Phần 17: King Kong Sống Mãi!

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại) ===========================================

p225

Phần 17: King Kong Sống Mãi!

Quá trình vốn mang vị Đại úy trẻ George Philip bắt kịp và vào trong thế giới tương đối nhỏ của nhóm cố vấn của Thủy quân Lục chiến (TQLC) Mỹ mất khoảng năm ngày ở Sài Gòn. Nhịp độ của các hoạt động ở đó nơi phía sau, trong “Hòn ngọc phương Đông” được ca tụng trong suốt thời gian cuối mùa hè năm 1971, thì khác xa hơn so với điều mà anh ta đã từng nhớ lại từ chuyến đến cuồng nhiệt trước đó của mình vào năm 1968 tại Đà Nẵng.
Trong một ít ngày nhàn nhã đó, anh George gặp gỡ tất cả các vị cố vấn vốn là những người tình cờ cũng ở Sài Gòn, được nghe tổng kết về những hoạt động của TQLC, dẹp qua chuyện giấy tờ và những việc cá nhân của mình, và lắng nghe những trao đổi thường xuyên mỗi ngày trên đài vô tuyến giữa các trụ sở ở đó tại Bộ Tư Lệnh và các đơn vị trong chiến trường cách xa gần khoảng 482 km. Trong một ít buổi chiều tối thảnh thơi tại câu lạc bộ Hòa Bình, anh George tiếp tục uống bia và lấy làm ngạc nhiên ở cái nhóm mà anh ta đã từng nhập vào với họ. Điều đó cũng được làm sáng tỏ đối với anh ta bởi những quan hệ thân mật riêng biệt mà anh ta có với những thường dân và những quan sát mà anh ta thực hiện mà qua đó những người Việt bình thường bày tỏ sự khác biệt to lớn dành cho những sĩ quan Mỹ được vận phục trong những bộ đồng phục rằn ri như cọp của TQLC.
Một khi anh ta được đặt vào vị trí một cách thích hợp, anh George được đưa đến một túi thư từ cho việc phân phát đến các vị cố vấn ở trên phía bắc, nắm lấy cần sang số của mình và phóng ngược ra ngoài đến phi trường Tân Sơn Nhứt. Đến lúc bấy giờ, anh ta quen thuộc với sự giao thông ở Sài Gòn. Chuyến xe jeep ra ngoài thì rất ít gây thương tích nghiêm trọng hơn so với chuyến vào chỉ những ngày trước đó.
Quá giang một chuyến bay ngắn trên một chiếc máy bay vận chuyển hàng hóa C-123 vốn được nhét đầy với những binh lính TQLC Việt Nam, một ít người phụ thuộc phái nữ đi thăm những người đàn ông của họ, cùng với một mớ hỗn tạp của những con gà, vịt và heo, anh ta lại một lần nữa xuống máy bay để bước vào vùng chiến tranh thù nghịch xa đằng kia ở Quân khu I, lần nầy là phong cách của người cố vấn.

p226

Đến mùa hè năm 1971, việc phòng ngự phần cực bắc của Quân khu I đã được giao cho Sư đoàn 3 của Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) và ba lữ đoàn TQLCVN(pc 01) luân phiên. Điều nầy bao gồm những phần tiếp giáp với cả Khu phi Quân sự và lẫn những khu vực biên giới phía đông của Lào mà trong đó bao gồm Khe Sanh, một khu vực trước đây được bảo vệ bởi những người Mỹ thuộc Sư đoàn 3 TQLC (khu vực chịu trách nhiệm về chiến thuật của Sư đoàn 1 TQLCVN nằm ở phía nam của Sư đoàn 3 TQLCVN).
Sư đoàn 3, là một sư đoàn được tạo ra trong khoảng thời gian sau biến cố tai hại của Chiến dịch Lam Sơn 719, được cấu thành gồm những chiến binh vốn là những người phần lớn từ các tỉnh phía bắc xung quanh. Sư đoàn 3 của QĐVNCH cũng được hiểu là một nơi chứa thuộc cơ quan dành cho những người bất mãn và những người đào ngũ.1 Như là một đơn vị chính xa xôi nhất từ Sài Gòn, sự tồn tại có khuynh hướng rửa tội được nghĩ là cách cứu chữa hoàn hảo dành cho những người lính ngoại biên vốn là những người sẽ có một thời gian khó khăn đào ngũ khỏi nơi đó với sự chuyển hướng lên phía bắc là một chọn lựa thay thế duy nhất cho việc vinh dự phục vụ.
Những lữ đoàn TQLCVN (mỗi một lữ đoàn bao gồm ba tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh, các đơn vị hỗ trợ khác nhau, và một ban tham mưu lữ đoàn vốn nhỏ bé theo những tiêu chuẩn của Mỹ) làm quân bình tài năng thông thạo vùng ngoại biên của các đơn vị địa phương của QĐVNCH và trở thành những trụ cột phòng thủ cho chính phủ và những thường dân nương nhờ vào sự hỗ trợ để giữ những người Cộng sản tại vịnh và ở phía Khu phi Quân sự của họ. Những lữ đoàn TQLC Việt Nam thường sẽ trải qua ba tháng trên phía bắc trước khi thay phiên trở lại qua Sài Gòn và Thủ Đức trong một tháng bảo trì, tu bổ, và nghĩ phép. Chủ đích là có 2 trong số 3 lữ đoàn, hoặc ít nhất 2 trong số 3 tiểu đoàn của những lữ đoàn, luôn luôn có mặt ở tiền phương.
Tiểu đoàn 1 pháo binh của TQLC Việt Nam hiện thời là thành phần hỗ trợ hỏa lực cho Lữ đoàn 369 của họ. Nó cũng là đơn vị mà Đại úy George Philip đã được phân công như là một vị cố vấn. Với việc không nhiều hoạt động mạnh sau đó diễn ra, điều đó được quyết định tập cho anh ta quen thuộc với những nhiệm vụ bình thường bằng cách gởi anh ta vào trong Căn cứ Pháo binh B nơi mà anh ta có thể quan sát và cũng như giải quyết việc lên kế hoạch cho sự phối hợp hỗ trợ hỏa lực nếu những sự việc đột nhiên trở nên nóng bỏng.

(Đội pháo binh của TQLCVN)

Căn cứ Pháo binh B đang chiếm căn cứ hỏa lực ở cực bắc trong số tất cả những vùng của miền Nam Việt Nam. Nhiều cây số về phía bắc Đông Hà, một thị trấn cuối cùng trên Quốc lộ 1 như là một vùng gần như là Khu phi Quân sự; Giao Linh là nơi tuyệt đối chấm dứt của tuyến đường, một nơi xa nhất mà một vùng có thể từ Sài Gòn và không nằm trong lãnh thổ của đối phương.

p227

Cũng được biết đến bởi sự quy định về quân sự của nó là A-2, hoặc Alpha 2, trên bản đồ, nó là một phần nhỏ của vài cm nằm bên trong phía thân thiện của vùng biên giới, chỉ chưa giáp đến Khu phi Quân sự. Từ lúc chiếc xe jeep của anh ta quay đầu về phía bắc ra khỏi Đông Hà đi đến A-2 (i.e. vùng Giao Linh), điều hiển nhiên đối với anh George là, thậm chí không có tiếng súng nào đang trao đổi, anh ta chắc chắn đang trở lại trong Vùng đất Dân da đỏ. Sài Gòn và cách sống tương đối đô thị của nó dường như cách xa một triệu km.
Từ những vị trí của họ trong những hầm trú xưa cũ kiên cố –với một cái có từ thời Pháp– và những đồn trú quan sát, nằm trên mặt đất cao ngay phía đông của Quốc lộ 1, những binh lính TQLC Việt Nam và các vị cố vấn Mỹ của họ có thể nhìn thẳng qua dòng sông Bến Hải, một ranh giới chính thức giữa hai nước Việt Nam, và nhìn thấy lá cờ của Quân Bắc Việt đang bay có vẻ như thách thức trong độ ẩm ướt làm mất đi hiệu lực. Khi họ không bắn vào nhau, và sau khi Chiến dịch Lam Sơn 719, mức độ hoạt động đã tuột xuống một cách thẳng dốc, đôi khi ở đó dường như là một sự thỏa thuận ngưng bắn trong tình trạnh hiệu lực không thoải mái, không chính thức, và ngượng ngịu khó xử.
Một đội Pháo thuật Hải quân năm người, riêng biệt được sắp xếp vào cùng vị trí với Căn cứ Pháo binh B. Được trang bị với một dụng cụ nhìn đêm theo kỹ-thuật-tiên-tiến-nhất và máy tìm khoảng cách bằng tia hồng ngoại vốn có cân nặng vào khoảng 22.7 kg và là một giá trị chưa được xác nhận, sự hiện diện của đội đưa đến một loại dụng cụ nguy hiểm gây chết người được thêm vào khi Căn cứ Alpha 2 và khu vực xung quanh nằm trong phạm vi của tầm súng từ những tàu chiến của Mỹ đang rình mò bờ biển phía bắc ngay bên ngoài bờ. Đối với anh George, đó cũng là điều hay để có những người Mỹ khác trò chuyện với.

(Dụng cụ tìm khoảng cách bằng tia hồng ngoại kiểu xưa do
Anh Quốc chế tạo được dùng trong quân sự, và những kiểu
xưa hơn đã có mặt ở Việt Nam vào năm 1971 và khoảng 20
năm sau kỷ thuật nầy được tung ra cho thị trường dân sự)

(Máy tìm khoảng cách của công ty Jenoptik của Anh Quốc
vào năm 2011 nhỏ bằng thẻ giao dịch (business card)
với khoảng xa hơn 1.550 m và cân nặng kém hơn 40 gm)

Đến đầu tháng Chín, anh George đã thành lập một công việc thường ngày đủ các loại; anh ta đã học được và bây giờ hiểu chức năng của mình như là một vị cố vấn, và những công việc hoạt động như thế nào. Anh ta trở thành là một chiến binh thâm niên… một lần nữa. Như được trù định, khá nhiều trên lịch trình và như được kỳ vọng, anh ta đã kết chặt mối tương quan với những người Việt đồng thời của mình, rất thích thú làm việc với dân cao bồi Việt Nam của mình, và đang thực hiện sự đóng góp thiết thực về nỗ lực yễm trợ hỏa lực cho lực lượng đồng minh của mình. Việc đó dường như vẫn là một điều kỳ lạ là họ có thể ở khoảng gần nầy đối với Khu phi Quân sự, trong phạm vi khoảng cách và trong tầm nhìn những vị trí của đối phương, và không ở trong cuộc giao chiến thường xuyên. Bất cứ khi nào anh George có ý kiến hoặc những ý tưởng bất thường khác, anh ta sẽ chỉ đơn giản nhắc nhở chính mình rằng anh ta đang ở Việt Nam.
Kinh nghiệm và những kỳ vọng của Mỹ ở Việt Nam bị hạn chế bởi kinh nghiệm của Mỹ trong mọi thứ khác.

p228

Được tạo nên sự an toàn khỏi cuộc xâm lược thực tiển bởi hai chiến hạm yễm trợ như những miếng đệm trên đại dương, đến mùa hè năm 1971, không có ai đang sống trong pháo đài Mỹ vốn là những người có thể nhớ lại những kinh hoàng của cuộc Nội Chiến của riêng họ. Kể từ đó, tất cả chiến binh của quốc gia đã ra đi để chiến đấu cho nền dân chủ trên lãnh thổ nước ngoài. Những người vốn vẫn còn ở quê nhà, đặc biệt là trong suốt Thế Chiến thứ II, đã được truyền bá tư tưởng một cách kỹ lưỡng về nhu cầu để tạo nên một thế giới an toàn cho nền dân chủ. Như là những thường dân, họ làm việc thêm giờ, có tiền lương tốt, như là một phần của Kho vũ khí lớn của nền Dân chủ,(pc 02) là việc an toàn sản xuất ra tất cả các máy bay thả bom và xe tăng và tàu chiến vốn sẽ áp đảo phe Trục.

(Tổng thống thứ 32 của Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt,
với câu nói nổi tiếng: “Kho vũ khí của nền Dân chủ” vào
năm 1940 trước khi Mỹ tham gia vào Thế Chiến thứ II)

Tất cả luôn luôn là về nền dân chủ. Một bức tranh nổi tiếng và phát hành rộng rãi của nhà họa sĩ Norman Rockwell là “Bốn Quyền tự Do,” một nét bút thiên tài về tuyên truyền, (được gây cảm hứng từ một bài phát biểu vào năm 1941 được đưa ra bởi Tổng thống Franklin Delano Roosevelt và được ấn hành lần đầu tiên trên tờ báo “Saturday Evening Post” (“Báo Chiều thứ Bảy”) vào năm 1943) đã nắm bắt được lương tâm quốc gia, cảm thức về công lý và những tấm lòng hào hiệp, yêu nước của những người dân Mỹ theo cách không ai khác có thể hoặc đã từng làm kể từ lúc bấy giờ. Thậm chí trong những ngày đen tối nhất ngay sau ngày 7 tháng Mười Hai năm 1941 –trước khi cuộc Không kích Doolittle,(pc 03) trước khi trận chiến tại hải đảo Midway và cuộc xâm nhập vào vùng phía bắc của Châu phi –ngoại trừ một ít người Mỹ, có lẽ là những người ở đảo Hawaii trong một thời gian ngắn, tin tưởng rằng một cuộc chiến tranh trên bộ hoặc một cuộc xâm lược của đối phương sẽ xảy ra trong tương lai của họ. Hiếm khi đã từng có, đối với những người dân ở quê nhà, một nỗi sợ hãi tập thể cho sự an ninh thực thể trực tiếp của họ.

(Chân dung nhà họa sĩ nổi tiếng người Mỹ, Norman Rockwell
(1894-1978), vào năm 1945. Chuyên vẽ những bức tranh cổ động)

(Loạt 4 bức tranh của nhà họa sĩ Norman Rockwell vào năm 1943
được cảm ứng từ bài diễn văn “Bốn quyền Tự do” của Tổng thống
Franklin.D.R.: (từ trái qua phải) quyền tự do phát biểu, quyền tự
do tín ngưỡng, quyền tự do cần muốn, và quyền tự do sợ hải)

Những người Mỹ ở quê nhà, vốn là tất cả những người trong suốt cuộc Chiến tranh Lạnh sống dưới sự đe dọa của chiến lược quân sự Bảo đảm Tiêu diệt Lẫn nhau(pc 04) (Mutual Assured Destruction = MAD) từ những người Sô-Viết, không muốn sống với một viễn ảnh nghiêm trọng của Bọn người Đỏ hiện ra trước ngưỡng cửa của họ ở thành phố Detroit hoặc Denver hay Duluth. Những người cha, người mẹ và những đứa con trai và con gái đang sống ở đất nước Việt Nam Cộng hòa không có sự bảo đảm như thế.
Điều mà những người Mỹ tiếp tục thất bại nhận thức ra khi họ rao giảng phúc âm một cách chân chính về tính chất dân chủ và những thị trường tự do, điều mà những người Mỹ không có thể đánh giá một cách thực sự vì họ đã được đối xử một cách khoan dung như là một quốc gia, là nhu cầu của con người cho sự an ninh thực thể thay thế tất cả lời nói chuyện hào nhoáng về các quyền cá thể và những sự phóng thoáng cá nhân. Kẻ thù Cộng Sản thì không bị hạn chế như vậy. Họ, vốn là những người ở miền bắc Cộng sản, không trải nghiệm một cuộc xâm lược trong cuộc chiến hiện thời nầy và chỉ có sự tác động hạn chế từ cuộc dội bom theo chiến lược của Mỹ, hiểu rõ giá trị của sự khủng bố trong việc giữ lấy số dân cư chống đối bên ngoài sự kìm kẹp của Mỹ và những con múa rối được nhận ra của họ ở Sài Gòn.

p229

Tin tức rất tốt là vào mùa hè năm 1971, nỗ lực của Cộng sản hoặc khả năng gây khủng bố đã được giảm xuống một cách đáng kể. Sự tự tin vào chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) và những lực lượng quân sự đang cải thiện của nó không bị mất đi trên ban lãnh đạo được hòa hợp về mặt chính trị ở Hà Nội.

(Cha đẻ của chiến lược quân sự “Bảo đảm Tiêu diệt Lẫn nhau,”
John Von Neumann, một chiến lược gia người Mỹ gốc Hungary,
cũng là một nhà toán học và là “người của thời kỳ phục
hưng” vốn ám chỉ là một nhà thông thái)

(Chuyến bay lịch sử nhất của chiếc B-52 đang rời khỏi
hàng không mẫu hạm USS Honet vào ngày 18/04/1942)

(Phi hành đoàn đầu tiên đang đứng trên sàn tàu USS Hornet, trước
khi khởi hành. Từ trái qua phải to right: Trung tá Doolittle, phi
công; Lt. Richard E. Cole, phi công phụ; Trung úy Henry A. Potter,
người định hướng; Trung sĩ Tham mưu Fred A. Braemer, người
thả bom; Trung sĩ Tham mưu Paul J. Leonard, kỹ thuật viên/tay súng)

(Trung tá James “Jimmy” Doolittle đang cột huy chương
của Nhật vào quả bom để “trả về” cho người sở hữu của nó)

A- Công việc Thường ngày tại Căn cứ Alpha 2 (Giao Linh) :

Cuộc sống như là một sĩ quan Mỹ với Quân đoàn TQLC Việt Nam cần có một vài điều chỉnh cho thích hợp nào đó. Trong khi có những sự khác biệt và thử thách rõ ràng về văn hóa và ngôn ngữ, cũng có những lợi ích khác thường. Về hình thức như Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ là với sự cấu trúc về cấp bậc của nó, nơi mà Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ đã gieo mầm vào trong những tân binh từ lúc họ bước lên máy bay lần đầu tiên tại các nơi tuyển mộ ở đảo Parris và thành phố San Diego một sự tôn trọng rất lớn dành cho những người cao cấp đối với vị trí của một người, Quân đoàn TQLC thúc đẩy đồng đều trong việc làm cho thấm nhuần khái niệm về trách nhiệm dành cho những người vốn dưới quyền chỉ huy của một người nào đó. Việc bảo đảm các nhu cầu và phúc lợi của các quân nhân đã được đáp ứng, luôn luôn là một công việc thứ hai rất khắn khít đối với mục đích hoàn thành nhiệm vụ. Những sĩ quan TQLC(pc 01) được kỳ vọng là người đầu tiên trên chiến trường và là người cuối cùng rời khỏi. Họ sẽ theo cách dễ nhận thấy luôn luôn dẫn đầu từ phía trước. Khái niệm đó được mang vào trên mọi khía cạnh của vai trò lãnh đạo, bao gồm những thứ như việc đảm bảo các quân nhân được cho ăn và chăm sóc trước những người cao cấp của họ, v.v. Những sĩ quan có người trợ giúp họ đến một mức nào đó mà nó dẫn đến sự hoàn thành nhiệm vụ. Chính là thế. Sự trợ giúp đó không bao gồm sự quy phục cá nhân. Tình trạng quy phục cá nhân đơn giản chỉ là sự nguyền rủa đối với văn hóa quân sự của Mỹ.
Cách làm việc với TQLC thì hơi khác biệt. Nền văn hóa Á châu, được cảm hứng và chịu ảnh hưởng bởi những thứ bên ngoài của cái gì mà những người Mỹ quen thuộc, cùng với sự sùng bái người chỉ huy xảy ra ở mọi nơi gần như ở mỗi cấp, thì rất kém bình đẳng.
Tất cả những sĩ quan, ngay cả những sĩ quan chưa thâm niên, trong quân đội Việt Nam có những tùy viên của họ. Được giao cho nhiệm vụ trợ giúp một sĩ quan, là truyền tin viên của anh ta, người cận vệ của anh ta hoặc một phụ tá riêng của anh ta –được gọi là tay “cao bồi” bởi những người lính Mỹ– không được xem như là một công việc cho các phong cách khúm núm, dễ bảo, nịnh bợ như kiểu đánh bóng quả táo.

p230

Là bất kỳ phần nào của đoàn tùy tùng của ban lãnh đạo là trở thành một phần của ban lãnh đạo. Nó phải trở thành một phần của vòng tròn bên trong. Không cần biết nó là gì, chính là một nhiệm vụ quan trọng, đáng tôn quý.
George Philip không đánh giá một truyền tin viên trong công việc hiện tại của mình. Những điều đó, anh ta có thể giải quyết khá dễ dàng bởi chính mình. Anh ta, tuy nhiên, thực sự đánh giá về việc có tùy viên phục vụ. Hạ sĩ nhất Tường là một người hơi có tuổi đối với cấp bậc của mình (Ông ta có một đứa con trai vốn là một quân nhân trong QĐVNCH đang phục vụ ở một nơi nào khác ở Việt Nam.) nhưng hoàn thành những nhiệm vụ của mình như là tay “cao bồi” của Đại úy Philip theo cách thức nghiêm minh, chuyên nghiệp tiêu biểu của TQLC. Ông Tường không bao giờ đòi hỏi vị Đái úy của mình cho những ân huệ và luôn luôn tỏ ra biết ơn cho những thứ mà anh George thực sự thích mua cho ông ta những cây thuốc lá Mỹ. Họ hòa đồng với nhau rất tốt, mỗi người trông vào người kia với lòng tôn trọng và sự cảm kích chân thật.
Mỗi buổi sáng khi ông ta thức dậy, Đại úy Philip có thể chắc chắn rằng, chắc chắn như mặt trời sẽ lên, có một tô canh nóng và một chậu nước được hâm nóng khác cho việc cạo râu đang chờ anh ta. Nếu đôi giầy trận của anh ta đã được đánh giá là bị bẩn bên ngoài bởi ông Tường hóa lẫn đêm trước đó, chúng sẽ được tẩy sạch và sẵn sàng để mang ở dưới chân giường ngủ cá nhân của anh ta không cần biết khi nào anh thức dậy. Cho dù có hỏa lực pháo binh mãnh liệt đi bay ra ngoài đến các đơn vị mà họ yễm trợ hoặc những lúc yên bình tuyệt vời, ông Tường hoàn thành những nhiệm vụ của mình mà không thất bại.

B- Phá vỡ Công việc Thường ngày ở Căn cứ A-2… :

Mỗi con người vốn có thể kết chuỗi với nhau hai tư tưởng liên tiếp, quan trọng biết theo trực giác rằng chiến tranh là địa ngục và rằng chiến tranh là điều xa lạ. Một cách chắc chắn là bất cứ ai có thể đọc hoặc nghe, biết rằng cuộc chiến tranh ở Việt Nam là một cái gì đó bên ngoài phạm vi của cái gì đó của hầu hết người dân vốn có thể được gọi là bình thường. Một điều mà qua đó tạo nên cuộc chiến tranh thậm chí bất thường hơn gần như siêu thực vào mùa hè năm 1971 đối với những người Mỹ vẫn còn lôi cuốn, là vào thời điểm đó, với một số lượng người đang phục vụ giảm đi nhanh chóng trong khu vực Đông Nam Á, những người vốn vẫn còn đang phục vụ ở đó, sẽ làm bất kỳ việc gì thậm chí cực đoan hơn để trợ giúp lẫn nhau trong những hoàn cảnh rất kỳ quặc mà qua đó không bao giờ không buồn cười.

p231

Trẻ trung và to lớn như anh ta, chưa đến 27 tuổi mà Đại úy George Philip đã phát triển một trường hợp bệnh trĩ nhẹ. Trong khi chắc chắn là không phải việc đe dọa sinh mạng hoặc việc tác động một cách đáng kể đến khả năng của anh ta phối hợp tất cả sự yễm trợ hỏa lực mà anh ta đã từng phối hợp cho đến nay, chứng bệnh đó vẫn còn là một vấn đề. Cho dù chính là từ những căng thẳng của cuộc chiến đấu hoặc từ sự tiêu hóa tiếp tục một chế độ ăn uống kém lý tưởng hơn, George Philip có bệnh trĩ. Chứng bệnh đó là một nỗi đau, theo nghĩa đen và nghĩa bóng. Không gì xấu hổ, anh ta chụp ngay cái tù và (i.e. gọi điện thoại) và gọi ngược đến trụ sở lữ đoàn, hỏi xem bất kỳ người nào ở phía sau có bất cứ cái gì mà anh ta có thể lấy để dùng cho chứng bệnh đó. Anh ta có sự ngạc nhiên biết là bao khi chưa đến một giờ sau đó, một chiếc trực thăng Huey của Quân đội Hoa Kỳ từ một đơn vị Không Kỵ (i.e. Kỵ binh Không quân) gọi vào với lời yêu cầu xin phép hạ xuống trong khu bãi đáp của A-2 với một gói nhỏ cho Đại úy Philip. Chạy ra để gặp con chim sắt khi nó chạm chân xuống, nhưng không tắt động cơ; anh George cúi xuống để tránh những cánh quạt của trục máy đang quay và tiến gần đến chiếc trực thăng nơi cửa sổ của người phi công phụ. Trong khi đang tiếp cận con chim sắt, vẫn cúi xuống, viên phi công mỉm cười với đôi mắt của anh ta được phủ lên bởi miếng che của chiếc mũ sắt phi công vói ra ngoài nhỏ cửa nhỏ của mình và trao anh ta một thẻ giao dịch Không Kỵ và một ống thuốc nhỏ Preparation H (i.e. Chuẩn bị cho H(emorrhoids) là tên thuốc thoa bên ngoài trị bệnh trĩ), chào người bạn mới TQLC(pc 01) của mình, nhấn thêm ga và sau đó nhanh chóng cất khỏi mặt đất. Anh George tự hỏi điều gì đã sẽ xảy ra nếu Thượng nghị sĩ William Proxmire, người đàn ông được biết đến cho việc tạo nên một sự kiện to tác, đáng kể về sự gian lận, phí dụng và lạm dụng chính phủ, giả như học hỏi được về nỗ lực mới nầy về sự hợp tác giữa các phục vụ.

(Những chiếc trực thăng Bell Huey cứu thương nầy là một
loại trong nhóm Bell Huey đa dạng: vận chuyển, tấn công,
cho những binh chủng khác nhau và cả dân sự ứng dụng)

(Trực thăng tấn công UH-1B/C vào năm 1963 trong sự hỗ
trợ cuộc hành quân “Tìm kiếm và Tiêu diệt” của Hoa Kỳ)

Đại úy Philip giống như hầu hết những quân nhân TQLC thuộc cấp lớp và chức vụ của mình trong sự tôn trọng chân thành của anh ta cho lòng dũng cảm, cho dù nó được chứng minh bởi những binh lính TQLC, Mỹ hay Việt Nam, hoặc bởi những quân nhân từ những binh chủng mà hầu hết những binh lính “Cổ Áo Da” được xét là không hoàn toàn ngang hàng với Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ. George Philip chắc chắn rằng những tên chết tiệt tuyệt đối điên rồ nhất và dũng cảm nhất trong tất cả nước Việt Nam, như là một nhóm, là những sĩ quan Chuẩn úy của quân đội đã vốn là những người bay những chiếc trực thăng Huey. Vào rất nhiều dịp, anh ta đã từng nhìn thấy những gã nầy bay vào trong những tình huống mà bất kỳ người có lý lẽ, tĩnh trí nào đúng ra sẽ từ chối. Đối với anh ta và tất cả những người khác, đó luôn luôn là điều an ủi to lớn để biết rằng có những chiếc trực thăng quân đội gần đó trong trường hợp có nhu cầu cho một chuyến tải thương khẩn cấp hoặc những cuộc yễm trợ bằng trực thăng vũ trang hoặc việc tái tiếp tế, mặc những vấn đề bệnh trĩ.

p232

Đại úy Philip cũng có sự đánh giá cao cho Hải quân. Trong những tháng đầu tiên tại Căn cứ Alpha 2 (i.e. Giao Linh), anh ta và Đội Pháo thuật Hải quân đã gọi vào nhiều hơn phần chia sẻ những nhiệm vụ yễm trợ của họ từ các tàu tuần dương và tàu khu trục khác nhau ngay bên ngoài bờ biển. Có lẽ, chính là bởi vì người cha của anh ta đã từng là một vị Thuyền trưởng khu trục hạm trong Thế Chiến thứ II khi ông ta bị thiệt mạng mà qua đó anh George suy nghĩ thêm về những con tàu mà anh ta không thể nhìn thấy từ những vị trí được che chắn ở đó, không xa vùng ngoại biên, nhưng luôn luôn có thể tin cậy để phân phát những món hàng khi được gọi đến mà anh ta nắm lấy cơ hội trong một cuộc thăm viếng.

(Một chiếc Tuần dương hạm tiêu biểu, có số sĩ quan, thủy
thủ, tốc độ, chiều dài không khác nhiều hơn chiếc khu trục
hạm, nhưng có những khẩu pháo 6 ly và 8 ly lúc bấy giờ)

(Một chiếc khu trục hạm tiêu biểu, trong gọn gàn hơn chiếc
tuần dương hạm, nhưng tốc độ gần như nhau, những sự khác
biệt chính yếu là vũ khí nhẹ hơn, hệ thống thăm dò radar nhạy
hơn, và nhiều sứ mệnh hơn)

Từ lúc, những binh lính TQLC Mỹ đến bờ biển Việt Nam lần đầu tiên vào đầu năm 1965, lớp hỏa lực bảo vệ thêm cung ứng cho những đơn vị đang hoạt động trong phạm vi tầm pháo của những khẩu súng từ hàng chục chiến hạm của Hạm đội 7 là một khía cạnh rất quan trọng đối với sự thành công của Mỹ chống lại các lực lượng Cộng sản. Khi hầu hết các lực lượng chiến đấu của Mỹ đã được gởi về quê nhà trước giữa năm 1971, những con tàu của Hạm đội 7 vẫn còn ở lại vị trí để cung cấp cùng sự yễm trợ cho các đơn vị TQLC Việt Nam đang hoạt động gần bờ biển. Với một số rất ít người Mỹ lúc bấy giờ kêu gọi đến sự yễm trợ đó, các mối quan hệ giữa những người trên bờ và những người trên biển trở nên thậm chí gay gắt và cá nhân hơn.
Một ngày nắng cháy không phải là một điều gì kỳ lạ khi không có rất nhiều chuyện đang xảy ra mà qua đó sĩ quan Liên lạc Pháo thuật Hải trên chiến hạm USS Rupertus (có ký hiệu là DD-851) gọi vào bờ và hỏi George Philip xem anh ta muốn bay ra thăm con tàu mà gần đây đã cung cấp một phần chia sẽ sự yễm trợ hỏa lực của họ. Đại úy Philip nắm lấy cơ hội. Dỗ dành một phi hành đoàn quân đội của chiếc trực thăng Huey trong việc chỡ anh ta ra tàu, đó là nỗ lực lần đầu tiên từng có của phi hành đoàn đáp lên trên một chiếc tàu đang vận hành mà việc đó không phải là dễ ăn. Chẳng hề biết sợ hãi, những phi công quân đội đã dũng cảm đáp xuống và trở thành một phần của nhóm tham quan trong phòng ăn dành cho sĩ quan của chiến hạm Rupertus cho bữa ăn trưa.

(Chiến hạm USS Rupertus bên ngoài vùng biển Quân khu I)

Điều mà gây ấn tượng cho anh George nhất ngày đó sau khi đã dần dà quen thuộc với những món ăn của Hạ sĩ nhất Tường, là có thể ngồi xuống bên những tấm khăn trải bàn thực sự, ăn bằng chén dĩa bạc thực sự, và –như thể là anh ta cuối cùng đã chết đi và đi đến thiên đường– ăn nhiều kem nhiều như anh ta có thể tiêu thụ cho món tráng miệng. Khi đến lúc bay trở lại, vị thuyền trưởng của con tàu cho mỗi người trong số những khách viếng của mình một cái bật lửa cho thuốc lá với dòng chữ biểu tượng Rupertus được trang trí trên mặt và một hộp thịt bò bít-tết đông lạnh.

p233

Đáp trả đặc ân theo đúng cách Quân đoàn TQLC, anh George mời vị Thuyền trưởng con tàu gời một sĩ quan đại diện lên bờ đến Căn cứ Alpha 2 trong một ngày để xem cuộc chiến tranh được tiến hành như thế nào trên mặt đất và sống như là những binh lính TQLC. Khi vị Thiếu úy Hải quân riêng biệt trở lại tàu, anh ta chắc chắn sẽ có những câu chuyện về chiến tranh để kể, có lẽ là một câu chuyện gì đó thậm chí dành cho những con cháu mai sau. Những việc đã xảy ra trong suốt những ngày tốt đẹp khi không hẵn là rất nhiều chuyện tồi tệ đang diễn ra.
Không phải mọi thứ đều là thú vui và là những trò chơi ngay cả khi thú vui và những trò chơi được lôi cuốn vào. Ngay cả khi không có sự va chạm nào với Quân Bắc Việt, có những thứ nhắc nhở thường xuyên về cuộc sống trên bờ biển có thể nghiêm trọng như thế nào.
Có một biến cố trong một trong những tiểu đoàn bộ binh TQLC vốn đã đến gần Căn cứ Alpha 2 mà trong đó một người trong những binh lính TQLC trẻ đã thua một số tiền đáng kể trong việc đánh bạc với những bạn đồng hướng của mình. Khi anh bạn đó từ chối trả đúng hẹn các khoản nợ của mình, vị Trung đội Trưởng của anh ta ra lệnh cho anh ta phải trả. Trong một cơn giận dự chiều tối hôm đó, người có lỗi đã ném một quả lựu đạn cầm tay vào trong nơi ở riêng của vị Trung đội Trưởng giết chết một sĩ quan và gây thương tích nhiều người khác.
Sáng hôm sau, với toàn bộ tiểu đoàn đang có mặt, người cựu quân nhân TQLC(pc 01) phạm tội, chẳng-bao-lâu-là-xác-chết được ra lệnh đào mộ của riêng mình để cho khi anh ta đứng trước đội xử bắn, cơ thể chẳng-bao-lâu-là-vô-hồn của anh ta sẽ sụp đổ vào trong cái lỗ mà anh ta vừa đào khi họ bắn anh ta, làm dễ dàng hơn để chôn cất anh ta. Những vị cố vấn Mỹ tạo một thói quen về việc không hiện diện và về việc không quan sát việc đưa ra công lý của TQLC, một lần nữa luôn luôn nhớ là họ đang ở Việt Nam.

C- John Ripley đến:

Miễn là Lữ đoàn 369 có nhiệm vụ đi lên gần các Khu phi Quân sự, Tiểu đoàn 1 Pháo binh, với Đội pháo B tại Căn cứ A-2, sẽ vẫn ở lại tại chỗ để cung cấp sự yễm trợ cho bất kỳ tiểu đoàn nào trong số 3 tiểu đoàn bộ binh của lữ đoàn hoặc bất kỳ đơn vị bạn khác nào đang hoạt động trong khu vực . Trong khi các đơn vị pháo binh thường thường sẽ vẫn còn ở những vị trí cố định, những vị trí mà cũng được biết đến và thăm dò bởi những tay súng của Quân Bắc Việt, những tiểu đoàn bộ binh sẽ, nhằm giữ cho những binh lính TQLC của họ tươi tỉnh và cảnh giác, luân chuyển những địa bàn hoạt động của họ trên khắp vùng phía bắc Quân khu I.

p234

Khi một tiểu đoàn bộ binh TQLC nhận được thông báo đến khu vực phía bắc Đông Hà, việc thông thường đối với họ là gởi một hoặc hai vị cố vấn của họ lên vị trí tiền đồn của George Philip và Đội Pháo thuật Hải quân chiếm đóng với những pháo thủ của TQLCVN trong một khoảng thời gian.
Mà qua đó TQLC đã thất bại để gởi Đại úy John Ripley đến bất kỳ trường ngôn ngữ chính thức nào trước khi gởi anh ta trở lại Việt Nam như là một vị cố vấn mà không có cách nào hạn chế những nhu cầu phục vụ của anh ta. Đến đó gần hai tháng trước Đại úy Philip, John Ripley đi qua cùng một quá trình ở Sài Gòn trước khi quay trở lại những vùng đất giẵm nát xưa cũ của mình ở phía bắc Quân khu I.
Đến lúc, anh ta luân chuyển vào trong Căn cứ Alpha 2 vào cuối tháng Chín năm 1971 với tiểu đoàn chủ TQLC của mình, John Ripley chỉ gần đây đã được gắn liền làm việc với người bạn mới, người đối tác mới và vị Thiệu tá Bình và Sói Biển có tinh thần đồng cảm của mình như là vị cố vấn có chức vụ cao của họ. Trong hai tháng trước khi gia nhập Tiểu đoàn 3, anh John đã từng phục vụ, trong cái gì mà anh ta mô tả trong những bức thư nhà cho người vợ Moline và những người thân của anh ta như là một “mật vụ viên tự do;” lần đầu tiên như là một vị phụ tá cố vấn cho Lữ đoàn 258 và sau đó như là một vị cố vấn cho bộ binh quy chế trong một thời gian ngắn với Tiểu đoàn 5 thuộc lực lượng TQLC.
Đến lúc, Tiểu đoàn 3 một lần nữa, cùng với cố vấn John Ripley trong lần đầu tiên, đến khu vực Alpha-2 hoặc là Giao Linh, họ đã từng nhìn thấy một số lượng khá nhiều cuộc giao chiến gay go gần đây. Chính là một kinh nghiệm rất ư đặc biệt cho Đại úy Ripley trải qua một hoặc hai ngày với người bạn mới của anh ta, George Philip, trong căn hầm quan sát không có những tiếng súng đang được trao đổi và hàng tấn hoạt động của đối phương bên ngoài, trước mặt họ ở Khu phi Quân sự. Nếu anh Ripley được tùy ý quyết định, anh ta đã sẽ có thể gọi vào tất cả các chiếc máy bay B-52 mà anh ta có thể và biến khu vực đang rộn ràng với hoạt động trở thành một bãi đậu xe. Lá cờ quá khổ của Quân đội Bắc Việt vốn tung bay ngày và đêm ngay bên kia dòng sông Bến Hải, đã sẽ là một điểm nhắm đích trước tiên của mình. Nhưng không phải là quyền hạn của anh ta để thực hiện. Khi tất cả việc khác bị thất bại, giống như người bạn George Philip của anh ta và mỗi người đang nghĩ đúng khác, anh ta sẽ nhắc nhở với chính mình rằng anh ta đang ở Việt Nam và mọi thứ về điều đó là điên rồ. Và trong điều đó vẫn không hữu lý đối với anh ta, anh ta ít nhất có thể tiếp tục chịu đựng sự phi lý của cuộc sống như anh ta đang sống trong nó.

(Quân khu I với vị trí A-2 (Giao Linh) gần trên cùng của A-1,
nằm phía bắc Đông Hà, và gần bờ biển Đông Hải)

p235

Hầu hết cuộc chiến đấu dành cho bất cứ ai được tượng trưng bằng những giai đoạn ngắn giao chiến dữ dội được theo sau bởi những khoảng kéo dài của sự yên tĩnh kỳ lạ, nhàm chán, ngưng hoạt động, và đang chờ đợi cho sự bừng lên kế tiếp và cơ hội để giết hoặc bị giết chết. Cuộc sống ở Căn cứ Alpha 2 không có gì khác biệt ngoại trừ là họ luôn luôn trong tầm nhìn lồ lộ của những kẻ xấu.
Không ai nghĩ rằng đó là điều ít nhất có chút lạ lùng mà qua đó hai người có chức vụ cao cấp trong hầm trú, John Ripley và George Philip, cả hai là những nhà kỹ thuật hiểu biết về chiến đấu, dày dạn trong trận chiến, và được đào tạo theo đại học từ Học viện Hải quân Hoa Kỳ, sẽ trải qua một phần nào tốt hơn của buổi chiều khá yên tĩnh mải mê trong việc xây dựng trò chơi ghép hình. Đưa các kỹ năng của những trình độ giáo dục được tài trợ bởi những người nộp thuế của mình đến một nỗ lực tối đa, họ xây dựng nó với một độ chính xác mà qua đó đáng lẽ ra làm cho bất kỳ ai trong số những vị giáo sư ngày xưa về kỹ thuật của họ cảm thấy tự hào.
Cuộc sống trong cuộc chiến đấu có một cách giảm bớt mọi thứ đến những mong muốn và nhu cầu cơ bản nhất của họ. Tuy phần lớn sự an toàn về thể chất của họ có thể được bảo đảm bằng sự xây dựng hầm trú chắc chắn và kẻ thù bị ngăn cản bởi mối đe dọa trả thù nhanh chóng từ pháo binh gần đó hoặc tiếng súng Hải quân ngoài bờ biển nếu bị tấn công, mức độ nhu cầu kế tiếp cần được thoả mãn –đối với một quân nhân TQLC Mỹ hoặc Việt Nam trung bình, không có cơ hội cho tình bạn phái nữ tại Căn cứ Alpha 2— là thực phẩm và sự kích thích trí tuệ.
Thư từ và tin tức từ quê nhà thật cực kỳ quan trọng. Những lá thư luôn luôn được đọc đi đọc lại, và sau đó được cất đi để được đọc lại một lần nữa sau đó. Những gói hàng quan tâm, đến lúc chúng đến Việt Nam, với những cái bánh nướng khô hoặc những cái bánh ngọt sô-cô-la mềm hơi có mùi meo móc được chia sẻ rộng rãi và nhanh chóng tiêu thụ. Những mặt hàng thực phẩm khác giống như nước sốt cay hiệu Tabasco và trái cây sấy khô hoặc bất cứ thứ gì được đóng hộp sau đó sẽ được bổ sung vào trong chế độ ăn uống thường ngày để gia tăng thêm thức vị. Tờ báo từ quê nhà, không cần biết cũ kỹ như thế nào, luôn luôn phổ biến như là những cuốn sách giấy xấu bìa mềm mà qua đó có thể được đọc kỹ trong suốt những khoảng thời gian dài, chậm chạp giữa những cơn hỗn loại ngắn ngủi, mãnh liệt đó.
Trong một trong những gói hàng gần đây hơn mà anh ta đã nhận được, được nhét vào với thực phẩm và các thứ tin tức theo quy định, người bạn gái của anh George đã khôn khéo bao gồm một hộp trò chơi ghép hình ngàn-mảnh của bức tranh con King Kong theo nguyên bản. Cái nắp hộp cho thấy sản phẩm được hoàn tất vốn là hình quảng cáo vào năm 1933 mà nó ắt hẵn đã trang trí những hành lang và những khung kiếng chưng bày trong cách rạp hát thời xa xưa khi đó với con vật kếch xù nghiêm khắc nhưng có tình cảm và trông như bị tiếng sét ái tình đang nắm chặt cô nàng tài tử Fay Wray ngọt ngào và dường như dễ bị tổn thương trong cái nắm tay lông lá của mình.

(Bức tranh ghép hình “King Kong Sống Mãi!” mà hai vị Đại úy
Goerge Philip và John Ridley xây dựng tại Căn cứ A-2, ngay
hướng nam của Khu phi Quân sự vào mùa thu năm 1971)

(Nữ tài tử gốc Gia Nã Đại, Fay Wray trong vai Ann
Darrow trong cuốn phim “KingKong” vào năm 1933)

p236

Giống như những kỹ sư mà họ là, họ tìm những cái góc và tất cả những mảnh hình thẳng cạnh trước tiên, tìm kiếm những độ đậm màu sắc và các mẫu hình, và sau đó xây dựng nó từ bên ngoài vào trong. Những binh lính TQLC Mỹ và Việt Nam xung quanh họ khó mà nhận thấy, đang làm những nhiệm vụ và công việc thường ngày của họ như luôn luôn là thế. Bức tranh ghép hình thực sự được xây dựng trong khoảng một thời gian hàng giờ trong suốt những lần tập trung hoàn toàn được trộn lẫn với những lần khác khi nhiệm vụ kêu gọi. Khi nó được hoàn thành, chính là lúc hoàn tất. Một người nào đó chụp hình hai vị Đại úy và kiệt tác của họ. Hai người bạn ngưỡng mộ, rất ngắn ngũi, sản phẩm hoàn tất của họ như những người đi ngang qua làm. Từ đó, nó trở thành là một cái gì khác.
Không có gì đặc biệt đặc đáng kể về bức hình ghép con King Kong hoặc bất kỳ cuộc giao chiến nào xảy ra trong khi nó đang được xếp lại với nhau, từng mảnh một, mà qua đó tạo nên một ngày độc đáo. Cái gì sẽ trở thành độc đáo đối với đoạn hồi đơn lẻ, kỳ quặc đó là trên mỗi cuộc gặp gỡ tiếp theo giữa hai vị cố vấn, bất cứ khi nào họ tình cờ gặp nhau, cho dù tại Căn cứ Alpha 2 hoặc Đông Hà hay Sài Gòn, hai chiến binh sẽ chào đón với nhau theo cách cá nhân, riêng tư của họ. Câu nói “King Kong Sống Mãi!!!” thì tương đương với việc bắt tay bí mật trở thành tình huynh đệ của hai người đàn ông Ripley–Philip. Nếu cả hai người họ đều sống qua được chiến tranh, việc đó sẽ là một cái gì đó để làm thử và giải thích cho những đứa con và cháu chắt. Một số ít người ở bên ngoài biết ý nghĩa đó nhưng mỗi người vốn đã từng trải qua những lần đáng sợ, có thể hiểu được ngôn ngữ đặc biệt này giữa các chiến binh.

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ TQLCVN : Thủy quân Lục chiến Việt Nam. Kể từ năm 1971 (từ phần 17 trở về sau), những binh lính TQLCVN đãm trách nhiệm vụ phòng thủ và chiến đấu vì không còn một binh sĩ TQLC Hoa Kỳ nào ở miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Và vì thế, dù khi viết là TQLC, nên được hiểu là TQLCVN, trừ khi viết rõ ra là TQLC Hoa Kỳ.

pc 02_ Kho vũ khí của nền Dân chủ : “Arsenal of Democracy” là một câu nói được đặt ra bởi Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt, trong một chương trình phát thanh được truyền ra vào ngày 29 tháng Mười Hai năm 1940. Ông Roosevelt hứa sẽ giúp Vương quốc Anh chống lại phát-xít Đức bằng cách cho họ những cung cấp về quân sự trong khi Hoa Kỳ ở ngoài cuộc chiến đấu thực sự. Thông báo này được thực hiện một năm trước khi tấn công Cuộc tấn công trên Cảng Trân Châu, tại lúc khi Đức đã chiếm đóng phần lớn châu Âu và đe dọa nước Anh.
“Kho vũ khí lớn của nền Dân chủ” trở thành sự ám chỉ riêng biệt về nước Mỹ và máy móc kỹ nghệ của nó, như là một nhà thầu cung cấp chính về quân sự cho nỗ lực chiến tranh của Đồng minh.

pc 03_ Cuộc Không kích Doolittle : cũng được biết đến như là cuộc Không kích Tokyo (Raid Tokyo), vào ngày 18 tháng Tư năm 1942, là cuộc không kích đầu tiên bởi Hoa Kỳ nhằm tấn công những Hải đảo Quê nhà Nhật Bản (đặc biệt là hải đảo Honshu) trong suốt Thế Chiến thứ II. Bằng cách chứng minh rằng chính nước Nhật Bản dễ bị tấn công đối với cuộc tấn công của Không quân Mỹ, điều đó đưa đến sự khích lệ rất hệ trọng về tinh thần chiến đấu và cơ hội cho cuộc trả đũa của Mỹ sau khi cuộc tấn công của Nhật vào Cảng Trân Châu vào ngày 7 tháng Mười Hai năm 1941. Cuộc không kích được lên kế hoạch và được dẫn dắt bởi Trung tá James “Jimmy” Doolittle, thuộc những Lực lượng Không quân của Quân đội Hoa Kỳ. Ông Doolittle sau này kể lại trong cuốn tự truyện của mình rằng các cuộc tấn công có chủ kiến thúc đẩy tinh thần chiến đấu của Mỹ và nhằm gây cho dân Nhật bắt đầu nghi ngờ về ban lãnh đạo của họ, mà qua đó nó đã thành công:
“Người dân Nhật đã được bảo rằng họ không dễ gì bị tấn công… Một cuộc tấn công trên đất nhà của Nhật sẽ gây ra sự bối rối trong tâm trí dân Nhật và gieo sự nghi ngờ về sự tin cậy vào những nhà lãnh đạo của họ. Có một lý do thứ hai và quan trọng không kém, về tâm lý, đối với cuộc tấn công này… Những người Mỹ rất cần đến một khích lệ về tinh thần chiến đấu.”
Mười sáu chiếc máy bay dội bom trung bình loại Mitchell của B-25B thuộc những Lực lượng Không quân của Quân đội Hoa Kỳ được phóng đi từ hàng không mẫu hạm USS Hornet của Hải quân Hoa Kỳ đang nằm sâu trong vùng Tây Thái Bình Dương. Kế hoạch kêu gọi họ dội bom vào các mục tiêu quân sự ở Nhật, và tiếp tục bay về hướng tây để hạ cánh ở Trung Quốc –việc đáp xuống một máy bay dội bom trung bình trên chiến hạm Hornet là không thể nào. Tất cả máy bay được tham gia trong cuộc dội bom đều bị mất và 11 phi hành viên đã hoặc bị thiệt mạng hoặc bị bắt giữ –với ba người trong số những người bị bắt đã bị hành quyết bởi Quân đội Nhật ở Trung Quốc. Một trong những chiếc B-25 hạ cánh ở Liên Xô tại thành phố Vladivostok, nơi mà nó bị tịch thu và phi hành đoàn của nó bị giam giữ trong một năm hơn. Toàn bộ phi hành đoàn mười ba người, và tất cả ngoại trừ một phi hành viên của Đội phi hành 14, trở lại hoặc là đất nước Hoa Kỳ hoặc là những lực lượng Mỹ.
Cuộc không kích gây thiệt hại không đáng kể về vật chất đối với nước Nhật chỉ vì đánh trúng vào những mục tiêu phi quân sự hoặc hoàn toàn không trúng, nhưng nó đã thành công trong mục đích của nó về việc giúp đỡ tinh thần chiến đấu của Mỹ và tạo sự nghi ngờ ở nước Nhật về khả năng của các nhà lãnh đạo quân sự Nhật. Nó cũng gây cho Nhật rút lui lực lượng hàng không mẫu hạm mạnh mẽ của nó từ Ấn Độ Dương để bảo vệ những hải đảo quê nhà của họ, và cuộc không kích góp phần quyết định cho sự quyết định tấn công Midway của Đô đốc Hải quân Isoroku Yamamoto –là một cuộc tấn công vốn đã biến thành một sự thảm bại quyết định của Hải quân Đế quốc Nhật bởi Hải quân Hoa Kỳ gần hải đảo Midway trong vùng Trung Thái Bình Dương.

pc 04_ Bảo đảm Tiêu diệt Lẫn nhau : (Mutual Assured Destruction) là một học thuyết về chiến lược quân sự và chính sách an ninh quốc gia mà trong đó việc sử dụng quy mô những vũ khí tạo ra tầm sát hại cao của sự hủy diệt khối đông bởi hai phe đối lập sẽ dẫn đến kết quả một cách hiệu nghiệm trong sự tuyệt chủng hoàn toàn, tột bực, và không thể thu hồi của cả kẻ tấn công và người phòng thủ.
Chiến lược “Bảo đảm Tiêu diệt Lẫn nhau” và các thuật ngữ viết tắt MAD là do John Von Neumann (1902–1957), vốn là người có sở thích cho thuật ngữ viết tắt khôi hài, một thí dụ khác là máy điện toán MANIAC (Mathematical Analyzer, Numerator, Integrator, and Computer = Máy phân tích Toán học, Tính Số, Tính Tích phân, Tính toán) của ông ta –là máy điện toán sớm nhất được xây dựng dưới sự điều hành của Nicholas Metropolis tại Phòng thí nghiệm Khoa học Los Alamos. Ông ta, trong số những thứ khác, là người phát minh của “lý thuyết trò chơi,” một nhà chiến lược về Chiến tranh Lạnh, và Chủ tịch Ủy ban ICBM (InterConentinental Ballistic Missile = Phi đạn Tầm xa Xuyên lục địa) cho đến khi ông ta qua đời vào năm 1957.

One thought on “Phần 17: King Kong Sống Mãi!

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s