Chương 28: Cái nhìn về sự Việc đang Xảy ra từ Đông Hà

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại) ===========================================

(trang bỏ trống)
p375

Chương 28: Cái nhìn về sự Việc đang Xảy ra từ Đông Hà

John Ripley chưa nhận biết gì về của sự sụp đổ của Doanh trại Carroll. Gerry Turley đã cố giữ thông tin đó không để anh Ripley biết trong suốt khoảng thời gian mà anh ta đang ở dưới cây cầu. Anh Turley đã phỏng đoán một cách khôn ngoan rằng sự tập trung của anh Ripley cần duy trì trên Đông Hà. Nếu anh ta đã nghe nói về những cuộc thối lui của liên minh ở nơi nào khác, điều đó dù là thế nào có thể đã gây ảnh hưởng đến động cơ thúc đẩy để hành động khẩn trương như anh ta đã làm. Đối với tất cả chủ ý và mục đích của cuộc chiến tranh ngay trong vùng phụ cận của cây cầu Đông Hà, hoặc cái gì còn lại của nó, thực sự đã đi đến sự chấm dứt tạm thời. Trường hợp kỳ lạ đó thậm chí được tạo nên rõ ràng hơn khi chỉ là những khoảnh khắc sau khi công trình cấu trúc đã bị phá hủy và anh Jack(pc 01) đang chăm sóc cho sự phục hồi nhanh chóng của anh Ripley, hai chiếc máy bay Trojan T-28 của Không lực Việt Nam đi đến trên vị trí đóng quân của đối phương. Trong Lực lượng Không quân Hoa Kỳ, những chiếc T-28 được sử dụng gần như dành riêng cho việc huấn luyện những phi công. Trong Không quân Việt Nam, chúng được sử dụng một cách khẩn trương cho cả việc huấn luyện trong căn cứ và chiến đấu từ nó. Những binh lính Thủy quân Lục chiến (TQLC) của anh Bình cảm thấy sung sướng có được sự yễm trợ, tuy là hơi muộn.

(Chiếc máy bay Trojan T-28 của Hoa Kỳ để lại cho Không lực Việt Nam, vốn chỉ là chiếc máy bay dành cho việc huấn luyện hơn là chiến đấu. Mặc dù trong thời điểm nầy, QĐVNCH gánh vác trách nhiệm hoàn toàn về nhân lực cho cuộc chiến, nhưng quân dụng càng lúc bị thu hẹp) Quang cảnh càng lúc gợi nhớ về cảnh mà anh Ripley đã từng tìm thấy chính mình trong đó trước khi đi xuống dưới cầu khi anh ta và những người khác quan sát, giống như những khán giả trong một sự kiện thể thao, Hạ sĩ nhất Lượm lần theo và tiêu diệt chiếc T-54 trước tiên. Sự khác biệt là mọi người đang theo dõi. Trên cả hai bên bờ sông, nhưng đặc biệt là trên bờ phía bạn, những binh lính đứng lên và ra khỏi những hố chiến đấu của họ chỉ trỏ và cổ vũ (Quân Bắc Việt không cổ vũ) khi chiếc máy bay T-28 dẫn đầu thực hiện cú đâm nhào của nó vào những mục tiêu mà hầu hết những binh lính TQLC không thể nhìn thấy khi họ chỉ xa hơn đường ranh khu rừng về phía bắc dòng sông. Anh Ripley giả định rằng chúng là những mục tiêu, những chiếc xe tăng và những mục tiêu được chọn khác có lẽ phòng dự trên Xa lộ Một, dừng lại và đang chờ đợi để băng qua cây cầu vốn không còn ở đó cho họ.

p376

Chiếc máy bay T-28 đầu tiên thực hiện nhiều chuyến qua lại ở mức rất thấp có thể dự đoán được trên những vị trí của đối phương oanh kích và bắn phá. Những binh lính TQLC của anh Bình la hét lên vì phấn khởi tương tự với việc được thể hiện đối với anh Ripley khi họ chúc mừng anh ta sau khi làm nổ cây cầu. Đó là điều cảm thấy vui thích, thực sự vui thích, vì trả lại được một số nào đó cho kẻ thù. Những hành động của những người lính của Sói Biển khiến cho anh Ripley nghĩ về những lần tương tự thế trong Đại đội Lima vào năm 1967. Những binh lính TQLC(pc 02) của riêng mình, những người lính xung kích của mình, có đôi lần mất hết cảm giác khuôn phép về chiến thuật, đôi khi ngay cả khi mà hoàn toàn bị khóa vào với Quân Bắc Việt, khi mà máy bay hỗ trợ không lực sát bên –đặc biệt là những chiếc Skyraider A-1 mà qua đó phần nhiều tương tự những chiếc máy bay T-28 ngoại trừ là chúng lớn hơn, có cơ bắp hơn nhiều, mang vũ khí trang bị nhiều hơn, và có thể vẫn duy trì trên vị trí đối phương trong khoảng thời gian nào đó có vẻ như vĩnh viễn –lao vào giống như kỵ binh phóng đến giải vây và cứu lấy một ngày. Anh Ripley có thể nhớ lại việc như thế nào đó mà anh ta, đại đội áo đay của mình, những vị chỉ huy trung đội của mình cùng với tất cả các Trung sĩ trung đội và những tiểu đội trưởng gần như đã sẽ phải đập bể đầu trong số những người lính của họ vốn là những người, trong lúc đó, nhảy ra khỏi vị trí chiến đấu của mình vẫy tay và la hét, cách hò reo và la lớn tiếng, hành động giống y như họ đang cổ vũ ở nơi trận đấu bóng bầu dục của trường trung học chứ không phải ở giữa một cuộc đấu tranh sống chết trong những khu rừng già khốn nạn của vùng phía bắc thuộc miền Nam Việt Nam.

(Chiếc máy bay Skyraider A-1 cánh xếp của Hải quân Hoa Kỳ, được trang bị với hai hàng phi đạn trên hai cánh và bom dưới bụng) Sau khi chiếc máy bay đầu tiên hoàn thành phi vụ của mình, “Phi công Cánh thủ”(pc 03) như anh Ripley gọi anh ta, bắt đầu sự tiếp cận tương đối theo dự đoán, từ từ của mình trên một mục tiêu nào đó ở đằng xa bên kia con sông. Khi anh ấy thả khối sắt từ những cái giá bom của mình và bắt đầu vút lên cao ra khỏi với mục đích bay vòng trở lại một lần nữa cho cú nhào khác, những binh lính TQLC sửng sốt nhìn bởi một cái gì đó mà họ chưa bao giờ nhìn thấy trước đây. Trong nháy mắt, họ nghe và thấy một luồng hơi rít lên có thể nghe rõ mà qua đó theo sau dấu vết của một cụm khói nhỏ bốc lên về hướng chiếc máy bay T-28 đang cố gắng chiếm lấy độ cao. Có một tiếng vút nhanh rõ rệt nhưng bị bóp nghẹt, một vệt của gì đó theo dấu vết máy bay và sau đó, đột nhiên, chiếc máy bay T-28 bị biến thành một quả cầu lửa màu da cam khép kín và khổng lồ. John Ripley hoảng hốt bởi kích thước của tiếng nổ. Con chim ắt vẫn có một số lượng khá vũ khí trang bị trên thân mình.

p377

Khó tin hơn nữa là trong một khoảnh khắc ngắn ngủi khác, có một cánh dù bung ra xuất hiện. Làm thế nào mà người phi công đó sống sót là điều khó tưởng. Sự thoát khỏi cái chết từ lúc ban đầu của anh ta là một phép lạ, ít nhất là trong khoảnh khắc nầy. Cánh dù đang lắc lư cuồng loạn của anh ta báo hiệu cho anh Ripley, một cựu chiến binh của nhiều chục cú nhảy từ những ngày của mình còn ở trong Lực lượng Biệt kích và TQLC Hoàng gia, rằng người phi công dũng cảm nhưng không may tức thời, vốn là người có lẽ ngay lúc nầy đang trải nghiệm cú nhảy dù lần đầu tiên của mình, không biết gì về việc làm cách nào để điều khiển sự hạ xuống của mình. Những cơn gió trung bình đang thổi về hướng bắc ở trên cao đang từ từ mang anh ta đến bờ sông xa tít. Trừ khi anh ta biết “trượt” và trút bỏ không khí giống như tất cả các học sinh nhảy dù cơ bản được dạy. Đã quá muộn để học lúc nầy.* Niềm vui tạm thời chiến thắng kết thút trong những lời nhận xét thì thào khó mà nghe được khi người phi công và cánh dù của anh ta được nhìn thấy đang hạ xuống lộn nhằm bờ sông và anh ta đã bị bắt làm tù binh. Sau đó thời gian gián đoạn quá ngắn đó, những người của Sói Biển lặng lẽ và nghiêm trang quay trở lại vào trong cuộc chiến. Anh Bình, ngay cả sau khi anh Ripley thổi tung cây cầu, không cảm thấy an lòng hoặc thanh thản. Với hai dụng cụ cầm tay nghe vô tuyến, một cái trong mỗi tay, cùng một lúc anh ta đang nói chuyện với Đại tá Định ở Trung tâm Hoạt động Chiến thuật và những vị chỉ huy đại đội súng trường của mình. Khi chuyển trực tiếp sự chú ý của mình đến vị chỉ huy lữ đoàn của mình, anh ta đang đưa ra những báo cáo về tình hình, bố trí sự yễm trợ hỏa lực bổ sung, hoặc yêu cầu cho cuộc tải thương bằng trực thăng và tái tiếp tế. (Với sự kèm theo của Tiểu đoàn 20 Thiết giáp, nỗ lực tái tiếp tế ở Đông Hà được ban cho sự ưu tiên rất nhiều hơn so với việc nếu ở đó đã chỉ có những binh lính TQLC Việt Nam hiện diện.) Khi sự thông tin liên lạc có chủ ý dành cho vị Đại úy của mình, anh ta muốn chắc chắn rằng những đại đội súng trường của mình được ẩn trong những hố cá nhân, phân phối lại đạn dược, chỉ tải những người bị thương nghiêm trọng nhất, và chuẩn bị cho những cuộc tấn công theo sau, không thể tránh khỏi mà Quân Bắc Việt chắc chắn nâng lên. Anh Bình và anh Ripley cùng nhau hội ý trong giây lát giả định rằng kẻ thù có thể vẫn cố gắng thử băng qua sông gần nơi Đông Hà. Ngay thượng nguồn từ cây cầu, khoảng vài trăm mét về phía tây, là một hòn đảo nhỏ không hoàn toàn nằm cách giữa mỗi bờ. ============= * Điều mà Anh Ripley và tất cả những người khác hiện diện vừa chứng kiến, là việc sử dụng lần đầu tiên được quan sát bởi những người bạn đồng minh những phi đạn chống máy bay được kê trên vai bắn đi, SA-7 hoặc có tên là Strela được Liên Xô chế tạo.

(Khẩu súng và phi đạn SA-7, còn có tên là 9K32 “Strela-2,” của Liên Xô, với đầu đạn có hệ thống hướng dẫn đến mục tiêu bằng tia hồng ngoại, là thế hệ thứ nhứt của phi đạn SAM dùng cho cá nhân, được sản xuất hàng loạt từ năm 1970 dù nó đã từng được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1968) =============

p378

Thật sự là không nhiều hơn một bao cát phình lên quá mức, nó thuôn dài trong hình dạng và trên một hoặc hai mẫu đất của nó là một số lượng khá nhiều thực vật dầy đặc; một số của nó khá cao. Việc nhìn sang con sông Cửa Việt từ mặt phía nam đến vùng đất phía bắc từ hai bờ tiếp giáp liền với đụn cù lao, đó là điều khó khăn để nhìn thấy chuyện gì đang xảy ra. Cù lao nầy cũng có thể là một điểm phòng thủ trong trường hợp kẻ thù cố gắng, dưới sự che chở của bóng tối, mang những cán binh đến đụn cù lao trước, và sau đó đưa họ đến bờ sông hướng nam. Anh Bình sẽ lấy Đại đội 3 từ lực lượng dự phòng và đặt họ vào trong tuyến phòng ở đó. Sự hoạt động trong Trung tâm Hoạt động Chiến thuật ở Ái Tử vẫn còn cuống cuồng lên, giống như việc giám sát các hoạt động khác nhau trong cùng lúc, cuộc đọ sức tay đôi xoay vòng không bao giờ kết thúc, một cuộc thi đấu vật chiến-đấu-đến-chết. Với sự sụp đổ của Doanh trại Carroll, có một tình hình ít hơn để phòng thủ ngoại trừ cuộc giao chiến còn lại tại mỗi địa điểm cá nhân chạm súng với kẻ thù ngày càng trở nên dữ dội hơn. Sự hoạt động ở Căn cứ Hỗ trợ Hỏa lực Mai Lộc, nơi mà Thiếu tá Jim Joy và ban tham mưu cố vấn của mình cùng với cái gì còn lại của Lữ đoàn 147 TQLC Việt Nam đang tiếp tục bám giữ chống lại, giống như mọi người khác, những điều không may tràn ngập, đang càng lúc gia tăng. Những binh lính TQLC thực sự đang sắp hết đạn ngay cả mặc dù đã từng có những nỗ lực phi thường trong việc tái tiếp tế. Đó là điều sắp sửa trở thành một quyết định bám giữ và chết hoặc thực hiện một cuộc rút quân vừa chiến đấu với những lực lượng nào đó có mặt ở đó và một kế hoạch tập hợp tại một điểm nào đó sau đó để chiến đấu một lần nữa trong một hoàn cảnh thuận lợi hơn. Sự cải thiện thời tiết tạo nên điều có thể cho sức mạnh Không quân của Mỹ cuối cùng bắt đầu trở thành một yếu tố quan trọng trong trận chiến. Những thách thức vào căng thẳng được thêm vào trong việc phối hợp tất cả sức mạnh Không quân đó sẽ làm nặng gánh hơn trên những nguồn tài lực đã thực sự được kéo mỏng ở Trung tâm Hoạt động Chiến thuật. Những người đồng minh cũng sẽ sớm nhìn thấy mức độ đầy đủ của cái gì mà những người Cộng sản có trong kho vũ khí chống máy bay của họ ngoài việc sử dụng phi đạn SA-7 trước đó. Trung tá Camper, trong suốt cuộc bốc quân bằng trực thăng của mình khỏi Doanh trại Carroll chỉ là một ít giờ trước đó, đã chứng tỏ sự hiện diện của tâm trí để gọi vào Trung tâm Hoạt động Chiến thuật và nói chuyện với Thiếu tá Brookbank. Anh ta đưa ra ý kiến rằng cuộc không kích trả đũa vào vị trí bị bỏ rơi sẽ đạt được kết quả khi 22 khẩu pháo đã bị bỏ lại phía sau mà không bị đóng đinh.

p379

(Hành động của việc “đóng đinh” một khẩu pháo là một cái gì đó mà tất cả những binh lính pháo binh được giáo dục trong trường. Hiếm khi họ thực sự cân nhắc suy nghĩ về việc phải làm một việc làm thực sự. Trong sự kiện cuộc bại trận sắp xảy ra, sự đầu hàng, hoặc khi một đơn vị sắp sửa bị tràn ngập, để giữ kẻ thù khỏi sử dụng những vũ khí bị tịch thu như bất cứ thứ gì, ngoại trừ cái cúp thi đấu hoặc món đồ dằn giấy rất lớn, phương thức gọi cho sự phá hủy khẩu pháo vẫn còn trong sự bàn cãi. Việc đó được hoàn thành bằng cách khóa nòng pháo phía sau và đặt vào một quả lựu đạn sinh nhiệt độ cao khi được bốc cháy xuống nòng thép. Những nhiệt độ cao tạo ra kết quả làm tan chảy và phong kín cái nòng và phần phía sau với nhau, làm cho vũ khí hoàn toàn vô dụng). Và vào lúc, sự đáp trả có thể được tạo ra, căn cứ hỏa lực cũng sẽ ngập đầy với những quân địch. Cuộc không kích chống lại khu vực xung quanh Doanh trại Carroll sẽ là nỗ lực chính yếu đầu tiên trong ngày. Sau gần bốn ngày của cuộc xâm lược trên quy mô toàn diện trong tỉnh Quảng Trị, từ cả mặt bắc và tây, những cuộc tấn công chính mà Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam đã dự đoán sẽ diễn ra trong các phần đất trung tâm và phía nam của đất nước, vẫn chưa trở thành hiện thực. Những trung đoàn cấu thành Sư đoàn 3 của Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) về cơ bản đã thất bại trong nhiệm vụ của mình. Trung đoàn 57 đã chạy trốn ở Đông Hà, Trung đoàn 56 đã đầu hàng tại Doanh trại Carroll và Trung đoàn 2 là một nhóm đủ loại không hình dáng, hỗn tạp vẫn còn ở trong vùng lân cận chung chung nào đó của Cam Lộ. Một trong những ba tiểu đoàn bộ binh của Trung đoàn 2 không thể tin nhờ vào. Tại Doanh trại Carroll, người ta tin rằng Quân Bắc Việt đã tịch thu, nguyên vẹn, hầu hết nếu không phải là tất cả trong số 22 khẩu pháo được đặt ở đó. Ngoại trừ những cuộc giao chiến của hai lữ đoàn TQLC Việt Nam, những lực lượng kết hợp cho đến nay trên cơ bản đã bị quét khỏi chiến trường bởi đối phương trong tỉnh Quảng Trị. Một sự đột phá chính yếu đầu tiên, đóng kín Xa lộ Một với sự phá hủy cây cầu Đông Hà, có nghĩa là nỗ lực tấn công của Quân Bắc Việt nhất thiết sẽ chuyển sang cây cầu ở Cam Lộ. Tiếng súng hải quân sẽ tiếp tục được sử dụng để chống lại nhữnglực lượng đó trong phạm vi tầm pháo. Joel Eisenstein và những người thuộc Đội Liên lạc Tầm súng Hải quân và Không quân ở Trung tâm Hoạt động Chiến thuật tiếp tục nhắc nhở Gerry Turley rằng những vị chỉ huy trên những con tàu khu trục khác nhau đang được phá bỏ mọi quy tắc trong cuốn sách; qua việc tiến vào gần bờ như họ có thể, qua việc vi phạm cái gì được gọi là “đường cong năm sải” (i.e. sải là cách đo độ sâu, bằng 1.83 thước) (Những con tàu cần một độ sâu nhất định dưới những mức giới hạn tối đa của chúng để hoạt động một cách an toàn. Bởi việc hoạt động trong vùng nước được xét là quá cạn, chúng có nguy cơ gây thiệt hại cho lớp vỏ của chúng, và đặc biệt là nhữmg vòm thăm dò bằng siêu âm ở phần mũi tàu dưới mực nước của chúng) để vắt ra mỗi centimeter cuối cùng của tầm tác xạ từ những khẩu pháo của họ, và đổ khối thép vào đối phương. Đối với Hải quân Mỹ, và đối với những người tin tưởng vào sự yễm trợ của họ, điều rất tốt là không có mối đe dọa của tàu ngầm trong vùng.

p380

Vị chỉ huy Lữ đoàn 258 TQLC, Đại tá Định, và vị cố vấn của ông ta là Trung tá Turley cũng sẽ phải tìm cách từ chối tiến đến cây cầu Cam Lộ. Với anh Turley đả kích việc theo hướng về nam vào buổi sáng, người đàn ông đảm nhận những nhiệm vụ của anh ta trong khi anh ta ở Sài Gòn, sẽ là Thiếu tá Jon Easley, một quân nhân TQLC Mỹ cao cấp kế tiếp ở Trung tâm Hoạt động Chiến thuật. (Thiếu tá Easley thực sự là vị cố vấn lữ đoàn cao cấp cho Đại tá Định và Lữ đoàn 258.) Cho đến khi anh ta ra đi, tuy thế, anh Turley sẽ vẫn còn phụ trách. Giống như tất cả những người khác, anh ta đã không ngủ hoặc anh ta cũng đã không có một bữa ăn khá thịnh soạn trong những ngày. Và anh ta vẫn phải đối phó với bệnh tiêu chảy vốn tiếp tục làm phiền anh ta. Ít nhất anh ta có thể mong chờ vào việc mang tất cả sức mạnh Không quân kết hợp đó để đè mạnh trên Quân Bắc Việt. Với rất nhiều dụng cụ và theo nghĩa đen, hàng chục ngàn cán binh hội tụ và trong vùng phía bắc trống trải của tỉnh Quảng Trị là một môi trường giàu mục tiêu, có lợi nhất, giàu nhất mà anh Turley đã từng chứng kiến. Chính là lúc hoàn trả, và với 12 tiếng đồng hồ hoặc hơn, cho đến khi anh ta có thể rời khỏi, có nhiều cuộc chiến đấu còn lại để tiến hành.

A- Lữ đoàn 369 Theo hướng về Phía bắc :

Lữ đoàn 369 đang đi về phía bắc. Những kết hợp kèm theo bao gồm tất cả những binh lính TQLC của Tiểu đoàn 1 Pháo binh, một đơn vị của Đại úy George Philip được bổ nhiệm. Với sự đưa ra lữ đoàn cuối cùng nầy, toàn bộ Quân đoàn TQLC Việt Nam, mỗi một tiểu đoàn bộ binh và tất cả những đơn vị hỗ trợ nguy ngập của nó, hiện thời sẽ phải can dự vào cuộc chiến đấu ở tỉnh Quảng Trị. Tuyến đường bay Tân Sơn Nhứt đông đúc với cái gì dường như là một hàng trên một hàng những chiếc C-130 của Không lực Hoa Kỳ; nhiều loại Hercules hơn Philip đã từng được thấy ở một nơi cùng một lúc. Chính là một bộ kỳ lạ của những hoàn cảnh mà trong đó Philip George, vốn là người đã rời khỏi Việt Nam ngay trước khi sự khởi đầu của cuộc tấn công nầy và trở lại chỉ một giờ trước đó từ chuyến nghĩ phép ở hải đảo Hawaii, đang bước vào lại một cuộc chiến tranh hoàn toàn mới.

p381

Hàng chục những chiếc máy bay gần nhất, tất cả có những cánh quạt đang quay, những chiếc cầu dốc phía sau của chúng hạ thấp hơn, và đang thực sự nhận vào những phần tử dẫn đầu của Lữ đoàn 369. Những chuyến bay về hướng bắc đến phi trường Phú Bài được nhét đầy với những người lính và vật liệu; mọi thứ mà những binh lính TQLC Việt Nam sẽ cần đến để chiến đấu và tiêu diệt Quân Bắc Việt với sự ngoại lệ lần nầy là họ bỏ lại những con heo và gà phía sau. Ít nhất là trong lúc nầy.

(Những chiếc máy bay vận chuyển khổng lồ Lockheed C-130 Hercules tại phi trường Tân Sơn Nhứt, Sài Gòn đang chờ đợi bốc quân) Tiểu đoàn 21… Bắn hạ phi cơ Tỉnh Quảng Trị Ngày 2 tháng Tư, năm 1972, lúc 1650 giờ Tất cả những sĩ quan TQLC Việt Nam đang phục vụ ở Trung tâm Hoạt động Chiến thuật Ái Tử đã từng chiến đấu trong dịp Tết ’68, và mọi cuộc tấn công lớn khác mà bất cứ ai quan tâm nhận định, về vấn đề đó. Trận chiến quy ước mà những người Mỹ từ lâu đã tước lấy và ghìm chặt –và can dự vào cuộc Tổng tấn công dịp Tết ’68 của Quân Bắc Việt– là một cơ hội để tiêu diệt kẻ thù trong một số lượng lớn với những phương pháp Tây phương rất truyền thống, thêm vào khả năng biết ứng dụng kỹ thuật và sự chính xác của Mỹ. Và họ đã làm được. Ngay cả mặc dù trận chiến đó cuối cùng sẽ bị mất đi trong giới truyền thông Mỹ và trên những khuôn viên đại học khắp nước Mỹ, những đường phố và các tòa nhà trong những thành phố và thị trấn, và những con đường mòn và những cánh đồng lúa ở vùng xa thành thị Việt Nam đỗ lai láng với máu Cộng sản; như có cái gì đó có vẻ giống như những mục tiêu không hạn chế để loại bỏ. Đặc biệt là trong số những sĩ quan nghiêm túc hơn và chuyên nghiệp dầy dạn và những người của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa, có một sự thỏa thích trong việc giết chết rất nhiều trong số những quỷ đỏ vào năm 1968. Xấu xa như những việc đã từng là thế, tồi tệ như ba trung đoàn bộ binh thuộc Sư Đoàn 3 của QĐVNCH đã từng làm cho đến nay, có một khía cạnh lợi thế nào đó đối với cuộc xâm lược nầy của đối phương. Những chiến trường của vùng phía bắc tỉnh Quảng Trị hiện thời sắp sửa hình thành theo cách tương tự như cuộc Tổng tấn công dịp Tết ’68; có lẽ trên một quy mô thậm chí to lớn hơn. Thật ra, chưa từng bao giờ trước đây trong kinh nghiệm của bất kỳ ai trong số của những người hiện đang có mặt, người Việt hay Mỹ, có rất nhiều lực lượng kẻ thù và sức mạnh hỏa lực được đặt ra trước mặt họ. Tuôn ra ngoài trong khoảng trống không. Với những sự cải tiến đang diễn ra, liên tục gia tăng theo thời tiết, anh Turley và nhóm của mình đang tìm kiếm cuộc săn bắn gà tây của sức mạnh Không quân bắt đầu, để “Hãy khóc cho sự tàn phá và hãy để cho chiến tranh bùng nổ”(pc 05) trên đám quần chúng của Tướng Giáp.

p382

Một đơn vị hỗn hợp máy bay thuộc Không lực Hoa Kỳ được tập hợp cho sứ mệnh Arclight lần đầu tiên đến trên vị trí của đối phương sau việc phá hủy cây cầu Đông Hà của anh Ripley, tuy nhỏ nhưng đầy ấn tượng. Có chủ ý tấn công các mục tiêu trên mặt đất trong vùng lân cận của Doanh trại Carroll, một tổ gồm ba chiếc máy bay thả bom khổng lồ B-52 (những ký hiệu gọi là Copper 1, 2, và 3) được yễm trợ đúng cách để đáp ứng vô số và như là các mối đe dọa chưa được biết rõ của kẻ thù. Những hoạch định sứ mệnh đã giao công việc cho hai chiến đấu cơ F-4 (những ký hiệu gọi là Cain 1, và 2) để đối phó với một mối đe dọa tiềm năng của chiếc phản lực cơ MiG của đối phương, hai chiếc chiến đấu cơ F-105G (những ký hiệu gọi là Coy 1, và 2) được trang bị với những phi đạn được trù định để loại bỏ những hệ thống thăm dò bằng sóng vô tuyến của phi đạn đất-đối-không (SAM) và những địa điểm của chúng, và hai chiếc phản lực oanh kích loại nhẹ EB-66 (những ký hiệu gọi là Bat 21, và 22. Bat 21 là chiếc EB-66C và Bat 22 là chiếc EB-66E) để trợ giúp với những biện pháp đối điện (ECM = Electronic Counter Measures) chống lại những phi đạn SAM được phóng vào lực lượng Không quân Mỹ.1 Việc bắn hạ chiếc phản lực cơ chiến đấu EB-66C của Mỹ, được biết đến bởi ký hiệu cuộc gọi Bat 21, xảy ra vào khoảng 1650 giờ địa phương. Chiếc phản lực cơ bị đánh trúng bởi một trong nhiều phi đạn SAM-2 được bắn vào toàn bộ nhóm phản lực cơ tham gia trong cuộc không kích Arclight từ những bệ phóng di động mà Quân Bắc Việt đã mang đến tuyến đầu. Trong số 9 chiếc phản lực cơ tham gia trong sứ mệnh riêng biệt nầy, Bat 21 là chiếc phản lực cơ duy nhất bị mất cho hỏa lực của đối phương. Trong số 6 người thuộc nhóm phi hành đoàn của chiếc Bat 21 –một phi công chính, một phi công phụ, và bốn Sĩ quan Chiến cụ Điện tử– chỉ có một người sống sót. Trung tá Iceal Hambleton, ở tuổi 53 rất già, là viên hoa tiêu (i.e. người định hướng) cao cấp trong phi đội của mình và nhận lấy một vị trí trong chiếc phản lực cơ của ông ta trong số những Sĩ quan Chiến cụ Điện tử.2 Như là một người duy nhất vốn tìm cách bắn mình ra một cách an toàn khỏi chiếc phản lực cơ Bat 21 và ngay sau khi cánh dù của ông ta được trải ra đã gởi ông ta trên đất liền, trong vòng hai cây số về phía đông bắc của cây cầu ở Cam Lộ, ông ta có lẽ sẽ trở thành một chiến binh trên bộ lâu đời nhất bên phía đồng minh. Cái nhìn toàn cảnh như mắt chim từ trên cao của ông Hambleton về thế giới bên dưới ông ta, khi ông ta từ từ hạ xuống dưới tàn cây đến nhằm bên của sông Cửa Việt, có thể đã khiến ông ta tự hỏi làm cách nào mà ông ta may mắn đã sống sót sau vụ nổ máy bay của mình. Nơi mà ông ta sắp đáp xuống, thì ngay ở giữa cái gì trông giống như hàng ngàn và hàng ngàn quân địch đang tiến bước. Khi ông ta tiếp tục việc hạ xuống cách dù của mình (từ một độ cao mà ông ta bắn mình ra, việc hạ xuống của ông ta mất đến nhiều phút), những chiếc phản lực cơ khác của lực lượng Không quân trong vùng lân cận theo dõi dấu vết tiến trình của ông ta và, theo những phương thức tiêu chuẩn hoạt động được thiết lập rõ ràng, ngay lập tức bắt đầu chuẩn bị nỗ lực Tìm kiếm và Giải cứu cho ông Hambleton. Sự hiện diện của ông ta trong vùng gần đó đối với cây cầu Cam Lộ sẽ thay đổi, hoàn toàn thay đổi, những thách thức của sự hỗ trợ hỏa lực đang đối mặt với những lực lượng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) dưới áp lực khắp tất cả vùng phía đông bắc của tỉnh Quảng Trị.

(Quái thú khổng lồ Pháo đài B-52 có thể mang hàng tấn bom đủ loại, nhưng là lại mục tiêu thú vị nhất của phi đạn SAM của đối phương)

(Phản lực cơ chiến đấu Phantom F-4 (Con Ma F-4), với tốc độ vượt âm thanh trong tầm dài là đối thủ từng gây kinh hoàng cho chiếc phản lực cơ MiG của đối phương)

(Phản lực cơ chiến đấu Survivor F-105G (Kẻ Sống sót F-105) (hoặc Republic F-105 Thunderchief), có tốc độ vượt âm thanh, được trang bị với những phi đạn đánh phá những địa điểm và hệ thống radar của phi đạn SAM)

(Chiếc phản lực cơ thả bom loại nhẹ, Douglas B-66 với hệ thống phá làn sóng radar rất hữu hiệu nên thường được đi theo hỗ trợ những chiếc phản lực cơ chiến đấu khác như F-105)

p383

B- Cuộc tải Thương bằng Trực thăng và cuộc Tìm kiếm và Giải cứu :

Cảm nghĩ của người Mỹ và sự cam kết cho điều tốt đẹp cơ bản, về lòng trung thành, và tinh thần hiệp sĩ không bao giờ rõ ràng hơn là được chứng minh trong chiến tranh, đặc biệt là trong thời hiện đại, so với trong những phương sách nghiêm túc dành riêng cho việc tìm kiếm và giải cứu những phi hành đoàn bị nạn, những cố gắng bốc quân ra hoặc củng cố các đơn vị trong tình trạng cực kỳ hiểm họa hoặc sắp bị tràn ngập, hoặc đơn giản là những hành động anh hùng hàng ngày, gần thói quen của những nhân viên đó tham gia trong tất cả những khía cạnh của những hoạt động tải thương và bốc quân khẩn cấp bằng trực thăng. Khái niệm của người Mỹ về việc đặt cao giá trị trên sinh mạng con người, cùng với việc giải cứu và cứu lấy những người đồng ngũ bị nạn, phần nhiều là một phần của những khuynh hướng văn hóa của họ như bất cứ điều gì khác. Sự cống hiến cho việc thu hồi những người bị thương, không để lại người nào phía sau –trong hầu hết những trường hợp– phần nào đó cũng là một chức năng của sự phong phú tương đối của đất nước. Khi những người Mỹ bước vào chiến tranh họ mang theo với họ toàn bộ cơ sở hạ tầng để chăm sóc cho những người bị thương. Họ đầu tư những nguồn tài lực khổng lồ vào trong việc điều trị khẩn cấp những thương vong trên chiến trường để bảo đảm khả năng sống sót cao nhất. Những người đàn ông đang chiến đấu với sự chịu đựng ngoan cường trong các khu rừng nhiệt đới và những cánh đồng lúa của Việt Nam có sự tự tin mạnh mẽ rằng nếu họ bị trúng đạn và yêu cầu cho việc tải thương, trời đất sẽ được di chuyển và nhiều người đàn ông dũng cảm không từng được biết đến đối với họ sẽ đánh liều bản nhân trong những hoàn cảnh hẹp hòi đến khó tin được để mang họ ra khỏi sự nguy hiểm. Sự xâm nhập gần như 24 tiếng đồng hồ của những chiếc trực thăng trong suốt bốn vùng quân khu Việt Nam thường bảo đảm rằng thậm chí khi một chim tải thương đặc trưng nào đó không có sẵn cho việc giao nhiệm vụ tức thời, những chiếc trực thăng khác gần bên cũng có thể có khả năng trợ giúp. Lực lượng “Kỵ Binh,” Những gã Tốt bụng, những chiếc Mũ Trắng, bất cứ họ là ai, có vẻ như luôn luôn có một người nào đó quanh đây –bên trên– bay vút vào và cố gắng cứu lấy một ngày, không cần biết đến những rủi ro hay hậu quả. Trong sứ mệnh riêng biệt của việc thu hồi những nhóm phi hành đoàn bị nạn và những lực lượng chuyên về những hoạt động đặc biệt đó đang làm việc phía sau những tuyến đối phương, có cả một mức độ khác của sức mạnh chiến đấu bổ sung mà qua đó chỉ có quốc gia với những nguồn tài tài lực gần như vô hạn có thể cố gắng mang đến chiến trường.

p384

C- Cuộc tải thương của Việt Nam :

Đối với người Việt Nam, vấn đề tải thương bằng trực thăng là một câu chuyện hoàn toàn khác biệt. QĐVNCH(pc 04) và những vị chỉ huy đơn vị TQLC(pc 02) Việt Nam thường xuyên buộc phải làm những quyết định sống chết liên quan đến những binh lính của riêng họ vượt ra ngoài những quyết định được thực hiện bởi những người Mỹ đương thời. Điều duy nhất là sự hoạt động của những nguồn tiếp liệu hiện có cho họ, hoặc không có sẵn cho họ, những thực tế về việc tải thương trong trận chiến cho một người lính bộ binh trung bình của QĐVNCH hoặc TQLC đưa ra ít cơ hội cứu xét hơn cho sự sống còn nếu anh ta bị thương nặng trong cuộc giao chiến. John Ripley, trong vai trò của mình như là một vị cố vấn cho Tiểu đoàn 3 và đang trải qua mọi thứ mà những người lính của Sói Biển đã trải nghiệm trong suốt nhiều tháng của anh ta trong chiến trường với họ, là nhân chứng cho cuộc giao tranh mà những người dân tại quê nhà ở Mỹ, thậm chí cả những người vốn đã từng phục vụ trong trận đánh hoàn toàn riêng lẻ khác những người đồng minh của họ ở Việt Nam, đã sẽ có sự khó khăn rất lớn trong việc chấp nhận sự kiện bỏ qua sự đồng cảm. Khi nhịp độ hoạt động gia tăng mãnh liệt hơn trong suốt cuộc Tổng tấn công Nguyễn Huệ,(pc 06) anh ta đã có được cái nhìn sâu sắc xa hơn vào trong sự gan lì chịu đựng về tinh thần và tình cảm của những người lính giống như anh Bình thường xuyên đòi hỏi phải chứng minh khi họ ứng dụng những nguồn tiếp liệu rất hạn chế trên chiến trường trong nỗ lực của họ đánh bại một kẻ thù dai dẳng. Rất ăn sâu vào tâm thức đối với những người Mỹ là khái niệm về cách điều trị y tế hợp với khuôn phép và về việc tải thương khẩn cấp, một khi có một người lính bị thương, đó là điều rất khó để tưởng tượng đến bất kỳ sự lựa chọn nào khác. Và tuy thế, đối với một người lính Việt Nam hoặc TQLC vốn là người bị thương nặng trong suốt cuộc giao tranh dữ dội đến điểm mà anh ta không thể đi đứng được và bên phía anh ta, ít nhất là trong lúc đó, đang trong tình trạng kết thúc bất lợi cho mọi thứ, những sự lựa chọn thì khá hạn chế. Điều đó có lẽ đã từng là những trường hợp đối với Việt Cộng hoặc Quân Bắc Việt, những tổ chức tương tự như thế, có sự thách thức về nguồn tiếp liệu theo cách gần giống nhau, vốn là những người hẳn sẽ có sự đồng cảm nhiều hơn cho những quyết định đau lòng mà những vị chỉ huy của miền Nam Việt Nam và những người lính phải bị bỏ lại phía sau thường bắt buộc phải làm thế. Tiến trình cho việc giải quyết những người lính bị bỏ lại phía sau thì khá cơ bản. Anh Ripley đã chứng kiến việc đó chỉ một ít lần trước khi có sự khởi đầu của cuộc tấn công nầy. anh ta không may đã sẽ phải chứng kiến việc đó một lần nữa trước khi cuộc tấn công hiện tại kết thúc.

p385

Những người Việt Nam, liên hệ đến tình huynh đệ chi binh của họ với người Mỹ, có một số ít trực thăng của riêng mình. Những chiếc trực thăng nào đó hiện có ở đó, trước tiên được sử dụng cho những mục đích chỉ huy và kiểm soát hoặc như là những con tàu bay có vũ khí. Sứ mệnh tải thương bằng trực thăng được xếp hạng thấp hơn những điều khác trong mức quan trọng. Những chiếc trực thăng quá ư là quý giá không thể phải để nguy cơ theo cách như vậy. Những vị cố vấn Mỹ, nếu có chiếc trực thăng Mỹ hỗ trợ gần đó, sẽ thường gọi vào cái gì mà họ có thể làm cho cuộc tải thương cho những người đồng minh của họ. Tuy nhiên, đến đầu năm 1972, với kết quả của việc cắt giảm viện trợ đang diễn ra và chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, khả năng đó nhanh chóng bị giảm đi. Khi một vị trí cần phải bỏ rơi, những người lính bị bỏ lại phía sau đó được xác định và đặt sang một bên. Ngay cả mặc dù điều đó có lẽ không đủ tiêu chuẩn để được viết xuống, anh Ripley phỏng đoán rằng đây là cách thức mà nó có khả năng được thực hiện trong các đơn vị khác của VNCH(pc 07) trong những tình huống cực kỳ khó khăn nhất. Tiến trình mà anh chứng kiến, được đề cao, tôn trọng, và theo cách của riêng nó, êm ái như nó có thể. Những người bị thương đã được tạo cho cảm thấy thoải mái như có thể. Thường có một loại trao đổi cuối cùng theo những nghi lễ nào đó giữa những đồng ngũ phải chia tay. Những thẻ căn cước và các giấy tờ quan trọng, những lá thư và hình ảnh, luôn luôn được giữ trong túi áo ngực bên trái của người lính, được nhận lấy để cho sau đó họ có thể đi đến thân nhân. Đối với anh Ripley, một người Tây phương, đó là điều thú vị để ghi nhận rằng những người lính được chia ra bởi đức tin của họ, những người theo Phật giáo và những người theo Công giáo. Mỗi người đều được đưa cho trái lựu đạn cầm tay. Những người theo Phật giáo được đưa cho những quả lựu đạn với những cái chốt vẫn còn trong chúng (Những cái chốt khóa vốn giữ cái thìa (i.e. tiếng lóng cho cái cần an toàn) ở nơi đó, cong vào, được làm thẳng ra và như thế dễ dàng rút ra hơn khi những người bị thương có thể đã không có sức mạnh để rút một cái chốt “bình thường” ra) để cho họ sẽ có sự lựa chọn vào thời gian nào đó sau nầy kết liễu mạng sống mình hơn là rơi vào tay của Quân Bắc Việt đang tiến bước vốn là những người có thể tra tấn trước khi giết chết họ dù thế nào đi nữa.

(Cái chốt và cái thìa (cái cần an toàn) của quả lựu đạn)

Đối với những binh lính có đạo Công giáo, sự chọn lựa tự sát được phòng ngừa bằng cách nhận lấy những trái lựu đạn với những cái chốt đã được rút ra và đặt chúng dưới phía sau đầu của mình, trong cái gáy cổ, với cái thìa hạ xuống để cho có đủ áp lực để giữ cho quả lựu đạn khỏi nổ tung. Miễn là có là áp lực trên cái thìa, quả lựu đạn sẽ không nổ. Một khi người lính bị bất tỉnh hoặc chết, đầu của anh ta có khả năng sẽ nghẹo sang một bên và trái lựu đạn sau đó sẽ được kích hoạt.

p386

Hầu hết những người Mỹ sẽ không bao giờ hiểu được. Đối với người Việt Nam, trận chiến nầy, mỗi trận chiến, là trận chiến cho sự sống còn. Sự quyết định rời bỏ những người lính phía sau, để ngầm mong đợi họ tự nổ tung hơn là phải đối mặt với sự kết thúc thậm chí còn đau đớn hơn nếu bị bắt, không phải là việc dễ dàng tiến hành. Có những chọn lựa nào khác, những sự tùy chọn nào khác hơn ? Trách nhiệm cho sứ mệnh được giao và cho những mạng sống của những người vẫn có thể chiến đấu đặt hết vào một người chỉ huy. Nếu người ta có thể bước trở lại, người ta có thể nhìn thấy một tình thương nào đó; chắc chắn là một thái độ đường hoàng trong sự lựa chọn duy nhất nầy.(pc 08) Ngay cả phía sau tấm màn che đó của tính chất quyết định nghiêm khắc, của tính chất khó nhìn thấy được bề ngoài, anh Ripley biết trái tim của anh Bình, và biết rằng anh ta quan tâm cho những bính lính TQLC của mình như thế nào. Anh ta chỉ có thể bắt đầu tưởng tượng đến sự quyết định đó mãi mãi sẽ đè nặng trên anh ta bao nhiêu. Trong việc liều lĩnh mạng sống của riêng mình vô số lần và trong những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, anh Ripley cảm ơn rằng anh ta cũng không phải làm những quyết định đó.

D- Những cố gắng để Giải cứu Chiếc phản Lực cơ Bat 21:

Sự cố gắng giải cứu được bắt đầu gần như ngay lập tức cho Iceal Hambleton, hiện thời được đề cập đến gần như biệt lệ và duy nhất như là “Bat 21,” đang trở nên rất khó khăn từ rất sớm. Bất cứ khi nào máy bay tấn công và dội bom của Mỹ được tung ra cho cuộc không kích giống như loại vừa tiến hành gần Doanh trại Carroll, công cuộc Tìm kiếm và Giải cứu là một phần toàn bộ của một kế hoạch sứ mệnh. Khi chiếc phản lực Bat 21 bị trúng đạn, có nhiều máy bay cống hiến cho cuộc Tìm kiếm và Giải cứu trong vùng lân cận, thêm vào đó là một số lượng của những trực thăng thuộc Quân đội Hoa Kỳ gần đó đang tiến hành sự hỗ trợ khác. Hai chiếc máy bay đầu tiên đáp ứng và cố gắng nhận lấy tín hiệu của chiếc phản lực Bat 21 là chiếc trực thăng Huey của quân đội, có ký hiệu gọi là Blueghost 39, và chiếc trực thăng võ trang Cobra AH-1 cho sự yểm trợ hỏa lực, có ký hiệu gọi là Blueghost 28. Không chiếc trực thăng nào chính thức là một phần của cuộc Tìm Kiếm và Giải cứu cống hiến. Giống như rất nhiều người trong số các nhóm phi hành đoàn trực thăng khác, các vị cố vấn TQLC cuối cùng nhờ vào chúng, chiếc trực thăng Blueghost 39 và 28 chỉ là hai nhóm phi hành đoàn thêm, sẵn sàng đi đến bất cứ nơi nào và làm bất cứ điều gì cho các những người bạn đồng hướng đang cần đến. Khi họ tiến đến gần khu vực cho việc bốc người, chiếc trực thăng Blueghost 39 đã nhanh chóng bị bắn hạ. Ba người trong số phi hành đoàn bốn người của nó ngay lập tức bị thiệt mạng trong chiến đấu.

p387

Một thành viên thứ tư của phi hành đoàn sau đó sẽ ra đầu thú ở Hà Nội như là một tù binh chiến tranh. Chiếc trực thăng võ trang Blueghost 28 cũng bị bắn trúng bởi hỏa lực trên mặt đất, buộc phải rút khỏi khu vực, nhưng đã có thể đâm xuống gần bờ biển mà không có sự mất mát về nhân mạng. Chiếc trực thăng võ trang Cobra hoàn toàn bị thiệt hại. Nỗ lực cho cuộc Tìm kiếm và Giải cứu cho Hambleton sẽ chỉ ủy thác lại từ lúc đó.2 Một khía cạnh khác của các hoạt động Tìm kiếm và Giải cứu “điển hình” là chúng hầu như luôn luôn được thực hiện trong những khu vực xa xôi; những vùng xa khỏi nơi mà các lực lượng đồng minh khác buộc phải tham gia trong trận chiến trên bộ. Trong những trường hợp được ra đó, đó là điều hoàn toàn hợp lý và thực tiển mà lực lượng Không quân sau đó kiểm soát tất cả sức mạnh Không quân và sự hỗ trợ hỏa lực trong phạm vi khu vực có chủ định giải cứu. Điều nầy được làm để giảm thiểu những cơ hội của các lực lượng thân thiện bị đánh trúng bởi bom đạn phe bạn. Những người Mỹ gọi nó là “Bầu trời to, đạn nhỏ.” Điều đó trở thành một phương thức hoạt động theo tiêu chuẩn thường có. Không có vấn đề khó khăn nào. Không có vấn đề khó khăn nào, trừ khi có một chiến trường bị bao phủ bởi những địch quân và tất cả dụng cụ trong cuộc tấn công và được dàn quân ra như là những mục tiêu hoàn hảo. Lúc đầu, có sự thông tin liên lạc rất khó khăn và vô hiệu quả giữa các lực lượng Tìm kiếm và Giải cứu của Không quân và Trung tâm Hoạt động Chiến thuật ở Ái Tử. Nếu đã có một cuộc thảo luận đúng đắn, người trên mặt đất sẽ có thể mạnh mẽ khuyến cáo chống lại việc thử cố gắng bốc người bằng trực thăng. Vấn đề giải cứu chiếc phi cơ Bat 21 đáng lý ra đã trở thành chỉ là một vấn đề thêm nữa mà ban nhân viên ở Trung tâm Hoạt động Chiến thuật Ái Tử phải tranh đấu với nó khi cuộc tàn sát của Quân Bắc Việt vẫn tiếp tục. Những người đồng minh biết vị trí chính xác của ông Hambleton trong vòng 100 m nhờ vào làn sóng vô tuyến tiêu chuẩn dành cho việc giải cứu mà ông ta có vốn được mang theo bởi tất cả phi hành đoàn. Vị trí của ông ta ở phía đông bắc cây cầu Cam Lộ đã đặt ông ta hoàn toàn chắc chắn trong vùng lãnh thổ đối phương. Sau việc hạ dù của ông ta, một số lượng máy bay trong công cuộc Tìm kiếm và Giải cứu đã thắt chặc vùng đất xung quanh vị trí của ông ta với những vũ khí “từ bỏ khu vực” nhằm gây nản lòng kẻ thù bỏ việc cố gắng bắt giữ. Đối với anh Turley và nhóm mình, thế giới xung quanh họ, cái thế giới đang thu hẹp chung quanh họ, thì lớn hơn nhiều, rất nhiều so với cái thế giới chỉ là chiếc phản lực cơ Bat 21. Với quá nhiều mục tiêu bây giờ đang tự lộ diện, cuối cùng sắp là lúc áp dụng toàn bộ biện pháp của sự hỗ trợ Không quân để triệt tiêu những kẻ xấu. Điều đó xảy đến như là một sự chấn động hoàn toàn đối với những nhân viên ở Trung tâm Hoạt động Chiến thuật Ái Tử khi, lúc khoảng 2115 giờ vào đêm Phục Sinh, nghe tin rằng Lực lương Không quân thứ 7 sắp sửa đảm nhận công cuộc Tìm kiếm và Giải cứu to lớn cho chiếc phản lực Bat 21. Điều đầu tiên mà họ làm là thiết lập một vòng tròn 27 km không-tác-xạ xung quanh vị trí được biết đến của ông Hambleton.

p388

Hai mươi bảy cây số. Hai mươi bảy cây số từ mọi hướng. Một khu vực mà kích thước bao gồm hầu như toàn bộ chiến trường. Bất kỳ người nào hiểu lý lẻ có thể nhìn thấy, thậm chí không cần nhìn vào bản đồ, rằng đây là điều ngu ngốc, điên khùng, hết sức là ngu xuẩn. Anh Turley cần phá hủy cây cầu Cam Lộ. Anh ta cần mang bất cứ sức mạnh hỏa lực gì để đặt trên các mục tiêu vốn ở mọi nơi khắp quang cảnh vùng phía bắc Quân khu I. Thay vào đó, họ hầu như đang gởi thiệp mời cho Quân Bắc Việt để tiếp tục cuộc xâm lược của họ gần như không bị kháng cự. Người nào đó bên trên chuỗi chỉ huy chắc chắn sẽ đồng ý. Chắc chắn có sự giận dữ bốc lên và sự nghiến răng bực tức khi tất cả sự hỗ trợ hỏa lực bị chấm dứt nhằm trợ giúp phương thức Tìm kiếm và Giải cứu của lực lượng Không quân. Những sĩ quan Việt Nam trong Trung tâm Hoạt động Chiến thuật cảm thấy sửng sờ. Những vị cố vấn Mỹ của họ sát cánh với họ ở đó cũng bị gựt nẩy người. Và tức giận. Đại tá Định, vị chỉ huy Lữ đoàn 258, vốn là người đã từng có mặt quanh đó, từng trải nghiệm đủ về sự kỳ lạ của chiến tranh, từng chứng kiến những sự khác biệt tế nhị và không rất tế nhị giữa người Đông phương và Tây phương, đứng bên cạnh anh Turley. Ông ta đưa lên ngón tay trỏ bên trái của mình, nhìn người bạn mình, và nói bằng sự cam chịu điềm tĩnh và sự bình thản chỉ đơn giản hỏi: “Chỉ một lần, hử?” Trong nét mặt và giọng nói của ông ta, anh Gerry có thể, ngay lập tức, cảm nhận được cả sự hiểu biết ôn hòa và sự hoài nghi hoàn toàn; một sự chấp nhận những niềm tin hào hiệp viển vông của người Mỹ và niềm thất vọng cay đắng cho sự thiếu cẩn trọng hoàn toàn mà qua đó những hành động nầy sẽ gây ảnh hưởng trên mọi người khác vốn không phải là người Mỹ, cũng như một số ít vị cố vấn Hoa Kỳ ở đó với ông ta.4 Anh Turley không chấp nhận như thế. Vị sĩ quan liên lạc Không quân của anh ta cũng thế, Thiếu tá Dave Brookbank thuộc Không lực Hoa Kỳ. Cùng với họ và những người khác trong Trung tâm Hoạt động Chiến thuật bắt đầu làm việc một cách điên tiết lên trên hệ thống điện thoại và điện đài qua việc gọi trở lại đến Đà Nẵng và Sài Gòn nhằm thay đổi tình hình yễm trợ hoả lực. Không có ai hiện có để nhận điện thoại, ít nhất là lúc ban đầu. Những nhận xét về điều không may được quy cho một vị tướng lãnh của lực lượng Không quân ở Đà Nẵng có lẽ là một sự phản ảnh chính xác về việc hầu hết những người Mỹ bình thường cảm thấy như thế nào vào lúc tháng Tư năm 1972. Vị tướng lãnh lúc ban đầu nói theo sự giả định rằng có hai người sống sót không phải là một: “Tôi thà mất hai sư đoàn của QĐVNCH(pc 04) hơn là hai phi hành đoàn của Lực lượng Không quân Hoa Kỳ.”5 Ai có thể trách ông ta hoặc hầu hết những người Mỹ vì những tình cảm đó ? Sau rất nhiều thời gian, rất nhiều máu và ngân quỹ được đầu tư… và cho cái gì? Đến một mức độ mà nỗ lực của Mỹ ở Việt Nam được quan tâm đến, có ít điều mà bất cứ ai có thể chỉ ra đó là điều thực tiển và đích thực.

p389

Và tuy thế, những lời nhận xết của vị tướng lãnh cũng phản ảnh thái độ của những người Mỹ vốn là những người đến Việt Nam, đưa ra mọi thứ mà họ có, và dù sao đi nữa đã bỏ qua kiểu loại những kết nối cá nhân như Gerry Turley, John Ripley, George Philip, và hầu hết những người khác vốn phục vụ trong khả năng cố vấn, cuối cùng đã đến rất muộn trong cuộc chiến tranh với những công dân Việt Nam hoàn toàn cam tâm cho việc giữ đất nước của họ tránh khỏi sự thống trị của Cộng sản. Cùng với điều đó, những người Việt Nam không số cử tri ủng hộ theo tự nhiên trong số dân cư Mỹ đồng cảm với nguyên nhân của họ –giống như dân Israel đã làm với hàng triệu người Mỹ gốc Do Thái– và càng lúc càng ít hơn những nhà chính trị có quyền lực sẵn sàng đánh đổi tiếng tăm của mình một cách liều lĩnh để hỗ trợ một tình hình ngày càng không được lòng dân. Gerry Turley và Dave Brookbank làm việc trên điện đài vô tuyến và điện thoại một cách điên cuồng để tìm một người nào đó có thẩm quyền cuối cùng hiểu được những cảm nhận của họ. Trước mặt mình, anh Turley vẫn còn phải đối mặt với nhiều sư đoàn Bắc Việt vẫn có khuynh hướng về sự hủy diệt Sư đoàn 3 của QĐVNCH –mà đã gần như được hoàn thành– và cả hai người vẫn cứng đầu bám lấy những lữ đoàn TQLC. Phía sau anh ta, là tất cả những người thuộc ban nhân viên của Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam và bất cứ ai khác ở đó vẫn còn cắt tỉa và thách thức tính chất rất ư hợp pháp của anh. Sự hỗ trợ hỏa lực duy nhất mà nhóm nhỏ của anh Turley có thể tập hợp, là cái gì đó còn lại mà pháo binh của QĐVNCH và TQLC(pc 02) Việt Nam ở đó bỏ lại, vốn không là rất nhiều. Bẻ cong các quy tắc, anh ta và những vị cố vấn TQLC Mỹ của mình thay vì đặt một vòng tròn 6 km xung quanh chiếc phản lực Bat 21, đảm nhận trách nhiệm cho sự an toàn của ông ta , và bắn ra theo những sứ mệnh nào đó như họ có thể. Bởi vì tiếng súng Hải quân có lẽ không có thể đạt đến vị trí của chiếc phản lực Bat 21, anh Gerry bảo đảm rằng Joel Eisenstein và nhóm của anh ấy tiếp tục ứng dụng những nguồn tiếp liệu đó bất cứ khi nào có thể. Đó là tất cả những gì mà anh ta có thể làm, tất cả những gì mà họ có thể làm, khi Mùa Phục Sinh đang đến một kết thúc không kiểu cách theo nghi thức ở vùng phía bắc tỉnh Quảng Trị. Anh Turley cần nghĩ ngơi một ít trước khi anh ta tự trình diện trước ban nhân viên của Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam mà anh ta chắc chắn rằng họ sẽ rất vui lòng đóng đinh anh ta vì những tội mà anh ta không chắc chắn rằng anh ta đã phạm phải. Khi anh ta cố gắng bắt đầu thối lui, chuẩn bị để có được một vài ít giờ ngủ nghê –lần đầu tiên của anh ta trong bốn ngày– anh ta ngoạm nhiều lần bữa ăn cá nhân loại C, nhưng không có cảm giác ngon miệng để xong hết nó.

p390

Lấy cái áo khoác trận của mình để sử dụng như là một cái gối, Gerry tìm thấy một chỗ trên sàn nhà trong một phần xa nhất của căn hầm. Kiệt sức như anh ta cảm thấy, giấc ngủ không đến một cách dễ dàng. Ngay cả với cơ thể của anh ta trên cơ bản như không hoạt động, tâm trí của anh ta vẫn chạy đuỗi. Anh ta tự hỏi, gần như đăm chiêu, khi anh ta đau đớn tự ý làm chậm lại, anh ta có thể làm gì khác hơn để bảo đảm sự sống còn và điều gì khác có thể xảy ra không như dự tính kiểu như là bị tràn ngập của họ. Anh ta sẽ có câu trả lời cho câu hỏi đó không quá lâu.

(Một kiểu áo khoác trận của binh lính Hoa Kỳ ở Việt Nam)

Khu vực không được bắn xung quanh chiếc phản lực Bat 21 cuối cùng sẽ được rút giảm trở thành một khu vực vẫn còn khá mở rộng nhưng dễ quản lý hơn. Trung tá Iceal Hambleton cuối cùng được giải cứu 11 ngày sau đó. Đó là một cuộc giải cứu được thực hiện có thể có được bởi tài khéo léo, sự kiên trì, máu và mồ hôi của vô số những người rất dũng cảm, cả người Mỹ và Việt Nam. Đến lúc việc tìm lại được ông ta được hoàn thành, sự nỗ lực của công cuộc Tìm kiếm và Giải cứu ông ta sẽ là cái giá đắt nhất trong lịch sử Chiến tranh Việt Nam. Mười một người Mỹ bị thiệt mạng và một người trở thành tù binh chiến tranh như là một kết quả trực tiếp của nỗ lực Tìm kiếm và Giải cứu chiếc phản lực Bat 21. Thêm vào sự tổn phí về nhân lực Mỹ, nhiều máy bay đã bị mất và nhiều, rất nhiều máy bay khác phải gánh chịu sự thiệt hại nặng nề từ hỏa lực chống máy bay. Một sự bi thảm to lớn nhất, một điều không được biết đến to lớn nhất của toàn bộ bản báo cáo chi tiết, dài về chiếc phi cơ Bat 21, tuy nhiên sẽ là một cái giá không thể định được phải trả bởi những người thường dân Việt Nam và những binh lính của QĐVNCH bị mất đi như là một kết quả của sức mạnh hỏa lực không được sử dụng chống lại những lực lượng đối phương khi nó đáng lý ra và đã nên phải được dùng đến, và những sự kiện có thể đã biến chuyển như thế nào nếu những nỗ lực được kết hợp nhằm ngăn chận Quân Bắc Việt không được bị cản trở quá nhiều trong suốt gian đoạn đó.

(Trung tá phi công 53 tuổi của chiếc phản lực Bat 21 được tìm lại sau 11 ngày qua công cuộc Tìm kiếm và Giải cứu của Hoa Kỳ với cái giá đắc nhất trong lịch sử Chiến tranh Việt Nam cho cả những binh lính Mỹ, Việt Nam, và những thường dân, vào năm 1972)

E- Trở lại Trận chiến cho Đông Hà:

Đối với người tham gia chống lại cuộc Tổng tấn công Nguyễn-Huệ(pc 06) của Quân Bắc Việt, ngày Chúa Nhật Phục Sinh năm 1972 là một ngày dường như không có sự kết thúc. Gần địa điểm của cây cầu Đông Hà vẫn còn đang cháy (cấu trúc của cây cầu sẽ cháy trong nhiều ngày), trận chiến tiếp tục lại theo một cách khác hơn nó đã từng trước khi John Ripley có thể để phá hủy nó. Việc bị rơi máy bay của Không lực Việt Nam bởi một loại vũ khí mới nào đó, chưa bao giờ thấy trước đây và việc bắt giữ viên phi công theo sau bởi Quân Bắc Việt làm giảm sự hả lòng mà những người của anh Bình đã tạm thời thích thú.

p391

Cái đà mũi nhọn của Quân Bắc Việt rõ ràng đã bị cùn bởi sự phá hỏng cây cầu Đông Hà. Cuộc giao chiến ở bờ bắc dòng sông đã chậm lại một cách đáng kể, gần như hoàn toàn, một khi cây cầu đã bị thổi tung. Điều rõ ràng đối với cả anh Ripley và anh Bình là những người chỉ huy đơn vị đối phương có lẽ đang chụm đầu và thảo luận về nhựng sự lựa chọn khác của họ hoặc, có nhiều khả năng hơn, đang chờ đợi sự chỉ đạo thêm nữa từ một nơi nào đó cao hơn trên chuỗi chỉ huy nặng nề của Cộng sản. Đối với anh Ripley, kẻ thù dường như tạm thời đã mất hứng thú trong cuộc chiến đấu. Có lẽ, cuối cùng họ đã được lệnh bảo tồn số đạn dược. Những chiếc xe tăng của Quân Bắc Việt, ở gần ngay khu vực cây cầu, dù sao đi nữa không có quá nhiều mục tiêu đáng với những khẩu pháo chính của họ khi những người của anh Bình được phân tán ra và ẩn kín trong những hố cá nhân. Không một chiếc xe tăng nào trong số những chiếc T-54 có những phát đạn rõ tầm đến một vài chiếc thiết giáp M-48 của QĐVNCH vẫn còn được trộn lẫn vào trong những binh lính TQLC gần bờ sông. Ngay cả mặc dù có một số lượng lực lượng đối phương đáng kể được dàn trận ra chống lại những binh lính TQLC ngay ở đó tại đầu cầu, khối lượng khổng lồ của các lực lượng Bắc Việt vẫn được dàn hàng, nằm phòng dự nhờ cây cầu bị phá hủy, trên Xa lộ Một hoặc trên những vị trí ngay bên cạnh nó mở rộng ngỏ trở lại con đường. Họ là một mục tiêu thẳng hàng hoàn hảo từ mặt bắc đến mặt nam cho một cuộc không kích nếu đã có; mặc dù có mối đe dọa của hỏa lực chống máy bay. Kẻ thù hiện thời thực sự chỉ có hai sự lựa chọn chiến thuật. Họ có thể chờ đợi cho đến khi trời tối và cố gắng thử gởi các nhóm bộ binh vượt qua sông trong những chiếc bè, những chiếc ghe nhỏ hoặc bất cứ vật dụng làm bằng tay nào khác mà họ có thể có; hoặc chỉ đơn giản là theo hướng về phía tây đến Cam Lộ. Nơi mà anh Bình không thể giáp mặt trực tiếp ngay lập tức, anh ta sử dụng những cái điện đài vô tuyến của mình và những người chạy đưa tin trong việc tiếp tục hướng dẫn những hoạt động chiến thuật của các đại đội của mình. Anh ta cũng duy trì sự tiếp xúc liên tục với Đại tá Định ở Trung tâm Hoạt động Chiến thuật. Anh Bình và anh Ripley bắt đầu thảo luận việc dời chổ có thể được cho một số đơn vị để đáp ứng những thay đổi có khả năng có trong trường hợp Quân Bắc Việt chuyển nỗ lực của họ hướng về phía tây thành phố. Cây cầu đường sắt cũ, cách khoảng hai cây số ở thượng nguồn, vẫn đứng vững và có khả năng giải quyết vấn đề giao thông nhẹ. Cây cầu đường sắt thì quá xa trong nội địa đối với Hải pháo để đánh trúng. Và với năng lực chống máy bay rõ ràng là mới và cực kỳ ghê gớm, không có khả năng là những người của Sói Biển sẽ nhận được phần nhiều trong cách của bất kỳ sự hỗ trợ nào của Không quân trong tương lai. Cây cầu đường sắt cũng quá xa khỏi cuộc giao chiến hiện thời không thể gởi một đại đội độc lập hoặc thậm chí Nhóm Chỉ huy Bravo vào giai đoạn nầy của trận chiến.

p392

Ngay cả mặc dù tiểu đoàn của anh Bình chẳng bao lâu sẽ quay lại cách thực hành thường khi việc tách ra những lực lượng thành nhóm AlphaBravo, anh ta hiện thời cần tập trung lực lượng nào đó mà anh ta có thể, ở trong và xung quanh Đông Hà. Đại đội 2 duy trì ở sườn phía tây của Sói Biển cách nhiều trăm mét về phía tây cây cầu. Anh Bình di chuyển Đại đội 3 từ vị trí dự bị vào trong tuyến phòng cách khoảng vài trăm mét trên thượng lưu từ cây cầu đang bốc cháy. Anh ta đặt họ gần bờ sông đối diện trực tiếp với cồn đất có hình bao cát trong trường hợp Quân Bắc Việt cố gắng vượt qua từ sườn phía bắc đến cồn đất và sau đó đến sườn phía nam. Đó là một động thái rõ rệt khi thực vật của cồn hình bao cát che che giấu tầm nhìn từ một trong hai bên bờ sông. Đại đội 1 và 4 vẫn còn ở lại những vị trí trước đó của họ, mặc dù anh Bình đã cho mỗi đại đội mở rộng hai cánh sườn trống trải của họ để bao phủ một khu vực rộng lớn hơn, và cũng để phòng thủ chống lại việc vượt qua vào ban đêm theo dự đoán. Anh Bình vẫn có sự bám giữ vào vị chỉ huy tiểu đoàn xe tăng của QĐVNCH vốn là người tiếp tục hợp tác với lòng nhiệt tình hoàn toàn kém hơn. Hầu hết những chiếc xe tăng được dàn trải lại vào trong những khu vực được xây dựng lên của Đông Hà nơi mà họ có thể quan sát và bắn vào các mục tiêu của đối phương từ phía sau cái gì che chắn và đống đổ nát có. Những yêu cầu về hậu cần cho việc duy trì tất cả lực lượng thiết giáp đó bảo đảm rằng việc tái tiếp tế và tải thương cho những binh lính TQLC(pc 02) của anh Bình suôn sẻ hơn so với việc đã từng được thực hiện không cách nào khác hơn. Trung úy Nguyễn Lương và những người của mình được lệnh ở lại tại chỗ suốt buổi chiếu tối trong vị trí ngăn chận bên kia đường cách vài trăm thước trở lại từ cây cầu. Khi anh Bình đã trải ra Đại đội 1 và 4 trên mặt trận phía trước rộng lớn hơn, dài hơn ngay dòng sông, trung đội của anh Lương hiện thời có trách nhiệm về vùng đất có nhà cửa ngay phía bắc của mình, vốn bao gồm những ngỏ vào cây cầu Đông Hà đang bốc cháy. Thậm chí không cần phải bảo, điều hiển nhiên đối với anh Lương là Quân Bắc Việt có nhiều khả năng sẽ cố gắng vượt qua gần cây cầu khi màn đêm buông xuống. Đó là điều gì mà anh ta đã sẽ ra lệnh nếu anh ta là một trong những người cầm đầu Quân Bắc Việt. Điều đó cho vị trung đội trưởng mới, vốn là người đã từng chứng kiến nhiều hơn so với phần chia sẻ của mình cho hoạt động trong ngày nhưng chưa phải tham gia hoặc dẫn dắt những người của mình trong trận chiến từ địa điểm của anh ta chỉ ngay phía sau cây cầu, một cảm giác tự tin được thêm vào là một trong những chiến xa M-48 đã chiếm giữ một vị trí ban đêm liền kề với đồn chỉ huy tí hon của mình gần với cái gì mà bây giờ đã là một tiệm “lúc trước” bán vỏ xe.

p393

Không ai đã sẽ từng cáo buộc các lực lượng Bắc Việt trong cuộc công kích ở Đông Hà về việc thiếu lòng nhiệt tình. Không ai sẽ đặt câu hỏi về sự bám giữ tạm thời hoặc sự tập trung của họ vào chiến thắng; những thương vong mà họ đã gây ra cho tất cả những người thường dân vô tội bị đổi thành những người lánh nạn vốn là những người đã thực sự chạy trốn khỏi khu vực hoặc nằm chết nơi mà họ bị tàn sát, là một bằng chứng về điều đó. Những người Cộng sản muốn Đông Hà. Đông Hà là chìa khóa cho phần còn lại của tỉnh Quảng Trị. Nếu họ có thể nắm lấy và kiểm soát Đông Hà, có khả năng là họ có thể chiếm lấy thành phố Quảng Trị, và sau Quảng Trị, một lần nữa họ sẽ cố gắng chiếm lại Huế. Ở giai đoạn nầy của cuộc tấn công của họ, điều cần thiết để chiếm lấy phần phía bắc xa nhất của đất nước cho cả khối số lượng lý do; tất cả trong số những lý do là chính trị, tất cả chúng là tâm lý. Ở giai đoạn nầy của cuộc tấn công của đối phương, điều cần thiết là một số ít những người lính miền Nam phòng thủ còn lại bám giữ tỉnh cực bắc của đất nước mình cho cả khối số lượng lý do; tất cả trong số những lý do là chính trị, tất cả chúng là tâm lý. Sự khác biệt chính giữa hai bên, khi bóng tối băng qua phong cảnh ở Bắc Quân khu I, đó là chính quyền Sài Gòn có rất ít người bảo vệ nó tại điểm tiếp xúc hơn so với những kẻ xâm lược quyết cố gắng chiếm lấy nó. Tùy thuộc vào quan điểm của mỗi người, Quân Bắc Việt hoặc được thán phục cho sự tập trung của họ vào việc nắm lấy Đông Hà, hoặc chịu trừng phạt cho những cách thiếu sáng tạo mà qua đó ban lãnh đạo của họ theo phong cách kỵ sĩ xua những người đàn ông vào trong trận chiến tại điểm tiếp xúc nơi mà hoàn cảnh may mắn hiếm hoi trong giây lát không nằm về phía thuận lợi của họ. Có lẽ, chính là vì lòng sùng mộ mù quáng của những người Cộng sản theo sau bất cứ cái gì là đường lối của đảng hiện nay, không có khả năng đi lệch khỏi một kế hoạch được định trước và dám liều đưa ra những lời chỉ trích cấp trên. Kế hoạch của họ kêu gọi cho việc chiếm lấy Đông Hà tại cây cầu Đông Hà. Với cây cầu hiện thời đã mất, đó là điều hơn hẳn một thử thách. Thậm chí là thế, họ tiếp tục với tinh thần tấn công mặt trước của họ hơn là sự cố gắng ban đầu đi vòng quanh, hoặc đi đến một kế hoạch khác nào đó thay thế. Những cuộc tấn công vào ban đêm gần như không ngừng nghĩ, gần như tự sát ngay vào trong những cái răng của con Sói Biển đang ẩn mình trong hố đất thì không có hiệu quả; giống như những con kiến đỏ điên cuồng đang tấn công vào một vô tri vô giác nào đó được bỏ xuống trên tổ của chúng bởi những trẻ nhóc đang thích thú xem cảnh phản ứng điên rồ, vô nghĩa của những sinh vật đó. Trong khi một số ít người nói xấu về lòng dũng cảm của những cá thể cán binh của Quân Bắc Việt vốn là những người tiếp tục làm theo những mệnh lệnh, không có sự nghi ngờ nào về những người cha và mẹ ở nơi nào đó trên phía bắc mà không có một tiếng nói than phiền về cách thức vô nghĩa mà trong đó những đứa con của họ bị tán sát.

p394

Đối với những người của Sói Biển vốn là những người trải qua cái đêm của ngày 2 tháng Tư năm 1972 gần ven sông Cửa Việt, có ít hoặc không có giấc ngủ nào ngoại trừ một số lượng hài lòng không nhỏ trong việc biết rằng họ đã hiểu được tốt hơn kẻ thù đáng ghét của họ. Ít nhất là trong lúc nầy. Cuộc chiến đấu đã dần giảm xuống một ít sau việc phá hủy cây cầu Đông Hà. Khi anh Bình và vị cố vấn đáng tin cậy của anh ta làm việc với nhau để bảo đảm rằng bốn đại đội súng trường của họ được tái cung cấp lương thực và đặt vào vị trí tốt nhất để đẩy lui những kẻ xâm lược đó vốn là những người chắc chắn sẽ đến trong đêm, ở đó tiếp tục là một cuộc trao đổi chậm chạp nhưng đều đặn của tiếng súng trường và súng máy giữa những kẻ xâm lược và người bảo vệ. Không có cuộc giao chiến nào mãnh liệt hơn. Những người của Sói Biển không phải chờ đợi lâu sau khi trời tối trong việc đẩy lui kẻ thù. Ngay cả mặc dù rõ ràng là Quân Bắc Việt có thể xua người băng qua sông tại cây cầu đường sắt cũ, và họ đã làm, họ dường như không thể chống lại ý định sắp sửa trực tiếp chống lại những nơi phòng thủ của Tiểu đoàn 3 vốn đã đặt vào vị trí trước mặt họ. Thật ra, họ có thể xua người tràn lên cồn đất nhỏ giữa sông Cửa Việt vốn là những người sau đó cố gắng vượt qua khoảng cách ngắn hơn đến bờ nam. Họ cũng có thể xua người vượt qua tại cây cầu Đông Hà hoặc gần đó. Đối với những binh lính TQLC của Đại đội 1 và 4 gần cây cầu, và những binh lính TQLC của Đại đội 3 đối diện với cồn đất, buổi chiều tối cho phép sự nghỉ ngơi chút ít. Việc đó sẽ không được cho phép cho đến khi ánh sáng sớm của buổi sáng hôm sau mà qua đó họ sẽ nhận ra “cuộc săn bắn gà tây” nào đó mà họ đã được tham gia vào. Họ sẽ không bao giờ biết chắc chắn có bao nhiêu những con quỷ đỏ mà họ đã giết khi mà quá nhiều người chết và bị thương, Quân Bắc Việt cuối cùng bị quét ra biển bởi những dòng nước đang chảy khá nhanh của sông Cửa Việt ngay ở đó tại Đông Hà. Những binh lính TQLC tìm thấy một số ít xác còn toàn thây; thay vì hầu hết phần cơ thể của những quân địch theo nghĩa đen bị thổi bay thành những mảnh từ tình hình náo loạn ồn ào lúc tối. Hành động hợp pháp ban đầu của anh Lương xảy ra vào đêm đó. Với sự lợi ích của ống dòm nào đó thấy được trong rất thô nhưng đủ thích hợp từ chiếc xe thiết giáp kế bên vị trí của anh ta, anh Lương và những người của mình dọ thám sự xuất hiện của cái gì có thể là một đội trinh sát. Tấn công vào chúng bằng nhiều súng phóng lựu M-79 một khi họ nhô lên trên mặt đất sau khi rời khỏi nơi khá an toàn của bờ sông, những quân thù vốn là những người bị giết giết trong vòng một ít giây đầu tiên bị tấn công bất ngờ.

p395

Anh Lương không chắc nhưng những người của anh ta nghĩ rằng một số ít người sống sót, nếu có, rút lui trở lại vào trong dòng sông. Anh Lương cuối cùng đã đổ máu lần đầu tiên chống lại kẻ thù không đội trời chung của mình. Cùng lúc với các nỗ lực của Quân Bắc Việt lẻn đưa những đơn vị bộ binh qua sông ở những chỗ khác nhau đối diện với thị trấn Đông Hà, họ cũng bắt đầu chuyển đổi một phần nào đó trong số những lực lượng thiết giáp của họ đến phía tây hướng về Cam Lộ. Con đường vốn chạy về phía tây trên bờ phía bắc của sông Cửa Việt và song song với dòng sông, ít nhất là một phần có khả năng chịu được những chiếc xe tăng T-54 khổng lồ, thì không rộng gì lắm. Nó thực sự không khác gì hơn một con đê ruộng, trong hầu hết những nơi khác khó mà đủ rộng cho một chiếc xe tăng đi qua. Anh Ripley có thể nghe những âm thanh kêu lách cách của thiết giáp đối phương từ bên kia con sông. Qua phát đạn đầu tiên của sứ mệnh phát pháo của anh ta qua tiếng súng Hải quân đầu tiên trong đêm, họ ghi được điểm một cách kỳ diệu cho cú đánh trúng ngay trên một chiếc xe tăng đang di chuyển về phía tây. Bản thân con đường hoàn toàn thẳng hàng đối với những con tàu ngoài bờ biển vì thế họ có thể dễ dàng bắn theo chiều dọc theo trục chạy dài đông-tây của nó. Chiếc xe tăng bốc cháy thắp sáng một khu vực xung quanh, làm cho nó dễ dàng hơn cho anh Ripley nhìn thấy và điều chỉnh những đợt pháo tiếp theo vào trên những mục tiêu khác. Những con tàu với tiếng súng Hải quân một lần nữa xâm phạm “đường cong năm sải” để cho những binh lính TQLC phần lớn sự bảo vệ và hỗ trợ như họ có thể. Các mục tiêu mà họ hiện thời đang đã ghi được những phát đánh trúng thì ngay hoặc rất gần tầm tác xạ tuyệt đối tối đa của những khẩu pháo trên những chiếc tàu. Anh Ripley muốn mỗi thước tây cuối hoặc mét của tầm đạn mà anh ta có thể có được; và đã có được chúng. Thêm vào Hải pháo đặc biệt hiệu quả, sứ mệnh Arclight của máy bay thả bom B-52 được điều hành chống lại khu vực về phía bắc con sông. Những quả bom bất chợt gây tác động trong vòng tít tắt của những cú dập của Hải pháo. Hàng trăm và hàng trăm quả bom đánh trúng một số lớn những chiếc xe và cán binh Bắc Việt. Anh Ripley, anh Bình, và tất cả những người của Sói Biển ở bờ nam của con sông có thể nghe những tiếng kêu khóc thê lương tiếp theo của những người bị thương và sắp chết. Hoạt động của trận chiến trên bộ sẽ tiếp tục, không liên tục nhưng có những lần với cường độ cực mạnh, suốt đêm. Với tất cả điều đó đang diễn ra, anh Ripley và anh Bình thực sự có thể ổn định những tuyến phòng tiểu đoàn và cố gắng nghĩ ngơi chút ít. Anh Bình có lòng tự tin rất lớn vào những vị chỉ huy đại đội của mình và những binh lính TQLC của Sói Biển một cách không sai. Anh ta và anh Ripley đã làm tất cả những gì mà họ có thể để chuẩn bị tiểu đoàn cho bất cứ điều gì có thể xảy ra trong suốt đêm.

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú : pc 01_ anh Jack : là một quân nhân TQLC Việt Nam được chọn là người cận vệ cao cấp của Thiếu tá Lê Bá Bình, vị tiểu đoàn trưởng của Tiểu đoàn 3 TQLC, sau nầy anh ta cũng làm cận vệ cho cả Đại úy cố vấn Ridley. Tên Jack là do Đại úy Ridley đặt cho anh ta để dễ gọi (được nhắc đến trong phần 27, p370).

pc 02_ TQLC : Thủy quân Lục chiến. pc 03_ Phi công Cánh thủ : là người phi công trên chiếc máy bay luôn theo sau hoặc bên cạnh chiếc máy bay dẫn đầu để bảo vệ, che chở, tương ứng với nhau theo đội hình chiến lược của Không quân.

pc 04_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa. pc 05_ “Hãy khóc cho sự tàn phá và hãy để cho chiến tranh bùng nổ” : là câu viết của văn hào William Shakespears trong tác phẩm “Julius Ceasar” với nguyên văn là “Cry ‘Havoc!’, and let slip the dogs of war.”

pc 06_ Cuộc Tổng tấn công Nguyễn Huệ : chính là cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh mà tác giả viết theo cách gọi của Quân Bắc Việt.

pc 07_ VNCH : Việt Nam Cộng hòa. pc 08_ “chắc chắn là một thái độ đường hoàng trong sự lựa chọn duy nhất nầy” : đây là sự khẳng định của tác giả qua lời kể lại của Đại úy cố vấn John Ripley cho Tiểu đoàn 3 TQLC Việt Nam, cho thầy rằng những quân nhân bị thương quá nặng phải bị bỏ lại và tự sát bằng quả lựu đạn được sắp xếp sao cho nó có thể nổ tung một cách dễ dàng nhất hầu tránh khỏi bị Quân Bắc Việt bắt được và hành hạ đến chết. Đó là sự lựa chọn không thể tránh được dù phải đau lòng thực hiện. Nhưng hoàn toàn không có ý định giăng bẫy cho Quân Bắc Việt phạm phải như việc họ luôn luôn đỗ cho QĐVNCH gài lựu đạn dưới thây người chết. Thật ra, chính họ là những người cố tình làm việc đó khi họ không thể kéo hết xác chôn vùi đâu đó hầu giấu đi những thiệt hại về số lượng cán binh bị giết. Và đó cũng là cách trả đủa binh lính Hoa Kỳ trong việc “đếm xác chết.” Họ mượn xác chết để lấy mạng người sống và cho đó là một mưu kế hay mà không cần xét đến vấn đề nhân bản. Điều nầy cũng đã khiến không ít người dân bị chết oan mạng khi chính họ phải ra tay chôn cất dùm những cán binh bị bỏ mặc thúi xác.

One thought on “Chương 28: Cái nhìn về sự Việc đang Xảy ra từ Đông Hà

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s