Phần 27: Bốn tiếng Đồng hồ Vô tận

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

(trang bỏ trống)
p355

Phần 27: Bốn tiếng Đồng hồ Vô tận

Tập trung hoàn toàn vào việc cố gắng để ổn định số lượng đất đai càng đang thu hẹp dưới sự kiểm soát của các lực lượng phe bạn, Gerry Turley không đã chưa bao giờ có thể tưởng tượng vào giữa buổi chiều ngày Chủ Nhật nầy mà qua đó cá nhân anh ta đã dâng lên sự giận dữ về chính vị Tướng Abrams. Quan tâm nhiều hơn về những ý định của Tướng Võ Nguyên Giáp, người tạo ra sự thất trận của Pháp tại Điện Biên Phủ và là vị chỉ huy cấp cao hiện tại về quân sự của Quân đội Bắc Việt, so với những ý định của giới lãnh đạo thuộc Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam, anh Turley không có thời gian để suy xét về những cảm giác của mình bị xáo động, bỏ qua vấn đề “Ai là người Được nói đến Trước đó” Tất cả điều anh ta quan tâm đến, tất cả bất cứ ai trong số những người ở Trung tâm Hoạt động Chiến thuật Ái Tử quan tâm đến, đang cố gắng chận đứng việc gì mà cho đến nay đã là một cuộc xâm lược gần như không thể ngăn chận của đối phương.
Gần khoảng 1500 giờ vào chiều chủ nhật khi anh Gerry nhận được cú gọi điện thoại phe bạn lần đầu tiên của anh ta về cuộc tổng tấn công. Nó đến từ trụ sở cố vấn dưới Sài Gòn. Vào lúc nầy, John Ripley đã và đang làm bất cứ là điều gì mà anh ta đang làm có lẽ trong hơn hai tiếng đồng hồ. Tại Doanh trại Carroll, Trung đoàn 56, theo cách tốt nhất như anh ta có thể nhận thấy, vẫn còn đang nhận lãnh cuộc dập pháo khó thể tin được. Những vấn đề thông tin liên lạc với hai sĩ quan Quân đội Hoa Kỳ đang phục vụ như là các vị cố vấn cho vị chỉ huy Trung đoàn 56 thì không đáng kể. Trên cây cầu tại Cam Lộ, Quân Bắc Việt đã chưa cố gắng thử băng qua cây lúc bấy giờ cầu được phòng thủ tối thiểu bởi những phần tử của Trung đoàn 2. Chính là buổi sáng sớm ngày Chúa Nhật Phục Sinh bên Bờ Đông Hoa Kỳ. Ở tiểu bang California và trong một ít giờ nữa, người vợ Bunny và những đứa nhóc sẽ thức dậy chuẩn bị và theo hướng đến nhà thờ. Anh ta biết rằng anh ta có thể tin cậy vào những lời cầu nguyện của họ.
Thiếu tá Bob Sheridan là vị cố vấn TQLC cao cấp cho Lữ đoàn 369, và hiện thời là vị cố vấn cho đang còn lại ở Sài Gòn.

p356

Vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh, đơn vị mà anh ta cố vấn, vốn bao gồm tiểu đoàn pháo binh mà Đại tá George Philip được giao cho, vẫn còn ở Sài Gòn nhưng nhanh chóng đang chuẩn bị trở về phía bắc xa xôi sớm hơn so với dự kiến theo kế hoạch lúc đầu. Cuộc trao đổi giữa anh Turley và ông Sheridan kéo dài trong một khoảng thời gian khá lâu, có thể là mười lăm phút. Trong cuộc đối thoại của họ, ông Sheridan giải thích cho anh Turley rằng ông ta đã trở thành một người bị bỏ rơi, tên của ông ta là một từ ngữ chửi rủa trong số các nhân viên thuộc Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam, và rằng hiện thời Tướng Abrams muốn gặp anh ta. Anh Turley đáp lại bằng cách cố gắng giải thích tất cả mọi chuyện vốn đã từng xảy ra cho đến nay trong những một ít ngày đó; 10 căn cứ hoả lực đã bị mất cho những lực lượng bộ binh đang tiến bước, một khối lượng pháo kích không ngừng của đối phương, việc đưa vào một số lượng những chiếc xe tăng của đối phương như chưa được xác định, sự phơi bày vô cùng kém cỏi bởi những đơn vị của Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH), hàng ngàn những thương vong về dân sự không thể đếm được và những thách thức mà cuộc di cư ào ạt của họ đang tạo ra, và vân vân và vân vân. Mười lăm phút đáng giá về tin xấu, nói về một đoạn phim hào hứng. Ngay cả mặc dù Bob Sheridan đã từng ở trên đó một ít tuần lễ trước đây, đó là điều khó khăn cho ông ta thông suốt đầy đủ hoặc hiểu rõ tường tận phạm trù của điều gì mà anh Turley đang kể cho ông ta.
Trong khi đó, một khối lượng thông tin cho việc ghi chép lại vượt quá những khả năng của bất cứ ai đang cố gắng lập thành hồ sơ những sự kiện trong tạp chí hàng ngày đang được lưu giữ ở Trung tâm Hoạt động Chiến thuật.
Chỉ giống như anh Turley và nhóm của anh ta trong hầm trú đã từng lãng quên sự khuấy động được tạo ra bởi các bản tin của Hải quân được nhận ở Sài Gòn, những bản tin đó tương tự thế hoàn toàn bị tấn công từ mặt tối bởi những phát triển tại Doanh trại Carroll mà qua đó không một ai, người Mỹ hay Việt Nam, đã sẽ tiên liệu một cách hợp lý trước khi chúng được báo cáo lần đầu tiên.

A- Sự đầu hàng của Doanh trại Carroll:

Nếu những trung đoàn của QĐVNCH(pc 01) có thể được xét đoán chỉ bằng những lịch sử của những người đang chỉ huy họ hoặc trong cùng một cách như những tiểu đoàn trong Quân đoàn Thủy quân Lục chiến (TQLC) Việt Nam, Trung đoàn 56 thuộc Sư đoàn 3 đáng lý ra là trong số những đơn vị chiến đấu giỏi hơn. Trung tá Phạm Văn Đính, hiện tại là vị sĩ quan chỉ huy Trung đoàn 56 của sĩ quan chỉ huy, là một anh hùng dân tộc, một cái tên được biết đến gần như đối với tất cả các công dân Việt Nam Cộng Hòa được báo tin.

p357

Như là một vị Đại tá trong suốt cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân bốn năm trước đó, anh Đính đã dẫn dắt đại đội trinh sát tinh nhuệ của mình trong cùng cuộc chiến đấu tàn bạo ở Huế mà những binh lính TQLC Mỹ đã trải qua. Trong khi những hoạt động của Đại đội Black Panther của anh ta –Đại Đội Hắc Báo– đã trên cơ bản bị bỏ qua bởi giới truyền thông Mỹ vốn tập trung vào việc ghi chép biên niên thay vì điều gì mà những “Cổ Áo Da” có chủ ý chống lại, chính là đơn vị của anh ta vốn là đơn vị đầu tiên phất cao lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) một lần nữa trên Kinh thành Huế. Những kỳ công và tính chất anh hùng của họ chiếm được những trái tim của người Việt Nam yêu nước. Việc nâng cao lá cờ đó thật là đáng kể. Chính là điều tương đương của QĐVNCH với sự nâng cao lá cờ của Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ trên đỉnh Mt. Suribachi trên hải đảo Iwo Jima của Nhật vào năm 1945. Nếu có một nhóm nhỏ của những người có tiếng tăm trong số những chiến binh của miền Nam Việt Nam, Phạm Văn Đính đã sẽ là trong số họ. Bản chất dường như bất thường, sự phản bội lộ hẳn ra và thấp hèn của anh ta trong việc đầu hàng của tất cả các lực lượng Việt Nam tại Doanh trại Carroll cho Quân Bắc Việt chiều hôm đó là một đòn giáng dữ dội; một cú đấm không thể tưởng tượng được cho bên QĐVNCH.1

(Trung tá Phạm văn Đính và Trung tá Vĩnh Phong của QĐVNCH
cùng 600 binh sĩ dưới quyền ước hẹn cuộc đầu hàng với Quân Bắc
Việt tại Khe Gió mà họ bảo chữa rằng muốn cứu sống anh em binh lính
TQLC nhưng không dám tự sát như danh tiếng anh hùng của họ)

Sự đầu hàng nhục nhã của Trung đoàn 56 gây ra quá sửng sốt và tổn thương, mà qua đó bị từ khước bởi gần như mọi người vốn nhận được tin tức khi họ nghe về nó lần đầu tiên. Điều đó đã sẽ là sự tương đương của Mỹ về Trung sĩ York(pc 02) anh hùng thời Thế Chiến thứ I đồng lỏa với giống dân du mục Hung Nô (Huns) tàn bạo hoặc danh Tướng Patton Hoa Kỳ đầu hàng Tướng Rommel của Đức Quốc Xã trong vùng sa mạc Bắc Phi. Đó là một vấn đề to lớn; một sự thoả thuận rất to lớn, và xấu xa.
Những lực lượng có hành động chống lại những vị cố vấn quân đội Mỹ, Trung tá Bill Camper và Thiếu tá Joe Brown, thậm chí có khả năng bất lợi nhiều hơn so với họ là thế đối với hầu hết những người Mỹ khác ở phía bắc tỉnh Quảng Trị hiện đang cố gắng trợ giúp những người đồng minh Việt Nam. Trong sự so sánh, thí dụ, đối với mối quan hệ tương đối dài hạn John Ripley rất thích thú với người bạn gần gủi và hợp tác của mình, Lê Bá Bình; anh Camper và anh Brown thì tương đối như những đứa bé trong rừng. Ngay cả mặc dù cả hai người đều là những cựu chiến binh chiến đấu dầy dạn, có kinh nghiệm với những hồ sơ rất xuất sắc, và anh Camper đã từng phục vụ một chuyến quân vụ trước đó như là vị cố vấn cho QĐVNCH,(pc 01) ba tuần lễ của họ với Trung đoàn 56 đã không cho phép việc tạo nên sự gắn bó quan trọng, vô hình cần để gia tăng tối đa mối quan hệ cố vấn.
Hai vị cố vấn quân đội Mỹ được phân công cho Trung đoàn 56 ngoài đó ở Doanh trại Carroll được biết đến đối với Gerry Turley chỉ bởi tiếng tăm tốt của họ. Sự tiếp xúc ban đầu qua vô tuyến mà anh Turley đã có với anh Camper, tuy nhiên, là bất cứ việc gì ngoại trừ điều khẳng định.

(Giống dân Hung Nô tàn bạo xa xưa, có gốc Mông Cổ, cư ngụ quanh vùng
phía Tây nước Nga ở giữa Biển Đen và Biển Caspian từ khoảng năm 91 sau
Công Nguyên, từng thành lập Đế quốc Hung Nô trên những quốc gia Âu Châu)

(Trung sĩ Alvin Cullum York, còn được biết đến với biệt danh Trung
sĩ York, như tên cuốn phim “Seargent York”, là một trong những quân
nhân Hoa Kỳ có nhiều huy chương nhất vào thời Đệ Nhất Thế Chiến)

p358

Với tình hình hiện ra ảm đạm theo cách mô tả tốt nhất, và với rất nhiều điều trong tình trạng hoàn toàn xáo trộn, sự căng thẳng liên tục và nhu cầu làm những quyết định táo bạo, quan trọng để lại cho anh Turley ít thời gian cho sự nhạy cảm, khả năng phân tích ngữ pháp hoặc phân biệt những thông tin có chủ ý tạo ra là một cái gì kín đáo, khó hiểu. Trong việc cố gắng thông tin điều gì không thực sự có thể truyền thông về tình hình trên bộ lộn xộn đến như thế nào ở Doanh trại Carroll và rằng anh Đính đang ra kế hoạch đầu hàng toàn bộ vị trí, cái ý nghĩa đầy đủ của bức thông tin cho Trung tâm Hoạt động Chiến thuật, được ghi vào sổ lúc 1502 giờ, lúc ban đầu vượt ngoài sự hiểu biết của anh Turley:
Camper: “Yeoman Echo (ký hiệu gọi của anh Camper) yêu cầu rời khỏi vị trí nầy. Anh ta và người phụ tá của anh ta không còn cần đến nữa. Anh ta có những lý do nhưng không thể giải thích bây giờ.”
Turley: “Không, Đại tá. Hãy ở lại đó và làm cái công việc chết tiệt của anh bạn đi.”

Chỉ giống như anh Turley biết rằng tình hình chiến đấu trên bộ của Bắc Quân khu I tốt hơn so với những người thuộc Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam ở Sài Gòn đang cố gắng khiến cho anh ta khỏi cho nổ tung cây cầu Đông Hà, Bill Camper đủ tinh khôn không không tranh luận, nhưng tiếp tục tiến hành với việc gì mà anh ta biết rằng anh ta phải làm. Anh Turley nhận ra lỗi lầm của riêng mình vào gần lúc anh ta thực hiện điều đó và tức thời bắt đầu cảm thấy gánh lấy tội lỗi ngay cả trước khi anh Camper kết thúc cuộc trao đổi không lâu sau đó bằng câu nói đầy tôn trọng, gần như sầu thảm của mình “Dạ hiểu, chất dứt.”2
Chưa đầy 20 phút sau đó, với tình hình thậm chí còn nghiêm trọng hơn, anh Camper gởi đi thông tin kế tiếp của mình. Lúc nầy không cần phải che giấu điều gì. “Vị chỉ huy căn cứ muốn đầu hàng. Là cờ trắng sắp sửa phất lên trong mười phút.”
Chính là một phép lạ khác gần như thế và là một minh chứng cho lòng dũng cảm của những phi công trực thăng của quân đội Mỹ mà qua đó anh Camper, anh Brown, những truyền tin viên thuộc QĐVNCH của họ vốn là những người vẫn giữ vững lòng trung thành đối với họ, và một người lính Việt khác thực sự có thể được bốc đi và được bay trở lại trụ sở chính của Sư đoàn 3 ở Quảng Trị. Báo cáo ngay lập tức cho Tướng Giai, họ mô tả các sự kiện như họ đã trải nghiệm với chúng và điều gì mà Đính đã làm. Vị tướng lãnh không tự kiềm chế được và có thể không tin một câu chuyện khó tin đến như vậy. Lúc đầu, trong sự tức giận của mình, ông ta cáo buộc các sĩ quan Mỹ về việc nói dối ông ta.
Ở Trung tâm Hoạt động Chiến thuật Ái Tử, anh Turley và nhóm của mình, kiệt sức như họ từ một trận chiến không ngừng nghĩ, cảm thấy choáng váng bởi việc mất đi Doanh trại Carroll và ngay lập tức cố gắng để hiểu sự mất mát sẽ có nghĩa gì đối với toàn diện tình hình đồng minh.

p359

Khi chiếc trực thăng đơn độc bốc quân đang mang trả anh Camper và anh Brown đến Quảng Trị, đích nhân anh Turley thực hiện cú cuộc gọi đến những người có thẩm quyền cao hơn để báo cáo về việc đầu hàng của căn cứ hỏa lực.
Gerry Turley đã không thể tưởng tượng đến những liên hệ với những người dưới miền Nam đang trở nên bị nhiễm độc sao đó nhiều hơn hiện thời họ bị. Nhưng anh ta đã lầm. Như định mệnh dường như tiếp tục tìm cách chống lại anh ta, ít nhất là với những người ở Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam trong Sài Gòn và bất cứ nơi nào khác những người ngờ vực anh ta có mặt, một trận chiến khác anh Turley tiếp tục không ngừng.
Truớc tình huống nguy cơ nhận được báo cáo về sự sụp đổ của Doanh trại Carroll là cùng một người mà trước đó anh ta đã từng nguyền rủa khi tranh cãi về việc gì nên làm tại cây cầu Đông Hà. Đó là một điều may mắn cho bất cứ là ai đó là có 483 cây số nhà cửa của người Việt để tách biệt họ, nếu không anh Turley ắt hẳn vui lòng lội bộ hoặc thậm chí bò thấp đến vị trí của mình cho buổi góp ý cá nhân nếu anh ta đang ở bất cứ nơi nào gần bên.
Vẫn cảm thấy như giận dữ hoặc giận dữ hơn anh ta cảm thấy từ cuộc gặp gở đầu tiên, anh Turley chỉ đơn giản là cúp điện thoại trước khi sự thôi thúc dùng đến lời báng bổ vượt qua sự xét đoán chính xác của mình. Thay vì tập trung vào điều gì mà anh ta và những lực lượng TQLC(pc 03) Việt Nam còn lại cần làm, anh ta ngay lập tức để tâm đến một người tên Định vốn không phải là kẻ phản bội, người tên Định nầy là vốn là vị chỉ huy Lữ đoàn 258. Chính ông ta là một người Bắc di cư, Đại tá Định nhận lấy tin tức về sự sụp đổ của Doanh trại Carroll thật bất an lòng. Đề cập đến kẻ thù chỉ như là “những người Cộng sản” và không phải là người Việt Nam, vị chỉ huy Lữ đoàn 258 bình thường ít nói, chỉ đơn giản nói với anh Turley, và có lẽ cũng với chính mình: “Chúng ta phải tiêu diệt những người Cộng sản.”
Những người Việt Nam và các vị cố vấn Mỹ của họ tiếp tục làm việc với nhau, làm điều gì mà họ có thể, ứng dụng những nguồn tài lực hạn chế đã có, theo dõi việc gì hiện thời có để bám sát và báo cáo đến trụ sở cao hơn về điều gì mà họ tin rằng cần được truyền đi.
Không bao lâu sau cuộc trao đổi của anh Turley với vị sĩ quan quân đội vốn là người đã cáo buộc anh ta về việc đã tỏ ra giận dữ sau khi anh ta nhận được một cú gọi khác. Lần nầy cú gọi là từ Đà Nẵng; từ một sĩ quan TQLC khác với cấp bậc tương tự nhưng hơi cao đối với anh Turley.

p360

Rõ ràng là anh ấy đã được gia nhập trong nỗ lực truyền đạt không quá khó hiểu về sự quan tâm không hài lòng và sâu sắc của Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam đối với anh Turley. Thông điệp rất rõ ràng, và rõ ràng gây xúc phạm. Điều mà anh Turley hiểu được từ việc cuộc trao đổi ngắn gọn là “Bình tỉnh lại, và trở lại Sài Gòn càng sớm càng tốt và thiết thực.” Tướng Abrams thực sự muốn gặp anh ta.
Mặc dù anh ta đã mệt nhoài, anh ta nhận ra sự khiển trách không-tế-nhị-lắm vốn đi qua các dây điện và trên những sóng truyền tải. Anh ta đã chỉ làm, đối với sự hết sức khả năng của mình, điều gì mà anh ta đã được kêu làm bởi những sĩ quan quân đội không thực sự trong chuỗi chỉ huy hợp pháp của mình. Bây giờ anh ta sắp sửa phải chịu trải qua cực hình cho tất cả mọi thứ việc mà anh ta không có quyền kiểm soát hoặc nổ lực nào đưa vào. Anh ta ngay lập tức từ chức để nhận liều thuốc của mình như một người đàn ông; nhưng trước tiên anh ta sẽ làm cho ra lẽ trường hợp của mình. Nhưng anh ta vẫn không biết gì hết về những cái tội rõ ràng mà anh ta đã phạm hoặc có nhận thức về một tình trạng lộn xộn vốn tồn tại trong hệ thống thông tin liên lạc phía sau hậu trường.
Vào lúc nầy của buổi chiều không có một phương tiện thực tiển nào để bắt đầu quá trình rút đi vào Sài Gòn. Không có cách nào mà anh ta sẽ đến được Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam ngày hôm nay và vì thế, ngay cả mặc dù mọi người trong Trung tâm Hoạt động Chiến thuật tức thời nhận biết là có điều gì đó đang xảy ra với Trung tá Turley, anh ta không có sự lựa chọn nào ngoài việc tiếp tục điều hành mọi thứ như trước, và chiến đấu chống lại Quân Bắc Việt với cùng sự tập trung mà anh ta trước đó đã từng chiến đấu chống lại họ. Anh ta sẽ rời khỏi để đến Sài Gòn vào buổi sáng.
Gerry Turley buộc mình phải đánh cắp một chút thời gian để phản ảnh một lần nữa trên tất cả những gì vốn đã xảy ra kể từ giờ ăn trưa vào ngày 30 tháng Ba, gần như cách đây một đời người. Trong tâm trí của anh ta, một cuốn băng về các sự kiện thoáng qua với một tốc độ nhanh chóng khi anh ta nhìn quanh Trung tâm Hoạt động Chiến thuật. Những người nầy, người Mỹ và Việt Nam của mỗi chi nhánh quân sự, là một nhóm thực sự hỗn tạp. Họ cảm thấy mệt mỏi, kiệt sức, và hôi thúi vượt ra ngoài sự mô tả thường khi nhưng tiếp tục hoạt động giống như những người chuyên nghiệp mà họ đúng là thế. Phải trải qua như anh ta hiện thời, anh ta tiếp tục nhìn chằm chằm vào những chàng thanh niên vốn là những người trông già hơn họ là vậy, vốn là những người chung nhau mang lấy sức nặng của thế giới trên những cái khung cơ thể mệt mỏi của họ, và chỉ đơn giản là mỉm cười với chính mình. Chỉ có Thượng Đế biết anh Turley cảm thấy tự hào đến như thế nào về những người lính nầy. Và trận chiến vẫn tiếp tục…

p361

B- Anh Bình Trong vị trí Canh phòng :

Trong khi anh Ripley, anh Smock, và Nhã đang đối phó với các vấn đề về việc cố gắng phá hủy cây cầu Đông Hà, anh Bình có một tiểu đoàn để dẫn dắt và chiến đấu. Được may mắn là có những chỉ huy tháo vát, đủ khả năng của đại đội, không cần phải quản lý nhỏ nhặt những nỗ lực của họ. Thật ra, đích thân anh Bình đã đào tạo tất cả họ; nhiều người trong số họ đã từng là những vị chỉ huy trung đội của anh ta khi anh ta còn chỉ huy Đại đội 1. Tất cả họ đều mang dấu ấn của anh ta. Tất cả họ đã từng cam kết cho sự sống còn của đất nước mình như những vị tiểu đoàn trưởng của họ đã. Trong tình huynh đệ chi binh mà qua đó là một quân đoàn sĩ quan nhỏ của những binh lính TQLC Việt Nam, anh Bình cũng được nhìn nhận về lòng nhiệt thành của mình trong việc giảng dạy và hướng dẫn tư tưởng cho những sĩ quan chính thức và những hạ sĩ quan tham mưu mà anh ta làm việc với. Nếu Tiểu đoàn 3 bị đánh bật ở Đông Hà, điều đó sẽ không phải là do sự lãnh đạo nghèo nàn tài năng hoặc yếu kém. Và bên cạnh đó, tình hình trên bộ, trong một lúc, tương đối ổn định. Liên tục trên đài truyền tin với vị chỉ huy lữ đoàn của mình, Đại tá Định, vốn là người trở lại trong Trung tâm Hoạt động Chiến thuật với Gerry Turley, ông Định sẽ luôn luôn kết thút những báo cáo tình hình của anh Bình với lời nhắc nhở không cần thiết phải nhắc nhằm tôn vinh bộ đồng phục của họ; để tiếp tục chiến đấu.
Thiếu úy Lương thậm chí đã không từng nắm quyền chỉ huy chiến đấu của trung đội mình trong cả một tuần lễ đến ngày Chúa Nhật Phục Sinh. Còn non nớt như anh ta là, phần nhiều như anh ta là một “trái anh đào” theo những tiêu chuẩn của Mỹ, anh ta hiểu tính chất quan trọng của Đông Hà, vai trò của Tiểu đoàn 3 trong việc bảo vệ nó, và sự thử sức điên rồ của Đại úy Ripley trong việc cố gắng làm nổ tung cây cầu.
Kinh nghiệm duy nhất của anh Lương với những người Mỹ bị giới hạn trong nền giáo dục của mình tại Học viện Quân sự Quốc gia Việt Nam và với một vị cố vấn thuộc Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ mà anh ta đã gặp phải trong suốt thời gian của anh ta như là vị trung đội trưởng cho Đại đội 4. Trong phạm vi vòng tròn gia đình, bạn bè, bạn đồng ngũ, và những người quen biết, những người đó gần có thể phỏng như được chia thành ba nhóm trong phần về thái độ đối với những Mỹ nói chung. Có những người, một nhóm nhỏ, vốn là những người chỉ đơn giản là ghét những người Mỹ. Có những người vốn nhìn nhận rằng sự hỗ trợ của Mỹ là cần thiết ngay cả mặc dù nó có tác động có hại trên xã hội Việt Nam; nhưng chấp nhận những điều đó như là cái giá cần thiết phải trả khi được so sánh với sự chọn lựa thay thế khác của sự thống trị của Cộng sản.

p362

Và cuối cùng, có những người vốn không thể hoàn toàn hiểu được tại sao một đất nước khác với rất ít điều có lợi lại cao thượng hy sinh những thanh niên của nó trong cuộc đấu tranh cho sự tự do của một người khác nào đó. Anh Lương và hầu hết những bạn bè của mình từ Học viện Quân sự quốc gia nằm trong nhóm nầy.
Anh Lương, thậm chí trước khi đến với Tiểu đoàn 3, cũng quá quen thuộc với các mối quan hệ đặc biệt giữa lực lượng TQLC Việt Nam và những binh lính TQLC Mỹ. Khi anh ta nhận lãnh trung đội của mình, anh ta nghe những người lính của mình nói về Đại úy Ripley, người mà anh ta đã quan sát chỉ một thời gian ngắn và luôn luôn có sự hiện diện của Thiếu tá Bình, với sự tôn kính mở lối mà qua đó đồng thuận với vị chỉ huy tiểu đoàn yêu quý của họ. Vào buổi chiều Chúa Nhật nầy khi anh ta và những người của trung đội mình theo dõi, từ khoảng cách 100 thước về phía nam cây cầu, việc gì đó mà Đại úy Mỹ đang cố gắng thử, anh ta hiểu được lý do cho sự kính trọng và quan hệ đó.
Trung đội của anh Lương được giao cho sứ mệnh dự bị bởi vị chỉ huy đại đội của Đại đội 4. Giống như tất cả các trung đội khác trong tất cả những đại đội của Tiểu đoàn 3 (và thực sự là khắp toàn bộ Quân đoàn TQLC Việt Nam), anh Lương được may mắn có sự phục vụ dưới quyền anh ta là một nhóm nhỏ của những Trung sĩ và Hạ sĩ nhất mạnh mẽ, chuyên nghiệp. (Anh Lương, như là vị chỉ huy của Trung đội 1, cũng được may mắn gấp đôi có không phải là một, mà là hai Trung sĩ Tham mưu để trợ giúp anh ta với việc điều hành đúng đắn đơn vị của mình). Lòng nhiệt tình cá thể và tập thể của họ để giết chết những người Cộng sản đáng ghét bắt kịp hoặc vượt qua bất kỳ điều gì mà các sĩ quan của họ mang đến trận chiến, và giống như Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ, lực lượng TQLC Việt Nam tin tưởng rất nhiều vào tính chất quan trọng của ban lãnh đạo đơn vị nhỏ của họ. Lực lượng TQLC Việt Nam cũng đã từng theo gương Mỹ bằng cách đầu tư nguồn tài lực đáng kể trong việc đào tạo và giáo dục bổ sung cho các hạ sĩ quan của họ.
Với phần còn lại của đại đội mình đang bảo an cánh trái của tiểu đoàn khi họ phải đối mặt với phía bắc bên kia sông Cửa Việt, anh Lương và 36 binh lính TQLC của mình chỉ xa hậu cứ từ cuộc giao chiến gần nhất. Khoảng 100 thước phía dưới từ lối vào phía nam đến cây cầu, trung đội của anh Lương đã được trải dài qua chính Xa lộ Một, cũng đang đối mặt hướng bắc. Về hướng chính đông của trung đội anh ta là những tàn tích của loại cửa hàng bán vỏ xe nào đó mà chỉ vài ngày trước, chắc chắn, đã từng là một cơ sở kinh doanh khá thành tựu chăm sóc cho hàng trăm những chiếc xe hai, ba, và bốn bánh hàng ngày qua lại theo một trong hai hướng.

p363

Dưới những hàng rào pháo kích liên tục của Quân Bắc Việt tất cả những gì còn lại là đống đổ nát cùng với đống không thể phá hủy và những nhóm nhỏ vỏ xe rải rác đây đó. Với sự quan tâm rất ít trong việc đào các vị trí chiến đấu có độ sâu nào đó hơn những cái mà họ phải làm, những binh lính TQLC tháo vát của Trung đội 1 thuộc Đại đội 4 ngay lập tức chiếm lấy tất cả những vỏ xe ở đó vốn sẽ được sử dụng như là rào chắn thêm và che chở cho mặt trước của họ. Cho đến khi họ sẽ được gọi đến để tăng cường hàng trận chiến cực kỳ eo hẹp và đông đúc của hai đại đội trong số các đại đội thuộc Tiểu đoàn 3 hiện thời đang bao phủ, họ sẽ chờ đợi những mệnh lệnh phía sau những cái vỏ xe.
Trong khi anh Ripley đang ở dưới cây cầu, tàu chiến của Hải quân Mỹ ngay bên ngoài bờ biển vẫn tiếp tục nã pháo theo những sứ mệnh mà anh ta trước đó đã lên kế hoạch và phối hợp với Joel Eisenstein. Tiếng súng hải quân vẫn còn là một hỏa lực hỗ trợ đáng tin cậy duy nhất hiện có. Với thời tiết từ từ đang cải thiện, đó là điều hợp lý để mong đợi sự hỗ trợ của Không quân trước khi ngày sắp hết.

C- Từ nơi Đây đến Bốn tiếng Đồng hồ Vô tận :

Khoảng thời gian bốn tiếng đồng hồ là bao lâu khi John Ripley đang ở dưới cây cầu Đông Hà ? Bốn tiếng đồng hồ đủ dài để xem nhân vật Audie Murphy trong hai hình thức từ một cậu bé gặp phải cảnh nghèo khó, mồ côi, cao lêu nghêu, suy dinh dưỡng, có tài bắn chính xác, ở một nông trại xa xôi hẻo lánh thuộc tiểu bang Texas, đến lúc trở thành một quân nhân có nhiều huy chương nhất trong Thế chiến II qua cuốn phim “To Hell and Back” (“Đến Địa ngục và Trở lại”). Trong hai lần. Anh Ripley lúc bấy giờ đã tới lui cùng một nơi trong bốn tiếng đồng hồ đó, chỉ là anh ta chưa trả lại.

(Trung úy Audie Leon Murphy là một trong những người
có huy chương nhiều nhất trong Thế Chiến thứ II)

(Bích chương quảng cáo cho cuốn phim “To Hell and Back” vào năm1955,
kể về cuộc đời Trung úy Audie Murphy và những chiến công trong Thế
Chiến thứ II, do chính Trung úy Murphy viết truyện phim và thủ vai chính)

Bốn tiếng đồng hồ đủ dài để lắng nghe bài nhạc “In-A-Gadda-Da-Vida” (i.e. theo cách nói như người đang phê ma túy, có nghĩa là “In the Garden of Eden” : “Trong Vườn Thiên Đàng”) của ban nhạc Iron Butterfly, với phiên bản dài 17 phút 05 giây, trong mười bốn lần, hoặc bài nhạc “Come Go With Me” (“Hãy đi đến với Anh”) của ban nhạc Del-Vikings –bài nhạc mà qua đó đóng khung chung những kỷ niệm đáng yêu nhất của anh John và cô Moline– gần như 93 lần.
Bốn tiếng đồng hồ đủ dài cho Chuck Goggin của đội bóng chày Raider, cũng là cựu Hạ sĩ nhất của anh Ripley chơi một trận đấu bóng chày cho liên đoàn chính với nhiều lượt đổi thêm đấu thủ.
Bốn tiếng đồng hồ không hoàn toàn đủ dài để bay từ thành phố Los Angeles của tiểu bang California đến thủ phủ Honolulu của tiểu bang Hawaii, nhưng vừa đủ thời gian –với một cơn gió xuôi– để cho phi công, đến lúc đó, cho những hành khách một cuộc hạ cánh ngắn ngủi và chỉ ra rằng khối đất to lớn nằm ngoài mạn phải của cánh máy bay là hải đảo Hawaii.

(Ban nhạc Iron Butterfly với âm điệu nhạc Rock như phê sì-ke
qua bản nhạcIn‐A‐Gadda‐Da‐Vida” (xin bấm vào để nghe)
nổi tiếng vào năm 1968) (George Frost )

(Ban nhạc Dell Vikings hoặc Del-Vikings vào thập niên 60s, với
bản nhạc Come Go with Me” (xin bấm vào để nghe) theo âm
điệu nhạc Blues có vần, nổi tiếng vào năm 1957)

p364

Bốn tiếng đồng hồ để làm cái gì mà Đại úy John Walter Ripley đang làm, là một khoảng thời gian rất dài… đặc biệt là vì điều mà anh ta đang làm, không phải là việc có thể đối với con người.
Sau 12 chuyến ra vào trong bụng của con ác thú khổng lồ đến khó tin vốn là cây cầu Đông Hà, anh Ripley và anh Smock có thể vui mừng chỉ trong khoảnh khắc. Tất cả chất phá hủy đang nằm đúng chỗ. Sau 12 chuyến ra vào đặt đúng chỗ những chất nổ và tất cả đường dây điện cần thiết xuyên qua, chúng vẫn cần được kích nổ. Tất cả những việc phá hủy trên thế giới thì giống như những viên đạn ở bên ngoài vũ khí, hoàn toàn vô giá trị cho đến khi chúng có thể được bắn đi. John Ripley sẽ cần thực hiện một chuyến nữa ra ngoài dưới cây cầu để thiết lập những đường dây nạp điện.
Trong một thế giới hoàn hảo, nếu anh Ripley có thể làm tất cả điều đó theo sách vở giống như họ đã làm ở Trường Biệt kích –dù sao, đó là cách an toàn nhất và hay nhất– anh đã sẽ sử dụng kìm bấm và những cái chụp nổ bằng điện và tất cả điều đó đã sẽ là đẹp mắt và gọn gàng và sạch sẽ, và cùng một lúc trong nháy mắt, cây cầu sẽ bị sụp xuống và nằm trong dòng sông. Nhưng buổi chiều Chúa Nhật Phục Sinh ở Đông Hà thì xa từ Doanh trại Darby của Hoa Kỳ được đặt ở Ý và khu rừng của tiểu bang Georgia. Điều nầy vượt ngoài trường hợp lý tưởng, nhưng Trường Biệt kích cũng đã củng cố khái niệm về tính chất thiết thực trên chiến trường và sự ứng biến. Phản ảnh tốt đẹp cuộc huấn luyện Biệt kích của mình, Ripley sẽ cho nổ những chất phá hủy bằng dụng cụ nào đó mà những kỹ sư ngoài chiến trận của QĐVNCH đã bỏ lại cho họ.

(Cái chụp nổ bằng điện (hoặc là kíp nổ điện) chứa chất nổ cực
mạnh còn được gọi là chất nổ chính, rất nhạy và nguy hiểm, để
kích thích chất nổ như TNT, được gọi là chất nổ phụ. Ngoài ra
có loại ngòi nổ bằng cầu chì, hoặc không cần điện)

(Sự cấu trúc bên trong cái chụp nổ bằng điện)

Trong một đống như ngọn núi nhỏ của những chất phá hủy trước đó bị bỏ rơi bởi các kỹ sư ngoài chiến trận của QĐVNCH,(pc 01) không phải là anh Ripley hoặc anh Smock lúc đầu có thể tìm thấy những cái chụp nổ bằng điện hoặc cái kìm bấm mà qua đó đã sẽ làm công việc gắn chặt những cái chụp cho sợi dây nổ đơn giản hơn nhiều. Cái kìm bấm là một loại dụng cụ kiểu như kìm bấm siết riêng biệt vốn được sử dụng đặc biệt là để bóp chặt miếng kim loại tương đối mềm, cực mỏng mà qua đó tạo nên nơi chứa đựng của những cái chụp nổ có hình dáng như kích thước điếu thuốc lá hiệu Lucky Strike, hơi mỏng hơn để cho, sau khi bị bóp ở phần cuối mở ra của nó, cái chụp nổ vẫn còn vĩnh viễn tại chỗ, cho đến khi sự nạp điện được áp dụng qua dây nổ và… thế là xong. Trong trường hợp không có một cặp kìm bấm, “dụng cụ” tốt nhất kế tiếp là những cái răng của con người; cắn mạnh xuống trên miếng kim loại để bảo đảm cái chụp nổ vẫn còn tại chỗ. Bên cạnh cảm giác rùng rợn, khích động của việc cắn xuống trên miếng kim loại lạnh tanh, cũng có một cơ hội có thể xảy ra là khi “dùng xương hàm cắn,” như nó được gọi thế, cái chụp nổ có thể nổ tung sớm hơn trong miệng của người nào đó, như thế phá hỏng một ngày của anh ta hoàn toàn.

(Một loại kìm bấm cái chụp nổ bằng điện)

p365

Thay vì tìm gặp những kíp nổ điện, anh Ripley chỉ tìm thấy những kíp nổ cầu-chì-định-thời-gian. Những kíp nổ cầu-chì-định-thời-gian thì kém hấp dẫn nhiều hơn, kém chính xác nhiều hơn, và do đó nguy hiểm hơn nhiều so với những kíp nổ điện. Nhưng đó là tất cả những thứ đang có, và anh Ripley đã đi quá xa không thể dừng lại ngay bây giờ hoặc buộc phải quan tâm về các vấn đề an toàn. Anh ta không có hứng thú trong sự thất bại trong khi làm việc lớn. Anh Ripley sẽ nối những chất nổ của mình bằng cách sử dụng phương pháp số hai, cách thiết thực trên chiến trường, dạy cho anh ta tất cả mọi thứ trong những năm qua, tại Trường Biệt kích.
Việc sử dụng những kíp nổ cầu-chì-định-thời-gian để làm công việc gia tăng những cơ hội thất bại hoặc cơ hội nổ tung chính mình của anh Ripley trước khi anh ta có thể dọn sạch cây cầu. Điều đó giống như việc sử dụng một khẩu súng Shotgun (súng bắn đạn rải) thay vì một khẩu súng săn dài có tầm xa để hạ mục tiêu của trò chơi lớn đòi hỏi sau nầy. Những kíp nổ cầu-chì-định-thời-gian đòi hỏi một số khá nhiều của sự may mắn và lời cầu nguyện và công việc ước đoán. Tuy thế, vào lúc nầy, những thứ đó là những sự lựa chọn khả thi của anh ta. Anh Ripley chuẩn bị những kíp nổ của mình và, dưới hỏa lực một lần nữa, trở lại bên dưới cây cầu nơi mà nơi anh ta gắn chúng vào những chất nổ. Anh ta bắt lửa những cầu chì nổ và di chuyển với một tốc độ mà anh ta không nghĩ rằng anh ta đã còn lại trong người để quay trở lại một lần nữa, đến một vị trí tương đối an toàn của Jim Smock.

(Một loại kíp nổ cầu-chì-định-thời-gian, M-81)

(Khẩu súng Shotgun (Súng bắn đạn rải) và những viên đạn
–mỗi viên đạn chứa nhiều hạt đạn tròn nhỏ)

Mãi mãi trong tâm trí của anh Ripley là một sự lựa chọn thứ ba, hầu như là sự lựa chọn cuối cùng của anh ta. Anh ta biết đủ về những việc phá hủy thiết thực trên chiến trường để hiểu rằng anh ta luôn luôn có thể tháo tung một trong những trái lựu đạn cầm tay mà anh ta vẫn giữ gắn trên những cái túi nhỏ của dây đeo hình chữ H trên người hoặc của dây thắt lưng mang băng đạn và chỉ đơn giản là cần cắm ngòi nổ của quả lựu đạn vào trong chất nổ TNT. Vấn đề khó khăn duy nhất với sự lựa chọn đó là, một khi cái chốt của quả lựu đạn được rút ra, anh ta sẽ có tối đa bốn giây để tránh khỏi khu vực trước khi nó sẽ thổi tung tất cả. Điều đó, thực tiển, chỉ đơn giản là một lựa chọn tự sát. Rất sớm trong nỗ lực, anh Ripley đã đánh giá những tiềm năng có thể có và nghĩ ra được những cơ hội sống còn của mình dù mong manh để bắt đầu với. Anh ta quyết định rằng nếu Quân Bắc Việt đã gõ trúng anh ta hoặc anh ta biết rằng sự chấm dứt là chắc chắn, ngay cả khi cây cầu chỉ được nối dây nổ một phần, anh ta sẽ dùng đến sự chọn lựa “khác” nầy và đánh sập phần nào mà anh ta có thể. John Ripley không hứng thú trong sự thất bại trong khi làm việc lớn.

(Dây đeo hình chữ H trên người, và dây thắt lưng mang
băng đạn và những cái túi nhỏ cho dụng cụ cá nhân)

p366

Cảm thấy hoàn toàn bị kiệt lực, anh ta đã làm hết sức mình. Nếu những cái cầu chì bắt lửa bằng cách nào sẽ không cháy hết hoặc sẽ bị dập tắt hoặc bị dời đi bởi Quân Bắc Việt, cây cầu sẽ nổ tung. Cuối cùng là. Khi anh ta nằm đó, hết sức lực và cạn kiệt, với anh Smock, hai người thích thú một khoảnh khắc ngắn ngủi khác của sự hài hước đối thoại về cái giá treo cổ. Sự nói đùa giữa hai sĩ quan về các quân ngành kình địch và những Ký hiệu Chuyên Ngành của Quân đội khác nhau (anh Ripley là sĩ quan bộ binh và anh Smock là sĩ quan thiết giáp) có thể đã từng xảy ra tại quán rượu trong bất kỳ câu lạc bộ sĩ quan nào ở bất cứ nơi nào chứ không phải là trên mặt dưới lõm vào của cây cầu sắp sửa nổ tung với hàng ngàn quân địch nóng lòng muốn giết họ chỉ cách xa khoảng 200 thước.
Khi cuộc nói đùa tiếp tục, anh Ripley để mắt đến, gần như do sự vô tình ở cạnh bên, một cái hộp mà không hiểu sao anh ta đã bỏ qua trong sự khích động trước đó. Những kíp nổ bằng điện. Nhờ Thượng Đế và nhờ trời; những kíp nổ điện. Ngay cả khi một khối lượng hỏa lực của vũ khí nhỏ từ bên đối phương dường như đang gia tăng, anh Ripley bị bám chặt với một cảm giác về điềm báo không thể diễn tả nào đó, một khái niệm không đáng có, hoàn toàn phi lý nào đó mà cách duy nhất để làm điều nầy đúng, là 99.44 phần trăm chắc chắn rằng cây cầu sẽ nổ tung, sẽ văng ra ngoài –một lần nữa– và bắt dây nối những kíp nổ thêm vào nầy. Anh ta là một người hoàn toàn bị hao mòn bởi sứ mệnh bất khả thi của mình. Anh Ripley không có hứng thú nào cả trong sự thất bại trong khi làm việc lớn.
Việc trở lại ra ngoài lần thứ hai là điều hoàn toàn điên khùng. Nếu John Ripley đã là một con mèo, anh ta dễ dàng dùng hết chín mạng sống như là một Lima 6 Thực sự ngược về năm 1967. Vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh năm 1972, anh ta bước vào trong một mức độ hoàn toàn mới của một định mệnh cám dỗ; nhiều cấp bậc của tầm quan trọng hoặc những đời người được phước lành và may mắn vượt ra ngoài cái gì mà hầu hết những người đàn ông phải giải quyết. Việc trở lại ra ngoài thêm một thời gian thêm đó để nối những kíp nổ trong lần đầu tiên là đủ xấu. Việc khám phá những cái khác đó, những kíp nổ thích hợp hơn khiến cho anh ta vượt xa ngoài lý lẽ. Chắc chắn là anh ta sẽ sụp đổ vì kiệt sức. Chắc chắn là Quân Bắc Việt cuối cùng sẽ tìm thấy tầm tác xạ của họ hoặc mục tiêu đánh dấu của họ và bắn tan nát sự mệt mỏi của anh ta từ phía sau; giải thoát anh ta khỏi gánh nặng thể chất và tinh thần khủng khiếp mà anh ta đang lấy. Dù sao, việc nối dây nổ lần đầu tiên có lẽ sẽ đạt được kết quả tốt. Có lẽ. Có lẽ không đủ tốt. Điều đó khiến cho anh ta mất tập trung. Với tất cả nỗ lực, với máu và mồ hôi tương xứng theo nghĩa đen mà anh ta đã đầu tư, anh ta sẽ muốn chắc chắn rằng cây cầu sẽ nổ tung. John Ripley không có hứng thú nào cả trong sự thất bại trong khi làm việc lớn.

p367

Chính là việc như thể anh đang ở trong một trong những giấc mơ rất kỳ lạ nhưng bình thường mà trong đó người ta tìm thấy chính mình bằng cách nào đó đang phấn đấu làm một cái gì đó hoàn toàn không thể thực hiện, cố gắng thử một số hành động nào đó lần nầy đến lần khác; mãi mãi không bị thiếu hụt. Giải pháp hợp lý duy nhất là thức tỉnh. Nếu đây là một giấc mơ xấu, đó là lúc cho cái đồng hồ báo thức rung chuông. Không có sự giải thích thực tiển nào cho điều gì mà anh ta sắp sửa làm. Điều đó giống như Jim Ryun, là một vận động viên điền kinh một dặm thuộc bậc thầy nổi tiếng nhất cho cú búng chân ở vòng đua cuối của anh ta, đi ra ngoài và ngay lập tức chạy một dặm khác, nhanh hơn sau khi tạo ra một màn biểu diễn đốt nhà kho, kỷ lục thế giới. Một người có thể chạy bao nhiêu vòng đua cuối nữa ? Anh Ripley đã và đang chạy vòng đua cuối nầy dài hơn vòng đua mà anh ta đã hy vọng. Anh ta đã và đang “búng chân” trong một thời gian dài, rất dài. Điều mà anh cần làm –một lần nữa– chỉ đơn giản là không thể hoàn tất. Nhưng nó đã.

(Lực sĩ điền kinh Jim Ryun đoạt được hạng nhì trong
cuộc đua Olympic 1.500 m ở Mexico vào năm 1968)

Anh ta đã điều đó. Anh ta đã liên tục niệm kinh và cầu nguyện lớn tiếng cho chính mình khi anh ta bò và kéo lê chân và trườn bằng tay ra ngoài và trở lại. Với những cầu-chì-định-thời-gian vẫn đang cháy, anh Ripley đặt vào những kíp nổ điện và chạy dây trở lại vị trí nơi mà anh ta và anh Smock một lần nữa túm tụm vào nhau. Trong lúc đó, anh Smock, dưới hỏa lực của đối phương, cũng đã nối dây nổ cho Cây cầu Xưa thời Pháp nhỏ hơn nhiều và rất ít ghê gớm ngay trên thượng lưu cho việc phá hủy. Nếu hệ thống phát nổ bằng điện của họ làm việc, cả hai cây cầu sẽ nổ tung với nhau.
Bước kế tiếp và cuối cùng được cho là đơn giản. Tất cả những gì mà anh Ripley cần làm là lấy sợi dây điện truyền tin mà anh ta có những chất nổ nối vào và chạy một số lượng nạp điện thích hợp vào trong chúng và tất cả sẽ kết thúc. Tại sao họ đã giả định rằng quá trình đó sẽ đạt hiểu quả vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh ? Không có điều gì khác đã là dễ dàng. Điều đó giống như họ là một phần của một mánh lới độc ác khác của việc dùng máy ảnh nhỏ chụp trộm. Anh Ripley và anh Smock đã phóng nước rút đến một vị trí khác xa khỏi cây cầu; đuổi theo dấu vết dây điện truyền tin.
Nếu điều nầy đã là một trong những truyện phim táo bạo nhiều tập đó của phim trường Hollywood, anh Ripley, như là anh chàng trong bộ phim “Don Winslow of the Navy” (“Don Winslow của Hải quân”) hoặc “Cowboy Tom Mix” (“Chàng cao-bồi Tom Mix,”) đã từng chiếm khán giả của mình đến những tập thêm vào. Anh ta đã khiến cho quầy thức ăn vặt hết cả món bắp rang và những sản phẩm sô-cô-la hiệu Milk Duds từ lâu. Điều đó vượt ra ngoài thời gian cho một cao trào. Mọi người ở phía bên kẻ tốt đang sẵn sàng, cầu nguyện, mong đợi cảm giác hào hứng, đỉnh điểm hành động đến nín thở được theo sau bởi loại kết thúc có hậu nào đó, ngoại trừ anh ta không thể có được điều đó.

(Phim Truyện hành động táo bạo 12 tập “Don Winslow of the Navy” vào năm
1942 được dựa trên nhân vật Trung úy chỉ huy Don Winslow chống gián điệp
trong loạt truyện bằng tranh vốn là từ những câu chuyện được kể lại bởi vị
Trung úy chỉ huy Frank V. Martinek của Hải quân trong Thế Chiến thứ I)

(Phim truyện nhiều tập “Cowboy Tom Mix” từ thập niên 1930s do tài tử
nổi tiếng Thomas Edwin “Tom” Mix (tên thật là Thomas Hezikiah Mix)
bắt đầu trong những phim “câm” và trở thành loạt truyện bằng tranh)

(Một trong những sản phẩm sô-cô-la của hảng Milk Duds)

p368

Anh Ripley cần một cái “hộp kích nổ” –một dụng cụ nhỏ xíu hoặc không quá nhỏ đó, tùy thuộc vào loại mà người ta sử dụng– hoặc là với một trục pít-tông, một khi những sợi dây điện được kết nối đúng cách, vốn được kéo lên, và với cảm giác hào hứng đẩy nó xuống hoặc một kiểu khác, nhỏ hơn với tay cầm quay nửa quay vòng, gởi dòng điện qua sợi dây đến những chất nổ được kết nối một cách chuyên nghiệp và trò chơi chấm dứt. Không thành vấn đề. Anh Ripley cũng không anh Smock đã có thể để xác định vị trí một. Không có vấn đề. Anh ta được huấn luyện theo cách Biệt kích và anh ta biết rằng bất kỳ nguồn điện hợp lý nào sẽ làm được việc.
Gần đó là một chiếc xe jeep bị bỏ rơi mà qua đó rõ ràng đã bị đánh trúng trong cuộc pháo kích gần đây. Bị lật trên một bên của nó, đó là điều tương đối dễ dàng cho anh Ripley đến bên bình điện xe vốn nằm dưới chỗ ngồi tài xế. Những cái vỏ xe thực sự là đang bốc cháy, và khi anh ta cố gắng đến được những đầu ra của bình điện, mùi nồng gắt của cao su đang cháy, chảy ra tấn công những giác quan của anh ta.
Anh ta đã thực sự chuẩn bị nhựng sợi dây được gắn liền với những nơi phá hủy bằng cách gọt đi lớp cách điện bằng con dao K-Bar của mình để cho chúng có thể nhận được dòng điện. Bằng một cách nhanh chóng, khẩn trương, trong sự điên cuồng và giống như một người điên, anh ta đặt những sợi dây điện vào những đầu ra của bình điện, hy vọng cho sự phản ứng đòi hỏi. Không có gì xảy ra. Chạm vào những sợi dây vào những đầu dẫn trên bình điện, sau đó đảo ngược chúng trong một lần, hai… năm, sáu… chín, đến mười lần… không có gì xảy ra. Lần nầy anh ta thực sự không thể trở lại ngoài đó, ngay cả khi anh ta phải chạy thêm một dặm khác trong vòng bốn phút phụ trội. Có quá nhiều hỏa lực đến từ mặt bắc. Quân Bắc Việt cuối cùng đã đã tìm ra anh ta. Và sau đó… điều đó xảy đến.

(Cái hộp kích nổ “Hellbox” để gởi dòng điện đến chất nổ)

(Một kiểu dao Ka-Bar (hoặc K-Bar) chiến đấu của quân nhân
Mỹ do hảng Dao Ka-Bar chế tạo cho Quân đội Hoa Kỳ)

Sự chiến thắng, trong khoảnh khắc, là một thuật ngữ tương đối, tạm thời. Tiếng nổ của những chất nổ mà anh Ripley với nỗ lực như của vị thần sức mạnh Hercules, gần như siêu phàm phải chịu đau đớn đã đặt vào chỗ trên đó, sự bất tận của thời gian gần như thế trong bốn tiếng đồng hồ đến với anh như là một sự chấn động theo cả nghĩa bóng và đen. Làn sóng áp suất quá mạnh ban đầu của vụ nổ truyền đến anh ta ngay trước khi tiếng gầm thét điếc tai của cây cầu đang đi lên cao, nhấc anh ta lên như đang cưỡi xe đạp vào trong không khí như thể được nhặt lấy bởi bàn tay vô hình, khổng lồ của Thượng Đế.
Anh Ripley đã không đang đối mặt với cây cầu khi những chất nổ phát nổ. Anh ta thay vì trong quá trình cố gắng che chắn, vội vã kéo theo một cô bé người Việt vốn là người vẫn còn ở trong khu vực và đã bị tách ra từ mẹ cô ta vốn là người đang chạy cách khoảng 20 thước hoặc hơn ở phía trước cô bé theo hướng của mình xa khỏi khu vực chiến sự. Việc nhìn thấy người mẹ nầy và đứa con gái ở giữa cái địa ngục đang diễn ra trên tất cả những gì xung quanh họ khiến cho anh ta đau nhói lòng.

p369

Điều đó buộc anh ta nghĩ về những đứa con của riêng mình trong lần đầu tiên kể từ khi anh ta bắt đầu đặt vào những chất phá hủy.3 Cô bé riêng biệt nầy, gần giống như tất cả trẻ em Việt Nam, đối với số tuổi của cô bé, khá nhỏ người theo những tiêu chuẩn của Mỹ. Cô bé, anh ta đoán rằng, lớn tuổi hơn đứa con trai trưởng Steven của anh ta, nhưng không lớn người hơn nhiều, và có lẽ nhẹ hơn, so với đứa con trai út Thomas của anh ta.

(Bức điêu khắc hình vị thần sức mạnh Hercules bên Ý)

Đối với anh Ripley, đó là một cảnh tượng tuyệt đẹp lạ thường, khó tin được. Như thể đang diễn ra trong một màn chuyển động chậm để cho anh ta có thể chứng kiến giấc mơ xấu nầy mà hiện thời đã chuyển sang sự đạt đến thực sự màn kết thúc cuối cùng của nó, anh quan sát trong khi những khối bê-tông và xe đẩy bằng thép bị xoắn quay tròn qua không khí. Những mảnh gỗ làm sàn trên cây cầu tiếp giáp với những phần vốn vừa mới bị thổi tung, anh ta có thể nhìn thấy, đang thực sự bốc cháy. Một khoảng không gian mới mở ra giữa những nhịp cầu là một hình ảnh tạo sự yên lòng. Cây cầu Xưa thời Pháp Cầu hiện thời cũng sụp xuống. Những chiếc xe thiết giáp và xe hỗ trợ súng đạn của Quân Bắc Việt sẽ không băng qua được sông Cửa Việt ở Đông Hà sớm hơn bất kỳ lúc nào.
Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, cuộc chiến tranh trong phạm vi ngay vùng phụ cận của họ, dù là trong phạm vi tầm đạn của vũ khí nhỏ, cuối cùng tạm ngưng hẳn. Một sự tạm ngưng hoàn toàn. Trên bờ phía bắc của sông Cửa Việt, lực lượng Quân Bắc Việt dường như đã quá muộn hiểu ra rằng đáng lẽ họ đã chú ý nhiều hơn đến anh chàng tò mò mà đôi chân của anh ta đôi lúc đã treo lơ lửng mở trong khoảng trống trong khi di chuyển loanh quanh phía dưới cây cầu. Những người của lực lượng Sói Biển –tất cả họ là những người hâm mộ anh Ripley– bừng lên trong tiếng hoan hô cổ vũ như sấm một khi cây cầu bị nổ tung và tiếng súng đã ngừng hoàn toàn tức thời.
Trong một tình trạng ồn ào, hỗn loạn là kết quả gần như lễ hội, ngay lúc đó, anh Ripley nhận lấy ống nghe vô tuyến cầm tay từ một anh Nhã hân hoan và gọi vào báo tin cho Trung tá Turley ở Trung tâm Hoạt động Chiến thuật. Anh Turley ngay lập tức đồng ý cho việc phát sóng ban đầu của anh Ripley. “Cầu Đông Hà bị hạ. Tôi nói một lần nữa… cây cầu bị hạ. Chấm dứt…” Và đó là như thế.4

(Qua làn sóng, những lời báo cáo ngắn gọn của Đại úy John Ripley :
“Cầu Đông Hà bị hạ. Tôi nói một lần nữa… cây cầu bị hạ. Chấm dứt…”)

Anh Turley, nhận được cú gọi, có thể cảm thấy sự suy yếu và sự kiệt sức hoàn toàn trong giọng nói của anh Ripley. Trong khi anh ta chắc chắn cảm tạ là cây cầu đang bùng cháy và nằm trong dòng sông, anh ta thực sự không có cảm giác đầy đủ nào cho điều gì mà anh Ripley phải vượt qua trong việc phá hủy cây cầu. Anh Turley chưa bao giờ nhìn thấy cây cầu Đông Hà, hoặc anh ta cũng không có thể hoàn toàn hiểu được những thách thức mà vị Đại úy Mỹ trẻ nầy phải đối mặt. Anh ta chỉ thị một trong những vị Đại úy canh chừng với anh ta ở đó trong Trung tâm Hoạt động Chiến thuật để ghi chép thông tin chuyển vào lúc 1630 giờ.5

p370

Cuối cùng cho phép chính mình một ít thời gian quý giá cho việc thừa nhận sự kiệt sức của mình, anh Ripley dựa người vào vách hầm trú trong cách ngược hướng từ cây cầu. Anh ta bất ngờ bị bao quanh bởi hàng chục người từ cả Đại đội 1 và 4, tất cả họ vỗ nhẹ anh ta, chạm vào anh ta như thể bằng cách nào đó sự may mắn của anh ta sẽ đi vào trong họ, giống như anh ta là Đức Chúa Giê-su đang chữa lành người phong cùi. Bằng sự nhiệt tình, họ la lên hết lần nầy đến lần khác “Cảm ơn, Đại úy.” “Bắc Việt hết rồi.”6 Nền văn hóa và giao thức nghiêm ngặt của họ sẽ không bao giờ cho phép những người lính của Sói Biển bày tỏ quá cá nhân và vượt nghi thức thân mật chưa được thừa nhận đối với những sĩ quan của riêng mình. Nhưng một lần nữa, Đại úy Ripp-lee là vị cố vấn của họ.
Người cận vệ cao cấp của anh Bình làm anh Ripley ngạc nhiên nhất vào lúc mệt nhoài và nỗ lực cực độ nầy. Vị trí như là một cận vệ cao cấp cho vị chỉ huy tiểu đoàn, ít nhất là trong Tiểu đoàn 3, được dành riêng cho chiến binh dữ dội nhất và được tôn trọng nhất trong nhóm. Được biết đến đối với anh Ripley như là “Jack,” hoặc “Jack Ba Ngón tay” bởi vì ngón tay cái không tính và cá nhân anh ta đã cắt bỏ hai đốt cuối của ngón út của riêng mình trên bàn tay trái như là một chứng tỏ về lòng trung thành đối với vị tiểu đoàn trưởng của mình, người chiến binh hiệp sĩ, giống như tay kiếm Nhật ưu tú nầy rõ ràng là một người khác thời trong thế kỷ 20.
Thậm chí tôn kính hơn những vị hạ sĩ quan thâm niên nhất, cáu kỉnh, biết nhiều, và thấy nhiều vốn là những người thuộc “Quân đoàn Xưa” đối với những sĩ quan và những quân nhân non kém theo kinh nghiệm của anh Ripley, người cận vệ cao cấp hiện thời của anh Bình hưởng được vị thế độc nhất trong phạm vi Tiểu đoàn 3. Đối với anh Ripley, anh Jack thì thần bí và không thể biết, bí ẩn và khó hiểu thấu như tất cả vùng đất Châu Á đối với những người Tây phương. Đối với anh Ripley, anh Jack là một tấm gương nổi bật của Quân đoàn TQLC Việt Nam cho sự tận tâm và hy sinh trước sau như một. Bất cứ nơi nào anh Bình đi, anh Jack đi. Bất cứ nơi nào anh Bình đặt vị trí cho mình, anh Jack luôn luôn chọn lấy một nơi giữa bất cứ sự nguy hiểm gì có thể có và người mà anh ta tuyên thệ tự hy sinh chính mình cho. Thậm chí không cần sự cố gắng, mặc dù anh Ripley chắc chắn rằng anh ta vun đắp một hình ảnh, anh Jack có cái nhìn trông như một đấu sĩ hung tợn đối với anh ta. Trên điểm của riêng mình, anh Ripley tin rằng anh Jack là một hậu duệ trực tiếp của Thành Cát Tư Hãn. Tất cả những binh lính TQLC, bao gồm những vị Đại úy, Trung úy của anh Bình, thể hiện gần như tôn sùng đối với anh Jack.

p371

Giống như anh Nhã nhưng theo một cách dữ dội hơn rất nhiều, anh Jack hoàn toàn không vị kỷ trong sự cống hiến của mình; và anh ta ở mọi nơi mà anh Bình có mặt. Ít như anh Bình ngủ, dường như là anh Jack ở đó khi họ bắn trúng cái giá để đồ và luôn luôn thức dậy trước vị Thiếu tá của mình. Anh ta có mặt ở khắp nơi với một dấu hiệu không bao giờ có về sự mệt mõi hoặc cảm xúc. Anh ta chỉ là thế. Như những người Mỹ không có những cảm xúc thích gặp gỡ bằng những cách vỗ lưng kết bạn, sống tập thể của họ, anh Jack ít nói và theo đúng lề lối. Anh ta khiến cho nam tài tử Charles Bronson dường như trở thành hoạt hình. Nếu đạo diễn Sergio Leone đã đến vùng phía đông để quay phim qua sự tương đương Á Châu với thể loại phim Miền viễn Tây kiểu bún Ý (Spaghetti Western) của mình và đang tìm kiếm một phiên bản Đông phương cho nhân vật trong vai được gọi là Người đàn ông Không có Tên, anh Jack đã có thể thủ vai giỏi hơn tài tử Clint Eastwood; và anh ta là nhân vật thật.

(Vua Đế quốc Mông Cổ, Genghis Khan (Thành Cát Tư Hãn)
nổi tiếng về quân sự, bạo lực, và tàn ác, lẫn phân minh không kém)

(Tài tử Charles Bronson nổi tiếng của điện ảnh Hoa Kỳ)

(Sergio Leone, là nhà đạo diễn Ý, kiêm nhà sản xuất phim, và viết
truyện phim, chuyên về loại phim “Spaghetti Western” còn được gọi
là “Italian Western” (“Miền viễn Tây kiểu Ý”) trong thập niên 60s)

(Tại tử thượng thặng về phim cowboy, Clinton “Clint” Eastwood, Jr.,
trong một số phim nổi tiếng của đạo diễn Sergio Leone trong thập niên 60s)

Anh Jack đã càng lúc nhìn anh Ripley bằng ánh mắt ưu thích và quý trọng. Theo thời gian, anh Jack cũng đã thực sự trở thành cận vệ của anh Ripley; không phải bởi vì anh ta được lệnh nhưng vì anh ta dường như được thúc đẩy từ lòng kính trọng và sự quan tâm đích thực cho vị Đại úy Mỹ. Đây là điều không bình thường nhất ngay cả đối với sự quan hệ chặt chẽ giữa những binh lính TQLC Việt Nam và những người thuộc Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ. Sự tôn trọng của anh Ripley dành cho anh Jack hơn là sự tương trợ lẫn nhau. Hai chiến binh nầy từ hai nền văn hóa hoàn toàn khác biệt và với rất ít khả năng giao tiếp bằng lời lại có thể vượt qua những thách thức nhỏ nhặt đó.
Điều làm John Ripley thất vọng là tin tức chiều tối trên truyền hình Mỹ ở quê nhà mãi mãi đầy đủ phim ảnh mô tả những thứ giống như cuộc rút lui nhục nhã của Trung đoàn 57, về những quân lính của QĐVNCH hành động theo các cách mà qua đó là bất cứ cái gì ngoại trừ như là người lính chiến. Trừ khi những người dân ở quê nhà có thể chứng kiến sự cống hiến và lòng trung thành của những người giống như anh Bình và anh Nhã và anh Jack, cùng với phần còn lại của những người lính thuộc Tiểu đoàn 3, họ sẽ hiểu chiều sâu của sự cam kết của những người đó đối với việc đánh bại những người Cộng sản.
Phần nhiều như anh Ripley biết rằng anh ta và anh Smock đã làm trọn một cái gì đó đáng kể, và ngay cả mặc dù, trong thời điểm cuộc chiến tranh dường như thực sự ngừng lại, chắc chắn là điều đó không phải là chiến thắng với bất kỳ cảm giác cuối cùng nào đó. Không có những chai rượu sâm banh, không có những tiếng vỗ tay mừng chiến thắng; anh hoàn toàn chưa sẵn sàng để theo hướng đến khu giải trí Disneyland. Không ai đã từng nói với Quân Bắc Việt là trận chiến đã kết thúc. Nhưng với sự phá hủy cây cầu, anh Ripley cuối cùng có thể có một chút thời gian để nghỉ ngơi, tuy ngắn ngủi. Nếu anh đã từng cảm thấy bị kiệt sức như thế nầy khi còn là một Lima Sáu Thực sự, anh ta không thể nhớ lại. Chuyện đó đã là cả 5 năm, cả một khoảng thời gian cuộc đời, qua rồi. Anh ta quá mệt mỏi đến độ anh cảm thấy chính mình đang trên bờ vực tạo ra ảo giác.

(Trước cổng vào của khu giải trí Disneyland nổi tiếng
của Hoa Kỳ, ở tiểu bang California)

p372

Với lòng yêu mến của tất cả những binh lính TQLC(pc 03) vây quanh anh ta, chúc mừng anh ta, anh Jack xuất hiện. Không có sự phô trương kèn trống hoặc tiếng la hét ồn ào, đám đông của những binh lính TQLC hiện diện chỉ đơn giản là chia tay, và giống như vị Thánh Moses với Biển Đỏ, một con đường được mở ra cho Jack tiến đến vị cố vấn của họ. Anh Ripley đang ngồi dưới đất, dựa lưng vào vách hầm trú khi anh Jack tự trình diện trước mặt anh ta. Trong bàn tay của anh Jack, bàn tay với những đốt mất đi, anh ta cầm một cái lon, là tất cả mọi thứ, sữa đặc. Trong bàn tay khác của anh ta, Jack có một con dao chiến đấu được tướt vỏ của mình và trước khi anh ta ngồi xuống bên cạnh Đại úy Ripley, anh ta đã nhấn lưỡi dao vào trong nắp hộp, khoét ra một lỗ đủ lớn vừa vặn cho ngón tay út còn lại của anh ta để vào nó.
Không hoàn toàn chắc chắn về điều gì mà anh Jack dự định làm, anh Ripley vẫn còn trong tư thế nằm ngửa. Với sự dịu dàng mà một người cha có thể bày tỏ cho một đứa bé, người chiến binh dữ dội nhất của toàn bộ Sói Biển lột bỏ chiếc nón sắt của Đại úy Ripley, cho ngã đầu của anh Ripley vào lòng và bắt đầu chà xát chiếc cổ và đôi vai anh ta trong một cách thức mạnh mẽ và xoa dịu bắp thịt. Lần nầy đến lần khác, giống như người cha hoăc mẹ đang cố gắng làm dịu lại hoặc trấn an người con trẻ bị khích động quá nhiều, anh Jack nói những lời mà anh Ripley chưa từng bao giờ nghe nhưng có thể phân biệt ý nghĩa của chúng bởi những âm điệu ngân nga nhẹ nhàng, êm dịu; “Suuuuaah Đại úy, suuuuah…” (i.e. suuuuah có thể đó là chữ “sướng à” kéo dài theo cách nghe của người Mỹ) Lần nầy đến lần khác, mà không cần vội vã và như thể họ có tất cả thời gian trong thế giới, Jack chà xát cho sự lưu thông của máu trở lại vào trong cơ thể bị tiêu hao và mệt mỏi của anh Ripley. Khi anh ta mát-xa người bạn Mỹ của mình, đồng thời anh ta sẽ nhúng ngón tay út của mình vào trong lon sữa đặc, một ngón tay vốn có lẽ đã cuối cùng được rửa và sạch sẽ từ lâu trước khi trận chiến bắt đầu, và mỗi lần móc ra một miếng chất ngọt đông đặt và nhất thiết cưỡng đút nó cho vị cố vấn của mình. “Suuuuaaah Đại úy, suuuaah… “ Anh Ripley, cơ thể của anh ta chán chường cho sự nuôi dưỡng, có thể cảm thấy sự sống đang trở lại vào trong anh ta nhưng vẫn không chắc chắn rằng anh ta không đang bị ảo giác khi nghe âm thanh…” Suuuaaah Đại úy, suuuaah…”

(Công cuộc xây dựng cây cầu Đông Hà bằng bê tông và thép của đội
xây dựng Seabee (Ong Biển) của Hải quân Hoa Kỳ vào năm 1969)

(Những thanh thép cầu hình chữ I được nâng lên bằng những
chiếc xe câu tương đối hiện đại lúc bấy giờ của Hoa Kỳ)

(Cây cầu Đông Hà hoàn chỉnh, chắc chắn nầy, đã bắt buộc chịu phải
hủy trong sự đau đớn cho công lao, và tài lực của Quân đội Hoa Kỳ)

D- Trở lại Trung tâm Hoạt động Chiến thuật :

Điều mà Anh Ripley và anh Smock làm trọn, không có gì là không kỳ diệu. Tâm trạng ở Trung tâm Hoạt động Chiến thuật đã được cải thiện chỉ một chút ít. Tình hình trên bộ vẫn còn nghiệt ngã, nhưng chỉ một chút ít kém hơn so với nó trước đây.

p373

Việc phá hủy cây cầu Hà Đông là một sự kiện vốn có một tác động chiến lược và những điều ngụ ý. Mọi người ở đó đều biết điều đó. Tất cả họ có thể đọc bản đồ.
Không có tin tức tình báo đủ về những khả năng của đối phương tại điểm chạm súng hoặc gần đó ở Đông Hà để biết xem nếu họ đã đến với những nguồn tài lực qua kỹ thuật đáng kể và qua việc bắt nối lại mau chóng nhằm cố gắng sửa chữa cây cầu. Quân Bắc Việt đã cho thấy rằng họ có pháo binh gần như vô hạn và một số lượng những cán binh và xe tăng lớn hơn so với dự kiến lúc ban đầu. Ngay cả với phần lớn dụng cụ và nhân lực như Quân Bắc Việt đưa vào trận chiến, không có khả năng là họ đã sẽ có kế hoạch trên cách giải quyết của anh Turley, phát súng may mắn của anh Lượm, sự cứng rắn về tinh thần, sự chịu đựng về thể chất, và lòng dũng cảm của anh Ripley, hoặc sự ngoan cường của anh Bình.
Trước sự khởi đầu của cuộc tấn công nầy, được ghi nhận rằng nỗ lực chống máy bay của Bắc Việt đã được tăng cường. Nhiều khả năng là họ không có khả năng địa phương để sửa chữa các cây cầu để cho những chiếc T-54 có thể vượt qua. Hải pháo sẽ khiến cho một nỗ lực như thế phải trả giá. Nhưng thế còn những chiếc xe tăng PT-76 ? Chúng được biết đến có khả năng lội nước. Không, anh Turley và nhóm gồm những người Mỹ và người Việt Nam mỏi mệt của anh ta tin rằng động thái kế tiếp có thể xảy ra nhất của đối phương sẽ là thay đổi sự tập trung của họ hướng về Cam Lộ. Những kẻ xấu cũng có những bản đồ; và tình báo chiến trường tốt. Ở Cam Lộ có một cây cầu còn lại mà qua đó băng qua con sông Cửa Việt, có khả năng chịu đựng những chiếc T-54; và sẽ không có mối đe dọa nào từ Hải pháo. Không có những binh lính TQLC Việt Nam nào ở Cam Lộ. Với pháo binh của Doanh trại Carroll đã bị im tiếng là chắc chắn, mối đe dọa đáng kể duy nhất đối với Quân Bắc Việt sẽ là sức mạnh Không quân được liên kết khi nó có thể đi đến trên vị trí đóng quân của đối phương.
Gerry Turley đang nhận được báo cáo tóm tắt thường xuyên bởi vị sĩ quan liên lạc Không quân của mình. Như được hứa hẹn trước đó, thời tiết đang cải thiện và Thiếu tá Brookbank đang nói chuyện với những người thích hợp chịu trách nhiệm với việc phối hợp tất cả các tài sản Không quân được sử dụng trong môi trường cực kỳ giàu mục tiêu nầy. Những người bạn đồng minh tin rằng đối phương đã mang vào những nguồn lực chống máy bay đáng kể đến bờ cạnh phía trước xa nhất của khu vực chiến trận. Họ sẽ sớm tìm ra mối đe dọa chết người như thế nào; và vẫn còn có đến bảy tiếng đồng hồ còn lại của ngày Chúa Nhật Phục Sinh mà trong thời gian đó, họ sẽ phải tiếp tục chiến đấu cuộc chiến tranh. Cuộc giao chiến từ ngày nầy đến ngày khác còn lâu mới chấm dứt.

(Bức hình chụp theo chiều sâu của vị chỉ huy Hải quân Hoàng gia, Robert
Mouat cho thấy Đại úy John Ripley khi anh ta làm việc để đặt những chất
nổ dưới cây cầu Đông Hà. Thành công nầy đã chận đứng được 200 chiếc
xe tăng của Quân Bắc Việt. Đây là một bức ảnh có một không hai)

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 02_ Trung sĩ York : là biệt danh của Alvin Cullum York –từ cuốn phim “Seargent York” (“Trung sĩ York”) ăn khách nhất vào năm 1941, nói về công trạng của ông ta– là một trong những quân nhân Hoa Kỳ có nhiều huy chương nhất vào thời Thế Chiến thứ I. Ông ta nhận đước mề-đai Danh dự (Huân chương Bảo Quốc) cho việc dẫn đầu cuộc tấn công vào ổ súng đại liên của Đức, chiếm được 32 khẩu súng liên thanh, giết được 28 binh lính Đức, và bắt giữ 132 người khác.

pc 03_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.

One thought on “Phần 27: Bốn tiếng Đồng hồ Vô tận

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s