Phần 42 (Hết): Anh Bình, một người Mỹ

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p591

Phần 42 (Hết): Anh Bình, một người Mỹ

Tháng Sáu năm 1999
Thị trấn Hayward, tiểu bang California

Lê Mộng Ngọc, cũng được biết đối với những người bạn Mỹ của mình như là Caroline Le, tốt nghiệp từ Đại học Tiểu bang California ở thị trấn Hayward vào tháng Sáu năm 1999 với bằng cử nhân về hệ thống thông tin điện toán. Cô ta đã làm điều đó theo cách mà cha mẹ của cô ta đã từng làm ở Việt Nam và là cách mà hầu hết những người Việt Nam dường như đang làm việc đó hiện thời ở nước Mỹ: bằng sự kiên trì và sự làm việc hết mình.
Sau khi đến Hoa Kỳ, cô ta đã làm việc trong bốn năm, thực sự là hơn toàn phần thời gian, như là người phụ tá cho bác sĩ trong suốt một tuần và như là một kỹ thuật viên dược vào những ngày cuối tuần. Vào năm 1995, cô Ngọc bắt đầu học đại học, vẫn làm việc toàn phần thời gian trong suốt toàn bộ kinh nghiệm giáo dục cao hơn của mình. Với một cuốn sách giáo khoa đại học trong một bàn tay và cuốn từ điển Anh-Việt, Việt-Anh rất mòn rách của mình trong bàn tay khác, cô Ngọc đã hoàn tất bằng cử nhân của mình trong vòng bốn năm.
Trong đám khán giả hân hoan chứng kiến khoảnh khắc của đứa con gái họ băng qua bệ đài tốt nghiệp là hai người công dân Mỹ mới rất tự hào và đầy lòng cảm ơn: Lê Bá Bình và Bành Cẩm. Điều mà cô Ngọc đã được sinh ra vào ngày 4 tháng Bảy, là một cái gì đó không mất đi trên người cha của cô ta.

p592

Sự vui mừng
Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ và cuộc Hội ngộ của Quân đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam
Thủ đô Washington, D.C. và Căn cứ Quân đoàn TQLC Quantico, tiểu bang Virginia
Tháng Tám năm 2003

Căn cứ Quân đoàn Thủy quân Lục chiến (TQLC) mở rộng tại thị trấn Quantico ở vùng phía bắc tiểu bang Virginia, được biết đến đối với tất cả “Cổ áo Da” như là “Ngã tư đường của Quân Đoàn,” giữ một nơi riêng biệt trong những trái tim của các các thế hệ sĩ quan chính thức như là những vị Thiếu úy của lực lượng TQLC. Quê nhà đối với “Trường Cơ bản” hoặc “TBS = The Basic School,” nơi mà chất lượng và chiều sâu của việc huấn luyện được truyền đạt trong khoảng sáu tháng hướng dẫn dồn hết nỗ lực, thực tập tại chỗ ở đó, thì rất hoàn hảo, rất biến đổi, và rất ảnh hưởng; những kinh nghiệm được đưa đến ở đó chạy sâu vào tâm hồn; vượt xa hơn việc học tập chiến thuật bộ binh hoặc sự huấn tập và nghi thức của Quân đoàn TQLC.
Hầu hết những quân nhân vốn là những người sau đó quay trở lại nơi đó, đã trở về với một lòng kính mến và nỗi nhớ vượt xa hơn cảm giác mà người ta cảm thấy dành cho những khoảng thời gian ở trung học hoặc đại học. Kinh nghiệm của Trường Cơ bản là đường huyết mạch, một điểm khởi đầu, vùng tối hậu đối với mỗi sĩ quan; cho dù anh ta phục vụ toàn bộ sự nghiệp như là một quân nhân TQLC chuyên nghiệp hoặc chỉ một chuyến quân vụ duy nhất trước khi trở lại với thế giới dân sự. Việc giáo dục của Trường Cơ bản bảo đảm một tiêu chuẩn tối thiểu ở mức rất cao về chất lượng đối với tất cả những sĩ quan chưa có kinh nghiệm trước khi họ được bung ra trên các Lực lượng Hạm đội TQLC.(pc 01)
Đối với gần như mỗi quân nhân TQLC vốn là người đã vượt qua được, nó luôn luôn là một cái gì làm ấm lòng, giống như việc trở lại khu phố xưa, phản ảnh trên những khoảng thời gian đặc biệt, những người bạn đặc biệt và những kinh nghiệm đặc biệt chỉ có ở Căn cứ Quân đoàn TQLC Quantico. Điều nầy cũng đúng cho những thanh niên trước đây của những binh chủng quân đội nước ngoài thân thiện vốn là những người đã được đào tạo ở đó; giống như rất nhiều vị Trung úy Hải quân Việt Nam đã thực sự bắt đầu vào thập niên 1950s cho đến khi chiến tranh kết thúc. Và vì thế, đó là điều hoàn toàn tự nhiên, gần như rõ ràng và không cần nói ra, như được mong mỏi theo trực giác, mà qua đó John Ripley và Lê Bá Bình sẽ cùng nhau, chỉ có hai người trong số họ, sau khi họ đã vui mừng liên kết được, quay trở lại Căn cứ Quân đoàn TQLC Quantico, trở lại những cội nguồn cá thể và tập thể của họ để khám phá lại và thăm viếng lại những kinh nghiệm chung của họ trong tình huynh đệ đặc biệt của họ.
Cuốc xe từ thị trấn Alexandria xuống đến thị trấn Quantico thật dài và vui thú. Sự giao thông xe cộ có mức độ vừa phải nhưng rất lớn hơn nhiều so với bất cứ điều gì mà anh Bình đã nhớ từ những ngày của anh ta ở đó.

p593

Hầu như tất cả mọi thứ mà họ lái xe ngang qua, đều mới mẻ kể từ khi anh Bình đã phục vụ như là một vị Trung úy sinh viên trẻ gần như 40 năm trước đó. Có một số ít địa điểm có thể nhận biết trên Quốc lộ I-95 mặc dù khu rừng bao quanh ở hai bên của con đường xa lộ rộng lớn rất quen thuộc, làm sáng sủa trở lại một số nơi kể từ thập niên 1960s đối với tất cả sự phát triển vốn đã xảy ra theo thời gian sau đó.
Chỉ vào lúc khi anh John quẹo ra khỏi con đường xa lộ để trước tiên theo hướng đến lối vào chính của Căn cứ Quân đoàn TQLC Quantico mà qua đó tất cả cảm giác bắt đầu đi đến sự dâng trào trở lại… một phiên bản mới, nhỏ hơn của tượng đài “Iwo Jima,” là tượng đài “Iron Mike,” cách chào nồng nhiệt và đón mừng được dành cho họ bởi những quân nhân TQLC trẻ đang trông coi cổng chính ở cuối phía bắc của căn cứ, và cuốc xe bắt buộc ngang qua thị trấn “Q” luôn luôn trông giống như một giao điểm nào đó giữa một tập phim “Twilight Zone” (“Vùng tranh Sáng tranh Tối”) của đạo diễn Rod Serling và một cái gì đó từ cuộc Đại suy Thoái, một nơi vốn là màu trắng-đen nhiều hơn kỹ thuật màu sắc của công ty phim trường Technicolor, với cách xây dựng bằng gạch đỏ thanh đạm, tiện dụng. Đây là một nơi mà đối với mọi người đi ngang qua, nó dường như có màu sắc xa xưa trong thời đại Sparta cổ Hy lạp hơn, thời kỳ mà họ đã không có kinh nghiệm nhưng chỉ có thể tưởng tượng bởi vì tính chất tự nhiên của sự cần thiết tối thiểu của nơi chốn.

(Một phiên bản mới, nhỏ hơn của tượng đài “Iwo Jima,” dinh vanh
chiến công trên hải đảo Iwo Jima của lực lượng TQLC Hoa Kỳ
trong Thế Chiến thứ II chống lại Phát-xít Nhật lúc bấy giờ)

(Tượng đài “Iron Mike” tại Căn cứ Quân đoàn TQLC Quantico,
là hình ảnh của một chiến binh thời Thế Chiến thứ I)

(Thị trấn “Q” (Quantico) được khá lên nhờ vào sự có mặt của Căn
cứ Quân đoàn TQLC, nhưng sẽ rơi vào hoang vắng hơn vào năm 2013
khi ngân sách dành cho quân đội bị liên bang cắt giảm như là sự cô lập)

Từ thị trấn Quantico, anh Ripley cho người bạn của mình một lần đánh vòng xe chung quanh căn cứ lớn hơn. Hầu hết các tòa nhà đều mới đối với anh Bình, nhưng kiểu kiến trúc đã không thay đổi vì thế có một sự quen thuộc, liên tục nào đó từ quá khứ.
Sau đó, họ theo hướng về phía cổng phía Nam, đi ngang qua Trạm Trao đổi to lớn vốn đã từng là một nơi không có gì cả ngoại trừ cánh rừng trong thời kỳ của anh Bình, băng qua con đường xa lộ, và lái xe theo con đường nhỏ phía sau lên đến Doanh trại Barrett. Tâm trí của anh Bình dâng đầy với những kỷ niệm. Anh ta bắt đầu nhớ lại, không theo một thứ tự riêng biệt bởi vì đã quá lâu, những vấn đề khó khăn trên vô số lãnh vực, những cuộc huấn tập, ngày và đêm, vác lên lưng tất cả những quân dụng cá nhân trên những con đường mòn của Căn cứ Quantico, kinh nghiệm đầu tiên của anh ta với tuyết.
Khi đến Trường Cơ bản nơi mà anh Bình quan sát rất ít từ trước đó vốn vẫn giống nhau. Những cơ sở của Trường Cơ bản đã mở rộng lớn hơn nhiều. Khi họ chạy xe chậm vòng quanh, một quân nhân TQLC(pc 01) tạm phục vụ theo mùa nhìn thấy mảnh giấy dán của sĩ quan trên chiếc xe của anh Ripley đưa tay chào cái rụp. Anh Bình cảm thấy rất thoải mái ở đó. Gần giống như là nhà.
Anh Ripley biết nơi nào để đậu xe, và vì vậy họ ngừng lại. Anh Bình đi theo sát gót người bạn mình khi họ theo đường đến Đại sảnh O’Bannon. Anh ta bắt đầu nhớ đến Đại sảnh O’Bannon và tất cả những gì đã từng diễn ra ở đó; những người bạn Trung úy Mỹ của anh ta, những người thuộc giới cao quý nhưng không phải là những nỗ lực hoàn toàn thành công được thực hiện bởi những đầu bếp bất đắc dĩ của đại sảnh ăn uống O’Bannon để tạo nên món cơm theo cách mà anh ta và các vị Trung úy Việt Nam khác ưa thích nó hơn. Tất cả những điều đó làm cho anh ta mỉm cười.

(Đại sảnh O’Bannon, phòng ăn miễn phí với những món ăn phong
phú dành cho những sĩ quan TQLC trong thời gian huấn thụ)

p594

Họ băng qua lối vào chính của Đại sảnh O’Bannon và bắt đầu cách bước thong thả nghiêm túc hơn của họ xuống lằn đường kỹ niệm chung của họ. Cả Anh Bình lẫn anh Ripley không ai đã chú ý lắm đến thời gian. Họ đang thả bộ vào những nơi thường lui tới xưa kia của mình bên trong Đại sảnh O’Bannon, một toà nhà chính, rộng rải thuộc nơi Cư trú của Sĩ quan Độc thân tại Trường Cơ bản. Được đặt tên theo Trung úy Presley O’Bannon vốn là người có được danh tiếng cho những cuộc khai triển quân sự của mình chống lại những tên cướp biển Barbary trong thế kỷ 19 trước đây, Đại sảnh O’Bannon là một trung tâm hoạt động chính và tất cả những vị Thiếu úy vốn là những sinh viên tại Trường Cơ bản, ngay cả khi họ không được cư trú ở đó, ở mức tối thiểu, vẫn ăn uống trong nhà ăn của nó, tham gia vào những lớp học ở đó, và uống bia trong câu lạc bộ sĩ quan có kích thước loại bỏ túi và luôn luôn đông đúc của nó.

(Thuyền trưởng William Bainbridge nộp lễ vật triều cống cho “Dey”
–danh hiệu Nhiếp Chánh của vùng đất Algeria and Libya thuộc Bắc Phi;
những người nầy nắm giữ những bến cảng tại những thành phố lớn như
Tunis, Tripoli and Algiers và cướp phá tàu thuyền qua lại nếu không nộp
triều cống hàng năm cho họ– vào năm 1800 với khoảng 20% tổng số
tiền tiêu dùng hàng năm của chính phủ Hoa Kỳ)

(Trung úy Presley Neville O’Bannon (1776–1850) nổi tiếng với những
cuộc khai triển quân sự chống lại những tên cướp biển có tổ chức trong
cuộc Chiến tranh Barbaby Đầu tiên (1801–1805) với Trận chiến Phố cảng
Derne, của Libya. Chấm dứt việc triều cống lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ.
Và thanh kiếm có dáng cong cong tên “Mameluke” –từng được vị vua nước
Pháp Napoleon Bonaparte I dùng– của ông ta được xem là một phần biểu
tượng trong bộ lễ phục của TQLC Hoa Kỳ)

(Thanh kiếm có dáng cong cong Mameluke của những sĩ quan TQLC
Hoa Kỳ ngày hôm nay rất gần giống những thanh kiếm được mang
lần đầu tiên vào năm 1826)

“Câu lạc bộ ‘O’ ” cũng có ý nghĩa đặc biệt khi nó là một nơi mà những sĩ quan mới, táo bạo và hỗn láo, khó tiêu diệt và có lý tưởng uống những bình bia và tuyên bố lòng trung thành bất tận đối với những vị Trung úy đàn anh của mình và Quân đoàn. Chính câu lạc bộ nhỏ bé nầy, được nhắc đến bởi mọi người chỉ đơn giản như là “Hawk” (“chim Ưng”), được đặt tên theo vị Trung úy William Hawkins. Trước khi ghi danh vào Quân đoàn TQLC Trừ bị vào đầu năm 1942, ông Hawkins lần đầu tiên đã cố gắng gia nhập vào Quân đội và Hải quân, nhưng đã bị từ chối bởi cả hai như là không đủ tiêu chuẩn về thể chất. Sau khi việc dịch vụ tại hải đảo Guadalcanal, ông Hawkins là công cụ trong việc khiến cho hành động chiến đấu tiếp diễn trong khi những quân nhân TQLC bị ghìm chặt xuống trong nỗ lực của họ xông vào hải đảo Betio trong suốt cuộc đổ bộ từ dưới nước vào vòng đảo san hô Tarawa vào thàng Mười năm 1943. Cá nhân ông Hawkins khởi đầu những cuộc tấn công vào trong hỏa lực đang yếu dần của nhiều hầm trú Nhật mà qua đó đã giúp có được đà tiến công cho binh lính TQLC. Khi bị trọng thương, ông ta đã từ chối việc di tản, thay vào đó ở lại để chỉ huy những hành động của những người mình. Đối với vai trò lãnh đạo anh hùng và vị tha của ông ta, ông ta được truy tặng Huân chương Danh dự (i.e. Huân chương Bảo quốc) sau khi mất.
Trong ngày của anh Bình và anh Ripley, những vị Trung úy độc thân sống trong Đại sảnh O’Bannon và uống bia trong câu lạc bộ “Hawk.” Những sĩ quan có gia đình sống ngoài căn cứ hoặc trong nhưng nơi cư ngụ dành cho sĩ quan được chính phủ cung cấp ở một nơi nào khác trong thị trấn Quantico, nhưng cũng được chào đón để uống bia trong câu lạc bộ “Hawk.” (Kể từ đó, Đại sảnh Graves cũng được xây dựng để làm chỗ ngụ cho những sĩ quan chưa lập gia đình nhiều hơn. Nó được đặt tên theo Terry Graves vốn là người đã từng là một vị Thiếu úy cho Đại đội 3 Lực lượng Biệt kích ở Việt Nam. Anh ta được truy tặng Huân chương Danh dự sau khi mất.

(Những Huân chương Danh dự từ trái sang phải là
Quân đội, Hải quân (TQLC), và Không quân)

(Trung úy William Deane Hawkins (1914–1943))

(Thiếu úy Terrence Collinson Graves (1945–1968))

p595

Đó là điều hoàn toàn tự nhiên đối với anh Bình và anh Ripley, khi họ tản bộ xuống những hành lang đến lằn đường kỷ niệm riêng biệt nầy, mà qua đó ít nhất là hàng tuần được đánh nước sáp và chà bóng bởi những vị Trung úy sinh viên đang sống ở đó, để tìm thấy những căn phòng xưa của họ trong Đại sảnh O’Bannon. Khi vở ra rằng, ngay cả mặc dù họ đã không đi học ở Trường Cơ bản với nhau, họ đã được cư ngụ ở đó, vào những thời điểm khác nhau, không phải là năm căn phòng cách xa. Điều đó cũng là rõ ràng khi họ thảo luận về những cái tên của các vị sĩ quan trẻ mà họ đã từng biết đến trong khi phục vụ như là những sinh viên ở đó mà một số lượng không cân xứng của họ từ góc nầy của Đại sảnh O’Bannon đã trả cái giá cuối cùng ở Việt Nam.
Anh Bình và anh Ripley cuốc bộ song song với nhau và sau đó ngừng lại để nhìn vào một số mặt hàng hoặc hình ảnh thú vị, trò chuyện một chút, và sau đó làm lại việc đó một lần nữa theo một cách mà chỉ có những người bạn cũ vốn là những người hoàn toàn thoải mái với nhau, có thể làm được. Có nhiều ý tưởng để thảo luận, để tiếp tục bắt kịp, để chia sẻ. Phân nhiều như họ trò chuyện, phần ít như họ nói chuyện, hầu hết sự truyền đạt thực sự là ngấm ngầm; không lời nhưng rõ ràng, sâu sắc, mãnh liệt. Mỗi người bạn đắm mình và tập trung trong suy tưởng nghiêm túc, nhớ lại những kỷ niệm cả khó khăn lẫn vui thú cho đến khi rất ít được nói ra; và đó là điều hoàn toàn phù hợp.
Đồng hồ đang chạy và mỗi người bạn biết rằng họ sẽ sớm cần phải quay theo hướng trở lại thị trấn Alexandria, trở lại bữa tiệc lớn buổi chiều tối nơi mà tất cả quân nhân TQLC –Việt Nam và Mỹ– và những gia đình của họ sẽ được tụ tập lại để kỷ niệm và ăn mừng cho tất cả những điều tốt đẹp nhất trong số những hy sinh chung của họ.
Đêm nay sẽ là cuộc hội ngộ chính thức của những quân nhân TQLC Việt Nam và Hoa Kỳ với nhiều, nhiều hàng trăm người tham dự; mọi người vốn thậm chí đã từng được tham gia từ xa trong kinh nghiệm cố vấn thuộc Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ–TQLC giữa khoảng thời gian 1954–1975. Trước khi có cùng nhau trong buổi chiều tối nầy, hầu hết những vị cố vấn xưa đã thực sự liên kết với những người Việt yêu nước trước đây của họ. Những câu chuyện dành cho những người Mỹ về những Việt nào đã sống sót (sống sót qua cuộc chiến tranh, cuộc cải tạo, nỗi kinh hoàng của sự trả thù của Cộng sản, và cuối cùng là những thách thức của việc đến nước Mỹ), vốn là những người làm cho nó xảy ra, vốn là những người đã không, đang thực sự tạo nên một vòng. Đối với hầu hết mọi người, chính là cuộc hội ngộ đầu tiên của họ và đối với những người vợ và những đứa con của những quân nhân TQLC Mỹ cuối cùng làm quen với những Việt Nam bằng xương bằng thịt, là một lịch sử xa xôi đang sống lại.

p596

Hầu hết những người Mỹ, những sĩ quan TQLC(pc 01) về nghỉ hưu giống như anh Ripley, tất cả đều phấn khởi và xúc động mạnh mẻ khi nhìn thấy những người bạn Việt của họ, và ham thích trong những thành công của họ kể từ khi đến với thế giới mới của mình. Anh John đã thực sự nhìn thấy một số người lượng trong số họ. Điều khiến anh ta cảm thấy tốt đẹp tuyệt đối nhất là nhìn thấy tận mắt họ đã làm tốt như thế nào. Anh Ripley và tất cả các sĩ quan Mỹ tham dự nhận biết được sự gánh chịu khốn khổ đến khó tin của họ trước khi đến nước Mỹ với hai bàn tay không; và sau đó bắt đầu trên những thanh ngang dưới cùng của chiếc thang kinh-tế-xã-hội. Mang theo với họ cùng một sự kiên trì và đạo đức làm việc mà qua đó đã gần như bảo đảm sự chiến thắng của họ mà không phải là 30 năm về trước và sau đó kiềm chế họ qua tất cả những năm cải tạo đó, trong vòng một thế hệ rất nhiều người trong số những người Việt Nam bây giờ được thiết lập một cách vững chắc bên trong của giấc mơ người Mỹ.
Horatio Alger đáng lý ra cảm thấy tự hào về những thành tựu phi thường của họ vốn rất phổ biến đến nổi xuất hiện gần như đã quá sáo mòn hoặc nhàm chán. Những câu chuyện về những gia đình Việt Nam vốn là những người, trong vòng chưa đầy 30 năm, đã từng làm việc và hy sinh để cho con em họ vào trong các trường đại học tốt nhất và những nghề nghiệp quan trọng nhất thì giống y như bất kỳ câu chuyện nào được kể lại của những người nhập cư trước đó vốn là những người đã đến nước Mỹ thông qua đảo Ellis cách đây một trăm năm hoặc nhiều năm hơn nữa. John Ripley sẽ có một thời gian tuyệt vời tối nay, chắc chắn là thế, nhưng không có sự thân mật mà hiện thời anh ta đang rất thích thú với anh Bình.

(Horatio Alger, Jr. (1832–1899) là một cây viết người Mỹ vào thế kỷ 19
của rất nhiều cuốn sách vốn được tạo nên đặc tính cách kể chuyện về
“những người nghèo biến thành những người giàu” tạo nên ảnh hưởng
mạnh mẻ trong suốt “Thời kỳ Mạ vàng” khốn khổ của giai cấp nghèo
nhưng trong một nền kinh tế tăng trưởng khủng khiếp của giai cấp giàu)

(Đảo Ellis ở cảng New York, thuộc thành phố New Jersey, tiểu bang New
Jersey –không phải thuộc về thành phố New York– là cửa ngõ cho
hàng triệu di dân đến Hoa Kỳ với hai toà nhà kiểm soát di dân từ năm
1892–1954, sau nầy biến thành bảo tàng viện về di trú vào năm 1990)

Hai người bạn tiếp tục đi loanh quanh những nơi khác nhau trong Đại sảnh O’Bannon. Thỉnh thoảng họ sẽ gặp phải một vị Trung úy hoặc hai hoặc ba. Những vị sĩ quan trẻ trong hội trường hoặc ở bất cứ nơi nào khác có đủ sáng suốt để hiểu rằng hai người có phong cách lớn tuổi nầy là những quân nhân TQLC cũ cách nay lâu rồi. Họ luôn luôn tôn trọng, luôn luôn tôn kính. Những vị Trung úy sẽ thân ái chào hỏi hoặc đi ngang qua họ với một câu “Chào buổi chiều, quý ông,” hoặc “Xin phép, quý ông.”
Anh Ripley sẽ chuyên nghiệp và đúng cách trả lời với câu nói theo thói quen “Cho phép.” Anh sau đó sẽ mạnh dạn và đầy cá tính đưa ý kiến nhận xét bổ sung; cùng với những lời “Cứ tiếp tục, Mấy con Chó Quỷ !” và những vị Trung úy sẽ hét lên một câu “Oorah !” hoặc một cái gì đó gần giống như vậy. Anh Bình chỉ mỉm cười. Chuyến tham quan tự hướng dẫn nầy tiếp tục trong một lúc mặc dù không ai trong người bạn đã xem đồng hồ đeo tay của mình.
Sau những khoảnh khắc nào đó dường như là những thời khắc đóng cửa theo cách tự nhiên ở Đại sảnh O’Bannon, sau nhiều lần trao đổi ngoại trừ cái gì đó đối với mỗi người trong số họ là những sự trao đổi quá ít, và khi họ cần giảm xuống bớt, có một sự im lặng kéo dài đại loại như là báo hiệu sự kết thúc của cuộc tham quan.

p597

Đó là anh Bình vốn là người cuối cùng phá vỡ sự im lặng: “Ripp-lee…” John Ripley, từ lúc họ đã gặp gỡ lần đầu tiên trở ngược lại vào năm 1971, đã luôn luôn thích cách mà cái tên của anh ta vang lên âm thanh khi anh Bình nói. Họ vẫn đang đi bộ từ nơi nầy đến nơi khác dần dần xuống một trong những hành lang. Một cách chậm rãi, với tư tưởng rõ ràng và cách khoan thai, anh Bình nói với giọng thật khó nghe. John Ripley biết người bạn của mình sắp sửa đưa ra một thông điệp quan trọng. Để nghe anh ta rõ hơn, anh Ripley ngừng lại và nghiêng đầu về phía trong. Khi anh Bình hạ thấp giọng mình, đó là một tín hiệu rằng một cái gì đó sâu sắc và khó khăn để nói ra, có thể theo sau. John Ripley nhìn thẳng vào trong đôi mắt của người bạn mình. “Ripp-lee, Tôi vui mừng…”
Anh Ripley nghe những lời của người bạn mình, ngừng lại, nhưng rõ ràng là không đủ lâu cho sự yêu mến của anh Bình, và đáp lại với một câu trả lời rất thường lệ đối với Bình, “Vâng, Thiếu Tá, tôi cũng vui.”
Anh Bình, là bậc thầy của sự kiềm chế theo nghệ thuật bày tỏ, chắc chắn và thất vọng là người bạn của mình đã bỏ lỡ những gì mà anh ta đang cố gắng truyền đạt. Anh ta cố gắng một lần nữa. Một cách chậm rãi và cùng với cách khoan thai, anh ta nói một lần nữa: “Không, không, không, Ripp-lee, ở đây. Trong trái tim tôi.” Anh Bình đưa lên bàn tay phải của mình, khẽ đập những ngón tay của mình một cách buông lỏng trên giữa ngực mình; “Trong trái tim tôi, tôi vui mừng.”
Nó đánh trúng anh ta. Nó đánh trung anh ta bên phải nơi mà nó được cho là thế. Đột nhiên, trong nháy mắt, anh Ripley được khích động lên, tham gia hết mình và cảnh tỉnh, máu của anh ta đang chảy mạnh. Bất ngờ, anh ta cảm thấy giống như anh đã làm khi anh ta là “Lima Sáu Thật” hoặc trong suốt thời gian của cuộc chạm súng dữ dội nhất trong khi đang phục vụ như là vị cố vấn của anh Bình. Anh ta hiểu được. Anh ta đã nhận được thông điệp của người bạn mình. Anh Bình, Người kín Đáo. Anh Bình, Người ít Nói –khi có việc cần đến những sự truyền đạt bày tỏ. Đối với anh Bình, ít là nhiều hơn, và anh ta vừa mới nói tất cả điều đó. Anh Ripley không hoàn toàn chắc chắn nếu điều đó là sự thách thức của người bạn mình với việc chia sẻ những tư tưởng sâu nhất của anh ta bằng tiếng Anh hoặc chỉ đơn giản là theo cách của anh ta. Có lẽ, điều đó có một chút ít của cả hai.
Theo cách riêng của mình, theo cách kiềm giữ lời nói của riêng mình, Lê Bá Bình đã chia sẻ với người bạn chiến binh thân ái nhất của anh ta mọi thứ mà anh ta có thể. Anh Ripley hiểu được điều đó, không lầm lẩn. Anh Ripley dịch ra cho chính mình những điều mà anh Bình đã nói ngoại trừ điều mà anh ta đang thực sự cân nhắc suy nghĩ. Câu nói “Tôi vui mừng” của anh Bình là một sự bày tỏ rộng rãi cho rất nhiều, rất nhiều những kinh nghiệm, hy sinh có quan hệ đến nhưng khác hẳn nhau, rất nhiều sự gánh chịu khốn khổ và nỗ lực.

p598

Đối với cả hai người đàn ông, đối với tất cả những chiến binh anh em của họ vốn là những người đã không lùi bước khỏi những trách nhiệm nam nhi của họ, điều đó có nghĩa là: “Tôi làm nhiệm vụ của mình. Tôi mạo hiểm mọi thứ và tìm thấy mình không được cần đến.” Và hiện thời, với lợi ích của thời gian và tuổi tác và sự khôn ngoan, câu nói “Tôi vui mừng” cũng có nghĩa là sự phục vụ như thế “cho tôi sự thỏa mãn cá nhân to lớn.” Anh Ripley đang suy nghĩ tất cả những điều nầy và nhiều hơn nữa khi anh Bình nói.
Cả hai người họ bây giờ đã tạm dừng lại, tất cả sự di chuyển về phía trước ngưng lại. Họ đang mặt đối mặt, không phải là cách xa bước chân, ở một nơi nào đó trong lòng của Đại sảnh O’Bannon. John Ripley –“Ripp-lee”– người chiến binh, vị cố vấn đáng tin cậy, luôn luôn là vị “thuyền trưởng” đối với những Xung kích Quân của mình, người đàn ông vốn là người làm nổ tung cây cầu ở Đông Hà, là người chồng, người cha, ông nội, người bạn, và là người góp ý tư tưởng cho rất nhiều người, và hơn bất cứ điều gì vẫn là một quân nhân TQLC, đứng ở đó trong tư thế gần như thẳng người chú ý, đang mỉm cười với người bạn của mình. Những giọt nước mắt không chút xấu hổ tuôn chảy xuống cả hai bên má.
Nụ cười ấm áp của anh Bình được trở lại với vị cố vấn của mình. Lần nầy, trước khi anh ta nói, anh Ripley đặt đôi tay mình thẳng vào bên đôi vai của người bạn mình, cô động mình trong ánh mắt của anh ta. Đó mới chính là anh ta. Anh Bình, người bạn khôn ngoan nhất của anh ta, vị Thiếu tá của anh ta; người đàn ông vốn là người, hơn bất cứ ai mà anh ta đã từng gặp, nêu gương cho tất cả điều gì tốt đẹp và tao nhã và mạnh mẽ; một người đàn ông vốn là người, đối với anh ta, đã biểu tượng nhân cách nhất cho tinh thần chiến đấu của Quân đoàn TQLC Việt Nam; một người đàn ông vốn là người đã thắng được tất cả những người Cộng sản, có thể quản trị; một người đàn ông vốn là người phải gánh chịu mọi sự sỉ nhục bằng phẩm giá không thể tin được; một người đàn ông vốn là người đã phải chịu đựng hơn 4.000 ngày cải tạo mà không bị cải tạo; một người dẫn đầu của lực lượng Sói Biển kiêu hùng của mình, là người chồng, người cha, ông nội, và tương tự như thế, vẫn là một quân nhân TQLC, luôn luôn là một quân nhân TQLC, đứng ở đó đang chờ đợi sự phản ứng, đôi mắt của anh ta cũng đang thấm ướt.
John Ripley hắng giọng, một tín hiệu cho anh Bình biết rằng những gì mà anh ta sắp nói, có ý nghĩa và thật khó đưa ra. Hắng họng lần thứ hai, và với những giọt nước mắt chưa lau vẫn còn đang chảy, anh ta bắt đầu. Một cách chậm rãi, rất chậm rãi, anh ta nói: “Vâng, Thiếu Tá, tôi hiểu, tôi hiểu. Tôi cũng vui mừng.” Và anh ta là thế đó.

===========================================

(trang bỏ trống)
p601

Phần Kết

Sau khi đến Hoa Kỳ, được thành lập trong một cuộc sống mới và nghề nghiệp làm việc, ông Bình cuối cùng về hưu vào năm 2007. Bây giờ ông ta và bà Cẩm tập trung hầu hết thời gian và năng lực của mình vào việc trợ giúp với sự chăm sóc hai đứa cháu trai còn đóng đai của họ, trong khi đứa con gái Caroline và người chồng của cô ta theo đuổi những nghề nghiệp chuyên môn. Tất cả họ đều sống chung với nhau trong vùng phía bắc tiểu bang California.
Con đường thời hậu-Việt-Nam được đi qua bởi gia tộc Turley, thì buồn vui lẫn lộn. Vào năm 1976, trong khi anh Gerry là vị sĩ quan chỉ huy của Trung đoàn 2 TQLC(pc 01) tại Doanh trại Lejeune, đứa con trai út tên Chris bị thiệt mạng bởi một người lái xe say rượu.
Sau công tác của ông ta với Sư đoàn 2 TQLC, ông Gerry đã được bổ nhiệm lên thành phố “29 Palms” ở sa mạc California, nơi mà ông ta là một động lực phía sau sự phát triển của những chương trình huấn tập kết hợp đủ loại vũ khí, rất có tính toán trước của Quân đoàn –Ông Gerry về hưu như là một vị Đại tá– từ nhiệm vụ hoạt động vào năm 1981, ông ta đã viết ra cuốn sách nổi tiếng của mình là “The Easter Offensive: The Last American Advisors, Vietnam 1972” (“Cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh: Những vị Cố vấn Mỹ Cuối cùng, Việt Nam 1972”). Vào năm 1984, ông ta nhận được một sự đề cử của Tổng thống Reagan như là Phụ tá Bộ trưởng Quốc phòng cho chương trình Sẵn sàng và Huấn luyện, một công việc mà ông ta đã giữ cho đến năm 1987. Kể từ sau đó và cho đến khi việc xuất bản cuốn sách “Ride the Thunder” (“Cưỡi cơn Sấm sét”), ông Gerry đã tiếp tục làm việc như một nhà cố vấn cao cấp cho những sĩ quan TQLC cao cấp. Vào năm 1994, phục vụ như là một thành viên của Hội đồng Điều hành về Tổ chức Lịch sử Quân đoàn TQLC, ông ta bắt nguồn từ khái niệm cho một bảo tàng mới của Quân đoàn TQLC, mà sau nầy đã trở thành Bảo tàng Quốc gia của Quân đoàn TQLC ở Căn cứ Quân đoàn TQLC Quantico.

(Cuộc huấn tập Pháo binh trong vùng sa mạc thuộc tại thành phố
“29 Palms” của quận San Bernardino, tiểu bang California)

Khi không phải tham gia trong những nỗ lực hết mức có liên quan đến Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ, ông Gerry và bà vợ Bunny rất thích thú việc đi du lịch, chơi golf, và dành thời gian với bốn đứa con, 11 đứa cháu (đứa cháu trai James Bell, là con trai của cô Peggy, gần đây đã trở lại từ chuyến quân vụ đầu tiên của anh ta ở Iraq như là một kỹ sư TQLC trong trận chiến), và hai đứa chắt. Họ sống ở vùng phía bắc tiểu bang Virginia.

p602

George Philip nghỉ hưu từ nhiệm vụ hoạt động vào năm 1989 như là một vị Trung tá. Kết hôn trể hơn một chút trong cuộc sống, ông ta và bà vợ Fran –người điều hành cao cấp của công ty bán hàng trên mạng L.L. Bean– sống ở tiểu bang Maine.
Mặc dù có thể tránh được việc cải tạo, Nguyễn Lương không bỏ lỡ việc tham gia vào tình trạng bất ổn chung của kinh nghiệm thống nhất đất nước Việt Nam. Kết hôn sau khi việc giải ngũ của anh ta khỏi nhiệm vụ hoạt động với người bạn gái lâu năm của mình, họ có hai con –một trai và một gái– và giống như anh Bình, có thể tận dụng lợi thế của Chương trình Ra đi Trật tự. Họ đến Hoa Kỳ và vùng phía bắc tiểu bang California vào năm 1991 nơi mà anh Lương vẫn làm việc.
Lê Nguyên Khang cuối cùng được thuyết phục bởi những vị cố vấn cao cấp Mỹ và tình báo nhạy cảm mà qua đó đặt ông ta trên danh sách “bắn ngay nếu thấy” của chế độ Cộng sản Hà Nội để rời khỏi Việt Nam trong suốt cuộc di tản cuối cùng của Sài Gòn khi đó là điều chắc chắn rằng những kẻ xâm lược đã sẽ hành quyết ông ta và có thể gia đình gần gủi nhất của ông ta. Ông ta, người vợ của ông ta và ba đứa con của họ di chuyển đến vùng phía nam tiểu bang California vào năm 1976. Ông Khang mất vì ung thư phổi vào năm 1996. Ông ta được sống còn nhờ người vợ của ông ta, ba đứa con –một trai và hai gái– và tám đứa cháu. Tất cả ba người trong số những đứa con là những sinh viên tốt nghiệp từ Đại học California, Los Angeles. Tất cả ba người đều là những chuyên gia –một kỹ sư, một dược sĩ, và một luật sư. Đứa con trai của Tướng Khang kết hôn với một người trong số những đứa con gái của Tướng Loan.
Chuck Goggin vẫn còn hoạt động trong việc thực thi pháp luật và cuộc sống với người vợ Wendy –một cựu luật sư Hoa Kỳ và hiện nay là một quan chức cao cấp của một cơ quan lớn thuộc chính phủ Hoa Kỳ– ở vùng phía bắc tiểu bangVirginia. Họ có hai đứa con trai và hai cháu.
Joel Eisenstein sống sót qua chuyến quân vụ như là thành viên của Đội Liên lạc Tầm súng Hải quân và Không quân (ANGLICO = Air & Naval LIaison Gunfire) ở Việt Nam và trở về quê nhà để học xong trường luật. Anh ta hiện đang thực hành pháp luật ở quận St. Charles, tiểu bang Missouri.
John Bowman về hưu khỏi Quân đoàn TQLC vào năm 1991 như là một vị Trung tá. Ông ta nghĩ hưu nghề nghiệp dân sự của mình vào năm 2007 và hiện đang sống với bà vợ Grace của mình ở vùng phía bắc tiểu bang Virginia, nơi mà ông ta làm công việc thiện nguyện cho những tổ chức của những cựu chiến binh và rất thích thú dành thời gian với hai đứa con trai và những đứa cháu của họ.
David Androskaut –viên phi công phụ của John Bowman, vào ngày 29 tháng Tư năm 1975, đã bị thiệt mạng trong khi lái chiếc trực thăng chiến đấu Cobra AH-1J ở giữa Tustin và Yuma, một vùng hoạt động nóng bỏng chỉ một ít năm sau khi trở lại từ Việt Nam. Vụ tai nạn KHÔNG phải là sự sai lầm của viên phi công.

p603

John Ripley rời khỏi nhiệm vụ hoạt động như là một vị Đại tá vào năm 1992 để phục vụ xa hơn theo những cách khác nhau. Từ chức vụ Chủ tịch và Hiệu trưởng Danh dự của trường Đại học miền Nam Virginia, Chủ tịch của Học viện Quân sự Hargrave, Giám đốc của Phân bộ Lịch sử và Bảo tàng thuộc Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ, và một động lực phía sau sự phát triển của Bảo tàng Quốc gia thuộc Quân đoàn TQLC tại Căn cứ Quân đoàn TQLC Quantico, John Ripley tiếp tục hoạt động chỉ ở tốc độ hết mức –và vẫn còn như thế cho đến ngày mất của ông ta vào ngày 28 tháng Mười năm 2008.
Mãi cho tới ngày mất của ông ta, John Ripley vẫn còn hiện diện tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ và lẫn trong phạm vi Quân đoàn TQLC. Niềm đam mê của ông Ripley cho việc đào tạo vai trò lãnh đạo và sự phát triển cá tính được biểu hiện như là ông ta hầu như ở nhà tương tác với những sĩ quan TQLC trẻ và những sinh viên sĩ quan Hải quân vốn là những người mà ông ta đầu tư vào bằng sự thú vị và quan tâm cá nhân to lớn. Như đối với niềm đam mê không mờ nhạt mà những Xung kích Quân của ông ta đã có để dành cho vị “thuyền trưởng” của họ hơn 40 năm sau khi ông ta dẫn dắt họ, ông ta gần như được toàn thể tôn kính bởi những người biết đến ông ta. Ngoài công việc ở Quân Đoàn và Học viện Hải quân, ông ta chỉ nhiệt tình hơn trong sự gắn bó của mình với đức tin, gia đình, và những người bạn gần gũi. John Ripley vẫn còn dành cho người vợ Moline của ông ta và bốn đứa con của họ tấm lòng của mình (những đứa con trai Steve và Tom, mỗi người phục vụ 4 năm như là những vị sĩ quan bộ binh TQLC). Trong tám đứa cháu của mình, John Ripley sẽ cố gắng tạo cho chúng trở thành những người làm nên chuyện vĩ đại.
Sự ảnh hưởng của John Ripley trên Quân đoàn TQLC và tất cả những người vốn biết ông ta, không thể cho là phóng đại. Có mặt tại đám tang của ông ta là những quân nhân TQLC của mỗi thời kỳ từ Thế Chiến thứ II về trước và của mỗi cấp bậc từ binh nhì đến tướng lãnh. Những quân nhân TQLC Mỹ –phần nhiều trong số họ tài giỏi như những Xung kích Quân của ông– những quân nhân TQLC Hoàng gia, những quân nhân TQLC Việt Nam, những sinh viên sinh quan của Học viện Hải quân, và nhiều ngàn bạn bè đã khóc với nhau lúc qua đời của ông ta.

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.

One thought on “Phần 42 (Hết): Anh Bình, một người Mỹ

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s