Phần 18: “Vừa đàm, Vừa đánh… Vừa đàm, Vừa đánh”

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p237

Phần 18: “Vừa đàm, Vừa đánh… Vừa đàm, Vừa đánh”

Bắc Quân khu I
Mùa thu năm 1971

Con số những người Mỹ còn lại ở miền Nam Việt Nam vào cuối năm nay sẽ ít hơn 160.000 người. Trong số đó, gần như tất cả là những người đàn ông đang phục vụ trong những vai trò hỗ trợ hoặc yễm trợ cuộc chiến đấu. Đến cuối năm 1971, mỗi một đơn vị Thủy quân Lục chiến (TQLC) chiến đấu trên bộ biến mất khỏi vùng Đông Nam Á và Quân đội Hoa Kỳ có một số rất ít quân nhân thực sự bóp cò súng vẫn còn ở đó. Những người ở đó vốn được ở lại thực tế là đang giữ những vai trò hỗ trợ, để giúp chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của người Việt.
Điều duy nhất khác thường hơn các quy tắc tham chiến được áp đặt trên những lực lượng trên bộ và Không quân của Mỹ ở Việt Nam đang cố gắng để hiểu cách làm việc về chính trị của Rube Goldberg trong việc định hướng cho bất kỳ hành động nào ở dó. Giữa tháng Tư và tháng Mười năm 1968, lực lượng Hoa Kỳ, trong một con số hành động ngờ nghệch tỏ thiện chí đối với những người Cộng sản, về cơ bản đã ngưng việc dội bom miền Bắc Việt Nam bên trên Vĩ tuyến 20. Điều nầy để lại khoảng 90% đất nước không chạm đến. Bắc Việt thực tế và tập trung vào chiến thắng hơn sử dụng cơ hội một cách đúng đắn để đặt lại vị trí theo chiến lược những tài sản chiến tranh rất quan trọng và xây dựng một hệ thống phòng thủ không gian được Liên Xô cung cấp, nhiều cải tiến, cực kỳ hiện đại, xung quanh Hà Nội và Hải Phòng.

(Phi đạn SA-2 hướng dẫn theo NATO gọi trên dàn phóng-dựng đứng-vận
chuyển (Tranporter-Erector-Launcher = TEL), còn có tên là “Lavochkin
OKB S-75” là một hệ thống phi đạn phóng từ mặt đất đến không trung
(Surface-to-Air Missile = SAM) thường được gọi là SAM ở Việt Nam,
được Liên Xô bắt đầu chế tạo từ năm 1957 và cung cấp cho Bắc Việt)

Sự di chuyển đến các cuộc đàm phán hòa bình ở Paris với những người Cộng sản bí hiểm, cứng đầu là một quá trình đặc biệt đau đớn cho những người Mỹ có khuynh hướng đi đến những kết quả và nóng lòng tìm cách giải quyết một thỏa thuận. Mà qua đó phải mất chín tháng để đồng ý trên hình dáng của cái bàn thực sự mà xung quanh đó các cuộc đàm phán sẽ diễn ra, là một điềm báo không quá ảo huyền về những việc không thể đến.

p238

Trong khi đó cả hai bên, với những người Cộng sản cho là đang thể hiện bản chất xảo quyệt lớn hơn và sự nhạy bén về chính trị, gắn kết vào khái niệm rất điển hình của chủ nghĩa Mao-xít “vừa đàm, vừa đánh… vừa đàm, vừa đánh” –sự thực hành cùng lúc việc chiến đấu như thể là không bị lôi cuốn vào các cuộc đàm phán và việc đàm phán như thể là không bị lôi cuốn vào việc chiến đấu.
Trong số vấn đề quan trọng chính yếu đối với người dân Mỹ, ngoài việc rút quân toàn diện khỏi khu vực Đông Nam Á, là việc hồi hương của số lượng ngày càng tăng của các tù binh chiến tranh được biết bị giữ dưới những điều kiện thô bạo và hành hạ ở những nơi được mỉa mai đặt tên giống như “Khách sạn Hilton Hà Nội.”
Mặc dù vào tháng Mười Một năm 1970, cuộc đột kích của Mỹ tại tỉnh Sơn Tây, hai mươi dặm về phía tây Hà Nội, bởi các lực lượng được huấn luyện cao độ và có lòng tận tụy hết mực được dẫn dắt bởi vị đại tá quân đội Arthur “Bull” Simons đã thất bại trong nỗ lực của nó giải thoát các tù binh chiến tranh bị giữ ở đó –họ đã buộc di chuyển sớm hơn bởi vì sự đe dọa của lũ lụt đến một vị trí khác– hành động nầy có phần nỗi đáng kể. Mà qua đó một nhóm lớn gồm các lực lượng với những hoạt động đặc biệt của Mỹ đã rất can đảm xâm nhập vào trong trung tâm Bắc Việt, đã gởi đi một thông điệp chính trị mạnh mẽ mà tất cả các bên hiểu được. Nơi mà những người Mỹ sẽ bẻ cong hoặc quy phục trên những việc nhất định, cách đối xử với những người đó được xác nhận như là những tù nhân là một cái gì đó mà đối phương, vào thời điểm nào sau đó, có thể được tạo ra làm cho tin tưởng vào lời họ nói. Việc đối xử với những tù binh chiến tranh được cải thiện sau cuộc đột kích vào tỉnh Sơn Tây cũng như tinh thần trong số các tù nhân. Lực lượng đột kích cũng có cơ hội, trong suốt những khoảnh khắc ngắn ngủi của mình bên trong vòng đai Sơn Tây, sung sướng gởi đi một số lượng khá nhiều những kẻ xấu. Không có người Mỹ nào bị mất đi trong nỗ lực giải cứu.
Việc đàm phán và cãi nhau tại cuộc đàm phán tràng giang đại hải về hòa bình ở Paris tiếp tục. Ngay từ lúc sớm nhất khi cuộc đàm phán lần đầu tiên bắt đầu vào tháng Năm năm 1968, vị thế của Cộng sản có nhiều mục đích: để đạt được sự nhìn nhận từ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa (VNCH) cho Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTGPMNVN) (mà qua đó những người Cộng sản miền Nam được biết đến trong những nhóm của riêng họ), để tạo sự chia rẽ giữa những bọn đế quốc Mỹ và những đồng minh tay sai bất hợp pháp miền Nam Việt Nam của họ, để có được những người lính Mỹ chấp nhận trách nhiệm cho mọi thứ vốn là xấu xa và kế đó, muốn họ rời khỏi và không cấp thêm viện trợ nào(pc 01) cho phía VNCH.

(Cuộc đàm phán “bàn vuông” –trong ý nghĩa đối đầu giữa hai bên–
trong lần đầu tiên Hoa Kỳ và Bắc Việt vào ngày 10/05/1968, dười
thời Tổng thống Lyndon Baines Johnson, ở Paris, tại Khách sạn
Majestic, mà qua đó những người Cộng sản Hà Nội luôn gắn
kết vào khái niệm của chủ nghĩa Mao-xít “vừa đàm, vừa đánh”)

(Khách sạn Majestic nầy cũng là nơi diễn ra cuộc ký kết Hiệp định
Paris “bàn tròn” –trong ý nghĩa kết hợp thỏa thuận– cuối cùng vào
ngày 27/01/1973, dưới thời Tổng thống Richard Milhous Nixon, đưa
đến việc bỏ mặc miền Nam Việt Nam cô thế chống chọi với làn sóng đỏ
hung hăng luôn được Liên Xô và Trung cộng viện trợ mạnh mẽ và bất
chấp sự phản đối của chính phủ miền Nam khi họ đòi hỏi “bàn vuông”)

p239

Trong hơn ba năm, tất cả các bên đã tham gia một cách vô ích. Vào tháng Năm năm 1969, Tổng thống Nixon đã đề nghị việc rút quân tất cả lực lượng không thuộc bản xứ của miền Nam Việt Nam. Điều này có nghĩa là cả những binh lính Mỹ và Bắc Việt. Vào tháng Mười năm 1971, không có gì diễn ra xa hơn theo đó, những người Mỹ một lần nữa đưa ra một đề nghị tương tự.1 Thật không may cho ông Nixon, những người Cộng sản miền Bắc không có chút gì xem là nóng lòng rời khỏi như những người Mỹ, vốn là những người dù sao đi nữa dường như đang trên đường trở lại quê nhà, có hoặc không có những cuộc đàm phán. Những người Cộng sản vẫn còn tập trung vào cuộc chiến thắng; chiến thắng với một cái giá nào đó không được biết đến, không có tư cách xứng đáng mà bên trên đó những người Mỹ sẵn sàng trả hoặc trì hoãn những kẻ thù của họ cho việc đó.
Vào tháng Bảy năm 1971, Tổng thống Nixon gây kinh ngạc quốc gia và thế giới với thông báo rằng ông ta sẽ sớm du hành đến Bắc Kinh với chủ đích thể hiện về việc bình thường hóa những mối quan hệ với một quốc gia đông dân nhất thế giới. Những lợi ích về chiến lược có được thật là đáng kể. Những người Liên Xô và Trung Quốc, trong vòng hai năm qua, đã từng chiến đấu một số lượng những cuộc giao tranh lẻ tẻ đẫm máu về lãnh thổ tại nhiều điểm trên vùng biên giới kéo dài, tiếp giáp của họ. Để xúc tiến việc phá vỡ tảng đá Đỏ nguyên khối to lớn và khai thác mối nghi ngờ trong lòng của họ với nhau có thể đẩy bật lên và tái xây dựng sức mạnh của Mỹ được nhận thức vốn đã từng được trải qua một thu hoạch đáng ngờ trong khu vực Đông Nam Á. Liệu Tổng thống có thể biến đổi điều đó trở thành lợi thế về chính trị hoặc cho chiến trường ở Việt Nam vẫn còn được nhìn thấy. Những người vốn điều hành miền Bắc Việt Nam, cảm thấy lo lắng một cách chính đáng. Họ thực sự hiểu rằng, đặc biệt là sau khi học được những bài học từ cuộc đột kích ở Sơn Tây, gót chân vị anh hùng Achilles Mỹ là vấn đề tù nhân. Họ sẽ tiếp tục chơi ván bài đó trong tất cả các cuộc đàm phán xa hơn. Trong khi đó, việc rút đi những lực lượng Mỹ tiếp tục diễn ra mà không bị gián đoạn.

(Achilles là vị anh hùng Hy lạp trong Chiến tranh Trojan, đang
vinh quang kéo lê xác chết của vị hoàng tử anh hùng Hector của
Trojan trước những cổng thành Troy)

Học viện Quân đội Quốc gia Việt Nam
Lễ tốt Nghiệp
Đà Lạt, Việt Nam Cộng hòa
Ngày 27 tháng Mười Hai năm 1971

(Trường Võ bị Quốc gia trên ngọn đồi 1515, Đà Lạt)

Chính là một ngày êm dịu, đặc thù hoàn hảo ở thành phố Đà Lạt với những gia đình, bạn bè, và những người chúc phúc tốt đẹp tụ tập để làm kỷ niệm ngày tốt nghiệp của những người đàn ông trẻ tuổi của họ như là những vị Thiếu úy và những sinh viên sĩ quan trong một binh chủng phục vụ đất nước được sinh ra trong chiến trận của họ.

p240

Mà qua đó VNCH(pc 02) và Khóa 24 của Học viện Quân sự quốc gia, cho đến nay, đã cùng nhau sống còn, thì không phải là một phép mầu nhỏ. Mà qua đó, vào cuối tháng Mười Hai năm 1971, có những dấu hiệu hứa hẹn mới chớm, và thậm chí chiến thắng, là một cái gì đó mà tất cả họ có thể tự hào.

(Lễ tốt nghiệp của những sinh viên sĩ quan thuộc Học viện
Quân đội Quốc gia Việt Nam, Đà Lạt, khóa 24, vào năm
1971, sau 4 năm huấn nhục, học tập từ năm 1967)

(Vị tân Thiếu úy của trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt)

Với một năm sắp kết thúc, trong tương lai, trong khi không có gì bảo đảm, đang cho thấy những mô hình rõ ràng của sự sáng lạng. Chính quyền Sài Gòn kiểm soát phần nhiều vùng nông thôn hơn nó đã kể từ ngày khai sinh quốc gia gần 18 năm trước đó. Những cải cách thực thụ đang được thực hiện và trong khi chúng sẽ không bao giờ xảy ra với một nhịp độ để làm dịu những lời phê bình về chính phủ tại quê nhà hoặc trên báo chí Tây phương và các trường đại học Mỹ, chúng đang làm cùn sự hấp dẫn của Cộng sản. Hạ tầng cơ sở của Việt cộng, bị thiệt hại nặng quá nặng nề trong suốt cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, vẫn không thể tái tạo hoặc tái kiến thiết chính nó. Việc rút đi những lực lượng trên bộ của Mỹ đang được quân bình bởi lời tuyên thệ cho việc tiếp cận đến những hầu bao sâu thẳm của đồng minh của họ và tiếp tục việc yễm trợ về Không quân.
Sắp được chính thức là một vị Thiếu úy (chữ Thiệu úy được phát âm là “two-wee”), Nguyễn Lương tốt nghiệp đủ cao trong lớp học của mình là một trong mười bốn người được vinh dự mặc bộ đồng phục rằn ri như cọp và chọn Quân đoàn TQLC(pc 03) như là sự phục vụ lựa chọn của họ. Trong khi công dân trung bình Mỹ đã có thể vẫn còn cảm thấy sửng sốt khi biết rằng ngay cả người Việt Nam có một Quân đoàn TQLC, sẽ là gấp đôi sự ngạc nhiên khi biết rằng chỉ những sinh viên tốt nghiệp hàng đầu, những người giỏi nhất và sáng dạ nhất, được lựa chọn để phục vụ như là những sĩ quan non nớt trong lực lượng TQLC và đơn vị ưu tú khác như là Dù và Biệt động Quân. Sự cạnh tranh cho một vị thế thật căng thẳng.
Vùng đất diễn hành cho buổi lễ là một phiên bản giảm nhẹ của một buổi lễ tại Học viện Quân đội Quốc gia West Point. Nhỏ hơn trong kích thước so với mô hình của Mỹ, không có sự giảm bớt trong phẩm cách, lòng hảnh diện hoặc cảm xúc mạnh mẽ cho chính buổi lễ nơi đây ở Đà Lạt. Trong số 311 thanh niên vốn là những người đã bắt đầu với Khóa 24 trở ngược vào năm 1967, 245 người đã phải chịu đựng và không bao lâu sẽ băng qua bệ đài tốt nghiệp để nhận lãnh chứng chỉ và bằng phong cấp của họ như là những sĩ quan ở trước một đám đông tụ tập gồm những người bạn và thân nhân quý mến.

p241

Sự phấn khích và hứa hẹn vốn tồn tại ở mỗi buổi tốt nghiệp được hun đúc cho những chàng thanh niên sắp sửa bước vào tình huynh đệ chi binh nầy bởi việc gần như chắc chắn rằng tất cả họ, mỗi một người trong số họ, chẳng bao lâu sẽ là những người dẫn đầu trong cuộc giao chiến chống lại kẻ thù đáng ghét Cộng sản.
Vào ngày 27 tháng Mười Hai năm 1971, sẽ là ngay ngày cuối cùng mà tất cả những người của Khóa 24 sẽ cùng nhau như là một cơ thể con người. Trong mỗi cuộc hội ngộ theo sau, lúc bấy giờ họ có thể suy ngẫm, liệu trong năm hoặc mười hay ba mươi năm, có những người bạn đồng hướng đó trong số họ, có khả năng nhất là một số lượng khá nhiều trong số họ, vốn là những người trước đó một thời gian dài, đã thực hiện sự hy sinh cuối cùng cho đất nước của họ trong cuộc đấu tranh hiện tại của nó để tồn tại.

A- Đối với Nhiệm vụ với Tiểu đoàn 3:

Sau lễ tốt nghiệp, Thiệu úy Lương lấy trọn mười lăm ngày nghĩ mà anh ta được cho phép để dành thời gian với gia đình và người bạn gái lâu năm của mình và cũng để chuyển đổi tinh thần từ một sinh viên sĩ quan thành một quân nhân TQLC thực sự, sống động.
Mặc dù Quân đoàn TQLC Việt Nam tiếp tục sự mở rộng mau chóng của nó, đến tháng Giêng năm 1972, nó vẫn đủ nhỏ để duy trì cảm giác tập thể gia đình mạnh mẽ mà nó luôn luôn đã từng có.
Trong suốt cuộc chiến, lực lượng TQLC đã tìm cách để duy trì các tiêu chuẩn cao cho những sĩ quan và những người của nó, và không dính dáng đến mưu đồ chính trị mà dường như liên tục lây bệnh cho những sĩ quan cao cấp của Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH), và những đơn vị của họ giống như rất nhiều lực lượng quân sự ở các nước đang phát triển. Cũng không phải là lực lượng TQLC “có quyền chỉ huy trên mức của một tướng lãnh.” Trung tướng Khang, vị Tư lệnh của lực lượng TQLC, là người sĩ quan nổi bậc duy nhất đang phục vụ vào đầu năm 1972.
Mười bốn vị thiếu úy mới được tốt nghiệp từ Học viện Quân sự Quốc gia trong tháng Mười Hai sẽ được chia ra từng phần một cách thích hợp đến các tiểu đoàn khác nhau. Với chín tiểu đoàn bộ binh, một số sẽ nhận được hai vị Thiếu úy. Như Tiểu đoàn 3 đã luôn luôn làm nhiều hơn phần chia sẻ chiến đấu hết sức của mình, luôn luôn có nhu cầu cho những vị sĩ quan mới. Thiếu tá Bình, điều nầy xoay vòng, sẽ được phân bổ hai vị Trung đội Trưởng.
Công việc được giao của Anh Lương phục vụ với Tiểu đoàn 3 phần nhiều như là một chức năng của cảm giác khôi hài của một người đàn ông vốn là người sau này sẽ trở thành vị sĩ quan chiến lược xuất sắc kế tiếp của TQLC(pc 03) như chính là những nhu cầu đích thực của Quân đoàn. Đại Tá Bùi Thế Lân, vốn là người không lâu sẽ trở thành vị Tư lệnh kế tiếp, chịu trách nhiệm về những công tác của sĩ quan.

p242

Đi cùng với anh Lương là người bạn thân của anh ta từ trường Võ bị, Thiếu úy Nhái. Như với tất cả các ngôn ngữ, những từ ngữ hoặc tên thường có nhiều hơn một nghĩa. Trong tiếng Việt, nghĩa thứ hai của tên “Lương” là “con lươn.” Trong tiếng Việt, nghĩa thứ hai cho tên “Nhái” là một cái gì đó na ná như cái gì mà hầu hết người dân ở Mỹ có thể gọi là “con ếch” hoặc một bản sao nhái lại hợp lý từ bản xứ-đến-Việt Nam. Vì vậy đi đến Sói Biển là những Thiếu úy con Lươn và Ếch. Anh Lương đi đến Đại đội 4, anh Nhai đến Đại đội 2. Mọi người có trận cười ngắn, hiền hòa. Mà qua đó cả hai “con vật” thuộc loài thủy sinh và dưới biển theo tự nhiên, là một điềm thuận lợi không bị mất đi trên vị Tiểu đoàn Trưởng mới của họ. Thiếu Tá Bình sẽ chấp nhận tất cả điều may mắn tốt đẹp hiện có. Sau chuyện đó, trở lại công việc nghiêm túc là thanh toán những người Cộng Sản.

Trong suốt thời gian
Bắc Quân khu I, Việt Nam Cộng hòa
Ngày 29 tháng Ba năm 1972

Như là vị phụ tá cố vấn cao cấp mới cho TQLC, quá trình kiểm tra ra vào đối với Trung tá Gerry Turley là một chút được tham gia nhiều hơn so với công việc đã từng dành cho hai vị Đại úy Ripley và Philip. Giống như John Ripley và một số ít trong số những người khác, Gerry Turley đã đến với chuyến quân vụ này mà không có lợi ích nào của cuộc đào tạo về ngôn ngữ, nhưng rất nhiều lợi ích trong sự sở hữu một bằng cấp cao trong vai trò lãnh đạo và việc lập kế hoạch và việc phối hợp sự hỗ trợ hậu cần và hỏa lực và tất cả những thứ khác mà những sĩ quan bộ binh TQLC muốn chính mình làm chủ.
Như là người số hai trong nhóm người được chọn lựa nầy, anh ta biết rằng anh ta có thể, vào thời điểm ngoại lệ nào đó, cần lấp vào hoặc thay thế ông chủ của mình, Đại tá Josh Dorsey, vị cố vấn cao cấp của TQLC. Không cần phải đọc sự mô tả công việc chính thức, anh Gerry biết rằng anh ta cần học hỏi tất cả như anh ta có thể, về mọi thứ, hiểu được những mối quan hệ chỉ huy bất thường mà lực lượng TQLC hoạt động theo, và muốn biết những người trọng yếu của Quân đoàn TQLC Việt Nam. Giống như một nhà dìu dắt quyền anh sốt sắng, anh ta cần gặp gỡ và bước vào bên trong những quá trình tư tưởng của những chiến binh của mình –hoặc của vị Đái tá mình– những vị cố vấn gắn liền với các lữ đoàn và tiểu đoàn khác nhau, và qua họ phân biệt được những thế mạnh và điểm yếu khác nhau của các đơn vị mà họ phục vụ với.

p243

Bởi vì đây là một hoạt động của Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ, không có gì thực sự ngạc nhiên là anh ta đã biết riêng một số lượng khá nhiều những vị cố vấn, và gần như tất cả những người khác do tiếng tăm.
Như là vị Phụ tá Cố vấn Cao cấp cho TQLC, Trung tá Turley có quyền tiếp cận đến những báo cáo tình báo ở mức cao hơn mà từ trước đến nay anh ta không được phép xem. Trong công việc mới của mình, anh ta được trực tiếp tham gia vào mọi khía cạnh của việc lên kế hoạch về vật liệu và sự hỗ trợ hậu cần không chỉ cho các vị cố vấn trong chiến trường mà cũng còn cho sự hỗ trợ TQLC Mỹ sắp sửa là TQLC Việt Nam. Trung tá Gerry Turley là một người bận rộn. Công việc của anh ta thì đầy ấp.
Trong khi có nhiều thứ về công việc mới của mình mà anh ta không thể hoặc sẽ không tiết lộ trong thói quen được tái thiết lập của những bức thư thông thường mỗi ngày cho người vợ Bunny và những đứa con, sự phấn khích chỉ đơn giản là đang ở Sài Gòn và cảm kích tính chất độc đáo của nó cho anh ta một chủ đề phong phú để viết về nó. Sài Gòn thì đủ đẹp, đủ kỳ lạ, thậm chí đủ yên bình để ngẫm nghĩ đến việc có người vợ Bunny tham gia với anh ta ở đó cho một chuyến thăm sau nầy trong chuyến quân vụ của mình.
Sự năng động ở quê nhà đối với Bunny Turley và bầy con cách-nhau-bởi-một-tuổi của cô ta đã phát triển đáng kể từ chuyến quân vụ đầu tiên đến Việt Nam của anh Gerry bây giờ hơn năm năm trước đó. Đứa con gái lớn nhất và là người bạn tâm tình gần gũi, Anne, ra khỏi nhà và đang hoàn tất năm thứ ba của trường điều dưỡng ở St Louis. Không còn đòi hỏi sự giám sát hoàn toàn thiết thực về thể chất của việc trông nom hai cậu con nhỏ và hai người chị hơi hơn tuổi một chút nhưng vẫn ngọt ngào và vô tội của họ, công việc của người làm mẹ đã cần thiết trở nên mãnh liệt về cảm xúc và khôn ngoan về trí tuệ nhiều hơn.
Hai cậu bé Chris và Bob, mười và mười một tuổi theo sau thứ tự, là những cậu bé điển hình, đang làm công việc hướng đạo và chơi những môn thể thao và các việc vớ vẩn ở hàng xóm mà những cậu bé khoảng tuổi họ làm. Cô Jeri bây giờ là lớn nhất ở nhà và trong ba tháng sẽ tốt nghiệp trung học. Cha cô ta sẽ giải quyết theo cách của riêng mình với cảm giác tội lỗi liên quan đến việc bỏ lỡ sự kiện đó. Cô bé Peg đang làm mọi chuyện tốt đẹp như là một học sinh lớp tám. Mà qua đó hai cô bé trong số họ là những cô gái bình thường, đang chớm nở, còn tuổi theo bậc trung học được thêm vào sự hứng thú hàng ngày của người mẹ của chúng. Tất cả trong số những đứa con của gia đình Turley, chỉ giống như tất cả các con cái của những người bạn của cha mẹ chúng là “những đứa trẻ của gia đình TQLC” –gan lì như là những cây đinh, quen thuộc với những di chuyển liên tục và làm công việc mà không có người Cha quanh đó.

p244

Ít nhất là lúc nầy, Bunny Turley có thể có được sự yên lòng nào đó trong việc biết đến những rủi ro ở khu vực Đông Nam Á thì không quá lo ngại, mà qua đó cuộc chiến thì hầu như chấm dứt, mà qua đó anh Gerry có thể an toàn. Như đã từng trong suốt chuyến quân vụ đầu tiên đến Việt Nam của anh ta, những vấn đề tài chính là một chuyện vật lộn gay go; luôn luôn có nhiều tháng hơn là tiền bạc. Việc nuôi chúng ăn toàn những lát bánh mì kẹp thịt nguội là một thời gian dài không ngưng, làm quên mất đi cách ăn món thịt bò chiên.
Gerry Turley lấy hai tuần ở Sài Gòn để đuỗi kịp theo những nhiệm vụ mới của mình. Trong khoảng thời gian đó, anh ta gặp gỡ với Trung tướng Tư lệnh Khang của lực lượng TQLC, và đi tham quan các cơ sở huấn luyện khác nhau ở địa phương của TQLC(pc 03) và bệnh viện ở Thủ Đức. Hàng ngày anh ta lắng nghe trên cuộc họp quan trọng, ngắn gọn về hoạt động liên quan đến việc bố trí các đơn vị TQLC Việt Nam. Anh ta cũng thực hiện vô số chuyến đi đến Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam, là trung tâm của các hoạt động của Mỹ, nơi mà anh ta cũng được thường xuyên thông báo về tất cả tính cách của mọi việc.
Đại tá Josh Dorsey, vị Cố vấn Cao cấp của TQLC, vốn là người trước đó đã từng chỉ huy Tiểu đoàn 3, TQLC 3 trên phía bắc, có nhận thức rằng cuộc chiến tranh đang giảm xuống. Trên nhiều hơn một lần, ông ta chia sẻ với người phụ tá mới của mình rằng ông ta tin rằng họ rất có thể sẽ đóng lại đơn vị trong chuyến quân vụ của họ. Hoạt động ở Quân khu I, trong khi không hoàn toàn ngưng hẳn, chắc chắn là không ở một mức độ mà họ đã từng trải qua trước đó. Mọi việc trông như tốt đẹp.
Đối với anh Gerry, sau khi tìm hiểu tất cả sự việc như anh ta có thể khi ở Sài Gòn, chính là lúc để làm cái gì đó mà những sĩ quan TQLC làm và chạy lên để gặp những vị cố vấn của mình, để có được một nhận thức cá nhân về chuyện gì đang xảy ra. Việc đó được xem là một chuyến đi thường ngày ngừng lại ở nhiều nơi, hoàn toàn thường xuyên. Không có gì là to tát. Trong khi anh Gerry sắp theo hướng lên phía Bắc, Đại tá Dorsey được sắp xếp theo lịch trình cho chuyến nghĩ phép dịp Lễ Phục Sinh ngắn ngủi, rất đáng với gia đình của ông ta ở Phi Luật Tân (Philippines). Chỉ giống y như đối với mỗi vị cố vấn đang đến Quân khu I, anh ta được nhắc nhở để nhớ mang theo cái bao thư từ. Với ông chủ của mình ra khỏi đất nước, anh Gerry sẽ nắm quyền phụ trách công việc.

B- Đi về phía Bắc và Vào trong một vùng Không ai biết đến:

Bằng chứng khoa học thì tràn lan. Trong trải nghiệm cuộc sống của riêng mình, Gerry Turley có hai lần đúng trong hai sự kiện với những linh cảm biết trước sự trao đổi với cái chết nầy.

p245

Khi còn là một cậu bé, anh ta đã từng tập trung cảm giác để ở lại trong nhà ngày đó lúc xưa kia ở thị trấn Ogallala, thuộc tiểu bang Nebraska khi mà tất cả các người bạn thân của anh ta đã đi bơi tại nơi mỏ đá và bị chết đuối, và sau đó một lần nữa khi còn là một quân nhân TQLC non nớt trong cuộc Chiến tranh Hàn Quốc, anh ta bằng cách nào đó đã từ chối chuyến bay nghĩ phép đến Nhật Bản và tránh được một tai nạn máy bay.
Lần này, không có gì nhận được. Ngay cả nếu anh ta đã không bị hầu như là ghim xuống trên sàn máy bay C-130 phục vụ như là cái gối cho những bính lính trẻ TQLC Việt Nam xung quanh anh ta, không có cách nào. Không có lối thoát.
Vào tháng Ba năm 1972, anh Gerry trở thành quá cao cấp, quá chuyên nghiệp không thể lui bước lúc bấy giờ, không cần biết gì hết. Vẫn trẻ như anh ta là thế –đặc biệt là với việc Đại tá Dorsey đi vắng –anh ta chính là “Người phụ trách,” “Người phụ trách Cũ.” Khi những binh lính tại điểm tiếp xúc nói chuyện về một tổ chức làm cho tất cả sự việc xảy ra, từ ngữ “họ” trong mỗi cuộc trò chuyện, Gerry Turley bây giờ là một người trong số “họ.” Không, Trung tá Gerry Turley thuộc Quân đoàn TQLC Trừ bị Hoa Kỳ, người chồng của cô Bunny, người cha của cô bé Anne, Jeri, Peggy, cậu bé Bob, và Chris, là người bạn đối với rất nhiều người, sẽ theo tinh thần sẵn sàng chấp hành nhiệm vụ đi chuyến xe lửa này ngay trên vách đá nếu anh ta phải làm. Và anh ta sẽ làm điều đó với một trái tim dũng cảm. Điều mà giữ cho anh ta tỉnh táo, giữ anh ta khỏi phải tham vấn sự sợ hãi của mình chính là điều nằm trong vị thế của anh ta, với những trách nhiệm mà anh ta hiện thời kê vai gánh vác, nhịp độ của những sự việc cho phép anh ta chận đứng những suy nghĩ đó. Ít nhất một phần nào.
Chuyến bay lên hướng bắc từ phi trường Tân Sơn Nhứt đến Phú Bài (i.e. thuộc tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế), ngoại trừ một niềm tin cá nhân linh cảm rất khó chịu mà qua đó một chuyện gì đó khủng khiếp sắp sửa xảy ra, thì không có biến cố nào. Anh Gerry cảm thấy rất ngạc nhiên khi anh ta bước xuống để xem những thay đổi ở những nơi mà chỉ một hoặc hai năm trước đó bị tranh giành một cách sôi nổi với Quân Bắc Việt.
Bãi đáp ở Phú Bài, có lần là một tổ ong sinh hoạt và được xem là trong số những phi trường bận rộn nhất trên thế giới, hiện nay có những cây cỏ dại cao đang nẩy mầm xen giữa đường băng trải thảm ván thép vốn đã được đặt ở đó bởi những công binh Ong Biển (Seabee) Hải quân Hoa Kỳ. Nơi mà có lần hàng trăm chiếc trực thăng và máy bay thả bom–chiến đấu trong tình trạng di động không ngừng, chiếc máy bay C-130 lẻ loi thuộc Lực lượng Không quân Hoa Kỳ vốn thả anh Gerry và những người bạn TQLC mới của anh ta xuống, dường như không thích hợp với nơi nầy một cách lạ lùng.

(Phi trường Quân sự Phú Bài với những chiếc trực thăng
sâu rợm H-46 trên đường băng trải nhựa một phần)

(Thảm ván thép cho đường bay do đội công binh Ong Biển
Hải quân Hoa Kỳ chịu trách nhiệm Quân khu I xây dựng)

(Đội công binh Ong Biển Hải quân Hoa Kỳ đang xây lại cây cầu
bị Việt Cộng phá hoại, chỉ là một phần của những trách nhiệm to
lớn khác trong mọi xây dựng cho quân sự lẫn dân sự khi cần đến)

Điều đó không chỉ ở Phú Bài. Khi anh ta theo trực thăng về hướng bắc theo Quốc lộ 1, nó giống nhau ở khắp mọi nơi. Và trong khi anh Gerry có thể nhớ lại hàng chục người mà anh ta đã từng biết vốn là những người đã chiến đấu, chảy máu, và nằm xuống trong những khu vực mà bây giờ dường như yên bình một cách kỳ quặc,

p246

anh ta cũng hài lòng nhìn thấy những bằng chứng rõ ràng về sự thương mại và tiến triển ở nơi mà trước đó chỉ là sự xung đột. Dửng dưng như những người dân địa phương dường như đối với anh ta, anh ta vẫn cảm thấy sung sướng khi nhìn thấy như là có sự trở lại trạng thái bình thường nào đó, tuy nhiên được xác minh. Có lẽ, chỉ là có lẽ, cuộc chiến tranh thực sự sắp kết thúc.

C- 1972: năm Bầu cử:

Vào cuối tháng Ba năm 1972, vấn đề Việt Nam hiếm khi ở trên các trang nhất của tờ báo Mỹ thêm nữa. Với tiến trình Việt Nam hoá chiến tranh diễn ra rất nhanh, càng ngày càng ít người Mỹ hơn lâm vào điều nguy hại. Vào ngày 27 tháng Ba, Báo chí Liên hợp Quốc tế (United Press International = UPI) báo cáo rằng, lần đầu tiên trong hơn sáu năm, không bao gồm những thủy thủ trên những chiếc tàu ngoài bờ biển hoặc các đơn vị thuộc lực lượng Không quân ở Thái Lan, có ít hơn 100.000 quân nhân Mỹ ở Việt Nam. Gắn bó với một kế hoạch mà qua đó đang thường xuyên rút đi 1.100 người mỗi ngày, Hoa Kỳ sẽ đạt được tiêu điểm 69.000 binh lính đang còn lại đến ngày 1 tháng Năm.
Tận dụng những lời hứa rút quân khỏi Việt Nam của mình, Richard Nixon đang tìm kiếm đặc biệt là chức vụ Tổng thống trước tháng Ba năm 1972. Việc gắn kết với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (i.e. Trung cộng) là một cuộc đảo chánh có tầm vóc lớn về chính trị mà qua đó bắt đầu đặt khu vực Đông Nam Á trong một góc độ thích hợp hơn cho những lợi ích toàn cầu của Mỹ. Cũng vì vậy sự hợp tác công khai ngày càng tăng với những người Sô-Viết liên quan đến cuộc thám hiểm liên kết, hòa bình ngoài không gian. Chính là chiến lược “vừa đàm, vừa đánh… vừa đàm, vừa đánh” trên quy mô ở mức tối đa.
Trở lại Sài Gòn, các nhà phân tích tình báo Mỹ và những đối tác Việt Nam của họ đã bối rối trong nhiều tháng qua việc thu hồi nhiều sư đoàn chính yếu của Quân Bắc Việt về quê nhà khỏi chiến trường. Có cuộc tranh luận lành mạnh như là về những ý định của đối phương. Kể từ thời gian ngược trở lại xa như năm 1970, Bắc Việt đã và đang nhận được những số lượng vật liệu chiến đấu cuộc chiến ngày càng gia tăng từ những người Tàu và lẫn Sô-Viết. Nhiều người tin rằng sự yên tĩnh tương đối mà họ hiện thời đang trải nghiệm, không báo trước sự hòa bình, nhưng là Hà Nội đang dành dụm những nguồn tài lực cho một cuộc tổng tiến công khác. Niềm tin, thậm chí công bố đến các thành viên của báo chí, đó là Quân Bắc Việt sẽ tấn công đầu tiên và nặng nề nhất từ phía tây bên ngoài nước Lào và Cam-pu-chia tại những vùng Cao Nguyên và tỉnh Kontum với thị trấn chính yếu Pleiku, nhằm mục đích tách đất nước ra một nửa cũng như phá hủy lòng tự tin đang tăng trưởng của những thường dân Việt Nam, đang biểu lộ trong chính phủ của họ cùng với toàn bộ chương trình Việt Nam hóa chiến tranh của ông Nixon.

p247

D- Những suy tưởng Ngắn ngủi:

Trong gần 23 năm nay, Gerry Turley đã từng là một quân nhân TQLC.(pc 03) Giống như bất kỳ “Cổ Áo Da” (i.e. tiếng lóng cho TQLC) dầy dạn nào, anh ta biết rằng Quân đoàn vượt xa hơn sự hoàn hảo. Và tuy rằng, nó chưa bao giờ thất bại làm anh ta ngạc nhiên –sau cuộc chiến đấu và những chuyến quân vụ không có ai đi theo cùng và tất cả những công tác bất thường vốn là chuyện thường xuyên đối với những binh lính TQLC, nhưng dị thường đối với hầu hết những người dân bình thường– để khẳng định với anh ta và nuôi dưỡng lòng trung thành của mình trong sự tốt lành của tổ chức khi anh ta dừng lại để suy nghĩ về nơi tập trung của những người đàn ông thực sự tốt vốn là những người dường như luôn luôn tập hợp với nhau, theo cách tự nguyện, dưới những điều kiện kinh khủng nhất. Hơn là ngang bằng với những linh cảm bí mật trước đó của anh ta là lời nhắc nhở rằng những vị cố vấn nầy vốn là những người được rãi ra một cách dè xẻn vào giữa các đơn vị đang hoạt động của Quân đoàn TQLC Việt Nam là những người tốt, những người cực kỳ giỏi nhất mà Mỹ có. Ở mỗi cấp bậc, họ là sự tuyệt vời đồng bộ thậm chí mặc dù họ là những cá thể độc đáo và đặc biệt riêng. Ý tưởng về những người nầy cho Gerry Turley sự thoải mái và lòng tự tin, cho anh ta niềm vui thực sự. Nếu những lúc tồi tệ sắp sửa đặt lên họ, đây là nhóm theo hướng đi vào trong trung tâm cơn bão.

E- Trong suốt Thời gian:

Thiếu tá Jim Joy thuộc Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ, là vị cố vấn cao cấp cho Lữ đoàn 147 của lực lượng TQLC, được đề cử như là hướng dẫn viên tham quan chính thức của Gerry Turley và là người đứng ra lo cho một phần đầu tiên của cuộc viếng thăm Quân khu I bốn ngày của anh ta. Từ phi trường Phú Bài, họ bay về hướng bắc và hướng tây bằng chiếc trực thăng Huey đến Căn cứ Hỗ trợ Hỏa lực Mai Lộc vốn phục vụ như là trụ sở chính của Lữ đoàn 147. Anh Gerry sẽ quan sát những hoạt động ở đó và ở lại qua đêm với Thiếu tá Joy. Kế hoạch là trải qua đêm thứ hai của anh ta, với nhiều cuộc thăm viếng khác ở giữa, tại Căn cứ Hỗ trợ Hỏa lực Sarge như là vị khách của Thiếu tá Walt Boomer. Thiếu tá Boomer là vị cố vấn cao cấp cho Tiểu đoàn 4 TQLC và, giống như hầu hết các vị cố vấn cấp cao cho tiểu đoàn, được sắp xếp với Nhóm Chỉ huy Alpha của họ.

p248

Trong suốt bốn ngày ngắn ngủi lên phía bắc, Trung Tá Turley hy vọng rằng anh ta sẽ có thể gặp riêng với nhiều người trong số các vị cố vấn TQLC Mỹ như có thể. Với Lữ đoàn 369 ở lại Sài Gòn tham gia vào sự luân phiên bình thường của việc nghĩ ngơi, tu bổ, và tái huấn luyện, anh Gerry sẽ thăm viếng hầu hết những tiểu đoàn cấu thành Lữ đoàn 147 và 258, là hai lữ đoàn TQLC hiện thời đang đóng quân và sẵn sàng cho cuộc giao chiến ở phía bắc Quân khu I.
Mà qua đó tồn tại một băng ghế dài của tài năng cố vấn không thể nào phóng đại được. Bắt đầu với những vị cố vấn cao cấp cho lữ đoàn –Jim Joy ở Lữ đoàn 147, Jon Easley ở Lữ đoàn 258, và Bob Sheridan ở Lữ đoàn 369– những người xuất sắc tiếp tục đếm xuống vào trong mỗi tiểu đoàn trong số đó. Bắt đầu với Tiểu đoàn 4 và vị cố vấn thâm niên Walt Boomer, là vị chỉ huy đội súng trường trước đây qua chuyến quân vụ Việt Nam trước đó của anh ta trong suốt thời gian mà anh ta được tưởng thưởng huân chương Ngôi sao Bạc; một người Mỹ chưa thâm niên ở Tiểu đoàn 4 là Đại úy Ray Smith. Trên chuyến quân vụ Việt Nam của mình trước đó, anh Smith đã hai lần được đề nghị cho huân chương Chữ thập Hải quân và thay vào đó là hai lần được tưởng thưởng hai Ngôi Sao bạc. Ngoài danh tiếng của anh ta như là một chiến binh, Đại úy Smith cũng được nhìn nhận như là người thông thạo tiếng Việt giỏi nhất trong số toàn thể các vị cố vấn hiện thời. Vào lúc chuyến thăm viếng Căn cứ Hỏa lực Mai Lộc của anh Gerry, Đại úy Smith đang ở với Nhóm Chỉ huy Bravo của Tiểu đoàn 4 lệnh trên núi Bá Hổ.

(Vị trí núi Bá Hổ gần Quốc lộ 9 đến Đông Hà)

(Căn cứ Hỏa lực Mai Lộc nằm về hướng nam gần Doanh
trại Carroll –cứ điểm 241 theo cách gọi của Quân Bắc
Việt, nơi mà bị chiếm sau nầy vào năm 1972 )

(Núi Bá Hổ và Quốc lộ 9 vào năm 2008)

Trong Tiểu đoàn 6, Thiếu tá Bill Warren và Đại úy Bill Wischmeyer là một đội đặc biệt mạnh mẽ, đang hoạt động dưới tất cả các điều kiện tồi tệ giống nhau mà mỗi vị cố vấn khác làm. Cặp đôi năng động Warren–Wischmeyer phải đối mặt với sự thách thức thêm vào của việc phục vụ dưới vị chỉ huy tiểu đoàn người Việt mà tính cách công khai không ưa thích đối với những người Mỹ của ông ta không cần giấu diếm. Cặp đôi có bản chất tốt chân thực Warren và Wischmeyer đã cố gắng về mặt kiên nhẫn và các kỹ năng cải thiện nhanh chóng về mặt chính trị của họ hàng ngày ngoài việc thực hiện tất cả các nhiệm vụ chiến đấu thường xuyên của họ.
Tại Căn cứ Hỏa lực Barbara, John Ripley thì đơn độc như là vị cố vấn cao cấp hơn trong Tiểu đoàn 3 với người bạn và người hợp tác của mình là Lê Bá Bình.

p249

Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và việc rút xuống theo kế hoạch của những lực lượng Mỹ cũng đang gây tác động đến các vị cố vấn. Đến đầu năm 1972, khi họ đang kết thúc những chuyến quân vụ của mình trong chiến trường, những vị cố vấn luân phiên trở về quê nhà không chỉ đơn giản là được thay thế.*
Và điều đó cũng xảy ra với các tiểu đoàn bộ binh TQLC khác, có vị trí đóng quân thích hợp để bảo vệ các khu vực sát bên Khi phi Quân sự và khu vực biên giới với Lào về hướng tây bắc của VNCH. Vừa khi đến với Jim Joy tại trụ sở Lữ đoàn 147, anh Gerry được chính thức báo cáo qua nhân viên của anh Joy. Anh ta cũng lắng nghe những báo cáo trên đài vô tuyến đến từ những vị cố vấn ngoài kia với các tiểu đoàn khác nhau. Ngay cả mặc dù Căn cứ Hỏa lực Mai Lộc đã không nhận được một đợt pháo nào đang đến trong hơn hai năm, hoạt động gần đây được báo cáo lúc bấy giờ bởi những người đang ở gần vùng đất đang bị tranh chấp nhiều hơn đang cho thấy một cái gì đó to lớn sắp xảy ra.
Ngoại trừ là sự thường lệ, hầu hết đợt pháo thông thường ra ngoài từ các khẩu đại bác trên cao của QĐVNCH(pc 04) ở Doanh trại Carroll, đêm 29 tháng Ba trôi qua một cách yên ổn. Mà qua đó Joy Jim tin rằng việc đó đủ an toàn và không cần suy nghĩ gì trước khi ra ngoài bằng xe gắn máy, hơn là bằng trực thăng, đi suốt dọc theo Quốc lộ 9 đến cuộc hợp sáng thứ Năm của họ tại thị trấn Ái Tử và thành phố Quảng Trị với ban tham mưu cấp cao của Sư đoàn 3 thuộc QĐVNCH, làm cho mạnh dạn hơn. Thiếu tá Joy đã sắp xếp cho anh Gerry đến thăm viếng với vị Đại tá thâm niên của quân đội Mỹ vốn là người trực tiếp cố vấn cho vị Tướng tư lệnh Sư đoàn 3 của QĐVNCH. Đây không chỉ là một chuyến đi thăm hữu nghị. Sư đoàn 3 cũng có quyền kiểm soát hoạt động trên hai lữ đoàn TQLC(pc 03) hiện đang được khai triển cho Quân khu I. Nhóm của anh Gerry và những người lính Mỹ ở ban tham mưu của Đội Cố vấn 155 sẽ so sánh những ghi chú, có một bữa ăn trưa nhanh chóng với nhau, và sau đó anh ta sẽ được bay ra đến Căn cứ Hỏa lực Sarge cho lịch trình ước hẹn của mình với Walt Boomer.
Khi anh ngồi ở phía trước, chỗ ngồi bên phải của chiếc xe Jeep M151, Trung Tá Turley đột nhiên nhận thấy rằng cảnh vật hoàn toàn yên tĩnh. Từ những khẩu pháo của QĐVNCH tại Doanh trại Carroll, có không có những đợt pháo nào ra ngoài và, cảm tạ, từ phía đối phương cũng không có gì. Không có gì xảy ra. Trong suốt thời gian mà anh ta đã trải qua ở Quân khu I, vào năm 1966 và 1967 và bây giờ là năm 1972, Gerry Turley không bao giờ có thể nhớ lại sự tĩnh lặng như vậy. Một sự yên tĩnh có đặc tính không thật nào đó mà anh ta không thể hoàn toàn xác định. Và chỉ giống như trước đây, cuộc trò chuyện gián đoạn với Jim Joy làm anh ta sửng sốt từ những suy nghĩ đó.
=============
* John Ripley là vị cố vấn cao cấp của Sói Biển. Đại úy Jim Johnson, vốn là người đã ra khỏi đất nước, là một cố vấn chưa thâm niên.
=============

p250

Đoàn tùy tùng của anh Turley đến vị trí của Đội 155 vào khoảng 0930 giờ. Với một ít giờ để đi loanh quanh trước khi chuyến khởi hành theo lịch trình của mình đến Căn cứ Hỏa lực Sarge, anh Gerry được giới thiệu đến những người Mỹ trọng yếu ở Đội 155 và được thông báo về việc dời chỗ của ba trung đoàn thuộc Sư đoàn 3. Trong khi cuộc họp đang tiến hành, âm thanh ầm ầm của súng pháo kẻ thù đang gây tác động từ xa ngay lập tức trở thành một điềm chỉ rõ về tình hình đang thay đổi. Trong vài giây, lưu lượng vô tuyến đang đến cũng nhận được. Như những chiến binh dầy dạn, tất cả họ giải quyết sự việc một cách bình tĩnh, tiếp tục lắng nghe về sự hoạt động. Một cái gì đó chắc chắn đang bùng nổ. Bao nhiêu thời gian nữa chưa được xác định.
Rời bỏ đến phòng ăn cho một bữa ăn nhanh chóng trước khi anh ta được ước hẹn để lấy chặn đường bay ngắn bằng trực thăng ra đến Căn cứ Hỏa lực Sarge, Trung tá Gerry Turley thuộc Quân đoàn TQLC Trừ bị Hoa Kỳ đã hoàn tất hướng đi chính của mình khi những âm thanh gần gũi hơn của những đợt pháo đang đến, trực tiếp gây tác động trên khu vực trụ sở chính của Sư đoàn 3, làm mất sự yên tĩnh địa phương. Những tên khốn kiếp Cộng sản đó đã định giờ cho nó đúng ngay lúc cho anh Gerry phải bỏ lỡ món tráng miệng. Khi tất cả họ theo hướng đến những hầm trú, và mặc dù họ chưa biết chuyện gì, cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh đang tiếp tục diễn ra.

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ “… không cấp thêm viện trợ nào cho phía VNCH” : theo như sự đòi hỏi của phía Bắc Việt trong cuộc đàm phán hòa bình ở Paris từ tháng Năm năm 1968 đến tháng Giêng năm 1973. Đó là yếu tố quan trọng nhất mà họ luôn luôn đòi hỏi là phải có. Trong khi đó, Hà Nội luôn nhận được những viện trợ khổng lồ, bí mật từ Trung Cộng và Liên Xô về nhân lực cũng như vũ khí tối tân nhất. Theo lời kể lại một phần sau đây của một cựu huấn luyện viên quân sự Liên Xô, Nikolai Kolesnik, từng có mặt tại Hà Nội từ năm 1965 trở về sau, cũng là vị chủ tịch của tổ chức công cộng quốc tế đại diện cho những cựu quân nhân Nga của Chiến tranh Việt Nam, chủ yếu là những binh lính phi đạn của những Lực lượng Phòng vệ Không trung, vốn được đăng trên trang mạng Tiếng nói Nga Xô Phục vụ Thế giới (Voice of Russia World Service) nhân ngày kỷ niệm thứ 60 của việc thiết lập những mối liên hệ ngoại giao giữa Liên bang Sô-Viết và Bắc Việt :
“Việc viện trợ quân sự của Sô-Viết [cho Việt Nam] thật là rộng rãi và toàn diện. Về mặt tiền tệ, nó lên tới khoảng 2 triệu đô-la một ngày cho sự chịu đựng cuộc chiến tranh. Chúng tôi đưa đến nhiều vật liệu quân sự cho Việt Nam. Để trích dẫn chỉ là một số ít con số, chúng tôi đã gởi 2.000 xe tăng, 7.000 khẩu súng và súng cối, và hơn 5.000 khẩu súng chống máy bay và những lắp đặt phòng bệ, 158 hệ thống phi đạn đất-đối-không, nhiều hơn 700 máy bay chiến đấu, trực thăng 120, và nhiều hơn 100 chiếc tàu hải quân. Tất cả trong số các nguồn cung cấp nầy được cho miễn phí. Chúng tôi huấn luyện người Việt Nam để cho họ có thể sử dụng thiết bị nầy đến mức tối ưu khả năng của nó. Để làm điều này, các chuyên gia quân sự Sô-Viết đi đến Việt Nam. Từ tháng Bảy năm 1965 đến hết năm 1974, một số vào khoảng 6.500 cán bộ sĩ quan, cũng như hơn 4.500 binh sĩ và hạ sĩ quan của những Lực lượng Quân đội Sô-Viết đã chiến đấu trong cuộc Chiến tranh Việt Nam. Thêm vào đó, hơn 10.000 cán binh Việt Nam đi đến những trường học quân sự và học viện của Liên bang Sô-Viết cho việc huấn luyện chuyên ngành.”
“… Sự hiện diện của chúng tôi ở Việt Nam không được công bố công khai. Chỉ cần nói rằng, trong suốt toàn bộ chuyến quân vụ của chúng tôi, chúng tôi mặc những y phục thường dân, không có bất kỳ vũ khí cá nhân nào, và thậm chí không có giấy tờ. Chúng được giữ trong Tòa đại sứ của chúng tôi.”

Đó là chưa nói đến những đóng góp khác của phe Trung cộng cho đến ngày 30/04/1975 cả về binh lính, cố vấn, và vũ khí, cũng như những tiếp liệu về lương thực, thuốc men, đạn dược mà qua đó, trong vòng 3 năm cuối tính đến năm 1975, Trung cộng đã gia tăng số lượng cung cấp lên hơn gấp hai lần trước đó, vượt qua cả số lượng viện trợ của Liên Xô. Tuy nhiên, đối với những điều đó, Hà Nội không bao giờ tự nhận mình là tay sai cho Cộng sản Quốc tế.
Và lực lượng Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng chỉ là cánh tay nối dài của Cộng sản Hà Nội hầu mở một trận công khai, hợp pháp chống lại những lực lượng đồng minh Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam.

pc 02_ VNCH : Việt Nam Cộng hòa.
pc 03_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 04_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.

One thought on “Phần 18: “Vừa đàm, Vừa đánh… Vừa đàm, Vừa đánh”

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s