả có khả năng trong việc xây dựng một miền Nam Việt Nam ổn định và vốn là người có thể làm như vậy mà không phải trở thành phụ thuộc vào sự tham gia quân sự đáng kể của Mỹ. Sự sai lầm to lớn của Mỹ được nhận ra bởi các nhà lãnh đạo ở Hà Nội. Hồ Chí Minh nói rằng ông ta ” ‘khó thể tin rằng những người Mỹ sẽ ngu ngốc đến thế’ “ và Bộ Chính trị Bắc Việt đã nhìn thấy trước rằng “không một nhà lãnh đạo nào [khác] có vốn quý và khả năng thích hợp về chính trị về chính trị ” để theo sau ông Diệm và sau cuộc đảo chánh “chính quyền tay sai không có thể được ổn định. Cuộc đảo chánh vào ngày 1 tháng Mười Một năm 1963 sẽ không phải là một cuộc đảo chánh cuối cùng.”45
Nhiều tác phẩm của phe xét lại tập trung vào sự quyết định định mệnh này. “Cái chết” tạo dựng hình ảnh một cách nổi bật trong những tựa đề của những tác phẩm này. Cuốn sách “Một cái chết trong Tháng mười một” (A Death in November), của Ellen Hammer, một học giả già dặn về Đông Dương từ thời Pháp thuộc, cuốn sách “Cái chết của một Thế hệ: Những vụ ám sát ông Diệm và ông JFK kéo dài Chiến tranh Việt Nam Như thế nào” (Death of a Generation: How the Assassinations of Diem and JFK Prolonged the Vietnam War) của Howard Jones, và cuốn sách “Hành động tự sát của một Tầng lớp Ưu tú” (The Suicide of an Elite) của Patrick Lloyd Hatcher, tất cả cho rằng mặc những lỗi lầm của ông ta, ông Diệm có một cảm giác tốt hơn về các vấn đề khó khăn và những lợi ích của miền Nam Việt Nam so với các nhà lãnh đạo bản địa khác và một cách chắc chắn tốt hơn người Mỹ. Đối với uy tín của ông ta, ông Diệm chống lại những nỗ lực của Mỹ nhằm vận động lôi kéo ông ta và chuẩn bị sẵn sàng theo đuổi một chiều hướng trung lập hơn hầu làm giảm bớt sự phụ thuộc của mình. Những người cộng sản khai thác và xâm nhập vào phong trào phản đối của Phật giáo mà qua đó thu hút sự chú ý rộng rãi ở Mỹ, bởi vì bản tin truyền thông chống-ông-Diệm một cách cố chấp được cung cấp bởi các nhà báo Tây phương cả tin ở Sài Gòn vốn là những người chán nản bởi sự bất lực của họ muốn hiểu rõ một xã hội vốn bất chấp những mong muốn của Mỹ. Những nhà phóng viên đó –là Neil Sheehan, Malcolm Brown, David Halberstam– tìm thấy ở ông Diệm như là một vật tế thần cho những vấn đề khó khăn của Mỹ. Cùng với Bộ Ngoại giao và các quan chức Tình báo Mỹ vốn là những người bày ra cuộc đảo chánh chống lại ông Diệm, họ vô tình giả định rằng sự ra đi của ông Diệm sẽ mang lại sự ổn định và tiến triển.46 Thật ra, cuộc đảo chánh thúc giục sớm hơn những tình trạng hỗn loạn về chính trị; như R.B. Smith quan sát, “có thể có ít nghi ngờ rằng yếu tố chính yếu trong tình trạng lụn bại (mà qua đó chắc chắn xảy ra đến giữa tháng Mười Hai [1963]) là bản thân cuộc đảo chính và những hậu quả chính trị của nó.”

p76

Cảm thấy phấn khởi bởi sự yếu kém ở miền Nam Việt Nam và được bảo đảm về sự hỗ trợ bởi các cường quốc cộng sản lớn, ông Smith tiếp tục, Bắc Việt thúc đẩy lợi thế của nó.47 Ông Hatcher, vốn là người nhấn mạnh đến hồ sơ rất có ấn tượng của chính quyền ông Diệm về sự tăng trưởng kinh tế ở các khu vực nông thôn và thành thị và chính bản thân ông Diệm là một nhà lãnh đạo có khả năng như thế nào về việc truyền cảm hứng niềm tự hào Việt Nam; sự ra đi của ông ta “phủ nhận tính hợp thức đối với đặc tính của Việt Nam về sự can thiệp của Sài Gòn.”48 Tương tự như vậy, ông Jones cho rằng cái chết của ông Diệm và ông Kennedy vào tháng Mười Một năm 1963 đánh dấu một “thời điểm bước ngoặt” cho nó loại bỏ nhà lãnh đạo hiệu quả nhất của miền Nam Việt Nam vốn là người có thể cung cấp sự ổn định và là vị Tổng thống vốn là người nhất định cố tránh sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ. Việc hỗ trợ cuộc đảo chánh là “chiến lược rất quan trọng” của chính sách về Việt Nam của ông Kennedy. Tuy thế, ông Jones (phản ảnh một chút về “tính chất biệt lệ của ông Kennedy”) tranh luận rằng những thế mạnh của ông Kennedy vốn làm cho ông ta hiệu quả hơn ông Johnson, chứng minh là thế. Cái chết của ông Diệm và ông Kennedy vì thế lên án Mỹ về một cuộc chiến tranh tốn kém và “cái chết của một thế hệ.”49

Thứ ba, việc nắm lấy cơ hội được phơi bày qua sự kiện lật đổ ông Diệm, Bắc Việt và Việt Cộng khai thác điểm dễ bị tổn thưong của miền Nam Việt Nam . Họ tăng cường các hoạt động quân sự, mong mỏi rằng sẽ mất hai đến ba năm để đạt được chiến thắng. Những người Mỹ không có ai để đổ lỗi ngoại trừ chính họ cho sự hỗn loạn theo sau cuộc đảo chính tháng Mười Một năm 1963. Ông Moyar viết: “Hai lần ở Việt Nam, những người Mỹ từ bỏ những thành công mà họ đã đạt được với phí tổn nặng nề về người và đô-la. Sự kiện đầu tiên xảy ra vào ngày 1 tháng Mười Một 1963 [khi ông Diệm bị lật đổ và ám sát.”50 Ông Neese và ông O’Donnell thấy rằng “với cái chết của Tổng thống Diệm, bộ máy chính phủ bắt đầu đổ vỡ… Việt Cộng nắm lấy cơ hội được phơi bày qua những lực lượng chính phủ không vững chắc và bị đánh trở lại một cách mạnh mẽ.” Tất cả trong số những thu hoạch ở những khu vực nông thôn chẳng bao lâu bị mất đi: “Với sự suy thoái về an ninh trong những khu vực nông thôn và sự mất tín nhiệm về các chương trình phản-nổi-dậy… Nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ bắt đầu suy nghĩ đến những phần về quân đội quy ước và sự cần thiết đảm nhận vai trò lãnh đạo cho các nỗ lực về việc phản-nổi-dậy từ người Việt.”51 Điều đó càng lúc gia tăng hiện diện của Hoa Kỳ và sự nhấn mạnh về quân sự sẽ ngầm phá hủy một cách nguy hại ý nghĩa về tính chất dân tộc của miền Nam Việt Nam mà ông Diệm đã từng nhọc nhằn cố gắng thiết lập.

Thứ tư, sự lưỡng lự và yếu đuối của ông Johnson, trong việc đối mặt với cuộc xâm lược của cộng sản, đã khuyến khích sự xâm lược lớn hơn, mà qua đó cuối cùng dẫn đến chiến tranh . Được phấn khởi hàng loạt các cuộc đảo chánh ở Sài Gòn trong suốt năm 1964 và đầu năm 1965, sự không hiệu quả tương ứng của Quân đội miền Nam Việt Nam, và sự do dự của Mỹ sử dụng sức mạnh của nó, Bắc Việt buộc ra những lá bài cuối cùng với Mỹ vào đầu năm 1965. Ông Johnson chỉ có chính bản thân mình để đổ lỗi. Ông ta chủ yếu lắng nghe các vị cố vấn dân sự của mình và riêng biệt là bị mê hoặc bởi ông McNamara, vốn là người không bao giờ chú ý nhiều đến những ý kiến của Ban tham Mưu kết Hợp.

p77

Trong khi ông Johnson tin tưởng một cách vững chắc rằng Việt Nam thì quan trọng về chiến lược, ông ta khăng khăng từ chối ứng dụng mức độ hỗ trợ quân sự mà tình hình đòi hỏi và ban lãnh đạo quân sự kiến nghị. Thích sử dụng hơn các phương cách hạn chế như là một biện pháp về sự chứng tỏ “cách giải quyết” của Mỹ được ảnh hưởng lan rộng bằng “sự kiềm chế,” ông ta đã thất bại đe dọa Bắc Việt và trong thực tế, “báo hiệu” một thông điệp trái ngược cho miền Bắc Việt Nam: không có ý muốn chiến đấu. Biến cố Vịnh Bắc Bộ chỉ mang lại một cuộc không kích trả đũa. “Nhưng trái lại, ban lãnh đạo thuộc dân sự của Mỹ nghĩ rằng một hành động mạnh mẽ chống lại miền Bắc sẽ khiến cho Bắc Việt tấn công miền Nam,” Moyar viết, “chính là việc thiếu hành động mạnh mẽ mà qua đó khuyến khích họ tấn công.”52 Và khi những người miền Bắc Việt Nam và Việt Cộng thực sự đẩy mạnh những cuộc tấn công sau đó vào năm 1964 bao gồm các cuộc công kích vào những căn cứ Mỹ và khách sạn Brinks ở Sài Gòn nơi mà chứa đầy những người Mỹ, ông Johnson không có hành động nào. Ông ta bằng cách đó “[đã] bỏ lỡ điều gì đó có lẽ là cơ hội cuối cùng để ngăn chận Bắc Việt từ việc thực hiện một cuộc tấn công mà chính quyền Sài Gòn, bị suy yếu một cách nghiêm trọng như nó là thế bởi sự thiếu đoàn kết và việc ngấm ngầm bao che của Phật giáo, sẽ không thể nào dừng lại.”53 Chỉ trong tháng Hai năm 1965 sau biến cố Pleiku ông Johnson cuối cùng thực sự tung ra cuộc thả bom miền Bắc Việt Nam, nhưng ngay cả điều đó việc sử dụng sức mạnh có những hạn chế. Việc gởi đi những quân lính bộ binh cho thấy sự táo bạo hơn, qua việc bắt đầu chỉ với một vài ngàn và chỉ là cho mục đích “phòng thủ” và sau đó dần dần leo thang những số lượng và sứ mệnh của họ. Sự thất bại tận dụng sức mạnh của Mỹ một cách đầy đủ và kiên quyết này sẽ tiếp tục trong cách tiến hành chiến tranh của ông Johnson từ năm 1965 đến 1968.
Vì vậy, theo những người chủ trương xét lại, các chính sách không thích hợp của chính quyền Kennedy và Johnson giữ giai đoạn năm 1961 và năm 1965 đã lót đường cho chiến tranh. Lập luận chính yếu của họ –mà qua đó việc lật đổ chính quyền ông Diệm cướp đi từ miền Nam Việt Nam một nhà lãnh đạo hiệu quả vốn là người đang xây dựng một nhà nước mạnh mẽ– trái ngược một cách sâu sắc với cách tranh luận của các sử gia phe chính thống rằng ông Diệm vào năm 1963 đã thất bại và không còn xứng đáng với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Trong khi thừa nhận rằng việc lật đổ ông Diệm dẫn đến sự bất ổn to lớn hơn, các sử gia phe chính thống cho rằng ông Diệm là một người trong số nhiều nhà lãnh đạo kém cỏi của miền Nam Việt Nam –một minh chứng cho sự vô ích hoàn toàn của nỗ lực xây dựng một chính phủ khả thi phi-cộng-sản.

H- Những đánh giá về Vai trò lãnh đạo của ông Diệm:

Những tác phẩm gần đây của hai nhà học giả –Philip Catton và Seth Jacobs– gắng sức tạo hình ảnh ông Diệm một cách khách quan và do đó họ giúp đỡ trong việc đánh giá điểm quan trọng này của cuộc tranh cãi.54

p78

Mặc dù những cách giải quyết khởi đầu của những cuốn sách của họ có sự khác nhau, ông Catton và ông Jacobs tìm thấy rằng ông Diệm không phải là một người chống đối vớ vẩn được mô tả trong một số bài tường thuật theo thói quen, cũng không phải là người có tầm nhìn xa không nản lòng của văn học thuộc phe xét lại. Những kết luận của họ, tuy nhiên, kiên quyết hỗ trợ cho vị thế của phe chính thống.
Như ông Catton và ông Jacobs nhấn mạnh, ông Diệm là một nhà dân tộc thực thụ với chương trình nghị sự của riêng mình cho việc xây dựng quốc gia, qua việc tìm kiếm như là một nhà lãnh đạo của miền Nam Việt Nam hầu xây dựng trên chiều hướng không-cộng-sản của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam vốn trở ngược thời gian đến đầu thế kỷ hai mươi. Xem hầu hết những lời khuyên của Mỹ khó có thể phù hợp, ông Diệm và Ngô Đình Nhu, người em trai và là người bạn thân tình gần gũi nhất, cương quyết làm giảm đi sự phụ thuộc vào Hoa Kỳ, mà qua đó chỉ có thể đạt được bằng cách xây dựng một nền tảng hỗ trợ mạnh mẽ khắp đất nước. Chế độ ông Diệm, tuy nhiên, gặp phải những trở ngại nghiêm trọng, hầu hết việc tạo ra của riêng nó, trong việc cố gắng thực hiện mục tiêu đó. Riêng biệt là, nó đánh giá thấp sự khó khăn về việc thu hoạch sự ủng hộ ở những khu vực nông thôn, tư tưởng hệ về dân tộc chủ nghĩa của nó thì mơ hồ và thiếu hấp dẫn, và các chương trình của nó thì không rõ ràng và kém thực thi. Sự thất bại tồi tệ nhất là Chương trình Ấp chiến Lược, chương trình cuối cùng và tham vọng nhất của những gắng sức xây dựng quốc gia của ông Diệm.
Cuối cùng, chính quyền ông Diệm thì không ngang sức, một trong hai có thể về hệ ý thức hoặc về tổ chức, đối với những người cộng sản, vốn là những người “không chỉ có kỷ năng và kinh nghiệm cao trong công việc huy động chính trị nhưng gây nguy hiểm một cách hữu hiệu trong việc khai thác điểm yếu của Sài Gòn.”55 Sự thiếu khả năng của ông Diệm mang lại với nhau các dân tộc của miền Nam Việt Nam đã nuôi dưỡng cuộc nổi dậy đang dâng lên của cộng sản và dẫn đến những khác biệt sâu sắc hơn bao giờ hết với Hoa Kỳ trên các phương pháp cần thiết để ổn định đất nước. Sự thất vọng với ông Diệm và các phương pháp đàn áp của ông ta chống lại các Phật tử khiến Mỹ bỏ rơi ông ta trong việc ủng hộ một nhà lãnh đạo dễ đáp ứng và đáng tin cậy hơn vốn là người sẽ chú ý lời khuyên của Mỹ. Điều đó chứng minh là điều không thực tế. Như ông Catton quan sát, những người Mỹ vào năm 1963 muốn tìm thấy “một loại những nhà lãnh đạo đúng nghĩa… [Nhưng] vấn đề khó khăn với cách giải quyết này [đó là]… sự qua đời của ông Diệm được thay thế bởi một ‘ban lãnh đạo tồi tàn không có vị thế lãnh đạo gì cả.”56
Với hàng loạt các cuộc đảo chánh sau sự sụp đổ của ông Diệm vào tháng Mười Một năm 1963 mà qua đó khiến cho Sài Gòn chín muồi cho việc chiếm lấy của cộng sản, Hoa Kỳ gánh vác thêm việc chiến đấu và, trong diễn tiến, sự hiện diện đông đảo của nó tràn ngập miền Nam Việt Nam. Mục tiêu ban đầu của một nhà nước Việt Nam đích thực bị đánh mất. Chiến lược Mỹ hóa xung đột vào năm 1965, ông Catton viết, “phơi bày một chủ nghĩa thực dân mới vốn không bao giờ nằm rất xa từ bề ngoài của cách giải quyết của Mỹ đến mối quan hệ giữa người bảo trợ-thân chủ với miền Nam Việt Nam.”57 Tuy thế, những hoàn cảnh vốn tạo nên sự can thiệp quân sự của Mỹ như là cách duy nhất để cứu hộ miền Nam Việt Nam khỏi quyền kiểm soát của cộng sản là một kết quả của chín năm lãnh đạo vô hiệu quả và những chương trình kém quản trị của ông Diệm.

p79

Ông Diệm thất bại xây dựng một nhà nước theo chủ nghĩa dân tộc phi-cộng-sản bởi vì những thiếu sót của riêng mình. Ông Jacobs chỉ trích một cách chặt chẽ:

Quy tắc độc quyền của Diệm dẫn đến tình trạng vô hiệu quả về quản trị và quan trọng hơn, là sự bất mãn lan rộng. Theo thời gian, ông Diệm gây mối thù nghịch với quân đội của đất nước mình, tài năng chính trị của nó, và phần lớn những người dân bình thường của nó. Ông ta phá hủy vai trò lãnh đạo bản địa ở các làng mạc của miền Nam Việt Nam… Ông ta gia tăng chiến dịch đàn áp chống lại thế đối lập có tiêm năng tại các khu vực đô thị và một chiến dịch tàn nhẫn chống lại mưu lật đổ ở nông thôn. Ông ta ra lệnh hành quyết, mai táng, hoặc trục xuất hàng ngàn những kẻ cảm thấy là “phản bội”… Khi cuộc thử nghiệm của ông Diệm nổ ra, miền Nam Việt Nam dễ bị cộng sản chiếm lấy hơn như nó đã từng trải qua một thập kỷ trước đó.58

Cuối cùng, những nghiên cứu cẩn thận của ông Catton và ông Jacobs vì thế tạo sự hỗ trợ cho cách giải thích của phe chính thống về sự qua đời của ông Diệm và ngầm phá luận điểm của phe xét lại về sự tiến triển của miền Nam Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ông ta.

Tóm lược :

Hơn bất kỳ khía cạnh nào khác về sự học hỏi uyên thâm qua chiến tranh, “nếu-trừ-khi” lịch sử chạy qua những quan điểm khác nhau về tình hình khủng hoảng đang dâng lên của giai đoạn 1961–65. Các học giả của phe chính thống và phe xét lại tin rằng Hoa Kỳ đã thất bại theo một cách nào đó vốn đã mang đến chiến tranh, mặc dù họ không đồng ý về sự cần thiết giữ lấy miền Nam Việt Nam. Theo sự giải bày của phe chính thống về “tính chất biệt lệ của ông Kennedy”, “nếu-trừ-khi” ông Kennedy còn sống, Hoa Kỳ sẽ thoát ra khỏi Việt Nam và chiến tranh sẽ được ngăn chận. Theo sự giải bày của phe chính thống về “những cơ hội bỏ lỡ”, “nếu-trừ-khi” ông Johnson đã chọn con đường của các cuộc đàm phán chứ hơn là dựa vào sức mạnh, ông sẽ ngăn chận những người Mỹ và Việt Nam khỏi chiến tranh. Và theo sự giải bày của phe xét lại về “chiến thắng bị mất”, “nếu-trừ-khi” Mỹ đã biết lợi dụng vào sức mạnh của miền Nam Việt Nam, đã đứng bên ông Diệm, và đã phản ứng một cách mạnh mẽ đối với những hành động chiến tranh ban đầu của Bắc Việt, sự dũng cảm và sức mạnh như thế sẽ buộc những người cộng sản thối lui.
Không có một lãnh vực nào về sự học hỏi uyên bác về chiến tranh lớn hơn sự kiện mất quân bình, đối với bài viết tường thuật của phe chính thống đã từ lâu chiếm ưu thế hơn những bài tường thuật về các sự kiện của năm 1961 đến 1965. Những người theo chủ trương xét lại đã tạo ra một trường hợp cho ông Diệm như là một lãnh tụ quốc gia, nhưng theo như các nghiên cứu gần đây nhấn mạnh, sự khôi phục lịch sử về ông ta chỉ có thể đi xa đến thế. Những nguời của phe xét lại tuyên bố rằng giải pháp, không kiềm chế, của ông Johnson dám có thể đe dọa miền Bắc Việt Nam, có thể có một vài giá trị nào đó, nhưng nó có khuynh hướng bỏ qua tầm quan trọng của cuộc nổi dậy ở miền Nam như là một yếu tố bất ổn trong miền Nam Việt Nam.

p80

Và những áp lực cho sự ủng hộ không thay đổi từ các đồng chí cộng sản miền Nam của họ gây khó khăn cho các nhà lãnh đạo ở Hà Nội thể hiện sự kiềm chế. Các luận điểm của phe chính thống về những lựa chọn bỏ lỡ khác, có thể là từ kế hoạch thoát ra của ông Kennedy hoặc từ sự thương lượng qua đàm phán, những lựa chọn của các nhà hoạch định chính sách bị căng thẳng trong một tình hình biến đổi liên tục, mặc dù, đều đặn khiến tồi tệ hơn. Tuy thế, các học giả phe chính thống có thể giảm thiểu ảnh hưởng của tình hình chính trị trong nước, mà qua đó sẽ nêu ra khó khăn cho bất kỳ hình thái nào về việc từ bỏ một đồng minh. Vì vậy, cuối cùng, Việt Nam có thể được xem như là một “vũng lầy” –một cuộc chiến tranh vốn đưa đến kết quả từ một thời điểm căng thẳng đặc biệt trong lịch sử của Chiến tranh Lạnh. Điều đó sẽ lấy đi sự can đảm về chính trị đối với ông Kennedy hay ông Johnson để chấp nhận cả những hạn chế về khả năng của Mỹ để đạt được mục tiêu kéo dài một thập kỷ của nó ở Việt Nam và các rủi ro ở quê nhà (và, đến một mức độ thấp hơn, ở nước ngoài) về việc hạ thấp Việt Nam đến tầm quan trọng kém hơn trong chính sách an ninh quốc gia của Hoa Kỳ. Tuy thế, phần lựa chọn đó thì khả thi, được thúc đẩy bởi một số lượng gồm những vị cố vấn và những người thân tín của những vị Tổng thống. Nếu không có gì khác, những cây viết thuộc phe chính thống, tin rằng chiến tranh là một sai lầm và rằng sự thất bại là cố hữu trong quyết định đi đến chiến tranh, tạo ra một trường hợp thuyết phục cho sự suy xét có hệ thống hơn về những lựa chọn thay thế khác. Điều đó sẽ dẫn đến, họ tin tưởng như thế, sự nhìn nhận tính khả thi của việc thoát ra.
(Ghi chú : p81–83)

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 02_ “tấm ngân phiếu trống” : có nghĩa là được toàn quyền sử dụng ngân sách quốc phòng mà không bị hạn chế.

pc 03_ pc 01_ LBJ : thường được dùng để ám chỉ đến vị Tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ là Lyndon Baines Johnson từ ngày 22/11/1963–20/01/1969, sau vị tiền nhiệm bị ám sát là Tổng thống Kennedy từ ngày 20/01/1961–22/11/1961, và người kế nhiệm vai trò Tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ là Richard Nixon từ ngày 20/01/1969–9/08/1974.

pc 04_ (D, MT) : (Democratic Party, Montana) Đảng Dân chủ, tiểu bang Montana.
pc 05_ (D, AR) : (Democratic Party, Arizona) Đảng Dân chủ, tiểu bang Arizona.
pc 06_ (D, MN) : (Democratic Party, Minnesota) Đảng Dân chủ, tiểu bang Minnesota.

pc 07_ Chương trình Thẩm quyền Thung lũng Tennessee (Tennessee Valley Authority = TVA) : là một liên đoàn công ty thuộc sở hữu liên bang ở Hoa Kỳ được tạo ra bởi điều lệ Quốc hội vào tháng Năm năm 1933 để cung cấp sự chuyển hướng, kiểm soát lũ lụt, sự tạo ra điện năng, việc sản xuất phân bón, và sự phát triển kinh tế ở thung lũng Tennessee, một khu vực bị ảnh hưởng một cách riêng biệt bởi cuộc khủng hoảng Đại suy Thoái. Việc tổ chức kinh doanh là một kết quả của những cố gắng của Thượng nghị sĩ George W. Norris của tiểu bang Nebraska. Chương trình TVA được hình dung không chỉ là một nhà cung cấp, mà còn như là một cơ quan phát triển về kinh tế khu vực vốn sẽ sử dụng các chuyên gia liên bang và điện để nhanh chóng hiện đại hóa kinh tế và xã hội của khu vực.
Khu vực phục vụ của TVA bao gồm hầu hết tiểu bang Tennessee, những phần của tiểu bang Alabama, Mississippi và Kentucky, và những phần nhỏ của tiểu bang Georgia, North Carolina và Virginia. Đó là một cơ quan quy hoạch khu vực lớn đầu tiên của của chính phủ liên bang và vẫn là lớn nhất. Dưới sự lãnh đạo của David Lilienthal (“Ông TVA”), chương trình TVA đã trở thành một mô hình cho những nỗ lực của chính phủ Mỹ nhằm hiện đại hóa những xã hội nông nghiệp của thế giới thứ ba.
Khi đảng Dân chủ sau năm 1945 tuyên bố Tennessee Valley Authority là một mô hình cho các quốc gia trong thế giới thứ ba để làm theo, các nhà phê bình bảo thủ buộc tội điều đó là một việc làm mạo hiểm, mang tính chất nặng nề hàng đầu, tập trung hóa, và lệ thuộc kỹ thuật mà qua đó làm dời chỗ người dân địa phương và đã làm như vậy theo những cách vô cảm. Vì vậy, khi chương trình được sử dụng như là cơ sở cho các chương trình hiện đại hóa ở các phần khác nhau của thế giới thứ ba trong suốt Chiến tranh Lạnh, chẳng hạn như ở vùng đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam, sự thất bại của nó đã mang lại một phản ứng dữ dội của nhóm người hoài nghi đối với các chương trình hiện đại hóa vốn đã kéo dài.

pc 08_ JFK : John Fitzgerald Kennedy là vị Tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ, người tiền nhiềm của Lyndon Baines Johnson (LBJ).

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s