Phần 31: Anh Turley Đối mặt với Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

(trang bỏ trống)
p429

Phần 31: Anh Turley Đối mặt với
Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam

Tiểu đoàn 3 Thủy quân Lục chiến (TQLC)
Đông Hà
Cuối chiều ngày thứ Hai

Tất cả vùng Đông Hà, từ mặt bắc của sông Cửa Việt, nằm gọn trong tầm tác xạ của mỗi khẩu pháo –bao gồm súng cối 82 ly ở khắp nơi– mà Quân Bắc Việt đã mang xuống từ Khu phi Quân sự với số lượng dồi dào chưa bao giờ trước đây được trải nghiệm trong cuộc chiến tranh nầy bởi các lực lượng đồng minh.(pc 01) Sau khi John Ripley đã thổi tung cây cầu, sau buổi chiều tối của sự gây trở ngại của lực lượng Sói Biển trên mọi cố gắng địa phương của Quân Bắc Việt thử vượt qua phía trước những tuyến phòng của họ được phân tán rải rác và có độ sâu của chiều rộng buồng ngực của một quân nhân TQLC, và sau khi bắt đầu chuyển những lực lượng thiết giáp của họ về phía tây hướng đến Cam Lộ và cây cầu còn nguyên vẹn của nó, đối phương tiếp tục đổ người và vật liệu chống lại Đông Hà. Không ai đã ra lệnh cho họ làm gì khác hơn. Ngay cả không có cây cầu để vượt qua, ngay cả với sự bẻ to lớn trong đà tấn công mà hủy diệt của nó đã gây ra, họ vẫn chiếm giữ hầu hết lợi thế trên chiến trường; mặc dù sự hỗ trợ gần như liên tục của tiếng súng Hải quân gần bờ biển.
Việc bắn hạ chiếc phản lực Bat 21, với những hạn chế hiện thời được đặt để trên việc sử dụng sức mạnh hỏa lực, đã cho Quân Bắc Việt gần như sự chế ngự tự do vùng phía bắc Quân khu I trên chiến trường nội địa từ bờ biển trong thời gian lúc đó. Trong cái gì đó có lẽ là môi trường có nhiều mục tiêu nhất của toàn bộ cuộc chiến tranh, những người Mỹ đang thối lui lại vì sợ gây nguy hiểm cho một phi công bị bắn rơi đang chờ sự giải cứu. Đối phương đang lợi dụng tối đa những cơ hội nầy để tiếp tục cuộc công kích của họ.

p430

Ở Đông Hà, Tiểu đoàn 3 của anh Bình, bây giờ bao gồm ít hơn 700(pc 02) binh lính TQLC,(pc 03) đang phải đối mặt với gần khoảng 20.000 cán binh Bắc Việt cùng với một số lượng vẫn chưa được xác định, nhưng có khả năng nhiều hơn con số được ước tính trước đó, của những chiếc xe tăng và pháo binh. Những người phòng thủ, một cách kiên trì như họ đang đối kháng, chỉ đơn giản là không có đủ đạn dược và những vật dụng dư thừa thay thế, hoặc những người lính, để bám giữ mãi mãi. Đó là điều hiển nhiên đối với cả anh Bình và anh Ripley đây là nỗ lực tối đa của đối phươn; và đối với họ sự chiến thắng, cuộc chiến thắng nầy, cuộc chiến thắng cuối cùng, thì đáng tiêu hao rất nhiều nguồn lực con người để đạt được. Nhằm ngăn chận kết quả đó cả hai người đàn ông nhận biết rằng họ sẽ đòi hỏi để bám giữ vùng đất của mình bằng bất cứ giá nào. Đối với Tiểu đoàn 3 tại Đông Hà, “bất cứ” có nghĩa là tất cả.
Thêm vào việc chuyển đổi một phần lực lượng thiết giáp cừ khôi của họ hướng về phía tây tại Cam Lộ, Quân Bắc Việt đói vì chiến thắng và không ngừng nghĩ cũng bắt đầu gởi một số lượng bộ binh đáng kể của và những đơn vị hỗ trợ trang bị nhẹ vượt qua thượng nguồn sông từ Đông Hà tại Cây cầu Đường sắt Xưa thời Pháp. (Cây cầu Đường sắt Xưa thời Pháp nằm ngoài tầm đạn của Hải pháo.) Những lực lượng nầy trở thành một mối đe dọa đe dọa khi anh Bình không thể chuyển đổi bất kỳ đại đội nào trong số những đại đội súng trường của mình hoặc những chiếc xe tăng vẫn kèm theo từ tiểu đoàn xe tăng của Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) xa khỏi nhằm trực tiếp ngăn chận việc vượt qua riêng biệt đó. Anh ta chỉ đơn giản là có quá nhiều lãnh thổ ở Đông Hà không thể bao phủ thích hợp với những nguồn tiếp tế rất hạn chế.
Sự quyến rủ của buổi sáng không kéo dài lâu dài. Mối đe dọa ngày càng tăng từ những lực lượng của Quân Bắc Việt có thể vượt qua con sông tại Cây cầu Xưa thời Pháp, ngay cả mặc dù họ không có sự hỗ trợ của thiết giáp hiện thời với họ, sẽ chẳng bao lâu đòi hỏi anh Bình sắp xếp nhóm lại cho những đại đội súng trường của mình. Những số lượng của đối phương làm choáng người và trong một lúc, ở ngoài tầm tác xạ của Hải pháo. Và kể từ khi hiện thời không có sự hỗ trợ nào của lực lượng Không quân đồng minh diễn ra, Quân Bắc Việt vượt qua nơi đó tùy thích.
Anh Bình truyền tin bằng cả điện đài vô tuyến và người đưa tin với những vị chỉ huy đại đội của mình; kiểm tra tình trạng của họ, bảo đảm rằng họ có đủ đạn dược, muốn chắc chắn rằng họ hiểu được chủ ý của vị chỉ huy của họ. Họ thực sự hiểu được.
Những binh lính đồng minh vẫn đang nhận được sự bổ sung hợp lý trên Xa lộ Một và có thể di tản những bạn đồng ngũ bị thương nghiêm trọng nhất vốn là những người không còn có thể thêm vào giá trị chiến đấu với sự hiện diện của họ khi những chiếc xe tái tiếp viện sẽ quay trở lại hướng nam trống rổng. Khi thời gian và tình hình cho phép, anh Bình và anh Ripley sẽ cuốc bộ đến những tuyến phòng của các đại đội súng trường được đặt để theo chiến lược.

p431

Anh Ripley rất ngạc nhiên bởi tinh thần chiến đấu ngoan cường và không suy giảm mà anh ta nhìn thấy gần như trong mỗi người lính TQLC. Họ cần một ít khuyến khích để làm cái gì họ đang tiếp tục làm. Khi anh ta quan sát điều nầy, anh ta ước muốn rằng anh ta đã có thể dẫn dắt theo vài phóng viên. Thực sự là không có gì quá phức tạp trong chuyện gì đang tiếp tục diễn ra. Những người lính TQLC nầy đang bảo vệ đất nước của họ. John Ripley thích nghĩ rằng nếu được đưa ra cùng một dàn dựng hoàn cảnh, những người Mỹ cũng sẽ phản ứng cách nầy. Cuộc chạm súng và pháo kích và chiến đấu vẫn tiếp vào trong buổi chiều muộn, với những số lượng của Quân Bắc Việt trên bờ nam thượng nguồn của sông Cửa Việt đang gia tăng một cách đều đặn. Ắt sẽ có ít nghĩ ngơi một lần nữa vào chiều tối nầy.
Như là thế đối với những người của Sói Biển ở Đông Hà, do đó, cũng là thế đối với những tiểu đoàn TQLC Việt Nam khác; tất cả dưới cùng một áp lực không ngớt và trong cuộc chạm súng liên tục với một kẻ thù vượt hơn về vật dụng và số lượng khắp chiến trường của vùng phía bắc Quân khu I tranh chấp còn lại.

Trụ sở chính của Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam
Thứ hai ngày 3 tháng Tư năm 1972
Chiều

Chuyến xe từ Trụ sở chính của Bộ Lực lượng Hải quân Việt Nam trở lại phi trường Tân Sơn Nhứt nơi mà Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam được đặt ở đó, thì không đủ thời gian cho anh Gerry suy xét rất nhiều suy nghĩ khác nhau vượt ra ngoài điều gì mà anh ta đã từng suy nghĩ rồi, ngoại trừ một ý nghĩ. Đó là điều rõ ràng bởi điều mà những vị Đô đốc hỏi, cho thấy rằng họ thực sự không có một sự hiểu biết nào về tình hình trên bộ và những quan hệ mật thiết kèm theo. Hoặc có thể, họ có sự hiểu biết đó, nhưng đối với anh Gerry, những mối quan tâm của họ dường như là nhiều chính trị hơn so với việc chiến thắng một trận chiến thực sự. Có lẽ anh ta đã sai trong việc đánh giá đó. Anh ta hy vọng là anh ta sai. Những vấn đề nầy dù sao đi nữa nằm xa bên trên mức lương của anh ta.
Anh Turley cảm thấy kiệt sức. Và anh ta vẫn đang chiến đấu với bệnh tiêu chảy. Tại Bộ Lực lượng Hải quân Việt Nam, anh ta đã có thể làm cho tươi tỉnh hơn bao giờ, một cách rất qua loa nhưng tin rằng ngoại hình của anh ta thì xấu hổ ít hơn tính chất chuyên nghiệp và rằng anh ta có lẽ vẫn còn bốc mùi hôi thúi đến chết người. “Màn trình diễn” chưa xong nầy tại Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam cũng có thể là một hồi kịch cuối cùng duy nhất của toàn bộ sự nghiệp anh ta.

p432

Anh Turley không phải khốn khổ vì những ảo tưởng nào và, trong khi không phải là một người bi quan gì cả theo bản chất, đã không kỳ vọng vào một kết quả tốt từ tình huống nầy vốn đã trở thành một cái gút chính trị Gordias (i.e. ám chỉ việc khó giải quyết) và cũng sẽ trở thành, nếu không cấp bách giải quyết, một thất bại quân sự nghiêm trọng.

(Alexander Vĩ đại đang cắt cái gút Gordias –tên một người nông dân
đánh xe bò vào thủ đô Phrygia và trở thành vua theo lời tiên tri để lại.
Và chiếc xe bò đó được buộc vào một cây cột dâng cho Thần Sabazios,
tức là Thần Zeus của Hy Lạp– vì không thể tìm ra đầu gút để mở. Là
bức tranh nổi tiếng của nhà họa sĩ Pháp Jean-Simon Berthélemy)

(Chân dung nhà họa sĩ lịch sử Jean-Simon Berthélemy (1743–1811))

Pete Hilgartner đang có mặt ở đó để gặp anh Gerry khi anh ta đến Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam. Trước khi họ sắp sửa đi lên tầng trên để gặp những vị chỉ huy cao cấp của Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam và ban tham mưu gần gũi nhất của họ, anh Hilgartner khuyên người bạn của mình: “Tốt hơn hết anh bạn nên đi xuống đến Trung tâm Hoạt động và Chỉ huy (COC = Command and Operations Center)” Không giống như căn hầm trú tương đối lớn nhưng ngột ngạt mà anh Turley đã bỏ lại ở Ái Tử, Trung tâm Hoạt động và Chỉ huy của Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam là một hình ảnh của sức mạnh to lớn về kỹ nghệ-quân sự của Mỹ và sự hiệu quả tổ chức. Trung tâm Hoạt động và Chỉ huy, cùng với việc cư trú của hàng chục sĩ quan trung cấp và cao cấp đang tiến hành công việc, cũng chứa những dụng cụ điện tử tinh xão tuyệt đối mới nhất để theo dấu vết chuyện gì đang xảy ra trong khắp cả nước. Anh Gerry có thể thích hợp với căn hầm trú phía bắc trong một góc nhỏ của căn phòng mà anh ta sắp sửa bước vào. Vừa khi anh ta bước vào trong, anh Turley đã muốn chữi thề khi anh ta nghe nhiều hàng chục nhãn cầu vang tiếng lách cách khi mà tất cả họ tập trung vào anh ta. Anh ta đã muốn chữi thêm nữa khi anh ta nghe hầu hết mọi sĩ quan quân đội, xì xào, nói cái gì đó như là: “Nầy, có thằng đít chó từ trên phía bắc.”
Chuyến đi đến của Trung tá Turley vào trong Trung tâm Hoạt động và Chỉ huy, thật ra, được thông báo bởi một sĩ quan TQLC(pc 03) có mặt ở đó. Căn phòng, bình thường đầy tiếng ồn ào như ong với hoạt động, đột nhiên trở nên yên tĩnh, gần như hồi hộp. Mọi người ở đó, mỗi một người trong số họ, buộc phải tập trung vào anh ta. Không do dự, anh Turley bước về phía trước và bắt đầu nói: “Quý vị, tên của tôi là Trung Tá Gerry Turley. Nhiều người trong số các bạn có thể biết tôi là ai rồi. Bây giờ tôi không chắc chắn chuyện gì sắp xảy ra cho tôi, cho dù tôi sắp vào tù, cho dù tôi sắp được gởi về quê nhà. Tôi không biết. Nhưng các bạn, những người ở đây trong Trung tâm Hoạt động và Chỉ huy cần biết chuyện gì đang xảy ra ngay bây giờ…” Và trong nhiều phút kế tiếp, anh ta nói với họ, rất chi tiết, chỉ là chuyện gì đã từng xảy ra và tình hình hiện nay ra sao. Anh ta không giữ lại điều gì. Mặc dù anh ta không có thể chắc chắn –anh ta rất mệt mỏi, và có thể đã hiểu sai khán giả của mình– anh ta hoàn tất việc trình bày không chính thức của mình với niềm tin rằng anh ta rời khỏi Trung tâm Hoạt động và Chỉ huy Bộ Chỉ huy của Bộ Cố vấn Quân sự cho Việt Nam sau khi đã xua tan phần nhiều đám sương mù chiến trường vốn đã cho đến nay che tối sự xét đoán theo tập thể, có nguyên tắc của Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam về những sự kiện ở vùng phía bắc tỉnh Quảng Trị. Chặn dừng kế tiếp là văn phòng của vị Phó tư lệnh của Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam, Tướng Frederick Weyand.

(Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam ở trung tâm Sài Gòn)

(Toàn cảnh của Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam, theo tên
gọi sau năm 1972, từ khi quân đội Hoa Kỳ rút khỏi cuộc giao chiến,
trước đó nó được gọi là Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự cho Việt Nam,
tuy cùng một chữ viết tắt của tiếng Anh là MACV)

p433

Văn phòng thuộc về Tướng Frederick Weyand, Phó tư lệnh của Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam và một khoảng thời gian ngắn từng đảm nhận quyền chỉ huy Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam, nằm ở trên hai tầng từ Trung tâm Hoạt động và Chỉ huy. Văn phòng của ông ta ở bên kia hành lang từ văn phòng của Tướng Creighton Abrams, vị sĩ quan chỉ huy hiện thời của Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam. Công việc của vị sĩ quan chỉ huy cho Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam là một công việc lớn. Người tiền nhiệm của Tướng Abrams là William C. Westmoreland; một cái tên được biết đến gần như với mọi người Mỹ –và có lẽ với mọi người trên thế giới– vốn là người trong một ít năm qua đã đọc báo, nghe đài phát thanh, hoặc có tiếp cận một loại tin tức truyền hình nào đó. Công việc hàng đầu tại Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam, trong khi không phải là một công việc đơn thuần quan trọng nhất hoặc cao cấp trong quân đội Mỹ, trong khi quốc gia vẫn có những nguồn tài lực đáng kể được đầu tư trong khu vực Đông Nam Á, rõ ràng là một hồ sơ tiểu sử thu hút sự chú ý nhất như mức độ mà công chúng quan tâm.
Anh Turley không cảm thấy ngạc nhiên khi anh ta bước vào văn phòng của Tướng Weyand để tìm thấy nửa tá sĩ quan tướng lãnh khác và không ít hơn số lượng những vị đại tá chính thức đang chờ đợi anh ta. Những trái ngược với bề ngoài cá nhân của riêng anh ta một lần nữa không mất đi trên anh Gerry. Anh ta trong giây lát lắng nghe trở chuyến viếng thăm bí ẩn ở Ái Tử từ những sáu vị đại tá quân đội ở Sài Gòn đó vốn là những người đã đến và đi dưới hoàn cảnh kỳ lạ nhất. Trong khi chỉ một ít ngày trước đó, do tất cả các hoàn cảnh không theo quy ước, điều đó bây giờ dường như vĩnh viễn đã qua. Chỉ giống như những sáu bóng ma trước đó, nhóm nầy, cái vòng tròn quyền lực bên trong nầy của Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam hiện thời đang vây quanh anh ta và đang chờ đợi cho cuộc họp báo cáo ngắn nầy, đã xuất hiện như là một sự hiện hình thoát ra từ cùng một khuôn mẫu Westmoreland: những người cao, gầy, và biệt lệ với cái nhìn có nét chiến binh, trung niên, tóc hớt ngắn đối với họ. Đây sẽ là một cuộc họp báo cáo khác biệt hơn cuộc báo cáo mà anh ta vừa mới đưa ra cho tất cả những người chuyên về những hoạt động trong Trung tâm Hoạt động và Chỉ huy to lớn ở tầng dưới.

(Tướng Frederick Carlton Weyand viếng thăm mộ chiến sĩ trong Nghĩa
trang Quân Đội, Biên Hòa, với Trung tướng Nguyễn Văn Toàn –vị Tư
lệnh Quân khu III– đứng phía sau. Ông Carlton rời khỏi chức vụ Tổng
tư lệnh của Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam trong một thời
gian ngắn ngủi vào ngày 4/04/1975 theo lệnh Tổng thống Nixon)

(Tướng Creighton Williams Abrams Jr. cũng từng viếng thăm mộ lính
VNCH trong Nghĩa trang Quốc gia, Long Bình, Biên Hòa vào năm
1971. Ông ta thay thế Tướng Westmoreland vào năm 1972 và rời khỏi
chức vụ Tổng tư lệnh của Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự vào năm 1974)

(Tướng William Childs Westmoreland, vị Tổng tư lệnh MACV đầu tiên,
lúc bấy giờ được gọi là Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự cho Việt Nam, đang
bàn bạc với Thiếu tướng William E. DePuy, vào năm 1966. Ông
Westmoreland rời khỏi chức vụ nầy vào năm 1972)

Gerry Turley nhìn thoáng qua những khuôn mặt của những người đàn ông vốn vây quanh anh ta. Ngoại trừ Pete Hilgartner, không có người nào vốn là người đã có thể được gọi là bạn bè, và trừ ra Hilgartner, anh ta chắc chắn rằng ngay cả những “người phục vụ cà phê” theo quy định ở đó có chức vụ cao đối với anh ta. Anh Turley bắt đầu với việc trình bày gần như với sự chiếu lệ, khi mà anh ta đã đưa điều đó ra hai lần rồi trước các vị Đô đốc và một lần trước nhóm nhân viên ở Trung tâm Hoạt động và Chỉ huy thuộc Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam. Sửa đổi nó một chút cho các vị khán giả nặng ký hơn, ở mức cao hơn, anh ta bắt đầu ngay từ đầu.

p434

Thông thường câu chuyện bắt đầu đầy đủ, với việc giải thích của anh Turley về lý do cho chuyến đi của anh ta lên phía bắc, và một khối những trường hợp kỳ lạ mà qua đó đã đặt anh ta trong hầm trú ở Ái Tử khi cuộc tấn công mới của kẻ thù bắt đầu. Khán giả của anh ta, lạnh lùng đối với anh ta lúc đầu theo cách diễn ta tốt nhất và có lẽ làm mọi nỗ lực để hiểu rõ anh ta hơn, bắt đầu cho thấy sự khó chịu rõ ràng một khi anh Turley thảo luận về việc anh ta đã bị thúc đẩy như thế nào, theo đúng nghĩa đen là phải nhập ngũ, vào trong việc phục vụ như là người nắm quyền những hoạt động ở hầm trú của Đội 155 bởi vị Đại tá cao cấp của Quân đội Hoa Kỳ đang cố vấn cho Tướng Giai. Ngôn ngữ qua cử chỉ của khán giả của anh ta cùng với những lời xầm xì và lầm bầm kín tiếng nói với anh ta rằng các vấn đề tranh cãi và đổ lỗi và những trách nhiệm cho những thứ không ai muốn chịu trách nhiệm đang trồi lên bề mặt. Khi anh Turley, rất chi tiết, bắt đầu mô tả một cách rất rõ rệt về việc anh ta đã được giao quyền hạn như thế nào, một trong các vị tướng vốn là người không tin anh ta, đã thách thức: “Nầy, khoan đã…” Rõ ràng là vào lúc đó, anh Gerry đưa tay vào trong túi mình và lôi ra một mẩu giấy nhỏ với số An ninh Xã hội của vị Đại tá quân đội cùng với thời gian mà sự kiện diễn ra. Một bằng chứng không cần bàn cãi.
Trước khi anh Gerry có thể tiếp tục, một trong những người trông-giống-như Tướng Westmoreland bước đến trước mặt anh ta, chỉ vào mảnh giấy và nói:
“Hãy để tôi giữ cái đó.”
Anh Turley cảm thấy mệt mỏi nhưng anh ta không dễ bị đe dọa. Lời đáp lại thẳng thừng, cương quyết của anh ta là “Không.” Căn phòng im lặng cho đến khi một vị đại tá khác nào đó cũng đòi hỏi mảnh giấy. Anh Turley từ chối lần thứ hai. “Tôi chỉ muốn sao nó lại.” “Không.” Thêm một sự im lặng. Một sự im lặng vụng về, đau đớn.
Chính là Pete Hilgartner, người bạn đối với anh Turley và là thành viên của ban tham mưu cho những hoạt động thuộc Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam được biết đến đối với tất cả những người khác trong phòng, vốn là người bước vào trong sự vi phạm như là một người trọng tài. “Hãy để tôi giữ nó, Gerry. Tôi sẽ làm một bản sao và trả nó lại cho anh bạn.”
“Được thôi, Pete…”
Và sự việc là thế. Trung tá Hilgartner lấy mảnh giấy từ người bạn của mình và rời khỏi phòng để làm công việc sao in nó. Trong lúc anh ta đi khỏi, một sự im lặng kỳ quái tiếp tục chỉ với cuộc nói chuyện ngắn, vụn vặt. Anh Turley không nói gì.

p435

Khi Pete Hilgartner trở lại, anh ta trao tờ giấy cho anh Gerry vốn là người đặt nó trở lại trong túi quần của mình. Mảnh giấy sao được chuyền tay xung quanh cho tất cả mọi người xem. Bất ngờ có một bằng chứng, một bằng chứng không thể phủ nhận, là anh Turley không phải là người điên mà họ đã muốn tin rằng anh ta là thế. Có lẽ, thực sự là thế giới đang đi đến sự tan rã ở Bắc Quân khu I.
Anh Gerry sau đó tiếp tục với cuộc họp báo cáo của mình. Anh ta tiếp tục mô tả cuộc gọi mà anh ta nhận được từ một vị tướng cho phép thẩm quyền để hướng dẫn sức mạnh Không quân, việc đầu hàng đáng xấu hổ của Doanh trại Carroll, việc phá hủy cây cầu Đông Hà một cách anh hùng của John Ripley, tính chất rất quan trọng của sự hỗ Hải pháo cho những đơn vị bạn gần bờ biển nhất, và mọi thứ; mọi thứ được thêm vào cho đến lúc anh ta rời khỏi hầm trú ở Ai Tử đến cuộc họp nầy.
Khi cuộc báo cáo được kết thúc, những vị Phó Đô đốc rút về văn phòng bên trong của Tướng Weyand cho cuộc thảo luận, trong khi những người còn lại chờ đợi ở văn phòng bên ngoài hoặc tiếp tục với công việc khác. Khi các vị sĩ quan cao cấp kết thút, một người trong số họ bước ra nói chuyện với anh Turley. Cám ơn anh ta ngắn gọn cho nổ lực bỏ vào của anh ta, vị Tướng hỏi anh ta xem anh ta muốn làm gì. “Họ cần tôi ở trên phía bắc, thưa ngài. Tôi muốn trở lại nhiệm vụ của tôi.”
“Tốt, Đại tá. Có một chiếc máy bay rời khỏi lúc 1800 giờ.” Có đủ thời gian cho Hạ sĩ Châu lái xe đưa anh Gerry trở lại căn phòng của mình trong doanh trại ở Sài Gòn, đi tắm rửa kỹ lưỡng, cạo râu, và khoác vào một bộ đồng phục mới tinh, sạch sẽ trước khi bay ra ngoài đó.
Vừa khi Trung tá Turley đang thu dọn ba lô và vũ khí của mình để rời khỏi, đích thân Tướng Weyand xuất hiện từ văn phòng bên trong. Trong suốt tiến trình của cuộc họp báo cáo mà những phút qua anh ta đã giãi bày, anh Gerry đã được chiếm lấy bởi tính chất chuyên nghiệp và bản chất không bị gò bó, bị lôi cuốn vào cuộc tranh luận về những lời phê bình và câu hỏi của Tướng Weyand. Gọi anh ta bằng tên, Tướng Weyand chìa tay ra để bắt tay anh ta, thành thật cảm ơn anh ta cho sự phục vụ không vị kỷ của anh ta và cho việc hoàn thành tất cả những gì mà anh ta đã làm dưới những hoàn cảnh kinh khủng như vậy. Mặc dù anh ta gần như hoàn toàn kiệt sức, anh Turley vô cùng xúc động bởi hành động cao thượng bất ngờ của vị Tướng.

p436

Cuối cùng là những Sự mở rộng của Cuộc tấn công và Cuộc phòng thủ Cũng thế…:

Hạ sĩ Châu có thể đưa người hành khách của mình ghé qua căn phòng của anh ta trong doanh trại ở Sài Gòn cho việc quan trọng đó là cạo râu và tắm rửa, thay bộ đồng phục tươi tất và sau đó đưa ra đến phi trường Tân Sơn Nhứt đúng giờ cho chuyến bay mà qua đó sẽ mang anh ta xa về phía bắc đến như thành phố Đà Nẵng vào buổi chiều tối. Anh Gerry thậm chí đã có một chút thời gian để gọi điện cho người vợ Bunny và những đứa nhỏ, để nói cho họ biết rằng anh ta yêu thương họ và rằng anh ta vẫn khoẻ, và để biết rằng cô ta và những đứa nhỏ tất cả đều bình yên, và đúng là tất cả họ cũng đều yêu thương anh ta. Ở Đà Nẵng, anh Gerry gặp phải một số ít người của quân đội trong Trung tâm Hoạt động và Chỉ huy ở đó vốn là những người đã từng là một phần của “Nhóm Turley là một Câu lạc bộ Người Điên” từ những ngày trước đó. Trong khi đó là điều cảm thấy khó chịu, hóa ra không phải là vấn đề quan trọng. Bị mắc kẹt ở Đà Nẵng trong buổi chiều tối, anh Gerry thực sự có thể có được một giấc ngủ qua đêm vừa phải trong một cái giường thực sự. Anh ta hy vọng bằng cách nào đó đón xe về phía bắc vào sáng hôm sau.
Cuộc chiến đấu ở vùng phía bắc Quân khu I tiếp tục từ thứ Hai trở đi đến thứ Ba không chút dịu lại. Hải pháo vẫn còn chỉa nòng trên ụ đang bắn ra theo những sứ mệnh mà những con tàu có thể làm trong khi sức mạnh Không quân tiếp tục bị hạn chế trong toàn phạm vi lựa chọn của nó bởi vòng đai không-được-bắn xung quanh chiếc phi cơ lâm nạn Bat 21. Những người ở Sài Gòn tiếp tục việc theo dõi có tập trung, thông tin hơn về cuộc giao chiến ở tỉnh Quảng Trị. Những lực lượng của Việt Nam Cộng hòa tham gia vào việc bảo vệ khu vực, bây giờ hầu hết chỉ là các tiểu đoàn TQLC Việt Nam vẫn đang chiếm đóng vùng đất quan trọng, chỉ nhả vùng đất ra một cách miễn cưỡng.
Nếu đối phương đã và đang mong đợi những người dân địa phương nổi lên và hỗ trợ cuộc tấn công của họ, điều đó chưa xảy ra. Thật ra, có một số ít dân địa phương vẫn còn lại ở vùng phía bắc tỉnh Quảng Trị thế thôi. Tất cả họ đang di chuyển về hướng nam; xa khỏi cuộc pháo kích không ngừng, bừa bãi của Quân Bắc Việt. Thêm vào đó, cơ sở hạ tầng địa phương của Việt Cộng đã chưa tái thiết lại chính mình. Điều nầy thực sự là một vấn đề khó khăn cho Quân Bắc Việt trên khắp đất nước. Những lực lượng Cộng sản địa phương đã bị triệt hạ rất nhiều trong suốt cuộc Tổng tấn công dịp Tết ’68 và các hoạt động theo sau là cuộc Tổng tấn công Nguyễn Huệ đang hình thành một cách hoàn toàn như là một cuộc xâm lược từ bên ngoài.1
Cuộc tổng tấn công của Quân Bắc Việt mà tình báo đồng minh đã báo động, ở những nơi khác hơn tỉnh Quảng Trị, cuối cùng được khởi đầu vào sáng thứ Tư ngày 5 tháng Tư năm 1972. Di chuyển ra khỏi vùng phía đông Cam-pu-chia, cách khoảng 100 km về hướng tây bắc Sài Gòn, những cuộc đẩy mạnh lúc ban đầu cắt ngang Quốc lộ 13 giữa An Lộc và thủ đô. Cuộc công kích về hướng An Lộc, nếu thành công, sẽ đặt áp lực gần, trực tiếp trên Sài Gòn và gây ra sự hoảng sợ rộng lớn hơn so với các cuộc tấn công phía trên gần Khu phi Quân sự.

p437

Chiến dịch hiện thời của không quân vốn bị cản trở theo địa phương bởi thời tiết xấu và những vấn đề nhắm mục tiêu với sự hiện diện của chiếc phi cơ lâm nạn Bat 21 gần Cam Lộ chẳng bao lâu sẽ mở rộng đến những mức chưa từng thấy trước đây trong suốt toàn bộ phần chiến tranh của Mỹ. Phần lớn như nhiều công dân được cung cấp tin tức yếu kém bên ngoài vùng châu Á đã có thể được dẫn dắt để tin rằng những nông dân bình thường kém may mắn, bất lực, yêu chuộng hòa bình của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNCDCH) (Bắc Việt) là những nạn nhân vốn là những người đã dũng cảm chịu đựng sự trừng phạt tàn nhẫn và dã man được phân phát ra bởi Lực lượng Không quân Hoa Kỳ và những chiếc máy bay dội bom của Hải quân trong năm nầy đến năm khác, không phải là trường hợp như thế.
Những chiến dịch dội bom được thực hiện trước đó trong chiến tranh đã là sản phẩm của tư duy chiến lược sai lầm và ngây thơ. Bị ảnh hưởng bởi việc tham gia bất ngờ của khối đông Trung Quốc vào trong cuộc Chiến tranh Hàn Quốc vào tháng Mười năm 1950, các nhà hoạch định của Tổng thống Johnson làm việc để bảo đảm rằng sẽ không có những vùng đất hoặc sự khiêu khích nào cho sự lặp lại kinh nghiệm đó bằng cách hạn chế và giới hạn một cách nghiêm ngặt những mục tiêu mà những lực lượng Mỹ có thể không kích vào nước VNDCCH.
Trong khi những chiếc B-52 được nhìn thấy bởi những người phản đối nỗ lực của Mỹ trong khu vực Đông Nam Á như là một biểu tượng gây tương phản của sự đàn áp bằng kỹ nghệ–quân sự chống lại những lực lượng giải phóng được giác ngộ, chúng chưa được sử dụng bao giờ chống lại các mục tiêu ở trong và xung quanh Hà Nội và Hải Phòng. Tất cả các cuộc dội bom trước đó đã được thực hiện bởi máy bay tấn công theo chiến thuật chẳng hạn như là chiếc phản lực F-105 của Lực lượng Không quân, được biết đến như là âm thanh “Ầm,” máy bay của Hải quân có căn cứ trên hàng không mẫu hạm, và máy bay nào đó của Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ hiện đang có. Với những quy tắc tự đặt để về việc tham gia mà qua đó rất hạn chế và phản trực giác như là vào những lần gần như tự sát, chính là sự minh chứng tuyệt vời cho tính chất chuyên nghiệp của những nhóm phi hành đoàn vốn là những người đã bay những sứ mệnh mà không có một nỗ lực nào đó hướng đến sự nổi loạn hoặc những sự từ chối của số đông tiến hành những mệnh lệnh của họ. Những mục tiêu vốn trực tiếp gây đe dọa những nhóm phi hành đoàn thường bị hạn chế vì khoảng cách gần của dân số thường dân hoặc điều được tin tưởng bởi những nhà quản lý chiến tranh của ông Johnson là việc nhắm mục tiêu như thế bằng cách nào đó có thể gởi đi một thông điệp quá khích động cho những người Sô-Viết hay Trung Hoa. Trong một giai đoạn thời gian dài, những lực lượng Hoa Kỳ không thể trực tiếp không kích các phi trường của đối phương hoặc bắn hạ các chiếc phi cơ chiến đấu của đối phương khi chúng đáp xuống hoặc cất cánh.

p438

Những người Cộng sản đã khôn ngoan trong sự từ chối của họ để đáp lại ý thức hào hiệp ngu xuẩn của người Mỹ. Họ chỉ quan tâm đến sự chiến thắng. Những phi hành đoàn Mỹ trả một giá nặng nề không cần thiết trong việc theo những mệnh lệnh nầy, mệnh lệnh khác mà qua đó mạo hiểm mạng sống mình cho cái đạt được ít oi.
Hoa Kỳ đã đơn phương ngưng việc dội bom miền Bắc Việt Nam nằm phía trên Vĩ tuyến 20 vào tháng Mười Một năm 1968 như là một giải pháp thiện chí hướng tới cái gì mà Hoa Kỳ nghĩ là một tiến trình hòa bình khả thi. Những người cộng sản khôn ngoan sử dụng việc chấm dứt những hoạt động trên không để xây dựng lại những nơi phòng thủ của họ với vũ khí mới nhất trong kỹ thuật phi đạn chống máy bay của Sô-Viết và cũng có thể chuyển hướng lại những tài sản gần những chiến trường trên miền Nam Việt Nam hơn. Những người cộng sản chỉ thích thú trong việc chiến thắng.
Việc gây phức tạp thêm những vấn đề về sự phản ứng trả đũa ào ạt với sức mạnh Không quân theo chiến lược và chiến thuật của Mỹ là việc ngoại giao đang phát triển một cách tế nhị mà Tổng thống Nixon đang tiếp tục làm việc với những người Nga và Trung Quốc. May mắn cho những người Việt và Mỹ đang trên bộ, ông Nixon thúc đẩy về phía trước bằng các cuộc không kích.
Vào ngày 6 tháng Tư năm 1972, Hoa Kỳ khởi đầu Chiến dịch Freedom Trail (i.e. Giải thoát Đường mòn) mà qua đó trở thành một nỗ lực dội bom kéo dài lần đầu tiên trên vùng phía bắc của Khu phi Quân kể từ tháng Mười Một năm 1968.2 Những phi vụ được tập trung vào các mục tiêu chủ yếu là vùng phía nam Vĩ tuyến 20, trong khi một số ít đánh vào phía bắc xa hơn. Chiến dịch Freedom Trail sẽ tiếp tục vào trong đầu tháng Năm được thay thế bằng Chiến dịch Linebacker mà qua đó gởi đi những lực lượng Mỹ đến vùng phía bắc Vĩ tuyến 20 một số đông và nhìn thấy, lần đầu tiên trong chiến tranh, việc sử dụng những chiếc B-52 chống lại các mục tiêu chiến lược ở các khu vực Hà Nội và Hải Phòng. Những hạn chế nhắm mục tiêu trước đó sẽ được giảm đi một cách đáng kể mặc dù việc tránh những mục tiêu dân sự rõ ràng chẳng hạn như là những trường học, bệnh viện, v.v. vẫn còn trong hiệu lực. Như là một phần của Chiến dịch Linebacker, máy bay của Hải quân Hoa Kỳ sẽ thả mìn xuống những lối vào bến cảng cho mỗi một cảng của Quân Bắc Việt. Xa hơn vào nội địa, những cây cầu và những chỗ kết nối đường sắt với Trung Quốc cũng được nhắm mục tiêu cho sự phá huỷ. Ngay cả với các lực lượng Mỹ đang đối mặt với những chỗ phòng thủ chống máy bay tinh vi nhất trên thế giới, sự ra đời của những vũ khí chính xác thế hệ thứ nhất và thứ hai cho phép sự phá huỷ mục tiêu lớn hơn trong khi giảm thiểu sự thiệt hại phụ cho những thường dân vốn là những người, trong những câu chuyện tuyên truyền của Cộng sản, luôn luôn có vẻ đang sống bên cạnh sự bất cứ những mục tiêu quân sự gì mà những người Mỹ đánh bom vào.3

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ “bởi các lực lượng đồng minh” : tác giả ám chỉ những lực lượng đồng mình là những binh chủng của QĐVNCH vì trong giai đoạn nầy tất cả lực lượng chiến đấu trên bộ của Hoa Kỳ đã rút lui từ lâu, chỉ còn một số rất ít phi công phản lực và lực lượng phi công trực thăng với nhiệm vụ chính là bảo vệ và yễm trợ tối đa cho những vị cố vấn Mỹ trong mặt trận. Và những phi vụ trực thăng lao vào chiến trường không phải nhằm mục đích tiêu diệt đối phương mà chỉ là muốn bốc đi những vị cố vấn Mỹ và người chỉ huy trưởng của QĐVNCH bằng bất cứ giá nào, dù phải hạ gục bất kỳ quân nhân VNCH nào muốn cản trở nhiệm vụ của họ. Mặc dù số lượng của những chiếc máy bay vận chuyển C-130 (Lockheed C-130 Hercules) và máy bay sâu rợm khổng lồ CH-47 (Boeing CH-47 Chihook) còn đó ở miền Nam, nhưng bất khả thi trong việc bốc quân ra khỏi chiến trường dưới hỏa lực và những phi đạn mới nhất của Quân Bắc Việt.
Điều mà những lực lượng của QĐVNCH mong chờ sự hỗ trợ chính là những tiếng súng Hải quân. Đó là sức mạnh hỏa lực duy nhất đối kháng với những phi đạn của Quân Bắc Việt. Hỏa lực từ những chiếc trực thăng chiến đấu dần dần gần như biến mất và là mong đợi khó thể có từ lực lượng trực thăng của Hoa Kỳ, trừ khi những chiếc trực thăng chiến đấu đó được sử dụng trong nhiệm vụ bảo vệ cho chiếc trực thăng vận chuyển Huey vào bốc đi các vị cố vấn Mỹ.
Tuy nhiên, sức mạnh duy nhất là Hải pháo đó cũng dần dần biến mất. Những chiến sĩ của VNCH không những chiến đấu bằng những vũ khí thiếu hiện đại hóa –kém cỏi về khả năng tầm xa, sức mạnh phá hủy, và ngay cả sự cồng kềnh, nặng nề của vũ khí vốn đòi hỏi sự vận chuyển tốn kém và thích ứng– mà còn chiến đấu với sự tiết kiệm số đạn được tồn kho, ngay cả những quân dụng khác hoặc thuốc men điều trị, để chống lại một lực lượng luôn có dư thừa vũ khí –những phi đạn cá nhân đủ loại, bao gồm loại chống máy bay, những loại xe tăng đời mới, chưa kể đến những xe thiết giáp và xe lội nước khác. Nếu so ra, Quân Bắc Việt hầu như không thiếu loại vũ khí nào mà miền Nam Việt Nam có được; và phải nhìn nhận rằng những vũ khí của họ vượt xa những thứ của QĐVNCH do Hoa Kỳ cung cấp từ những kho vũ khí tồn chứa của thời Thế Chiến thứ II và từ sự gôm góp lại những vũ khí Hoa Kỳ từ các nước Tây phương không cần dùng đến nữa –vì quá lỗi thời. Cái mà họ không có là những chiếc trực thăng nhưng chúng đã dần dần trở nên vô hiệu hóa bởi những phi đạn cá nhân mới nhất của Liên Xô và tiếng súng Hải quân.

pc 02_ tiểu đoàn : tối đa là khoảng 1.300 người. Có thể xem như tiểu đoàn của anh Bình bị mất đi khoảng 600 người, chỉ còn lại con số 700 nhưng phải đối chiến với con số 20.000 cán binh Bắc Việt –nhiều hơn gấp 28 lần, khoảng 1 sư đoàn và 1 lữ đoàn kết hợp nhau (với 5.000 người là mức tối đa cho một lữ đoàn).

pc 03_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.

One thought on “Phần 31: Anh Turley Đối mặt với Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s