Phần 19: Cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p251

Phần 19: Cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh

Điều mà những người Cộng Sản ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) sẽ đề cập đến như là cuộc Tổng tấn công Nguyễn Huệ vào tháng Ba năm 1972, trở nên được biết đến đối với những người ở phương Tây bởi tựa đề kiểu Tây phương của nó. Cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh, giống như cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, là một nét đậm có ý nghĩa là đưa đến một-phát-súng-ân-huệ cho quân sự và lẫn chính trị chống lại những kẻ tôi đòi cố ý của chủ nghĩa đế quốc Mỹ ở miền Nam. Cùng một lúc, các nhà lập kế hoạch miền bắc hy vọng sẽ tập trung một cách phù hợp tất cả sức mạnh chiến đấu hiện có đến một nỗ lực tối đa và, đầy hy vọng là, gây ra sự hoảng sợ và hỗn loạn ở miền Nam. Bởi vì mối đe dọa, đến nay, của những người Mỹ hoặc Việt Nam Cộng hòa (VNCH) đang cố gắng thực hiện một cuộc xâm lược ở bất cứ nơi nào về phía bắc của Vĩ tuyến 17 thì cực kỳ xa vời, người ta tin rằng sự an toàn nhất thiết đi đến sự phá vỡ một lần nữa. Ngoại trừ những người vốn giữ vị trí trong hệ thống phòng thủ không phận, có ít nhu cầu để duy trì những lực lượng trên bộ thường xuyên ở quê nhà; mặc dù Quân Bắc Việt sẽ giữ một số đơn vị dự bị cho một khoảng thời gian dài thất thường ở phía bắc Khu phi Quân sự trong suốt cuộc xâm lược nầy.
Việc sử dụng ảnh hưởng số đông, đột xuất của bộ binh được kết hợp, những nguồn lực của thiết giáp và pháo binh, được bổ sung bởi cách sử dụng hào phóng những hệ thống phòng thủ hiện đại nhất bằng phi đạn chống máy bay được Liên Xô cung cấp đã mang hết vào trong những khu vực tiền phương đang hoạt động, mục đích cuối cùng một lần nữa là một chiến thắng toàn diện.
Trong khi những công dân bình thường của VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) không có nơi nào giải tỏa những thất vọng của họ về tổn phí của quá nhiều người trong số những thanh niên và trung niên đang bị tiêu thụ cho vinh quang to lớn hơn của cuộc cách mạng, ban lãnh đạo nhận thức một cách sâu sắc về tổn phí của chiến tranh về nhân lực. Cho đến nay, những người vốn bao gồm và nắm quyền lực ở phía bắc, vẫn chưa đạt đến một điểm phải chăng về sự đầu hàng có điều kiện.

p252

Nỗ lực hướng đến chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh rõ ràng là đang diễn ra tốt đẹp. Ban lãnh đạo Cộng sản nhận biết rằng, như là một quốc gia, Hoa Kỳ đã từng bị ảnh hưởng một cách mạnh mẽ bởi báo chí tự do của nó và sự bày tỏ thù nghịch lan rộng đối với cuộc chiến tranh gần như ở tất cả những khuôn viên đại học. Trong khi hành vi tương tự có thể đã được nghiền nát một cách nhiệt tình ở Hà Nội hoặc Hải Phòng, hoặc bất cứ nơi nào khác về phía bắc Vĩ tuyến 17, Bộ Chính trị Hà Nội sung sướng nhìn thấy sự bất đồng quan điểm nơi rất nhiều người trong số những người Mỹ đó tạo ra hoặc có ảnh hưởng trên cách hành xử về chiến tranh.

(Từ khởi đầu là cuộc biểu tình “Đi với Chúng tôi vì Hòa bình ở Việt
Nam” của Bác sĩ Benjamin Spock với khoảng 3.000 người tuần hành
đến Liên Hợp Quốc ở thành phố New York vào ngày 10/04/1965)

(Hai thanh niên Mỹ ve vẩy lá cờ Việt Cộng trong suốt cuộc tụ tập phản
chiến được tham dự bởi hàng ngàn người tại Công viên Trung tâm của
thành phố New York, vào ngày 27/04/1968. Bạo động bùng nổ khi
những nhóm ủng hộ nỗ lực chiến tranh của Hoa Kỳ biểu tình ở những
vòng ngoài của những những người phản đối chống chiến tranh)

(Đến cuộc biểu tình của hàng ngàn sinh viên của trường Đại học
Washington đang xâm chiếm và ngăn giữ Xa lộ Liên bang 5, vào
ngày 5/05/1970. Và những cuộc biểu tình liên tục tiếp theo cho
đến ngày cuối cùng của miền Nam Việt Nam, 30/04/1975)

Kết quả của cuộc Tổng tấn công ngày Tết 68 đã nhìn thấy một sự thất bại thảm hại hoàn toàn của các lực lượng Cộng sản bởi những binh lính đồng minh. Dân cư ở miền Nam, như được lên kế hoạch, không nổi lên thậm chí một chút nào để chào đón những người anh em giải phóng của họ. Chiến thắng thay vì, với một cái giá rất cao, đã đến bằng việc phá vỡ giải pháp quốc gia của Mỹ để chiến đấu xa hơn nữa. Những phí tổn bằng máu, với rất ít để cho thấy sự đầu tư, được đánh giá như một cách đơn giản là quá cao. Cái giá trị mà Mỹ đặt trên mạng sống, và cũng là mối quan tâm thiết thực mà nó đặt trên việc hồi hương của những tù binh chiến tranh của nó, chỉ phục vụ để chứng thực những sự quan sát được thực hiện bởi những người đang nắm quyền lực ở miền Bắc.
Những hoạt động ở làng Mỹ Lai trở thành giống như là một quốc huy của sự xấu hổ, sự sám hối ăn năn, là cái áo hành xác mà những người Mỹ dường như thu hút niềm vui đồi trụy vào trong cảm giác tội lỗi về chúng. Những hành động tàn bạo và sự tàn ác thường xuyên của Cộng sản, vượt xa nhiều hơn bất cứ điều gì bị gây ra bởi Hoa Kỳ, là một trò chơi hiếm khi công bằng cho cuộc thảo luận nghiêm túc hoặc bài tường thuật của báo chí.
Trong số những mối quan tâm lớn đối với các nhà quy hoạch của VNDCCH(pc 01) là liệu những người Mỹ có thể hoặc sẽ đổi ngược 360 độ chiều hướng nỗ lực rút quân khổng lồ mà qua đó hiện thời giống như một quả cầu tuyết trên nửa đường xuống đồi, đang phát triển lớn hơn và thu thập cái đà động lực càng lúc gia tăng. Không có khả năng xảy ra như thế. Người miền Nam Việt Nam không có số cử tri chính trị thân thiện bên trong Hoa Kỳ. Không có những chính khách hành lang mạnh mẽ để bênh vực cho họ, để có hiệu quả chống lại hoặc bào mòn sự tác động của sinh viên giận dữ và các nhóm nhỏ của những cựu chiến binh cay đắng, ngày càng cao giọng phản đối chiến tranh. Cũng không có truyền thống lớn, như đã từng có với Trung Quốc, trong công việc tuyên truyền về Mỹ hoặc sự liên kết lâu dài với những công dân Việt Nam yêu chuộng tự do. Bài diễn văn nhậm chức nổi tiếng năm 1961 của Tổng thống Kennedy mà trong đó ông ta phát biểu rằng những người Mỹ sẽ “trả bất cứ giá nào, mang lấy bất kỳ gánh nặng nào, đáp ứng bất kỳ khó khăn nào, hỗ trợ bất kỳ người bạn nào, chống lại bất kỳ kẻ thù nào, nhằm mục đích bảo đảm sự sinh tồn và thành công của tự do” không còn được áp dụng cho Việt Nam.

p253

Việc sử dụng hiệu quả sức mạnh Không quân và sự ứng dụng của nó trong sự thường xuyên trên một quy mô chưa được nhìn thấy đã phải là sự suy xét. Những hàng phòng ngự không phận mới nhất của Liên Xô ít nhất sẽ làm giảm thiểu hoặc vô hiệu hóa một số cú đấm trả đũa nào đó của Mỹ. Cũng thế, thời tiết sẽ trợ giúp trong một ít ngày đầu tiên. Có lẽ nếu những lực lượng Quân Bắc Việt có thể đủ sức giữa an toàn lãnh thổ trước khi thời tiết trở ngược chống lại họ, họ có thể đã phải chịu đủ đớn đau để tuyên bố chiến thắng hoặc bằng cách nào đó thúc đẩy sự trục xuất chế độ Thiệu đáng ghét.

(Trong khi đó, dân Trung Cộng nhiệt liệt ủng hộ
chính sách gây chiến tranh ở Việt Nam)

(Và hân hoan đón mừng những cán binh Bắc Việt trong sự
khuyến khích đẩy mạnh hơn cuộc xâm lược miền Nam Việt Nam)

Không, những người Mỹ sẽ không đưa vào lại những quân nhân hoặc binh lính Thủy quân Lục chiến (TQLC) của họ. Giới truyền thông và những đối thủ của chiến tranh trong Quốc hội sẽ không bao giờ cho phép điều đó. Nếu ông Nixon đủ ngu si để thực hiện nước đi như thế, những sân trường đại học của quốc gia sẽ bùng nổ trong một cơn thịnh nộ mà qua đó sẽ khiến cho sự phản ứng của Đại học Tiểu bang Kent ở Ohio mờ nhạt trong sự so sánh. Khi đối với sức mạnh Không quân, Quân Bắc Việt sẽ nắm lấy những cơ hội của mình trên nỗ lực nầy, qua việc đánh cuộc cho nó “tất cả trên vùng Màu Đỏ” là cách nói như thế.
Những sự chuẩn bị cho cuộc tấn công số đông ào ạt và những hành động quyết liệt của Quân Bắc Việt chỉ đơn giản xác nhận điều gì mà các nhà phân tích tình báo bi quan nhất của đồng minh đã lo sợ tất bật theo. Điều đó sẽ là nhiều ngày nữa trước khi màn sương ban đầu của trận chiến đã đủ hé rõ cho sự phản ứng rất chậm chạp của cấu trúc chỉ huy liên kết Mỹ–VNCH(pc 02) để phát triển bất kỳ loại kế hoạch phối hợp phòng thủ, và sau đó phản công.
Một cách chắc chắn là những vị thần của chiến tranh dường như ủng hộ những kẻ xâm lược. Trong những ngày và tuần trước khi sự khởi đầu cuộc tấn công, những đội pháo chống máy bay và phi đạn đất-đối-không của Quân Bắc Việt đã tuyên bố rằng một số lượng máy bay Hoa Kỳ đang bay những chuyến sứ mạng hỗ trợ thường xuyên trong vùng đất của Khu phi Quân sự. Với những năng lực lớn hơn phòng ngự kẻ thù và tình hình thời tiết ngày một xấu đi, khả năng cho việc trinh sát sự di chuyển của đối phương từ trên không bị xuống cấp một cách nghiêm trọng.
Việc sử dụng một mạng những khẩu pháo tầm xa được Liên Xô và Trung Quốc cung cấp, mà từ trước đến nay chỉ được sử dụng chống lại các lực lượng đồng minh khi được bắn ra từ khu vực Co Roc ở Lào chống lại các mục tiêu giống như Khe Sanh, khắp toàn bộ chiều dài của Khu phi Quân sự và những phần biên giới với Lào đã cho thấy những năng lực lớn hơn nhiều so với những gì được trải nghiệm trước đó. Đồng thời, có vẻ là mọi vị trí chiếm đóng được giữ bởi các đơn vị của Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) và TQLC,(pc 03) cùng với bất kỳ số thường dân đáng lưu ý nào trong phạm vi tầm đạn, phải gánh chịu dưới hỏa lực pháo binh cực kỳ dữ dội và chính xác.

p254

Từ hầm trú Trở thành lòng Chảo chiên:

Nếu đã có một thời gian thuận lợi hơn cho những người Cộng sản để bật mạnh một loạt những cuộc tấn công quy mô trên tất cả Khu phi Quân sự và ra khỏi phía tây bắc từ Lào, đó sẽ điều rất khó để nhận định. Người ta không cần phải là một nhà chiến lược quân sự lỗi lạc Sun Tzu (Tôn Tử) của Trung Hoa hoặc một nhà lý thuyết quân sự tuyệt vời Đức–Phổ Clausewitz hoặc một danh tướng MacArthur của Hoa Kỳ hoặc ngay cả ở hạng cuối lớp của bất kỳ trường đại học chiến tranh trung cấp nào bên Tây phương hay Liên bang Sô-Viết để nhìn thấy rằng những người Cộng Sản đã chọn một thời điểm lý tưởng để tiến hành sự bùng nổ.
Cho dù cố ý hay không, những người đồng minh có thể đã bị ru ngủ vào trong một cảm giác sai lầm về sự an ninh như là thậm chí không có người nào đã suy ngẫm về viễn ảnh của một cuộc tấn công trên toàn bộ bề rộng của Khu phi Quân sự. Những người Cộng Sản đã không bao giờ làm điều đó trước đây, và tất nhiên, họ bị buộc bởi hiệp ước không làm như vậy. Vào thời điểm này, thời tiết trợ giúp kẻ thù khi màn bao phủ của đám mây chụp xuống tới khoảng 300 đến 450 m trong tất cả vùng phía bắc Quân khu I hầu như loại trừ việc sử dụng sự hỗ trợ của Không quân theo chiến thuật.

(Một phần bản đồ tấn công vẽ tay của Quân Bắc Việt vào
những căn cứ dọc theo Khu phi Quân sự vào năm 1968)

(Bản đồ tấn công vẽ tay của Quân Bắc Việt vào năm 1971)

Thêm vào sự bối rối, hỗn loạn, và đặc biệt là đối với câu hỏi về những hành động phản bội và phản nghịch ở những mức độ cao cấp của QĐVNCH,(pc 04) đó là, vào đúng lúc cuộc tấn công của Quân Bắc Việt, hai trong số ba trung đoàn tạo thành sức mạnh bộ binh của Sư đoàn 3 thuộc QĐVNCH đang thực hiện cái gì đó được gọi là hành lang thông qua những hàng phòng thủ. Trong suốt con đường băng qua những hàng phòng thủ, hai đơn vị, thường có kích thước tương tự, nhất thiết hoán đổi những vị trí với chủ ý là kẻ thù trước mặt họ không nhận biết sự chuyển đổi. Dưới hoàn cảnh huấn luyện, sự di chuyển như thế là vấn đề nhức đầu về lãnh đạo và hậu cần. Dưới hoàn cảnh chiến đấu, điều đó có thể là một cơn ác mộng. Đối với Sư đoàn 3, con đường băng qua những hàng phòng thủ sẽ là một thảm hoạ.
Sư đoàn 3 được tạo ra sau hậu quả của Chiến dịch Lam Sơn 719, và chưa chúc mừng lễ kỷ niệm đầu tiên của nó như là một sư đoàn. Được tạo nên bằng ba trung đoàn bộ binh –Trung đoàn 2, 56, và 57– chỉ Trung đoàn 2 có một lịch sử lâu hơn sư đoàn mẹ của nó và được đánh giá bên lề ghi chú là có hiệu quả chiến đấu bởi các sĩ quan Quân đội Hoa Kỳ vốn là những người gần đây đã từng phục vụ ở đó trong vai trò cố vấn. Trung đoàn 56 và 57 mặc dù chúng là những đơn vị quân đội hợp pháp,

p255

có thể được ví như là một lực lượng dân quân hơn mà trong đó hầu hết những người lính từ nơi ngay đó ở Quảng Trị hoặc các tỉnh lân cận. Với những quân nhân được huấn luyện kém cỏi, ban lãnh đạo ở hầu hết mọi cấp thiếu kinh nghiệm tương tự như nhau và thiếu đào tạo một cách đầy đủ. Cũng có một số lượng khá đông những người lính trong những trung đoàn vốn là những người đã được gởi đến đó như là hình phạt cho việc đào ngũ khỏi các đơn vị khác của QĐVNCH.1
Mối quan hệ giữa QĐVNCH / Quân đội Hoa Kỳ theo nhiều cách phản ảnh mối quan hệ giữa TQLCVN / Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự Hoa Kỳ. Nơi mà Quân đội Hoa Kỳ thì hơi lớn hơn một chút so với Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự Hoa Kỳ, kích thước của QĐVNCH(pc 04) được hoàn toàn thu nhỏ là TQLCVN.(pc 03) Với kích thước nhỏ hơn và hạn chế của nó, nhưng luôn luôn dường như mở rộng những sứ mệnh, lực lượng TQLC ngay cả vào thời điểm cuối này trong cuộc chiến, có thể duy trì các tiêu chuẩn cao. Những đơn vị của QĐVNCH có sự chia sẻ của những người đàn ông dũng cảm và những người dẫn dắt táo bạo cho đơn vị nhỏ. Vấn đề không may cho họ là hầu hết đã bị mất đi giữa một số lượng lớn hơn của những người đồng hướng được dẫn dắt kém cỏi và được thúc đẩy yếu kém. Trong khi Quân đội Hoa Kỳ, trong nhiều năm, tương tự như trước đã từng sử dụng những vị cố vấn cho QĐVNCH, kích thước cũng là một vấn đề. Với chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và việc rút xuống liên tục những lực lượng Mỹ, một số ít các đơn vị của QĐVNCH có những sĩ quan quân đội Mỹ hiểu biết về cuộc chiến đấu để dựa vào cho sự trợ giúp rất quan trọng. Vào ngày 30 tháng Ba năm 1972, Trung đoàn 2 không có bất kỳ sự đóng góp cố vấn trực tiếp nào của Mỹ. Cả hai Trung đoàn 56 và 57 có những vị cố vấn, nhưng chỉ ở mức trung đoàn.
Bắt đầu lúc trưa theo thời gian địa phương vào ngày 30 tháng Ba năm 1972, mười hai vị trí căn cứ hỏa lực theo thống kê đang vươn ra cả chiều dài đông–tây của Khu phi Quân sự và kế đó là khoảng 20 km từ phía bắc đến phía nam trên vùng biên giới giáp ranh với Lào cùng một lúc gánh chịu dưới hỏa lực pháo kích và hỏa tiển tàn nhẫn, không ngừng nghĩ, trên một quy mô mà không ai ở đó đã từng trải nghiệm trước đây. Một lần nữa, như là những người phòng thủ, các đơn vị của QĐVNCH(pc 04) và TQLC(pc 03) hoạt động bên ngoài những vị trí được thành lập, được nhìn thấy rõ mà qua đó dễ dàng bị nhắm trực tiếp vào mục tiêu bởi những quan sát viên tiền phương của Quân Bắc Việt. Ngoại trừ bốn khẩu pháo 175 ly của QĐVNCH tại Doanh trại Carroll, những đơn vị của QĐVNCH và TQLC trong cuộc chạm súng có chỉ có sự hỗ trợ pháo binh 105 và 155 ly để gọi vào. Với tầm pháo tối đa vượt trên cả những khẩu đại bác 105 và 155 ly, những khẩu pháo 130 ly và hỏa tiển 122 ly của Quân Bắc Việt sẽ thoải mái đặt vị trí cho chính mình bên ngoài những vòng cung tầm bắn của pháo binh QĐVNCH, và sau đó dập mạnh vào họ mà không bị trừng phạt.

(Khẩu pháo 130 ly và 122 ly được Liên Xô cung cấp cho Quân
Bắc Việt có tầm xa hơn cả những khẩu đại bác 105 và 155 ly
của QĐVNCH, bị tịch thu ở Quảng Trị vào năm 1972)

(Những hỏa tiển 122 ly cũng do Liên Xô cung cấp, được
sắp đặt trong tư thế đồng loạt phóng vào mục tiêu ở tầm
xa hơn những khẩu đại bác từ thời Đệ nhị Thế chiến của
QĐVNCH được Hoa Kỳ cung cấp, cũng bị tịch thu)

Việc lên kế hoạch của Quân Bắc Việt là sao cho những đợt công kích ban đầu của họ bao gồm tất cả các vị trí pháo binh được biết đến của QĐVNCH. Hỏa lực phản pháo bởi QĐVNCH thì chậm đáp trả theo cách tốt nhất. Những người đang giữ vị trí ở những khẩu pháo không được tận dụng toàn bộ để phải chịu những ảnh hưởng bởi sự ngang sức.

p256

Một khi những khẩu đại bác của QĐVNCH phải im lặng –hoặc bởi sự xóa sổ hay sự đe dọa bao phủ– đối phương có thể chuyển sang các mục tiêu khác theo ý muốn. Như điều đó xảy ra, những đợt bắn yễm trợ ban đầu cũng đã loại ra rất nhiều khả năng liên lạc thông tin của QĐVNCH, thêm vào cảm giác của sự hỗn loạn, cô lập, và sự đánh mất quyền chỉ huy và kiểm soát địa phương.
Phía sau các cuộc công kích bằng pháo binh, cuộc tiến công của 30.000 bộ binh của Quân Bắc Việt và, trong lần đầu tiên ở Việt Nam trên bất kỳ quy mô nào, hàng trăm xe tăng T-54 và PT-76 được Liên Xô cung cấp lăn bánh về phía trước giống như một lực lượng tàn phá tất cả không thể ngăn cản như những bánh lăn của chiếc xe tế lễ từ đền thờ Ratha Yatra của Ấn giáo. Cuộc chiến tranh quy ước mà những người Mỹ đã luôn luôn hăm hở muốn chiến đấu ở Việt Nam –sau khi đã chiến thắng được nó một lần trong dịp Tết ’68– đang được khởi động một lần nữa trên một quy mô thậm chí to lớn hơn.

(Chiếc xe tế lễ từ đền thờ Ratha Yatra của Ấn giáo được
mô tả vào năm 1851, sẵn sàng cán qua tất cả những người
sùng tín nằm phơi mình dưới bánh xe như là một ân sủng)

Cuộc tấn công của Quân Bắc Việt không có chuyện giới hạn đối với những mục tiêu quân sự. Sau khi đã được ru ngủ theo cách tự nhiên trở lại vào trong cảm giác yên bình và bình thường trong những năm gần đây, những thường dân Việt Nam không mong đợi bị cố ý tấn công bởi bất kỳ những kẻ xâm lược nào. Cuộc pháo kích vào các khu vực đông dân cư với những hỏa lực pháo binh của Quân Bắc Việt đang bò vào phía nam là một phần rất quan trọng của kế hoạch để lây lan sự hoảng loạn và chận đứng các mạng lưới đường bộ quan trọng, tiếp tục hạ thấp xa hơn khả năng đáp trả của QĐVNCH / TQLC.

(Những khẩu đại bác của miền Nam Việt Nam bắn qua dòng sông Đông
Hà vào trong những vị trí của lực lượng 4/3 Bắc Việt khi những đơn vị
thiết giáp chiếm lấy những vị trí hầu chận đứng cuộc tiến công của
những cán binh Bắc Việt và xe tăng)

Từ quan điểm của những lời chỉ trích cay độc nhất của những đối thủ chiến tranh ở Hoa Kỳ, sự phản ứng chiến đấu của QĐVNCH, hoặc sự thiếu soát việc đó, là điều có thể dự đoán trước. Trong khi nhiều đơn vị của QĐVNCH đã cố gắng bám giữ và chiến đấu, một số lượng bộ binh, pháo binh, và các đơn vị hỗ trợ chỉ đơn giản là bị tan chảy mất; nhìn chung là một số chấm dứt tồn tại hoàn toàn. Trong những giờ khởi đầu của cuộc tấn công của Cộng sản, những con đường chạy về phía nam và xa khỏi cuộc giao chiến bị nghẹt thở với hàng ngàn và hàng ngàn thường dân đi bộ, chạy bộ, bò lết, kéo lê chân, hoặc cưỡi bất kỳ loại động vật nào hoặc vật dụng được chế ra có bánh xe mà qua đó sẽ cho phép họ thoát khỏi cơn bão lửa phía bắc. Được trộn lẫn một cách tự do vào với số dân cư tạp nhạp của những thường dân di tản là hơn hàng ngàn thanh niên vẫn còn mặc những bộ đồng phục của QĐVNCH nhưng trên đó không còn phơi bày những hiệu tên, cấp hiệu chức vụ, hoặc những miếng huy hiệu đơn vị. Nhiều người trong số những người đàn ông đó được nhìn thấy đang đi trên quốc lộ 1 là những quân nhân từ Trung đoàn 57 vốn là những người đã bỏ những vũ khí của họ để mau chóng trở về nhà và di chuyển những gia đình gần đó của họ về phía nam và xa khỏi cuộc tàn sát. Từ hầu như bất cứ nơi nào ở phía bắc tỉnh Quảng Trị, thế giới trông giống như đang đến lúc tan vỡ. Không một có tin tức tốt đẹp nào.

(Cuộc di tản của dân chúng khỏi thành phố Quảng Trị vào ngày
3/04/1972 trên Đại lộ Kinh hoàng bằng tất cả phương tiện nào)

(Thậm chí là những chiếc gánh “người” để mong
thoát khỏi cuộc tàn sát do Quân Bắc Việt gây ra)

(Hình ảnh những quân nhân VNCH phải bỏ súng để lo cho
gia đình mình thoát nạn trong những ngày cuối của năm 1975
cũng trên Quốc lộ 1, gợi lại cảnh tương tự của năm 1972)

p257

Cùng với việc không có được một tin tức tốt nào để báo cáo, trong những giờ đầu tiên của cuộc công kích của Cộng sản, dòng chảy của thông tin xuống phía nam đến Sài Gòn chỉ miễn cưởng phải chuyển qua mạng lưới vô tuyến chiến lược của QĐVNCH. Có lẽ bởi vì cuộc tấn công đã gây bất ngờ cho họ, có một cảm giác xấu hỗ, lúng túng –mà qua đó là sự mất mặt rất đáng kể chưa từng có– trong số các sĩ quan cao cấp của QĐVNCH vốn làm chậm lại việc truyền tải và chấp nhận tin xấu.2
Không phải như bị cản trở bởi các vấn đề sĩ diện, những người Mỹ ở hầm trú của Trung tâm Hoạt động Chiến thuật thuộc Sư đoàn 3 (Tactical Operations Center = TOC), nơi mà Gerry Turley hiện thời đứng ra nhận lãnh tình hình lúc ban đầu như là không hơn gì một quan sát quan viên có hứng thú nhưng chưa được trao quyền, ngay lập tức bắt đầu gởi những báo cáo về tình hình đến Sài Gòn. (Việc thông tin liên lạc giữa Trung tâm Hoạt động Chiến thuật thuộc Sư đoàn 3 và Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự Hoa Kỳ cho Việt Nam tại Sài Gòn được tiến hành trên điện thoại chiến trường lỗi thời, một đường dây, phải quay tay mà nó được nối trực tiếp vào trong hầm trú. Hoặc là đường dây đó đi thẳng một mạch đến Sài Gòn hoặc được nâng làn sóng mạnh thêm bởi một loại chuyển tiếp vô tuyến trung gian nào đó, anh Gerry không biết. Tất cả điều mà anh ta quan tâm tới là chất lượng của việc thông tin liên lạc đó, mà qua đó không đồng đều theo cách tốt nhất trong suốt trận chiến.) Những người ở Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự Hoa Kỳ cho Việt Nam, giống như những người bạn của QĐVNCH của họ, phản ứng chậm chạp nhưng vì các lý do khác nhau. Kết hợp với niềm tin rằng nếu một cuộc tấn công lớn đã được tung ra, nó sẽ chống lại các mục tiêu xa hơn về phía nam, và chắc chắn không phải ở ngoài Khu phi Quân sự; cuộc giao chiến được nghĩ là một loại cách đánh nghi binh nào đó. Như đó là điều khó khăn để thông cảm và cảm thấy sự ẩm ướt của sương mù ở thành phố San Francisco khi người ta đăng trải qua sự ấm áp và ánh nắng mặt trời ở thành phố Los Angeles, cũng thế, chính là một thách thức để hiểu ra được tất cả cuộc chiến đấu ở tỉnh Quảng Trị trong khi Sài Gòn đang sinh hoạt kinh doanh như bình thường. Chắc chắn là chưa có dấu hiệu nào cả về mối quan tâm sâu sắc của Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự Hoa Kỳ cho Việt Nam.
Tầm nhìn từ đó và hành động ở Trung tâm Hoạt động Chiến thuật thuộc Sư đoàn 3 ở thị trấn Ái Tử là theo một vài cách siêu thực. Thêm vào đó, việc nhận lấy phần chia sẻ của nó về đợt đạn pháo kích và hỏa tiển đang đến, chính là nơi mà dữ kiện và những báo cáo qua vô tuyến từ tất cả các đơn vị trực thuộc được tiếp nhận và theo dõi, và sau đó được vẽ trên những tấm bản đồ lớn để cho những người có trách nhiệm về việc đưa ra những quyết định về nơi nào để áp dụng các nguồn lực khan hiếm; nơi mà để bơm vào máu tươi, nơi mà để áp dụng dụng cụ quay xoắn cầm máu lại hoặc thực hiện việc phẫu thuật cắt bỏ tay chân, đều có thể được thực hiện. Không phải là lực lượng nhân viên Quân đội Mỹ đang phục vụ trong những vai trò hỗ trợ cũng không phải là ban tham mưu của QĐVNCH mà họ đang hỗ trợ giúp, được chuẩn bị cho phạm vi và tầm cỡ của những cuộc tấn công nầy.

p258

Việc đang ở Trung tâm Hoạt động Chiến thuật là điều gần gũi nhất đối với việc đang ở trong cuộc chạm súng –theo cách mà những đơn vị tiền tuyến đang ở trong cuộc giao tranh– mà không phải là đang ở trong cuộc tiếp xúc. Tình hình từng lúc đang thay đổi như được chứng minh bởi việc thực hiện âm mưu luôn luôn di chuyển đang xảy ra hiện thời, và tất cả điều đó được hướng theo một chiều hướng sai, đã vẽ lên một bức tranh ảm đạm ở mọi điểm trên bản đồ nơi mà những vị trí phe bạn trông như bị tràn ngập. Đối với một nhân viên chuyên về những hoạt động, điều đó giống như đang ở trong một cuộc tranh giải về đấu vật của trường đại học, nơi mà nhiều cuộc đọ sức đang liên tục diễn ra, ngoại trừ là trong cuộc tranh tài này, không có những giới hạn về thời gian hoặc những vị trọng tài. Trên mỗi tấm nệm riêng biệt, những đối thủ phải chịu hao mòn bởi thế giới vây quanh ngay họ khi họ vật lộn đến bán sống bán chết, không biết về điều gì xảy ra trên vùng lãnh thổ kề bên. Chỉ những người ở Trung tâm Hoạt động Chiến thuật có một cái gì đó vui thú và thỏa mãn nhỏ nhoi về việc nhìn ra bức tranh to lớn hơn. Khi ánh sáng ban ngày đang phai dần vào ngày 30 tháng Ba 1972, bức tranh lớn hơn đó cho thấy rất ít sự hứa hẹn.

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).
pc 02_ VNCH : Việt Nam Cộng hòa.
pc 03_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 04_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.

One thought on “Phần 19: Cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s