Phần 32: Cuộc giao chiến đang Diễn ra tại Đông Hà

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p439

Phần 32: Cuộc giao chiến đang Diễn ra tại Đông Hà

Thứ năm, ngày 6 tháng Tư năm 1972
Sáng sớm

Cây cầu đường cao tốc chính ở Đông Hà bị phá hủy, nhưng cuộc giao chiến ở trong ngay khu vực là như thế đến nổi anh Bình và vị cố vấn của anh ta tin rằng đó là điều tốt nhất để duy trì ưu thế sức mạnh của Tiểu đoàn 3 ngay nơi đó. Kể từ đầu ngày Chúa Nhật Phục Sinh khi John Ripley đã thổi tung cây cầu, cuộc chiến đấu đã gần như không ngừng. Với rất nhiều chiến đấu sức mạnh chiến đấu –ít nhất là hai sư đoàn Bắc Việt– vẫn tụ tập ngay phía bắc sông Cửa Việt tiếp giáp với Xa lộ Một, mặc dù con số tỷ lệ phần trăm của xe thiết giáp đối phương chưa được biết đến đã chuyển về phía tây hướng đến Cam Lộ, những người của lực lượng Sói Biển đang sẵn sàng toàn lực.

(Cây cầu Đông Hà vẫn còn bị bốc cháy đến 4 ngày sau khi bị phá hủy vào
ngày 2 tháng Tư năm 1972, là ngày Chúa Nhật Phục Sinh. Bên phải cây
cầu là hàng xe tăng, chiến xa của Quân Bắc Việt bị lộ mục tiêu cho những
cuộc không kích của Không lực VNCH)

A- Vị Tổng tư lệnh Gởi đi một Thông điệp :

Trung Tướng Lê Nguyên Khang, vị Tổng tư lệnh của Quân đoàn Thủy quân Lục chiến (TQLC) Việt Nam, cũng đã đến phía bắc với phần còn lại của những lữ đoàn của mình để được gần hơn với cuộc giao chiến. Thật không may cho ông Khang, ông ta có lẽ buộc phải phí mất quá nhiều thời gian của mình đấu tranh với những cuộc tranh cãi ầm ĩ về tình trạng nồi da nấu thịt của việc phục vụ binh chủng với một số lượng những tướng lãnh cao cấp của Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) hiện thời cũng đang phục vụ trong Quân khu I mà sự không ưa thích của họ đối với binh chủng TQLC dường như chỉ là một chút kém hơn ác cảm của họ dành cho những người Cộng sản.
Tướng Khang đã từng là một sĩ quan mới, chưa có nhiều kinh nghiệm của Sói Biển trong những ngày đầu của nền cộng hòa. Chính là một Thiếu tá Khang trẻ tuổi vốn là người đã phát hiện và tuyển chọn một Thiếu úy Lê Bá Bình thậm chí trẻ hơn, chưa được thử nghiệm nhưng rất hứa hẹn vào trong Tiểu đoàn 3.

p440

Đó là điều mà ai cũng biết, ngay cả mặc dù ông ta chuyên nghiệp tột bực, là ông Khang có một nơi đặc biệt trong tim dành cho tiểu đoàn cũ của mình. Những người của Sói Biển tương tự như thế có một sự tôn kính đặc biệt dành cho vị Tổng tư lệnh của họ. Họ xem ông ta là một người trong số họ.
Trong suốt thời gian từ ngày 4 tháng Tư, trong khi những đại đội súng trường của Tiểu đoàn 3 được trải ra ở trong và xung quanh Đông Hà, vị Tổng tư lệnh của họ cho một chiếc máy bay thả xuống những tờ truyền đơn, chúc mừng cho cách phục vụ anh hùng và cổ vũ họ tiếp tục cuộc chiến. Những tờ truyền đơn cuối cùng bay lượn xuống, giống như lộc thánh từ trời, và những thông điệp được hấp thụ một cách nồng nhiệt bởi những binh lính TQLC(pc 01) của anh Bình. Anh Bình dịch từng câu chữ cho vị cố vấn của mình. Cảm thấy mệt mỏi và kiệt sức như anh ta đã là, anh Ripley, một người Hiện thực cũng vẫn là Ripley, một người Lãng mạn, và tìm thấy chính mình được khích lệ, chỉ giống như những người bạn của mình trong lực lượng Sói Biển đích thực cảm thấy, bởi đoạn văn súch tích của Tướng Khang.
Bức thông điệp hào phóng với lời ca ngợi, nhưng không quá trớn. Bởi vì những binh lính TQLC đang giải tỏa theo một cách có văn hóa và tổ chức với những lời khen ngợi, những sự đánh giá của vị Tổng tư lệnh đang tạo nên sự tác động một cách đặc biệt. Nó có chút gì giống như sự tuyên truyền dong dài của Cộng sản mà anh Ripley đã từng đọc những bản dịch mà trong đó rất bí ẩn với những thuật ngữ vô nghĩa và những lời sai lạc đến nổi trở nên nhàm chán. Anh Ripley đã từng chiến đấu trong và qua các trận đánh mà Tướng Khang hiện thời đang ca ngợi những binh lính TQLC của mình cho những việc đó. Lời ca ngợi đó ghi chép điều gì mà anh Ripley đã từng trải nghiệm bên cạnh những người của anh Bình. Vị Tổng tư lệnh nói với những binh lính TQLC của ông ta về tình cảm to lớn mà quốc gia dành cho họ, về việc tất cả những người Việt Nam yêu chuộng tự do nhận biết như thế nào về sự chống giữ dũng cảm của họ ở Đông Hà cùng với những hy sinh lớn lao mà họ đang làm. Thông điệp của ông ta có sự kết thúc mạnh mẽ; qua việc nhắc nhở những binh lính TQLC của mình là ông ta tự hào về họ, rằng họ luôn luôn nên nhớ cẩn thận chú ý cho những người dân, đối xử với họ bằng sự tử tế và tôn trọng, và cuối cùng là tôn vinh Quân đoàn của họ và tiếp tục chiến đấu chống lại những kẻ xâm lược đáng ghét Cộng sản.
Ngay cả mặc dù ông ta không thể đọc quá nhiều tiếng Việt, anh Ripley chụp lấy và để một ít bản sao của thông điệp ở nơi những vật dụng cá nhân của mình; và sau đó giống như tất cả những người khác, đã trở lại vào trong cuộc chiến đấu.*

(Hình ảnh tượng trưng cho việc rải truyền đơn theo lệnh Tướng
Khang của lực lượng TQLC để khuyến khích tinh thần chiến đấu
của những binh lính tại Đông Hà vào năm 1972, sau khi hai cây
cầu ở Đông Hà bị phá hủy)

(Tờ tuyên truyền “Quyết Thấng” (viết sai chính tả của tiếng Việt) của
Quân Bắc Việt dùng tiền và gái để chiêu dụ và bày tỏ sự mong muốn
học hỏi những kỹ thuật quân sự của binh lính Hoa Kỳ)

=============
* Sự nhắc nhở của Tướng Khang “luôn luôn cẩn thận chú ý cho người dân” là lời khuyên bảo theo nguyên tắc không bao giờ được nhận lấy một cách hời hợt. Vào những dịp quá nhiều không thể đếm, John Ripley đã từng quan sát những binh lính TQLC của Sói Biển, nhiều người trong số họ có máu lạnh trong sự thù hận của những kẻ xâm lược như là điều có thể của con người, phơi bày hành vi mà qua đó gần như là sự dịu dàng thẳng thắn khi chuyện xảy đến trong việc đối phó với những người dân bình thường, chính là nhiệm vụ của họ để bảo vệ. Ngược lại, những người của Sói Biển không kém sốt sắng trong việc loại bỏ những người vốn ngược đãi những người vô tội; Quân Bắc Việt hoặc nhóm nào khác. Chính là ngày sau khi các tờ truyền đơn được thả xuống khi anh Ripley chứng kiến một thí dụ khác về lòng nhiệt thành mà qua đó những binh lính TQLC(pc 01) của anh Bình nhận lấy sứ mệnh bảo vệ những người dân đến mức hoàn thành cực độ.
Vào sáng sớm ngày 5, một chiếc xe cam-nhông của QĐVNCH(pc 02) tiến gần đến một vị trí gần nơi mà anh Bình, anh Ripley, và Nhóm Chỉ huy Alpha nằm đó. Chiếc xe được lái bởi một anh bạn rất rõ ràng vốn là một cựu quân nhân của QĐVNCH. Anh ta không có một vũ khí nào hoặc bất kỳ vật dùng thường có nào của mình. Bộ đồng phục của anh ta đã bị lột bỏ những mảnh vải tên mình và huy hiệu đơn vị. Chính là một trong vị Hạ sĩ nhất của anh Bình vốn là người chận dừng anh ta lại, ra lệnh cho anh ta ra khỏi chiếc xe vốn đang cố gắng theo hướng về nam. Kéo ngước tấm bạt vải dầu vốn bao phủ sàn xe phía sau, vị Hạ sĩ nhất phát hiện ra một kho tàng của cải cướp được rõ ràng là được cướp phá từ những căn nhà của thường dân địa phương. Anh Ripley, vốn là người đã từng trải nghiệm một số lượng lớn hành động với Sói Biển, hiếm khi nhìn thấy anh Bình mất sự bình tĩnh của mình hoặc bày tỏ sự tức giận. Sự việc nầy trở thành một trong những trường hợp ngoại lệ đó. Khi điều đó được làm sáng tỏ đối với vị sĩ quan chỉ huy của Sói Biển rằng người cựu quân nhân QĐVNCH(pc 02) nầy đã quá mức vi phạm niềm tin của công chúng, chỉ có một kết quả có thể. Thủ phạm nhanh chóng bị xếp hàng tựa vào chiếc xe của anh ta và không cần theo thủ tục bị hành quyết ngay. Nhiều người trong số những binh lính TQLC trong một lúc sau đó quan sát thấy rằng họ vừa mới lãng phí một chiếc xe hoàn toàn tốt, một chiếc xe mà họ đáng lý ra dùng vào việc có lợi, trong hiện tình nầy.
=============

p441

Đối với những binh lính TQLC của Tiểu đoàn 3, và tất cả các đơn vị gần bờ biển nhất vào ngày 6 tháng Tư, Hải pháo vẫn còn là vũ khí hỗ trợ đáng tin cậy duy nhất hiện có. Quân Bắc Việt đủ khôn ra để biết những giới hạn của tầm tác xạ của những con tàu. Cây cầu đường sắt ở thượng nguồn, trong khi bị phá hủy một phần và không có khả năng chịu đựng những chiếc xe thiết giáp hoặc loại lớn, có thể dùng cho việc lội bộ qua lại; và nằm ngay bên ngoài phạm vi tác xạ vòng bán cung của Hải pháo. Đã không có sự hỗ trợ nào của lực lượng Không quân địa phương kể từ khi việc bắn hạ máy bay tấn công của Lực lượng Không quân Việt Nam bên trên cuộc giao chiến ở Đông Hà bởi phi đạn Strela SA-7 vào chiều Chúa Nhật; và những khẩu đại bác của QĐVNCH đã bị bỏ rơi hoặc giao cho đối phương.
Chỉ với bốn đại đội súng trường của Tiểu đoàn 3 ngày càng chịu nhiều sức mạnh và phần còn lại của những chiếc M-48 thuộc Tiểu đoàn 20 Thiết giáp của QĐVNCH bảo vệ toàn bộ khu vực Đông Hà, và vị trí quan trọng nhất nằm ngay tại cây cầu bị thổi tung, những lực lượng phe bạn phải kéo dài mỏng ra. Những binh lính TQLC và những binh sĩ xe tăng liên minh kém nhiệt tình của họ không thể ở khắp mọi nơi cùng một lúc và vì vậy bộ binh của Quân Bắc Việt có thể vượt qua cây cầu đường sắt, trên cơ bản không bị thách thức nào.

p442

Anh Bình biết những binh lính TQLC của anh ta chẳng bao lâu sẽ được yêu cầu để giáp mặt với đối phương được tập họp trên bờ nam con sông đối với ngay phía tây của họ. Đại đội súng trường nằm xa về hướng tây nhất của anh ta đã thực sự tiến hành một số lượng những cuộc tuần tra có kích thước tiểu đội để dò thám những kế hoạch bố trí lực lượng của đối phương gần nhất đối với họ. Anh ta dự kiến rằng anh ta sẽ đối phó với họ bắt đầu từ ngày hôm nay. Tuy thế, anh ta cần duy trì vị trí tại cây cầu.
Nhận thức rõ về mối đe dọa đang phát triển của Quân Bắc Việt ở thượng nguồn, anh Bình, với sự góp sức của anh Ripley, vào lúc ánh sáng đầu tiên xuất hiện đã ra lệnh cho việc dời chỗ khỏi khu vực cây cầu của một đại đội súng trường, toàn bộ bộ phận trụ sở chính của Nhóm Chỉ huy Alpha của anh ta và bộ phận trụ sở chính của tiểu đoàn xe tăng đến một vị trí khoảng một cây số về phía nam trên Xa lộ Một gần trục giao lộ với Quốc lộ 9; con đường xa lộ vốn chạy một mạch ra đến Khe Sanh và tiếp tục vào trong đất Lào. Cách vài trăm mét về phía tây của Xa lộ Một, ở mặt bắc của Quốc lộ 9, anh Bình cho những người của mình và những chiếc chiến xa bọc thép tải quân đi kèm thiết lập một trạm chỉ huy tạm thời tiếp giáp với một ngôi chùa vốn rõ ràng là đã từng có mặt đó trong một thời gian rất lâu.
Vào xế ngày hôm nay trong trận chiến, anh Ripley đã quan sát thấy rằng toàn bộ khu vực không có dân số thường khi của nó. Không có những thường dân sinh sống nào, không một ai, trong phạm vi tầm nhìn của anh ta, ngoại trừ những binh lính TQLC của anh Bình và cái gì như là những cán binh của Quân Bắc Việt mà anh ta có thể thỉnh thoảng chú mục. Những xác chết vô tội, chưa chôn cất vẫn còn đó; những thân xác của họ bị sưng húp lên và phình to ra trong cái chết, đang thối rửa và bốc mùi hôi thúi trong cái nóng mặt trời. Đã sẽ là điều cảm tạ để gọi vào một không kích bằng bom lửa hóa chất napalm lúc bấy giờ, nếu có sức mạnh Không quân hiện có sẵn, chỉ đơn giản là loại bỏ hàng triệu con ruồi ăn đang ăn tiệc trên những “chiến lợi phẩm” được Cộng sản cung cấp cho chúng.
Đối diện con đường từ ngôi chùa, ở phía nam Quốc lộ 9, anh Ripley không thể bỏ qua để không chú ý thấy rằng có một nghĩa trang ở đó. Theo kinh nghiệm của anh ta, nó có vẻ to lớn theo những tiêu chuẩn Việt Nam. Ngay cả người chết được chôn đã lâu, có thể là nhiều thế hệ tổ tiên của những gia đình hiện thời đang chạy trốn về hướng nam, một cách tương tự không được cho phép bình yên khi hỏa lực pháo kích và phi đạn của Quân Bắc Việt đã khuấy tung lên những phần khổng lồ của vùng đất thiêng liêng trước đây nầy.
Trong khi những binh lính TQLC của anh Bình và những binh sĩ đi theo xe thiết giáp của họ đang tiếp tục bám giữ vào mảnh đất được giao, tình hình của họ không tiến triển chút nào. Ngay cả mặc dù ở phía nam Xa lộ Một của Đông Hà vẫn nằm trong tay phe bạn, trong tình trạng tái tiếp tế và bổ sung, đặc biệt là đối với việc bảo trì cho những chiếc xe tăng M-48 nặng nề, phát ra tiếng bình bịch của dầu cặn, tiêu thụ nhiều đạn đang chậm chạp đi vào.

p443

Những chiếc xe tăng đang sắp hết đạn cho những khẩu súng đại bác chính của chúng. Chúng cũng đang trong tình trạng cần đến sự bảo trì thường xuyên mà qua đó là một thách thức to lớn khi làm việc. Đối với những binh lính TQLC, những khó khăn được đưa ra bởi tình hình hiện nay thì quan trọng không kém. Ngay cả mặc dù những người bị thương và chết vẫn đang được di tản, đã chưa có những sự thay thế những người thiệt mạng nào cho Tiểu đoàn 3 trong suốt cuộc chiến đấu cho Đông Hà. Sự thách thức về chiến thuật cho anh Bình và vị cố vấn của anh ta là việc tìm ra cách nào tốt nhất để phòng thủ khu vực và tiến hành những mệnh lệnh của họ với một khối người có khả năng chiến đấu đang liên tục giảm bớt.
Anh Bình điều động những lực lượng của mình để chống lại, theo cách tốt nhất mà anh ta có thể, mối đe dọa đang phát triển của Quân Bắc Việt hiện thời trên bờ nam sông Cửa Việt đối với ngay hướng tây của anh ta. Sau việc di chuyển những binh lính TQLC(pc 01) và những chiếc xe tăng được giao nhiệm vụ án ngữ trở lại từ khu vực cầu trước khi ánh sáng đầu tiên xuất hiện vào ngày 6 tháng Tư, họ đang ở trong vị trí và thiết lập xung quanh ngôi chùa trước khi mặt trời đã leo lên cao quá khỏi chân trời phía đông. Địa hình tiếp giáp với ngôi chùa được rừng cây bao quanh đủ để cung cấp nơi che giấu tốt, nhưng che chở trên đầu kém cỏi.
Đối với anh Bình và anh Ripley không có sự lựa chọn nào ngoại trừ vẫn còn ở lại Đông Hà cho đến khi họ bị thiệt mạng trong nhiệm vụ hoặc được lệnh triệt thoái. Ngay cả mặc dù vị sĩ quan chỉ huy của Tiểu đoàn 20 Thiết giáp đã ở lại và giữ đơn vị của mình trong cuộc chiến đấu từ đó đến nay, sự ảnh hưởng của Jim Smock như là vị cố vấn của anh ta không thể buộc phải phóng đại cho sự kết thúc đó. Nhưng nếu những chiếc xe tăng và những chiếc xe hỗ trợ còn lại đó không được tái cung cấp thêm nhiên liệu, chúng chẳng bao lâu sẽ trở nên vô dụng cho các binh lính liên minh.
John Ripley chắc chắn đã sống qua nhiều hơn phần chia sẻ của anh ta về những tình huống kỳ lạ và những khoảnh khắc may rủi. Đời sống như là một quân nhân TQLC và đang sống chung với binh lính TQLC, Mỹ và Việt Nam, đặc biệt là trong suốt thời gian chiến tranh, mang lại một nguồn cung cấp ý kiến vô tận cho cuộc vui giải trí cá nhân và cho những câu chuyện mà sau nầy anh ta có thể nói rằng chúng sẽ được tin tưởng chỉ bởi vì những người lắng nghe có lòng tự tin vào tính xác thực của người kể chuyện.
Sự xuất hiện của một số lượng phóng viên báo chí ở vị trí trụ sở mới của Tiểu đoàn 3 gần ngôi chùa nằm ngoài Quốc lộ 9 vào khoảng 0730 giờ vào sáng thứ Năm nhắc nhở anh Ripley, tuy là một lần nữa, về những hoàn cảnh chiến đấu chỉ là không thể tin được đến như thế. Một số trong những sự kiện, rất nhiều trong số những sự kiện, vốn xảy ra chỉ đơn giản là quá kỳ quái không thể tưởng tượng ước đoán trước được.

p444

Đối với mức độ mở rộng sự kiện đó, có những chiếc xe hơi ở Việt Nam, Sài Gòn nói riêng, những chiếc xe hiệu Citroen trông rất khiêm tốn, tiện dụng do Pháp sản xuất thì ưu việt hơn hẳn, có mặt ở khắp mọi nơi. Nhỏ nhắn so với những tiêu chuẩn Mỹ, một mô hình chung chung sẽ không bao giờ được chọn bởi những gia đình người Mỹ vốn là những người đòi hỏi phần bên trong xe và sức mạnh. Đó là sự sửng sốt đối với tất cả những binh lính TQLC ở đó được trải rộng ra bao quanh ngôi chùa để theo dõi sự tiến đến bất chợt và sự dừng lại nhanh chóng của chiếc xe Citroen phần nhiều không thích hợp nơi nầy đang nằm trên đường ngay hướng nam của những vị trí của họ.

(Những chiếc xe hiệu Citroën của Pháp được sản xuất trong thập
niên 1940s đã từng xuất hiện ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ
Pháp độ hộ trước thời điểm 1972 nầy) (George Frost )

Kỳ lạ như chiếc xe hơi dường như là thế đối với những người Mỹ đến Sài Gòn vốn là những người, đến năm 1972, quen thuộc với kích thước lớn hơn và chắc chắn là –theo những tiêu chuẩn riêng của họ– kiểu duyên dáng hơn đối với những chiếc xe của riêng họ, để nhìn thấy một vật được sáng chế nhỏ nhoi như thế mà qua đó nhét vào quá nhiều người không thể nào hợp lý vừa vặn bên trong, dường như đối với anh Ripley giống như một trò biểu diễn nguy hiểm kỳ lạ bằng số đông người nào đó. “Làm cách nào họ để được rất nhiều người bên trong ?” anh ta tự thầm nghĩ. Chiếc xe Citroen hầu như là một loại xe mà người ta sẽ thấy được lái bởi những anh hề Shriner trong đoàn xiết Shrine tại một vài buỗi biểu diễn khác hơn buỗi nghiêm túc khác. Anh Ripley có thể tưởng tượng đến nam tài tử Peter Sellers như là viên Thanh tra Clouseau xuất hiện để thêm vào cái giống đặc biệt tưng tửng trong vai trò của riêng mình cho cảnh diễn xuất. Người đàn ông cuối cùng bước ra ngoài đang mang một trong những chiếc máy quay phim trông nặng nề, to lớn, có dụng cụ ghi âm, loại mà trông giống như một bộ tai Chuột Mickey quá khổ. Anh John đã luôn luôn kết hợp những thứ sáng chế đó với những cái máy quay phim thời sự mà khi lớn lên anh ta thường xem bất cứ lúc nào anh ta đi đến xuất chiếu bóng địa phương khi còn là một cậu bé ở thị trấn Radford trong tất cả những năm qua đó.

(Anh hề Shriner theo kiểu Á Rập được biết đến trên thế giới)

Nhận ra anh Ripley từ con đường, đám đông nhỏ nhanh chóng đỗ xô về phía người anh hùng TQLC Mỹ hiện nay được thừa nhận, đang vác cái máy ghi âm bằng băng, những cái máy quay phim đứng yên, và dĩ nhiên là cái máy to lớn quay phim thời sự. Ngay cả trước khi họ đến gần người đàn ông vốn là người đã phá hủy cây cầu Đông Hà, họ bắt đầu hét to ra những câu hỏi. Những người với những đồ phát âm có những cánh tay của chúng được kéo dài ra trước khi chúng có thể ghi âm lại lời đối đáp của anh ta. Vây quanh anh ta, ngay lập tức họ lặp lại những câu hỏi mà họ đã bất chấp rất nhiều bất tiện trên các chuyến đi dài lên đây từ bất cứ nơi nào mà họ đến để có được câu trả lời. Thời gian tạm nghĩ ngắn ngủi ở giữa của cuộc họp báo ngắn gọn nầy đã có thể là một khoảnh khắc vui vẻ cho anh Ripley nếu thời gian đó đã không dành cho bộ binh của Quân Bắc Việt tiến ra khỏi lằn ranh khu rừng đối với phía tây bắc vốn là những người làm cho sự hiện diện của họ được biết đến trong vòng vài giây trước khi chuyến đến của đoàn phóng viên.

p445

Tiếng lộn xộn chối tai âm của nửa tá phóng viên điên cuồng, tất cả nói một cách liến thoắng với anh Ripley cùng một lúc, hỏi khá giống nhau cùng một câu hỏi, không cách nào che giấu được những âm thanh riêng biệt nhất khó thể nào quên vốn khiến cho máu của mỗi người đang chiến đấu chảy lạnh cóng người. Tiếng “Tong, tong, tong” của cái gì phải là những đợt đạn súng cối 82 lý của đối phương đang rời khỏi những ống phóng của chúng không cách rất xa được theo sau một cách nhanh chóng, rất nhanh chóng, bởi những tiếng nổ mau lẹ từ sự va chạm tất cả vùng xung quanh.
Cái đã cứu John Ripley là bức tường bao cát con người của những phóng viên trong một vòng 360 độ chặt kín chung quanh anh ta. Jim Smock đã ở cách vài mét, trên nóc một trong những chiếc chiến xa bọc thép tải quân, đang nhìn với ống dòm về hướng lằn ranh khu rừng và Quân Bắc Việt đang tiến bước. Anh ta đã nhận lấy mảnh đạn ở lưng mình trong đợt pháo đầu tiên. Truyền tin viên của anh Ripley, “Người em Trai” của anh ta, một anh Nhã rất trung thành, kiên quyết, và tháo vát đã bị giết chết ngay lập tức. Cùng mảnh pháo đã vỡ tung vốn lấy đi sinh mạng của anh ta, cũng cắt xén đi cây thu sóng từ điện đài vô tuyến mà anh ta vừa mới sử dụng. Thật ra, ngoại trừ anh Ripley vốn là người được che chở bởi những phóng viên kém may mắn, mọi quân nhân TQLC và người lính vốn là những người không đang ở bên trong chiếc chiến xa bọc thép tải quân hoặc dưới nơi ẩn nấp quan trọng trong ngay vùng lân cận đều bị trúng mảnh pháo.

(Chiếc chiến xa M-113 thường được dùng để tải quân bên trong xe là
một trong những loại xe được gọi là phương tiện tải quân có bọc thép
(APC) mà những binh lính VNCH đang ngừng nghĩ ở Cao Lãnh)

Những binh lính TQLC của anh Bình tại ngôi chùa vừa mới dàn quân ra để giáp mặt với Quân Bắc Việt đang tiến bước. Ngay cả trước khi hàng rào súng cối, anh Bình đang ở dưới nơi ẩn nấp nói chuyện trên mạng lưới liên lạc với những vị chỉ huy đại đội súng trường và những đại đội vũ khí của mình, đang cố gắng đáp trả mối đe dọa mới ở địa phương. Số lượng quân địch ở phía trước họ thật là đáng kể. Trong khoảnh khắc, rõ ràng là những binh lính TQLC kèm theo anh Bình một lần nữa bị vượt hơn số đông rất lớn, có một cuộc chiến đấu hỏa lực chính trong tầm tay của họ, và tất cả đó là bộ binh chống lại bộ binh.
Cuộc chiến đấu tàn bạo một cách riêng biệt, và rõ ràng là trong vòng một ít phút đầu mà qua đó những binh lính TQLC kém số đông xung quanh ngôi chùa sẽ cần phải rút lui đến một nơi ẩn nấp tốt hơn được che chở bởi con mương lớn chạy từ đông sang tây trên mặt nam của Quốc lộ 9. Với anh Bình đang bận rộn phối hợp hành động, anh Ripley tập trung vào việc mang những người bị thương bị phơi bày cho hỏa lực đối phương gần anh ta nhất đến nơi an toàn. Anh ta cũng đang có nhu cầu cho sự thay thế cây thu sóng cho điện đài mà anh Nhã đã từng mang để cho anh ta có thể nói chuyện trên mạng lưới liên lạc cố vấn nhằm mục đích là anh ta có thể gọi vào trong Hải pháo.

p446

Trong khi anh Bình bận bịu trong việc điều phối sự di chuyển và sức mạnh hỏa lực của tất cả Tiểu đoàn 3, bản thân anh Ripley quan đến việc chuyển tải những phóng viên bị thương và điều mà những binh lính TQLC đang ở trong ngay vùng lân cận của anh ta đến con mương trên mặt nam của Quốc lộ 9. Một khi anh ta đã thực hiện việc đó hoàn tất, anh Ripley chuyển sự chú ý của mình đến việc nài xin đội lính của một trong những chiếc chiến xa từ tiểu đoàn xe tăng của QĐVNCH để nhờ sự trợ giúp cho anh ta trong việc di chuyển những người bị thương không có xe cấp cứu. Chiếc chiến xa mà anh ta tiến gần đến, hoàn toàn đóng kín mít sẵn sàng mọi thứ –tất cả những cửa hầm đóng chặt để giảm thiểu sự rủi ro cho đội náu kín bên trong. Anh Ripley lấy chuôi súng của khẩu CAR-15 của mình và nại nó trên cửa hầm sau của chiếc chiến xa M-113 cho đến khi cuối cùng một quân nhân trẻ của QĐVNCH hé mở ra chỉ là một kẽ nhỏ. Đôi mắt của người lính mở rộng với nỗi sợ hãi. Anh Ripley phải mất một chút thuyết phục nhanh chóng nhưng anh ta có thể trong giây lát ghi nhận được sự giúp đỡ của chiếc chiến xa và đội lính của nó trong việc chấp nhận một vài người trong số những người bị thương lên xe.

(Khẩu súng Liên thanh loại Colt (Colt Automatic Rifle-15 = CAR-15)
là tên nguyên thủy cho loại súng Carbine M-16. Sau nầy, nó được dùng
cho lực lượng cảnh sát, còn được gọi là Carbine-5.56 ly)

Quân đội Bắc Việt không ở nơi nào gần mức thách thức về hậu cần như những binh lính TQLC của anh Bình. Cuộc chiến đấu trong vùng lân cận của ngôi chùa được tiến hành với kẻ thù tiếp tục để đỗ quân vào cuộc giao tranh; và điều đó khá rõ ràng rằng nếu những binh lính TQLC(pc 01) vẫn còn tại chỗ, họ sẽ bị tràn ngập. Sự quyết định của anh Bình là di chuyển những lực lượng còn lại của mình đến phía nam của Quốc lộ 9 đã được thực hiện trong khi anh Ripley đang chăm sóc những người bị thương.
Không có lớp đường ngọt bao lấy điều cay đắng. Tình hình trên bộ của liên minh dường như ảm đạm; thậm chí khắc nghiệt hơn so với tình hình đã có trong những ngày cuối cùng nầy. Với Thiếu tá Jim Smock bị thương và trong tiến trình đang được tải thương bằng trực thăng ra ngoài, bất cứ ảnh hưởng tích cực gì mà anh ta đã có cho đến nay trong tám ngày của cuộc xâm lược của kẻ thù trên người đàn ông mà anh ta đang cố vấn, ngay lập tức biến mất hết. Trước khi anh Bình có thể đưa tất cả những người của Tiểu đoàn 3 tất cả đến mặt nam của Quốc lộ 9, những chiếc xe tăng và chiến xa còn lại của Tiểu đoàn 20 Thiết giáp bắt đầu, theo cách riêng của họ, chuồn nhanh ra khỏi khu vực xung quanh ngôi chùa, mà không nhặt lên những xác chết của riêng họ hoặc không đếm xỉa gì đến tất cả người bị thương của họ.
Anh Ripley đã đặt người cuối cùng trong số những người TQLC bị thương, bao gồm cả anh Smock, vào bên trong một chiếc chiến xa mà anh ta có quyền kiểm soát tạm thời, trên danh nghĩa, và sau đó đi tìm xác anh Nhã.

p447

Chiếc chiến xa, theo dấu vết của những chiếc khác, sau đó nhanh chóng rời khỏi khu vực. Ngay nơi mà trước đó anh ta đã tế nhị đặt xác chết của anh Nhã, anh ta nhận ra rằng anh ta và người lính truyền tin của mình lúc bấy giờ chỉ có một mình. Anh ta cúi xuống và gần như thận trọng một cách rón rén nâng cơ thể bất động của “Người em Trai” choàng lên trên đôi vai mình.
Sương mù của chiến tranh thì dầy nhất khi càng gần địa điểm chạm súng nhất ngay ở đó tại ngôi chùa. Một sự hòa trộn của sự hỗn loạn trên chiến trường và màn sương mù kỳ lạ của buổi sáng hàng ngày bình thường đối với nhiều nơi trong Quân khu I tràn ngập khu vực. Ở phía sau của anh ta, và không quá xa, ngay khi anh ta đã kê vai vác người bạn thân của mình, anh Ripley dò thám thấy cái gì đó ắt hẳn là một tiểu đội bộ binh của Quân Bắc Việt từ từ đang tiến bước về phía họ. Dự kiến sẽ bị bắn ở phía lưng vào bất cứ lúc nào, anh Ripley bước về phía nam; hướng về nơi mà anh ta nghĩ rằng những người của Sói Biển có lẽ là, phải từ bỏ bất cứ chuyện gì có thể xảy ra. Anh ta không định bỏ lại xác anh Nhã.
Bắn tan xác anh đã sẽ là một sự chắc chắn ở cự ly nầy. Tuy nhiên, những cán binh Bắc Việt thất bại giao chiến khi anh Ripley vẫn tiếp tục. Ngay sau đó, anh ta được ca ngợi bởi anh Bình, một anh Jack(pc 03) rất điềm tỉnh, dữ dội vốn là người đã trở lại tìm thấy anh ta. Sau đó, họ cùng nhau theo hướng về nơi ẩn nấp tương đối và khá an toàn ở mặt nam con đường.

(Đại úy John Walter Ripley –bên ngoài phía trái–, Thiếu tá Lê Bá Bình
–đang liên lạc với những vị đại đội trưởng của mình–, truyền tin viên Nhã,
người đã bị thiệt mạng vì mảnh pháo vào ngày 6 tháng Tư năm 1972 –không
lâu sau khi bức hình ghi lại tất cả họ đang tạm nghĩ sau 4 ngày chiến đấu)

Thiếu Tá Lê Bá Bình, Đại úy John Walter Ripley, và phần còn lại của Tiểu đoàn 3 được lệnh ra khỏi Đông Hà vào ngày 7 tháng Tư, lội bộ 5 cây số trở lại Ái Tử nơi mà họ gia nhập trở lại Lữ đoàn 258. Anh Bình đã bước vào Đông Hà vào ngày 30 tháng Ba với 700 quân lính. Khi họ đến Ái Tử chín ngày sau đó, lực lượng Sói Biển tập họp lại chưa đến 200 binh lính TQLC có hiệu lực chiến đấu. Những tiểu đoàn TQLC khác trong suốt cùng giai đoạn đã tương tự như thế tham gia toàn lực chống lại Quân Bắc Việt ngoan cường trên khắp vùng phía bắc tỉnh Quảng Trị.1
Một quang cảnh của “Bức hình To lớn” về cuộc giao chiến khắp hầu hết miền Nam Việt Nam khó mà khuyến khích việc đóng cửa công việc kinh doanh vào ngày 8 tháng Tư. Quân Bắc Việt đến lúc bấy giờ đã tung ra tất cả ba trong số những sức đẩy chính của cuộc Tổng tấn công Nguyễn Huệ. Trong phần giữa của đất nước, họ được tập trung vào việc xuôi về hướng đông dọc theo Quốc lộ 19 hướng đến Pleiku và Kontum, với chủ ý phân chia cắt đất nước thành một nửa. Xa hơn về hướng nam, đối phương cũng vừa chiếm giữ Lộc Ninh và bao vây An Lộc ở phía tây bắc Sài Gòn.
Trong khi không phải là điều vui mừng khủng khiếp, tình hình trên bộ ở Bắc Quân khu I vào cuối ngày 8 tây tháng Tư thì tốt hơn một cách đáng kể so với ở những nơi khác trên bản đồ, nơi mà Quân Bắc Việt đã từng tấn công. Sự đưa vào nhanh chóng Lữ đoàn 369 trở lại vào trong đấu trường đang có sự tác động có lợi trên tinh thần chiến đấu và cách làm việc trên chiến trường.

p448

Với Lữ đoàn 369 hiện thời trong cuộc chiến đấu, toàn bộ Quân đoàn TQLC Việt Nam đứng lên chống lại Quân Bắc Việt khắp tất cả vùng phía bắc tỉnh Quảng Trị. Ngay cả mặc dù họ vẫn còn bị vượt hơn số đông, và nói chung vẫn đang bị đẩy lui, sự phòng thủ gan lì của họ ở mọi địa điểm chạm súng đang làm gián đoạn thời gian biểu của đối phương cho cuộc chiến thắng. Trong suốt nhiều ngày tới, sẽ có những tia sáng hy vọng, thậm chí là chiến thắng, nơi mà những binh lính TQLC ngoan cường từ chối nhường lại vùng đất. (Cách tiến hành của QĐVNCH ở Bắc Quân khu I –giới hạn những hành động của Sư đoàn 3– như thế cho đến nay được xếp vào hàng từ sâu thẳm đến phản bội. Thật may mắn cho những binh lính TQLC được-kéo-dài-đến-mức-giới-hạn, Sài Gòn cũng đã bắt đầu củng cố các đơn vị của QĐVNCH với Sư đoàn 1 và một số lượng những Tiểu đoàn Biệt động mà cách tiến hành trên chiến trường của họ sẽ là vượt xa hơn trong việc gìn giữ truyền thống Biệt động Quân; như được hiểu bởi những người Mỹ.)

George Philip với Tiểu đoàn 1 Pháo binh
Ngày 7 tháng Tư năm 1972
Đầu buổi chiều

Từ phía bắc Phú Bài và trở lại vào trong cuộc chiến đấu, anh George đã trở lại hành động với Tiểu đoàn 1 Pháo binh trong sự hỗ trợ cho Lữ đoàn 369. Sau khi liên kết với những người bạn đồng hướng cũ, anh ta đã biết được rằng một trong những người bạn của mình, Đại úy Nguyễn Tâm, một chiến binh thực sự và chuyên nghiệp từ kinh nghiệm của anh Philip, và khẩu đại bác 105 ly mà anh ta đã từng chỉ huy, đã từng bị mắc kẹt tại Doanh trại Carroll. Ngay cả mặc dù họ được đặt vị trí liền kề với họ, những binh lính TQLC không phải là một phần của sự đầu hàng phản bội và đáng xấu hổ của Trung đoàn 56. Nhưng họ đã bị áp đảo và tràn ngập.
Nhận biết rõ qua sự muộn màng nầy trong chuyến quân vụ của mình về những sự khác biệt văn hóa giữa những người Mỹ và Việt Nam, anh George được đưa ra là một thí dụ rõ ràng nhất cho đến nay về vấn đề “mặt mũi” và thể diện lúc giờ ăn trưa vào ngày 7 tháng Tư. Việc phản ảnh nhiều hơn về ảnh hưởng của Pháp và phong cách cao quý so với thể cách của Mỹ rõ ràng thô lỗ, kém-hơn-điều-có-thể-chấp-nhận-được về việc cung cấp thêm nhiệt lượng bằng cách ăn những phần ăn C theo cách dã chiến –mà Đại úy Philip thường ngưỡng mộ– vị chỉ huy tiểu đoàn pháo binh, Đoàn Trọng Cao, và toàn bộ thành phần chỉ huy của ông ta thực sự dùng bữa ăn trưa của họ ngay bên ngoài Xa lộ Một.

p449

Với những cái chiếu bằng rơm sạch sẽ, trải ra được đặt lên và dọn bữa ra, và có lẽ một tá người tham dự, họ vừa mới bắt đầu ăn khi một đợt pháo kích của đối phương chạm mạnh, anh George đoán, có lẽ 500 mét xa ngoài họ. Vị chỉ huy tiểu đoàn và toàn thể ban tham mưu của mình vẫn duy trì gương mặt điềm tỉnh như người chơi bài poker, ngồi đúng nghi thức bắt chéo chân như họ luôn luôn làm tại các bữa ăn trong khi anh George có kinh nghiệm một chút về việc gia tăng yếu tố cau mày. Nhận lấy ám hiệu của họ từ Trung tá Cao, ban tham mưu tiếp tục ăn. Không có gì lớn lao.
Một lát sau, một quả pháo thứ hai, đơn chiết rơi xuống vượt qua họ, lần nầy vào khoảng 300 mét xa. Anh George lúc bấy giờ chắc chắn một cách hợp lý là họ đang bị đối phương quan sát. Không chút run sợ, những người bạn Việt Nam của anh ta tiếp tục với bữa ăn của họ. Anh Philip đã biết được rằng những đội pháo binh của Quân Bắc Việt nói chung là có tài năng khá nhưng thường là chậm chạp một chút hơn so với những đội pháo binh của Mỹ và Quân đoàn TQLC Việt Nam trong việc thực hiện những sự điều chỉnh tọa độ –thật cảm ơn. Anh George dự kiến rằng chẳng bao lâu sẽ có đợt pháo khác.
Đủ chắc chắn, quả pháo thứ ba, đơn chiết rơi xuống, lần nầy cách xa bởi cái gì có vẻ giống như không hoàn toàn là 200 mét. Những thứ bên trong người của anh George hiện thời đang khuấy động lên ngoại trừ những gia chủ của anh ta cảm thấy bối rối. Vị cố vấn Mỹ không còn cảm thấy ngon miệng.
Trong cái gì đó dường như đối với anh Philip giống như là vô tận, đợt pháo kích thứ tư cuối cùng đã đến –lần nầy ngắn đi bởi vài trăm mét. Những kẻ xấu đã thiết lập cái giá đỡ ống phóng pháo cần thiết. Những tiền sát pháo binh khá ở nửa khoảng cách và những đội pháo mà họ điều khiển, sẽ có những đợt pháo tiếp theo ngay trên mục tiêu. Trung tá Cao không phải là một kẻ ngốc. Với cái giá đỡ pháo được thành lập, ông ta biết rằng sự điều chỉnh tiếp theo sẽ là “hỏa lực cho hiệu quả” (i.e. trong vòng khoảng cách mục tiêu) được thực hiện bằng những khẩu pháo đa dạng với nhiều đợt pháo được mở rộng cho sứ mệnh đó.
Không làm vỡ một giọt mồ hôi và với sự hoàn toàn bình tĩnh trong giọng nói của ông ta, sau khi đặt đôi đũa và chén cơm của mình xuống, ông ta nói trong tiếng Anh không cần nhấn mạnh cho anh George nghe: “Chúng ta đi thôi.” Và như thế, họ đi khỏi.

p450

Ngày 8 tháng Tư
Tầm nhìn vĩ mô tiếp tục

Tồi tệ như tình tình chiến đấu trên bộ ở vùng phía bắc tỉnh Quảng Trị đã từng là kể từ khi sự bắt đầu của cuộc Tổng tấn công Nguyễn Huệ của Cộng sản lúc giờ ăn trưa vào ngày 30 tháng Ba, mọi thứ chắc chắn đã có thể tồi tệ hơn nhiều. Mặc dù cái vòng không-bắn tự áp đặt của những người Mỹ xung quanh chiếc phi cơ Bat 21 mà qua đó đã bỏ qua một cách không cần thiết vô số mục tiêu tự do từ cuộc tấn công bằng Không quân và pháo binh, (vì vậy gây ra một số lượng không xác định về những thương vong thêm vào của VNCH) và cho phép Quân Bắc Việt chiếm giữ cây cầu Cam Lộ còn nguyên vẹn, theo một cách không thể giải thích được đối phương đã giữ lại phía sau ít nhất là toàn bộ hai sư đoàn ở phía bắc Khu phi Quân sự như là một phần của lực lượng trừ bị theo chiến lược của họ.
Cho dù đây là một phần của kế hoạch ban đầu hay không vẫn còn chưa rõ ràng đối với những người đồng minh vốn là những người hưởng lợi bởi sự sợ hãi quá mức mà ban lãnh đạo Cộng sản đã có đối với các lực lượng TQLC Mỹ đang trôi nổi ngoài khơi. Sự xuất hiện vào ngày 1 tháng Tư của những lực lượng thủy bộ ngay trên đường chân trời đã không tránh khỏi sự chú ý của kẻ thù. Đến ngày 8 tháng Tư, toàn bộ Lữ đoàn 9 TQLC Thủy-Bộ đang cho tàu di chuyển trong vịnh Bắc Bộ. Quân Bắc Việt có những khả năng ngăn chận làn sóng vô tuyến rất tinh vi và có thể đã và đang lắng nghe những cuộc đàm thoại công khai mà anh Turley, anh Ripley, và tất cả những người khác đã có trước đó với những con tàu mang Hải pháo đang ở ngoài khơi. Những làn phát sóng đó từ tuyến phòng Hải pháo đến anh Turley rằng “những người anh của anh ta” đang ở ngoài đó có chỉ đơn giản là đang chờ đợi một lời mời đến bờ biển, và văn thư “Cho hạ Lực lượng Đỗ bộ” có nguồn gốc bí ẩn mà qua đó anh ta đã không biết gì đến nhưng anh ta gần như bị tứ mã phanh thây bởi ban tham mưu của Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam, có thể đã phục vụ những mục đích lớn hơn so với bất cứ ai sau đó có thể đã đánh giá hoặc nhận thức được.
Từ quan điểm của Quân Bắc Việt, bờ biển dài vốn có thể bị công kích bởi những binh lính TQLC nếu họ quyết định tấn công, từ cửa sông Cửa Việt đến phía bắc của Khu phi Quân thẳng một mạch đi lên hướng về Vinh, nằm gọn bên trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt), là một điều bất ngờ nghiêm trọng mà họ tin rằng họ cần có những lực lượng hiện có để chiến đấu với Mỹ. Việc cho thấy sự sai sót tạm thời về sự nhạy bén chính trị và sự quen thuộc với khí hậu chính trị của Mỹ hiện nay

p451

–mặc dù nó có thể đã là một đòn chiến lược để đánh Quân Bắc Việt bằng những binh lính TQLC Mỹ ở những khu vực phía sau của họ rất dễ bộc lộ và từ trước đến nay chưa bao giờ bị tấn công, chính điều đó đã sẽ là một sự tự sát chính trị đối với Tổng thống Nixon nhằm đưa vào lần nữa những lực lượng chiến đấu trên bộ của Mỹ trở lại vào trong Việt Nam, đặc biệt là miền Bắc Việt Nam– cuộc biểu dương lực lượng thủy bộ nầy có thể không cố ý cũng có thể đã chậm lại một cách đáng kể bước tiến của đối phương. (Theo cách nói của Quân đoàn TQLC “cuộc biểu dương lực lượng thủy bộ” có nghĩa phục vụ như là một đòn mưu mẹo chiến lược đối với kẻ thù bằng cách khiến cho họ nghĩ rằng bạn có thể đến bờ biển tại bất cứ nơi nào, hoặc không xảy ra. Bằng cách làm nầy, kẻ thù phải đòi hỏi đầu tư vào những lực lượng bảo vệ các khu vực lớn hơn và như thế trải ra, hoặc thắt buộc những nguồn tiếp tế mà sau đó sẽ không có sẵn để chiến đấu ở nơi nào khác.)
Nếu hai sư đoàn bổ sung của đối phương được đỗ vào trong trận chiến ở vùng phía bắc tỉnh Quảng Trị một cách cấp bách hơn, mặc dù là việc phá hủy cây cầu Đông Hà của anh Ripley, điều đáng nghi ngờ là những lực lượng TQLC Việt Nam bị trải mỏng ra đã có thể bám giữ như họ đã.2

B- Anh Turley Trở lại:

Gerry Turley đã trở lại Trung tâm Chỉ huy và Hoạt động ở Ái Tử muộn vào buổi sáng của ngày 4 tháng Tư, theo sau sự gián đoạn của buổi chiều tối của anh ta tại Đà Nẵng. Điều đó cảm thấy giống giống như “đang trở về quê nhà” sau khi sự thử thách của mình ở Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam. Hiếu kỳ là, trong sự vắng mặt của anh ta và trong suốt khoảng thời gian của chuyến đi về hướng nam của anh ta, Turley đã bỏ lỡ chuyến trở lại của ông sếp TQLC Mỹ của anh ta, Đại tá Josh Dorsey, vừa qua đi. Đại tá Dorsey, vốn là người đã từ lâu lên lịch trình cho một khoảng thời gian ngắn nghỉ Lễ Phục Sinh với người vợ của mình ở Philippines, đã trở lại nhanh chóng như ông ta đã có thể và, giống như tất cả những quân nhân TQLC của ông ta đang làm cố vấn và những người mà họ giúp ý kiến, theo hướng thẳng về phía bắc. Đại tá Dorsey đến tỉnh Quảng Trị với anh Gerry xuống phía nam và hoàn toàn không gọi được vào trên “tình hình của anh Turley” vẫn đang phát triển sau đó. Vị Đại tá thì đủ là một nhà quân sự chuyên nghiệp và đã nhìn thấy đủ để giữ khỏi trở nên quá phát cáu trước khi người bạn chức vụ thấp hơn của mình báo cáo cho ông ta một cách đầy đủ về những hoàn cảnh trên chiến trường vốn đã thất bại không như ý muốn.
Khi họ liên kết trở lại, Đại tá Dorsey theo một cách tự nhiên cho rằng những nhiệm vụ của anh ta như là một vị cố vấn TQLC cao cấp vốn phù hợp với anh Gerry tốt hơn. Với trận chiến ngày càng mở rộng và số lượng ngày càng tăng của các đơn vị TQLC(pc 01) để theo dõi, không có sự chấm dứt hành động để giữ Turley hoàn toàn bận bịu, mặc dù không ở mức cường độ khá giống như trước.

p452

Việc mở ra hoàn toàn cuộc Tổng tấn công Nguyễn Huệ của đối phương phô bày một môi trường nhiều mục tiêu tràn ngập toàn khắp miền Nam Việt Nam, ngay cả với những sự hạn chế cho chiếc phi cơ Bat 21 ở phía bắc tỉnh Quảng Trị. Những chiếc máy bay dội bom (B-52) của Mỹ theo chiến thuật và chiến lược lúc ban đầu được yêu cầu đến giúp đỡ những lực lượng của Việt Nam Cộng hòa ở những phần trung tâm và hướng nam của đất nước mà qua đó, trong nhiều trường hợp, bị bao vây hoặc cắt đứt khỏi sự tăng viện bởi những kẻ xâm lược.
Khi thêm sức mạnh Không quân Mỹ hàng ngày được mang trở lại vào trong khu vực Đông Nam Á, những tài sản có thể được hướng dẫn chống lại các mục tiêu ở phía bắc của Khu phi Quân sự. Có hay không những người Cộng sản cảm thấy ngạc nhiên bởi phản ứng của Mỹ, là điều đáng nghi ngờ. Họ được chuẩn bị tốt và phô ra những nới phòng thủ chống máy bay mới nhất được Liên Xô cung cấp. Tin tức tốt nhất cho những nhóm Không quân Mỹ là bây giờ họ ít ra đang bay chống lại những mục tiêu có giá trị cao, đầy ý nghĩa. Trong cuộc đàm thoại riêng với các vị cố vấn của ông ta, Tổng thống Nixon đã ngắn gọn: “Những tên bú dù chưa bao giờ bị dội bom giống như chúng sắp sửa bị thả bom lần nầy.”3
Vào ngày 10 tháng Tư, những chiếc B-52 tấn công những mục tiêu gần thành phố Vinh. Chính là lần đầu tiên cuộc không kích như thế xa về phía bắc kể từ tháng Mười Một năm 1968. Vào ngày 6 tháng Tư, những chiếc B-52 dập những địa điểm quan trọng ở Hà Nội và Hải Phòng trong thực sự lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh. Sự tuyên truyền của Cộng sản tường thuật rằng các những chiếc pháo đài B-52 đã không hoàn thành gì khác hơn là giết hại những thường dân vô tội. Cuộc dội bom đất nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ tiếp tục ở một cường độ chưa từng thấy trong cuộc chiến tranh.4

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 02_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 03_ anh Jack : là một quân nhân TQLC Việt Nam được chọn là người cận vệ cao cấp của Thiếu tá Lê Bá Bình, vị tiểu đoàn trưởng của Tiểu đoàn 3 TQLC, sau nầy anh ta cũng làm cận vệ cho cả Đại úy cố vấn Ridley. Tên Jack là do Đại úy Ridley đặt cho anh ta để dễ gọi (được nhắc đến trong phần 27, p370).

One thought on “Phần 32: Cuộc giao chiến đang Diễn ra tại Đông Hà

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s