Phần 16: Trở ngược Lại

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p215

Phần 16: Trở ngược Lại

Đó là điều không thể nào, có chiến tranh hoặc không có chiến tranh, không có một chuyến quân vụ tốt đẹp nào khi còn là một sinh viên tại Học viện Ngôn ngữ Quốc phòng và một thời gian rộng rãi ở thị trấn Carmel và thành phố Monterey, và cho đến bây giờ George Philip đang mong đợi rời khỏi. Anh ta đã thực sự nhìn thấy phần chia sẻ của mình về cái chết và sự hủy diệt nhiều hơn, đã thỏa mãn đầy đủ sự tò mò mà tất cả những người chiến đấu đều có trước khi hoạt động đầu tiên của họ; Tôi có điều gì nó cần không?Tôi sẽ chịu đựng nổi ở phía sau nòng súng đại bác không? Anh George có và anh ta đã từng.
Thời điểm muộn màn này trong chiến tranh, anh George không phải trở ngược lại Việt Nam. Đối với hầu hết các chuyên gia quân sự Mỹ, chiến tranh chưa hẵn là kết thúc. Những cơ hội để phục vụ, ngoại trừ những phi công và những phi đoàn Không quân, phần lớn đã bị giảm bớt. Đối với những sĩ quan Thủy quân Lục chiến (TQLC), nhiệm vụ cố vấn là một hoạt động nghiêm túc duy nhất mà Quân đoàn đang có ngoại trừ một số ít những thông báo khác riêng bên trong nội bộ. Nhưng đây là nghề nghiệp được chọn của anh ta và việc trở lại chỉ đơn giản là một điều vinh dự để làm. Cùng với điều đó, tâm trạng quốc gia thì dầy lên với tình cảm chống quân sự mà qua đó làm phiền anh ta rất nhiều. Nam ca sĩ–nhạc sĩ dân ca, gốc Gia Nã Đại, Neil Young, nữ ca sĩ–nhạc sĩ dân ca, gốc Mễ Tây Cơ, Joan Baez, là những khách du lịch thân mến của họ (i.e. người hay ra nước ngoài trình diễn) và tất cả những người khác có khả năng sẽ không thăm viếng Bắc Quân khu I hoặc bất cứ nơi nào khác mà anh ta có thể phục vụ với những người chẳng-bao-lâu-trở-thành bạn mới của Quân đoàn TQLC Việt Nam. Nhiệm vụ như một là vị cố vấn sẽ có tất cả ý nghĩa và xúc cảm mảnh liệt mà anh ta có thể giải quyết.
Được lên chức Đại úy ngay trước khi tốt nghiệp từ khóa học của anh ta tại Học viện Ngôn ngữ Quốc phòng, anh George tận dụng toàn bộ dịp nghỉ phép một tháng mà anh ta thêm một lần nữa được cấp trước trở lại khu vực Đông Nam Á.

(Nam ca sĩ–nhạc sĩ dân ca, đồng ca, kích động, gốc Canada,
Neil Young, với bài nhạc tự soạn nổi tiếng Havest Moon
(“Trăng mùa Gặt”) (xin bấm vào để nghe)
vào tháng 10/1992)

(Nữ ca sĩ nhạc–nhạc sĩ dân ca, đồng ca, gốc Mexico, Joan Baez
với bài nhạc tự soạn nổi tiếng Diamonds and Rust” (“Những hạt
Kim cương và chất Rỉ mòn”) (xin bấm vào để nghe)
vào tháng
7/1975. Trước đó là đĩa nhạc “Joan Baez Vol. 2” thành công
nhất trong bước đầu vào tháng 10/1961)

p216

Chuyến đi trong thời gian thứ hai thì rất ít ồn ào, lộn xộn hơn, rất ít căng thẳng hơn so với chuyến lần đầu tiên. Với một số rất ít người Mỹ hiện thời tham dự, anh ta thực sự như là một mình trong suốt chuyến bay và có thể suy xét tất cả mọi thứ một cách riêng tư. Anh ta âm thầm cười nhạo chính mình, qua việc nhớ lại cảm giác như thế nào khi anh ta trong lần đầu tiên đến Việt Nam vào đầu năm 1968 mà qua đó anh ta lo ngại rằng mình sẽ không đến đúng lúc để trở thành một phần của đất nước đó. Bây giờ, gần bốn năm sau đó, anh ta sắp sửa trở lại cuộc chiến tranh mà qua đó, ít nhất là từ quan điểm của riêng mình, vẫn không có một sự kết thúc hợp lý trong tầm nhìn.

A- Phía bắc của Quân khu I… Một lần nữa:

Cuộc sống dành cho những binh lính TQLC(pc 01) và quân nhân Mỹ ở Việt Nam đã từng là một cuộc vật lộn liên tục với các yếu tố. Điều này đặc biệt đúng đối với những người trong những đơn vị bộ binh khi họ phải đấu với sức nóng và chất rỉ mòn và độ ẩm và bẩn thỉu và đói khát và sợ hãi. Thời gian là kẻ thù phần nhiều như là Quân Bắc Việt và nó dường như đi qua với tốc độ băng hà trong khi những sự kiện ở quê nhà di chuyển về phía trước với một tốc độ chết người, chắc chắn vượt xa hơn nơi mà các chiến binh có thể đã từng nhìn thấy chính mình.
Một sự rủi ro lớn từ cảm tưởng khó chịu là việc trở lại trong “thế giới” của những bạn gái hay những người vợ trẻ vốn là những người có thể di chuyển xa hơn hoặc bên ngoài những quỹ đạo của những người đàn ông nầy vốn đã gắn bó và xoay quanh chúng. Có một nỗi sợ hãi đối với một số người, có lẽ cũng có một chút tức giận, mà những người thân yêu chỉ đơn giản là sẽ không thể hiểu được sự độc đáo của những căng thẳng của cuộc chiến đấu ở Việt Nam.
Khác thường hơn là cuộc sống dành cho người dân trên vùng đất của họ nơi mà chiến tranh đang được tiến hành. Đối với những người ở các thành phố nhưng chủ yếu là đối với những người ở những làng mạc, một thành phần cấu thành tuyệt đối của nền văn hóa Việt Nam, cuộc sống tìm cách tiếp tục tồn tại. Cho dù những cảm tình của họ dành cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt), là những người Cộng sản, hoặc họ chỉ đơn giản là muốn được yên thân, người dân vẫn có nhu cầu về thực phẩm và nơi trú ẩn và bất cứ điều gì khác bao gồm các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống.
Một tác giả lớn người Nga, Fyodor Dostoevsky, đã quan sát thấy rằng con người là sinh vật vốn có thể tập cho quen với bất cứ hoàn cảnh nào. Ông ta cũng có thể đã và đang mô tả những người dân bình thường của những đông bằng Việt Nam. Trong nhiều thế hệ, họ đã từng chịu đựng. Họ sẽ tiếp tục chịu đựng.
Trong những làng mạc và những thị trấn rất ư nhỏ bé về hướng bắc miền Nam Việt Nam, công việc thường xuyên trong ngày tập trung vào việc thêm vào sự sinh sống từ một vùng đất miễn cưỡng ban cho và dè sẻn ân huệ. Gạo là thứ cơ bản của cuộc sống. Công việc trồng trọt, chăm sóc, thu hoạch và chế biến ra gạo là trọng yếu đối với sự tồn tại của mỗi người.

p217

Cùng với gạo, những cư dân ngoài thành phố sẽ nuôi những con gà, và vịt, thỉnh thoảng một con heo, và bắt cá nơi mà họ có thể –cá từ biển, những con sông, con rạch, từ những cánh đồng lúa bị ngập nước, những cái ao được tạo ra bởi những cơn mưa gió mùa, từ bất cứ nơi nào. Cá là nguồn chất đạm có ở nhiều nơi nhất.
Đối với những người Mỹ không thể làm thủng bức màn của sự dè dặt lời nói, của phong cách Á Đông không dễ hiểu, người dân Việt Nam dường như chỉ đơn thuần như là một phần vô tri vô giác khác của quang cảnh khắc nghiệt, với vẻ bề ngoài quá quen thuộc với tất cả những sự khủng khiếp của chiến tranh xung quanh họ. Khi một binh lính TQLC hoặc một quân nhân Mỹ sống sót qua chuyến quân vụ của mình và trở về nhà, những người khác, những người dân địa phương, sẽ vẫn còn ở tại chỗ, đang sống trong cùng một giấc mơ xấu mà đối với những người Mỹ là cả một kinh nghiệm ở Việt Nam. Đối với gần như tất cả những người Mỹ, cái nhìn từ phía VNCH, những người với sự đánh đố liều lĩnh nhất trong kết quả, nhận được sự chú ý hoặc xét đoán thoáng qua.
Đó là điều không phải là quá bất thường đến nổi, khi còn là một Trung úy, George Philip không nhận biết gì về mối quan hệ gần gũi mà TQLC Hoa Kỳ đã có với TQLC Việt Nam từ năm 1954, lúc bản thân anh ta đã học đến lớp bốn. Một số rất ít người Mỹ, đặc biệt là những người gần gũi nhất với cuộc chiến đấu giữa năm 1965–1971, trải nghiệm bất cứ việc gì, ngoại trừ “kinh nghiệm của Mỹ” ở Việt Nam mà trong đó sự tương tác đầy ý nghĩa với các lực lượng của Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) hoặc TQLC(pc 01) bị hạn chế.
Đến lúc anh ta đến phi trường Tân Sơn Nhứt bên ngoài Sài Gòn để bắt đầu chuyến quân vụ thứ hai của mình, Đại úy Philip đã nhất thiết có được những tin tức mới nhất nhờ cuộc đào tạo ngôn ngữ và văn hóa mà lần nầy anh ta đã nhận được. Trong số gần 400.000 những “Cổ Áo Da” Mỹ vốn là những người vào giữa năm 1971 đã đến và đi khỏi Việt Nam, ít hơn 600 người đã được giao công việc với nhiệm vụ cố vấn.(pc 02)
Nhiệm vụ cố vấn cho Quân đoàn TQLC Việt Nam là một công tác kỳ lạ, riêng biệt là khoảng thời gian cuối nầy trong chiến tranh. Đến năm 1971, những người nắm quyền chỉ huy 9 tiểu đoàn bộ binh và 3 tiểu đoàn pháo binh của lực lượng TQLC là những vị Thiếu tá tiêu biểu. (Cách thực hành của Mỹ là đặt những vị Trung tá trong quyền chỉ những tiểu đoàn.) Trong khi gần như tất cả các sĩ quan Mỹ được phân công việc phục vụ cho lực lượng TQLC là những người đồng hương với ít nhất là một chuyến quân vụ hoạt động chiến đấu trước đó, hầu như tất cả những người đang chỉ huy những tiểu đoàn Việt Nam đã từng bước vào phục vụ như là những vị Thiếu úy và, bởi vì họ đã chưa bị thiệt mạng hoặc bị thương quá nghiêm trọng, và cuộc chiến vẫn chưa thắng được, vẫn là hữu ích trên một chuyến và chỉ là một chuyến quân vụ tiếp tục của họ.

p218

Bởi vì cách mà lực lượng TQLC tiến hành các hoạt động, mỗi tiểu đoàn bộ binh, theo trù định, thường có hai vị cố vấn Mỹ. Khi trong chiến trường, những tiểu đoàn TQLC sẽ phân chia thành phần chỉ huy của họ thành hai nhóm. Thành phần chính, Nhóm Chỉ huy Alpha, có một Tiểu đoàn Trưởng và một vị cố vấn Mỹ cao cấp, thường là một vị Đại úy hay Thiếu úy thâm niên. Thành phần thứ hai được dẫn đầu bởi một Sĩ quan Điều hành tiểu đoàn. Được biết đến như là Nhóm Chỉ huy Bravo, nó được thành lập với chủ ý là nếu Nhóm Chỉ huy Alpha bị đánh hoặc mất khả năng, Nhóm của Sĩ quan Điều hành có thể nhận lấy trách nhiệm. Việc trải ra vai trò lãnh đạo theo cách này bảo đảm rằng kẻ thù không thể dễ dàng vô hiệu hóa toàn bộ cấu trúc chỉ huy của một tiểu đoàn. Nếu tiểu đoàn có một vị cố vấn Mỹ thứ hai, anh ta thường đi đây đó với vị Sĩ quan Điều hành và thường là một vị Đại úy non nớt đối với vị cố vấn Mỹ khác.
Một trong những thúc đẩy to lớn về tinh thần và tâm lý cho bất kỳ chiến sĩ nào là quan điểm cho rằng theo nghĩa bóng anh ta là một phần của một gia đình hoặc một nhóm mà qua đó mỗi người liên hệ một cách gần gũi với nhóm và qua đó mỗi người hoàn toàn dựa vào nhóm. Tình đồng đội và tình bạn được đưa đến những mức được trải nghiệm không có ở nơi nào khác. Gần như tất cả những người lính vốn là những người làm những điều dũng cảm, không phải làm như thế vì họ đang suy nghĩ về người mẹ và món bánh táo, nhưng vì họ đang cố gắng cứu lấy những người bạn của họ. Nhiệm vụ của người cố vấn gây phức tạp cho khái niệm đã từng quá xem nhẹ nầy.

(Đây là một trong những bằng chứng về tình đồng đội, tình bạn của
những binh lính VNCH nói chung. Tuy nhiên, có một thiểu số khác,
thường là những nhiếp ảnh viên chiến trường người Việt, những
người chưa bao giờ cầm súng –như nhóm người trong hình ảnh nầy–
nên trái tim họ dường như vô cảm, không những thế mà còn đâm
ngược những người bạn chiến đấu cho sự an toàn của họ chỉ vì
tham vọng danh lợi cá nhân đáng nguyền rủa)

(Nhiếp ảnh viên chiến trường Huỳnh Công Út nầy, chính là
một nhân vật tiêu biểu nhất cho hành động phản trắc đó qua bức
ảnh mà hắn ta luôn tự hào, tự đánh bóng thêm, đang cầm khoe,
trong cùng khoảng thời gian và nơi xảy ra của bức ảnh bên
trên được ghi lại bởi người khác)

Như là những vị cố vấn, những sĩ quan Mỹ ít nhất là một phần nào đó buộc phải dời xa khỏi những sự gắn bó gần gũi mà trước đó họ đã từng thiết lập với những người lính mà họ đã phục vụ, đã từng dẫn dắt và được dẫn đầu bởi những người lính đó.
Như là những vị cố vấn, theo đúng kỹ thuật họ không có thẩm quyền chỉ huy nào cả, và như là những người Mỹ, ngay cả sau cuộc đào tạo ngôn ngữ, ít người có những kỹ năng để đàm thoại theo những cách phức tạp, sâu sắc với những người mà hiện thời họ chia sẻ những thử nghiệm thân ái nhất của cuộc sống. Đó là điều không thể nào không trải nghiệm ít nhất là sự cô lập nào đó, đặc biệt là trong sự khởi đầu khi những kỹ năng và giá trị của vị cố vấn đang được đánh giá một cách lạnh lùng bởi những người lính mà họ đang cố vấn và bởi những binh lính vốn là những người bao quanh một thành phần ở trụ sở chính và quan sát trong sự say mê những sự khác biệt của những người Mỹ đầy lông, thường lớn hơn nhiều của họ.

p219

Mỗi một đơn vị chỉ huy tiểu đoàn TQLC,(pc 01) ở mức tối thiểu, có 8 đến 10 năm thời gian chiến đấu nhiều hơn vị cố vấn Mỹ thâm niên, học rộng nhất. Kinh nghiệm chiến đấu không phải là món đồ trao đổi chính mà những người Mỹ mang vào cho sự cân bằng.
Sau khi trưởng thành trong một nền văn hóa vốn sống và thở các khái niệm và những thực tế của việc sử dụng phối hợp và hiệu quả của sự hỗ trợ hỏa lực, và thậm chí như là những người tương đối mới vào nghề, những sĩ quan TQLC Mỹ đang trong tình trạng có nhu cầu cao. Ngay cả nếu cá nhân những sĩ quan Việt Nam không thích những người Mỹ đi cặp với họ, mà qua đó xảy ra trên những duyên cớ hiếm hoi, họ luôn luôn đánh giá cao các nguồn tài liệu vốn được thay mặt cho.
Thêm vào việc có khả năng đưa đến sự hỗ trợ hỏa lực cần thiết một cách hiệu quả khi được yêu cầu hoặc đòi hỏi, những vị cố vấn phải ghi nhớ, chỉ giống y như họ đã làm khi họ chỉ huy những trung đội và đại đội, rằng các hành động của họ luôn luôn đang phơi bày cho những người xung quanh họ quan sát. Sự tồn tại của cái chậu cá như là các vị cố vấn được rọi lớn ra bởi vì sự hiện hữu tương đối kỳ quặc của họ so với những binh lính Việt Nam mà họ phục vụ và sống với.
Lực lượng TQLC, đến năm 1971, có những nguồn súng pháo trong những số lượng ngày càng tăng. Cái mà họ không có, và có khả năng là sẽ không bao giờ có, là một lực lượng hải quân với những đợt đạn pháo vô giới hạn được bắn từ những chiếc khu trục và tuần dương hạm giống như Hải quân Hoa Kỳ đã làm. Nếu không phải là họ tựa như từng dự định có một lực lượng Không quân vốn có thể đặt một số lượng bom vào mục tiêu mà cuộc không kích bằng máy bay B-52 Arclight có thể làm hoặc một cuộc không kích được đưa đến bởi bất kỳ loại nào trong số những chiếc máy bay thả bom–chiến đấu mà Lực lượng Không quân Hoa Kỳ duy trì trong số lượng dồi dào.
Tuy phần nhiều, một vị cố vấn Mỹ có thể được tha thứ cho những lời giễu cợt theo kiểu ngoại quốc của mình, đặc biệt là nếu anh ta là người tốt, đặc biệt là nếu anh ta tiếp tục đối xử thân ái với những người lính mà anh ta trong sự tiếp xúc trực tiếp hàng ngày với họ –những truyền tin viên và những chàng cao bồi– những người mà chuyện tầm phào mang tính cực đoan hay tiêu cực của họ sẽ lọt ra đến những người lính khác trong số những người còn lại của tiểu đoàn, anh ta vẫn phải luôn luôn ghi nhớ rằng anh ta là ai và đang ở đâu.
Những vị cố vấn thực sự, ngoại trừ những chiến binh không dễ gì bực tức và những người thực hành thông thạo về sự phối hợp yểm trợ hỏa lực, được yêu cầu trở thành những người đại diện Hoa Kỳ trong bộ đồng phục rằn ri như cọp. Luôn luôn, một vị cố vấn cần nhấn mạnh đến những sắc thái văn hóa và những sự khác biệt giữa cái gì mà anh ta được sử dụng để làm việc như là một quân nhân TQLC Mỹ và những điều nào cần được làm với Quân đoàn TQLC Việt Nam. Trên tất cả những việc khác, anh ta cần phải nhận thức về vấn đề “mặt mũi” và “sĩ diện.”

p220

Khuynh hướng của Mỹ nhằm cố gắng giải quyết những vấn đề khó khăn theo một biện pháp trực tiếp, mau lẹ nhất thường chạy đối ngược với sự duy trì chuẩn mực của Nho giáo. Những sự vi phạm trắng trợn, nghiêm trọng về những nét nhạy cảm văn hóa có thể là một vấn đề khó khăn lớn. Một vị cố vấn khôn ngoan cần phải luôn luôn biết uyển chuyển trước những vấn đề này, mỗi ngày.
Tất cả những sĩ quan TQLC Hoa Kỳ vốn là những người phục vụ với TQLC Việt Nam có những khoảng thời gian khác nhau về sự dung hòa mà qua đó bao gồm sự cô lập và lẽ loi, không cần biết họ thường trở nên gần gũi như thế nào với những người Việt đồng hướng của họ. Điều này tạo nên những mối quan hệ với những vị cố vấn khác, đặc biệt là trong thế giới Việt Nam hóa chiến tranh khi càng ngày càng có ít hơn những người Mỹ ở trong nước, với người nào đó để có tình bằng hữu, vô cùng quan trọng. Khi các đơn vị sẽ có những giai đoạn tu chỉnh hoặc những ngày nghĩ phép quay trở lại thành phố Thủ Đức gần Sài Gòn, những sĩ quan Mỹ thường sẽ tiêu hao những giờ hết-nhiệm-vụ của họ trong một đại đội của các anh em cố vấn. Đây là môi trường ở Sài Gòn mà trong đó Đại úy George Philip lần đầu tiên gặp được một số ít người chẳng-bao-lâu-trở-thành những người bạn tốt nhất của mình.
Anh George bằng trực giác đã từng biết và bằng cách nghe những câu chuyện và lời đồn đãi khác nhau về chiến tranh trước khi ghé qua là một tỷ lệ phần trăm lớn những vị cố vấn hiện diện trong nước là những tay đấu súng thời vàng son xưa kia, là những truyền thuyết hợp thức trong khắp cộng đồng bộ binh của Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ. Trong Thế Chiến thứ I và II, những người giống như là John Ripley, Ray Smith, Walt Boomer, và những người khác vốn là những người có tiếng như là những chiến binh nghiêm túc, cứng đầu được tìm thấy trong suốt những chuyến quân vụ trước đó, đáng lý ra sẽ được đón mừng và được biết đến với công chúng Mỹ to lớn hơn. Cuộc chiến tranh này thì khác biệt. Trong khi nhiều người có thể nhận dạng Trung úy Calley và những hành động nhục nhã ở Mỹ Lai, thì chỉ là trong cộng đồng nhỏ xíu của những người chuyên nghiệp mà qua đó các người lãnh đạo thực sự và những hành động dũng cảm của họ được biết đến.
George Philip biết rằng anh ta đã từng ở trong vào đội bóng rổ nhà trường như là một quân nhân TQLC(pc 01) đang chiến đấu hết mình trong Quân khu I trong suốt chuyến quân vụ trước đây của anh ta. Hiện thời như là một vị cố vấn, anh ta chắc chắn rằng anh ta đã gia nhập đội bóng toàn những ngôi sao. Cái băng ghế dài của những người có tài năng mà qua đó Quân đoàn TQLC đã tập hợp cho sứ mạng riêng biệt này, là một danh sách “Ai là ai” liệt kê những người nổi tiếng của một số người trong số những sĩ quan giỏi nhất mới ra trường ở bất cứ nơi nào. Cùng một lúc, chính là sự khiêm nhường và niềm phấn khởi.

p221

B- Tiếp tục Di chuyển về Phía trước:

Đến mùa hè năm 1971, có hơn 200 triệu người Mỹ vốn là những người chưa bao giờ trải qua một ngày đổ mồ hôi hoặc chảy máu ở bất cứ nơi nào gần khu vực Đông Nam Á. Đối với gần như tất cả họ, Việt Nam chủ yếu là một nơi phiền phức chịu thay cho nước khác, một mối phiền toái trên truyền hình hàng đêm, một vấn đề có lẽ cảm thấy bực tức hay thất vọng về nó.
Đối với những người vốn ở lại quê nhà, kinh nghiệm về Việt Nam vẫn là một cái gì đó vốn gây ảnh hưởng đến họ, mà qua đó di chuyển họ theo những cách không thể nào mô tả một cách đầy đủ, định lượng, hoặc thậm chí hiểu được. Những thay đổi và biến động đồng thời về xã hội, những phong trào dân quyền, văn hóa về xì-ke, cuộc cách mạng tình dục, sự phỉ báng lòng tôn trọng đối với hầu hết những hình thức của chính quyền; tất cả những điều này theo một cách nào đó được kết lại bằng một cách không thể thoát ra được và là một phần của hiện tượng Việt Nam to lớn hơn mà qua đó bao gồm mọi người đủ lớn tuổi để nhớ về việc đã từng xem chương trình truyền hình hài kịch nhiều tập “Leave it to Beaver” (“Hãy để nó lại cho Nhóc con Hải ly”), hoặc chương trình phiêu lưu–hài kịch nhiều tập “The Adventures of Ozzie và Harriet” (“Những cuộc Phiêu lưu của Ozzie và Harriet”) trước khi chúng bị xếp xuống hạng cho những xuất chiếu lại.

(Chương trình truyền hình hài kịch được ưu chuộng
nhất vào năm 1957, với cậu bé Jerry Mathers thủ
vai trong danh hiệu là Nhóc con Hải lý)

(Chương trình phiêu lưu–hài kịch cũng được
ưu chuộng nhiều nhất vào năm 1952)

Đến mùa hè năm 1971, nước Mỹ đang bắt đầu tiếp tục di chuyển. Số lượng những người lính để lại trong chiến trường làm ngược lại những mức độ rủi ro của họ khi một số rất ít trong số hơn 100.000 người vẫn còn ở Việt Nam được giao cho những nhiệm vụ nguy hiểm. Việc đăng lính vẫn còn diễn ra nhưng đang giảm xuống. Những con số thương vong thì khác xa từ những mức độ của năm 1968 và 1969. Ngay cả âm nhạc đang vượt qua mặt chiến tranh khi càng ngày càng ít hơn những bài hát trực tiếp phản đối sự tham gia của Mỹ.
Đến mùa hè năm 1971, điều hiển nhiên là tương lai đang được mong đợi với đất nước Việt Nam không ở trong nó. Những kỷ niệm về Việt Nam, tuy nhiên, thực sự vẫn đầy ấp hình ảnh từ tấm gương chiếu hậu, đặc biệt là đối với những chàng thanh niên đó vốn là những người đã từng ở đó, trở lại, và bây giờ được tham gia vào trong việc đuổi bắt đầu lại một lần nữa những cuộc theo đuổi bình thường của cuộc sống, bất cứ những điều đó là gì.
Trong số khoảng 43.000 người đàn ông khác đăng lính vào Quân đoàn TQLC trong suốt Chiến tranh Việt Nam, một số ít trong số họ, nếu có, từng chỉ huy một trung đội bộ binh trong cuộc chiến đấu. Trong khi không một ai sau đó theo dõi những điều nầy một cách cụ thể, Chuck Goggin cũng có thể đã từng sở hữu một kỷ lục về khoảng thời gian dài là Hạ sĩ nhất, được thăng lên Trung sĩ sau hai tháng, nắm giữ quyền chỉ huy chiến đấu.

p222

Huân chương “Trái tim Tím” (i.e. “Tri ân Bội tinh,” dành cho những người lính bị thương hoặc thiệt mạng) duy nhất mà anh ta đã được ban cho, mặc dù anh ta bị đánh trúng trên ba trường hợp riêng biệt bởi mảnh bom kẻ thù, là điển hình cho những người lính mà anh ta phục vụ với họ vốn là những người thường hay từ chối việc di tản hoặc việc nhìn nhận những vết thương của họ, thay vào đó qua việc lựa chọn ở lại với bạn bè của họ trong rừng bụi cây vốn là những người cần đến những lính đó.
Được yêu cầu chính thức cho một huân chương “Sao Bạc” (i.e. “Anh dũng Bội tinh”) bởi vị “thuyền trưởng” của mình, là John Ripley, phần tưởng thưởng bị hạ cấp xuống huân chương “Sao Đồng” (i.e. “Anh hùng Bội tinh”) vốn được cấp cho trong suốt thời gian khi ban lãnh đạo của Tiểu đoàn 3, TQLC 2, đã từng thẳng thắn một cách bủn xỉn trong việc ban phát những huy chương dũng cảm.

(Huân chương “Trái tim Tím” (“Tri ân Bội tinh”)
dành cho những người lính bị thương hoặc thiệt mạng)

(Huân chương “Sao Bạc” (“Anh dũng Bội tinh”)
hạng 3 cho lòng dũng cảm)

(Huân chương “Sao Đồng” (“Anh hùng Bội tinh”)
hạng 5 cho tính chất anh hùng)

Được miễm khỏi nhiệm vụ hoạt động vào ngày 10 tháng Hai năm 1968 –gần hai năm tính đến ngày từ lúc nộp thủ tục vào quân đội của anh ta– Chuck Goggin đang ở vùng Bãi biển Vero, tiểu bang Florida, chín ngày sau đó có mặt cho cuộc tập luyện dã cầu mùa xuân với tổ chức đội dã cầu Dodgers. Trong khi những người đồng đội trước đây của anh ta vốn là những người vẫn còn ở lại Việt Nam, đã chiến đấu một trăm cuộc đấu súng trong suốt cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, anh Chuck hiện thời thoát ra bên ngoài và tách khỏi điều đó, thời gian nầy đáng lẽ là đánh trận theo nghĩa bóng để tạo nên một đội.
Trong số các đồng đội dã cầu của anh ta, có ít hoặc không có cuộc thảo luận gì cả về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, bỏ qua bất kỳ câu hỏi nghiêm túc nào liên quan đến sự tham gia trong nó của anh Chuck. Điều duy nhất mà hầu hết trong số họ quan tâm về đó là họ không phải ra đi. Trong thực tế, nhiều người trong số các đấu thủ dã cầu mà anh ta biết, đã thực sự gia nhập vào lực lượng dự bị phòng và các đơn vị Vệ binh Quốc gia với chủ kiến bày tỏ về việc tránh phải phục vụ ở Việt Nam. Huân chương “Trái tim Tím” hoặc “Sương Tím” (i.e. theo cách gọi của những cựu chiến binh Hoa Kỳ), tất cả đều giống nhau đối với những người quan tâm nhiều hơn trong việc theo đuổi bất cứ điều gì có để theo đuổi trong việc bắt đầu lại cuộc sống.
Từ cuộc huấn luyện mùa xuân vào năm 1968 qua suốt cho đến mùa hè năm 1971, trong khi không hẳn là khá hỗn loạn như hoạt động ở phía bắc Quân khu I, cuộc sống của anh Chuck là một vết mờ chuyển động không ngừng trong một thế giới vốn quay ngược 180 độ thành thế giới dã cầu. Theo sau cuộc tập luyện mùa xuân lần đầu tiên của mình, chính là đội dã cầu AA ở thành phố Albuquerque lớn nhất của tiểu bang New Mexico cho giải đấu mùa hè, giải đấu mùa đông ở tiểu bang Arizona, nơi mà anh ta được quản lý bởi một người đàn ông quý phái mà ông ta riêng biệt thích được gọi là Tommy Lasorda. Năm sau, vẫn còn ở với tổ chức đội dã cầu Dodgers và vẫn được quản lý bởi ông Lasorda, chính là đội dã cầu AAA ở thành phố Spokane, thuộc tiểu bang Wahsington. Từ đó anh ta được trao đổi với tổ chức Pirates cho một đấu thủ ném banh trẻ tên là Jim Bunning.
Việc chơi cho đội dã cầu AA và AAA ở thủ phủ Columbus thuộc tiểu bang Ohio, thành phố Charleston thuộc tiểu bang South Carolina, và thành phố Waterbury ở tiểu bang Connecticut, thậm chí có thời gian tạo dựng nghề nghiệp để chơi dã cầu mùa đông ở Mexico.

p223

Qua hết tất cả cuộc đấu, qua những vết thương vô số mà qua đó bao gồm một thương tích gãy mắt cá chân nghiêm trọng, Chuck Goggin chịu đựng và thúc đẩy về phía trước, qua việc cào bò đường đi lên của mình lên. Đầy hy vọng, anh ta sắp sửa tạo cho nó trở thành những đội chính.
Đến mùa hè năm 1971, vẫn không phải là một ngày vốn trôi qua mà anh Chuck không nghĩ về thời gian ở Việt Nam của mình. Đến mùa hè năm 1971, quả thật chính là một ngày hiếm hoi mà anh ta từng nói hết về kinh nghiệm ở Việt Nam của mình.
Mùa hè năm 1971, Chuck Goggin đã kết hôn với cả môn dã cầu và một cô dâu mới. Anh ta tiếp tục di chuyển về phía trước. Việt Nam đã là một kinh nghiệm mà anh ta sẽ không bao giờ trao đổi cho bất cứ việc gì. Nhưng anh ta cảm thấy vui mừng, đối với anh ta, chính là lịch sử và không còn là một sự kiện hiện tại.

C- Trong đất nước… Phần hai:

Chuyến bay vào trong phi trường Tân Sơn Nhứt thì không có chuyện gì xảy ra. Đại úy George Philip chưa bao giờ được thực hiện chuyến bay xuống Sài Gòn trước khi trên chuyến quân vụ lần đầu tiên của mình. Toàn bộ kinh nghiệm ở Việt Nam của anh ta chỉ như là nó đã từng xảy ra cho hầu hết những binh lính TQLC;(pc 01) việc đi đến, việc chiến đấu, việc đi tuần, tất cả đã diễn ra trên phía bắc Quân khu I.
Khi đến, anh George được gặp gỡ bởi hai vị cố vấn anh em vốn là những người làm phấn chấn tinh thần anh ta qua bất cứ việc gì là những quá trình nhập cảnh tại phi trường. Ngoại trừ những vị trí đôi khi được chất đầy bao cát dọc theo tuyến đường vào trong thành phố và sự hiện diện của quân đội và cảnh sát Việt Nam, điều khó khăn để nói vào tháng Tám năm 1971 rằng có một cuộc chiến tranh đang tiếp diễn.
Sài Gòn đang đầy tiếng ồn với cuộc sống và buôn bán. Thưởng thức quang cảnh và sự hoạt động, nhưng kinh ngạc ở cách những người lái xe, George Philip chắc chắn rằng anh ta sẽ trở thành một người bị thiệt mạng trong nhiệm vụ trên chuyến xe đi vào từ phi trường vào một ngày nào đó.
Từ phi trường, họ lái xe thẳng đến những trụ sở của Quân đoàn TQLC Việt Nam, một nơi gọi là Bộ Tư Lệnh, ở trung tâm Sài Gòn. Được đón chào gia nhập vào đội ngũ bởi viên Sĩ quan Điều hành người Mỹ của Bộ Tư lệnh Cố vấn Hoa Kỳ, anh ta cũng được cho những bộ đồng phục rằn ri như cọp (anh George đã gởi những số đo kích thước của mình qua trước để cho những bộ đồng phục mà tất cả các vị cố vấn mặc, được cắt may thích hợp, sẽ sẵn sàng cho anh ta khi đến nơi.) và chiếc mũ lệch bê-rê cá biệt mà anh ta sẽ đội trong suốt chuyến quân vụ một năm của mình.

p224

Khi trời vào cuối ngày và các vấn đề tiến hành thủ tịch nhập cảnh và việc làm quen với vùng đất lạ dù sao sẽ mất vài ngày, anh George được tư do tạm thời, vì thế anh ta có thể đến khách sạn Splendid, cũng ở trung tâm Sài Gòn, nơi mà hầu hết các vị cố vấn giữ lại một căn phòng.
Mặc dù anh ta rất ư là mệt mõi, anh ta nhập vào một nhóm gồm những vị Thiếu tá, và Đại úy, tất cả đều thâm niên đối với anh ta, vốn là những người trở lại từ chiến trường buổi chiều tối đó tại Hòa Bình, một câu lạc bộ của sự lựa chọn cho các vị cố vấn sáng suốt ở Sài Gòn. Rõ ràng từ lúc anh ta ngồi xuống, trước khi anh ta có thể nhấp ly bia đầu tiên của mình, mà qua đó sự tụ tập kỳ lạ nầy của các sĩ quan TQLC Mỹ thực sự là rất đặc biệt. Anh ta biết ngay lập tức là anh ta đang ở trong một đại đội của thứ vĩ đại. Điều đó như thể là anh ta đã rơi vào một phiên bản của nhóm người hùng rừng xanh Robin Hood trong thế kỷ hai mươi. Nhóm Những người Vui vẻ này Chúc mừng thì độc đáo đối với kinh nghiệm của anh ta.
Hy vọng chữa lành hoặc phục hồi từ trạng thái mệt mõi qua nhiều múi giờ và chuyến bay dài của mình và việc nghỉ sớm để bù lại cho giấc ngủ, anh ta đã không thể có mặt trên chuyến bay của mình đến đó, anh ta cố gắng bào chữa cho mình. Thiếu tá Andy DeBona, một trong những người vui vẻ nhất trong số Những người Vui vẻ vốn là người có thể đã thông báo cho chính anh chàng to con Little John, làm cho vị Đại úy trẻ khỏi nghĩ sai lầm về ý tưởng không dành toàn bộ buổi chiều tối trong cuộc vui với tất cả những người khác.* Khi anh ta George trịnh trọng cố gắng rời khỏi, vị Thiếu ta hỏi anh ta:
“Thế, anh bạn nghĩ, anh bạn định đi đâu?”

Anh George cố gắng để giải thích.
“Cái quái gì thế anh bạn. Anh bạn sẽ ở lại đây và uống với chúng tôi!”

Anh George bị mắc kẹt ở đó. Tất cả lời mà vị Đại úy rất non nớt có thể nói, với lòng nhiệt tình nhiều như bất kỳ vị chuẩn úy nào của Học viện Hải quân, là “Dạ, dạ thưa ông!”
=============
* Như là một sĩ quan chỉ huy của Đại đội M, Tiểu đoàn 3, TQLC 26 vào tháng Chín năm 1967, Andy DeBona đã được trao tặng huân chương Chữ thập Hải quân cho tính chất anh hùng phi thường trong suốt một trận chiến đẫm máu riêng biệt với Quân Bắc Việt trong vùng lân cận của Cồn Thiên. Ông DeBona đã là một huyền thoại trong số những binh lính bộ binh TQLC. Những hoạt động của ông ta như là một vị cố vấn cho Tiểu đoàn 7 của TQLC trong suốt cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh sẽ chỉ nâng cao danh tiếng của ông ta như là một chiến binh.

(Trung tá TQLC Andrew D. DeBona)

(Huân chương “Chữ thập Hải quân” (“Xuất sắc Bội tinh”)
hạng 2 cho bản chất anh hùng xuất sắc)

=============

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 02_ “… ít hơn 600 người được giao công việc với nhiệm vụ cố vấn.” : điều nầy cho thấy rằng trong 6 năm từ năm 1965–1971, là thời gian mà những binh lính bộ binh Mỹ tham chiến thực sự ở miền Nam Việt Nam. Kể từ năm 1971 trở về sau, chỉ còn là những vị cố vấn, bắt đầu là con số ít oi chưa đến 600 người và một số ít phi công trực thăng với nhiệm vụ chính là giữ an toàn mạng sống cho những vị cố vấn Mỹ bằng bất cứ giá nào. Vì vậy có những trường hợp về việc tái tiếp tế đạn dược, vũ khí, ngay cả tải thương cũng phải bỏ qua, trong khi những binh lính VNCH ở những vùng hẻo lánh, xa xôi thiếu hẳn khả năng tiếp tế lúc bị bao vây bởi Cộng quân.
Tuy nhiên, không thể trách được nhiệm vụ chính yếu đó của những phi công trực thăng Hoa Kỳ, đó là chưa nói đến con số phi công không đủ chi dùng ở miền Nam Việt Nam trong khi họ cũng phải trải rộng hoạt động khắp nơi đến nổi khi cần đến, chỉ được vài chiếc còn có thời gian nhưng cũng phải đợi khi nhiệm vụ khác tạm xong.
Vấn đề lần nữa được đặt ra là thế còn những phi công Việt Nam ? Họ chưa đủa khả năng làm việc hay không có lệnh cho phép hành động ? Và ai, phía bên Mỹ hay miền Nam Việt Nam mới có quyền ra lệnh cho những chuyến phi vụ ? Và nếu giả như cho là đó là quyền chỉ huy của QĐVNCH,(pc 03) kể từ năm 1971 trong chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, có phải chăng trong giới tướng lãnh của QĐVNCH có vấn đề tị hiềm nhau đến nổi họ sẵn sàng bỏ thí những binh lính –của một binh chủng nào đó mà họ cho là phụ thuộc vào phe khác chính kiến– bị chết oan uổng mặc dù ngay cả đó là những chiến binh kiêu hùng, những lực lượng trọng yếu, mạnh mẽ nhất của QĐVNCH ? Hay đó là một trong những mưu toan chính trị của chính quyền Hoa Kỳ muốn làm yếu đi một quân đội do chính họ tận tình rèn luyện và rất tốn kém đầu tư, trong chính sách ngoại giao thay đổi mới với phe Cộng sản qua những cuộc thương lượng đánh đổi vì lợi ích an ninh quốc gia của chính riêng họ hơn hết ? Và những lợi ích xa hơn về kinh tế trao đổi, thế lợi đầu tư, và lợi nhuận từ những hợp đồng trong tương lai với Trung cộng của giới tài phiệt tư bản Mỹ vốn nằm trong hành lang chính trị của lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ ? Hay chỉ đơn giản hơn là một trong những mưu tính của phe khác chính kiến trong QĐVNCH muốn củng cố thế lực hơn hầu nắm quyền chính phủ, như trường hợp Chiến dịch Hạ Lào năm 1971 hay còn được gọi là Chiến dịch Lam Sơn 791 đã từng xảy ra trước năm bầu cử 1972 ở miền Nam Việt Nam, giữa hai đối thủ Nguyễn Văn Thiệu đương kim Tổng thống và Nguyễn Cao Kỳ đương nhiệm Phó ?
Trong số một vài những câu hỏi nầy, chỉ hy vọng rằng, tác giả sẽ hé chút ánh sáng ở những phần sau.

pc 03_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Advertisements

One thought on “Phần 16: Trở ngược Lại

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s