Phần 1: Từ những Đường phố đến những Cuốn sách của trường Bowling Green Đại học Tiểu bang

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p1

Phần 1: Từ những Đường phố đến những Cuốn sách
của trường Bowling Green Đại học Tiểu bang:

(Những nguồn gốc của cuộc Tranh luận Kéo dài)

Từ việc bắt đầu của nó, Chiến tranh Việt Nam phân chia người Mỹ. Vào mùa hè năm 1965, Tổng thống Lyndon Johnson thực hiện sự cam kết quân sự vô hạn định cho việc bảo vệ miền Nam Việt Nam. Điều đó xảy đến sau nhiều tháng của cuộc khủng hoảng đang dâng lên mà qua đó để lại một chính phủ miền Nam Việt Nam bị bao vây và quân đội của mình trên bờ vực của sự sụp đổ trong việc đối mặt với một cuộc nổi dậy của cộng sản. Việc ứng dụng hạn chế sức mạnh quân sự của Mỹ đã gây ra thất bại trong việc ngăn chận sự suy thoái chính trị-quân sự. Đầu năm 1965, ông Johnson đã phát động một chiến dịch thả bom chống lại Bắc Việt, vốn đang hỗ trợ những cuộc nổi dậy của Việt Cộng, và đã gởi những đội quân chiến đấu của Mỹ, qua việc bắt đầu với khoảng 3.500 Thủy quân Lục chiến (TQLC). Không kể đến sự gia tăng tốc độ của việc thả bom và việc tăng lên những quân lính đến 40.000 người, các quan chức Mỹ nhìn nhận đến tháng Bảy năm 1965 là một sự cam kết quân sự lớn nhiều hơn chỉ là phương cách của việc cứu lấy miền Nam Việt Nam khỏi sự chiếm lĩnh của cộng sản. Mặc dù sự cố gắng của ông Johnson làm giảm nhẹ tính quan trọng của quyết định mình, dân Mỹ nhận ra rằng nó có nghĩa là hàng chục ngàn binh lính bổ sung sẽ sớm được gởi đến Việt Nam và quả thật quốc gia đang có chiến tranh.
Trong khi hầu hết dân Mỹ ủng hộ quyết định của ông Johnson, việc tiến hành chiến tranh ở Việt Nam gặp phải sự nhiệt tình yếu kém hơn so với các cuộc chiến tranh khác. Khoảng 60% công chúng nghĩ rằng sự cam kết quân sự là đúng, nhưng một phần tư trong số họ nghĩ rằng đó là một “sai lầm,” trong khi phần còn lại thì không chắc chắn. Trong một cuộc thăm dò ý kiến khác mà trong đó dân Mỹ được yêu cầu cho biết tiến trình hành động nào nên được theo sau –bám giữ tuyến phòng, đàm phán và thoát ra, mang chiến tranh đến miền Bắc Việt Nam– thậm chí không được đa số, chỉ là 48%, ủng hộ sự chọn lựa thay thế đầu tiên mà qua đó phản ảnh vị trí của ông Johnson

p2

trong khi 31% ủng hộ “các cuộc đàm phán và thoát ra” (gần như chỉ 17% ủng hộ sự chọn lựa thay thế thứ ba hăng hái hơn, và 4% thì chưa quyết định). Sự do dự nầy trên một phần dân Mỹ tương phản sâu sắc với những thái độ của họ đối với những cuộc chiến tranh gần đây: khi Harry S. Truman gởi đội quân Mỹ để chiến đấu ở Hàn Quốc vào năm 1950, khi George H.W. Bush phát động cuộc chiến tranh trong vùng Vịnh Ba Tư vào năm 1991, và George W. Bush bắt đầu cuộc chiến tranh lật đổ Saddam Hussein vào năm 2003, ít nhất ba phần tư công chúng chấp thuận những quyết định của họ. 1
Cuộc tranh luận công khai trên chính sách của Mỹ ở Việt Nam quả thật đã bắt đầu những tháng trước đó khi ông Johnson cho phép những bước tham gia quân sự của Mỹ sớm nhất. Vào đêm 24–25 tháng Ba năm 1965 –gần như chỉ hai tuần sau đội ngũ nhỏ đầu tiên của những quân lính chiến đấu Hoa Kỳ đổ bộ vào Việt Nam– một “hàng loạt những buỗi thảo luận và giảng thuyết” tại Đại học Michigan đánh dấu sự khởi đầu của sự phản đối chính thức. Khi những người diễn thuyết chỉ trích phong trào hướng theo chiến tranh, những người ủng hộ ông Johnson mang các biểu ngữ tuyên bố “Hết mình với LBJ.”(pc 01) Trong vòng hai tháng tới, những buỗi thảo luận và giảng thuyết được tổ chức tại các khuôn viên Đại học trên khắp nước Mỹ. Những buỗi thảo luận và giảng thuyết thường liên quan một cách riêng biệt đến các bài thuyết giảng, các cuộc tranh luận và thảo luận; và mặc dù tất cả các quan điểm được mời đến đưa ra, định dạng được vượt trội hơn bởi các nhà phê bình về sự leo thang của ông Johnson qua việc can dự của Mỹ. Nhóm sinh viên thuộc Xã hội Dân chủ (SDS = Students for a Democratic Society), qua đó dần dà trở thành tiếng nói chống đối chiến tranh hàng đầu, sắp đặt cuộc tập hợp cấp độ quốc gia trước tiên; nó được tổ chức tại Đài tưởng niệm Washington ở thủ đô quốc gia vào ngày 17 tháng Tư (i.e. năm 1965) và thu hút một số khoảng 25.000 giới trẻ. Một tháng sau –vào ngày 15 tháng Năm– một đám đông trên 100.000 người, hầu hết là những sinh viên đại học, tràn về Washington theo sự đáp ứng đến lời kêu gọi cho buỗi thảo luận và giảng thuyết cấp độ quốc gia.
Những người tổ chức buỗi thảo luận và giảng thuyết cấp độ quốc gia đưa ra thời gian bằng nhau cho các quan chức của chính quyền Johnson. Mặc dù chính quyền từ chối cơ hội đó, nó chẳng bao lâu gởi những “tiểu đội thực thụ” khắp đất nước để đáp trả những người chỉ trích của nó. Bộ ngoại giao ấn hành bản văn kiện “Cuộc gây hấn từ phía Bắc”, qua đó tranh luận rằng Hoa Kỳ bắt buộc vì nghĩa vụ bảo vệ đồng minh của nó, miền Nam Việt Nam, chống lại “cuộc gây hấn” của cộng sản Bắc Việt. Qua việc di chuyển của những cán binh và quân nhu, Bắc Việt hỗ trợ Việt cộng, cuộc nổi dậy của cộng sản mà trong nhiều năm đã và đang tham gia vào chiến dịch của những cuộc tấn công và khủng bố chống lại chính quyền miền Nam Việt Nam. “Cuộc gây hấn từ phía Bắc”kết luận rằng các cường quốc cộng sản chính –Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc– đứng phía sau Bắc Việt. Trong suốt cuộc Chiến tranh Lạnh, chính sách của Hoa Kỳ đã từng được dựa trên nguyên tắc “ngăn chận” chủ nghĩa cộng sản; giống như Hy Lạp, Bá Linh, và Hàn Quốc trước đó, Việt Nam được xem như là một “thử nghiệm” mới nhất về giải pháp của Mỹ đứng bên những đồng minh vốn bị đe dọa bởi chủ nghĩa cộng sản.
Những nhà phê bình về trường hợp đối với chiến tranh của chính quyền, được dẫn đầu bởi một nhà báo biểu tượng lâu năm I.F. Stone mà qua đó Tuần báo I.F. Stone của ông ta trở thành một nguồn tài liệu được đọc khắp nơi và được trích dẫn rộng rãi trong số những nhóm chống chiến tranh,

p3

lập luận rằng cách phân tích nguyên nhân của Bộ Ngoại giao được dựa trên một sự hiểu biết sai lầm về lịch sử Việt Nam và bỏ qua những lời than phiền chính đáng của dân miền Nam Việt Nam chống lại chính quyền độc tài và áp bức của họ, mà Hoa Kỳ đã và đang hỗ trợ trong một thập kỷ. Hoa Kỳ, ông Stone và các nhà phê bình khác lập luận, đang can thiệp vào cuộc nội chiến Việt Nam.(pc 02)

(Isidor Feinstein Stone, một nhà báo có tên tuổi
nhưng lại là một người thiên tả cực đoan, nông cạn)

A- Việc tranh luận về Chiến tranh, 1965–68: Vấn đề Sức mạnh-Tinh thần:

Từ những sự khởi đầu nầy vào đầu năm 1965 và việc gia tăng tốc độ như là sự tham gia ở Việt Nam đều đặn leo thang trong vòng ba năm tới, một cuộc tranh luận giữa những con chim “bồ câu” và “diều hâu” bao lấy công chúng Mỹ. Đáng chú ý là, cả hai bên khẳng định nền tảng tinh thần cao. Qua các cuộc biểu tình, tuần hành, diễn thuyết, và những hình thức chống đối bất bạo động khác –bao gồm sự bất chấp coi thường hệ thống quân dịch chọn lọc vốn tuyển chọn thanh niên vào trong nghĩa vụ quân sự– những người phản đối chiến tranh mang thông điệp của họ rằng nước Mỹ đang chiến đấu một cuộc chiến tranh thiếu tinh thần. Đối với những người hiếu hoà, Hoa Kỳ cần thoát khỏi sự ràng buộc, qua việc rút quân, điều đình sự thỏa thuận, từ một vị trí không thể giữ được. Những người phản đối bị thách thức bởi các nhóm ủng hộ chiến tranh vốn là những người tham gia trong những cuộc phản-biểu-tình và tuần hành nhằm tạo nên quan điểm của mình là chiến tranh thì cần thiết để bảo vệ tự do và ngăn chận sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản. Đối với họ, chiến tranh có mục đích tinh thần cao về việc gìn giữ tự do của miền Nam Việt Nam.
Cuộc tranh luận có một đặc tính hỗn loạn, trong đó nhiều nhóm tham gia, các cuộc biểu tình phản đối thường thiếu phối hợp, và những hoạt động địa phương khác nhau. Phía chống chiến tranh, đặc biệt là, thu hút một đủ loại thành phần những cá nhân và tổ chức. Trong khi những người đàn ông và phụ nữ bị thu hút đến hoạt động về chính trị trong lần đầu tiên, những người khác đã từng tham gia trong các phong trào hòa bình, chống vũ khí hạt nhân, nhân quyền phụ nữ, và dân quyền. Những học giả chính yếu của phong trào chống chiến tranh viết: “có nhiều phong trào phản chiến ở Mỹ. Cuộc biểu tình chống đối có nhiều mặt nạ, quá khác nhau đến nổi một số nhà quan sát cho rằng không có cái gì như thể là một phong trào phản chiến.” Tính đa dạng gây ra sự rối loạn đó, tuy nhiên, phản ảnh một sức mạnh: “cuộc biểu tình chống đối không đều đặn, ngẫu nhiên, vô hiệu quả, mệt mỏi, và rời rạc phản ảnh đặc tính của phong trào hòa bình và chống chiến tranh hơn là một hành động khước từ sự tồn tại của nó.”2 Vì vậy, nó là một phong trào của những phong trào” mà nó di chuyển đến trọng tâm của cuộc tranh luận những chiều hướng chưa từng có ở cấp độ quốc gia.
Song song với các cuộc đối đầu công khai trên các đường phố, trong khuôn viên đại học, và những hình thức khác là một cuộc tranh luận ngoại hạng, được tiến hành trong Quốc hội, trên những bài xã luận nổi bật, và trong một số lượng những cuốn sách. Những buổi điều trần của Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, dưới vai trò chủ tịch của Thượng nghị sĩ J. William Fulbright (thuộc đảng Dân chủ–tiểu bang Alaska)

p4

vốn là người trở nên không còn ảo tưởng bởi chính sách chiến tranh của ông Johnson, nổi lên như là một diễn đàn cho việc chỉ trích chiến tranh. Sớm nhất vào tháng Hai năm 1966, ông Fulbright bắt đầu một bước chưa từng có trước đây về việc tiến dẫn những phiên điều trần về sự cần thiết của chiến tranh mà đất nước này sau đó đang tiến hành. Trong số nhiều nhân chứng của ông ta, không ai thực hiện một tác động to lớn hơn George Kennan, vốn là người hưởng được sự tôn trọng rộng rãi như là một kiến trúc sư chính của chính sách “ngăn chận” Liên Xô. Ông Kennan làm suy yếu đi hiệu quả lý luận của chính quyền, qua việc phát biểu thẳng thắn rằng quyền kiểm soát miền Nam Việt Nam của cộng sản “sẽ không… phơi bày những nguy hiểm đủ to lớn để biện minh cho sự can thiệp quân sự trực tiếp của chúng ta.”3 (pc 03)

(Thượng nghị sĩ James William Fulbright của tiểu bang Alaska,
thuộc đảng Dân chủ là người chống đối Chiến tranh Việt Nam)

(George Frost Kennan, vị Đại sứ ở Liên Xô
và cũng là nhà phản chiến cực đoan)

Sự phân chia sâu sắc này trên vấn đề chiến tranh thật bất ngờ, bởi vì trong một phần tư thế kỷ trước những người Mỹ đã từng ủng hộ một cách mạnh mẽ chính sách đối ngoại của quốc gia. Hầu hết các cuộc chiến tranh trước đó trong lịch sử nước Mỹ –theo niên đại trở lại cuộc Cách mạng chống lại Anh Quốc và tiếp tục vào trong cuộc Chiến tranh của năm 1812, là Chiến tranh Mexico, và Thế Chiến thứ I– đã từng gây ra tranh cãi, với đa số dân Mỹ đáng kể thách thức sự cần thiết của các cuộc chiến tranh. Nguyên nhân của Liên Bang trong suốt cuộc Nội Chiến luôn luôn bị phản đối bởi đại đa số dân miền Bắc, mà qua đó đặc biệt hiển hiện trong các cuộc bạo loạn chống lại chế độ cưỡng bách tòng quân. Thế Chiến thứ II là một ngoại lệ đáng chú ý; được huy động bởi cuộc tấn công Trân Châu Cảng của Nhật Bản và bởi tinh thần chính nghĩa của Đồng Minh, những dân Mỹ không có gì nghi ngờ về sự cần thiết đánh bại những mạnh phe Trục. Chiến tranh Lạnh nhanh chóng theo sau, và điều đó dường như đối với những dân Mỹ là Liên Xô đang theo đuổi một kiểu xâm lược từng phần mà dân Đức, Nhật Bản và Ý đã từng tham gia trước khi Thế Chiến thứ II; Hoa Kỳ, nó dường như, không có sự lựa chọn ngoài việc chận đứng sự xâm lược trong những giai đoạn đầu của nó, vì vậy chiến lược “ngăn chận” được chấp nhận một cách hài lòng như là cần thiết cho an ninh quốc gia. Khi Chiến tranh Lạnh trở nên “nóng” như Liên Hiệp Quốc chiến đấu một “cuộc chiến tranh hạn chế” tại Hàn Quốc từ năm 1950 và 1953, điều đó phát sinh một số bất đồng trong số những dân Mỹ; cuộc tranh luận đó, tuy nhiên, không quá nhiều hơn sự cần thiết của việc chống lại cuộc xâm lược của cộng sản, khi nó diễn ra trên phương cách tiến hành chiến tranh.
Cơ bản của sự đồng thuận của dân Mỹ phía sau Thế Chiến thứ II và Chiến tranh Lạnh thì rất quan trọng trong việc tìm hiểu lý do tại sao vấn đề Việt Nam phân chia dân Mỹ và tại sao nó dẫn đến cuộc tranh luận cãi vả nhất trên chiến tranh nước ngoài trong lịch sử quốc gia. Những người Mỹ thuộc thế hệ của Thế Chiến thứ II–Chiến tranh Lạnh đã quen với việc liên kết sức mạnh quốc gia với một chính nghĩa đạo đức.4 Khi quyền lực đó trở nên to lớn hơn, nó đã nhấn mạnh đến niềm tin rằng việc sử dụng lực lượng quân sự chống lại chế độ độc tài vốn đe dọa những giá trị dân chủ –cho dù trong chiêu bài của chủ nghĩa phát xít hay chủ nghĩa cộng sản– được cho là hợp lý và thực sự cần thiết. Đối với nhiều người Mỹ, sự can thiệp ở Việt Nam thiếu sự liên kết sức mạnh tinh thần đó. Họ đã từng ủng hộ Thế Chiến thứ II và Chiến tranh Triều Tiên với một lương tâm tốt, nhưng điều gì mà họ nhìn thấy và học được về Việt Nam, để lại cho họ lòng hoài nghi về sự chính trực của chính nghĩa của quốc gia họ.

p5

Trong vòng hai năm trước khi Mỹ hóa chiến tranh vào mùa hè năm 1965, người Mỹ đã từng nhìn thấy miền Nam Việt Nam bị xé nát bởi phe đối lập từ ban lãnh đạo Phật giáo. Sự chống đối này bao gồm việc tự thiêu được công khai rộng rãi của những tăng ni phản đối chính phủ Ngô Đình Diệm được Mỹ hỗ trợ. Sau đó, đi đến việc lật đổ chính quyền Diệm vào tháng Mười Một năm 1963 và những vụ ám sát tàn bạo ông Diệm và người em của mình, mà qua đó được theo sau nối bởi một hàng loạt cuộc đảo chánh rối loạn của và những cuộc đảo chánh phản ngược giữa các bè phái quân sự và dân sự. Trong khi đó, Việt Cộng đang đẩy mạnh các cuộc tấn công của nó. Tình hình ở miền Nam Việt Nam khiến nhiều người tự hỏi: có phải chăng nhà nước miền Nam Việt Nam bị phân chia này xứng đáng với sự hỗ trợ của Mỹ? Làm thế nào Mỹ có thể “cứu lấy” một dân tộc vốn là những người thiếu sự đoàn kết và giải pháp trong việc chiến đấu chống lại chủ nghĩa cộng sản? Bản chất “hiếu chiến” của Bắc Việt, hơn nữa, che giấu thêm nữa điều đòi hỏi tinh thần cho chiến tranh. Không giống như những hành động “hiếu chiến” thông thường mà trong đó quân đội vượt qua những biên giới quốc tế, như đã từng xảy ra trong những nguồn gốc của Thế Chiến thứ II hoặc như Bắc Hàn đã từng làm vào năm 1950, tính chất “hiếu chiến” ở Việt Nam mang lấy hình thức của một phong trào trong bóng tối của những cá nhân, nhóm nhỏ, và nguồn tiếp vận từ miền Bắc Việt Nam qua những khu rừng già và dãy núi vào trong miền Nam Việt Nam. Tính chất “hiếu chiến” này dường như thiếu loại điều đòi hỏi tinh thần cho một phản ứng của Mỹ cũng như đã từng là trường hợp ở Hàn Quốc 15 năm trước đó.
Như là một kết quả của việc làm tan vỡ sự liên kết sức mạnh tinh thần này, nhiều phần lớn vị thế chống chiến tranh dựa trên những sự phản đối về tinh thần. Những điều nầy tập trung vào ba vấn đề riêng biệt, nhưng có liên quan với nhau. Thứ nhất, chiến chiến được lên án như là bất hợp pháp. Nó được cho rằng Hoa Kỳ vi phạm Hiệp định Genève năm 1954 vốn quy định cho sự chấm dứt quyền cai trị của Pháp ở Đông Dương và cho sự thống nhất của Việt Nam sau việc phân chia “tạm thời” trong vòng hai năm trở thành những “vùng” phía bắc và nam. Thay vì qua sự bồi dưỡng của Mỹ cho miền Nam Việt Nam như là một nhà nước độc lập, Hoa Kỳ đã làm thành vĩnh viễn sự phân chia của Việt Nam. (pc 04) Điều đó cũng được cho rằng Hoa Kỳ vi phạm những điều khoản của Hiến chương Liên Hiệp Quốc và của sự thỏa thuận trong việc thành lập Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á. Và nó cũng nói lên rằng Tổng thống Johnson thiếu quyền hiến pháp để tiến hành chiến tranh, bất chấp những tuyên bố của ông ta về thẩm quyền dưới Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ được thông qua bởi Quốc hội vào tháng Tám năm 1964.
Thứ hai, khi chiến tranh của Mỹ leo thang, điều đó trở nên rõ ràng rằng không có gì đang thay đổi. Điều này khẳng định rằng Hoa Kỳ đã làm nên những sai lầm tai hại về việc can thiệp vào cuộc nội chiến giữa người Việt Nam và việc cố gắng áp đặt mục đích của nó cho một nước Việt Nam bị phân chia. Điều này đi ngược trở lại một thập kỷ đến sự thất bại bổ sung điều khoản của Hiệp định Genève cho những cuộc bầu cử quốc gia mà qua đó là công cụ trong việc phát động chiến tranh của Việt Cộng-Bắc Việt; sự kiện này có mục tiêu lật đổ chính quyền miền Nam Việt Nam và thống nhất đất nước.

p6

Đó chính là phong trào cộng sản, được dẫn dắt bởi Hồ Chí Minh, vốn đã từng chiến đấu chống Pháp và đã giành được lớp áo ngoài của tính chất hợp pháp dân tộc Việt Nam. Hơn nữa, Việt Cộng và các đối thủ khác của chính quyền Sài Gòn được Mỹ hỗ trợ có những bất bình nghiêm trọng chống lại những chính sách độc tài và độc đoán của nó. Vì vậy, không chỉ là Hoa Kỳ bị lôi cuốn vào một cuộc xung đột mà dân Việt Nam cần giải quyết cho chính mình, nó đang can thiệp vào qua việc thay mặt cho một chính phủ mà không có tính hợp pháp giữa người dân của mình. Khi vào mùa hè năm 1965, Mỹ nhấn mạnh về sự ổn định trong chính quyền Sài Gòn, hai nhà lãnh đạo quân sự vốn là những người xuất hiện chịu trách nhiệm –Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ– hội nhập ít lòng nhiệt tình ở Washington hoặc ở miền Nam Việt Nam; như một quan chức Mỹ cho biết, cặp đôi này “dường như đối với tất cả người Mỹ họ là đáy thùng, hoàn toàn là đáy thùng”5 Nhà sử học David Levy viết rằng “trong suốt cuộc tranh cãi về vấn đề Việt Nam, những người Mỹ đó vốn là những người phản đối chiến tranh, không có những người đồng minh hiệu quả hơn so với chuỗi lãnh đạo tham nhũng, thiếu hiệu quả, kiêu ngạo, cứng đầu của miền Nam Việt Nam vốn là những người diễn hành qua sân khấu giống như rất nhiều nhân vật từ một ca kịch cổ truyền khôi hài nào đó.”6
Mũi dùi thứ ba về lý lẽ tinh thần –quan điểm về tình cảm và sức mạnh nhất đối với nhiều người Mỹ cũng như các nhà phê bình nước ngoài về chiến tranh– đối phó với bản chất gây chết người của chiến tranh Hoa Kỳ. Sự tường thuật chiến tranh bao gồm những việc mô tả qua ấn loát và hình ảnh về việc sử dụng hỏa lực rộng rãi mà qua đó chiến lược của Mỹ phụ thuộc vào. Một loạt các vũ khí, được làm ra nguy hiểm hơn bởi kỹ nghệ, mang chiến tranh vào trong hầu như tất cả các khu vực của Việt Nam. Không có khía cạnh nào của chiến dịch quân sự bị nhiều chỉ trích hơn là vụ thả bom miền Bắc Việt và các vị trí của cộng sản ở miền Nam Việt Nam. Thêm vào đó, những chiếc máy bay Mỹ thả xuống những chất khai hoang hóa học và sinh học mà qua đó phá hủy những khu rừng và các loại cây trồng khắp nông thôn miền Nam Việt Nam. Việc sử dụng rộng rãi bom lửa hóa chất, với khả năng của nó gây ra cái chết tức thời hoặc biến dạng trên những nạn nhân của nó, đã phát sinh ra sự phẫn nộ về đạo đức vẫn còn lớn hơn. Thực tế là Hoa Kỳ đang gây ra sự hủy hoại lớn như thế trên một xã hội nông dân phần lớn không có khả năng tự vệ, không thể tránh khỏi việc giết chết và gây ra tàn tật cho hàng ngàn người dân, đã loại bỏ bất kỳ tuyên bố nào đối với thầm quyền đạo đức của Mỹ.
Trọng tâm đối với lý luận trái ngược của những người bảo vệ chiến tranh đó là sự liên kết sức mạnh tinh thần chiếm ưu thế. Vì thế, từ một vị Tổng thống và các phát ngôn viên cho chiến tranh, cả bên trong và bên ngoài những vòng tròn quan chức, đi đến lời tuyên bố khăng khăng rằng chiến tranh có điều đòi hỏi về tinh thần trong sạch. Bên cạnh việc đáp trả những tuyên bố về cuộc chiến tranh bất hợp pháp, những con diều hâu nhấn mạnh Việt Nam là một “thử nghiệm” Chiến tranh Lạnh khác đối với Mỹ như thế nào, Adlai Stevenson, là vị Đại sứ Hoa Kỳ đối với Liên Hiệp Quốc, phát biểu vào năm 1964: “quan điểm ở Việt Nam thì giống như điều đó ở Hy Lạp vào năm 1947 và tại Hàn Quốc vào năm 1950”7 Việc thất bại giữ vững “lời cam kết” đối với miền Nam Việt Nam sẽ khuyến khích những bước tiến của cộng sản táo bạo hơn đến nơi nào khác ở châu Á.

p7

Trong một bài diễn thuyết chính yếu về Việt Nam trong tháng Tư năm 1965, Tổng thống Johnson nói với dân Mỹ:

Hãy để không ai nghĩ trong một khoảnh khắc rằng việc rút quân khỏi Việt Nam sẽ mang đến một kết thúc cho cuộc xung đột. Trận chiến sẽ được bắt đầu lại trong một quốc gia và sau đó một quốc gia khác. Bài học trọng tâm của thời đại chúng ta đó là sự ham muốn xâm lược thì không bao giờ thỏa mản. Rút quân khỏi một chiến trường chỉ có nghĩa là để chuẩn bị cho cuộc rút quân kế tiếp.8

Những mục tiêu của Mỹ là lòng vị tha; trong cùng một bài diễn thuyết, ông Johnson cho biết: “Chúng ta không muốn gì cả cho chính mình, chỉ là người dân miền Nam Việt Nam được phép hướng dẫn đất nước của họ theo cách riêng của họ.”9 Và bốn năm sau đó, Tổng thống Richard Nixon phát biểu: “mọi thứ có thể thương lượng ngoại trừ quyền của người dân miền Nam Việt Nam quyết định tương lai của họ.”10 Vì vậy, đối với những người bảo vệ chiến tranh, mục tiêu tinh thần đã được thể hiện trong điều đòi hỏi để chống lại sự xâm lăng của cộng sản, đứng bên cạnh một đồng minh, và duy trì trật tự quốc tế.
Khi sự can thiệp của Mỹ leo thang, Việt Nam trở thành một vấn đề trong quan điểm chính trị của Mỹ. Bắt đầu từ năm 1966 và tiếp tục cho đến năm 1972, những người Mỹ trong các cuộc thăm dò dư luận đã xác định “Việt Nam” như là một vấn đề khó khăn chính yếu của quốc gia. Không một ai trong năm 1965 nhìn nhận sự thử thách kéo dài vốn nằm ở phía trước. Vào năm 1965, khi Hoa Kỳ nhận lãnh vai trò chiến đấu trực tiếp ở Việt Nam và các tranh luận trên các hành động của ông Johnson bắt đầu, một số ít người Mỹ dự đoán rằng Hoa Kỳ chỉ đang bắt đầu cuộc chiến tranh dài nhất của nó. Không phải cho đến năm 1973 việc thỏa thuận sẽ chấm dứt sự tham gia của Hoa Kỳ và đưa về nước đội quân chiến đấu cuối cùng của Mỹ. Trong khi đó, tại đỉnh cao của nó trong năm 1967–68, sự hiện diện của quân đội Mỹ sẽ đạt đến 535.000 người và sẽ tốn chi phí 30$ tỷ đô-la một năm (trên 200$ tỷ đô-la hàng năm trong năm 2007). Khi việc leo thang thất bại mang lại chiến thắng, cuộc tranh luận gia tăng mạnh hơn và ngày càng trở nên gay gắt. Tính cách lịch sự nhường cho sự phẫn nộ về đạo đức tự cho là đúng đắn, và không khoan dung. Những con chim bồ câu thường được gắn nhãn là những người có cảm tình với cộng sản, những người thoả hiệp vô nguyên tắc, ngây ngô và không trung thành, trong khi những con chim diều hâu tìm thấy chính mình được mô tả đặc điểm như là những tay lái buôn chiến tranh, những kẻ giết trẻ thơ, kiêu ngạo, và thiếu đạo đức. Việc leo thang và thiếu quyết định trong chiến tranh được chiến đấu nửa đường trên khắp thế giới đã cuối cùng phân chia đất nước sâu đậm hơn bất kỳ sự kiện nào kể từ cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ một thế kỷ trước đó.
Những cuộc thăm dò dư luận trong suốt giai đoạn đó cho thấy mức độ mà qua đó những dân Mỹ không chỉ bị chia rẽ trên vấn đề chiến tranh mà còn trên vấn đề nó nên kết thúc như thế nào. Chiến tranh sản sinh những phản ứng khác nhau, và theo một vài cách nào đó, mâu thuẫn nhau. Trên một mức độ, có một khuynh hướng chung, nếu không đồng đều, hướng đến việc càng lúc càng nhiều người Mỹ hơn suy xét chiến tranh là một “sai lầm.” Điều này có thể được truy tìm trong những đối đáp cho câu hỏi — “Theo quan điểm về những phát triển kể từ khi chúng ta bước vào việc chiến đấu, bạn có nghĩ rằng Hoa Kỳ đã làm một sai lầm trong việc gởi những quân lính để chiến đấu ở Việt Nam không?”–

p8

qua đó nó được sử dụng trong nhiều các cuộc thăm dò ý kiến công chúng bắt đầu vào năm 1965. Giữa khoảng thời gian từ năm 1965 đến cuối năm 1967, tỷ lệ những dân Mỹ cho rằng đó là một “sai lầm,” đã gia tăng từ khoảng một phần tư (24%) đến gần một nửa (46%), trong khi những đối đáp “không phải là một sai lầm” giảm xuống từ 60% đến 44%. Sự bất mản đang chồng chất này dường như hỗ trợ luận điệu phản chiến rằng Hoa Kỳ nên thoát ra, tuy thế những người Mỹ hầu hết xác nhận chính mình như là những con “diều hâu,” không phải là “bồ câu.” Sự mơ hồ này được lưu ý trong các cuộc thăm dò ý kiến cho thấy rằng trong khi những người Mỹ ủng hộ những lời kêu gọi của phe bồ câu hiếu hòa cho các cuộc đàm phán, họ mang tính chất diều hâu trong việc từ chối một giải pháp vốn có thể dẫn đến sự thống trị Việt Nam của cộng sản. Điều này khiến cho nhiều người Mỹ ủng hộ việc leo thang chiến tranh xa hơn như là một phương pháp duy nhất kết thúc chiến tranh một cách thỏa đáng. Dử kiện thăm dò ý kiến, vì vậy, cho thấy rằng mặc dù những người Mỹ ngày càng không hài lòng với sự điều hành chiến tranh vốn đã từng thực hiện và tin rằng điều đó là được một chủ trương sai lầm, họ nhất định rằng chiến tranh không thể kết thúc trong bại trận.”11
Như phản ứng đó đối với chiến tranh chỉ ra rằng, một viễn ảnh “thất bại” thì luôn luôn nổi bật –theo một cách nào đó, là trọng tâm– đối với cuộc tranh luận về Việt Nam. Sự “thất bại” luôn luôn được dự đoán trước: đối với các nhà phê bình, điều đó thì vốn gắn liền trong quyết định tiến hành chiến tranh; đối với những người ủng hộ, điều đó có thể nhìn thấy trước nếu những người Mỹ thiếu quyết tâm, và nếu sức mạnh quốc gia được sử dụng một cách không hiệu quả.
Đối với những người hiếu hòa, chiến tranh thì vô ích, không có hiệu quả từ khởi đầu: nước Mỹ tham gia vào một “việc lặc vặt ngu xuẩn” mà trong đó mục tiêu chính trị của một miền Nam Việt Nam độc lập không-cộng-sản không có thể đạt được bằng các phương pháp quân sự, hoặc ít nhất là bằng phương pháp vốn không gây ra nguy cơ chiến tranh với các cường quốc cộng sản chính yếu. Những người chỉ trích nhấn mạnh điều gì mà họ xét là những trở ngại chính trị khó thể vượt qua: sự yếu đuối và thiếu giải pháp của chính phủ miền Nam Việt Nam, tính hợp pháp và quyết tâm to lớn hơn của miền Bắc Việt Nam và cuộc nổi dậy của cộng sản ở miền Nam Việt Nam, khả năng thu nhận của miền Bắc Việt Nam thu hút các nguồn tiếp tế của Liên Xô và Trung Quốc, và sự không bằng lòng của những cường quốc đó chấp nhận một cuộc bại trận các đồng chí của họ ở Việt Nam. Hans Morgenthau, có lẽ là một học giả hàng đầu về các mối quan hệ quốc tế, nói về sự vô ích của việc tham gia của Mỹ, qua việc đặt ra câu hỏi làm thế nào Hoa Kỳ có thể có được uy tín “bằng cách tham gia vào cuộc nội chiến trên vùng đất liền của châu Á và không có khả năng chiến thắng nó.” Một thất bại sắp xảy đến, ông Morgenthau tiếp tục, cần thiết phải suy nghĩ lại việc làm táo bạo: “Có phải chăng một sức mạnh vĩ đại không có được uy tín bằng việc tập trung sự khôn ngoan và can đảm cần thiết để chấm dứt một việc làm táo bạo đang thua thệt?”12
Trên mặt khác, những người ủng hộ chiến tranh nhấn mạnh tầm quan trọng của sự sống còn của miền Nam Việt Nam trong điều kiện của việc giữ vững vị thế và uy tín của Mỹ trên thế giới. Đó là cuộc chiến tranh mà Hoa Kỳ phải “chiến thắng” –để buộc sự chấp nhận của Bắc Việt về một đất nước bị phân chia. Trong khi phe bồ câu là những người hiếu hòa tập trung vào những trở ngại chính trị đối với những mục đích của Mỹ, phe diều hâu là những người hiếu chiến nhấn mạnh đến tiềm năng quân sự của Mỹ.

p9

Sức mạnh của Hoa Kỳ, được áp dụng thích hợp, sẽ đẩy Bắc Việt ra khỏi chiến trường. Điều gì đó làm phiền phe diều hâu là, điều mà họ suy xét, bằng chứng ngày càng nhiều về việc thiếu giải pháp của Mỹ trên hai mức độ: việc ứng dụng sai lầm sức mạnh quân sự và những phân chia trên cuộc chiến trong phạm vi một đất nước. Tầm quan trọng của chiến lược Mỹ được ứng dụng từ năm 1965 đến 1968, nhiều người ủng hộ chiến tranh nhìn thấy nó như là một “chiến lược bại trận.” Phe diều hâu liên tục than phiền về những giới hạn được đặt trên các hoạt động quân sự, và sự nản lòng của họ được gôm lại từ lúc đầu trong chiến tranh khi một Đại biểu Quốc hội nói với ông Johnson: “chiến thắng hoặc là cút đi.”13 Đến mùa hè năm 1967, các sĩ quan quân đội có chức vụ cao đã trở nên ngày càng quan trọng về điều gì đó mà họ xem là những hạn chế dân sự không bảo đảm về các hoạt động quân sự. Những buỗi điều trần được tiến hành bởi một ủy ban phụ thuộc Ủy ban Phục vụ Vũ trang Thượng viện dưới vai trò lãnh đạo của Thượng nghị sĩ Dân chủ John Stennis của tiểu bang Mississippi đưa ra một cơ hội cho Ban tham Mưu Trưởng Kết hợp trình bày tỉ mỉ những lời chỉ trích của họ về những hạn chế của ông Johnson về chiến tranh trên không, qua việc tuyên bố rằng trừ khi nào lực lượng không quân có thể thả bom tất cả các mục tiêu tiềm năng, đó sẽ là điều không bao giờ có thể chiến thắng chiến tranh.14 Phe diều hâu cũng tin rằng những viễn ảnh về việc sửa đổi những khiếm khuyết của chiến lược bị phá ngầm bởi những chia rẽ ở trong nước, mà qua đó không chỉ ăn mòn tinh thần quốc gia mà còn trợ giúp kẻ thù. Trong bài nói chuyện xem như là một biến cố trọng đại của Tổng thống Richard Nixon vào ngày 3 tháng Mười Một năm 1969, ông ta kêu gọi cho sự hỗ trợ của “đại đa số im lặng” trong cố gắng của mình để đạt được “hòa bình trong danh dự”. Gạt bỏ các nhà phê bình chống chiến tranh khi chọn “cách dễ dàng” hầu kết thúc chiến tranh, ông ta cảnh cáo rằng sự thất bại ở Việt Nam có thể được tránh khỏi chỉ khi nào “dân Mỹ có khả năng chịu đựng về tinh thần chiến đấu và lòng can đảm” để hỗ trợ miền Nam Việt Nam. Nếu Mỹ thất bại —“một bại trận đầu tiên trong lịch sử của đất nước chúng ta”— kết quả sẽ thật là thảm họa: qua việc xoáy mòn niềm tin vào vai trò lãnh đạo của Mỹ và “sự sống còn thực sự của hòa bình và tự do… trên khắp thế giới.”15 “Sự thất bại” sẽ là quá tốn kém không thể liệu trước được.
Những nhà phê bình chiến tranh khống chế cuộc tranh luận đương thời. Đó là những người biểu tình chống đối, phản chiến vốn là những người đầu tiên đưa vấn đề lên các đường phố. Chính sự bất đồng quan điểm đáng chú ý nầy –chưa từng có trong Chiến tranh Lạnh– của những nhà lãnh đạo chính trị tự do, các nhà báo, và các viện sĩ hàn lâm vốn thu hút được sự chú ý lớn nhất. Trong 20 năm qua, tính chất ưu tú về chính sách đối ngoại đã xác nhận một cách rõ ràng việc ngăn chận chủ nghĩa cộng sản, và bây giờ nó bị phân chia, khi nhiều nhân vật có vị thế đang thách thức một cuộc chiến tranh đang được diễn ra theo danh nghĩa của việc ngăn chận.

B- Trận chiến của những cuốn sách: Phe diều hâu và Bồ câu:

Quan điểm chiếm ưu thế trước đó về chiến tranh như là một sai lầm được phản ảnh trong một số lượng những cuốn sách đương thời. Những tựa đề của nhiều tác phẩm như thế chuyên chở ý nghĩa của một sứ mệnh sai lầm; hàng loạt những quá trình kinh nghiệm của các tác giả nói đến sự phóng khoáng của các nhà phê bình chiến tranh.

p10

“Việc hình thành một Vũng lầy” (The Making of a Quagmire) được viết bởi David Halberstam, vốn là người đã từng nhận được giải thưởng Pulitzer vào năm 1963 cho công việc tường thuật của ông ta như là một phóng viên của Thời báo New York (New York Times) ở Sài Gòn; trong cuốn sách bán chạy nhất của mình, ông Halberstam kết luận rằng không có kết quả thỏa đáng nào cho Hoa Kỳ. “Washington lên Kế hoạch Chiến tranh Xâm lược” (Washington Plans An Aggressive War) được trước tác chung với Richard J. Barnet, vốn là người đã từng làm việc cho Bộ Ngoại giao trong suốt chính quyền Kennedy trước khi đồng sáng lập Viện Nghiên cứu Chính trị (IPS = Institute for Policy Studies), là bộ óc đầu não của phe cánh tả vào năm 1963, với Marcus Raskin, vốn là người đã từng làm việc trên ban nhân viên của Hội đồng An ninh Quốc gia trước khi gia nhập với ông Barnet thành lập IPS, và cùng với Ralph Stavins, một viện sĩ của IPS. “Sự can thiệp và cuộc Cách mạng” (Intervention and Revolution), một bài phê bình có tầm rộng lớn về việc chống đối của Hoa Kỳ đối với các phong trào cánh tả, cũng được viết bởi ông Barnet. “Sự lạm dụng Sức mạnh” (The Abuse of Power) là tác phẩm của Theodore Draper, một sử gia-nhà báo độc lập lâu năm và là người có quyền lực trên các phong trào cộng sản ở Mỹ và nước ngoài. Trong một cuốn sách tương tự, “Sự kiêu ngạo của Sức mạnh” (The Arrogance of Power), của vị Thượng nghị sĩ có ảnh hưởng J. William Fulbright, vốn là người được biết đến như là một người có thẩm quyền hàng đầu về chính sách đối ngoại và đã từng nổi lên như là một nhà phê bình hàng đầu về chiến tranh, đã nhìn thấy Hoa Kỳ hành động tương tự như cách mà các cường quốc khác trong suốt lịch sử đã làm trong việc mở rộng quá mức những cam kết và các nguồn tiếp tế của họ, dẫn đến sự suy giảm cuối cùng của họ. “Một di sản Cay đắng” (The Bitter Heritage) của Arthur M. Schlesinger, là một sử gia đoạt giải Pulitzer và là tùy phái viên trước đây cho Tổng thống John F. Kennedy, và “Cuộc viễn chinh Thu thiệt” (The Lost Crusade) của Chester Cooper, một cựu quan chức của Bộ ngoại Giao, theo dấu vết một chính sách sai lạc –một ứng dụng sai lầm của học thuyết ngăn chận– vốn dẫn đến một chiến tranh bi thảm và sai lầm.16 “Việt Nam và Hoa Kỳ” (Vietnam and the United States), một cuốn sách với một tựa đề tầm thường hơn của một học giả được nhắc đến trước đó là Hans Morgenthau, vốn là người, viết từ một quan điểm theo “phái hiện thực”, đã tạo ra một quan điểm rất giống nhau: rằng việc theo đuổi sự ngăn chận toàn cầu trong một khu vực có ý nghĩa chiến lược không đáng kể bị lãng phí và cả mở rộng quá mức các nguồn tiếp tế: “sự ngăn chận quân sự ngoại biên thì phản tác dụng” đưa đến kết quả trong một “cuộc chiến tranh vô tri, vô vọng, và tàn bạo.”17
Việc bổ sung những tác phẩm này, vốn giải quyết hầu hết những phát triển của thập niên 1950s và 1960s, một số lượng những bài học thuật vốn chỉ trích những hành động của Hoa Kỳ trong phạm vi khuôn khổ rộng lớn hơn về lịch sử và văn hóa Việt Nam. Những bài học thuật nầy bao gồm: “Hoa Kỳ ở Việt Nam”(The United States in Vietnam) của hai chuyên gia hàng đầu về Đông Nam Á, George MCT. Kahin và John W. Lewis, vốn là những người nhìn thấy người Mỹ tham gia vào một nỗ lực sai lạc làm hư hại chủ nghĩa dân tộc; “Việt Nam: Một lịch sử Chính trị” (Vietnam: A Political History) của Joseph Buttinger, là một nhà hoạt động chính trị và một sử gia được sinh ra ở Đức, vốn là người đã từng hỗ trợ chính phủ Diệm và đã giúp đỡ thiết lập trung tâm Những người bạn Mỹ của Việt Nam mà qua đó vận động cho sự ủng hộ của miền Nam Việt Nam, nhưng vốn là người tin rằng sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ tất yếu phải thất bại.18 Trong số những cây viết học thuật hơn, người được biết đến nhiều nhất và được tôn trọng rộng rãi là Bernard Fall, một học giả được sinh ra ở Pháp, có nền giáo dục Mỹ

p11

vốn là người viết rất nhiều về Việt Nam bắt đầu vào thập niên 1950s. Sinh sống ở Việt Nam trong suốt phần lớn thời gian đó, những quan sát đầu tiên và các phỏng vấn về những nhân vật của ông Fall về tất cả các mặt của cuộc đấu tranh chính trị tạo cho ông ta là một chuyên gia lão luyện đương thời có ảnh hưởng nhất, và được biểu dương nhất. Nhiều cuốn sách của ông ta –vốn bao gồm “Địa ngục trong một Nơi rất Nhỏ” (Hell in a Very Small Place), “Con đường Không có Niềm vui” (Street without Joy),“Hai nước Việt Nam” (The Two Vietnams) –phản ảnh một cố gắng phóng khoáng để hiểu sự thay đổi chính trị và sự xung đột trong một nước Việt Nam rắc rối. Mặc dù ông Fall là một người chống cộng mạnh mẽ và được xác định với mục tiêu gìn giữ miền Nam Việt Nam như là một đất nước độc lập, ông ta xem sự phụ thuộc của Mỹ vào phương tiện quân sự như là sự tàn phá xã hội Việt Nam và dẫn đến lòng oán giận và thù hận những người Mỹ. Ông Fall bị giết chết ở Việt Nam vào tháng Hai năm 1967, là nạn nhân của viên đạn của người bắn tỉa; những bài viết cuối cùng của ông ta được xuất bản sau thời gian quá cố như là “Những phản ảnh Cuối cùng về Chiến tranh” (Last Reflections on a War). Trong cuốn sách đó, ông ta viết về chiến tranh của Mỹ như là “cuộc nổi dậy phản ngược bằng kỹ nghệ … làm mất đi cá tính… làm mất tính người và tàn bạo” mà qua đó có thể mang lại một chiến thắng quân sự ở bề mặt, nhưng cũng sẽ làm xa lánh dân Việt Nam và như thế thất bại việc nhận thức những mục tiêu chính trị.19
Khi sự can thiệp của Mỹ đang tiến đến mức cuối cùng của nó vào năm 1972, lời phê phán đương thời được đưa ra sự bày tỏ đầy đủ của nó trong hai cuốn sách bao hàm toàn diện và được trích dẫn một cách rộng rãi: “Những người Giỏi nhất và Thông minh nhất” (The Best and the Brightest) của David Halberstam và “Ngọn lửa trong Hồ” (Fire in the Lake) của Frances FitzGerald. Cùng với hai cuốn sách mở rộng, từ những quan điểm khác biệt, những lời chỉ trích thông thường về chiến tranh. Ông Halberstam tập trung vào Washington: theo tính cách riêng biệt, những người đàn ông mà những quyết định của họ kéo Mỹ vào trong “vũng lầy” vốn đã là chủ đề của cuốn sách trước đó của ông ta. Những nét miêu tả sinh động tàn phá của ông ta về các thành viên chủ chốt thuộc đội ngũ an ninh quốc gia của Tổng thống Kennedy –“Những người Giỏi nhất và Thông minh nhất”– cho thấy rằng chính sách của Mỹ được lèo lái bởi sự kiêu ngạo và “ý nghĩa lịch sử của chiến thắng không thể tránh khỏi.” Bà FitzGerald tập trung vào Việt Nam –văn hóa chính trị, xã hội, và truyền thống của nó. Bà ta lập luận rằng Hoa Kỳ đang tham gia vào một cuộc chiến tranh vô ích mà qua đó đang cố gắng chống lại khả năng phục hồi của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam. Tất cả sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ, trong khi mang lại sự thiệt hại to lớn và gây rối loạn xã hội, thì không thích hợp khi được xem trong phạm vi bối cảnh văn hóa và lịch sử Việt Nam, vốn đang di chuyển không thể lay chuyển hướng đến vinh quang cuối cùng của cuộc cách mạng cộng sản.20
Như những giải pháp khác nhau của những cuốn sách của Halberstam và FitzGerald nhấn mạnh, những lời chỉ trích đương thời về chiến tranh thay đổi một cách đáng kể trong phần tập trung và nhấn mạnh. Trong một số trường hợp, ông Johnson và các nhà hoạch định chính sách khác là chủ đề của những bản cáo trạng gay gắt, trong khi ở những người khác, họ được đối đải một cách cảm thông hơn, như là bị hướng dẫn sai lầm hay thông tin sai lạc, hơn như là những kẻ lái buôn chiến tranh. Trong một số trường hợp, dân Việt Nam, là đồng minh và lẫn kẻ thù của Mỹ, được ban cho sự đối xử dư thừa hoặc hời hợt, trong khi ở những người khác, một nỗ lực được thực hiện để hiểu cuộc xung đột từ quan điểm của họ và trong phạm vi bối cảnh lịch sử và văn hóa của đất nước họ.

p12

Bất cứ là như thế nào những sự sai biệt trong các tác phẩm phổ biến của thời đại, thông điệp về một cuộc chiến tranh thiếu hoàn thiện và phải chịu số phận không hay của Mỹ lan tràn khắp nơi. Tất cả chúng đều được lưu ý gạch dưới, bằng nhiều cách, rằng ở Việt Nam, Mỹ đã đánh mất mục đích đạo đức của nó và rằng sự thất bại thì không thể tránh khỏi.
Việc chống đối quan điểm trội hơn hẳn nầy là những cuốn sách và những bài tiểu luận của những người ủng hộ sự can thiệp của Mỹ, vốn là những người lập luận rằng chiến tranh thì cần thiết trong điều kiện an ninh của Mỹ và rằng mục tiêu độc lập của miền Nam Việt Nam có thể đạt được. Những cuốn sách quan trọng nhằm bảo vệ chính sách của chính quyền Johnson bao gồm: “Tại sao là Việt Nam?” (Why Vietnam?) của Frank Trager; Việt Nam: “Những nguồn gốc của cuộc Xung đột” (Vietnam: The Roots of Conflict ) của Chester Bain; “Miền nam Việt Nam: Quốc gia dưới sự Căng thẳng” (South Vietnam: Nation under Stress) của Robert Scigliano. Tất cả được kết hợp với chính sách Hoa Kỳ. Ông Trager, một nhà khoa học chính trị chuyên biệt về Đông Nam Á, giảng dạy tại Đại học New York và làm việc trên các chương trình viện trợ kinh tế của chính phủ ở châu Á. Ông Bain, một cựu giáo sư về Lịch sử Đông Á, là một sĩ quan trong Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ khi ông ta viết cuốn sách của mình. Ông Scigliano, một nhà khoa học chính trị tại Đại học Tiểu bang Michigan (MSU = Michigan State University), phục vụ từ năm 1957 đến 1959 trong đó Nhóm Cố vấn Việt Nam của trường đại học đó vốn là một cơ quan quan trọng của nỗ lực chính phủ Hoa Kỳ nhằm làm mạnh thêm hệ thống hành chánh và những lực lượng an ninh nội bộ của chính phủ Việt Nam. Được kết hợp chặt chẽ với ông Scigliano là Wesley Fishel, vốn là người điều hành nhóm MSU và là một người thân tín của Tổng thống miền Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm, ông Fishel đóng góp một cuốn sách nhỏ trước đây, “Việt Nam, Có thể Chiến thắng không?” (Vietnam, Is Victory Possible?), mà qua đó được trích dẫn một cách rộng rãi bởi những phát ngôn viên ủng hộ chiến tranh.21 Vì vậy, trong khi văn học hiếu chiến gần như không lan rộng như quan điểm hiếu hòa, nó thực sự nhắc lại những chủ đề có tầm quan trọng chiến lược của Việt Nam và khả năng của Hoa Kỳ đạt được những mục tiêu của mình. Từ những khởi đầu khiêm tốn nhất nầy trong suốt chiến tranh, việc làm sáng tỏ của phe diều hâu về chiến tranh có được ảnh hưởng đáng kể trong cuộc tranh luận sau chiến tranh.
Sự kết thúc chiến tranh không mang lại thời gian tạm lắng trong cuộc tranh cãi về chính trị và trí thức. Lời phê bình của phe hiếu hòa trong thời chiến chiếm ưu thế hơn và sự bảo vệ của phe hiếu chiến phát triển trở thành cái gì đó có thể được dán nhãn như những lời giải thích phe chính thống và của những người theo chủ nghĩa xét lại về chiến tranh theo một cách tương ứng. Việc công khai dần dần của hàng ngàn tài liệu về tổng thống, ngoại giao, và quân sự của thời đại Việt Nam trên ba thập kỷ qua đã cho phép các học giả viết những tác phẩm nghiên cứu một cách công kỹ mà qua đó khảo cứu chính sách của Mỹ ở mức độ sâu hơn và với những thích thú phức tạp. Hơn nữa, sự tiếp cận hạn chế đối với các tài liệu của Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Liên bang Sô-Viết trước đây, và Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc đã cung cấp cái nhìn sâu sắc quan trọng vào trong những vấn đề, hành động và suy nghĩ của kẻ thù của Mỹ. Việc giải thích của phe chính thống được thể hiện trong hầu hết tác phẩm học thuật, mặc dù nó cũng được làm cho mạnh mẽ thêm bởi những cuốn hồi ký của một số người dự vào. Sự thách thức của những người theo chủ nghĩa xét lại đối với trường phái chính thống, tuy nhiên, đã được thúc đẩy hầu hết bởi các cựu quan chức quân sự và dân sự, nhưng một số nhà báo và học giả đã thực hiện những đóng góp quan trọng.

p13

Giống như trường phái chính thống, các tác phẩm của họ phản ảnh những mức độ khác nhau về việc đưa ra tài liệu học thuật, nhưng nói chung sự uyên thâm của phe chính thống có căn cứ vững chắc hơn. Điều đó không phải để lập luận rằng những kết luận của họ thì nhất thiết chính xác hơn. Và chắc chắn là không phải chính điều đó cho thấy rằng quan điểm của họ nhất thiết có tác động lớn hơn trong văn hóa chính trị Mỹ.

C- Chủ nghĩa Xét lại: Một “Chính nghĩa Cao quý ” và Một lịch sử “Nếu-như”:

Việc nắm bắt thế chủ động sau chiến tranh là những người bảo vệ chiến tranh, bao gồm một số lượng các sĩ quan quân sự nổi bật; đó là công việc của họ vốn tạo thành một chủ đề nổi tiếng nhất của chủ nghĩa xét lại. Chính là họ vốn là những người đã từng lập luận rằng cuộc chiến tranh “có thể thắng được” và vốn là những đổ lỗi cho sự bại trận của Mỹ trên vai trò lãnh đạo thiếu quyết tâm của Tổng thống Johnson và các quan chức dân sự khác và việc phá vỡ sự ủng hộ ở nước nhà trong phần lớn vì điều gì đó mà họ xem như là một thông điệp phản chiến của giới truyền thông trong việc tường thuật của họ về chiến tranh.
Việc viết lại về Chiến tranh Việt Nam nầy, qua đó lập luận cho một sự việc có vẻ hợp lý của một “chiến thắng” qua hồi tưởng quá khứ, gợi nhớ lại phương cách mà những người khác đã từng cam chịu sự thất bại về quân sự. Hầu như điều đó giống như những phản ứng của Liên bang phía Nam đối với sự thua thiệt của họ qua cuộc Nội chiến và của Đế chế Đức đối với việc bại trận của nó trong Thế Chiến I. Trong những trường hợp trước đó, các cựu chiến binh chiến tranh, nhà báo, và các nhà lãnh đạo chính trị viết những bài tường thuật vốn từ chối chấp nhận sự thất bại đó mà qua đó đưa đến kết quả từ phía “bên ngoài” –tính ưu thế về quân sự của địch trên chiến trường– nhưng thay vì sự bại trận đến từ “bên trong”; bởi “nhát đâm sau lưng.” Trong những lịch sử nầy, chính là những tên ngu ngốc dân sự và những kẻ đểu giả vốn là những người làm thất vọng đất nước của họ bằng cách từ chối việc ủng hộ cho quân đội vào những thời điểm quan trọng, và bằng cách hoảng loạn và từ bỏ chiến tranh trong khi chiến thắng vẫn còn trong tầm nắm lấy của quân đội. Cùng với sự chuyển đổi nầy về việc đổ lỗi là việc nâng cao cuộc chiến bại đó trở thành một sự gắng sức đáng quý. Trong nhiều thập kỷ sau cuộc Nội Chiến, nền văn hóa chính trị của miền Nam xem cuộc đấu tranh của Liên bang nhằm ly khai khỏi Hoa Kỳ như là một tuyên thệ hoàn toàn lý tưởng để gìn giữ cách sống riêng; nó đã trở thành Vô Chính nghĩa. Huyền thoại về Vô Chính nghĩa giải thích sự bại trận như là một “nhát đâm sau lưng” –mà Liên Bang bị phản bội bởi các lãnh đạo dân sự, các nhà ngoại giao, các sĩ quan cấp thấp hơn, và những người khác. Tướng Robert E. Lee xuất hiện trong một phiên bản Vô Chính nghĩa của lịch sử như là một hình ảnh bi kịch –một anh hùng bất khả chiến bại vốn là người bị hại bởi những thường dân có mưu đồ và thiếu khả năng. Việc suy nghĩ tương tự như nhát-đâm-sau-lưng thì phổ biến ở Đức sau Thế Chiến thứ I, nơi mà nhiều nhà văn và những nhà lãnh đạo chính trị cho rằng Đức đã không từng bị đánh bại,

p14

nhưng cho rằng các nhà lãnh đạo chính trị đã sớm chấp nhận một hiệp ước đình chiến mà qua đó áp đặt một giải quyết trừng phạt. Việc suy nghĩ như thế, vốn có được sự chấp nhận rộng rãi hơn khi cuộc Đại Khủng hoảng trên toàn thế giới nhận chìm nước Đức, là một yếu tố nổi bật trong việc nắm lấy quyền lực của Đức quốc xã vào năm 1933.22
Việc phản ảnh một dự kiến cho rằng “tất cả lịch sử là lịch sử đương thời,” cách hiểu của những người theo chủ nghĩa xét lại về chiến tranh Việt Nam có được động lực cùng với uy thế của chủ nghĩa bảo thủ trong suốt thập niên 1970s và 1980s. Đó là điều thích hợp mà tiếng nói nổi bật của phong trào đó sẽ đặt tên thánh lại là Chiến tranh Việt Nam. Nói chuyện trong cuộc hội thảo của Cựu chiến binh Chiến tranh Nước ngoài trong suốt chiến dịch vận động tranh cử tổng thống năm 1980, ứng cử viên Đảng Cộng hòa Ronald Reagan tuyên bố: “Đây là lúc chúng ta nhận ra rằng [ở Vietnamj mục đích của chúng ta, thật sự mà nói, là một chính nghĩa cao quý.”23 Bằng cách nâng cao một cuộc chiến tranh chia rẽ và vô ích trở thành một nỗ lực vị tha, chính đáng của Mỹ trong việc cứu lấy một dân tộc khác khỏi chủ nghĩa cộng sản, ông Reagan làm điều đó, theo những lời của một nhà sử học, “khó có thể phân biệt từ Thế Chiến thứ II –‘một cuộc chiến tranh tốt đẹp’ của ký ức tập thể quốc gia”24 Trong suốt vai trò tổng thống của mình, ông Reagan tiếp tục chủ đề “chính nghĩa cao quý” (mặc dù không sử dụng nhóm chữ đó lần nữa), khẳng định rằng Hoa Kỳ thực sự không thua trong cuộc chiến và rằng phương tiện truyền thông đã làm suy sụp quân đội; ông ta tiếp tục hứa hẹn rằng nước Mỹ sẽ không bao giờ một lần nữa từ bỏ một đồng minh, như nó đã có ở miền Nam Việt Nam, và rằng đội quân Mỹ sẽ không bao giờ một lần nữa bị từ chối sự hỗ trợ và nguồn tiếp vận cần thiết để chiến thắng. Những sự trình bày này phản ảnh những luận điểm cốt lõi của sự diễn giải của phe xét lại về sự thất bại của Mỹ.
Vì vậy, khi Liên minh miền Nam bị đánh bại tạo ra một huyền thoại về Vô Chính nghĩa để giải thích sự mất mát của cuộc Nội Chiến, các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự, các học giả, và những người khác không hài lòng chấp nhận sự bại trận ở Việt Nam như là đang vượt ra khỏi Hoa Kỳ vốn đã từng xây dựng cách giải thích cho Chính nghĩa Cao quý. Cuộc bại trận đã tự áp đặt lấy. Điều này hợp lý hóa chiến tranh và lẫn giải thích kết quả của nó. Phe xét lại tạo nên một số lượng lý luận và hầu hết các tác phẩm tiêu biểu diện của họ tập trung vào một hoặc hai điểm chính. Cuốn sách của phe xét lại bao hàm toàn diện nhất là của nhà sử học Dale C. Walton mà cuốn sách có giá trị học thuật của ông ta là “Một huyền thoại về việc Bại trận Khó tránh khỏi của Mỹ ở Việt Nam” (The Myth of Inevitable U.S. Defeat in Vietnam) bác bỏ phần lớn tác phẩm của phe chính thống và tiến đến nhiều lý luận của phe xét lại.25 Việc vận động khắp nơi chủ nghĩa xét lại là chủ đề của lịch sử “nếu-như” –mà qua đó những hành động khác biệt đáng lý ra mang lại chiến thắng. Những lý luận thiết yếu của phe xét lại là:

1 – “Chiến tranh cần thiết” –sự tham gia ở Việt Nam là trọng yếu trong điều kiện an ninh quốc gia của Mỹ. Các nhà hoạch định chính sách đã đúng trong việc tin chắc rằng chiến tranh Việt Nam là một thử nghiệm giải quyết quan trọng của Mỹ về Chiến tranh Lạnh. Sau khi đã quyết định vào năm 1954 nhằm “giữ phòng tuyến” chống lại bước tiến xa hơn nữa của cộng sản trong khu vực Đông Nam Á, Hoa Kỳ liều mất uy tín nếu nó thất giữ vững lời cam kết của mình bảo đảm cho một miền Nam Việt Nam độc lập không-cộng-sản.

p15

2 – “Chiến bại Đầu tiên” –Mỹ thất bại trong việc sử dụng sức mạnh của mình một cách khôn ngoan vào đ ầu thập niên 1960s và do đó làm suy sụp chính phủ miền Nam Việt Nam và mời mọc cuộc xâm lược của Bắc Việt. Ngô Đình Diệm, vị lãnh đạo của miền Nam Việt Nam từ năm 1954, là một nhà dân tộc chống-cộng mạnh mẽ vốn là người thành lập quyền kiểm soát vững chắc trên phần lớn miền Nam Việt Nam và loại bỏ ảnh hưởng của cộng sản, nhưng Mỹ đã thất bại đứng bên ông ta bởi khi ông ta hành động một cách quyết liệt chống lại phe Phật tử bị cộng sản xâm nhập, đã phản ứng quá độ đối với những cuộc biểu tình phản đối của Phật tử và sinh viên, và chống lại mưu đồ lật đổ ông ta. Tóm lại, chính quyền ông Kennedy đã thất bại nhận ra sự hiểu biết về người dân mình của ông Diệm và bỏ rơi một nhà lãnh đạo vốn là người có đủ tài năng tuyệt vời nhất để ổn định miền Nam Việt Nam. Kết quả của việc lật đổ là hoàn cảnh hỗn loạn ở miền Nam Việt Nam, mà qua đó những người cộng sản khai thác. Sự thất bại của Mỹ đáp trả phó bằng lực lượng cho những cuộc tấn công ngày càng lên cao của cộng sản vào năm 1964 và đầu năm 1965 đã thuyết phục ban lãnh đạo của Bắc Việt rằng những người Mỹ sẽ không chiến đấu. Dấu hiệu yếu kém này chỉ mời mọc cuộc xâm lược từ miền Bắc Việt Nam. “Nếu-như” Hoa Kỳ đã đứng một cách vững chắc cùng với ông Diệm và đã tận dụng lực lượng lớn hơn trước đó, cuộc chiến tranh lớn hơn vốn theo sau, đã có thể được tránh khỏi.

3 – “Chiến lược đánh bại” –một chiến lược được điều hành bởi dân sự của năm 1965–68 đã thất bại tuân theo các nguyên lý kinh điển về một chiến lược hiệu nghiệm. Ông Johnson và Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara đặt những hạn chế vào vai trò lãnh đạo quân sự, mà qua đó từ chối một cơ hội để đạt được chiến thắng và thay vào đó đã dẫn đến một sự bế tắc. Như thế, thay vì sử dụng sức mạnh quân sự của nó một cách đầy đủ và trực tiếp chống lại Bắc Việt, Mỹ tham gia vào một chiến lược leo thang dần dần và càng lúc bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh trên bộ được hướng dẫn lạc hướng chống lại cuộc nổi dậy của cộng sản ở miền Nam Việt Nam. Những hạn chế áp đặt lên thường dân trên những hoạt động xa hơn gây ra hạn hẹp sự hiệu quả cả chiến tranh trên bộ cũng như lẫn việc thả bom miền Bắc Việt Nam. “Nếu-như” Hoa Kỳ đã nhận ra rằng đây là cuộc chiến tranh xâm lược của Bắc Việt và sử dụng sức mạnh của mình một cách phù hợp, nó đã có thể đạt được chiến thắng về quân sự.

4 – “Tâm và trí” –sự nhấn mạnh vào cuộc nổi dậy phản ngược đã bỏ qua phần quan trọng về việc giữ an ninh vùng nông thôn của miền Nam Việt Nam và việc giành lấy lòng trung thành của giới nông dân. Chìa khóa cho chiến thắng nằm trong những làng mạc nơi 80% dân miền Nam Việt Nam sinh sống và nơi mà chính phủ được Mỹ hỗ trợ ở miền Nam Việt Nam có ảnh hưởng hạn hẹp. Thay vì tham gia vào trong chiến tranh vốn phá hủy những làng mạc và gây xa lánh giớinông dân, những người Mỹ và chính quyền miền Nam Việt Nam đáng lý ra nên thiết lập sự tuyên truyền, giáo dục, cải cách ruộng đất, và các chương trình phúc lợi xã hội mà qua đó đã có thể đã giành được “tâm và trí” của giới nông dân. Vì vậy, “nếu-như” các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự đã đưa ra sự ưu tiên lớn hơn cho công cuộc bình định, những người Mỹ, bằng cách làm việc với quân đội miền Nam Việt Nam, đã có thể đã xây dựng được quyền kiểm soát của chính phủ trên vùng nông thôn.

p16

5 – “Nhát-đâm-sau-lưng” –Sự cố gắng về quân sự bị phá ngầm trên mặt trận quê nhà, đặc biệt là bởi việc tường thuật của phương tiện truyền thông về chiến tranh, mà qua đó phản ảnh một khuynh hướng phản chiến. Những nhà báo, đặc biệt là những phóng viên truyền hình, mang tính hay chỉ trích cay độc, nhạo báng về của họ về nỗ lực chiến tranh của Mỹ vào trong những bài báo của họ. Việc mô tả hình ảnh chiến tranh của Mỹ một cách không thuận lợi trong khi (ít nhất là ngấm ngầm) đứng về phía kẻ thù và phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ, việc tường thuật qua truyền hình, cũng như việc đó trên các tờ báo ưu tú, đã đóng một vai trò quan trọng trong việc chuyển hướng những dân Mỹ chống lại chiến tranh. “Nếu-như” phương tiện truyền thông đã hành động một cách có trách nhiệm và tường thuật chiến tranh một cách chính xác, sự ủng hộ của công chúng phổ biến đã có thể được giữ lâu dài.

6 – “Chiến thắng bị Mất lần thứ Hai” –Mỹ thực sự “chiến thắng” cuộc chiến lần thứ hai sau năm 1968, nhưng thành tích đó bị lãng phí bởi một Quốc hội thiếu quyết đoán và công chúng mất tinh thần. Bắt đầu với chiến thắng trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân của đầu năm 1968 và tiếp tục với những thay đổi trong chiến lược dưới thời Tổng thống Richard Nixon, quân đội đã nắm lấy thế chủ động và gây ra những thiệt hại nặng nề cho đối phương. Thành quả đó, tuy nhiên, bị ngầm phá hủy ở bên trong nước Mỹ. Đến lúc, Hiệp định Paris kết thúc sự tham gia của Hoa Kỳ vào năm 1973, Hoa Kỳ bỏ lại phía sau một miền Nam Việt Nam có thể tồn tại được. Nhưng khi đồng minh đó khó tránh khỏi một cuộc xâm lược bằng tất cả sức mạnh của Bắc Việt vào năm 1975, Mỹ –bất chấp những lời hứa hẹn của ông Nixon– đã thất bại đi đến việc giải cứu của nó. Quốc hội Hoa Kỳ đã từ chối cung cấp một viện trợ rất trọng yếu, và chiến cuộc đã bị bại. Đến phiên Quốc hội phản ảnh dư luận, mà qua đó vẫn tiếp tục bị ảnh hưởng bởi phương tiện truyền thông chủ yếu; đáng chú ý nhất là, báo chí và truyền hình tường trình sai lạc về chiến thắng của Mỹ trong suốt thời gian của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu thân như là một bại trận và không ủng hộ các sáng kiến quân sự của ông Nixon. “Nếu-như” những người Mỹ, đặc biệt là các thành viên của Quốc hội, đã từng nhận ra những lợi ích quân sự-chính trị sau năm 1968 và hành động để duy trì vị thế mạnh mẽ hơn của chính quyền miền Nam Việt Nam, mà qua đó chính phủ sẽ sống còn.

Mỗi phần trong số những quan điểm này của phe xét lại đã được đưa ra một cách hùng hồn bởi một số lượng những nhà văn, hầu hết trong số họ đều tập trung vào một lý luận. Những học giả và các nhà báo đã đi đầu trong việc bảo vệ sự “cần thiết” chiến tranh. Quả thật sự trình bày hoàn toàn nhất về vị thế nầy là cuốn sách “Việt Nam: Cuộc chiến tranh Cần thiết” (Vietnam: The Necessary War) của Michael Lind. Trong cuốn sách “Niềm vui Chiến thắng bị Bỏ rơi: Chiến tranh Việt Nam, 1954–1965” (Triumph Forsaken: The Vietnam War, 1954–1965), Mark Moyar lập luần rằng những mục tiêu của Mỹ ở Việt Nam thật thực tế và đạt được chỉ là thoáng qua; cuốn sách của ông ta là sự trình bày hoàn toàn nhất về cách diễn giải “chiến thắng bị mất đầu tiên.”
Phe xét lại được biết đến nhiều nhất là những cựu sĩ quan quân đội có chức vụ cao ở Việt Nam vốn là những người đã từng nổi bật qua cách viết về chiến lược và các hoạt động quân sự, một số tập trung vào “chiến lược đánh bại” và những người khác về cách giải thích “chiến thắng bị mất.” Một sự nhấn mạnh trước đây được tìm thấy trong “Những Báo cáo của một Người lính” (A Soldier Reports), là cuốn hồi ký của Tướng William Westmoreland,

p17

vốn là người phục vụ như là vị chỉ huy của những lực lượng Hoa Kỳ ở Việt Nam từ 1964 đến 1968, và cuốn sách, có tựa đề tỏ rõ là “Chiến lược Đánh bại” (Strategy for Defeat) của vị Đô đốc Hải quân Hoa Kỳ Grant Sharp, vốn là người phục vụ như là vị Tổng tư lệnh của Ban Chỉ huy Thái Bình Dương Hoa Kỳ trong suốt thời gian cùng giai đoạn. Lời phê bình nổi tiếng nhất về cách chiến tranh được tiến hành đó là của Đại tá Harry Summers trong cuốn sách, “Về Chiến lược” (On Strategy), mặc dù ông Summers chú trọng về những người lãnh đạo quân đội cũng như dân sự. Một số ít cựu sĩ quan khác –kém nổi bật về phần chức vụ và sự nhận biết– đã trình bày sự nhấn mạnh về “tâm và trí” như là sự lựa chọn thay thế thích hợp cho một chiến thắng của Mỹ. Andrew Krepinevich, vốn là người phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam, đã viết ra cuốn sách, “Quân đội và Việt Nam” (The Army and Vietnam), qua đó vẫn giữ sự trình bày hay nhất về một lựa chọn khác của công cuộc bình định “tâm và trí.”26
Lý luận về “chiến thắng bị mất lần thứ hai” đã từng được đưa ra bởi cả những sĩ quan quân đội cũng như các quan chức dân sự của Chính quyền Nixon, bao gồm trong những cuốn hồi ký và lịch sử được viết bởi chính ông Nixon và Henry Kissinger, vị cố vấn an ninh quốc gia và Ngoại trưởng. Cuốn sách “Cuộc chiến tranh Tốt hơn: “Những chiến thắng Chưa được Khảo sát, và Bi kịch Cuối cùng của những Năm qua của Mỹ ở Việt Nam” (A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam) của Lewis Sorley cung cấp một sự trình bày bao hàm toàn diện nhất về lời tuyên bố một “chiến thắng bị mất.” Trong khi một số lượng các nhà lãnh đạo quân sự và dân sự chỉ trích phương tiện truyền thông trong các tác phẩm của họ, điều đó chủ yếu đã từng là một số ít nhà báo vốn là những người đã xem xét lại công việc của các đồng nghiệp của họ và kết tội họ vì bài tường thuật bị bóp méo về chiến tranh. Công việc như thế gây ra thảm khốc nhất là bài viết được trích dẫn rộng rãi của phóng viên Robert Elegant “Làm cách nào để Thua một cuộc Chiến tranh” (How to Lose a War). Vì vậy, việc làm sáng tỏ của phe xét lại đã từng bị dồn ép trên nhiều mặt trận bởi những người tham gia, các nhà báo, và những học giả.27

D- Trường phái Chính Thống: “Lời Cam kết Sai lầm” và cuộc “Chiến tranh Không thể Thắng”:

Lời giải thích của phe chính thống về sự thất bại của Mỹ ở Việt Nam theo những dòng quan điểm của phe bồ câu về chiến tranh trong khi nó đang được tiến hành. Trường phái chính thống, tuy nhiên, thì chỉ hơn là một sự mở rộng của những lý luận của các nhà phê bình về chiến tranh trong suốt thập niên 1960s. Sự nhấn mạnh trước đó về cuộc chiến như là bất hợp pháp và thiếu tinh thần, đã nhạt dần từ sự nổi bật trong các bài tường thuật có tính cách lịch sử. Nhiều sự chú ý trong tác phẩm của chính thống được dành để đáp trả lý luận của phe xét lại. Không giống như các tác phẩm của phe xét lại, một số lượng những cuốn sách trình bày tầm nhìn toàn diện của nội dung cách diễn giải của phe chính thống, nổi bật, trong số đó là: “Chiến tranh dài nhất của Mỹ” (America’s longest War) của George C. Herring, “Một thời cho Chiến tranh” (A Time for War) của Robert D. Schulzlnger, “Chiến tranh Đông Dương lần thứ Hai” (The Second Indochina War) của William S. Turley, “Cuộc chiến tranh Việt Nam, 1945–1990” (The Vietnam Wars, 1945–1990) của Marilyn Bhitt Young,

p18

“Việt Nam: Một thử thách của Mỹ” (Vietnam : An American Ordeal) của George Donelson Moss, “Chính sách Ngăn chận và cuộc Xung đột ở Đông Dương” (Containment Policy and the Conflict in Indochia) của Mỹ William J. Duiker, và “Chiến tranh Việt Nam” (The Vietnam War) của David L. Anderson Việt Nam War.28 Sự diễn giải cần thiết của phe chính thống dựa trên nhiều điểm có liên quan là:

1 – “Sự ngăn chận Thiếu soát” –vấn đề an ninh quốc gia của Hoa Kỳ không phải là đường lối ở Việt Nam. Học thuyết ngăn chận được áp dụng sai ở Việt Nam. Những phân nhánh trong phạm vi thế giới cộng sản và sự quyết tâm của các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam tránh sự phụ thuộc vào các cường quốc cộng sản chính, đặc biệt là Trung Quốc, kẻ thù lịch sử của họ,(pc 05) cho rằng chiến thắng của cộng sản ở Việt Nam sẽ có ít tác động về địa dư chính trị vượt ra ngoài quốc gia đó. Hơn nữa, bất cứ sự biện minh gì có thể đã từng có trong việc cố gắng cứu vớt một nửa Việt Nam như là một bức tường thành chống-cộng vào năm 1954 không còn được áp dụng sau một thập kỷ thất bại của chính phủ miền Nam Việt Nam. Không có một “chiến thắng bị mất” nào, chỉ là một thập kỷ của vai trò lãnh đạo thiếu hiệu quả của ông Diệm và những người thừa kế của ông ta mặc dù những khoản lớn viện trợ về quân sự và kinh tế của Mỹ.

2 – “Chiến tranh Không thể Thắng được” –nỗ lực quân sự của Mỹ bị phá hoại bởi các lực lượng của lịch sử và sự chênh lệch kết quả chính trị giữa đồng minh và kẻ thù của nó. Không có mức độ nào có thể chấp nhận được về sức mạnh quân sự đủ thích hợp hầu đảo ngược tình hình chính trị bất lợi. Hoa Kỳ đang ở “phía sai” của lịch sử. Phong trào cộng sản, được thể hiện bởi Hồ Chí Minh, tượng trưng cho sự bày tỏ chính yếu của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam, sau khi đã từng dẫn dắt cuộc chiến tranh bảy năm rưỡi vốn đánh bại người Pháp. Tính hợp pháp này cho phép Bắc Việt và Việt Cộng có được sự ủng hộ của quần chúng và chịu đựng cuộc chiến tranh của Mỹ. Vị thế của họ được đề cao bởi việc bảo đảm nguồn cung cấp quân nhu, vật liệu từ Liên Xô và Trung Quốc.(pc 06) Ngược lại, chính phủ miền Nam Việt Nam được Mỹ hỗ trợ thiếu bất kỳ tuyên bố nào về tính hợp pháp dân tộc, qua việc theo dấu những nguồn gốc của nó đến những tàn tích còn lại của chế độ thực dân Pháp và với một nền tảng hạn hẹp trong số những người dân miền Nam Việt Nam.(pc 07) Sự chia rẽ nội bộ, tham nhũng và sự phụ thuộc của nó vào Mỹ làm suy yếu hơn nữa mức phát triển của nó. Chính quyền miền Nam Việt Nam không bao giờ có thể thoát khỏi sự mô tả của cộng sản về nó như là một “bù nhìn của Mỹ.” Hai nhà học giả tóm tắt quan điểm: “Điều gì là sai trong việc trợ giúp một chế độ yếu kém, tham nhũng, và vô hiệu quả chống lại một đối thủ mạnh mẽ một cách tàn bạo, khắt khe một cách cuồng tín, hiệu quả một cách tàn nhẫn, đó là phía chúng ta có khả năng thua.”29

3 – “Sự thoát ra hữu lý” –cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân là một thất bại về quân sự và chính trị đối với Mỹ và miền Nam Việt Nam, qua việc phơi lộ sự tuyệt vọng về cuộc chiến tranh. Quyết định ngay sau đó của Tổng thống Johnson bắt đầu việc thoát ra tiêu biểu cho một đánh giá lại hợp lý về các giới hạn của sức mạnh về chính trị, kinh tế và quân sự của Mỹ. Không có “nhát-đâm-sau-lưng” phía sau việc thoát ra,

p19

chỉ là một sự chấp nhận của việc mở rộng quá mức các nguồn cung cấp thay mặt cho một chính sách phá sản. Việc tường thuật của truyền hình về chiến tranh không nên đổ lỗi; quả th ật, nó thông thường ủng hộ nỗ lực của Hoa Kỳ và tường thuật về cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân một cách thực tế. Sự mệt mỏi vì chiến tranh –không phải là những mưu đồ của phương tiện truyền thông phản chiến hoặc là ảnh hưởng của những người biểu tình chống chiến tranh– giải thích về một khuynh hướng xuống dốc trong việc ủng hộ chiến tranh; những người Mỹ đến năm 1968 đã kết luận một cách hợp lý rằng sự bất hạnh phải được kết thúc.

4 – “Chiến lược Thiếu hoàn Thiện của ông Nixon” –lời hứa của ông Nixon về “hòa bình trong danh dự” thì không và không thể được hoàn thành. Hiệp định Paris năm 1973 vốn kết thúc sự can thiệp của Hoa Kỳ, chắc chắn để lại phía sau một miền Nam Việt Nam yếu đuối và bị phân chia, và nó không phải là một cơ sở vững chắc cho một nền hòa bình lâu dài, như hầu như tất cả các quan chức Mỹ và Việt Nam và các nhà quan sát đương thời nhìn nhận. Hơn nữa, vì những lợi ích bên ngoài trong giải pháp được thương lượng, ông Nixon mở rộng chiến tranh trong bốn năm, mang chiến tranh vào trong Cam-pu-chia, và tiếp tục thả bom miền Bắc Việt Nam. Quyết định của Quốc hội không cứu lấy miền Nam Việt Nam vào năm 1975 là một hành động hợp lý: Điều gì hơn nữa người ta sẽ mong chờ Hoa Kỳ làm?(pc 08) Chiến thắng của cộng sản vào năm 1975, mà qua đó hầu như không thể tránh khỏi, chỉ bị trì hoãn bởi Hiệp định Paris. Tóm lại, ông Nixon đã không đạt được một “chiến thắng bị mất” chỉ là một “thất bại được hoãn lại”.

Ngoài những lịch sử phổ thông, một số ít tác phẩm chuyên biệt làm nên những sự cống hiến có giá trị cho các khía cạnh riêng biệt về việc giải thích của phe chính thống. Một số lượng tác phẩm tương đối gần đây thật đáng chú ý. Cuốn sách “Cuộc chiến chọn lấy: Một cơ hội đánh mất cho Hoà bình và sự Leo thang của Chiến tranh Việt Nam” (Choosing War: The Lost Chance for Peace and the Escalation of the Vietnam War) của Frederik Logevalfs và cuốn sách “Chiến lược của Mỹ: Kennedy, Johnson, và những Nguồn gốc của Chiến tranh Việt Nam” (American Tragedy: Kennedy, Johnson, and the Origins of the Vietnam War) của David Kaiser, xét nghiệm về cách suy nghĩ của các quan chức Mỹ vốn là những người đưa đất nước vào chiến tranh. Nhân cách phức tạp và vai trò lãnh đạo thời chiến Lyndon Johnson, bao gồm quyết định thoát ra, được khai thác theo chiều sâu trong cuốn sách “Trả bất cứ giá nào” (Pay Any Price) của Lloyd Gardner và “LBJ và Việt Nam: Một loại chiến tranh khác” (LBJ and Vietnam: A Different Kind of War. Robert Buzzanco’s Masters of War) của George Herring. “Những bậc thầy về Chiến tranh” (Masters of War) của Robert Buzzanco nhấn mạnh đến những ảnh hưởng tác hại của việc vận động chính trị trong phạm vi những phục vụ vũ trang và sự nghi ngờ giữa các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự. Và Jeffrey Kimball trong “Chiến tranh Việt Nam của Nixon” (Nixon’s Vietnam War) nói lại rõ ràng hơn và lập thành tài liệu những lời chỉ trích của phe chính thống về những chính sách gây tranh cãi của ông Nixon.30

E- Một giải Pháp cho Vấn đề: Bảy Vấn đề Chính yếu:

Mỗi phần trong số bảy chương kế tiếp tập trung vào một vấn đề quan trọng vốn liên quan đến sự diễn giải của phe chính thống và phe chủ nghĩa xét lại. Chương 2 khảo sát quan điểm cơ bản về Chiến tranh Việt Nam và vấn đề an ninh quốc gia của Mỹ: đó là một cuộc chiến “cần thiết” hay “sai lầm”?

p20

Chương 3 di chuyển đến sự tranh cãi phức tạp trên những quyết định của ông Kennedy và ông Johnson giữa khoảng thời gian năm 1961 và năm 1965, khi miền Nam Việt Nam dường như đang sụp đổ. Trong trường hợp này, các học giả chính của phe chính thống bất đồng với nhau về việc liệu ông Kennedy có quyết định kiên trì ở Việt Nam hoặc đang lên kế hoạch thoát ra khỏi cái gì mà ông ta xem là một cam kết không thể giữ được và liệu ông Johnson bỏ lỡ những cơ hội cho hòa bình và chọn lấy chiến tranh trên những lý luận rằng có nhiều điều để làm với quan điểm chính trị trong nước như vấn đề an ninh quốc gia. Phe xét lại nhấn mạnh rằng các nhà sử học của phe chính thống không hiểu rõ được sức mạnh của miền Nam Việt Nam –mà qua đó thật ra, một “chiến thắng” đã đạt được”– và chỉ trích ông Johnson về việc không tận dụng sức mạnh quân sự một cách mạnh mẽ hơn trước đó gìn giữ “chiến thắng” đó.
Chương 4 khám phá chiến tranh vốn theo sau trong suốt giai đoạn leo thang của Hoa Kỳ từ năm 1965 đến 1968. Sự tranh luận của phe xét lại cho rằng một “chiến lược đánh bại” vi phạm các khái niệm cơ bản về chiến tranh bị chống lại bởi phản ứng của phe chính thống mà qua đó sự yếu kém về chính trị của vị thế Hoa Kỳ khiến cho cuộc chiến “không thể thắng được” bất kể là chiến lược gì.
Chương 5 nghiên cứu sâu vào trong một sự chọn lựa thay thế khác của phe xét lại: rằng sự quan tâm nhiều hơn đến công cuộc bình định và giành lấy “tâm và trí” sẽ dẫn đến chiến thắng. Trong sự phản ứng, đối với những tác phẩm của phe chính thống, mà qua đó được hỗ trợ bởi các nghiên cứu về xã hội học, lập luận rằng sự yếu kém của chính phủ miền Nam Việt Nam ở những khu vực nông thôn làm hạn chế hiệu quả của công cuộc bình định.
Chương 6 chuyển sự chú ý vào mặt trận ở quê nhà, đặc biệt là lý luận của phe xét lại rằng việc tường thuật một cách bất lợi của phương tiện truyền thông có khuynh hướng thiên vị làm suy giảm sự ủng hộ của công chúng, mà qua đó bị bác bỏ, hầu hết của các học giả truyền thông, rằng việc tường thuật về của chiến tranh thì tràn ngập thuận lợi cho chính nghĩa của Mỹ và chính xác trong sự mô tả của nó về những phát triển chính trị và quân sự.
Chương 7 xét về cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân –những trận chiến quan trọng nhất của chiến tranh– và liệu Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam có được một chiến thắng quân sự quyết định mà qua đó bị làm giảm hiệu quả bởi việc tường thuật của phương tiện truyền thông và quyết định của ông Johnson thoát ra hay liệu những người Cộng sản đạt được một chiến thắng quan trọng như thế về chính trị-chiến lược mà ông Johnson không có sự lựa chọn nào ngoài việc khởi đầu kết thúc chiến tranh qua các cuộc đàm phán.
Cuối cùng, Chương 8 phân tích chiến lược quân sự và chính trị của ông Nixon và ông Kissinger và cuộc tranh luận của phe xét lại mà qua đó nó đạt được chiến thắng một cách khôn khéo chỉ là “bị đánh mất” bởi một Quốc hội thiếu quyết đoán –một lý luận bị bác bỏ bởi các học giả của phe chính thống trên cơ sở rằng những thế chủ động thất bại thay đổi cán cân cơ bản về chính trị ở Việt Nam và rằng họ chỉ trì hoãn một thất bại không thể tránh khỏi.
Trong phần kết luận, cuộc tranh luận về Việt Nam sẽ được xem xét trong phạm vi khuôn khổ của những tác phẩm về các cuộc chiến tranh khác của thế kỷ XX và sẽ đánh giá chất lượng của những lý luận trên bảy vấn đề quan trọng.

p21

Tóm lược :

Xét qua cả hai cuộc tranh luận đương thời và mang tính chất hồi tưởng quá khứ là sự cố gắng nhằm giải thích thất bại thảm hại nhất của Mỹ. Văn hóa chính trị của Hoa Kỳ đã từng bị ảnh hưởng một cách mạnh mẽ bởi các quan điểm khác biệt về điều gì đó xảy ra sai lầm ở Việt Nam.
“Những bài học” về Việt Nam của phe xét lại truyền giảng tầm quan trọng trong thời chiến về việc buông lỏng những nhà lãnh đạo quân sự hoàn toàn tự do hành động để đạt được chiến thắng và về việc hạn chế hoặc kiểm soát vấn đề tường thuật của phương tiện truyền thông phạm với sự mong muốn rằng việc kiểm soát như thế sẽ bảo đảm sự ủng hộ của công chúng. Tổng quát hơn, chủ nghĩa xét lại coi trọng sức mạnh của Mỹ với quan điểm bác bỏ những hạn chế của nó và tái thiết lập mối liên kết giữa sức mạnh và tinh thần đó. “Những bài học” của phe chính thống lập luận về sự phối hợp những nhu cầu và phương tiện trước khi bước vào chiến tranh, qua việc tái khẳng định tầm quan trọng của quyền kiểm soát dân sự trên quân đội, việc khoan thứ cho một nền báo chí tự do, và việc chấp nhận tầm quan trọng của cuộc tranh luận công khai ngay cả trong thời chiến. Theo một cách, “những bài học” tranh nhau cuối cùng đi đến việc ca ngợi sức mạnh vô địch của Mỹ hoặc chấp nhận những hạn chế của sức mạnh đó.
(Ghi chú : p 22–24)

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ LBJ : thường được dùng để ám chỉ đến vị Tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ là Lyndon Baines Johnson từ ngày 22/11/1963–20/01/1969, sau vị tiền nhiệm bị ám sát là Tổng thống Kennedy từ ngày 20/01/1961–22/11/1961, và người kế nhiệm vai trò Tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ là Richard Nixon từ ngày 20/01/1969–9/08/1974.

pc 02_ “Hoa Kỳ, ông Stone và các nhà phê bình khác lập luận, đang can thiệp vào cuộc nội chiến Việt Nam” : đó là lập luận của một nhà báo biểu tượng lâu năm I.F. Stone, nhưng xét ra dường như ông ta không xứng đáng với danh hiệu đó vì những tư tưởng nông cạn qua lập luận trên. Điều mà đáng lý ra một nhà báo xứng tầm như ông ta phải thấy rõ là Chiến tranh Việt Nam không chỉ là một cuộc nội chiến đơn thuần mà có cả cuộc đấu tranh của khối quốc tế cộng sản và cuộc tranh đấu ý thức hệ không chỉ riêng cho một miền Nam Việt Nam tự do mà còn là tiền phương tự do cho Hoa Kỳ trước làn sóng đỏ của cộng sản.

pc 03_ “sẽ không… phơi bày những nguy hiểm đủ to lớn để biện minh cho sự can thiệp uân sự trực tiếp của chúng ta.” : lời phát biểu của George Kennan cho thấy sự mâu thuẩn rõ ràng nếu đưa ra vấn đề can thiệp của Hoa Kỳ vào Nam Hàn chống lại cộng sản Bắc Hàn. Và sự kiện Chiến tranh Triều Tiên đó có phải chăng cũng là một cuộc nội chiến như I.F. Stone đã nhận định về Chiến tranh Việt Nam ? Giữa hai sự kiện của Việt Nam và Hàn Quốc gần như xảy ra trong khoảng thời gian không xa nhau lắm và hoàn toàn giống nhau khi làn sóng đỏ của Trung Cộng đổ về hướng nam.

pc 04_ “Hoa Kỳ đã làm thành vĩnh viễn sự phân chia của Việt Nam” : điều nầy dường như phe bồ câu quá chủ quan khi có nhận định như thế. Trong khi ý thức hệ giữa hai miền Nam-Bắc hoàn toàn đối lập trong mỗi khía cạnh thì làm sao có thể nói đến sự thống nhất êm đẹp nếu không dùng đến bạo lực vũ khí như cộng sản miền Bắc đã từng sử dụng nhằm cưỡng chiếm miền Nam bằng bất cứ giá nào. Và những người của phe bồ câu sẽ nghĩ sao, nếu tình hình phân chia ở Việt Nam là hiện thực ở Hoa Kỳ giữa hai ý thức hệ cộng sản và tự do ? Có phải chăng họ sẽ đồng ý đánh đổi sự tự do để nước Mỹ được thống nhất theo làn sóng đỏ của cộng sản ? Chắn chắn rằng, những nhà trí thức, học giả đó cũng đã từng nghiên cứu hay ít ra đọc một số hay nhiều tài liệu hoặc sách vở về chủ nghĩa cộng sản qua những thảm cảnh của các nước bị chúng thống trị. Tuy nhiên, họ lại quá mơ hồ hay cố tình làm ngơ vì cơ hội tiếng tăm hay lợi ích cá nhân trước nguy hại của dân miền Nam Việt Nam mà tất nhiên không là nơi quê nhà của họ.

pc 05_ “…các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam tránh sự phụ thuộc vào các cường quốc cộng sản chính, đặc biệt là Trung Quốc, kẻ thù lịch sử của họ” : đây là ý tưởng của phe chính thống là những học giả có học vị. Tuy nhiên xét qua lời phát biểu đó cho thấy rằng đó là sự gượng ép tư tưởng khi chính họ cũng biết rằng Bắc Việt cũng cần viện trợ từ thực phẩm đến vũ khí tứ các cường quốc cộng sản, ngay cả Trung cộng là nước mà theo các học giả phe chính thống cho là “một kẻ thù lịch sử của Việt Nam.” Nếu không có những viện trợ đó, thì làm thế nào Bắc Việt tiến hành chiến tranh xâm lược vì đương nhiên là miền Bắc Việt Nam không đủ khả năng chế tạo vũ khí và phải gánh chịu một nền kinh tế cạn kiệt qua những chương trình sản xuất tập thể hoàn toàn thất bại của cộng sản. Điều nầy chứng minh rằng giới học giả của phe chính thống đưa ra những ngụy biện để chống đối Chiến tranh Việt Nam vì lợi ích cá nhân nào đó hơn là vì chính nghĩa tự do.

pc 06_ “Vị thế của họ được đề cao bởi việc bảo đảm nguồn cung cấp quân nhu, vật liệu từ Liên Xô và Trung Quốc” : đây cũng là lời phát biểu của phe chính thống, nhưng hoàn toàn mâu thuẩn với lời phát biểu trước đó như trong “pc 05.” Cũng là sự khẳng định rằng Chiến tranh Việt Nam hoàn toàn không phải là một cuộc Nội Chiến như những học giả chính thông kêu gào theo đường lối tuyên truyền của cộng sản Việt Nam.

pc 07_ “…với một nền tảng hạn hẹp trong số những người dân miền Nam Việt Nam” đây là lời phát biểu của phe chính thống, nhưng cho thấy sự nông cạn của họ vì thực tế là dân miền Nam Việt Nam thời bấy giờ có được nền giáo dục rộng rãi hơn nhiều so với miền Bắc Việt Nam. Trí thức được mở rộng hơn về tầm nhìn thế giới, không bị hạn hẹp như giáo điều theo nền giáo dục của Bắc Việt. Dù rằng những vùng nông thôn xa cách thành thị vẫn còn một số thiếu sự giáo dục đầy đủ, người dân miền Nam vẫn có cơ hội tiếp thu nền giáo dục cao hơn khi bước ra tỉnh thành. Dĩ nhiên rằng trong hoàn cảnh chiến tranh và quấy nhiễu của cộng sản, chính quyền miền Nam Việt Nam khó có thể mở rộng hơn nền giáo dục ở những nơi còn đang tranh chấp vì những cuộc xâm lược của cộng sản chiếm lấy nông thôn ở miền Nam. Tuy thế, nhìn chung nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam có những bước thăng hoa đáng kể mà đáng lý ra nó cần sự hỗ trợ của đồng minh cũng như những người dân Mỹ, đặc biệt là những học giả của phe chính thống hơn là những lời phê bình châm biếm, chỉ trích nhằm đánh đổ điều gì mà họ không muốn mà không cần biết đến những tác hại như thế nào cho vận mệnh của một dân tộc đang còn non trẻ của miền Nam Việt Nam.

pc 08_ “Điều gì hơn nữa người ta sẽ mong chờ Hoa Kỳ làm?” : lời phát biểu của phe chính thống nầy cho thấy bản chất cố hữu lạnh cảm của họ trước thảm họa của một dân tộc mà trước đó người dân Hoa Kỳ từng xem là đồng minh. Đương nhiên là đáng lý ra chính những học giả chính thống đó nên đích thân hòa nhập vào tình hình xã hội của miền Nam Việt Nam hơn là chiêm nghiệm qua cách nhìn cách xa ngàn dặm để thấy rằng dân miền Nam Việt Nam cần gì nơi người đồng minh của họ mà không chỉ là những viện trợ vốn chỉ là “tạm thời” trong thời gian chiến tranh. Và trong giai đoạn gần cuối đó của miền Nam, Mỹ đã không còn viện trợ đầy đủ như xưa với mức cắt giảm tệ hại, kém cỏi chỉ bằng 1/100 cả về kinh tế và quân sự trong khi miền Nam Việt Nam chưa hoàn toàn đứng vững trên cả hai lãnh vực đó. Vậy câu hỏi, đáng nên hỏi là : “Miền Nam Việt Nam cần sự giúp đỡ như thế nào nơi Hoa Kỳ ?” Vì khi miền Nam bị thất bại thì câu hỏi trên của những học giả chính thống không còn tác dụng gì, hơn là một sự bày tỏ nhằm trốn tránh sai lầm và đổ lỗi vu vơ cho chính quyền và quân đội của miền Nam.
Vì đương nhiên là không ai, ngay cả Hoa Kỳ, có thể chiến đấu với những cây súng không có đạn và những cái bụng trống không. Vì đương nhiên là không thể nào trong quá trình tập luyện nào đó chưa thuần phục nhưng bắt buộc người tập luyện phải thực hành những khả năng của người chuyên nghiệp trong khi tước đi tất cả dụng cụ trợ giúp trong luyện tập. Và vì đương nhiên là Hoa Kỳ muốn thoát ra khỏi chiến tranh từ những năm đầu 1965s dù sứ mệnh của họ chưa hoàn tất như lời hứa cho hai chữ Tự do ban cho miền Nam Việt Nam, vì vậy cuối cùng, bằng bất cứ giá nào Hoa Kỳ cũng phải rút lui dù biết rằng việc đó sẽ để lại một miền Nam sắp chết với nền kinh tế và quân đội bị xóa bỏ qua cách phủi tay của Hoa Kỳ mà đáng lý ra chúng nên được phát triển vững mạnh hơn nữa trước khi Mỹ thoát ra.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s