Phần 2: Một cuộc Chiến tranh Cần thiết hay Sai lầm?

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p25

Phần 2: Một cuộc Chiến tranh Cần thiết hay Sai lầm?

Điểm cơ bản nhất về sự bất đồng trên những trọng tâm chiến tranh về câu hỏi: có phải chăng vấn đề an ninh quốc gia của Mỹ đòi hỏi việc bảo vệ miền Nam Việt Nam? Các học giả và những nhà văn khác, gần như tất cả lời tuyên bố nhằm giải bày tình thế trước đó cho chiến tranh từ một quan điểm thực tế, đạt đến những kết luận khác nhau về việc liệu các quan chức Mỹ đặt những quyết định của mình dựa trên một đánh giá hợp lý về những lợi ích của Mỹ. Đối với phe xét lại, Đông Dương đã từng trở thành một chiến trường trung tâm trong cuộc đấu tranh Chiến tranh Lạnh, làm cho nó bắt buộc rằng Hoa Kỳ phải duy trì vị thế chắc chắn của mình ở miền Nam Việt Nam. Sự thất bại đứng bên cạnh một đồng minh bị bao vây có nghĩa là không chỉ mất của Việt Nam cho cộng sản mà còn là sự ăn mòn tầm vóc toàn cầu của Mỹ bằng những hậu quả địa dư chính trị có tiềm năng gây ra thảm hại. Trên mặt khác, những nhà văn của phe chính thống tranh luận rằng Việt Nam có ý nghĩa quan trọng toàn cầu không đáng kể và, hơn nữa, rằng quyền lực và ảnh hưởng của Mỹ không thể bù đắp cho sự yếu kém về chính trị và quân sự của miền Nam Việt Nam, đặc biệt là khi suy xét trong bối cảnh về sức mạnh của chủ nghĩa cộng sản Việt Nam. Hơn là kéo Hoa Kỳ về phía chiến tranh, nhà nước miền Nam Việt Nam bấp bênh đáng lý ra nên có được một lý do để buông ra.(pc 01) Vì vậy, theo phe chủ nghĩa xét lại, Việt Nam là một chiến tranh “cần thiết”, trong khi trong các tác phẩm của phe chính thống, Việt Nam là một cuộc chiến “sai lầm.”
Chương này khám phá khía cạnh này của cuộc tranh luận về Chiến tranh Việt Nam. Theo sau đoạn tóm tắt về bối cảnh khu vực và quốc tế từ năm 1945 đến 1965 mà trong đó những lợi ích của Mỹ ở Việt Nam được xác định, nó sẽ di chuyển đến việc xem xét những lý luận chính yếu của những tác giả thuộc phe xét lại và chính thống. Trong việc bước đến các trường hợp cho một cuộc “chiến tranh cần thiết” và “chiến tranh sai lầm,” cả hai trường phái tư tưởng dẫn đến lịch sử của Chiến tranh Lạnh và của Việt Nam. Cuối cùng, chúng rút ra những kết luận khác nhau trên sự mở rộng, mà qua đó, bối cảnh lịch sử cuối cùng điều chỉnh theo chiến tranh.

p26

A- Nguồn gốc của lời Cam kết: Bối cảnh Khu vực và Toàn cầu:

Mối quan hệ giữa những phát triển về chính trị ở Việt Nam và chính sách Chiến tranh Lạnh của Mỹ thật là rất quan trọng đối với việc tìm hiểu sự phát triển của lời cam kết cho Việt Nam và liệu nó có nên được xem là thiết yếu hoặc không liên quan đến những lợi ích của Mỹ. Sự tác động qua lại đó trở ngược thời gian đến cuối Thế Chiến thứ II. Vào thời điểm đó, Việt Minh –một phong trào dân tộc bị thống trị bởi cộng sản– nắm quyền lực ở Việt Nam, mà qua đó là vào thời điểm, nó là một khu vực không đáng quan tâm đối với Hoa Kỳ. Được dẫn đầu bởi Hồ Chí Minh, Việt Minh đã lợi dụng khoảng trống chính trị được tạo ra bởi sự bại trận bất ngờ của Nhật Bản, vốn đã từng chiếm đóng Đông Dương thuộc Pháp kể từ năm 1941. Sự cố gắng của Pháp nhằm tái thiết lập quyền kiểm soát Việt Nam của nó bị đề kháng bởi Việt Minh, qua việc đánh dấu sự khởi đầu của một cuộc chiến tranh kéo dài vốn tồn tại mãi cho đến năm 1954. Đến năm 1950, khi chiến dịch quân sự của Pháp chống lại những du kích của Việt Minh đã thất bại mang lại chiến thắng, Hoa Kỳ nhìn nhận một chính phủ “độc lập” được Pháp ủng hộ –Nhà nước Việt Nam– vốn có chủ định đưa ra một giải pháp thay thế khác không-cộng-sản cho người dân Việt Nam. Đó là, tuy nhiên, một chính phủ “bù nhìn” của Pháp và không bao giờ có được sự ủng hộ của quần chúng. Hoa Kỳ cũng cung cấp viện trợ mở rộng về quân sự và tài chính cho người Pháp, mặc dù không có lực lượng nào của Mỹ tham gia. Phía sau sự ủng hộ Pháp là chính sách “ngăn chận,” mà qua đó giả định rằng vấn đề an ninh của Mỹ cần thiết đòi hỏi sự đề kháng chống lại những nỗ lực của Liên Xô nhằm mở rộng quyền lực và ảnh hưởng của nó. Chính sách này đã dẫn đến Kế hoạch Marshall(pc 02) và thành lập của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương trong số những hoạt động khác, vốn đã từng giúp đỡ ổn định châu Âu bằng cách phân chia hầu hết lục địa này thành những khu vực chịu ảnh hưởng của Mỹ và Liên Xô. Đối với những người cộng sản nắm quyền ở Trung Quốc vào năm 1949 và việc thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nước Việt Nam láng giềng dường như dễ bị tổn thương và quả thật, những người cộng sản Trung Quốc bắt đầu cung cấp viện trợ cho Việt Minh. Do đó, một cuộc chiến tranh thuộc địa (xảy ra vào lúc khi gần như tất cả các thuộc địa châu Á khác đang có được độc lập từ những cường quốc Tây phương) được nhìn thấy bởi Hoa Kỳ qua lăng kính của Chiến tranh Lạnh. Sự trợ giúp của Mỹ, tuy nhiên, đã thất bại cứu lấy Pháp khỏi bại trận, một kết quả được quyết định bởi trận chiến Điện Biên Phủ quan trọng vào mùa xuân năm 1954.
Những suy xét về Chiến tranh Lạnh thì nổi bật tại hội nghị được tổ chức tại Genève từ tháng Năm đến tháng Bảy năm 1954 vốn đạt đến những thỏa thuận cho việc chấm dứt quyền kiểm soát của Pháp trên Đông Dương. Với Liên Xô, Trung Quốc, Anh, và Hoa Kỳ như là những phe phái chính,

p27

Hoà Ước Đình chiến và Hiệp định Geneva đưa ra sự phân chia Việt Nam tạm thời trở thành hai “vùng” với các cuộc bầu cử thống nhất đất nước được lên lịch trình vào năm 1956. Chính phủ phong trào chiến thắng của Hồ Chí Minh, được biết đến chính thức như là Cộng hoà Dân chủ Việt Nam, nắm lấy quyền lực ở miền Bắc Việt Nam với thủ đô của nó tại Hà Nội, trong khi ở miền Nam Việt Nam, những dấu tích còn lại của chế độ thực dân Pháp, bấy giờ chính thức là Việt Nam Cộng Hòa, vẫn còn trong quyền kiểm soát bởi Sài Gòn như là thủ đô của nó. Việt Minh miễn cưỡng chấp nhận sự phân chia của Việt Nam, nhưng bị áp lực làm như thế bởi Liên Xô và Trung Quốc, qua việc được trấn an bằng sự chuẩn bị cho các cuộc bầu cử thống nhất đất nước, mà qua đó, nó được nhìn nhận một cách rộng rãi, phong trào của Hồ Chí Minh sẽ giành được chiến thắng. Hoa Kỳ, tuy nhiên, muốn Việt Nam vẫn còn bị phân chia, giống như Đức và Hàn Quốc, trở thành những chính phủ cộng sản và phi cộng sản. Qua việc giả sử rằng một Việt Nam được thống nhất dưới quyền kiểm soát của cộng sản sẽ làm suy yếu vị thế Tây phương trên khắp khu vực Đông Nam Á và Nam Á, chính quyền của Dwight Eisenhower cổ vũ cho một chính phủ phi cộng sản ở miền Nam Việt Nam dưới vai trò lãnh đạo của Ngô Đình Diệm. Trong khi đó, Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ miền Bắc Việt Nam, mà những nhà lãnh đạo của nó vẫn còn có quyết tâm thống nhất đất nước. Những cuộc bầu cử thống nhất, tuy nhiên, không bao giờ được tổ chức. Kết quả là, đến cuối thập niên 1950s, chính phủ của ông Diệm đang đối mặt với một cuộc nổi dậy đổi mới của cộng sản, thường được gọi là Việt cộng, ở các khu vực nông thôn của miền Nam Việt Nam. Những chính sách tùy ý của ông Diệm làm xa lánh những bộ phận khác của xã hội, bao gồm ban lãnh đạo Phật giáo và những học sinh ở các thành phố. Trong một thời gian dài, Hoa Kỳ đưa ra sự ủng hộ bí mật cho một cuộc đảo chánh vốn lật đổ ông Diệm vào năm 1963 với sự mong muốn rằng ban lãnh đạo mới sẽ cung cấp sự ổn định và thấm nhuần trong quân đội và dân chúng ý chí đối kháng Việt Cộng. Những kỳ vọng đó không được nhận biết. Thay vào đó, miền Nam Việt Nam bị rơi vào một năm rưỡi của những cuộc đảo chánh và phản-đảo-chánh, và quân đội miền Nam Việt Nam đều đặn mất đất cho Việt Cộng. Việc trợ giúp quân sự được mở rộng của Mỹ, bao gồm việc gởi đi hàng ngàn cố vấn quân sự, đã thất bại ngăn chận Việt Cộng. Lực lượng nổi dậy ngày càng được hỗ trợ bởi Bắc Việt, mà qua đó đến cuối năm 1964 đã gởi người và những tiếp tế băng qua khu phi quân sự và xuyên qua những khu rừng và dãy núi xa xôi của nước Lào và Cam-pu-chia láng giềng vào trong miền Nam Việt Nam. (Mối quan hệ giữa Bắc Việt và Việt Cộng và sự phối hợp thời gian của việc hỗ trợ của miền Bắc là những điểm quan trọng về sự khác biệt giữa các nhà văn thuộc phe chủ nghĩa xét lại và phe chính thống.) Tình huống hiểm nguy gia tăng cao hơn gây nên căng thẳng tình trạng Chiến tranh Lạnh của Việt Nam. Đến thập niên 1960s, sự đối đầu của Tây phương với khối Trung-Xô tập trung vào các nước đang phát triển. Liên Xô và Trung Quốc bênh vực cho cái gì mà họ dán nhãn là “những cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc” ở châu Á, châu Phi, và Châu Mỹ Latin –mà qua đó tạo ra sự nổi bật mang tính quốc tế lớn hơn cho phong trào cộng sản ở Việt Nam.

p28

B- Trường hợp “chiến tranh cần thiết” của phe xét lại:

Những lãnh đạo quân sự trước đây đã từng viết hầu hết các bài tường thuật nổi tiếng nhất thuộc phe xét lại về việc tiến hành cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Họ mặc nhiên chấp nhận lý lẽ cho sự can thiệp của Mỹ, vì vậy, họ hiếm khi xem xét những nguồn gốc của chiến tranh và những câu hỏi về sự biện minh của nó. Những lý luận về một “cuộc chiến tranh cần thiết” vì thế đã được nâng cao bởi một số ít học giả và nhà báo. Những người nầy bao gồm: Guenter Lewy, qua cuốn sách “Mỹ ở Việt Nam” (America in Vietnam) (1978) của ông ta là sự bảo vệ mang tính học thuật sớm nhất về can thiệp chính trị và quân sự của Mỹ; nhà báo bảo thủ, Norman Podhoretz với cuốn sách vào năm 1982 “Tại sao Chúng tôi ở Việt Nam” (Why We Were In Vietnam) của ông ta vói đến khán giả rộng rãi trong khi rao giảng những tính chất đạo đức về các mục tiêu của Mỹ; học giả, R.B. Smith, cuốn lịch sử ba tập mang tính chất quốc tế về chiến tranh của ông ta (được xuất bản giữa khoảng thời gian năm 1983 và 1991) nhấn mạnh phạm vi mà qua đó những chính sách của các cường quốc cộng sản kéo Mỹ vào trong chiến tranh; và nhà báo Michael Lind, với cuốn sách vào năm 1999 “Việt Nam: Cuộc chiến tranh Cần thiết” (Vietnam: The Necessary War) của ông ta cung cấp sự tường trình đầy đủ nhất về những yếu tố vốn khiến cho sự can thiệp của Mỹ là cần thiết hầu gìn giữ trật tự quốc tế.
Phe xét lại lập luận rằng bối cảnh quốc tế của cuộc đấu tranh khiến cho Mỹ không cón một chọn lựa thay thế nào khác ngoài việc can thiệp hầu cứu lấy miền Nam Việt Nam khỏi bại trận. Theo cách diễn giải này, Chiến tranh Lạnh đang ở một giai đoạn rất quan trọng khi các cường quốc cộng sản tin rằng họ đã giành được thế chủ động và tìm cách khai thác lợi thế của họ. Sự thất bại của Mỹ để bám giữ vị thế của mình ở bất cứ nơi nào sẽ làm suy yếu tầm vóc quốc tế của nó và nguy cơ về sự bành trướng ảnh hưởng của Liên Xô và Trung Quốc mau chóng, có lẽ ngay cả chiến thắng của họ trong Chiến tranh Lạnh. Trong việc phát triển sự diễn giải về “cuộc chiến tranh cần thiết,” những người theo phe xét lại nhấn mạnh đến nhiều điểm có liên hệ nhau:
1) Việt Nam đã từng trở thành một điểm rất quan trọng của cuộc đối đầu Chiến tranh Lạnh, bởi vì các cam kết của Hoa Kỳ và của các cường quốc cộng sản chính yếu đối với chính phủ miền Nam Việt Nam và Bắc Việt tương ứng theo sau;
2) Liên Xô và Trung Quốc, được khích lệ bởi những phát triển gần đây, trở nên những nước theo chủ nghĩa bành trướng và cơ hội;
3) Việt Nam là một con cờ “domino” quan trọng mà sự mất đi của nó cho chủ nghĩa cộng sản sẽ làm phá ngầm các chính phủ không-cộng-sản ở các nước láng giềng với kết quả đặc biệt quan trọng trong một nước Indonesia không ổn định;
4) Chính bản thân miền Nam Việt Nam bị tấn công, mà qua đó Hoa Kỳ cần bảo vệ, như nó đã từng làm thế trong các tình huống khác nơi mà những đồng minh là nạn nhân của cuộc xâm lược;
5) Sự tín nhiệm của Mỹ đang có nguy cơ, vì thiếu giải pháp trong việc bảo vệ một đồng minh sẽ làm suy yếu tầm vóc quốc tế của Mỹ, qua việc khiến nản lòng các đồng minh khác và khuyến khích Liên Xô và Trung Quốc;
6) kết quả của Chiến tranh Lạnh có thể đã có nguy cơ, vì sự thất bại của Mỹ ở Việt Nam tạo nên nguy cơ cho sự chuyển đổi trong cán cân quyền lực toàn cầu và vinh quang về phía chủ nghĩa cộng sản.

p29

Nếu gọp chung với nhau, những lý luận nầy dẫn đến những kết luận rằng thập niên 1960s đánh dấu một thời điểm nguy hiểm trong Chiến tranh Lạnh, mà qua đó khiến nó bắt buộc rằng Hoa Kỳ phải duy trì vị thế của mình ở Việt Nam. Bây giờ chúng ta xem xét những điểm nầy theo thứ tự.

Đầu tiên, Việt Nam đã có được ý nghĩa tượng trưng như là một mặt trận trong Chiến tranh Lạnh toàn cầu. Việt Nam thật quan trọng không phải vì nguồn tài nguyên của mình hoặc vì những lý do về kinh tế, nhưng bởi vì cả hai phe trong Chiến tranh Lạnh đã bị lôi kéo vào cuộc đấu tranh chính trị nội bộ của nó. Trong cuốn sách “Lịch sử quốc tế về Chiến tranh Việt Nam” (An International History of the Vietnam War) của R.B. Smith, ông ta viết rằng “trong bối cảnh của Mỹ và cả chủ nghĩa Marx-Lenin, miền Nam Việt Nam –một đất nước nông nghiệp ít hơn 15 triệu người– do đó, có được một ý nghĩa quốc tế vượt ngoài toàn phần tỷ lệ đối với kích thước của nó.”1
Kể từ khi cuộc chiến thắng của cộng sản ở Trung Quốc đến nay, Mỹ đã từng cung cấp sự trợ giúp về kinh tế và sự hỗ trợ bảo vệ cho các nước Á châu vốn là một phần của “thế giới tự do” như là một phần cạnh tranh với Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc (CHNDTQ) về sự ảnh hưởng trong thế giới đang phát triển. Bởi vì trong những cách mà Chiến tranh Lạnh đã từng phát triển ở châu Á, đã có ba địa điểm ở châu Á –Hàn Quốc, Đài Loan, và Việt Nam– nơi mà các nước cộng sản và phi cộng sản phải đối mặt trực tiếp với nhau. Trong suốt cuộc chiến ba năm ở Hàn Quốc, những lực lượng Liên Hiệp Quốc dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ, đã từng chiến đấu chống lại Bắc Triều Tiên và CHNDTQ với một cuộc xung đột kết thúc vào năm 1953 qua một Hiệp ước Đình chiến không dễ dàng phân chia bán đảo Triều Tiên. Vào năm 1955 và một lần nữa vào năm 1958, những mối đe dọa của Trung Quốc tấn công Đài Loan gây ra những tình hình nghiêm trọng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Michael Lind đưa ra luận điểm: “Ba khu vực này không được tranh chấp bởi vì chúng quan trọng. Chúng quan trọng bởi vì chúng bị tranh chấp” (sự nhấn mạnh theo bản gốc).2
Trong tình huống này, thật là vô nghĩa cho câu hỏi liệu sự quyết định ban đầu nhằm hỗ trợ miền Nam Việt Nam là thích hợp, nhưng thực tế là Tổng thống Eisenhower đã từng đưa ra lời cam kết tạo cho nó sức sống tồn tại đối với những lợi ích của Mỹ. Guenter Lewy viết rằng “sau khi ba Tổng thống Mỹ đã tuyên bố rằng nền độc lập của miền Nam Việt Nam tiêu biểu cho lợi ích sống còn của Hoa Kỳ, điều đó theo nhiều ý nghĩa có thể được nói rằng sự cam kết của Mỹ quả thật đã tạo ra một lợi ích sống còn, vì uy tín và sự tín nhiệm vào một thế lực lớn trên thế giới không thể bị gạt bỏ như là thứ tầm thường.”3
Chiến tranh Lạnh –những phần bị dồn đuổi của eo biển Đài Loan, Hàn Quốc, và Việt Nam đã thành lập những “vòng-dây-phòng-thủ”– những dòng tuyến mà nếu vượt qua, đòi hỏi một phản ứng thẳng thắn. Ông Lind kết luận:

Trong khả năng nhận thức, Chiến lược vòng-dây-phòng-thủ của Chiến tranh Lạnh của Mỹ có liên quan đến các mặt trận ở châu Á thì giống như phần còn lại của thế giới. Một khi những vòng-dây-phòng-thủ đã được đặt xuống bởi chính quyền Truman và Eisenhower,

p30

những điều đòi hỏi phải hành động của chiến lược Chiến tranh Lạnh khôn ngoan và cuối cùng được chứng minh của Mỹ về chính sách ngăn chận toàn cầu đã bắt buộc Hoa Kỳ phát động những cuộc chiến tranh hạn chế nếu cần thiết để ngăn chận Đài Loan, Hàn Quốc, và Nam Việt Nam, cùng với Lào và Cam-pu-chia, khỏi bị kết hợp bởi cuộc xâm lược hay đánh đổ trở thành khối cộng sản.4

Ý nghĩa quan trọng về ba địa điểm đối đầu nầy đã làm cho nó hiển nhiên rằng Liên Xô và Trung Quốc cam kết cho sự thành công của phong trào cộng sản ở Việt Nam. Điều này phản ảnh chủ nghĩa cơ hội của giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam và lẫn ảnh hưởng mạnh mẽ của tư tưởng hệ về các chính sách của Liên Xô và Trung Quốc. Như Hồ Chí Minh giải quyết câu hỏi về vai trò gì Bắc Việt sẽ đóng ở miền Nam Việt Nam, ông ta lo sợ rằng sự quan tâm của Liên Xô trong việc cùng tồn tại hòa bình với Tây phương sẽ dẫn đến sự phụ thuộc của Hà Nội vào Trung Quốc, vì vậy ông ta nắm lấy lợi thế nổi lên của Việt Công để gây sức ép cả Liên Xô và Trung Quốc cung cấp bất cứ trợ giúp nào cần đến để bảo đảm vinh quang chiến thắng của chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Không phải Moscow và cũng không phải Beijingcó thể từ chối lời van nài như thế và nó cho phép Bắc Việt, sau khi chính quyền Sài Gòn bị suy yếu bởi việc lật đổ ông Diệm, đẩy mạnh sự thử thách khả năng quân sự với những người Mỹ vào đầu năm 1965.
Sự tương tác giữa các chính phủ cộng sản cho thấy tầm quan trọng của tư tưởng hệ trong Chiến tranh Lạnh, một yếu tố mà các học giả thường hạ bệ một cách không thích hợp. Các cường quốc cộng sản chính yếu bắt buộc phải hỗ trợ phong trào cộng sản ở Đông Dương; như Bộ trưởng Ngoại giao CHNDTQ (pc 03) Zhou Enlai (Chu Ân Lai) nói với các quan chức Bắc Việt vào năm 1972: “không ủng hộ cuộc cách mạng của nhân dân Việt Nam thì giống như đang phản bội cuộc cách mạng.”5

Thứ hai, tình hình nghiêm trọng ở Việt Nam trở nên trầm trọng hơn bởi sự táo bạo của một chủ nghĩa cộng sản bành trướng. Như R.B. Smith quan sát, Việt Nam đã trở thành một vấn đề chính yếu “cho nhiều lý do hơn để làm với các chiến lược toàn cầu về Liên Xô và Trung Quốc, và với việc dễ bị tổn thương của người Mỹ, so với việc thực hiện những chọn lựa về phần của Hoa Kỳ.” Trong suốt cuối thập niên 1950s và đầu thập niên 1960s, chủ nghĩa cộng sản vẫn còn là một phong trào bành trướng, chắc chắn như khối đá mà qua đó dường như đang trong tình trạng có uy thế. Việc phóng lên Sputnik của Liên Xô –một vệ tinh trái đất đầu tiên– vào năm 1957 là thành tựu khoa học gây ấn tượng rộng rãi; Thủ tướng Trung Quốc Mao Zedong (Mao Trạch Đông) hoan hô nó như là việc phát tín hiệu rằng “Gió Đông đang chiếm ưu thế trên Gió Tây.” Việc nắm giữ quyền lực của Fidel Castro ở Cuba cho chủ nghĩa cộng sản một chỗ đứng ở vùng Tây bán cầu. Những áp lực của Liên Xô trên Berlin vào năm 1958 và một lần nữa vào năm 1961 làm tăng cao thêm những căng thẳng ở một nơi dễ bị tổn thương của Tây phương. Việc xây dựng Bức tường Bá-Linh “làm nhục Hoa Kỳ và đe dọa các đồng minh Âu châu của nó.” Cuộc khủng hoảng Phi đạn Cuba thì không, như những dân Mỹ tin tưởng là một chiến thắng, nhưng là “một bại trận cuối cùng của Hoa Kỳ giữ lấy Cuba… khỏi trở thành một vệ tinh của Liên Xô.” Trong một thời gian sau, Liên Xô đã rút đi những phi đạn của nó,

p31

Mỹ đã hứa sẽ không xâm lược Cuba. Ngoài ra, một giải pháp thỏa hiệp tại Lào vào năm 1962 phản ảnh sự yếu kém xa hơn nữa của Tây phương và khiến cho nó bắt buộc rằng Hoa Kỳ “sẽ đứng vững ở miền Nam Việt Nam và ở phần còn lại của Đông Nam Á.”6 Vì vậy, đầu thập niên 1960s là một “thời gian nguy hiểm” đối với “Hoa Kỳ trong việc rút quân trên tất cả các mặt trận.”
Trong không gian nơi mà khối Trung-Xô dường như đang có được sự bất lợi của Tây phương, “một chiến thắng của cộng sản ở bất cứ nơi nào do đó dường như đe dọa Hoa Kỳ, bởi vì nó tượng trưng cho sự mở rộng xa hơn nữa của quyền lực Liên Xô.”7 Việc gây hấn của Trung Quốc ở châu Á, được đánh dấu bằng cuộc tấn công của nó vào Ấn Độ vào năm 1962, có nghĩa rằng “trục Moscow-[Beijing]… đe dọa sự thống trị châu Á bởi một sức mạnh duy nhất.” Việc bám giữ cán cân quyền lực ở châu Á “đòi hỏi việc duy trì những quốc gia độc lập ở Nam và Đông Nam Á.”
Kể từ năm 1947, nguyên tắc cơ bản của chiến lược Chiến tranh Lạnh của Mỹ là duy trì hiện trạng quốc tế thông qua chính sách ngăn chận của các cường quốc cộng sản. Chính sách ngăn chận đã có hiệu quả. Và nó có nghĩa là “khả năng của Tây phương đánh bại bất kỳ nỗ lực nào của Cộng sản nhằm thay đổi cán cân quân bình toàn cầu bằng vũ lực khí giới chính là điều kiện tiên quyết cho việc theo đuổi tình hữu nghị ở các vùng cầu khác. Ở Việt Nam dường như là khả năng đó đang được đưa vào thử nghiệm.”8

Thứ ba, kết quả của cuộc đấu tranh tại Việt Nam có những ảnh hưởng tức thời cho tương lai địa dư chính trị của khu vực Đông Nam Á. “Lý thuyết Domino” –được phát biểu một cách nổi tiếng bởi Eisenhower vào năm 1954 –là sự giải thích hợp lệ về những lợi ích của Mỹ; nó khiến cho Hoa Kỳ không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc đứng lên đối đầu sự thách thức được đặt ra bởi Bắc Việt.9 Sự thành công của cộng sản ở Việt Nam sẽ dẫn sự sụp đổ không thể lay chuyển được của các quốc gia không-cộng-sản khác. Giống như một hàng quân bài “domino,” các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và xa hơn sẽ không chống nổi chủ nghĩa cộng sản, không nhất thiết phải qua sự lây lan của các cuộc nổi dậy của cộng sản, mặc dù điều đó có thể xảy ra trong một số trường hợp, nhưng chủ yếu là qua một tiến trình chính trị. “Sự thất bại” của Mỹ ở Việt Nam sẽ tạo ra một động lực hướng tới chủ nghĩa cộng sản –một ý nghĩa mà nó tượng trưng cho làn sóng trong tương lai– do đó kéo các quốc gia xa khỏi Tây phương. Ông Smith viết:

Việc bại trận của Mỹ ở đó sẽ được thể hiện ra khắp khu vực như là một bằng chứng của sự thiếu cam kết đối với Đông Nam Á như một khối. Những Lo ngại mà có thể xảy ra, là một lý do có sức thuyết phục hơn cho việc kiên trì ở Việt Nam so với một khái niệm mơ hồ mà qua đó việc rút quân khỏi Đông Dương cuối cùng sẽ được theo sau bởi các cuộc đấu tranh vũ trang cách mạng ở nơi khác nào đó. Đến năm 1963, sự tạo dựng ban đầu của “lý thuyết domino” đã nhường chỗ cho những mối lo âu đè nặng hơn về những hậu quả chính trị tức thời của sự thất bại ở Việt Nam.10

Trong cuộc đấu tranh cho vùng Đông Nam Á, những đối thủ chính là Trung Quốc và Mỹ, cả hai trong số đó đều xem Indonesia là một giải thưởng khu vực sau cùng.

p32

Việc ngăn chận Bắc Việt Nam không chỉ nhằm ngăn chận sự mất đi miền Nam Việt Nam, mà còn để bảo đảm rằng chủ nghĩa cộng sẽ không đạt được uy thế ở Indonesia có vị thế chiến lược, một quốc gia giàu tài nguyên và đông dân nhất trong khu vực Đông Nam Asia.11 Indonesia, dưới sự lãnh đạo Achmed Sukarno, đã tuyên bố việc đứng ngoài hàng của nó trong Chiến tranh Lạnh, nhưng đã đổi hướng về phía những mối quan hệ gần gũi hơn với Liên Xô và Trung Quốc; trong khi đó Đảng Cộng sản Indonesia có được sức mạnh lớn hơn trong phạm vi đất nước. Indonesia phản đối việc thành lập của Malaysia như một quốc gia độc lập, xem nó như là một công cụ lâu đời của chủ nghĩa đế quốc Tây phương. Ông Sukarno tuyên bố một chiến dịch chống Malysia, trong khi thu hút viện trợ quân sự từ Liên Xô. Do đó, đối với các quan chức Mỹ, Indonesia có vẻ đặc biệt dễ bị tổn thương, trên bờ vực bị hút vào trong khối Trung-Xô. Kết quả của cuộc xung đột tại Việt Nam sẽ ảnh hưởng đến tương lai của Indonesia và toàn bộ vòng đay phía nam của lục địa châu Á.
Vị thế của Tây phương trong khu vực Đông Nam Á thật bấp bênh. Việc thất bại đứng bên cạnh miền Nam Việt Nam đã đẩy nhanh sự xói mòn của tầm vóc của Mỹ và phong trào của các quốc gia trong khu vực hướng đến sự thích nghi với các cường quốc cộng sản. Quả thật, những nhà lãnh đạo cộng sản, từ Moscow đến Beijing đến Hà Nội, tin rằng các đồng minh và phe trung lập của Mỹ đang bắt đầu “theo xu hướng đương thời” –một xu hướng của các quốc gia để phù hợp chính mình đối với những sức mạnh quân sự thắng thế– theo chiều hướng của họ. Việc chống theo khuynh hướng Mỹ đang lan rộng. Trong những bài phát biểu của mình, các nhà lãnh đạo chính trị ở Bắc Việt và Indonesia nhấn mạnh những điểm tương đồng trong cuộc đấu tranh của họ chống lại kẻ thù chung: chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Lời hùng biện chính trị của Hà Nội ủng hộ chiến dịch của Indonesia chống lại Malaysia. Hoàng tử Sihanouk của Cambodia, đại diện cho xu hướng thích nghi với những người cộng sản, bị thu hút gần gũi hơn với Bắc Việt Nam và tham gia trong những việc tố cáo Hoa Kỳ. Ông Smith tranh luận:

[Trong] phạm vi bối cảnh Á châu thiết yếu này, đó là điều có thể nhận định ra chủ nghĩa đế quốc Mỹ như là một kẻ thù chính; và xem những cuộc đấu tranh đang diễn ra ở Việt Nam, Lào, và [Mã-Lai-Á] –và có lẽ cuối cùng cũng như các cuộc đấu tranh ở Thái Lan và nơi nào khác– như là những phần của một phong trào chống Mỹ duy nhất. Theo những lời của nhà cộng sản Indonesia là Njoto… Đông Nam Á đã trở thành “tâm điểm của những mâu thuẫn trên thế giới.”12

Vì vậy, việc mất đi Việt Nam sẽ có những sự phân rẽ rộng lớn về chính trị. Điều này gây ra mối quan tâm to lớn đối với Washington, ông Smith tiếp tục:

Những người Mỹ lúc bây giờ được báo động về điều gì dường như là những tham vọng cách mạng của Trung Quốc ở Đông Nam Á như là một khối… [Nếu] “lý thuyết domino” có bất cứ ý nghĩa nào đó, nó tập trung sự chú ý vào Việt Nam như là một địa điểm trong khu vực, nơi mà điều đó có thể xảy ra –và dường như là cần thiết– đối với Hoa Kỳ để hành động. Điều gì đó đang trong tình trạng nguy hiểm, không đơn thuần chỉ là tương lai của miền Nam Việt Nam nhưng đó là của Indonesia và cả khu vực.13

p33

Không có gì khác hơn ngoài năng lực của Hoa Kỳ giúp biến đổi tương lai của khu vực Đông Nam Á đang bị thách thức –bởi Beijing đến một vài mức độ nào đó của Moscow– và ảnh hưởng của Mỹ có thể giảm đi hoàn toàn nếu nó rút lui khỏi “cuộc đấu tranh giải phóng” ở Việt Nam. “Đó là mối quan tâm về tương lai của khu vực như là một khối,” ông Smith nhấn mạnh, “mà qua đó cuối cùng đã dẫn [các quan chức Hoa Kỳ] kết luận rằng Hoa Kỳ phải củng cố những chính sách viện trợ được thành lập của mình bằng cách thực hiện lời cam kết quân sự trực tiếp hơn nữa nhằm bảo vệ nguyên trạng ở Đông Dương.”14
Những quốc gia khác nhìn nhận tầm quan trọng của Việt Nam. Những nhà lãnh đạo của nhiều quốc gia khắp khu vực Châu Á /Thái Bình Dương –đáng chú ý là Cam-pu-chia, Mã Lai Á, Thái Lan, Úc, và Tân Tây Lan– muốn Hoa Kỳ giữ lấy miền Nam Việt Nam, vì họ lo sợ việc tháo bỏ sự ổn định mà qua đó sẽ tạo nên kết quả cho sự thành công của cộng sản.

Thứ tư, trong tình hình cấp thời gần bên: miền Nam Việt Nam là một nạn nhân của “cuộc xâm lược.” Một đồng minh mà Hoa Kỳ đã từng hỗ trợ trong một thập kỷ, bị tấn công bởi Bắc Việt. Làm thế nào Hoa Kỳ đã có thể quay lưng như thế? Chính quyền Sài Gòn có những thiếu sót nghiêm trọng và đã có sự thù địch của phần lớn dân cư của nó, nhưng nó phải đối mặt với một kẻ thù không nao núng vốn thu hút sự hỗ trợ từ Liên Xô và Trung Quốc. Trái ngược với những tuyên bố của nhiều người (bao gồm các học giả của phe chính thống) vốn là những người cho rằng cuộc nổi dậy ở miền Nam Việt Nam phát sinh như là một phản ứng tự phát đối với các chính sách đàn áp của chính quyền Diệm và sau đó được hỗ trợ bởi Bắc Việt, các cuộc nổi dậy ở miền Nam là một phần của một cuộc đấu tranh liên tục được khởi xướng bởi miền Bắc Việt Nam. Giữa thời gian năm 1956 và 1959, đảng cộng sản Việt Nam tạo ra một tình huống mang tính cách mạng với một chiến dịch khủng bố vốn nhắm mục tiêu vào đại diện chính phủ của miền Nam Việt Nam –các quan chức địa phương, giáo viên, nhân viên phục vụ y tế và xã hội– ở các khu vực nông thôn. Sự quyết định bắt đầu một cuộc đấu tranh vũ trang ở miền Nam Việt Nam được thực hiện ở Hà Nội vào năm 1960 khi nó thành lập Mặt trận Giải Phóng Dân tộc (MtGpDt) như là một tổ chức mặt trận quần chúng được dẫn dắt bởi cộng sản đã trú tính lật đổ chính quyền miền Nam Việt Nam. Những tính toán về chính trị mặc dù hoãn lại trong việc tung ra MtGpDt: miền Bắc Việt Nam bận tâm với những vấn đề nội bộ nghiêm trọng của riêng nó và nó chờ đợi cho đến khi chiến dịch chống khủng bố vô hiệu nghiệm của chính phủ Sài Gòn đã tạo ra cảnh hỗn loạn đến nổi quần chúng đã trở nên bị thuyết phục về sự cần thiết cho một cuộc “đấu tranh vũ trang” có cơ sở bao quát. Khi những người và các nguồn tiếp tế được di chuyển với những số lượng lớn từ miền Bắc Việt Nam đến miền Nam Việt Nam, “cuộc xâm lược” trở nên trắng trợn hơn nữa, nhưng toàn bộ chiến dịch của cộng sản chống lại chính quyền Sài Gòn có nguồn gốc của nó ở, và được đạo diễn bởi, miền Bắc Việt Nam.15

p34

“Cuộc xâm lược” trực tiếp bằng quân đội của miền Bắc Việt Nam có thể được truy ra từ sự di chuyển của đơn vị đầu tiên thuộc Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) xuống đến Đường mòn Hồ Chí Minh vào tháng Mười năm 1964. Điều này được kèm theo bởi sự thay đổi đáng kể trong cách mà Hà Nội xác định chiến lược quân sự ở miền Nam. Trước đó, sự nhấn mạnh trong các tài liệu của Đảng Cộng sản là đang bàn tính hướng tới một cuộc “tổng nổi dậy” của dân miền Nam. Bây giờ mục tiêu dài hạn đã được xác định như là một “cuộc tổng tấn công và nổi dậy” và kêu gọi “sự phát triển của các lực lượng vũ trang” ở miền Nam, mà qua đó ngụ ý dựa nhiều hơn vào cuộc đấu tranh quân sự. Các lực lượng QĐNDVN tham gia trong cuộc chiến đấu chống lại Quân đội miền Nam Việt Nam vào tháng Mười Hai năm 1964; trong những trận chiến đầu tiên nầy, Bắc Việt gây ra những thương vong nặng nề.16 Và những cuộc bại trận của người miền Nam Việt Nam đó, tất nhiên, thêm vào những lý do tại sao Hoa Kỳ không thể bỏ rơi đồng minh của mình.
Miền Bắc Việt Nam sẽ có thể lấy bước đi trọng yếu này cho việc mang chiến tranh vào trong miền Nam Việt Nam chỉ với sự chấp thuận của các cường quốc cộng sản chính. Mặc dù Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo khác có những quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc, họ cũng cần sự hỗ trợ của Liên Xô, mà qua đó cung cấp kỹ nghệ quân sự tinh tế vượt xa hơn nhiều. “Điều gì mang ý nghĩa quan trọng đối với tất cả những người theo chủ thuyết Marx-Lenin trong một tình hình cấp bách,” R.B. Smith viết, “là việc đánh bại các mục tiêu của Hoa Kỳ ở Nam Việt Nam. Điều đó do đó có thể đối với người Việt để thu hút sự hỗ trợ chính thống từ nhiều khu vực khác nhau, và tạo ra cái gì chằng khác là một mặt trận thống nhất trong khu vực riêng của họ chống lại chủ nghĩa đế quốc.”17 Liên Xô khẳng định lại sự ủng hộ của họ cho cuộc đấu tranh. Thật vậy, ban lãnh đạo Xô viết đặt Việt Nam vào một mức độ khác từ các nước khác trong khu vực Đông Nam Á, xem nó như là một thành viên chính thức của “hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới” và như là một đồng minh tiềm năng trong cuộc đấu tranh quyền lực toàn cầu lâu dài. Mục tiêu của Hà Nội về việc thống nhất Việt Nam bảo đảm sự hỗ trợ quốc tế, ngay cả khi nó có nguy cơ chiến tranh với Hoa Kỳ. Không phải là Liên Xô muốn có một cuộc xung đột với người Mỹ, nhưng họ nhất định cung cấp sự trợ giúp bất cứ cái gì về quân sự và chính trị vốn là cần thiết để khẳng định sự ủng hộ của họ cho Bắc Việt. Nhận thức của Trung Quốc khác biệt trong điều mà nó nhấn mạnh Việt Nam là một phần của một cuộc đấu tranh bao quát chống lại chủ nghĩa đế quốc; Điểm chú tâm của CHNDTQ.(pc 03) là Indonesia, nhưng đó là một lý do không kém mạnh mẽ cho việc bảo đảm sự thành công của Bắc Việt. Ông Smith viết rằng “sự kiện về sự hỗ trợ đó của Liên Xô và Trung Quốc được bắt nguồn từ những ý tưởng mâu thuẫn về cuộc cách mạng thế giới đã không ngăn cản Việt Nam khỏi việc khai thác các tình huống mà qua đó cuối cùng ủng hộ sự mở rộng về cuộc đấu tranh vũ trang của riêng mình.”18
Trong việc đối phó với cuộc xâm lược được Trung-Xô hỗ trợ này chống lại miền Nam Việt Nam, các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ nhờ đến “những bài học của thập niên 1930s” một cách thích ứng. Đây là niềm tin mà các nước dân chủ đã học được từ việc đối phó với Đức Quốc Xã, Nhật Bản, và Ý trong suốt những năm 1930s về sự cần thiết chận đứng sự cuộc xâm lược trong những giai đoạn đầu của nó; đó là điều vô ích để nhân nhượng vô nguyên tắc các cường quốc hung hăng.

p35

“Bài học về thủ đô Munich của Đức” –được đặt tên như thế cho hội nghị năm 1938 mà qua đó các nước dân chủ Tây phương nhân nhượng cho Đức Quốc xã chỉ để xem Hitler phủ nhận những lời hứa của mình và tiếp tục cuộc xâm lược– là điều hướng dẫn trong thế giới của thập niên 1960s. Sự thất bại của các nước dân chủ Tây phương đứng lên chống lại những cường quốc hung hăng trong các cuộc tấn công trước từng phần của họ vào các quốc gia yếu kém vào đầu thập niên 1930s đã chỉ khuyến khích sự xâm lăng thêm nữa và cuối cùng dẫn đến Thế Chiến thứ II. Vì thế, việc “chận đứng cuộc xâm lược từ trong trứng nước” được nhìn thấy như là cách duy nhất của việc kiềm chế những kẻ xâm lược; đó là điều cần thiết mà các nước dân chủ có quyết tâm sử dụng sức mạnh nếu cần thiết. “Bài học” đó có mối quan hệ trực tiếp đến Việt Nam, vì Hồ Chí Minh và phong trào cộng sản mà ông ta dẫn dắt, là những công cụ quyền lực đang mở rộng của Liên Xô và Trung Quốc. Như trong những tình hình nghiêm trọng của Chiến tranh Lạnh trước đây –Hy Lạp, Bá Linh, Hàn Quốc, Cuba và eo biển Đài Loan– đó là điều quan trọng mà Hoa Kỳ “ra tín hiệu” cho giải pháp của nó. Việc kiềm chế của Hoa Kỳ tạo nên nguy cơ được xem như là yếu đuối. Những tài liệu của Trung Quốc được công bố gần đây nhấn mạnh rằng các nhà lãnh đạo ở Beijingvào năm 1964 không nghĩ rằng Hoa Kỳ có sức mạnh quân sự theo quy chế thích hợp để can thiệp vào Việt Nam và rằng họ cảm thấy ngạc nhiên bởi vụ thả bom miền Bắc Việt Nam của Tổng thống Lyndon Johnson và việc gởi đi các quân lính bộ binh một năm sau đó.
Norman Pohdoretz nhấn mạnh sự thích đáng về những bài học của thập niên 1930s đến tình huống nguy hiểm ở Việt Nam vào thập niên 1960s. Sau khi thảo luận về cuộc xâm lược từng phần của Hitler và sự nhường nhịn vô nguyên tắc của Anh và Pháp tại Hội nghị Munich, ông Podhoretz viết rằng: “rõ ràng là, Việt Nam khác biệt theo nhiều cách đáng kể từ Trung Âu vào cuối thập niên 1930s. Nhưng có một sự tương tự to lớn vốn vượt trội hơn những khác biệt nầy… một lực lượng chính trị độc tài toàn trị –Chủ nghĩa Phát xít sau đó, Chủ nghĩa Cộng sản bây giờ– đang cố gắng mở rộng diện tích dưới quyền kiểm soát của nó.” Hoa Kỳ đã học được tầm quan trọng của việc “chận đứng cuộc xâm lược từ trong trứng nước” như nó phải đối mặt với sự mở rộng của cộng sản ở châu Âu trong thập niên 1940s và cuộc xâm lược ở Hàn Quốc vào năm 1950 “chắc chắn là [bài học] cũng có thể áp dụng cho Việt Nam.” Ông Poderhotz nhìn thấy “bài học” này như là một mệnh lệnh luân lý: “Tại sao, sau đó, chúng tôi có mặt ở Việt Nam? Để nói về điều đó thêm một lần nữa: bởi vì chúng tôi đang cố gắng cứu lấy một nửa phía nam của đất nước đó khỏi những tai họa của chủ nghĩa cộng sản.”19

Thứ năm, khi những ám chỉ đến việc giải quyết “ra tín hiệu” tỏ rõ, tình hình nghiêm trọng ngày càng tồi tệ hơn ở Việt Nam đã trở thành một thử nghiệm về sự tín nhiệm của Mỹ. Theo ông Lind, mục đích vượt qua quyền hạn của Mỹ ở Việt Nam là để chứng minh sự tín nhiệm của mình như là một sức mạnh quân sự và đồng minh đáng tin cậy. Nếu Hoa Kỳ nhìn ra được việc thiếu soát trong khả năng quân sự chống lại/hoặc giải quyết bằng chính trị, Liên Xô và/hoặc Trung Quốc và những nước đại diện của họ sẽ hành động một cách hung hăng hơn, trong khi các đồng minh của Mỹ sẽ bị nghiêng theo sự nhường nhịn vô nguyên tắc cho các cường quốc cộng sản. Việc bảo đảm sự sống còn của miền Nam Việt Nam là nền tảng để giữ lấy sự tín nhiệm. Trong sự liên quan này, bản chất độc đoán và không có quyền đại diện của chính phủ Sài Gòn không phải là một mối quan tâm chính.

p36

Việc di chuyển chính quyền Sài Gòn hướng đến những cải cách dân chủ và xã hội-kinh tế là điều quan trọng đối với Hoa Kỳ chỉ đến một mức độ mà Hoa Kỳ giúp đạt được mục tiêu của một miền Nam Việt Nam độc lập. Ông Lind viết: “mục đích chính trị của Mỹ ở miền Nam Việt Nam thì ngẫu nhiên thích hợp và phụ thuộc vào những mục đích của Mỹ trong quan điểm chính trị về quyền lực ở khu vực Đông Nam Á, mà qua đó, đến lượt, ngẫu nhiên thường và phụ thuộc vào chiến lược toàn cầu của Mỹ trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ ba.”20
Vì vậy, sự bắt buộc để tung ra một sức mạnh và giải pháp có nghĩa là Hoa Kỳ không thể từ bỏ miền Nam Việt Nam. Trong một tài liệu thường được trích dẫn, John McNaughton, một quan chức thuộc Bộ Quốc phòng, đã phát biểu vào năm 1965 về những mục tiêu của chính sách Mỹ:

70% để tránh một sự bại trận nhục nhã (cho tiếng tăm của chúng tôi như là một nước bảo lãnh);
20% để giữ miền Nam Việt Nam (và lãnh thổ kế bên) khỏi tay Trung Quốc; [và]
10% cho phép người dân miền Nam Việt Nam hưởng được một cách sống tự do, tốt đẹp hơn.21

Sự quan tâm của Mỹ là như thế, trên hết, là vấn đề gìn giữ lòng tín nhiệm. Trong bối cảnh này, đó là điều mơ hồ để rút ra “những bài học” –như một số người lập luận– từ kinh nghiệm của Pháp trong việc chiến đấu chống lại một cuộc chiến tranh du kích ở Việt Nam. Điều gì đó có ý nghĩa quan trọng là Pháp là một cường quốc kém hơn và đã từng có thể rút ra khỏi Đông Dương mà không mất đi sự tín nhiệm. Đối với Hoa Kỳ, việc rút quân sẽ có nghĩa là một mất mát to lớn về tầm vóc trên thế giới.22

Cuối cùng, sự hiểm nguy sau cùng ở Việt Nam cũng có thể là một kết quả đúng nghĩa của Chiến tranh Lạnh. Nếu sếp lại với nhau những bước tiến của các cường quốc cộng sản tự tin và sự dễ bị tổn thương của Tây phương, việc thiếu giải pháp của Mỹ ở Việt Nam sẽ xói mòn thêm nữa uy tín và ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Những con cờ domino ở Đông Nam Á sẽ rơi ngã, có nghĩa là những nước từng là đồng minh và trung lập của Mỹ từng bỏ sẽ cuối cùng chịu ảnh hưởng của Liên Xô và Trung Quốc. Liên Xô sẽ được mạnh mẽ hơn trong những cách mà qua đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc nắm giữ quyền lực của nó trên đế chế của mình ở Đông Âu. Bằng cách khai thác điểm yếu của Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc đang ở tư thế sẵn sàng mở rộng quyền lực của mình và giành lấy chiến thắng trong Chiến tranh Lạnh. Việc biến đổi bi thảm trong những quan hệ quốc tế vốn đã xảy ra vào cuối thập niên 1980s, đã có thể xảy ra 20 năm trước đó, nhưng với một kết quả trái ngược. Trong số các đồng minh của Mỹ, Tây Đức và Nhật Bản thì đặc biệt dễ bị tổn thương đối với các “ảnh hưởng theo xu hướng đương thời” vì họ đã thực sự đi đến sự nghi ngờ về giải pháp của Mỹ; khuynh hướng của Tây Đức nhằm xoa dịu mức thủy triều lên và xuống của Liên Xô cho dù người Mỹ tỏ ra yếu hay mạnh, và ban lãnh đạo của Nhật Bản lo ngại rằng Mỹ có thể thất bại bảo vệ Nhật và các lợi ích của mình. Vì vậy, trong một hệ thống quốc tế hay thay đổi của thập niên 1960s và 1970s, lập trường của Mỹ ở Việt Nam có những sự phân rẽ to lớn trước mắt và lâu dài. Ông Lind viết:

p37

Chiến tranh Lạnh, sau đó, thì gần như sắp kết thúc với sự sắp sếp lại vấn đề ngoại giao toàn cầu nhanh chóng và nhiều hoặc ít đổ máu hơn qua sự ủng hộ của các nước siêu cường mà qua đó nhận được là một nước mạnh mẽ nhất về quân sự và quyết tâm nhất về chính trị. Chúng ta bây giờ biết, đây là cách Chiến tranh Lạnh sẽ chấm dứt nếu Hoa Kỳ thua, bởi vì đây là cách Chiến tranh Lạnh kết thúc khi mà Liên Xô thua.23

Vì vậy, việc giữ lấy Việt Nam là vấn đề trọng yếu của việc bảo đảm trật tự thế giới. Sự mất đi của nó cho chủ nghĩa cộng sản sẽ gây ra một phản ứng dây chuyền vốn đã có thể quyết định sự thắng bại trong Chiến tranh Lạnh.24

C- Trường hợp của phe Chính thống về một “Chiến tranh Sai lầm”:

Nhà sử học thuộc phe chính thống bác bỏ những tầm nhìn thiếu chính xác như vậy về sự quan trọng của Việt Nam. Trong việc tạo ra trường hợp về một “chiến tranh sai lầm,” họ cho rằng Hoa Kỳ đã tính toán sai lầm một cách thảm hại về những lợi ích an ninh quốc gia của mình. Chính sách của Mỹ thất bại trong việc đáp ứng những tiêu chuẩn về tính chất hiện thực vốn duy trì chính sách đó, phải được dựa trên một tính toán về lợi ích quốc gia và sự phối hợp của những mục đích bằng biện pháp. Những nhận xét này thật cần thiết cho việc sử dụng hiệu nghiệm về sức mạnh. Những nhà văn thuộc phe chính thống theo sau những lập luận vốn được nâng cao bởi các nhà phê bình nổi tiếng thời chiến vốn là những người nhìn thấy chính mình viết lách theo một truyền thống “hiện thực,” đáng chú ý là nhà ngoại giao-sử học George Kennan, học giả Hans Morgenthau, và Thượng nghị sĩ J. William Fulbright. Giống như những người đi trước này, những cây viết thuộc phe chính thống cho rằng Hoa Kỳ phóng đại tầm quan trọng của Việt Nam về chiến lược và bị hút vào trong việc chiến đấu một cuộc chiến đại diện cho một chính phủ không xứng đáng trong những hoàn cảnh chính trị và quân sự thảm khốc. Vì vậy, các nhà văn chính thống đặt ra câu hỏi cho cuộc tranh luận của phe xét lại về một hành động bắt buộc mang tính chất toàn cầu nhằm đứng bên miền Nam Việt Nam bằng bất cứ giá nào và nhấn mạnh sự yếu kém về vị thế của Mỹ. Những khác biệt cơ bản đó đối với những người theo phe xét lại cũng dẫn dắt các nhà văn thuộc phe chính thống cho rằng “sự tín nhiệm” của Mỹ sẽ được nâng cao, không hề giảm đi, qua việc thoát ra khỏi lời cam kết không thể thực hiện được.
Xét qua lời phê phán của phe chính thống là một luận điệu mà qua đó những giả định về chính sách của Mỹ thiếu sự cân đối. Ý thức về sự cân đối sẽ cho phép các nhà hoạch định chính sách rút ra những sự phân biệt giữa các lợi ích sống còn và phụ thuộc. Ý thức về sự cân đối đã có thể làm rõ ràng rằng trong điều kiện về vấn đề an ninh quốc gia của Hoa Kỳ ngăn chận sự “mất đi” của một quốc gia tương đối nhỏ và ít được biết đến trong khu vực Đông Nam Á là sự quan trọng không đáng kể.

p38

Ý thức về sự cân đối sẽ đặt ra câu hỏi liệu các nguồn tài lực của Mỹ nên được giao phó cho việc hỗ trợ một chính phủ yếu kém và không được lòng dân đang đối mặt với một đối thủ có quyết tâm trong một tình huống nơi đối thủ nắm lấy những lợi thế chính trị và quân sự. Không có ý đối đầu với tình hình ở Việt Nam như nó thực sự đang, các nhà lãnh đạo Mỹ lãng phí các nguồn tài lực và uy tín của quốc gia trong một cuộc chiến tranh “không cần thiết.”
Lập luận này của phe chính thống được tiêu biểu một cách rộng rãi trong tác phẩm mang tích chất học thuật về chiến tranh: một “kiểu mẫu khống chế” như Robert J. McMahon mô tả nó trong cuộc khảo sát của ông ta về văn học chiến tranh Việt Nam.25 Nó dựa trên ba điểm có liên quan chặt chẽ: (1) rằng Hoa Kỳ mở rộng một cách sai lầm học thuyết ngăn chận để bao gồm một khu vực của sự quan tâm thứ cấp (2) rằng các nỗ lực của Mỹ để tham gia vào việc “xây dựng đất nước” ở miền Nam Việt Nam bất chấp lịch sử Việt Nam và có ít cơ hội thành công, và (3) rằng mối quan tâm về sự tín nhiệm phản ảnh những thiếu sót của chính sách Hoa Kỳ và trong bất kỳ sự kiện nào phụ thuộc hơn vào sự phán đoán có cơ sở, không phải là sự gắn bó thiếu suy nghĩ đối với một vị thế không thể giữ được. Những tính toán sai lầm và sự phán đoán kém cỏi vì thế đẩy Hoa Kỳ về hướng chiến tranh. Bây giờ chúng ta xem xét những điểm nầy liên quan đến lý luận về một “chiến tranh sai lầm.”

Đầu tiên, Hoa Kỳ áp dụng sai lầm học thuyết ngăn chận trong một quốc gia có tầm quan trọng chiến lược hạn chế. Trong cuốn sách “Chiến tranh dài nhất của Mỹ” (America’s Longest War), George C. Herring, một nhà sử học hàng đầu về chiến tranh, mô tả làm cách nào một ứng dụng được đơn giản hóa của học thuyết ngăn chận dẫn dắt Hoa Kỳ vào trong việc thực hiện sự cam kết trong một khu vực của sự quan tâm bên ngoài:

[Chính sách] ngăn chận được áp dụng sai lầm ở Việt Nam. Bị ám ảnh với quyết tâm của họ ngăn chận sự bước tiến của chủ nghĩa cộng sản, thiếu hiểu biết sâu sắc về dân Việt Nam và lịch sử của họ, những người Mỹ hiểu sai một cách sâu sắc về bản chất của cuộc đấu tranh ở Việt Nam, ý nghĩa quan trọng của nó đối với những lợi ích quốc gia của họ, và tính nhạy cảm của nó đối với quyền lực của họ.26

William S. Turley, trong cuốn sách lịch sử của ông ta về Chiến tranh Việt Nam, nhấn mạnh rằng sự cam kết đối với miền Nam Việt Nam xảy ra khi “việc chống-chủ-nghĩa-cộng-sản của Hoa Kỳ đang ở đỉnh cao của nó, được củng cố bởi một ý thức được nâng cao hơn về sứ mệnh ở châu Á… [đang] nhận ra rằng những cách mạng được gây cảm hứng từ Liên Xô đã đặt ra một mối đe dọa lâu dài… khiến cho Hoa Kỳ mở rộng chiến lược ‘ngăn chận’ và chống lại ảnh hưởng của cộng sản ở khắp mọi nơi.”27 Tất cả các lợi ích được xem là quan trọng và cần thiết để giữ lấy. Paul Kattenburg, một cựu quan chức thuộc Bộ ngoại Giao vốn là người sau này trở thành một nhà phê bình về chính sách của Mỹ ở Việt Nam, nói ra từ kinh nghiệm khi ông ta viết rằng:

[Đó là điều] không thể nào… để có sự thực thi việc lên kế hoạch một chính sách để công kích điều gì đó thực ra là một lợi ích sống còn của Hoa Kỳ. Những việc thi hành lên kế hoạch một chính sách không bao giờ định rõ chính những vị trí lợi ích trọng yếu,

p39

nhưng luôn luôn giả định chúng [ở]… bất kỳ vị trí nào trên thế giới mà trong đó Hoa Kỳ đã từng, tuy nhiên, khai triển một cách tối thiểu một số đầu tư và bày tỏ một vài quan tâm.28

Việc mở rộng chiến lược ngăn chận là một vấn đề lựa chọn của Mỹ và không bị thúc đẩy bởi những hành động những đối thủ trong Chiến tranh Lạnh. Trong cuốn sách có ảnh hưởng của John Lewis Gaddis “Những chiến lược Ngăn chận” (Strategies of Containment) ông ta là một sử gia hàng đầu của Mỹ về Chiến tranh Lạnh, nhấn mạnh rằng sự ngăn chận toàn cầu nầy không phù hợp với học thuyết ban đầu như nó được xác định trong suốt thời gian quản trị của Harry S. Truman vào cuối thập niên 1940s. Như ông Gaddis làm rõ ý, việc ứng dụng chiến lược ngăn chận chuyển đổi trong suốt Chiến tranh Lạnh giữa trọng điểm hạn chế ban đầu của nó về những “địa điểm mạnh” ở châu Âu và Nhật Bản với những cam kết có giới hạn đến một hình thức phổ quát hơn với những cam kết gần như vô giới hạn; ông ta dán nhãn là những ngăn chận “bất đối xứng” và “đối xứng” theo cách tương ứng. Việc chuyển tiếp vai trò tổng thống từ Dwight Eisenhower đến John F. Kennedy đã đánh dấu một sự chuyển đổi đáng kể từ “bất đối xứng” có giới hạn đến sự ngăn chận “đối xứng” toàn cầu, của ông Kennedy, trong lời hùng biện của mình và hành động của mình, qua việc hứa hẹn một sự theo đuổi chống-chủ-nghĩa-cộng-sản mạnh mẽ hơn khắp thế giới. Học thuyết của ông ta về sự “phản ứng linh hoạt” nói đến sự quyết tâm đối mặt với các hình thức khác nhau của việc mở rộng của cộng sản bằng sự ứng dụng sức mạnh của Mỹ trên phạm vi rộng lớn, bao gồm sự nhấn mạnh về việc phản-nổi-dậy. Điều này có nghĩa rằng tình hình nghiêm trọng ở Việt Nam đạt đến đỉnh cao của nó vào một thời điểm khi chiến lược ngăn chận toàn cầu đang được chuộng ở Washington. Lyndon Johnson, người kế nhiệm ông Kennedy, không bao giờ đặt câu hỏi về mức độ ngăn chận mà ông kế thừa. Ông Gaddis lưu ý về tầm ý nghĩa quan trọng của những thay đổi trong chiến lược ngăn chận bằng cách tương phản giai điệu của kỷ nguyên Kennedy–Johnson đối với lý lẽ ban đầu của chính sách do George Kennan trong vai trò của mình như là Giám đốc Ban Kế hoạch Chính sách của Bộ ngoại Giao từ năm 1947 đến 1949:

Những quan chức của chính quyền Kennedy và Johnson thích nhấn mạnh rằng những chính sách của họ ở Việt Nam thì phù hợp với chiều hướng tổng quát của chính sách đối ngoại của Mỹ kể từ năm 1947… Thật ra, mặc dù, những giả định nầy đã chuyển đổi qua nhiều năm. Ông Kennan đã từng nhấn mạnh sự khác biệt giữa các lợi quan trọng và kém quan trọng, giữa hàng loạt các mối đe dọa đối với họ, và giữa những mức độ đáp ứng có thể tin được của biện pháp hiện có được đưa ra; chính quyền Kennedy và Johnson không có sự phân biệt như thế. Ông Kennan đã từng tìm cách để duy trì cán cân quyền lực toàn cầu bằng cách áp dụng một sự kết hợp của đòn bẩy chính trị, kinh tế, quân sự, và tâm lý trong các lãnh vực quan trọng được lựa chọn cẩn thận; Ông johnson, đến năm 1965, gần như độc quyền đang dựa vào việc sử dụng lực lượng quân sự ở sân khấu được lựa chọn bởi các đối thủ.29

Thứ hai, không chỉ Việt Nam là mối quan tâm thứ cấp, sự cam kết của Mỹ được dựa trên một giả định sai lầm là: Mỹ có thể nuôi dưỡng một chính phủ phi cộng sản có thể đứng vững được.

p40

“Việc xây dựng quốc gia” ở miền Nam Việt Nam có nhiều chiều hướng: để cân bằng sự kiểm soát của cộng sản thuộc miền Bắc Việt Nam, để xây dựng một bức tường thành chống lại bước tiến xa hơn nữa của cộng sản trong khu vực Đông Nam Á, và để quy định một mô hình dân chủ cho những người dân trong vùng. Điều này có nghĩa là, tuy nhiên, “việc xây dựng quốc gia” trong một tình huống nơi mà “quốc gia” thiếu các thành phần cần thiết cho “việc xây dựng” của nó. Người Việt Nam không có cảm nhận về “chủ nghĩa dân tộc miền Nam” hoặc “chủ nghĩa dân tộc miền Bắc” chỉ là “chủ nghĩa dân tộc Việt Nam” và lớp áo phủ ngoài đó của vai trò lãnh đạo đã bị chiếm giữ bởi những người cộng sản. “Việc thiếu kiến thức về lịch sử và văn hóa Việt Nam,” ông Herring viết, “Những người Mỹ đã thất bại để thấu hiểu những khó khăn có lẽ không thể vượt qua của việc xây dựng đất nước trong một khu vực với chỉ là một nền tảng mong manh nhất cho tính chất quốc gia.”30
Quả thật, những trở ngại đối với “việc xây dựng đất nước” ắt hẳn đang gây ra sợ hải. Miền Nam Việt Nam thiếu cảm nhận về bản sắc dân tộc: nó xuất hiện bên ngoài “Nhà nước Việt Nam,” mà qua đó Pháp đã tạo ra như là một chính phủ “độc lập” trên danh nghĩa nhưng qua đó che giấu quyền kiểm soát thuộc địa; nó đã được tiếp tục vào năm 1954 như là một đơn vị hành chính tạm thời để tạo điều kiện thuận lợi cho việc rút quân theo từng giai đoạn của người Pháp bại trận; nó thu hút sự hỗ trợ từ các tầng lớp giàu sang có đất đai và thương mại vốn là những người đã được hưởng lợi từ quyền cai trị của Pháp; nó thiếu một “trung tâm” chính trị và là một vùng đất bị phân chia và hỗn loạn. Đối với đại đa số người Việt dù ở miền Nam hoặc miền Bắc Việt Nam, lực lượng Việt Minh, vốn lên nắm quyền tại Hà Nội sau cuộc bại trận của Pháp, đã có được tính hợp pháp dân tộc qua chiến tranh chống Pháp của nó. Không nhận thấy những trở ngại to lớn, những người Mỹ phụ thuộc vào Ngô Đình Diệm, một người Công giáo ẩn dật vốn là người đã từng ở Mỹ trong khi đồng bào mình đang chiến đấu chống lại Pháp, để kết hợp và qui tụ quần chúng hỗn tạp. Trong quá trình, Mỹ dần dà gắn liền với một tầng lớp giàu sang không có gì đại diện vốn lo sợ sự cải cách xã hội và nền dân chủ. Về điểm này, ông Herring nhận xét: “để xây dựng một quốc gia có thể đứng vững ở miền Nam Việt Nam… sẽ đòi hỏi sự lãnh đạo sáng suốt, sáng tạo, và quyết tâm, một thành phần mà Hoa Kỳ không thể cung cấp… Ông Diệm thiếu những phẩm chất cần thiết cho một thách thức đáng sợ của việc xây dựng quốc gia.”31
Sự vô ích của việc “xây dựng quốc gia” được trình bày chi tiết hơn trong tác phẩm của George Kahin, một chuyên gia về Đông Nam Á. Cuốn sách của ông ta là “Sự can Thiệp” (Intervention) cung cấp một bài tường thuật toàn diện của sự tương tác của Mỹ với các nhóm chính trị của miền Nam Việt Nam và tìm thấy ở Ngô Đình Diệm là một nhà lãnh đạo không có khả năng thích hợp của một quốc gia “giả tạo.” Mục tiêu của Mỹ về một chính phủ độc lập, không-cộng-sản được kết chặt với Hoa Kỳ, ông Kahin tranh luận trong suốt cuốn sách của mình, thì xung khắc với cán cân quân bình thực sự của những lực lượng chính trị ở miền Nam Việt Nam. Kết quả là, Hoa Kỳ tiếp tục tung ra sức mạnh của nó theo những cách mà qua đó bảo đảm quyền kiểm soát chính trị vẫn còn trong tay của những người Việt đó vốn là những người được chuẩn bị để hành động theo đúng với những lợi ích của Mỹ.

p41

Hoa Kỳ lần lượt trở nên kết chặt với những thành phần bảo thủ hơn, thậm chí phản động, trong xã hội miền Nam Việt Nam. Sự thất bại của ông Diệm là cố hữu trong những áp lực xung đột mà ông ta phải đối mặt trong chín năm, nhưng nó gây ra trầm trọng hơn do những thiếu sót của riêng mình. Ông Kahin đặc trưng ông Diệm như là “một nhà quý tộc quan lại, cùng một lúc là tính ngạo mạn và bảo thủ và nhút nhát [với] sự hiểu biết ít ỏi và mối quan hệ nhỏ nhoi với giai cấp nông dân… [Ông ta] có ít kinh nghiệm về quản trị… ông ta cũng không cho thấy tài năng tuyệt vời như là một nhà tổ chức chính trị .”32 Ông ta không có ý muốn chỉ là một công cụ của người Mỹ người mà ông ta phụ thuộc vào, nhưng, một phần vì sự phụ thuộc đó và cũng vì những khuyết điểm của riêng mình, ông ta không bao giờ có thể qui tụ sự ủng hộ vượt ra ngoài cơ bản hạn hẹp mà ông ta kế thừa vào năm 1954. Vì vậy, ông ta thất bại, không sớm thì muộn mỗi nhà lãnh đạo khác của miền Nam Việt Nam bị kẹt trong tình thế tiến thoái lưỡng nan được cho thấy bởi sự hiện diện của Mỹ.
Trong cuốn sách “Bị nhốt bởi sự Thành công” (Trapped by Success) –một bài tường thuật thấu đáo về những khởi đầu của sự cam kết của Mỹ cho miền Nam Việt Nam trong suốt chính quyền Eisenhower– là một sử gia và cựu chiến binh của Chiến tranh Việt Nam, David Anderson, nhấn mạnh đến phạm vi mà qua đó ông Diệm phụ thuộc vào sự hỗ trợ kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ cho sự sống còn của chế độ mình. Không kể đến sự viện trợ khổng lồ của mình, Hoa Kỳ không bao giờ có thể thuyết phục ông Diệm tham gia vào các loại về sự cải cách kinh tế và xã hội mà qua đó sẽ nâng cao những viễn ảnh của mình cho sự sống còn. Ông Diệm bướng bỉnh, sau khi nhận ra vị thế bấp bênh của riêng mình, chống lại sự góp ý của Mỹ, qua việc không muốn được xem như là một công cụ của Washington, vì vậy ông ta không bao giờ mở rộng sự ủng hộ chính trị của mình. Trong một ý nghĩa nào đó, ông ta không thể giành chiến thắng, với hoặc không có, sự ủng hộ của Mỹ. Mặc dù nhiều quan chức Hoa Kỳ thừa nhận sự yếu kém của thân chủ của họ ở Sài Gòn, chính quyền Eisenhower tuyên bố về sự “tiến bộ” của miền Nam Việt Nam như là một “phép lạ” và “tự nhốt vào trong lời cam kết cho sự sống còn của sự sáng tạo giả mạo của riêng mình.”33
Những thiếu sót của ông Diệm cũng được tô đậm trong cuốn sách “Chính sách Ngăn chận của Hoa Kỳ và cuộc Xung đột ở Đông Dương” (U.S. Containment Policy and the Conflict in Indochina) của William Duiker, một cựu Sĩ quan phục vụ Bộ ngoại Giao vốn là người đã trở thành một nhà học giả hàng đầu về Chiến tranh Việt Nam. Ông Duiker tương phản của sự thiếu soát của ông Diệm về những niềm tin dân tộc với các nhà lãnh đạo Á châu khác của thời đại:

Không giống như hầu hết các nhà lãnh đạo chính trị trong khu vực, vốn là những người lên nắm quyền lực trên những bờ vai của các phong trào chống thực dân rộng khắp toàn quốc với những cội rễ ở các khu vực thành thị và lẫn nông thôn, ông Diệm không có một đảng chính trị và không có cơ sở quần chúng đông đảo. Ngược lại, ông ta là một thành viên của nhóm tôn giáo thiểu số mà qua đó vì nhân tài và những đặc quyền của nó trong nhiều thế kỷ đã làm dấy lên sự nghi ngờ và oán giận của phần lớn dân cư địa phương… Điều quan trọng không kém là, ông ta thiếu sự hấp dẫn lôi cuốn của Sukarno [ở Indonesia], một Nehru [ở Ấn Độ], một U Nu [ở Miến Điện], hoặc một Hồ Chí Minh để biểu tượng trong con người của mình những nguyện vọng và lý tưởng của dân mình.34

p42

Như những lời chỉ trích nầy về sự lưu ý việc sớm tham gia của Hoa Kỳ, Mỹ nhất thiết tìm cách để bất chấp lịch sử Việt Nam. Đa số người Việt nghĩ về chính họ như đang thuộc về một quốc gia, không phải là hai, và họ vừa mới hoàn thành cuộc đấu tranh cho tự do của họ. Trong cuốn sách của bà ta “Chiến tranh Việt Nam 1945–1990” (The Vietnam Wars 1945–1990), Marilyn Young nói về sự kiêu ngạo và hời hợt của giải pháp của Mỹ:

Hoa Kỳ đã thành công trong việc tạo ra một chính phủ mới mà bây giờ sẽ gọi chính nó là một quốc gia… Hoa Kỳ đã tạo ra một miền Nam Việt Nam và vị lãnh đạo của nó… Tuy nhiên, trên thực tế, [cái gì] Hoa Kỳ đã dốc hết sức để sản xuất, thì không phải là một quốc gia dân chủ, độc lập, mới, nhưng là một gia đình cầm quyền độc đoán bám lấy vào nó bằng quyền lực nước ngoài.35

Trong cuốn sách của ông ta “Một thời cho Chiến tranh” (A Time for War), nhà sử học Robert D. Schuizinger ngắn gọn nhận định “khuyết điểm chính” trong chiến lược của Hoa Kỳ về việc xây dựng một quốc gia: “Hoa Kỳ đã bắt tay vào một nhiệm vụ không thể có thể về việc tạo ra một nhà nước và xã hội riêng biệt ở phần phía nam của một vùng đất duy nhất.”36 Những người Mỹ từ chối chấp nhận sự thống trị chủ nghĩa dân tộc Việt Nam của cộng sản. Trong cuốn sách của ông ta “Chiến tranh của Lyndon Johnson” (Lyndon Johnson’s War), nhà sử học Michael Hunt viết về “quan niệm đơn giản, hời hợt của Washington về của kẻ thù ‘cộng sản’… [mà qua đó] để lại một chủ nghĩa dân tộc lộ hẳn ra trong tình trạng bất hòa với chủ nghĩa cộng sản.” Tin tưởng rằng cộng sản Việt Nam là một công cụ của Moscow, các quan chức Mỹ không thể hiểu rõ được rằng các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam đang “theo đuổi giấc mơ của họ về một Việt Nam hoàn toàn độc lập, được hồi sinh, hiện đại” và rằng giai cấp nông dân không thụ động hoặc phi chính trị “nhưng sẵn sàng là những người được tuyển dụng cho cái gì đó kêu gọi họ như là một chương trình về sự công bằng kinh tế và phúc lợi xã hội.”37
Chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam có những gốc rễ sâu trong phạm vi đất nước trở ngước thời gian đến đầu thập niên 1930s và những năm tuyển mộ, tổ chức, và tuyên truyền đã cho phép nó xây dựng sức mạnh khắp nơi gần như tất cả Việt Nam, nhưng chính sách của Mỹ cho rằng đó là kết quả của sự ảnh hưởng hoặc áp đặt của nước ngoài. Paul Kattenburg quan sát:

Siêu cường Mỹ quốc biểu hiện như là một trong những đặc tính hành xử quan trọng nhất của nó, một niềm tin sâu sắc, hầu như không thay đổi rằng chủ nghĩa cộng sản và cuộc cách mạng là hàng hóa có thể xuất cảng và lẫn nhập cảng, được áp đặt lên dân tộc không có ý muốn. Không có nơi nào mà nó xuất hiện, bao gồm Đông Dương, nó có thể là bản địa thực sự hoặc qua cảm hứng hoặc qua vai trò lãnh đạo… [Chủ nghĩa] cộng sản ở khắp mọi nơi cuối cùng được thấy xem nó… như là một sự áp đặt tai họa từ bên ngoài. Quan điểm chính trị thế giới cuối cùng được nhìn thấy bởi một siêu cường Hoa Kỳ trong suốt Chiến tranh Lạnh lên cao như là một đấu trường mà trong đó những lực lượng cộng sản của bóng tối mãi mãi thách thức những lực lượng Mỹ bên ngoài ánh sáng.38

p43

Những chính sách của chính quyền Diệm có cơ bản hạn hẹp và áp bức là một lý do nổi bật cho những sự khởi đầu của cuộc nổi dậy của cộng sản. Để biện minh tuyên bố của họ về “cuộc xâm lược” của miền Bắc Việt Nam chống lại miền Nam Việt Nam, những người theo chủ nghĩa xét lại mô tả chính phủ Bắc Việt thông qua Đảng Lao động Việt Nam như là sự khích động cuộc chiến đấu ở miền Nam. Trong thực tế, những nguồn gốc của cuộc chiến đấu thì phức tạp hơn và phản ảnh sự tương tác của sự bất mãn miền Nam và những ưu tiên miền Bắc. Đảng Lao động Việt Nam là một đảng phái quốc gia với các đại diện từ miền Bắc và cả miền Nam Việt Nam. Sau khi sự phân chia của Việt Nam vào năm 1954, nó đã bị kẹt ở giữa các lợi ích đang tranh chấp: những người miền Nam, được dẫn dắt bởi Lê Duẩn, khuẩn hoản cho sự trợ giúp của miền Bắc để “giải phóng” miền Nam; những người miền Bắc nói chung muốn tập trung vào việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Việt Nam và cho rằng chính quyền Sài Gòn sẽ sụp đổ bởi vì nhiều yếu kém của nó. Giữa thời gian năm 1954 và 1957, chính phủ Bắc Việt bận tâm với các vấn đề nội bộ của nó, mà qua đó gây ra trầm trọng thêm bởi một chương trình cải cách ruộng đất thiếu quản lý và tàn bạo: trong khi đó, ông Diệm tiến hành một chiến dịch nhằm loại bỏ những người cộng sản ở miền Nam Việt Nam. Đến năm 1957, những người cộng sản miền Nam chịu cay đắng (bấy giờ được dán nhãn là Việt Cộng), sự sống còn của họ đang trong tình trạng hiểm nghèo, đã bắt đầu một làn sóng của các vụ ám sát chống lại những quan chức và phát động các cuộc tấn công chống lại Quân đội miền Nam Việt Nam. Dưới áp lực từ cộng sản miền Nam bị bao vây, miền Bắc Việt Nam dần dần di chuyển trong thời gian năm 1959–60 để hỗ trợ họ và cho việc “giải phóng” miền Nam một ưu tiên cao, qua việc xây dựng một tuyến đường xâm nhập qua Lào vào trong miền Nam Việt Nam (sự khởi đầu của cái gì trở thành Đường mòn Hồ Chí Minh), việc gởi hàng trăm cựu Việt Minh có nguồn gốc người Nam trở lại miền Nam (vào khoảng 90.000 người miền Nam đã từng “tập kết” ra Bắc vào năm 1954–55) nơi mà họ sắp sửa tổ chức và dẫn đầu cuộc nổi dậy, việc tuyển dụng những cán bộ thêm, việc chỉ đạo những quân nổi dậy, và cuối cùng là việc tổ chức QĐNDVN.(pc 04) Những hành động của Bắc Việt phản ảnh những áp lực từ các nhà lãnh đạo cộng sản miền Nam cũng như sự nhìn nhận rằng những chính sách đàn áp của ông Diệm đã tạo ra một tình huống thuận lợi cho cách mạng. Phía sau những động thái khởi đầu nầy là sự quyết định của những người lãnh đạo đảng rằng con đường để “giải phóng” sẽ là của cuộc đấu tranh bạo lực mà qua đó sẽ đạt được sự thống nhất cả nước.
Nền tảng cho mục tiêu này là việc thành lập QĐNDVN(pc 04) vốn được trú tính để mang lại với nhau tất cả các nhóm bất mãn với chính phủ Diệm bằng cách hứa hẹn những cải cách kinh tế và xã hội và một chính phủ thực sự độc lập, một chính phủ tự do khỏi ảnh hưởng của nước ngoài (Mỹ). Tại một cuộc họp có tổ chức của nó, QĐNDVN quy tụ những đại diện của nhiều giáo phái tôn giáo, một số tổ chức Phật giáo và Công giáo, và các nhóm khác. QĐNDVN, luôn luôn được thống trị bởi cộng sản, tìm thấy sự ủng hộ rộng rãi. Nó trở thành cánh tay chính trị của phong trào cách mạng trực tiếp chống lại chính quyền Sài Gòn và những người hảo tâm Hoa Kỳ của nó.

p44

Hoạt động cách mạng tăng lên mạnh mẽ hơn. Ông Herring viết về sức mạnh tập hợp của Việt Cộng:

Phần lớn như là một kết quả của những chính sách sai lầm của ông Diệm, những cuộc nổi dậy tìm thấy một đối tượng tiếp nhận –giới nông dân giống như là một “đống rơm sẵn sàng được đốt cháy”… Đến thời điểm, QĐNDVN được hình thành, lực lượng Việt Cộng… đã thu hút hàng ngàn người trung thành từ trong số dân cư nông thôn và đã thiết lập một sự hiện diện ở vô số làng mạc.39

Sự hỗ trợ những người miền Nam của miền Bắc “không sẽ có sản xuất các kết quả mà họ đã làm,” William Turley quan sát, “đã nó không được sự oán giận phổ biến ngày càng tăng của chế độ độc tài của Diệm trong các thành phố và các bất bình đẳng kinh tế và xã hội rằng chế độ của ông duy trì ở nông thôn.”40 Việc loại ra khả năng phục hồi của phong trào cộng sản ở góc độ lịch sử, học giả James Harrison nhận xét, trong cuốn sách “Một cuộc Chiến tranh Bất tận” (The Endless War), rằng điều đó đưa đến từ “việc tổ chức và động cơ thúc đẩy cao… [Một] khả năng nhằm tuyển dụng những người hoạt động từ giới nông dân… [Và] nhằm tổ chức những phân bộ khác của dân cư theo các nguyên tắc của Mặt trận Thống nhất… ‘đoàn kết tất cả mọi người với người mà chúng ta có thể đoàn kết.’ “41

Thứ ba, “sự tín nhiệm” đang trong tình trạng nguy hại chỉ vì những tính toán sai lầm và sự nhận thức sai lạc của Mỹ. Sự quan tâm đến “sự tín nhiệm” thì thích hợp, nhưng nó đã nên dẫn đến sự thoát ra khỏi một vị thế không thể giữ được. Cuộc tranh luận này dựa trên hai điểm quan trọng:
a) là sự quan tâm đến sự tín nhiệm đưa đến từ một chính sách có quan điểm kém cỏi;
b) là sự nhận định của Mỹ về sự tín nhiệm thì hạn hẹp, và không hiểu rõ được những phản ứng của các quốc gia khác đối với tình hình ở Việt Nam.

Về điểm thứ nhất, không chỉ là những người Mỹ sai lầm trong nỗ lực ban đầu của họ về việc xây dựng một quốc gia, nhưng thậm chí nhiều hơn như vậy trong ý không muốn của họ xem xét lại sự cam kết khi mà miền Nam Việt Nam bắt đầu làm cho sáng tỏ vấn đề. Càng thêm nguồn tài lực Mỹ đặt vào trong sự sống còn của miền Nam Việt Nam, càng to lớn hơn uy tín kết hợp với sự thành công hay thất bại của các mục tiêu của Mỹ.
Mức độ mà qua đó những người Mỹ tạo ra Việt Nam như một “thử nghiệm” về giải pháp của quốc gia thì không khôn ngoan như điều đó chưa từng có trước đây. Trong một bài phê bình của phe xét lại tuyên bố rằng tình hình nghiêm trọng buộc thúc đẩy trên Hoa Kỳ bởi các cường quốc cộng sản, John Lewis Gaddis viết rằng điều đó thật ra đưa đến từ việc thiếu quan điểm về chiến lược và lịch sử của các quan chức Mỹ mà qua đó dẫn đến sự bận tâm đối với sự tín nhiệm. Chỉ một cảm nhận về quá khứ gần đây, Gaddis lập luận, sẽ cung cấp một hướng dẫn hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách:

Hoa Kỳ không bao giờ cổ võ quyết tâm của mình để giữ Trung Quốc không trở thành cộng sản vào năm 1949, hoặc miền Bắc Việt Nam vào năm 1954, hoặc thậm chí Cuba vào năm 1959, và những cuộc bại trận nầy không tạo ra một sắp sếp lại có thể nhận thấy rõ phe thân Liên Xô trong quan điềm chính trị thế giới.

p45

Thật khó để hiểu làm cách nào bất cứ ai đã có thể nhìn thấy sự tín nhiệm của Mỹ như đang trong tình trạng nguy hại ở miền Nam Việt Nam cho đến khi các quan chức của chính quyền Kennedy và Johnson, qua sự thất bại của họ phân biệt giữa các lợi ích quan trọng và kém quan trọng, đặt uy tín ở đó một cách thiếu khôn ngoan. Chính là họ, không phải là những đối thủ của họ, vốn là những người đã mạo hiểm tiếng tăm của quốc gia. Như những tiền lệ được đặt ra bởi những người tiền nhiệm của họ cho thấy, họ không cần phải làm như vậy.42

Và về điểm thứ hai, khi Mỹ tăng cường sự hỗ trợ của mình cho miền Nam Việt Nam, các nhà lãnh đạo không thấu hiểu bản chất của sự tín nhiệm. Họ giả định một cách thiết yếu rằng các quốc gia khác –cho dù là bạn hữu, kẻ thù, hoặc trung lập– không mong mỏi Hoa Kỳ thực hiện sự phán đoán quan trọng trong việc thực hiện quyền lực. Lời tuyên bố rằng các quốc gia khác sẽ mất niềm tin vào vai trò lãnh đạo của Mỹ đã khiến cho Hoa Kỳ thất bại đứng bên miền Nam Việt Nam, làm cho nó có vẽ như là các nhà lãnh đạo của các quốc gia đó tin rằng Hoa Kỳ nên bỏ qua những điểm yếu của miền Nam Việt Nam. Trong thực tế, các đồng minh của Mỹ ở châu Âu và châu Á và các quốc gia châu Á nói chung hiểu được tình hình chính trị ở Việt Nam và nhiều nước bị mất tinh thần bởi sự kiên trì của Hoa Kỳ khi vị thế của nó trở nên không thể giữ được lâu hơn nữa. Mối quan tâm mà Hoa Kỳ đang bắt tay vào một chiều hướng sai lầm là một lý do chính yếu tại sao một số ít quốc gia đưa ra vấn đề chính trị, bỏ mặt riêng vấn đề quân sự, sự hỗ trợ và tại sao nhiều nước đang ủng hộ một thỏa thuận qua đàm phán về các vấn đề ở Việt Nam. Sự nhận định của Mỹ về sự tín nhiệm không hiểu rõ rằng điều đó không phụ thuộc vào sự tiếp tục không đổi hướng và không phê phán về một chính sách thất bại; điều đó là một vấn đề của việc thực hành phán đoán và, khi mà những hoàn cảnh đòi hỏi, việc bước lùi xa khỏi một chính sách sai lầm. Trái ngược với những hiểu biết cặn kẻ của các quan chức Mỹ, đó sẽ là điều có thể giữ lại một vị thế vững chắc ở khu vực Đông Nam Á mà không mắc vào cam kết cho việc bảo vệ miền Nam Việt Nam. Những đồng minh của Mỹ, các quốc gia trung lập, và các cường quốc cộng sản sẽ hiểu và tôn trọng chính sách tái nhận định của Hoa Kỳ. Trong sự đề nghị về việc Hoa Kỳ đã nên thiết lập những cam kết của mình như thế nào, William Duiker trình bày về việc họ có liên quan đến sự tín nhiệm như thế nào:

[Một] chính sách thận trọng làm cho nó rõ ràng rằng lời cam kết của Mỹ sẽ được tiến hành chỉ khi nào quốc gia có liên quan cho thấy ý muốn và khả năng để chống lại những áp lực cộng sản với sự hỗ trợ khiêm tốn bên ngoài chắc chắn sẽ cung cấp một sự bảo đảm thích hợp cho các nhà lãnh đạo như thế. An tâm để nói rằng Việt Nam hiếm khi hoặc chưa bao giờ hội đủ một trong hai những điều kiện đòi hỏi.43

Paul Kattenhurg kéo lại với nhau những khuynh hướng đa dạng về chính sách thiếu hoàn thiện của Mỹ mà qua đó đặt đất nước trên con đường dẫn đến chiến tranh: “những khái niệm được bày tỏ sai lầm và được ứng dụng sai lạc về sự ngăn chận, bị thúc đẩy bởi sự bóp méo tư tưởng hệ về việc chống chủ nghĩa cộng sản ở quê nhà, [trong khi]… không đếm xỉa đến những lực lượng của chủ nghĩa quốc gia ở châu Á và đánh giá quá cao một cách hết mức mối đe dọa của Trung-Sô và những hậu quả có thể có của nó trong khu vực.”44

p46

Tóm lược :

Trong số nhiều vấn đề vốn phân chia các nhà văn thuộc phe chủ nghĩa xét lại và phe chính thống, một lý luận về cuộc chiến tranh “cần thiết” đối lại “sai lầm” là cơ bản nhất và không thể hòa giải. Những quan điểm được tạo ra và chống lại việc đứng bên một miền Nam Việt Nam bị bao vây là một lời nhắc nhở khắc nghiệt về độ sắc nét của những khác biệt đương thời vốn là một phần của văn học về các quyết định và hành động của Tổng thống Kennedy và Johnson giữa thời gian năm 1961 và 1965. Một trong những điểm vốn nổi bật trong văn học đó, tuy nhiên, là sự thiếu vắng cuộc tranh luận nghiêm túc trên những giả định và khả năng; chính sách xuất hiện, như nó hầu như thường là thế, từ những quyết định nhằm giải quyết một vấn đề cấp bách, không phải để thuyết trình về những vấn đề cơ bản và dài hạn.
Vì vậy, các cuộc tranh luận vốn đã nên diễn ra vào thập niên 1960s, đã trở thành một phần của tác phẩm về chiến tranh. Và cả hai bên đưa ra một sự pha trộn kỳ lạ về những điểm mạnh và điểm yếu. Phe xét lại tuyên bố rằng những suy xét mang tính chất toàn cầu đòi hỏi phải có sự cam kết vô thời hạn, có giá trị về việc nhấn mạnh bản chất Chiến tranh Lạnh ở một giai đoạn đặc biệt nguy hiểm và một mức độ mà qua đó tất cả những quan điểm của cuộc đối đầu dường như có liên quan với nhau. Về mặt khác, nhằm tạo nên một đất nước nhỏ bé này là trung tâm của trật tự toàn cầu dường như lố bịch. Sự khẳng định của phe chính thống rằng sự thất bại của Hoa Kỳ phân biệt những lợi ích quan trọng từ kém quan trọng đã cho phép sự ngăn chận chiếm lấy những chiều hướng toàn cầu bao gồm một cam kết không thể giữ được ở Việt Nam, khiến thêm nhiều hữu lý. Việc ngụ ý rằng Mỹ đã nên từ bỏ miền Nam Việt Nam, tuy là một quyết định hợp lý và thực tế, vẫn còn khó khăn để tưởng tượng trong phạm vi bối cảnh của quan điểm chính trị trong nước và quốc tế vào đầu thập niên 1960s. Tuy thế, trên quan điểm cơ bản về cuộc chiến tranh “cần thiết” hoặc “sai lầm,” lý luận của phe chính thống dường như mạnh mẽ hơn, bởi vì nó thực sự đi đến một cách đầy đủ hơn trong phần lịch sử Việt Nam và cán cân quyền lực trong phạm vi đất nước và bởi vì nó thực sự dựa trên sự hiểu biết tinh tế hơn về những khả năng của Mỹ và bản chất của sự tín nhiệm. Nhưng nó chính là một “tình huống hiểm nghèo” giữa các vị thế của phe xét lại và chính thống — phe cứng cỏi nhất trong những vấn đề được tìm thấy trong văn học Chiến tranh Việt Nam.
(Ghi chú : p 47–49)

==========================

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ “Hơn là kéo Hoa Kỳ về phía chiến tranh, nhà nước miền Nam Việt Nam bấp bênh đáng lý ra nên có được một lý do để buông ra” : đây là một trong những điểm lý luận tiêu biểu của phe chính thống, không ngoài mục đích chấm dứt Chiến tranh Việt Nam mặc dù những lý luận đó có vẻ gượng gạo và cố chấp vì không thể nói rằng miền Nam Việt Nam lôi kéo Hoa Kỳ vào chiến tranh. Chính Hoa Kỳ chủ động đưa quân mà trước đó Tổng thống Ngô Đình Diệm đã phản đối vì ông ta muốn tự mình điều hành công việc đất nước chống lại cộng sản hầu có được chính nghĩa hơn là nhờ tay Hoa Kỳ. Tuy thế, càng lúc chiến tranh kéo dài, thì càng phụ thuộc vào Mỹ hơn bởi chính quyền miền Nam trong tình huống phụ cấp của Chiến tranh Việt Nam. Lỗi lầm chính yếu là Hoa Kỳ không tạo dựng sức mạnh cho riêng một đất nước mà nó xây dựng để có thể đứng vững và tồn tại chính mình trước khi Hoa Kỳ rút đi. Đây không phải là vấn đề “buông ra” của miền Nam Việt Nam mà là vấn đề “thoát ra” của Mỹ.

pc 02_ Kế hoạch Marshall : một cách chính thức là Chương trình Phục hồi châu Âu, (European Recovery Program = ERP). Đây là một chương trình của Mỹ nhằm hỗ trợ châu Âu nơi mà Hoa Kỳ đưa ra sự hỗ trợ bằng tiền để giúp xây dựng lại nền kinh tế Âu châu sau khi kết thúc Thế Chiến thứ II nhằm mục đích ngăn chận sự lây lan của chủ nghĩa Cộng sản Liên Xô. Kế hoạch nằm trong hoạt động trong vòng bốn năm, bắt đầu vào tháng Tư năm 1948. Những mục đích của Hoa Kỳ là để xây dựng lại một khu vực bị tàn phá bởi chiến tranh, phá bỏ các rào cản trao đổi thương mại, hiện đại hóa kỹ nghệ, và tạo nên một châu Âu thịnh vượng một lần nữa.
Sáng kiến được đặt theo tên của Ngoại trưởng George Marshall. Kế hoạch này có sự hỗ trợ của cả hai đảng phái ở Washington, nơi mà đảng Cộng hòa điều khiển Quốc hội và đảng Dân chủ kiểm soát Nhà Trắng. Kế hoạch phần lớn là sự sáng tạo của các quan chức Bộ Ngoại giao, đặc biệt là William L. Clayton và George F. Kennan. Marshall nói về việc cần đến cấp thiết nhằm giúp đỡ sự phục hồi Âu châu trong bài diễn thuyết của mình tại Đại học Harvard vào tháng Sáu năm 1947.
Kế hoạch tái thiết, được phát triển tại một cuộc họp của các nước Âu châu tham gia, được thành lập ngày 5 tháng Sáu 1947. Nó đưa ra cùng sự trợ giúp cho Liên Xô và các đồng minh của nó, nhưng họ không chấp nhận nó, khi làm như vậy sẽ cho phép một mức độ của quyền kiểm soát của Hoa Kỳ trên các nền kinh tế cộng sản.
Trong suốt bốn năm mà qua đó kế hoạch trong tình trạng hoạt động, 13 $ tỷ đô-la trong việc viện trợ về kinh tế và kỹ thuật được đưa ra nhằm giúp đỡ sự phục hồi của các quốc gia Âu châu vốn đã tham gia trong Tổ chức Hợp tác Kinh tế Âu châu hoạt động. Số tiền 13 $ tỷ này nằm trong phạm vi của Tổng sản Lượng Hoa Kỳ là 258 tỷ đô-la vào năm 1948, và thêm vào 13 $ tỷ trong viện trợ của Mỹ cho châu Âu giữa thời gian kết thúc chiến tranh và bắt đầu Kế hoạch mà qua đó được tính riêng ra từ Kế hoạch Marshall. Kế hoạch Marshall được thay thế bằng Kế hoạch An ninh Hỗ tương vào cuối năm 1951.
Đến năm 1952 khi tài trợ kết thúc, nền kinh tế của mỗi nước tham gia đã vượt qua mức trước chiến tranh; đối với tất cả những nước được nhận Kế hoạch Marshall, khả năng sản xuất vào năm 1951 ít nhất là 35% cao hơn so với năm 1938. Trong hai thập kỷ kế tiếp, Tây Âu hưởng được sự tăng trưởng và thịnh vượng chưa từng có, nhưng các nhà kinh tế không chắc chắn về tỷ lệ nào là trực tiếp nhờ đến Chương trình Phục hồi châu Âu, phần nào là gián tiếp, và bao nhiêu sẽ xảy ra mà không có nó. Kế hoạch Marshall là một trong những yếu tố đầu tiên của việc hội nhập Âu châu, khi nó xóa bỏ những rào cản trao đổi thương mại và thiết lập các cơ sở nhằm phối hợp nền kinh tế trên cấp độ lục địa –đó là, nó kích thích toàn thể việc tái thiết về chính trị của Tây Âu.
Một sử gia kinh tế Bỉ Herman Van der Wee kết luận Kế hoạch Marshall là một “thành công to lớn”:

“Nó đưa ra một động lực mới cho việc tái thiết ở Tây Âu và thực hiện sự đóng góp quyết định cho sự đổi mới hệ thống giao thông, việc hiện đại hóa dụng cụ kỹ nghệ và nông nghiệp, việc tiếp tục lại sự sản xuất bình thường, việc nâng cao năng suất, và việc tạo điều kiện thuận lợi của sự trao đổi thương mại bên trong Âu châu.”

pc 03_ CHNDTQ : Cộng hòa Nhân dân Trung quốc.
pc 04_ QĐNDVN : Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s