Phần 25: Cuộc Đối đầu Kịch liệt ở Đông Hà

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p325

Phần 25: Cuộc Đối đầu Kịch liệt ở Đông Hà

Đến sớm Chúa Nhật Phục Sinh, cái đà của gần như bốn ngày của cuộc Tổng tấn công Nguyễn Huệ tiếp tục pha trộn cho cả hai bên phải tham gia: một cách tích cực đối với Quân Bắc Việt và không rất tích cực đối với phía Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Với việc rút quân của Trung đoàn 57 đã từ lâu biến thành một cuộc tháo chạy tán loạn, cảnh hỗn loạn và lớp sương mù vốn bao quanh phần riêng biệt đó của địa hình Quân khu I có những hậu quả ngày càng tiêu cực của riêng nó. Không có trật tự thì không có sự tự tin, và không có sự tự tin thì những tin đồn, những tin đồn rất tiêu cực, lấp đầy khoảng trống thông tin.
Điều chưa rõ là liệu có phải tin tức mà Quân Bắc Việt, cùng với lực lượng thiết giáp kèm theo của họ, đã thực sự băng qua cây cầu và nắm quyền kiểm soát những phần của Đông Hà, được lan truyền ra bởi những binh sĩ và những truyền tin viên của Trung đoàn 57 hoàn toàn bị đánh bại, có lẽ như một cái cớ cho sự hèn nhát chung và cả khối của họ, hoặc là không. Phức tạp như Quân Bắc Việt theo một số cách nào đó đang chứng minh là thế, ắt hẳn là những người của họ vốn xâm nhập vào mạng lưới vô tuyến phe bạn bằng cách sử dụng dụng cụ bị bỏ lại phía sau để lan truyền những tin đồn và những sai lầm mà qua đó có thể được lợi chỉ cho phía họ. Với cường độ của những hàng rào pháo kích gần đây, đó không phải là điều gì quá gượng gạo cả khi cho rằng Quân Bắc Việt đã thực thể đến Đông Hà. Nhưng điều đó không phải là sự thật. Ít nhất là chưa.
Anh Bình và anh Ripley cả hai hiểu tác động nguy hại mà những tin đồn đang có trên các lực lượng bạn và những thường dân còn ở lại; ngay cả những binh lính Thủy quân Lục chiến (TQLC) của họ. Những người lính TQLC ắt hẵn chỉ là sợ hãi như việc rút lui nhục nhã những binh lính của Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH), mặc dù không phải là một người nào trong những người lính của Sói Biển chạy trốn khỏi hiện trường. Sự khác biệt là trong kỷ luật và tính chuyên nghiệp vượt trội và sự lãnh đạo của họ. Hành động táo bạo, và những lời nói đầy cảm xúc được cần đến để bắt đầu ngăn chận làn sóng, để truyền cảm cho các lực lượng VNCH(pc 01) với một cảm giác hy vọng và mục đích, để cho họ biết rằng cuộc chiến chưa mất.

(Bản đồ phòng thủ của Lữ đoàn 20 Xe tăng của
QĐVNCH tại Đông Hà vào năm 1972)

p326

Những người Mỹ và những người Tây phương nói chung, đáng lý ra có thể nhận biết tính chất và bản chất của những nhận xét rất phổ thông, gần với điều khoa trương và cần thiết đối với tình hình, mà Lê Bá Bình sắp sửa đưa ra. Những điều đó với một ý nghĩa lịch sử có thể đã được nhắc nhở đến cách nói của Winston Churchill được rút gọn “Đây là giờ khắc tốt nhất của họ” hoặc cách phát biểu của John Paul Jones “Tôi chưa bắt đầu chiến đấu.”
Để dập tắt cơn bão, anh Bình lần đầu tiên nói với người bạn John Ripley của mình, qua việc bảo anh Ripley rằng anh ta muốn vị cố vấn của mình phát sóng cùng mỗi thông tin mà anh ta sẽ cũng phát ra. Việc phát sóng của anh ta là dành cho thế giới nghe. Chính là phần lớn dành cho bất kỳ Quân Bắc Việt nào đang lắng nghe như nó dành cho những lực lượng bạn mở lên tần số của mình. Nếu có những người Cộng sản đang lắng nghe, họ được cho biết là có một người mới nắm quyền trong khu vực. Sẽ không có nghi ngờ gì, không lời nói hai nghĩa lập lờ nào. Sẽ không có cuộc rút quân nào thêm nữa, không có vùng đất nào giao ra mà không có việc phải trả nặng nề rút ra. Từ khi anh ta còn là một cậu bé ở Tân Định, cậu bé Bình là một người hâm mộ nồng nhiệt và đã từng nhìn thấy điều gì đó mà những cuốn phim của Gary Cooper có, hầu hết nhiều lần. Hôm nay là “Cuộc Đối đầu Kịch liệt” của riêng anh Bình và anh ta vẫn đang ở quanh đó để chịu đựng những may rủi lớn hơn nhiều so với nam tài tử Cooper từng phải đối mặt.
Trong lịch sử lâu dài hơn nhiều của Việt Nam, những lời bình luận của anh Bình có thể so sánh một cách thuận lợi với bất cứ điều gì được đưa ra bởi bất kỳ người nào trong số những vị anh hùng Việt Nam có tiếng tăm lớn hơn, quen thuộc với mỗi cô cậu học sinh Việt Nam. Nếu lực lượng Sói Biển có thể bám giữ ở đây và bằng cách nào đó giúp đảo ngược làn sóng, riêng phần của họ trong sự liên tục hai ngàn năm lịch sử Việt Nam trong việc chiến đấu chống xâm lược và áp bức sẽ được bảo đảm.
Anh Bình không có thời gian vào lúc nầy để xem xét vị trí của mình trong lịch sử vào buổi sáng Phục Sinh 1972. Sự tập trung duy nhất của anh ta là tiến hành những mệnh lệnh cho mình và chận đứng những người Cộng sản; là bám giữ Đông Hà bằng “bất cứ giá nào.” Anh Bình hiểu một cách thông suốt và hoàn toàn những mệnh lệnh đó đòi hỏi điều gì. Anh ta tận tâm và nhiệt tình nhất quyết tiến hành những mệnh lệnh đó.
Cho dù những hành động của anh Bình và 700 người lính của Sói Biển mà anh ta chỉ huy, chống lại cái gì sẽ vỡ ra là nhiều hơn 20.000 quân xâm lược, sẽ đặt họ vào trong cùng danh mục như Hai Bà Trưng từ 2.000 năm trước đây hoặc vua Lê Lợi trong thập niên 1.400s vẫn còn để được nhận biết.

p327

Điều đó sẽ phụ thuộc vào việc họ chiến đấu giỏi như thế nào nhưng thậm chí quan trọng hơn là về việc ai sẽ là người viết những tường thuật về trận chiến hiện thời vốn sắp sửa được tham gia toàn bộ ở Đông Hà.
Những người của Sói Biển cảm thấy một sự pha trộn của những cảm xúc khi họ theo dõi, từ những vị trí chiến đấu mới đào của họ tiếp giáp với cả cây cầu và con sông, những người vốn chỉ vài giờ trước đây, đã từng là những thành viên của Trung đoàn 57 hiện thời đang nhanh chân trốn chạy trộn lẫn vào những thường dân xấu số mà những người lính Sói Biển cảm thấy không có gì cho họ, ngoại trừ nỗi buồn và lòng trắc ẩn. Một số ít trong những người của anh Bình trải nghiệm qua bất cứ điều gì khác hơn là sự hoàn toàn xem thường đối với những người hiện thời là những cựu quân nhân của QĐVNCH.(pc 02) Có kỷ luật như tất cả họ đều là thế trong việc ở lại Đông Hà như được ra lệnh, đối với một số trong những người lính của anh ta, thậm chí cần đến kỷ luật lớn hơn để tránh việc quay ngược vũ khí của mình vào những người vốn là, cho đến gần đây, những người anh em đồng ngũ được kết lại không tương đồng. Đối với việc hao mòn số đạn dược quý giá theo cách mà sẽ chỉ giới hạn những sự lựa chọn của họ đối với Quân Bắc Việt đang tiến đến gần khi việc tái tiếp tế vào lúc nầy là mối quan tâm ngày càng tăng. Trong khi những người của Trung đoàn 57 đáng lý ra nên mang lấy một phần gánh nặng phòng thủ khu vực, sự bảo vệ phần đất nầy của tỉnh Quảng Trị, mà qua đó trong lúc ấy chỉ bám vào việc giữ lấy cây cầu Đông Hà, hiện thời rơi vào trách nhiệm của bốn đại đội TQLC Việt Nam được tăng cường bởi một tiểu đoàn xe tăng chưa được kiểm tra và chưa được thử nghiệm của QĐVNCH.
Anh Bình và anh Ripley đang ngồi cùng với người lái xe tăng, tiếp tục bám giữ sinh mạng đáng quý vào một trong những chiếc xe tăng M-48 thuộc Tiểu đoàn 20 Thiết giáp, theo hướng ngược lại về phía Đông Hà khi họ nghe thông tin sai lầm rằng Quân Bắc Việt đã vượt qua sông. Ra lệnh cho chiếc xe tăng ngừng lại một lúc, anh Bình và anh Ripley nhảy xuống và thực hiện việc phát sóng. Thông tin được gởi ra ngoài trên hai mạng lưới vô tuyến. Như là phong cách của mình, anh Bình bình tĩnh quay sang vị cố vấn của mình, “vị cố vấn đáng tin cậy” đích thực của anh ta, và nói:

Đại úy Ripp-lee, nếu anh bạn vui lòng, tôi sẽ gởi một thông tin trên mạng lưới chỉ huy của tôi và tôi muốn anh bạn gởi nó trên mạng lưới cố vấn của bạn do đó, sẽ không có cơ hội có thể có cho sự hiểu lầm.

Thông tin như sau:
Có tin đồn rằng Đông Hà đã thất thủ. Có những binh lính TQLC Việt Nam ở Đông Hà. Những mệnh lệnh cho tôi là giữ kẻ thù ở Đông Hà. Chúng tôi sẽ chiến đấu ở Đông Hà. Chúng tôi sẽ chết ở Đông Hà.

p328

Chúng tôi sẽ không rởi bỏ. Miễn là một binh lính TQLC kéo dài hơi thở sự sống, Đông Hà sẽ thuộc về chúng tôi.1

A- David chống lại Goliath(pc 04) –Phong thái của TQLC :

Hạ sĩ nhất Lượm là người dẫn dắt đội phi đạn chống tăng cho Đội A từ Trung đội Vũ khí thuộc Đại đội 1. Trước khi đảm nhận quyền chỉ huy Tiểu đoàn 3, và trước khi đảm nhận những nhiệm vụ như là vị sĩ quan điều hành cho Tiểu đoàn 3, anh Bình đã từng chỉ huy Đại đội 1. Anh Bình biết anh Lượm khá rõ. Anh ta biết anh Lượm là một quân nhân TQLC(pc 03) tốt, một người lãnh đạo cứng rắn, siêng năng, kiên định, và dũng cảm. Đang chịu trách nhiệm cho đội phi đạn không có nghĩa là một đống rất nhiều trong phần về những phi đạn. Điều đó là thêm một nhiệm vụ bộ binh phụ trội. Không có quá nhiều dụng cụ phóng phi đạn, hoặc trong trường hợp nầy là Vũ khí Công kích Chống xe Tăng loại Nhẹ M-72 (LAAW = Light Anti-tank Assault Weapon), được phát âm là “law,” để đi chung quanh. Theo điều gì mà những người khác trong đơn vị đã nói với cả anh Bình và anh Ripley, chỉ có 10 người trong số họ trong toàn bộ tiểu đoàn vào giai đoạn nầy của trận chiến.

B- Khẩu súng Chống tăng M-72 :

Như là một vũ khí cải tiến theo sau dành cho những binh lính bộ binh sử dụng như là sự thay thế cho khẩu súng bazooka đáng nể tuy hiệu quả chưa cao của Thế Chiến thứ II và vài cuộc chiến nổi tiếng nào đó của Chiến tranh Triều Tiên, khẩu súng LAAW M-72(pc 05) –được đề cập đến thông thường nhất như là “LAAW”– sẽ không bao giờ được ưu chuộng đủ để có một cục kẹo được đặt tên theo nó. Bước vào phục vụ trong giữa thập niên 1960s với những binh lính Mỹ và của Khối Quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO = North Atlantic Treaty Organization), vũ khí mới có cảm giác hợp lý của thập niên 60s đối với nó: nhẹ, sẵn sàng để dùng, và một đầu đạn vốn được cho là có thể đốt cháy xuyên qua nhiều lớp thép. Đối với các lực lượng của Khối Quân sự Bắc Đại Tây Dương, chính là khẩu súng chống tăng của Tây phương tương đương với Khẩu súng Phóng Phi đạn Có cánh (RPG = Rocket Propelled Grenade) được Khối Hiệp ước Warsaw sản xuất. Khẩu súng RPG được tạo ra với dụng ý là để mang theo bên người, giống như mọi thứ khác mà những binh lính Mỹ mang –và họ cho là phải mang thật quá nhiều quân dụng với họ– vào trận chiến được sử dụng chống lại xe thiết giáp của địch quân và những vị trí kiên cố. Ở Việt Nam, mà trong hầu hết phần đất khó là một đất nước dành cho xe tăng, khẩu súng chống tăng được xem như là một cái gì đó để sử dụng chống lại những hầm trú hiện diện cùng lúc ở khắp nơi và được ngụy trang khéo léo được sử dụng ở khắp mọi nơi bởi Quân Bắc Việt và Việt Cộng quỷ quyệt.

(Khẩu súng chống tăng (LAAW hoặc LAW) M-72 nhỏ gọn,
của Hoa Kỳ và đối thủ của nó là RPG-7 (B-41) của Liên Xô)

(Đối thủ của M-72 là RPG-7 (B-41) của Liên Xô, là quân
dụng ưu thích nhất của Việt Cộng dùng để pháo vào thành
thị dân cư ở miền Nam Việt Nam, bất chấp mục tiêu,
trong khoảng cách xa cả cây số, rồi rút nhanh)

p329

Được quảng cáo như là một vũ khí vốn có thể “xuyên thủng độ dầy 30.5 cm thép đồng chất,” những giảng viên của Mỹ hân hoan loan báo sự kiện đó lập đi lập lại như thể họ thực sự biết về chất “thép đồng chất” là gì. Có lẽ, nó nhắc nhở họ về sữa tươi, lạnh,. Không thành vấn đề. Nếu được sử dụng một cách đúng mực, đầu đạn của khẩu súng chống tăng được cho là có thể xuyên thủng giáp xe thiết giáp của tất cả xe tăng được biết đến của Khối Hiệp ước Warsaw, và làm một công việc nướng sống khá gọn gàng trên đội binh sĩ bên trong.
Thách thức to lớn nhất là tầm tác xạ của nó. Giống như khẩu súng chống tăng bazooka, tầm tác xạ hiệu quả tối đa được quảng cáo là trong khu vực 200 đến 250 m. Bất cứ là người nào có mặt ở xung quanh cho đến khi một xe tăng nặng khoảng 40 đến 60 tấn tiến đến khoảng cách gần như thế, sẽ là một gã với những hòn đá to mà qua đó đang hoạt động toàn bộ và lẫn đang sản xuất ra thêm liều thuốc làm tăng cường sinh lực, hoặc chỉ đơn giản là một thanh niên với mong muốn cái chết. Ở khoảng cách 250 m, một người đàn anh ông với một khẩu súng chống tăng đang ở ngay trong phạm vi của tầm tác xạ của mọi thứ được đặt trên một chiếc xe tăng; khẩu súng pháo chính của nó và tất cả những khẩu súng máy được gắn vào nó. Những địa điểm được sử dụng cho khẩu súng chống tăng có những mức gia tăng 25 thước đối với những vị trí, cho thấy bất kỳ người lý lẽ nào là sự dẫn hướng nhờ làn gió thổi của tiểu bang Kentucky cùng với lời cầu nguyện có thể tạo thêm yếu tố trở thành khả năng của một người để thực sự đánh trúng mục tiêu đang đe dọa. Những ý nghĩ và suy luận về câu chuyện “David chống lại Goliath” thì không phù hợp gì cả.

(Bức tranh thạch bản “David chống lại Goliath” vào năm 1888
của nhà họa sĩ người Đức, Osmar Schindler (1869–1927), mô
tả lại trận chiến vinh quang của cậu bé chăn chiên David)

Ngay cả sau khi bắn ra bằng khẩu súng chống tăng trong cuộc huấn luyện và nhìn thấy sự thiệt hại mà nó có thể gây ra, thật khó để thực sự có lòng tự tin rằng cái mà anh bạn mang theo sẽ làm nên chuyện. Với cái vỏ ngoài được tạo nên bằng một loại nhựa và sợi thủy tinh nào đó, nó sẽ không thậm chí phục vụ như là một cây dùi cui rất tân tiến nếu cuộc chiến đấu rơi vào khoảng cách đủ gần, và có lẽ sẽ gãy ngang khi được sử dụng như là một cây đánh bóng chày chống lại bất kỳ hộp sọ khá dầy nào. Trọng lượng nhẹ của nó –nó cân nặng hơi hơn 2.25 kg bao gồm cả đầu đạn bên trong– làm cho nó có vẻ gần như tương đối không có bản chất đối với sự phá hủy mà nó được cho là gây nên. Như là một vũ khí để sử dụng chống lại những hầm trú và những vị trí kiên cố, nếu không có những loại vũ khí bắn trực tiếp nào khác có sẵn, khẩu súng chống tăng được nhất. Nhằm tạo thành tích trên bất kỳ loại tàn sát thảm khốc nào trên một chiếc xe tăng là vấn đề đang đặt ra rất nhiều câu hỏi; đối với tất cả những lá bài được phân chia một cách toàn vẹn, đối với tất cả những hành tinh được hoàn hảo sắp xếp thẳng hàng.
Hạ sĩ nhất Lượm và một trong những thành viên thuộc nhóm phi đạn của mình tiến gần đến lối vào phía nam đến cây cầu Đông Hà trong tư thế cúi mình và trườn bò.

p330

Khi họ làm điều đó, vẫn còn có những người tỵ nạn thường dân đang băng qua mặc dù những số người đã được giảm đáng kể lúc bấy giờ. Với sự xuất hiện của Quân Bắc Việt ở phía bắc của vùng ở giữa Cam Lộ–sông Cửa Việt và cây cầu, việc đi lại rõ ràng bị giảm xuống. Không có thêm những người lính, ít nhất là không ai trong những bộ đồng phục bị giải nhiệm, từ Lữ đoàn 57 ô nhục của QĐVHCH được trộn lẫn vào với những người đang rải ra.
Trong sự bảo vệ tâm lý hơn là bất cứ điều gì khác, Hạ sĩ nhất Lượm và người bạn cấp dưới của mình đẩy mạnh về trước mặt họ, khi họ trườn về hướng một vị trí đang bắn ra ở mặt hướng nam cây cầu mà qua đó sẽ cho phép họ một tầm bắn thẳng trực diện đến mặt hướng bắc của ngõ đi vào cây cầu, với hai thùng gỗ chứa đạn đầy bụi. Những thường dân vẫn đang băng qua cây cầu, mặc dù ở một tỷ lệ giảm nhiều từ trước khi sự xuất hiện của Quân Bắc Việt. Hai quân nhân TQLC Việt Nam từ từ lọt được vào trong những vị trí bắn ra cách khoảng 200 thước từ chiếc xe tăng T-54 đơn độc, được sơn màu xanh lá cây của Quân Bắc Việt vốn sắp sửa bò trên cây cầu từ mặt phía bắc con sông.
Có cuộc giao chiến đang xảy ra ở tất cả vùng xung quanh khi mà tất cả sự kiện nầy đang diễn ra nơi đây. Anh Bình đã đặt vị trí cho Đại đội 1 trên bờ sông đến ngày phía đông cây cầu với trách nhiệm che chắn chính cây cầu. Đại đội 4 được giao trách nhiệm chiến thuật cho khu nhà cửa phía tây cây cầu Đông Hà. Nhóm Chỉ huy Alpha, với anh Ripley, những truyền tin viên bao gồm anh Nhã và tất cả những người thuộc lực lượng an ninh của anh Bình, cùng với những thành viên thuộc thành phần của trụ sở Tiểu đoàn 20 Thiết giáp của QĐVNCH đang lui lại khoảng 50 thước từ cuộc giao chiến để kiểm soát và quan sát tốt hơn. Từ địa điểm thuận lợi của họ, anh Bình và anh Ripley, và anh Smock và ông sếp người Việt của anh ta, có thể nhìn thấy rõ ở trên và dưới cả hai bên bờ sông.
Anh Ripley theo dõi Hà sĩ nhất Lượm, người mà anh ta đã từng gặp, với sự thán phục say mê. Anh ta quan sát anh Lượm và một quân nhân TQLC khác cử động chậm rải, cẩn trọng vào trong vị thế đẩy và kéo những thùng đạn và hai khẩu súng chống tăng như chưa gắn đầu đạn. Người ta không đòi hỏi cái nhìn sâu sắc to lớn để hiểu chuyện gì sắp sửa được phơi bày. Nếu anh Lượm và người lính đó, mỗi người có trọng lượng khoảng 45 kg sủng ướt, John Ripley sẽ là ông già Santa Claus mập mạp. Không chắc là liệu anh Bình có đang theo dõi, anh ta gọi qua: “Thiếu Tá!” và chỉ về hướng đó. Anh Bình đã không bỏ lỡ một chuyện gì. Đủ quen thuộc với Thánh kinh Cựu ước, ngay cả mặc dù anh ta là một Phật tử thuần phục, câu trả lời của anh ta bằng tiếng Anh chuẩn cho người bạn cố vấn của mình không lấy gì ngạc nhiên lắm.

p331

“Ripp-lee. David và Goliath,” anh Bình đang mỉm cười; cách mỉm cười đích thực gần như đến điểm cười vang to khi anh ta nói điều đó. Anh Ripley đã không nhìn thấy nụ cười của vị Thiếu Tá kể từ lúc trước khi họ đi lên Đông Hà vào cuối đêm của ngày 30.
Lê Bá Bình đã dành toàn bộ sự nghiệp của mình như là một vị sĩ quan TQLC trong Tiểu đoàn 3 –gần hai rưỡi lần thời gian dài như sự tham gia của Mỹ trong Thế Chiến thứ II, và bốn lần lâu hơn chương trình “Người dơi” (“Batman”) đã từng phát sóng trên truyền hình lần đầu tiên. Ngoại trừ không hẳn là một năm, khi anh ta, như là một thành viên của Tiểu đoàn 3, đã từng được qui chế như là một sinh viên của Trường Cơ bản ở Căn cứ Quân sự Quantico, anh ta đã từng phục vụ với Sói Biển, trong cuộc giao chiến, trong suốt giai đoạn đó.
Để nghĩa ra những thứ theo quan điểm của Mỹ, anh Bình đã hội tụ với Tiểu đoàn 3 vào khoảng cùng lúc chương trình kịch vui “Những người Vùng ngọn đồi Beverly” (“Beverly Hillbillies”) xuất hiện trong những phòng sinh hoạt của dân Mỹ. Đến buổi sáng Phục Sinh 1972, những nhân vật trong chương trình kịch vui như Jed, Grannie, Ellie Mae, và Jethro đã hoàn tất rồi một năm của những chương trình phát hình lại. Anh Bình vẫn còn đang thực hiện trong thời gian phát hành lần đầu tiên.

(Chương trình kịch vui “Beverly Hillbillies” (1962–1971) cũng ăn khách
nhất trên đài truyền hình CBS của Mỹ; những nhân vật từ trái qua phải:
cô nàng Elly May Clampett, chú chó Duke, bà ngoại Daisy May Moses,
người cha J. D. Jed Clampett và anh chàng Jethro Bodine)

Đến lúc bấy giờ, anh Bình đã từng bị thương tám lần, theo những tiêu chuẩn đòi hỏi khó khăn cho huân chương Trái tim Tím, người bạn của anh ta, John Ripley, đã nộp đơn giới thiệu cho anh ta với tư cách như là một vị đại đội trưởng cho Đại đội Lima lúc xưa vào năm 1967: đã bị “đo ván,” vì lằn đạn xuyên qua đã từng xảy ra, và rằng vết thương là kết quả của cuộc giao chiến trực tiếp với đối phương. Mặc dù việc sử dụng một tiêu chuẩn thấp hơn mà qua đó, thật không may, không phải là một số lượng nhỏ những người Mỹ đã từng sử dụng để có được huân chương Trái tim Tím cho họ, những vết thương của anh Bình đã là quá nhiều không thể đếm được.
Những huân chương trang trí cá nhân của anh Bình bao gồm gần như mọi tưởng thưởng cho sự dũng cảm và vai trò lãnh đạo xuất sắc có thể từ đất nước non trẻ của mình, nhiều huân chương trong số đó được ban cho đến nhiều lần. Bây giờ quen thuộc với những tưởng thưởng của quân đội miền Nam Việt Nam, khi họ đi xuống dưới Sài Gòn vào những dịp giống như là đám cưới của anh Bình, anh Ripley có thể –như anh ta đã làm khi xung quanh là những người Mỹ trong quân đội– nhìn vào một người trong bộ đồng phục và từ những thứ trang trí trên ngực của người đó tựa như “đọc được” hoặc thể hiện ra một cách hiệu quả về câu chuyện sự nghiệp của anh ta như là một chiến binh. Anh Bình thậm chí đã được ban cho bốn mề-đai Ngôi sao Đồng của Mỹ cho những hoạt động liên kết trước đó với Quân đội Hoa Kỳ. Đó là điều hiển nhiên đối với tất cả mọi người, từ quan điểm hạn chế đó, là anh Bình có một ít phần ngang ngữa trong chuyên nghiệp về chiến đấu cuộc chiến.
Những huân chương mà anh ta đã được trao tặng, như chúng dành cho tất cả những chiến binh thực sự, không hoàn toàn định mức đo lường cho một người, lòng dũng cảm của anh ta, sự tận tâm cho đất nước của anh ta hoặc chiều sâu thực sự của lòng hy sinh của anh ta.

p332

Trong số sự việc quan trọng to lớn hơn nhiều là danh tiếng của anh Bình trong phạm vi huynh đệ tương đối nhỏ của các sĩ quan TQLC Việt Nam vốn là những người theo cách gọp chung và không tương xứng phải mang lấy quá nhiều gánh nặng của việc bảo vệ cho đất nước đang gặp khó khăn của họ. Bên trong đó nhóm của những tâm hồn kiên quyết, đáng tin cậy là nơi mà anh Bình cư ngụ và được nhìn nhận rộng rãi như là một trong những người giỏi nhất. Vai trò lãnh đạo của anh ta rất là quan trọng. Những hiểu biết sâu sắc của anh ta được tin cậy và có giá trị. Anh ta là một người vốn tạo nên sự khác biệt cho TQLC(pc 03) và cho VNCH.(pc 01)
Đối với những người Mỹ, khái niệm về 10 năm khó khăn của việc phục vụ chiến đấu dường như là một sự vĩnh viễn thực sự. Trong sự mở rộng lịch sử Việt Nam của thế kỷ 20 được chấm dấu với quá nhiều cuộc đấu tranh và xung đột, cuộc xâm lược và chinh phục, một lịch sử to lớn hơn 3.000 ngày chiến đấu mà anh Bình đã từng phục vụ cho đến nay và tất cả máu mà cá nhân anh ta đã đổ, không có vẻ vô cùng khác thường; sẽ khó là được một đốm sáng di động trên bất kỳ đồ thị nào đang cố gắng vẽ biểu đồ trong thời gian không còn nhiều đó trong một lược đồ to lớn hơn của những sự việc.
Như là một thành viên của Tiểu đoàn 3, anh Bình đã phục vụ như là một trung đội trưởng, đại đội trưởng, vị sĩ quan điều hành tiểu đoàn, và bây giờ như là vị sĩ quan chỉ huy. Phần nhiều như bất kỳ người nào có thể trở thành hiện thân của tổ chức mà anh ta lãnh đạo, anh Bình là Tiểu đoàn 3. Nếu đưa ra những đặc thù bản chất và văn hóa của quân đội Việt Nam, nhưng hầu như đặc biệt nhất là Quân đoàn TQLC của nó, nơi mà người chỉ huy đơn vị thực sự có thẩm quyền để đúc khuôn những lực lượng của mình theo chính xác đặc tính cá biệt của mình, đó là điều không có gì đáng ngạc nhiên là lực lượng Sói Biển tăng trưởng khi phản ảnh phong cách chiến đấu tích cực của người lãnh đạo đáng kính mến của nó. Phần nhiều bất kỳ vị chỉ huy nào có thể truyền cho một tổ chức chiến đấu những người đứng đầu mà anh ta đánh giá có giá trị nhất, Tiểu đoàn 3 phản ảnh những người đó của vị sĩ quan chỉ huy hiện thời của nó. Trong một lực lượng quân đội nơi mà “sự tôn sùng vị chỉ huy” là một cách bình thường của sự tiến hành công việc, điều may mắn cho VNCH(pc 01) chính là ảnh hưởng của anh Bình mà qua đó sẽ làm rất nhiều trong việc tạo ra ảnh hưởng ở Đông Hà.
Ngay cả mặc dù anh ta không đang ở khoảng cách 100 thước từ cây cầu Đông Hà, và khó an toàn, John Ripley cảm thấy như thể là anh ta theo một cách nào đó không phải là một phần của chuyện gì sắp xảy ra. Hiếm khi trong kinh nghiệm của mình, cả như là một vị chỉ huy đại đội súng trường và bây giờ như là một vị cố vấn, anh ta đã từng cảm thấy giống như một khán giả trong cuộc chiến nầy.

p333

Trong lúc đó, tuy thế, anh ta và anh Bình và anh Smock và anh Nhã và tất cả những người khác, toàn bộ Nhóm Chỉ huy Alpha, đang theo dõi Hạ sĩ nhất Lượm và người phụ giúp của anh ta, như thể là họ đang ở trong một sự kiện thể thao kỳ lạ nào đó, tự phóng mình vào trong con đường của chiếc xe tăng T-54 dẫn đầu sắp sửa băng qua cây cầu. Những người lính của lực lượng TQLC(pc 03) và hai vị cố vấn Mỹ của họ gần như bị mê hoặc bởi cá tính bình tĩnh, gần như bình thường của anh Lượm khi anh ta tự bật mình lên cho hai, và chỉ là hai, phát đạn của khẩu súng chống tăng của mình.
Khó hiểu hơn là cái cách mà người chỉ huy xe tăng trên chiếc T-54 dẫn đầu của Quân Bắc Việt đối phó với mối đe dọa tối thiểu nầy. Mặc dù anh Ripley không cần phải sử dụng ống dòm của mình, anh ta theo dõi chiếc xe tăng qua nó. Những chiếc xe tăng của Quân Bắc Việt được sơn màu xanh lá cây nhạt, gớm ghiếc, gây ghê tởm, hào nhoáng nhất. Những người cộng sản rõ ràng không có cảm giác về phong cách, đó là điều rõ ràng. Đại úy Ripley có thể nhìn thấy cái đầu và nửa thân của người chỉ huy xe tăng bên trên cái nấp mở ra trong tháp pháo của chiếc T-54. Anh ta chú ý chiếc mũ có đường viền bằng da của người trên xe tăng giống như cái nón chụp của phi hành gia nhưng có vẻ lỗi thời. Trong một cách kỳ lạ nào đó, nó nhắc nhở anh ta về anh chàng thể thao Knute Rockne và đội bóng cầu dục Notre Dame thời xa xưa. Sự tương tự thực sự duy nhất đối với ý nghĩ đó là chẳng bao lâu anh ta và anh Smock sẽ cố gắng “thắng một cho Gipper” theo cách tương tự như thế.

(Tay chơi bóng cầu dục nổi tiếng, gốc Thụy Điển, Knute Kennetch
Rockne (1888–1931) của trường Đại học Notre Dame, với cái mũ
da như kiểu phi công thời Đệ nhị Thế Chiến, cũng là hình ảnh cái mũ
da mà Đại úy Ridley từng nhìn thấy trên đầu người chỉ huy chiếc T-54)

(Một tay chơi bóng cầu dục nổi tiếng khác của đội Notre
Dame, George “The Gipper” (“Tay chơi mưu trí”) Gipp)

Qua ống dòm của mình, John Ripley chắc chắn anh ta nhìn thấy một cái nhìn lạnh lùng hoặc thậm chí hơi ghê tởm trên gương mặt của người chỉ huy xe tăng của Quân Bắc Việt. Tại sao hắn ta không chỉ đơn giản là xiết cò một loạt đạn ngắn từ cây súng máy trên cùng một chỗ của mình và loại bỏ đội phi đạn và sau đó tiến lên băng qua cây cầu để đè bẹp những binh lính TQLC khá thiếu khả năng tự vệ chống lại xe thiết giáp là một bí ẩn đối với tất cả mọi người, đặc biệt là anh Ripley.
Phát đạn đầu tiên từ khẩu súng chống tăng của Hạ sĩ nhất Lượm là khoảng rộng của một dấu vết; tạo hình cung ở trên và nổ tung vô hại phía sau chiếc xe tăng T-54 trên mặt đất nơi mà, không may là, không có những cán binh Cộng sản đi theo xung quanh. Bị lệch tầm đạn, anh Lượm sẵn sàng phát đạn thứ hai của mình. Chiếc xe tăng đã không di chuyển và vì vậy đó là việc dễ dàng hơn cho anh Lượm để điều chỉnh cho viên đạn cuối cùng của mình. Anh Ripley và anh Bình, và có lẽ mọi người khác của lực lượng TQLC vốn là những người nhìn thấy toàn bộ phim tập, không thể tin rằng chiếc xe tăng của đối phương chỉ đơn giản là nằm ở đó. Tất cả họ đang chờ đợi loạt đạn nổ giòn không thể tránh khỏi của cây súng liên thanh để kết thúc tất cả. Điều đó không bao giờ xảy ra.
Phát đạn thứ hai của anh Lượm đã được vặn chỉnh đúng tầm. Viên đạn va mạnh vào bên phải chiếc T-54 ở nơi tháp pháo liền với khung xe. Không có một vụ nổ thảm khốc nào cả giống như trong những cuốn phim, chỉ là những làn khói từ nấp cửa của người chỉ huy và có lẽ từ chính ngay điểm chạm trúng.

p334

Cho dù bất cứ ai trong số đội cán binh bên trong bị thiệt mạng hoặc bị thương, không thể nào được xác định từ nơi mà anh Ripley đang quan sát. Người chỉ huy xe tăng dường như bị choáng váng nhưng không bị thương, gần như khó chịu hơn bất cứ điều gì khác.
Điều mà hắn ta làm kế tiếp, thuyết phục anh Ripley và những người khác rằng đây có thể đã không phải là một người giỏi nhất để dẫn đầu mũi nhọn thiết giáp của Quân Bắc Việt băng qua cây cầu Đông Hà. Hắn ta cho lui chiếc xe tăng ra khỏi vật thể cấu trúc một vài thước và dừng lại trong một ống cống cạn nước. Trong một khoảnh khắc khác, cũng rõ ràng rằng khẩu súng chống tăng đã gây thiệt hại chiếc xe tăng vì thế nó không còn hoàn toàn có thể xoay tháp pháo của nó. Và điều đó chính là thế; ít nhất là ngay trong thời gian hiện thời. Thời gian như thể đứng yên; một lần nữa. Nó đủ lâu cho cả anh Ripley và anh Smock, với anh Nhã đang đeo máy truyền tin của mình theo sát bên, để làm cú phóng chạy như điên của họ đến phía dưới cây cầu Đông Hà về hướng nam.

(Đây là hình ảnh người hùng Nhảy Dù trong trận An Lộc, vào năm
1972, cũng ít nhiều như hình ảnh của người Hạ sĩ Nhất anh dũng tên
Lượm bên chiến công là chiếc xe tăng T-54 “bị đốn” của Quân Bắc Việt)

(Một số sĩ quan trong Bộ tham mưu của Lữ đoàn 258 TQLC thuộc QĐVNCH,
từ trái qua phải: Thiếu tá Quách Ngọc Lâm, Thiếu tá Nguyễn Văn Châu,
Lữ đoàn Phó Trung tá Đỗ Đình Vượng, Lữ đoàn Trưởng Đại tá Ngô Văn Định,
Thiếu tá Huỳnh Văn Lượm, Đại úy Mai Văn Tấn, Trung úy Bùi Cáng)

Sự quyết định của anh Turley cho nổ cây cầu Đông Hà gần như là không thực tế. Việc ra lệnh cho sự phá hủy của nó, từ một quan điểm chỉ huy, mặc những vấn đề khó khăn gây ra cho anh ta –sự cô lập xa hơn từ mỗi một người khác trên chuỗi chỉ huy ở Đà Nẵng và Sài Gòn vốn là những người vào một thời điểm nào đó trong tương lai, nếu anh ta sống sót qua trận chiến, sẽ sung sướng gởi anh ta đến giá treo cổ khi anh ta thất bại– là phần dễ dàng. Việc phá hủy thực thể cây cầu, đó là một chủ đề hoàn toàn khác biệt. Đó là khoảng thời gian nửa xế buổi sáng vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh khi Gerry Turley điện cho John Ripley với mệnh lệnh “bằng cách nào đó phá hủy cây cầu.” Trong việc ra lệnh cho anh Ripley làm sập cây cầu, Gerry Turley chắc chắn rằng anh ta đang ký bản án chết của riêng người đàn ông trẻ hơn. Anh Turley, như là người chịu trách nhiệm, phải đối mặt với những điều không may khủng khiếp; đại loại là những cái đầu mà Quân Bắc Việt chiến thắng, là những cái đuôi mà những người tốt phải thua hoàn cảnh kiểu đó. Không một ai ở thành phố cờ bạc Las Vegas theo một cách hợp lý sẽ đánh cược vào quyết định của anh Turley để thắng, để đầu tư, hoặc thậm chí phô trương. Anh Turley cũng biết điều đó, và vì vậy anh ta ngay lập tức bắt tay vào việc phát triển một kế hoạch dự phòng trong trường hợp anh Ripley thất bại.
Sự cố gắng của John Ripley trong việc cho nổ tung cây cầu Đông Hà là “Kế hoạch A” của Gerry Turley. Như là một vị sĩ quan quân sự chuyên nghiệp, dầy dạn, anh ta biết rằng anh ta cần đến một kế hoạch dự phòng. Với thời tiết cũng là thế không thay đổi, lực lượng không quân theo chiến thuật bị loại ra ngoài, cũng như Hải pháo và những cuộc không kích của máy bay dội bom B-52. Ý tưởng tốt nhất của anh Turley cho “Kế hoạch B” là gọi đến Đại úy John Thiesen của Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ, ở đó trong hầm trú với anh ta và hiện thời trong đất nước trong thời gian cực kỳ dài của hai tuần.

p335

“John, tôi muốn anh đi tìm cho chính mình một chiếc xe 6 bánh và một người tài xế. (Chiếc xe tải quân sự sáu bánh ở khắp nơi là thứ vận chuyển tiêu chuẩn cho cả những lực lượng của Mỹ và VNCH và có thể chở khoảng một chục binh lính hoặc hai rưỡi tấn hàng hóa –và bởi vì khả năng vận chuyển hàng hóa đó cũng được biết đến như là xe “hai tấn rưỡi.”) Chất lên nó tất cả những thuốc nổ mà anh bạn có thể tìm thấy và hãy sẵn sàng lái nó tiếp tục đến cầu Đông Hà và cho nó nổ tung, nếu cần thiết.”
Giống như một vị sĩ quan TQLC tốt mà anh ta là, Đại úy Thiesen đáp lại: “Vâng, vâng thưa ông.” Anh ta sau đó bắt tay thực hiện mệnh lệnh mới của mình.
Nếu những điều không may chống lại mệnh lệnh của anh Turley trông thật ảm đạm, những cơ hội của anh Ripley thực sự đạt được thành công bằng cách nào đó thậm chí còn tồi tệ hơn. Chỉ đơn giản là không có cách nào, không có cách nào cả, mà qua đó bản thân John Walter Ripley có thể phá hủy cây cầu Đông Hà đúng lúc nhằm ngăn chận bước tiến không thể tránh khỏi của lực lượng thiết giáp của Quân Bắc Việt.

(Thật ra, cuộc tấn công vào Ái Tử của Quân Bắc Việt không chỉ là những
chiếc xe tăng T-54 mà có cả những chiếc xe tăng T-59 mới nhất nầy.
Tuy nhiên, chúng bị triệt tiêu và tịch thu cả nguyên chiếc còn chạy được)

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ VNCH : Việt Nam Cộng hòa.
pc 02_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 03_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 04_ David chống lại Goliath : là một câu chuyện trong Thánh kinh Cựu ước về cuộc chiến đấu giữa cậu bé chăn chiên David người Do Thái –sau nầy trở thành vua của dân tộc Do Thái– chỉ với sợi dây ném đá vốn dùng để xua đuổi chó sói nhằm bảo vệ đàn cừu trên cánh đồng núi đá và gã khổng lồ Goliath của thành phố Gath –một trong 5 thành phố chính của dân Philistine) với đầy đủ dụng cụ của một chiến binh. Vì khinh khi kẻ địch chỉ là một cậu bé chăn chiên, nên hắn ta ném chiếc mũ sắt và tấm chiên khi thách thức trận chiến. Chỉ với một cái vút của sợi dây ném đá, cậu bé David đã hạ gục ngay tức thời người khổng lồ Goliath khi hòn đá trúng vào ngay trán làm vỡ sọ hắn ta trong một đòn bất ngờ và chớp nhoáng của cậu bé.

pc 05_ LAAW M-72 : khẩu súng chống tăng của Hoa Kỳ, có tầm tác xạ vào vật thể cố định ở khoảng cách 200 m, và vật thể di động ở khoảng cách 165 m, với tốc độ 135 m/giây nhưng có khả năng xuyên qua lớp thép dầy khoảng 200 ly đủ sức phá thủng xe tăng T-54, T-55 của Quân Bắc Việt.
Nó vượt trội hơn RPG-2 (hoặc được gọi là B-40 ở Việt Nam) của Liên Xô, có tầm tác xạ vào vật thể cố định ở khoảng cách 150 thước, và vật thể di động ở khoảng cách kém hơn 100 thước với tốc độ là 84 m/giây, có khả năng phá thủng lớp thép dầy khoảng 180 ly.
Nhưng đối thủ khác của nó là RPG-7 (B-41) với tốc độ vượt trội hơn là 295 m/giây, khoảng tác xạ tối đa là 1.100 m, là hai điểm nổi bật của nó cho cuộc công kích thị trấn, quân đồn hoặc phá hủy xe lội nước hạng nhẹ (thường được gọi là xe “nồi đồng” ở miền Nam Việt Nam) ở khoảng cách xa gần 1 cây số –thường là vào khoảng 920 m– và những xe thiết giáp ở khoảng cách gần hơn; tuy khả năng xuyên qua lớp thép dầy chỉ khoảng 70 ly.

One thought on “Phần 25: Cuộc Đối đầu Kịch liệt ở Đông Hà

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s