Phần 30: Một con Bò mộng Đơn độc

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

(trang bỏ trống)
p413

Phần 30: Một con Bò mộng Đơn độc

Đi đến Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam
Chiều sớm thứ Hai, ngày 3 tháng Tư năm 1972

Gerry Turley được lay động đánh thức một cách tôn trọng bởi vị phi đoàn trưởng của chiếc máy bay vận chuyển khổng lồ C-130 khi anh ta được nằm dài ra trên băng ghế là một thanh chống đỡ có cấu hình lỏng lẻo của phần bên trong khoang của máy bay chỉ y như con chim đến chỗ dừng lại tại phi trường Tân Sơn Nhứt. Một dòng những chiếc C-130 dường như vô tận đang quay vòng theo chu kỳ qua Sài Gòn khi chúng trở lại trống rổng để đổ thêm nhiên liệu và nhận lấy những hàng mới là những binh lính TQLC (Thủy quân Lục chiến) Việt Nam và Biệt động của Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) đến Phú Bài. Anh Turley chắc chắn một cách hợp lý rằng Đại úy Ray Smith sẽ không ganh tị tức tối về việc uống hớp rượu cognac của anh ta mà anh ta không thể chuyển giao cho anh ấy. Một giấc ngủ ngắn 2 tiếng đồng hồ, nhờ rượu gây ra là một giấc ngủ thực sự lần đầu tiên, không bị gián đoạn mà anh ta đã có trong hơn bốn ngày qua.

(Một trong những chiếc máy bay vận chuyển C-130 đang bốc
những chiến sĩ VNCH ra chiến trường)

Trong khi đang trên không và trên đường đến phi trường Tân Sơn Nhứt, nhóm phi hành đoàn của chiếc C-130 đã gọi điện trước rằng anh Turley đang trên máy bay. Khi vừa hạ cánh, anh Gerry trước tiên tiến về phía trung tâm điện thoại trong trạm quân đội và gọi qua đến Đơn vị Cố vấn TQLC (MAU = Marine Advisory Unit). Nói chuyện với một quân nhân TQLC Mỹ, vị sĩ quan hành chánh non nớt ở đó vốn là người báo lại cho anh ta về tình hình địa phương, đây là lần đầu tiên mà anh Gerry có được nhận thức về một loạt những văn thư –chính thức được gọi là “Những văn thư Hải quân”– mà qua đó anh ta đã bị cáo buộc là tác giả. Những bức công văn nầy, thật ra, được bộc lộ ra ngoài những con tàu có Hải pháo ở ngoài khơi trong suốt khoảng thời gian bối rối tối đa trong trận chiến, và được gởi đến trụ sở Hải quân cao hơn cũng như Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam. Thông tin được chia sẻ với anh ta bởi vị sĩ quan hành chánh, được chuyển đi với rất nhiều tâm trạng phấn khởi và bồn chồn lo lắng, đã đánh mạnh vào anh ta. Và thậm chí anh ta đã không biết về tất cả các văn thư.

p414

Anh Turley lúc bấy giờ bắt đầu hiểu lý do tại sao anh ta bị đối xử kỳ lạ bởi mọi người trong chuỗi chỉ huy của quân đội xa khỏi vùng phía bắc tỉnh Quảng Trị như thể anh ta có Bệnh dịch Đen.(pc 01) Không chỉ là những văn thư chứa đầy lỗi, sai lạc, được thổi phồng lên và gây ra tranh cãi, chúng dường như bị cưỡng chiếm và cắt xén –và vì vậy làm ngượng– Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam. Điều đó được xem là một trọng tội.

(Bến cảng của thành phố Messina thuộc hải đảo Sicily ở cực nam nước Ý,
là nơi phát sinh Bệnh dịch Đen vào năm 1347 do 12 con tàu của thành phố
cảng Genoa dừng chân ở đó sau cuộc hành trình dài qua Biển Đen)

(Bệnh dịch Đen trên con người trong giai đoạn 2, đến giai đoạn
cuối là cả bàn tay biến thành màu đen, những mục nhọt bưng
mủ và máu khắp người vốn cũng biến thành đen)

(Sự lan rộng khắp Châu Âu của Bệnh dịch Đen mạnh nhất là vào năm 1347
và 1348 đã giết hại khoảng 20 triệu người trong nhiều quốc gia khác nhau)

(Rận chuột Á Đông là hung thủ mang mầm Bệnh dịch Đen từ
chuột chết lây sang con người sau khi hút đầy máu trong mình
nó và chính nó cũng là nạn vật cho chứng bệnh đó)

Sau khi gọi Đơn vị Cố vấn TQLC, kế đến, anh Gerry gọi điện cho Trung tá Pete Hilgartner, một sĩ quan Hải quân vốn là một phần của ban tham mưu hoạt động kết hợp (có nghĩa là cấu thành gồm những người đàn ông từ các dịch vụ quân sự khác nhau) tại Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam. Anh Gerry và anh Pete là những người bạn lâu năm và đã từng cùng nhau phục vụ như là những vị chỉ huy đại đội trên đảo Okinawa ngược thời gian vào năm 1959.
Trong phong cách cứng rắn, theo đúng lề lối, và cách biệt mà qua đó anh Pete nói chuyện với người bạn hơi dưới cấp của mình là đòn thứ hai nện vào sau sự kiện sửng sốt từ vị sĩ quan hành chánh trong những khoảnh khắc trước đó. Sự việc gần như la mắng nầy từ người bạn đồng hướng của mình thì khó hơn rất nhiều để gạt đỡ hoặc chịu đựng. Không có những sự đùa cợt nào, không gợi lên cảm tính nào đối với những vấn đề trước mắt, không có chuyện tán gẫu về vợ con. Pete Hilgartner trực tiếp và đi thẳng vào vấn đề, đi ngay vào trọng tâm của vấn đề. Anh ta chất vấn anh Gerry về điều gì mà mọi người ở Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam đã và đang đề cập đến như là vấn đề liên lạc “Đưa vào Lực lượng Đỗ bộ,” mà anh ta đọc cho anh Gerry qua điện thoại.
Anh Turley tràn ngập với sự ngờ vực. Làm thế nào anh ta đã có thể biết đến bất cứ điều gì về những chuyện nầy ? Bởi vì anh ta đã không phát tán bất kỳ văn thư nào trong những cái mà anh ta không biết gì cả, cho đến một ít khoảnh khắc sau cùng nầy, ít ra đó là điều “không biết gì thì tốt hơn,” giống như việc đang mang loại bệnh ung thư nào đó mà anh ta chưa biết là mình có. Anh ta khó lòng có thể tin vào điều gì mà anh ta đang nghe. Anh Hilgartner tiếp tục. Có những văn thư khác mà qua đó, nếu đúng sự thật, không khác gì chỉ trích, không khác gì tranh cãi. Giống như một công tố viên lên án có phương pháp, Trung tá Hilgartner, bắt đầu với văn thư “Đưa vào Lực lượng Đỗ bộ,” đọc to lên bức văn thư Hải quân nầy đến bức văn thư khác. Nếu mấy thứ nầy có thể được chứng minh là chính xác, Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam sẽ kết án anh Turley cho tội phạm như là chưa được xác định nào đó và anh ta vĩnh viễn phải chuyển nhiệm đến một nơi nào đó ngay bên nầy của vị thần Địa ngục Hades.

(Vị thần Địa ngục Hades của cỗ Hy lạp, thường có hình
ảnh của con chó ngao 3 đầu Cerberus bên cạnh)

Sau một khoảng một lúc lắng nghe những điều mà anh ta tìm thấy cho đến nay nằm ngoài của bất cứ điều gì mà anh ta có thể đã từng dự định rằng không cần biết tình hình trên bộ ở tỉnh Quảng Trị nghiêm trọng đến như thế nào, anh Gerry tìm thấy một lối thoát.

p415

Một trong những văn thư mà anh ta đã bị cáo buộc là tác giả, đã xác nhận là Quân Bắc Việt, với những chiếc xe tăng, đang nắm quyền kiểm soát phi trường ở tỉnh Quảng Trị, vốn cách nhiều cây số đến thẳng vùng phía nam của Đông Hà trên Xa lộ Một. Anh ta có thể chỉ ra rằng với việc cây cầu ở Đông Hà bị phá hủy, đó đã là điều không thể nào trên thực tiển cho Quân Bắc Việt có những lực lượng thiết giáp ở đó một cách nhanh chóng như thế. Anh ta đã sẽ không bao giờ gởi đi một văn thư vô lý hoặc không chính xác như thế. Anh Hilgartner miễn cưỡng thừa nhận điểm đó. Anh ta bắt đầu thay đổi ý định, nhưng không nhiều. Một cú gọi điện thoại kết thúc với sự góp ý mạnh mẽ là anh Turley nên đi thẳng đến Bộ Lực lượng Hải quân Việt Nam (NavForV = Navy Force Vietnam) để gặp gỡ với vị Đô đốc trước khi đi đến Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam. Điều đó có vẻ thân thiện như sự chào mừng đến Sài Gòn tựa như những người Đức “chào đón” các đồng minh khi họ xông lên bờ biển tại thị trấn Normandy của Pháp.

(Bộ Lực lượng Hải quân Hoa Kỳ ở Việt Nam, Sài Gòn)

(Huy hiệu của Bộ Lực lượng Hải quân Hoa Kỳ)

Anh Gerry được gặp thấy ở bên ngoài trạm quân đội bởi Hạ sĩ Châu, người Hạ sĩ nhất vui vẻ thuộc TQLC Việt Nam được giao cho nhiệm vụ như là tài xế trước khi chuyến đi về phía bắc của anh ta. Anh ta vẫn còn đang choáng váng chóng mặt từ sự chấn động của những tiết lộ trước đó. Tất cả điều đó quá quái dị, gần như siêu thực.
Cùng một lúc, anh Gerry đang cố gắng hết mình để suy ngẫm lại một cách sáng suốt về điều gì mà anh ta vừa mới nghe, những sự tương phản hoàn toàn giữa Sài Gòn và Bắc Quân khu I, cùng với sự khác biệt giữa hình dáng bề ngoài cá nhân của anh ta và của mọi người khác, được tạo nên rõ ràng đối với anh ta từ trước khi chiếc xe jeep của anh ta được hợp thức qua cổng tại phi trường Tân Sơn Nhứt.
Điều quan trọng đối với anh Gerry là anh ta duy trì sự ý thức của việc khẩn cấp mà anh ta đã rời khỏi Phú Bài với nó (Những tiết lộ từ vị sĩ quan hành chánh tại Đơn vị Cố vấn TQLC và kế đó là từ Pete Hilgartner, bảo đảm là anh Turley sẽ cảm thấy bất cứ điều gì ngoại trừ thanh thản và yên lòng trong tương lai gần) và không bị quyến rủ vào trong sự tự mãn và cảm giác đích thực yên lành tốt đẹp mà anh ta quan sát thấy ở mọi nơi trên những đại lộ Sài Gòn. Nhịp độ bình thường của kinh doanh và thương mại không để lộ ra một dấu hiệu nào cho thấy rằng có một cuộc chiến đang ở bất cứ nơi nào gần đây. Anh ta tự nhắc nhở chính mình rằng, khi anh ta đang trên xe đến điểm cần đến đầu tiên của mình, Trụ sở Lực lượng Hải quân Việt Nam, khoảng cách 483 cây số xa khỏi Quân Bắc Việt tương tự như đang lái xe về hướng nam và đông tại mỗi điểm quan trọng trên khắp vùng phía bắc Quân khu I. Kẻ thù hiện thời đang bị làm chậm lại chỉ là nhờ những nỗ lực của một số lượng ít ỏi của những binh lính TQLC(pc 02) Việt Nam và những binh lính của QĐVNCH(pc 03) thậm chí còn ít hơn. Không có ai với thẩm quyền ở Sài Gòn dường như thực sự hiểu được hoặc nắm bắt được là tình hình trên bộ hiện nay ở tỉnh Quảng Trị thực sự quan trọng đến như thế nào.

p416

Nhà của gia đình Ripley
Thị trấn Blacksburg, tiểu bang Virginia
Lúc 0100 giờ theo giờ vùng hướng đông, ngày 3 tháng Ba năm 1972 (12 tiếng đi sau giờ Việt Nam)

Moline Ripley đã trải qua một ngày lễ Phục sinh tốt đẹp như cô ta đã có thể mang ngày tốt đẹp đó cho người chồng của mình ở cách xa nửa thế giới đang làm cái gì mà chỉ có Trời mới biết được. Những đứa con đã ngoạm hết phần chia bánh kẹo của chúng và tham gia vào những cuộc săn lùng “trứng thỏ” ở những ngôi nhà ông bà của cả hai phía dòng tộc. Đối với những ngày nghĩ lễ của cô Moline theo luật định là sự thách thức khó khăn riêng biệt. Phần nhiều như ông Bud và bà Verna Ripley ham thích trong việc có những đứa con và cháu có mặt đông đủ, một sự kết hợp gồm cái chết gần đây của đứa con trai tên Mike, việc phục vụ của anh George trên hải đảo Okinawa bên Nhật, và việc ở Việt Nam của anh John –có lẽ đang hoàn toàn bị lôi cuốn vào một cuộc chiến tranh nào đó đã bắt đầu trong sự nghiêm chỉnh khi được tường thuật một cách ít ỏi trên báo chí– đã làm cho tâm trạng kém hào hứng hơn là nó đáng lý ra đã là. Tất cả những cậu con của gia đình Ripley vắng mặt hết. Tuy thế, ông bà Blaylocks (cha mẹ của cô Moline) và gia tộc Ripley lớn hơn đưa ra những lời cảm ơn cho nhiều phước lành của họ; chúc mừng Sự sống Lại của Chúa và sự hiện diện của cái gì của gia đình có.
Cô Moline đã lái xe một khoảng ngắn trở lại từ thị trấn Radford đến thị trấn Blacksburg, cho những đứa con mình lên giường, và theo dõi một số tin tức chiều tối trước khi đi ngủ. Có tin tức gì đó về Việt Nam, không khích lệ gì, nhưng tuy thế nó không đủ cụ thể cho cô ta đầu tư năng lực đáng kể trong việc lo lắng về người chồng của mình hơn là thường khi cô ta đã. Cô ta đã cầu xin những lời nguyện của mình và chìm vào giấc ngủ trước nửa đêm.
Khi chuông điện thoại reo trong khoảng thời gian nào đó ngay sau 1 giờ sáng, sự suy nghĩ trước tiên của cô ta cho là không phải của anh John. Moline Ripley đã từng là một người vợ của một quân nhân thuộc Quân đoàn TQLC trong gần tám năm –hầu như toàn bộ thời gian mà Mỹ đã có mặt trong cuộc chiến ở Việt Nam. Từ kinh nghiệm cá nhân khi anh John bị thương vào năm 1967 và từ cái gì xa hơn mà rất nhiều người trong số những người bạn của họ đã từng giải quyết tương tự như thế, cô ta biết rằng những thông báo về những thương vong nghiêm trọng không được thực hiện qua điện thoại. Những cú gọi bất chợt, hoặc là có người bị Thiệt mạng trong Nhiệm vụ hoặc bị Thương trong Nhiệm vụ, được thực hiện bằng sự có mặt của người nào đó. Quân đoàn không trốn tránh nhiệm vụ nầy. Khi cú điện thoại gọi đến trong giờ giấc khuya nầy, mối quan tâm trước tiên của cô ta là cho những thân của mình, những người thân của anh John, có thể là gia đình của chị mình; cái gì đó xấu xa có thể đã xảy ra cho người nào đó mà cô ta quan tâm đến.

p417

Giọng nói nghe có vẻ rất thân mật, chuyên nghiệp, và gần như là giản dị ở đầu dây bên kia điện thoại nhận ra là bà Ripley đang trong lúc bất tiện. Anh ta tự xác nhận mình hai lần, xin lỗi cho thời gian của cuộc gọi và ngay lập tức bắt đầu bảo đảm với cô ta rằng bản chất của cuộc gọi không phải là để chuyển đến tin tức xấu. Chỉ mất một ít giây cho cô Moline cảnh giác ngay và tập trung để tìm hiểu thông tin làm cuống người.
Vị Đại tá nói với bà Ripley rằng người chồng của bà ta đã đích thân phá hủy, trước mặt của sự đối kháng đến khó tin của kẻ thù, một cây cầu rất quan trọng ở một nơi đìu hiu, xa xôi nào đó mà không phải là cô ta hoặc cũng không là bất cứ ai trong gia đình Ripley ở quê nhà đã từng nghe nói đến. Đại úy Ripley đã ra tay làm một cái gì đó to lớn và có tính chất anh hùng, một cái gì đó hoàn toàn có ý nghĩa, và tên của anh ta trên môi mọi người ở Lầu Năm Góc.
Cô Moline đang cố gắng để hiểu thông tin được chia sẻ với cô ta, bằng cách thử cố gắng đặt vào những hành động của mình và nơi đây đâu đó ở quê nhà trong suốt khoảng thời gian mà người chồng của cô ta đã và đang làm bất cứ điều gì mà anh ta có thể làm mà qua đó bảo đảm cho cuộc gọi nầy. Vị Đại tá gì gì đó, đến lúc họ kết thúc cuộc gọi, đã bảo đảm với cô ta rằng anh John còn sống và khỏe mạnh. Ít ra, tuy thế, anh ta vẫn còn sống trong nhiều giờ qua. Bà Ripley được cho biết là câu chuyện của Đại úy Ripley sắp sửa được đưa lên tất cả mạng lưới tin tức lớn. Điều mà anh ta làm, là một việc lớn.
“Cứ tiếp tục theo dõi tin tức, thưa bà Ripley. Bất kỳ đài nào. Anh ta sẽ xuất hiện trên mỗi băng tầng.”

Vừa khi cô ta gác máy, cô Moline gọi cho cha mẹ chồng và sau đó cha mẹ mình. Người cha chồng của cô ta, cô ấy biết, sẽ bị căng thẳng nhưng vô cùng tự hào. Cô ta cũng biết rằng cô ta cần nghĩ một ít trước khi những đứa con mình thức dậy. Không ai trong số chúng sẽ có thể hiểu được những hành động của Ba mình và chúng sẽ, như thường lệ, đòi hỏi hết mức chú ý của cô ta. Cô ta không thể ngủ, ngay cả mặc dù cô ấy đã cố gắng. Cô ta lăn qua lăn lại, cầu nguyện, lo lắng một chút, và mơ màng ngủ. Cô ta đã làm điều gì mà cô ta có thể để kìm giữ những cảm xúc lo lắng của mình, nhưng giấc ngủ ngon vẫn thoát khỏi cô ta. Cô ta biết người chồng mình, vào ngay lúc nầy có nhiều khả năng vẫn còn trong tình trạng nguy hiểm tối đa, và ngay cả mặc dù cô ta hiểu rằng anh ấy sẽ không muốn cô ta lo lắng, và dầy dạn như cô ta là người vợ của Lima Sáu Thật, cô ấy lo lắng chỉ một chút hơn, nhiều hơn bình thường.

p418

Moline Ripley bắt đầu ngày mới của mình là một người mẹ đối với ba đứa con mình bị mất ngủ đáng kể. Cô ta ít ra cảm thấy tạ ơn khi biết rằng cô ta và các con mình đang ở xa khỏi những nguy hiểm thực thể đang đối mặt với người cha của chúng.

Nhà của gia đình Turley
Thành phố biển Oceanside, tiểu bang California
Lúc 2200 giờ theo giờ vùng bờ biển Thái Bình Dương, ngày 2 tháng Ba năm 1972 (15 tiếng đi sau giờ Việt Nam)

Chỉ giống như Gerry Turley làm cuộc hành trình từ phi trường Tân Sơn Nhứt đến Trụ sở Lực lượng Hải quân Việt Nam ở trung tâm Sài Gòn, không quá xa từ Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam, cho điều gì mà anh ta dự kiến là cuộc hành hình sơ lược của mình, anh ta tự cho phép một sự xa xỉ nhỏ nhoi của một ít khoảnh khắc phút để nghĩ về lễ Phục Sinh ở quê nhà.
Cô Bunny và bốn đứa con nhỏ nhất của họ –đứa con gái lớn tuổi nhất, Anne, hiện tại sống xa nhà tại trường điều dưỡng– rất có thể là chỉ một ít giờ trước đây đã kết thúc lễ Phục Sinh với cha mẹ của anh Gerry ở dưới thành phố San Diego. Tất cả họ có lẽ đã tham dự những buổi lễ Chúa Nhật tại nhà thờ St. Vincent de Paul, cùng một nhà thờ mà họ đã được thành hôn ngược thời gian vào đầu mùa hè năm 1950, ngay trước khi sự khởi đầu của cuộc Chiến tranh Triều Tiên, bây giờ gần 22 năm qua. Anh Gerry ít ra có thể biết rằng nhiều người, có thể là những người mà anh ta thậm chí chưa từng gặp, đã và đang cầu nguyện cho anh ta ngày riêng biệt đó. Anh ta sẽ cần đến sự lợi ích của những lời cầu nguyện đó, anh ta nghĩ.
Bunny Turley là một người vợ dầy dạn của một quân nhân thuộc Quân đoàn TQLC. Đây là chuyến đi thăm chồng thi hành nghĩa vụ chiến đấu lần thứ ba của cô ta, và so với hai lần khác, lần nầy có vẻ giống như nó sẽ là ít nguy hiểm nhất cho người chồng của mình. Phần tốt nhất về chuyến quân vụ nầy vào thời điểm nầy, khi so sánh với những lần trước đó của anh ta trong cả hai năm 1951 và 1966, đó là sự tham gia chiến đấu của Mỹ đã là mãnh liệt rất nhiều hơn sau đó so với những thứ bây giờ vào mùa xuân năm 1972. Thêm vào điều đó, người chồng của cô ta thì tương đối cao cấp và không phải ra ngoài trong chiến trường tại địa điểm giao chiến dẫn dắt những binh lính, hoặc cô ta cũng chỉ phỏng đoán. Những gia đình quân nhân, đặc biệt là nhận thức được rằng ở giai đoạn nầy của cuộc chiến tranh, rất ít người Mỹ bị giết. Những người vốn có nguy cơ lớn nhất, là những phi công và nhóm phi hành đoàn Không quân.

p419

Đối với sự hiểu biết của cô ta, Gerry Turley đang “bay” cái bàn ở Sài Gòn (i.e. đang làm công việc văn phòng). Bunny Turley, giống như Moline Ripley người mà cô ta chưa biết đến, và rất nhiều người vợ quân nhân khác cố gắng không lo lắng về những điều mà trên đó họ không làm chủ được. Và giống như rất nhiều người vợ quân nhân, cô ta có bốn đứa con và một gia đình riêng để quản lý. Có ít thời gian dành cho sự lo lắng và đối với điều đó cô ta rất tạ ơn.
Cô Bunny cũng nhận biết, từ việc đọc những đoạn tin vụn vặt nào đó có trên tờ báo “San Diego Union” và trên truyền hình, rằng có cuộc giao chiến mới tuốt phía trên ở phần phía bắc của miền Nam Việt Nam, nhưng chưa nghĩ đến việc đặt người chồng của mình trong nó. Thật là cảm ơn, bức thư cuối cùng mà anh ta đã viết cho cô ấy từ Sài Gòn, mà qua đó kể về chuyến đi thường xuyên mà anh ta đang đi để thăm viếng những binh lính TQLC Việt Nam và các vị cố vấn của anh ta ở Quảng Trị, chưa đến nơi. Gia đình Turleys ở California có thể vui thích sự chúc mừng cuộc lễ Phục Sinh của họ mà không có những sự lo lắng thêm vào về những thách thức thực sự mà anh Gerry đang phải đối mặt.

Bành Cẩm
Nhà của Lê Bá Sách (Ba của anh Bình)
Tân Định, Sài Gòn
Ngày 3 tháng Tư năm 1972

Điều mà nhiều người sẽ xác định như là “Kinh nghiệm Việt Nam” đối với những người Mỹ thì hoàn toàn khác biệt hơn “Kinh nghiệm Thế Chiến thứ II” thuộc thế hệ của cha mẹ họ. Một số rất ít những người công dân hơn chia sẻ gánh nặng của sự chuyển tiếp cuộc chiến tranh nầy hoặc buộc phải phơi bày nguy cơ mất mát tương tự. Thay vì làm lễ kỹ niệm những người tham gia của nó cho sự hy sinh của họ, việc không được quần chúng yêu chuộng về Chiến tranh Việt Nam dường như cô lập hơn là nâng cao những người vốn mang gánh nặng một cách không tương xứng. Chắc chắn là đến năm 1972, với số lượng lớn của những lực lượng chiến đấu của Mỹ biến mất khỏi khu vực Đông Nam Á, ngoại trừ hầu hết là những nhóm phi hành đoàn, mức độ quan tâm của đại đa số dân cư trong các hoạt động ngày-nầy-đến-ngày của cuộc chiến tranh được giảm đi rất nhiều. Đó là không phải là trường hợp đối với các công dân của Việt Nam Cộng Hòa; tất cả những người có sự đe dọa nguy hại to lớn trong kết quả của cuộc chiến tranh.
Kể từ khi cuộc Nội Chiến của Mỹ, quốc gia đã không từng trải nghiệm một cuộc chiến đấu nghiêm trọng nào trên những bờ biển của riêng mình, ngoại trừ cho cái gì ở đó còn lại để chinh phục và trở nên quen thuộc với Miền tây Hoang dã. Trong mỗi cuộc xung đột theo sau cuộc Nội Chiến, những chàng trai và những người đàn ông Mỹ đi xa để chiến đấu, và ít lo lắng về những rủi ro cá nhân đang đối mặt với những người thân yêu của họ ở quê nhà.

p420

Đối với mỗi một người công dân của nước Việt Nam Cộng Hòa, cho dù họ có một đứa con trai hoặc anh em hoặc người chồng hoặc người cha trực tiếp tham gia trong cuộc chiến đấu, tình hình đã hoàn toàn khác biệt hơn so với cái gì mà những người Mỹ hiện thời còn đang sống đã từng phải đối mặt.
Kinh nghiệm Việt Nam với cuộc chiến vô tận trong đất nước của họ vượt ra ngoài bất cứ điều gì mà những người Mỹ có thể thực sự liên quan đến. Đối với thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam vốn là những người đến tuổi –giống như Lê Bá Bình và Bành Cẩm– từ những năm 1950s và bước vào thập niên 1970s, sự xung đột là tất cả những gì mà họ biết đến. “Hòa bình,” “ổn định,” “an ninh,” và “bình thường” là tất cả những thuật ngữ tương đối, tạm thời với những ý nghĩa vượt xa bên ngoài điều gì mà những người Mỹ có khả năng cảm thông với họ.
Tình trạng nguy cơ của Bành Cẩm trong cuộc xung đột, không có nơi nào gần với tính chất riêng biệt trong số những người trong gia đình, bạn bè, hoặc hàng xóm của cô ta, vẫn là đáng kể. Không chỉ là người chồng cô ta hiện đang ở ngay đầu mũi ngọn giáo của những nỗ lực của nước Việt Nam Cộng hòa để ngăn giữ bầy quỷ đỏ đến gần gây tang tóc, cả hai người em trai của cô ta hiện đang mặc bộ đồng phục của đất nước họ. Người em trai lớn tuổi nhất của cô ta đã hoàn tất đại học vào năm 1968, và giống như nhiều thanh niên Việt Nam yêu nước sau khi chứng kiến lần đầu tiên những sự tàn bạo của Cộng Sản trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm đó, đã tình nguyện cho nhiệm vụ chiến đấu. Đến năm 1972, anh ta là một vị Đại úy trong Sư đoàn Dù Việt Nam và đã từng nhìn thấy cuộc giao chiến đáng kể. (Sư đoàn Dù Việt Nam được xem như là ngang bằng với binh chủng TQLC(pc 02) trong những phần về năng lực khác thường về quân sự và mức độ tin cậy về chính trị. Hai sư đoàn cùng nhau cấu thành lực lượng dự bị của quốc gia theo chiến lược. Họ là những “Lữ đoàn Hỏa lực” của đất nước) Người em trai út của cô Cẩm đã gia nhập vào Lực lượng Không quân vào năm 1969 và bây giờ là một vị Trung sĩ đang phục vụ như là một thợ máy trực thăng.

(Những binh lính Dù của QĐVNCH đang chờ đợi tung cánh, là một
“Lữ đoàn Hỏa lực” dự bị của đất nước, ngoài binh chủng TQLC)

Phần nhiều như cuộc sống thì “bình thường” ở Sài Gòn, phần nhiều như sự kinh doanh thường trực có thể được giao dịch mà không có lạm phát chớm nở vốn luôn luôn kèm theo sự hoảng sợ, và không có ai bị bắn tại địa phương, vẫn còn có một sự căng thẳng nằm bên dưới đối với tất cả công dân có liên hệ xa với bất kỳ người lính trẻ hoặc quân nhân TQLC nào hiện đang được gởi về phía bắc. Với việc gọi lại từ sớm Lữ đoàn 369 và tất cả những thành phần hỗ trợ của nó, toàn bộ Quân đoàn TQLC Việt Nam hiện thời can dự vào cuộc chiến đấu riêng biệt nầy. Một người đàn ông hay phụ nữ không cần phải hiểu lý thuyết quân sự của Clausewitz hoặc của Sun Tzu (i.e. Tôn Tử) để cảm nhận sức hút của tình hình.

p421

Vào thời điểm giống như thế nầy, điều đặc biệt quan trọng đối với Bành Cẩm, như là người vợ của một sĩ quan cao cấp của Sói Biển và nhằm vinh danh tốt đẹp nhất cho người chồng của cô ta và phục vụ đất nước của họ, nhằm duy trì sự bình tĩnh và thanh thản của mình, sẵn sàng có mặt trợ giúp những người vợ và những gia đình khác, nhằm lấp đầy vào nơi nào và khi nào cô ta sẽ được cần đến. Trong khi đó, cô ta tiếp tục trong vai trò của mình tại nhà của Lê Bá Sách, giúp đỡ quản lý gia đình với người mẹ chồng của mình.

Trụ sở Lực lượng Hải quân Việt Nam
Chiều thứ hai, ngày 3 tháng Tư năm 1972

Khi Gerry Turley lần đầu tiên rời khỏi Trung tâm Hoạt động Chiến thuật Ái Tử để bắt đầu tiến trình đi về hướng nam đến Sài Gòn và có một khoảnh khắc để ngẫm nghĩ về tình huống, một tình huống mặt đối mặt của mình với tất cả những người xếp trong hàng như là những đối thủ của anh ta tại Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam (Và rất có thể là hiện thời cũng tại Lực lượng Hải quân Việt Nam.), anh ta dự kiến những điều xấu xảy ra cho anh ta. Thế là bây giờ, anh ta đã đến Sài Gòn; thế là bây giờ, anh ta đã nói chuyện qua với vị sĩ quan hành chánh tại Đơn vị Cố vấn Hải quân và đặc biệt hơn là với Pete Hilgartner, anh ta dự kiến những điều rất xấu xảy ra cho anh ta. Anh ta không hoàn toàn chắc chắn sự kết thúc sẽ đi đến như thế nào, hoặc một cách chính xác sự kết thúc sẽ bao gồm điều gì. Anh Turley là một người lính chuyên nghiệp, tuy thế, và sẽ đi vào với cái đầu ngẩng cao và nhận lấy bất cứ sự công lý nào sắp sửa được đưa ra cho anh ta giống như một sĩ quan TQLC chuyên nghiệp mà anh ta đang là. Nhưng trước khi đi xuống đó, anh ta sẽ làm hết mức của mình, chỉ giống như anh chàng thợ bạc, yêu nước Paul Revere, để chắc chắn rằng những người ra quyết định ở hậu phương biết điều gì đang xảy ra ở vùng phía bắc Quân khu I. Những Chiếc áo choàng Đỏ thực sự đang đi đến.

(Chân dung của Paul Revere, anh chàng thợ bạc, yêu nước trong
thời kỳ Cách mạng Mỹ, đã báo động dân quân Thực dân Mỹ
về cuộc tiến quân của những lực lượng Anh)

Hà sĩ Châu trong cách vui vẻ và tôn trọng thả người hành khách của mình tại lối vào chính dẫn đến Bộ Lực lượng Hải quân Việt Nam ở trung tâm thành phố Sài Gòn. Thực sự cảm thấy không thoải mái với sự hình dáng bề ngoài và vệ sinh cá nhân của mình, Trung tá Gerry Turley không có thể làm gì hơn cho chuyện đó trong khoảnh khắc nầy. Những người lính gác vốn là những người kiểm tra thẻ xác minh cá nhân của anh ta và an toàn cho phép anh ta vào trong tòa nhà, cũng là chuyên nghiệp, nhưng anh Turley biết rằng một khi anh ta đi khỏi, họ chắc chắn phê bình về sự bê bối, không chảy chuốt của mình và chắc chắn thảo luận về việc chín mùi đến như thế mà anh ta ắt hẳn đã tỏa mùi đến họ. Những ấn tượng của họ về anh ta là điều nhỏ nhặt nhất trong những lo lắng của mình.
Cuộc công kích vào tình cảm và tâm lý dồi dào của Gerry Turley mà qua đó đã bắt đầu một cách u ám với sự khởi đầu của các cuộc tấn công của pháo binh tại cuối bữa ăn trưa vào ngày 30 tháng Ba tiếp tục, nhưng trong những hơn cách không thể nào nắm bắt được, không thể nào hiểu nổi.

p422

Phần nhiều như anh Turley là một người đàn ông thực sự kỳ lạ ngoài đó, một người riêng biệt trong tập hợp nầy của những người bình thường, chính là anh ta vốn là người nghĩ rằng tất cả mọi người xung quanh mình có thể không được lành mạnh trong tinh thần. Cảm thấy không thuộc về nơi nầy, cảm thấy hoang dã và bẩn thỉu như anh xuất hiện trong cái biển tương đối quý phái và văn minh nầy đối với những người xung quanh anh ta, chính là anh ta vốn là người khó mà hiểu được cái thực tế trong các phòng họp của Bộ Lực lượng Hải quân Việt Nam. Chỉ giống như việc ngồi trên chuyến xe jeep từ phi trường Tân Sơn Nhứt đã không để lộ một dấu hiệu nào cho thấy sự nguy hiểm, nhịp độ hoạt động bên trong dinh thự được Pháp hào phóng xây dựng vốn phục vụ như là toà nhà trụ sở chính ở đó dành cho Lực lượng Hải quân Việt Nam, là thường lệ. Nếu đã không phải là vì những bộ đồng phục, cờ và trang trí quân sự bên ngoài, cùng với một số ít vũ khí, anh ta cũng có thể ngở là đang ở trong một tòa nhà văn phòng thông thường giao dịch công việc kinh doanh hoặc tiến hành một hợp đồng. Trong khi những người vốn nhìn thấy anh ta, ắt hẳn đã nghĩ bề ngoài của anh ta có một chút gì không thích hợp với nơi nầy, anh Turley đang cố gắng để giữ cho tất cả mọi việc êm thắm. “Có phải chăng tôi thực sự vẫn ở Việt Nam?” “Không lẽ những gã nầy không biết chuyện gì đang xảy ra sao?” Những sĩ quan Hải quân Mỹ đang mặc những bộ đồng phục rất trắng, rất trắng tinh, điều đó làm đau mắt anh ta. Và họ đang mặc những cái quần ngắn kiểu Bermuda. Những cái quần ngắn Bermuda. Có một cuộc chiến tranh đang diễn ra và những gã nầy đang mặc quần ngắn Bermuda, thật là đáng buồn !

(Quần ngắn kiểu Bermuda –vốn là vùng đất thuộc địa Anh trước đây.
Kiểu quần nầy do người Anh dùng trong quân đội ở những nước
thuộc vùng nhiệt đới, và sau nầy quân đội Pháp mặc ở Việt Nam)

Những cái nhìn chằm chằm lãnh đạm và kỳ lạ từ những khối nhân viên Mỹ và Việt Nam hờ hững mà anh ta đi ngang qua khi anh ta theo hướng đến văn phòng của Đô đốc được chuyển đến một nơi tiếp nhận lạnh lùng và thái độ thiếu ân cần không giấu diếm khi anh ta báo cáo vào trong đến những sĩ quan cao cấp đó thuộc Hải quân Mỹ mà anh ta cần gặp.
Vào lúc anh ta đã đến Bộ Lực lượng Hải quân Việt Nam, Gerry Turley đã mỏi mệt; cảm thấy mệt mỏi hơn so với cái mệt mà anh ta đã từng. Qua hàng tiếng đồng hồ nầy đến hàng tiếng đồng hồ khác, anh ta đã kết luận rằng anh ta thứ bị bỏ đi. Anh ta nhận ra và có đủ quan điểm để hiểu rằng việc nầy đây không phải là vì anh ta, và vì vậy điều gì xảy ra cho anh không thực sự là vấn đề trong một mưu toan to lớn về mọi thứ. Anh ta đã thực sự bắt đầu tin rằng, đặc biệt là sau khi trao đổi với Pete Hilgartner, bằng cách nào đó, sự nghiệp của anh ta như là một quân nhân TQLC bị xóa sổ, xong, caput (i.e chấm dứt). Mối quan tâm chính của anh ta là nói ra sự thật, một câu chuyện đầy đủ về điều gì đã từng gần đây và ngay bây giờ đang diễn ra ở trên vùng phía Bắc Quân khu I. Trong cách làm điều đó, anh ta hy vọng không mang lại bất kỳ sự mất uy tín nào cho Quân đoàn TQLC.

p423

Quan trọng rất nhiều hơn so với các cuộc tấn công trên phía bắc đang nằm ngoài điều gì mà Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam đã từng dự kiến, là tất cả cái gì mà nó mang nghĩa về chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Sau khi, theo cách diễn tả hay nhất, cách làm việc ở mức cần thiết tối thiểu của QĐVNCH(pc 03) chưa đầy một năm trước đây trong suốt chiến dịch Lam Sơn 719 –ít ra như được tường thuật trên phương tiện truyền thông Tây phương– và tất cả sự nghi ngờ của công chúng về những khả năng của miền Nam chiến đấu chống lại miền Bắc chỉ riêng một mình nó, sự sụp đổ hoàn toàn của Sư đoàn 3 xuất hiện có vẻ như là một đinh khác trên quan tài của một nước cộng hòa đang vật vã. Gerry Turley chỉ là một sứ giả đưa tin, nhưng sự xuất hiện thực thể của anh ta là một lời nhắc nhở không đẹp ý nhất rằng chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh không đạt hiệu quả tốt đẹp; đó là một cái gì nằm xa bên ngoài đường lối của nhóm ở cả Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam và lẫn Lực lượng Hải quân Việt Nam. Nếu điều mà anh Turley đang nói là sự thật, thì tương lai của chương trình không trông thấy rất sáng sủa. Những sứ giả đang đưa đến tin không đẹp ý đôi khi trở thành thứ bỏ đi.
Sự xem thường trắng trợn mà qua đó Gerry Turley thực sự phải nhận lấy, trở nên rõ ràng đối với anh khi anh ta bước vào văn phòng bên ngoài của vị Đô đốc. Tháo khỏi vai vũ khí và cái ba lô của mình khi anh ta được phép qua cửa gác, anh ta đặt chúng lên chiếc ghế dài thuộc sản phẩm của chính phủ đúng tiêu chuẩn, trông có đặc điểm chung, được bao phủ bằng vải da nhân tạo. Cách xa khoảng một vài bước, anh ta nhìn thăm dò vị tham mưu trưởng tại bàn làm việc của ông ta. Vị Đại úy Hải quân (cùng cấp bậc như là như chức vụ đại tá đúng nghĩa trong ba binh chủng khác), ông ta được vận phục trong một bộ đồng phục hành lễ trắng cực kỳ sáng sủa, có chất keo hồ, được ủi thẳng. Mặc dù anh Gerry không thể nhìn thấy đôi chân của ông ta, anh ta chắc chắn rằng vị Đại úy Hải quân, giống như tất cả những người khác, đang mặc quần sọt kiểu Bermuda. Anh Turley chắc chắn là nơi lối vào của ông ta đã được quan sát. Đó đã sẽ là điều không thể không chú ý đến sự xuất hiện của anh ta, hoặc ngửi thấy sự việc đi đến của anh ta.
Vị tham mưu trưởng giả vờ đang tiếp tục làm việc, khuôn mặt bị chôn vùi trong đóng giấy tờ, khi anh Turley trang trọng tiến đến bàn làm việc của ông ta, tự chỉnh mình ở giữa trước mặt ông ta sự chính xác theo trại huấn luyện của Quân đoàn TQLC. Anh Turley thực sự có thể thấy được rằng anh ta là persona non grata (i.e. tiếng La-tin, người không được chào mừng). Câu chuyện của anh ta, sự coi thường quá mức của anh ta đối với nghị định thư của Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam (từ quan điểm của Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam), chuyện rất thật của anh ta trái ngược với điều được nhận thức trước và được mô tả chung chung theo đường lối của nhóm tại Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam rằng chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh đang có hiệu quả và Quân Bắc Việt, khi cuộc tấn công của họ bắt đầu, sẽ khởi động cuộc giao chiến ở những phần đất trung tâm và phía nam của đất nước, không phải trên phía bắc ở tỉnh Quảng Trị. Thái độ bát bỏ là bất cứ thứ gì ngoại trừ việc tế nhị khi anh ta đứng đó im lặng, vị tham mưu trưởng từ chối ngước lên nhìn và nhìn nhận sự có mặt của anh ta. Cuối cùng, anh Gerry nói.

p424

“Trung tá Turley báo cáo để gặp Đô đốc như được lệnh, thưa ngài !”
“Vâng… đúng, Đại tá… Tôi dám chắc là anh bạn đúng… Hãy chờ chút…” là câu trả lời ngắn gọn, cáu kỉnh. Vị tham mưu trưởng biết về anh Turley chỉ bởi tiếng tăm có được gần đây của anh ta –vị Trung tá TQLC, một tên láu cá, giả mạo từ một nơi nào đó gần Khu phi Quân sự– một người đàn ông vốn là “Con Sói” làm cậu bé khóc thét.
Vị Đại úy Hải quân không mời anh Turley đứng nghĩ nhưng để cho anh cứng ngắc ở đó khi ông ta lui vào trong văn phòng Đô đốc. Anh Gerry cảm thấy mệt mỏi và vẫn đang chiến đấu với bệnh tiêu chảy. Trong một lúc, anh ta đứng đó thẳng như cây thông nòng súng mút và mở to mắt chú mục vào văn phòng khi anh ta chờ đợi. Anh Gerry nghiền ngẫm đến những hoàn cảnh trớ trêu và hoàn toàn lập dị mà trong đó anh ta đang ở tại vùng biến thành bình địa. Chỉ vài giờ trước, anh ta đã kiểm soát và điều phối –trong hoàn toàn cả bốn ngày– thêm sức mạnh hỏa lực, cùng với tất cả các trách nhiệm kèm theo, hơn bất cứ trách nhiệm nào mà anh ta sẽ có một lần nữa trừ khi anh ta là một vị chỉ huy cho Sư đoàn TQLC trong Thế Chiến thứ III chiến đấu với những nước thuộc Liên Xô trong sự kết của cuộc chiến theo quy ước và hạt nhân. Bây giờ anh ta đang đứng thẳng chịu đựng giống như một người lính phạm quy củ nào đó, đang chờ đợi hình phạt của vị chỉ huy đại đội của mình sau khi gặp phải rắc rối trên hành vi tự tiện.
Đang đứng ở đó, mệt mỏi như anh ta cảm thấy, cả ngàn ý nghĩ dâng ngập qua tâm trí anh ta. Một người đàn ông yếu kém hơn đã có thể phát điên. Anh ta tiếp tục thử cố gắng hòa hợp mình vào môi trường xung quanh mình. Nếu so sánh với nơi mà anh ta đã đến từ đó, anh ta cảm thấy như là đang ở trên một hành tinh hoàn toàn khác biệt. Văn phòng Hải quân nầy thì không tì vết, có hiệu năng, có trật tự. Anh ta có thể ngửi thấy mùi cà phê đang bốc lên ở một nơi nào đó. Có một người Phi Luật Tân phục vụ đang đứng gần đó chờ đợi để phục vụ cho vị Đô đốc và ban nhân viên của ông ta. Điều đó rất là tính chất Hải quân.
Anh Gerry tiếp tục chờ đợi; nhưng cuối cùng bắt đầu thư thả. Anh ta quay sang người phục vụ vốn là người có vẻ thông cảm, và xin một tách cà phê. Đúng là vị nếm lần đầu tiên của anh ta về cái văn minh trong một thời gian nào đó. Anh ta lui người đến, mà không được mời, chiếc ghế dài nơi mà trước đây anh ta đã đặt vũ khí và cái ba lô của mình trên đó. Khi anh nhấm nháp cà phê pha của Hải quân, không biết sao, anh ta thiếp đi chỉ một chút; có thể trong năm hay mười phút trước khi vị trưởng tham mưu trở lại.
“Đô đốc muốn gặp anh bạn bây giờ.”

p425

Trung tá Gerry Turley đặt xuống tách cà phê của mình và bước theo cách nửa bước, từ văn phòng bên ngoài đến phòng làm việc riêng bên trong, thẳng đến điểm vốn ở phía trước và ở giữa mặt trước cái bàn làm việc của vị Đô đốc. Anh ta tự trình diện một cách trân trọng và chuyên nghiệp, nửa mong đợi những lời chỉ trích cay độc về cá nhân vào vai trò lãnh đạo và hành vi của anh ta để tiếp tục. Anh ta không cảm thấy sửng sốt bởi lời chào hỏi. “Đã gởi đi bất kỳ những văn thư Hải quân nào gần đây không, Đại tá?” là loạt đạn mở đầu mà anh ta nhận được từ vị sĩ quan chỉ huy của Lực lượng Hải quân Việt Nam.
“Không, thưa ngài. Tôi đã không viết hoặc tung ra bất kỳ văn thư nào.”

Anh Turley cảm thấy thất vọng, tức giận, nhưng giữ sự điềm tĩnh của mình. Vị Đô đốc, lấy làm khó xử với lời đáp trả, dường như không bị thuyết phục. Anh Gerry yêu cầu sự cho phép để giải thích câu chuyện của mình mà qua đó vị Đô đốc đồng ý cho. Với điều đó, anh ta lấy từ túi quần của mình tấm bản đồ được gấp lại –tấm bản đồ mà anh ta đã nại khỏi bức vách ở Trung tâm Hoạt động Chiến thuật– và cố gắng trải rộng nó ra trên bàn làm việc trước anh ta, nhưng có quá nhiều sự bừa bộn xộn vì vậy anh ta đặt nó trên sàn nhà phía sau vị trí của vị Đô đốc, hạ người xuống trên bàn tay và đầu gối mình, và bắt đầu giải thích về sự sắp xếp theo thời gian của những sự kiện ở vùng phía bắc tỉnh Quảng Trị từ giờ ăn trưa ngày 30 tháng Ba.
Chính là một cảnh kỳ lạ nhất, nhưng nó phù hợp hoàn hảo với vào trong câu chuyện kỳ quái mà anh Turley đã từng là một phần của tình thế đó trong năm ngày. Nếu anh ta đã là một người trong số đám khán giả truyền hình đang xem cái gì đó đang diễn ra, anh ta đã sẽ chữi thề rằng đây chỉ đơn giản là một kịch hài dzỏm. Đây anh ta đang quỳ, tất cả bốn tay chân trên sàn nhà phía sau bàn làm việc của vì Đô đốc, bốc mùi hôi đến chết người, đang cố gắng nghiêm túc giải thích một khối những hoàn cảnh không may ở tỉnh Quảng Trị. Vị Đô đốc, hai đầu gối tròn, hai ống chân đầy lông, đôi vớ trắng đến mắt cá chân, và tất cả được uốn cong qua trong chiếc ghế xoay của mình, ở mức gần nhãn cầu với anh Turley, đang theo dõi khi người lính TQLC hôi thúi nầy chỉ ra những nơi trên bản đồ bị thu lấy bởi cuộc xâm lược đang thúc đẩy về phía trước của Cộng sản. Không có sự khôi hài nào. Tuyệt nhiên không.
Anh Turley bắt đầu giải thích, và một sự dồn lên đột ngột của năng lực, năng lực thần kinh, phun trào ra khỏi anh ta ngay cả mặc dù anh ta cảm thấy kiệt sức và giữa những cơn tiêu chảy. Anh ta nói với một âm thanh rất cao trên sự cần thiết nhưng không thể điều khiển chính mình. Vị tham mưu trưởng đang ở phía sau họ và cũng đang đứng nhìn. Anh Turley tiếp tục. Anh ta chữi thề khi anh ấy nói, ngay cả mặc dù anh ta không có ý định. Nó chỉ đơn giản là vọt ra ngoài.

p426

Một cách tỉ mỉ, anh Gerry bắt đầu giải thích một chuỗi những sự kiện, từ lúc những hàng rào pháo kích đầu tiên bắt đầu. Anh ta có thể biết được qua những biểu lộ trên khuôn mặt của họ rằng đây là lần đầu tiên vị Đô đốc và vị tham mưu trưởng của ông ta nghe nói về thông tin nầy. Anh Turley vẫn tiếp tục. Và sau đó, thật bất ngờ, anh ta bị khuất phục bởi nhu cầu thể chất để điều hành cho cái đầu, một lần nữa. Thật là quá xấu hổ, nhưng anh ta không thể làm gì khác được. Anh ta đi vào phòng tắm, làm cái gì mà anh ta cần làm, và rửa mặt mình, lần đầu tiên trong một khắc thoáng qua, cảm thấy một lần nữa, một chút gì giống như một con người. Anh ta trở lại văn phòng của vị Đô đốc và tiếp tục đẩy mạnh với câu chuyện.
Gerry Turley đã tiêu hao, yếu sức. Những nhu cầu của nhiệm vụ anh ta –cảm xúc, tâm lý, và thể chất– đã làm cạn kiệt anh ta đến điểm gần như kiệt quệ hoàn toàn. Bệnh tiêu chảy quay vòng trở lại đã để lại những gì bên trong của anh ta trống rỗng, dáng vẻ thể chất và sức mạnh của anh ta giảm sút. Tuy nhiên anh ta sẽ không cho phép mình nghỉ ngơi. Có quá nhiều đe dọa, quá nhiều sinh mạng để suy xét. Nỗ lực tối đa là sự lựa chọn duy nhất của anh ta. Được lên dây mạnh như anh ta là, và theo một cách to lên và thô tục như khi anh nói –những lời chêm vào và tất cả thứ– anh Turley vẫn tiếp tục công việc; mô tả sự nầy đến sự kiện khác một cách có phương pháp và theo thứ tự thời gian, bao gồm cách làm việc tương đối tồi tàn của những đơn vị thuộc Sư đoàn 3 của QĐVNCH, những vị thế chống đỡ anh hùng được dựng lên bởi những tiểu đoàn hợp thành thuộc các lữ đoàn TQLC, căn cứ hỏa lực nầy đến căn cứ hỏa lực khác bị mất, vị trí nầy đến vị trí khác bị tràn ngập bởi bước tiến đều đặn của Quân Bắc Việt.
Những chỗ đánh dấu bằng cây viết chì sáp màu đỏ trên bản đồ mòn nhầu nát mà hiện tại được trải ra trên cái bàn làm việc để cho vị Đô đốc có thể có một cảm giác tốt hơn về câu chuyện khó tin được từ trước đến nay mà anh Turley đang đề cập đến. Những cái đánh dấu “X” to lớn biểu thị sự mất mát của rất nhiều địa hình rất quan trọng ở rất nhiều điểm khắp tất cả tỉnh Quảng Trị là một bức tranh có trị giá một ngàn từ ngữ. Khi anh ta nói đến phần về được mệnh lệnh, chống lại ý muốn của anh ta, đảm nhận quyền chỉ huy ở Trung tâm Hoạt động Chiến thuật Ái Tử bởi một vị Đại tá quân đội, vị Đô đốc ngưng anh ta lại.
“Anh bạn vừa nói gì thế, Đại tá ?” Anh Gerry nói với ông ta một lần nữa.
“Anh bạn có thể lặp lại điều đó một lần nữa không, Đại tá ?” Anh Turley tuân thủ. Vị Đô đốc và vị tham mưu trưởng của ông ta trao đổi những cái nhìn bối rối. Anh Turley tiếp tục giải thích về việc anh ta thậm chí đã ghi chép xuống số An sinh Xã hội của vị Đại tá như là một hình thức bảo đảm thô bỉ như thế nào; một chứng minh mà qua đó hành động nầy không phải là ý tưởng của anh ta, và anh ta đã không chiếm đoạt quyền lực cho riêng mình. Tâm trạng trong văn phòng riêng bên trong bắt đầu thay đổi từ đó một cách rất nhẹ nhàng; anh Gerry có thể cảm thấy điều đó. Anh ta tiếp tục với câu chuyện của mình.

p427

Gerry Turley, hết sức như anh ta đã là, vẫn còn có sự hiện diện của tâm trí để đánh giá cao khán giả của mình. Không có sự cường điệu nào để mô tả, rất chi tiết, tính chất rất quan trọng của sự hỗ trợ của Hải pháo được nhận bởi của các lực lượng ở trong và xung quanh Đông Hà. Nơi mà các sĩ quan cao cấp Hải quân nầy có thể không hoàn toàn hiểu được bản chất của cuộc chiến đấu trên bộ, họ biết đến tiếng súng Hải quân. Anh Turley hết lời khen ngợi những vị thuyền trưởng của những con tàu vốn là những người đã chạy những con tàu của họ gần như lên bờ để bảo đảm sự che chỡ liên tục và tầm tác xa tối đa vào nội địa. Những binh lính TQLC(pc 02) ở Đông Hà đã không có thể bám giữ mà không có tiếng súng Hải quân. Anh ta đã nối kết cho họ. Lực lượng Hải quân cuối cùng đã chiếm được quyền làm chủ nào đó của “Tình cảnh Turley” nầy.
Khi anh Turley đã kết thúc cuộc họp báo cáo ngắn không chuẩn bị trước, vị Đô đốc cảm ơn anh ta. Đây là lần đầu tiên mà ông ta thực sự được gọi anh ấy bằng tên. Anh Gerry đang bắt đầu cảm thấy chỉ một chút nhiều hơn giống như một con người. Tuy thế, vị Đô đốc chưa kết thúc. Ông ta yêu cầu anh Turley nán lại và trong một ít phút, thêm hai vị Đô đốc xuất hiện. Anh Turley được bảo đưa ra cùng một báo cáo ngắn gọn một lần nữa. Và vì thế anh ta đã làm.
Một khi, cuộc họp báo cáo cho các vị Đô đốc kết thúc, anh Turley biết rằng anh ta sẽ phải theo hướng đến Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam. Nhưng trước tiên, anh ta muốn chải chuốt sạch sẽ. Anh ta cảm thấy chỉ giống y như anh ta nghĩ rằng anh ta có mùi hôi. Anh ta xét đến bề ngoài của mình thiếu chuyên nghiệp và kém trang trọng hơn. Vị Đô đốc già, khôn ngoan tin tưởng một cách khác. “Không, Turley, hãy đi bây giờ. Hãy đi ngay bây giờ. Hãy đi như anh bạn là vậy.”
Anh Gerry không hài lòng về điều đó nhưng đã làm một điều đúng: “Dạ, dạ, thưa ngài.”
Vị Đô đốc biết rằng bề ngoài tương phản của anh ta sẽ có tác động nhiều hơn, cho câu chuyện của anh ta có thêm uy tín. Vị Đô đốc đoán rằng anh Turley sẽ cần mỗi khía cạnh mà anh ta có thể vượt qua tại Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam. Anh Gerry chụp lấy vật dụng của mình, theo hướng trở lại lối vào của tòa nhà, tìm thấy Hạ sĩ Châu đang ngáy khò trong chiếc xe jeep của mình trong lúc anh ấy đang chờ đợi ở dưới cái gì dường như là một cây Hoa sứ được tỉa, cũng được biết đến như là plumeria ở Hawaii, ở đó trên những vùng đất thuộc Bộ Lực lượng Hải quân Việt Nam, và tiếp tục di chuyển xuống con đường đến Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam.

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Bệnh dịch Đen : còn được gọi là Cái chết Đen đến Âu Châu bằng đường biển trong vào tháng Mười năm 1347 khi 12 chiếc tàu buôn của thành phố Genoa (tiếng Ý là Genova) neo tại cảng Sicily, một hải đảo lớn nhất ở miền nam nước Ý, của thành phố Messina sau một hành trình dài qua Biển Đen. Những người vốn tụ tập trên các bến cảng để chào đón những chiếc tàu, đã gặp phải một sự ngạc nhiên gây khủng khiếp: Hầu hết các thủy thủ trên những con tàu đã chết, và những người vốn còn sống, thì mang bệnh nặng. Họ bị sốt quá độ, không thể giữ thức ăn khỏi trào ra và bị mê sảng vì đau đớn. Điều kỳ lạ nhất trong tất cả là, họ bị bao phủ trong những mụt nhọt đen bí ẩn mà qua đó rỉ ra máu mủ và cho căn bệnh của họ một cái tên của nó: “Cái chết Đen.” Những nhà chức trách Sicily vội vàng ra lệnh cho đội “tàu chết” ra khỏi bến cảng, nhưng việc đó đã quá muộn: Hơn năm năm sau, chứng bệnh “Cái chết Đen” bí ẩn giết chết hơn 20 triệu người ở Châu Âu –gần như một phần ba dân số lục địa.

pc 02_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 03_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Advertisements

One thought on “Phần 30: Một con Bò mộng Đơn độc

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s