Phần 15: Trở lại Hoa Kỳ

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p203

Phần 15: Trở lại Hoa Kỳ

Việc sửa đổi cho thích ứng trở lại cuộc sống ở Mỹ có những thách thức của nó. Đối với rất nhiều cựu chiến binh trở lại từ Việt Nam, một khía cạnh làm xoắn thắt ruột, tạo ra cảm giác bồn chồn nhất của việc phục vụ của họ thì không phải đối phó với sự khủng khiếp mà họ đã từng trải nghiệm từ một nơi rất xa mà đôi khi trở lại họ trong những biến dạng sống động khi họ ngủ. Điều đó không phải là mỗi một người trong số họ vốn là những người phục vụ và sống sót, đã mất đi những người bạn trong những cách hiềm thù, ác độc nhất, hoặc không phải là những người khác vốn đã bị mất đi một phần thân thể và sẽ mãi mãi bị thay đổi về thể chất và lẫn bị thiệt hại về cảm xúc vì đã đáp lại lời kêu gọi phục vụ của quốc gia họ. Điều gì đó làm phiền George Philip hơn bất cứ điều gì khác, điều gì đó làm bối rối anh ta và hầu hết các người bạn đồng hướng của anh ta đang làm việc ở đó tại Trường Thí sinh Sĩ quan, là cách mà họ được đối xử khi họ trở về quê nhà bởi những người đã không từng phục vụ.
Vào mùa xuân năm 1970, sau khi đã thông qua bốn loạt những thí sinh sĩ quan như là vị chỉ huy trung đội, anh George được tái nhiệm như là giảng viên tại Trường Thí sinh Sĩ quan. Như phần nhiều bất cứ ai có thể thích thú nhiệm vụ đó, anh ta cũng vậy.
Vào khoảng cùng thời gian mà những lực lượng Mỹ và Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) xâm nhập Campuchia để theo sau mạng lưới Đường mòn của Hồ Chí Minh rộng lớn và hệ thống của các khu dự trữ tiếp liệu mà những lực lượng của Quân Bắt Việt, cho đến thời điểm này, được cho phép sử dụng mà hoàn toàn không bị trừng phạt, Thiếu úy George Philip cảm thấy bồn chồn và không cảm thấy khá thoải mái trong việc giảng dạy các lớp học tại Trường Thí sinh Sĩ quan. Phải có một cái gì đó hơn nữa mà anh ta có thể làm.
Buồn chán với việc làm an toàn, thường lệ mà hiện thời được phân công cho anh tại Trường Thí sinh Sĩ quan, anh George đang tìm kiếm cái gì khác, một cái gì đó hơn là việc xào xới những giấy tờ mà qua đó sẽ có hành động và ý nghĩa. Anh đã nghe nói từ những người khác về những cơ hội cho các sĩ quan có nghạch rồi trong những lãnh vực đặc biệt về nghể nghiệp quân sự khác nhau chuyển đổi qua cộng đồng hàng không. Viễn ảnh của việc lái những chiếc trực thăng trong cuộc chiến kích thích cảm giác phiêu lưu vẫn chưa chán của anh ta.

p204

Anh George đã cưỡi những chiếc trực thăng trong chia sẻ công bằng ở Việt Nam, đã đích thân nhìn thấy những phi công của Quân đội và lẫn Thủy quân Lục chiến (TQLC) làm một cách thành công thứ công việc cực kỳ dựng đứng tóc, dũng cảm đi vào trong và ra khỏi những bãi đáp “nóng.” Việc bay những chiếc trực thăng chắc chắn hơn hẳn việc giảng dạy các lớp học trong sự vệ sinh của môi trường cho những thí sinh sĩ quan ở đó tại Căn cứ Quân đoàn TQLC Quantico. Việc bay những chiếc trực thăng sẽ đưa anh ta trở lại vào trong công việc hành động. Việc bay những chiếc trực thăng sẽ không gây nhàm chán.
Trung úy George Philip đệ trình tất cả giấy tờ cần thiết. Anh ta có thị lực. Anh ta vượt qua các cuộc kiểm tra viết tay. Anh ta vượt qua cuộc kiểm tra về thể chất để học bay. Anh ta được chấp nhận. Anh ta được chấp nhận. Anh ta hội đủ điều kiện để khởi hành. Anh ta chuẩn bị đi đến Quân đồn Rucker ở tiểu bang Alabama để được huấn luyện bởi Quân đội.
Trong vòng những ngày được chấp nhận, Quân đoàn TQLC hủy bỏ đợt huấn luyện sắp đến. Một cú đẩy mạnh đối với tất cả những phi công hơn nữa về một sự kiện đột ngột chấm dứt một cách đơn giản và bí ẩn. Thất vọng, anh ta lấy chuyến xe đến thủ đô Washington, DC để gặp nhân viên giám sát việc làm và tìm kiếm những cơ hội khác.
Ngồi một cách trịnh trọng đối diện với một ông quý phái vốn là nhân viên giám sát việc làm cho những sĩ quan pháo binh chưa có nhiều kinh nghiệm, anh George bắt đầu cảm thấy chút lo lắng. Cẩn trọng xem xét hồ sơ chính thức có chi tiết mà Quân đoàn TQLC(pc 01) đã có về Trung úy Philip, nhân viên giám sát việc làm cảm thấy có cơ hội. Nhìn thấy như về những số điểm khác nhau của anh George như thế nào về những phần kiểm tra năng khiếu được quản lý trong những năm qua, nhân viên giám sát đề nghị một định hướng cho những ngoại ngữ và nói, có phải là anh ta sẽ không có hứng thú trong việc tham dự khóa học tiếng Việt bảy tháng tại Căn cứ Quân đội ở thành phố Monterey, tiểu bang California để cho anh ta có thể trở thành một vị cố vấn pháo binh cho Quân đoàn TQLC Việt Nam? Cảm thấy buồn nản, anh George nén lại bằng một nụ cười. Ở trường trung học, anh ta đã phải mất hai năm về môn học tiếng Tây Ban Nha cấp I. Bây giờ, Quân đoàn nói với anh ta rằng anh ta có vấn đề về những ngôn ngữ. George Philip là ai mà chất vấn sự khôn ngoan của Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ? Và bên cạnh đó, bảy tháng ở Monterey anh ta có thể chịu khó vượt qua bằng cách nào đó. Việc cố vấn, và Quân đoàn TQLC Việt Nam, anh ta không biết gì về chúng; ít nhất là chưa. Nhưng anh ta có một tâm hồn cởi mở. Vị Thiếu tá bảo anh ta suy nghĩ về việc đó trong một vài ngày. Sáng hôm sau, anh George gọi đến nhân viên giám sát việc làm. Anh ta chấp hành mệnh lệnh.

p205

A- Cuộc xâm nhập Campuchia và hậu quả của nó:

Hình phạt đáng kinh ngạc gây ra cho Quân Bắc Việt bởi việc tấn công vào các khu dự trữ không bị xâm phạm từ trước đến nay ở Cam-pu-chia thật đáng kể. Những lực lượng Mỹ và QĐVNCH(pc 02) đã tiến hành, theo Tổng thống Nixon, “một hoạt động quân sự thành công nhất của Chiến tranh Việt Nam”.1 Từ ngày 29 tháng Tư đến ngày 30 tháng Sáu năm 1970, những lực lượng đồng minh, với một tổn phí được gộp chung của 1.200 người bị thiệt mạng trong nhiệm vụ, giết chết nhiều hơn gấp mười lần con số đó của quân địch. Thêm vào đó, và có lẽ trong số những sự kiện quan trọng lớn hơn, sự gián đoạn việc cung cấp và hậu cần đối với những khả năng hoạt động của đối phương thì khổng lồ. Hàng ngàn tấn gạo, hàng triệu viên đạn của những loại đạn dược khác nhau, và tất cả các loại cung cấp quan trọng khác bị tịch thu hoặc bị phá hủy. Những khả năng tạo ra chiến tranh và chiến đấu của Quân đội Bắc Việt / VC bị ảnh hưởng thật đáng kể.
Những hoạt động của Quân Bắc Việt và Việt Cộng bị giảm dần, riêng biệt là trong cả hai vùng Quân khu III và IV của miền Nam Việt Nam (Quân khu III là vùng quân khu vốn bao gồm Sài Gòn và Quân khu IV là khu vực phía nam thành phố) cho những lực lượng Mỹ khoảng trống sinh tồn lớn hơn cho việc rút lui có trật tự khỏi quốc gia, cho phép vấn đề “Việt Nam hóa chiến tranh” xảy ra dưới áp lực nhẹ hơn đáng kể của đối phương. Sự giảm bớt những khả năng của Cộng sản cũng kéo dài thời gian cho QĐVNCH phát triển xa hơn những kỹ năng chiến đấu đang cải thiện và lòng tự tin đang hiện thời đâm chồi của họ.

(Bản đồ 4 Quân khu của miền Nam Việt Nam)

Tiểu đoàn 3, với Đại úy Bình như là một Sĩ quan Điều hành, tham gia như là một phần của Lữ đoàn 147 trong chiến dịch Cam-pu-chia. Trong khi không phải là một việc dễ dàng, địa hình mà họ làm việc, hoàn toàn là lợi thế của họ chống lại kẻ thù vốn là những người đã làm được rất ít để chuẩn bị cho chiến trường. Từ quan điểm của anh ta như là một Sĩ quan Điều hành, sứ mệnh mà họ được giao, là một nhiệm vụ tốt. Chỉ với những tổn thất nhỏ, những người của Sói Biển có thể gây thiệt mạng cho nhiều, rất nhiều người Cộng sản.

B- Anh George ở Thành phố Monterey:

Công tác của George Philip ở Học viện Ngôn ngữ Quốc phòng (Defense Language Institute = DLI), được đặt trong phạm vi khoảng cách tiếng vang của Trường Sau bậc Cử nhân chuyên nghiệp của Hải quân Hoa Kỳ (Naval Post Graduate School = NPGS), sẽ là trong bảy tháng.
Có một câu nói đùa xa xưa mà qua đó thực sự là việc biểu lộ và quấy phá nhẹ nhàng nhiều hơn là nực cười:

p206

“Anh bạn gọi một người nói ba ngôn ngữ là gì?
_ Người nói ba thứ tiếng.”
“Anh bạn gọi một người nói hai ngôn ngữ là gì?
_ Người nói hai thứ tiếng.”
“Anh bạn gọi một người chỉ nói một ngôn ngữ là gì?
_ Người Mỹ.”

Nhiệm vụ của Học viện Ngôn ngữ Quốc phòng là, trong một cách rất nhỏ, cải thiện vấn đề cụ thể đó. Trên khuôn viên của nó, những người đàn ông và phụ nữ đang phục vụ trong những cơ quan khác của quốc gia thuộc chính phủ và quân sự được dạy bằng những ngôn ngữ quan trọng đối với việc tiến hành chính sách đối ngoại và thu thập tình báo. Việc đào tạo bằng các ngôn ngữ trong một loạt khác nhau từ tiếng Nga rõ ràng hơn, tiếng Hoa phổ thông, và tiếng Tây Ban Nha đến ngôn ngữ bí truyền hơn như tiếng Swahili, tiếng Farsi, Tiếng Hindi, nhà trường cũng đã dạy những sinh viên bằng các ngôn ngữ mà một công dân Mỹ trung bình thậm chí chưa bao giờ nghe nói tới. Những giảng viên, đặc biệt là những người vốn dạy các khóa học quan trọng cho việc phòng ngự Chiến tranh Lạnh, thường buộc phải di tản những người tị nạn từ các nước gần đây chống lại sự áp bức của Cộng sản. Một kinh nghiệm ở Monterey, trong cùng một nơi mà Eric Burdon đã ghi nhận trong bài hát mô tả các sự kiện tại Đại nhạc Hội trẻ năm 1967, thì hoàn toàn dễ chấp nhận. Như anh Burdon đã kêu lên: “Ngay cả những tên cốm (i.e. cảnh sát) cũng nhảy nhót với chúng ta…”
Vào những lần, gần như không thể nào nhớ lại rằng có một cuộc chiến tranh diễn ra. Nhiều người trong số những người bạn cùng lớp của anh George ở Học viện Hải quân Hoa Kỳ Annapolis, hầu hết là những sĩ quan Hải quân, là những sinh viên vừa xong tại Trường Sau bậc Cử nhân Hải quân Hoa Kỳ. Trong suốt thời gian mà anh ta ở đó, anh ta chơi cho đội dã cầu vô địch của họ.

(Một phần phía trước của Trường Sau bậc Cử nhân Hải
quân Hoa Kỳ, thuộc thành phố Monterey, tiểu bang California)

(Học viện Ngôn ngữ Quốc phòng, Trung tâm Ngoại Ngữ,
ở thành phố Monterey, gần bên Trường Sau bậc Cử nhân
Hải quân Hoa Kỳ)

Quy cũ thường lệ của lớp học thật nghiêm ngặt nhưng không phải không thể theo được. Được giảng dạy bởi một nhóm giảng viên vốn là tất cả những người đều được sinh ra ra ở một vùng gì đó mà bây giờ là miền Bắc Việt Nam và sau đó đã thực hiện cuộc ly hương vào năm 1954 đến miền Nam Việt Nam, mỗi người trong số họ có những câu chuyện về tài sản bị tịch thu và những người thân trong gia đình bị giết hại một cách tàn nhẫn và dã man bởi những người Cộng sản. Mỗi ngày là sự chìm ngập toàn thể lớp học trong sáu tiếng với hai hoặc ba giờ làm bài tập ở nhà theo yêu cầu.
Như là một sĩ quan độc thân, anh George có những nguồn tài chính để mua một chiếc xe gắn máy. Trong suốt thời gian nghỉ ngơi và những ngày nghỉ cuối tuần, anh ta thường theo hướng về phía nam trên Quốc lộ 1, thưởng thức vẻ đẹp tráng lệ ven biển của những nơi như là thị trấn ven biển Big Sur. Một thời gian ngắn sau khi đến, anh ta đã gặp gỡ và trở nên gắn liền với một cô gái trẻ đầy thu hút vốn là người dạy trường tiểu học ở thị trấn ven biển Carmel (i.e. nằm gần thành phố Monterey hơn thị trấn Big Sur.)

(Quốc lộ 1 chạy qua dọc theo chân núi qua thị trấn ven biển Big Sur
với cây cầu nổi tiếng Bigby Creek hiện đại sau nhiều lần xây dựng
lại từ thời “Cuộc đổ xô Tìm vàng,” chạy. Tuy là một phong cảnh
hùng vĩ, nhưng cũng là một quốc lộ gây nhiều nguy hiểm nhất vì
nạn sạt núi từ trên xuống, và lỡ đất dưới chân quốc lộ)

p207

Mà qua đó George Philip, như là một sinh viên ngữ học tại Học viện Ngôn ngữ Quốc phòng và thậm chí sau khi đã phục vụ toàn bộ chuyến quân vụ trong khu vực Đông Nam Á, trong lần đầu tiên đang thực sự học hỏi một cái gì đó của nền văn hóa Việt Nam và tương tác với người Việt Nam, là lời phê bình mỉa mai và đáng buồn về cách người Mỹ đang tiến hành chiến tranh. Giống như 90% những người Mỹ khác vốn là những người đã đến Việt Nam sau năm 1964 nhưng về cơ bản vẫn ở bên trong cái kén vô định hình của nền văn hóa Mỹ, anh ta đã không từng có sự tương tác thực sự nào với những người dân Việt Nam bình thường, đã không hình thành bất kỳ mối quan hệ hoặc tình bạn nào bên ngoài vòng tròn của những người bạn đồng hướng TQLC của anh ta. Hầu hết những lính Mỹ tiếp xúc với người Việt Nam chỉ nếu và khi nào họ phải làm, và từ những quan niệm hạn chế đó, những kinh nghiệm hiếm khi là phần tốt.

C- “Những hình nhân lính Thiết và ông Nixon Xuất hiện… “:

Bị mất đi trên báo chí tường thuật về những cuộc giao tranh xung quanh cuộc xâm nhập Cam-pu-chia và kết quả của nó là một tác động hữu hiệu, trực tiếp mà cuộc xâm nhập có trên tinh thần của những người vốn chiến đấu ở đó. Trong khi không có một binh sĩ Mỹ nào muốn là người cuối cùng bị thiệt mạng khi quá trình Việt Nam hóa chiến tranh đang tiếp tục diễn ra, có sự cứu trợ lớn trong số những người vốn đã từng chiến đấu trên bộ tại nơi xuất hiện của việc cuối cùng lột bỏ những quy tắc giao tranh như của đế quốc trung cổ Byzantine (i.e. đế quốc nguyên thủy của đế quốc trung cổ Đông La Mã –ám chỉ sự độc đoán) hoàn toàn vô lý mà qua đó ngăm cấm những người Mỹ làm một công việc hoàn hảo và kỹ lưỡng trong sự cố gắng tiêu diệt kẻ thù của họ và trong các khu vực căn cứ của mình.
Trước khi vượt qua vào trong những khu dự trữ tiếp liệu bất khả xâm phạm ở Cam-pu-chia, những lực lượng Mỹ, trong 5 năm dài đó, giống như những chú chó hoạt hình canh giữ bị xích cổ và có thể phòng vệ và thống trị, tuy nhiên không hoàn hảo, chỉ tiến xa như sợi dây xích có thể đạt đến. Cho đến cuối tháng Tư năm 1970, những sợi dây xích đó giữ họ bên trong những vùng biên giới của Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Những lực lượng Cộng sản, giống như con thỏ hoạt hình tinh ranh Bugs Bunny hoặc con vịt đen ngờ nghệch Daffy Duck đối nghịch với con chó canh giữ thiếu may mắn, thì tự do như ở nhà một khi họ vượt qua những vùng biên giới ma thuật của Lào hoặc Cam-pu-chia, và sẽ thường xuyên và rất tượng hình đưa ngón tay lên mũi chế nhạo những đối thủ Mỹ của họ vốn là những người, giống như chú chó tức giận trên lớp phim hoạt hình được đề cập ở trên, không thể làm gì nhiều hơn là lên tiếng sủa và gầm gừ và bị đuổi đi.

(Những lực lượng Mỹ như những con chó hoạt hình canh
giữ chỉ tiến xa như sợi dây xích có thể đạt đến)

(Con thỏ tinh ranh Bugs Bunny hoặc con vịt đen ngờ nghệch
Duffy Duck là biểu tượng cho những người Cộng sản)

p208

Hơn 12.000 cán binh Bắc Việt bị thiệt mạng ở Cam-pu-chia bởi các lực lượng của Mỹ và QĐVNCH(pc 02) đã không nhất thiết phải chết một cách vô ích. Sự đánh trả nhanh chóng từ các cuộc giao tranh được ra lệnh bởi Tổng thống Nixon đi đến một chi phí to lớn về chính trị trong nước. Với quan niệm mới cho rằng chiến tranh đang được mở rộng ở đó là một sự náo động gần như tức thời trên khắp đất nước. Trên hàng trăm và hàng trăm khuôn viên đại học với hàng ngàn và hàng ngàn sinh viên nổi dậy trong cuộc biểu tình phản đối bằng bạo lực.

(Nhóm sinh viên Sài Gòn cầm đầu thách đố với chính quyền miền
Nam Việt Nam, qua vai trò chủ động bên trong của Cộng sản,
nhưng được Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ của miền Nam Việt
Nam bao che vì mục đích muốn tranh giành chức vụ Tổng thống
trong kỳ bầu cử sắp tới)

(Dân vùng lân cận Sài Gòn biểu tình vào năm 1966 dưới sự điều
động của Việt Cộng: “Chúng tôi muốn hòa bình. Thằng Mẽo không
có quyền xen vào trong những chuyện nội bộ của người Việt”)

(Cuộc bạo loạn ở vùng ngoại ô Sài Gòn do Việt Cộng xúi
giục, định tràn vào thành phố vào ngày 31/10/1974. Điều
mà họ mong muốn sẽ là điều mà họ không ngờ được sau nầy)

Thảm kịch tại Đại học Tiểu bang Kent bất tử trong bài hát của Crosby, Stills, Nash, và Young, đã trở thành nguyên nhân khích động cuộc tranh luận rộng rãi cho phong trào chống chiến tranh được hồi sinh. Bất cứ là những động cơ nào của họ, những người biểu tình phản chiến trở thành những đồng minh có ý thức và không có ý thức đối với ban lãnh đạo Cộng sản Việt Nam vốn là những người, với sự sáng suốt sắc bén, đã tinh khôn quan sát sau những sự kiện của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 mà qua đó trung tâm hấp lực cuộc chiến đã chuyển dời từ các khu rừng và những cánh đồng lúa của vùng Đông Nam Á đến chính trường của Mỹ.
Chiến tranh và mọi thứ về nó, từ một quan điểm chính trị trong nước, đang lăn bánh ngoài sự kiểm soát. Mà qua đó những Vệ binh Quốc gia sẽ gây thiệt mạng những sinh viên không có vũ khí, chỉ đơn giản xác nhận với nhiều người trong số những người chống đối thủ chiến tranh rằng mỗi một sự kiện về Việt Nam vốn chắc chắn có vấn đề, không cần biết là bất chính hoặc xấu xa hoặc thối nát, tất cả là sự thật.
Hơn hẳn là một mụt nhọt đơn thuần, quá mức, khôn tả xiết mà qua đó bôi nhọ danh dự của Quân đội Mỹ, nhiều người hiện thời tin rằng những hành động tại làng Mỹ Lai là cách mà những lực lượng Mỹ thường xuyên tiến hành những hoạt động. Ở quê nhà, không cần biết là câu chuyện thái quá như thế nào –và nguồn tin có thể là một người nào đó vốn biết một người nào khác vốn là người biết một người khác nữa vốn lại là người quen với một người nào khác vốn có người bạn của đứa con của người anh hay em họ đang làm việc trong cơ quan cung cấp tiếp liệu mơ hồ nào đó– có những câu chuyện kể lại được thêm thắt, được lặp đi lặp lại và được chấp nhận như là thực sự, được kể đi kể lại, về những hành động tàn bạo và những hành vi đã thương người bạn đồng ngũ và nạn xì-ke và nhiều và nhiều nữa. Bởi vì nó là Việt Nam, không có gì là quá mức khó tin, nếu chính là điều tồi tệ, đến không thể tin.*
=============
* Nhiều người quen thuộc với những sửa đổi của câu chuyện cục Tình báo Trung ương Mỹ về một cơ quan bị cáo buộc điều hành xì-ke vốn được tin rất rộng rãi, và cũng được trình bày một cách kém cỏi bởi giới truyền thông nước ngoài với sự trợ giúp của các dịch vụ tình báo thù nghịch nhưng khi được nghiên cứu một cách chính xác, điều đó không bao giờ có thể được chứng thực –(tác giả Curtis Peebles, cuốn sách “Twilight Warriors” (“Những Chiến binh Ẩn hiện,” trang 254, 255).
=============

p209

Ở Washington, sự đáp ứng trực tiếp về chính trị đối với cuộc xâm nhập Cam-pu-chia là một nỗ lực nhằm hạn chế quyền lực tiến hành một cuộc chiến tranh của Tổng thống mà không có sự phê duyệt rõ ràng của Quốc hội. Nhiều người tin rằng ngành hành pháp, bắt đầu với Tổng thống Franklin Roosevelt, đã và đang dần dần lấn chiếm thẩm quyền tạo nên chiến tranh được ban cho theo đúng với hiến pháp của Quốc hội. Tu chính án Cooper–Church(pc 03) là một Luật bổ sung đầu tiên nhằm hạn chế những quyền lực Tổng thống trong suốt một cuộc chiến tranh. Chủ ý của nó là để từ chối việc tài trợ cho bất kỳ lực lượng trên bộ nào của Mỹ đang được sử dụng tại Lào và Cam-pu-chia sau ngày 30 tháng Sáu năm 1970.
Luật bổ sung ban đầu không được thông qua. Trong khi đó, dù sao đi nữa, những lực lượng Mỹ đã kéo trở lại vào trong những vùng biên giới của miền Nam Việt Nam. Một phiên bản được duyệt lại và làm cho nó yếu đi đã thông qua cả hai nhà hạ viện và thượng viện vào cuối tháng Mười Hai và trở thành luật vào đầu tháng Giêng năm 1971. Việc đặt những hạn chế tối thiểu trên việc sử dụng sức mạnh Không quân trong tương lai, việc sử dụng tiếp theo những lực lượng trên bộ của Mỹ ở bất cứ nơi nào trong khu vực Đông Nam Á, nằm ngoài lãnh thổ VNCH,(pc 04) ngay cả đối với những người trong vai trò cố vấn cho quân đội miền Nam Việt Nam cũng bị ngăn cấm một cách rõ rệt.
Hoạt động tiếp theo của VNCH được trù tính tận dụng những thành công của cuộc bắn phá khu dự trữ tiếp liệu của đối phương ở Cam-pu-chia từ tháng Tư đến tháng Năm năm 1970 vốn được gọi là Chiến dịch Lam Sơn 719. Vùng Khe Sanh, cùng một nơi mà TQLC Hoa Kỳ đã từng chiến đấu với Quân Bắc Việt trong cuộc bao vây 77 ngày nổi tiếng vào năm 1968, sẽ được sử dụng như là khu vực bàn đạp chính cho các lực lượng của VNCH. Trong Chiến dịch Lam Sơn 719, những đơn vị của VNCH cuối cùng sẽ dùng đến Khe Sanh theo cách mà Tướng Westmoreland đã hình dung trước đó qua việc sử dụng căn cứ chiến đấu cũ.
Mục đích của Chiến dịch Lam Sơn 719 là tấn công vào những khu dự trữ của Quân Bắc Việt và chiếm giữ những phần tử huyệt của hệ thống Đường mòn Hồ Chí Minh tại Lào, xa về phía tây như thị trấn Tchepone, qua việc làm cùn những khả năng thực hiện cuộc chiến bên trong miền Nam Việt Nam của đối phương. Đối với VNCH, hoạt động to lớn ít ra sẽ là việc quan trọng và tham vọng cho nỗ lực chiến tranh như bước đột phá Cam-pu-chia trước đó.
Đến cuối tháng Giêng năm 1971, là thời gian khởi sự của Chiến dịch Lam Sơn 719, Tu chính án Cooper-Church(pc 03) đang có hiệu lực đầy đủ. Những lực lượng trên bộ của VNCH sẽ vẫn dựa vào rất nhiều tất cả các cách thức hỗ trợ không lực của Mỹ. Từ những cuộc không kích ào ạt trong Chiến dịch Arclight của máy bay B-52 xuống đến vô số phi vụ của máy bay chiến thuật dội những trái bom sắt và bom hóa chất phát quang trong khoảng gần của những hoạt động bộ binh, không lực Mỹ là rất quan trọng.

p210

Quan trọng hơn cả là sự hỗ trợ của máy bay thả bom và máy bay chiến đấu–dội bom vốn là sự phụ thuộc vào hàng trăm và hàng trăm chiếc trực thăng của Quân đội Mỹ được đòi hỏi cho việc xen lẫn vào, khai thác, tái tiếp tế, tải thương, trinh sát, chỉ huy và kiểm soát và hỗ trợ hỏa lực. Những sĩ quan chiến trường của Mỹ vốn là những người phục vụ như là những vị cố vấn cho các đơn vị của QĐVNCH(pc 02) và TQLC(pc 01) khác nhau được tham chiến, những người vốn là những đôi mắt và bộ não rất cần thêm để trợ giúp trong việc tổ chức cho trận chiến và, đặc biệt nhất là, vốn là những người thường xuyên phối hợp việc sử dụng tất cả sức mạnh hỏa lực được cung cấp bởi Mỹ, họ sẽ phải ở lại Khe Sanh và lắng nghe về cuộc giao chiến trên những đài truyền tin trong khi họ ngồi với nó ở ngoài trong những hầm trú được xây lại.
Bằng bất kỳ biện pháp nào, Chiến dịch Lam Sơn 719 là một chủ trương lớn. Vị Tướng của QĐVNCH được ban cho quyền chỉ huy chiến dịch là cùng một người vốn đã từng nắm quyền tất cả các lực lượng của miền Nam Việt Nam trong Vùng I Quân sự (Military Region I = MR I), được biết đến đối với những người Mỹ như là Quân khu I, từ năm 1965.2 Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm có một danh tiếng khá tốt đối với những người Mỹ. Trong số các sĩ quan cao cấp của TQLC, tuy nhiên, có rất ít sự yêu thích bị mất đi dành cho Tướng Lãm.
Để thực hiện những mục đích đầy tham vọng của Chiến dịch Lam Sơn 719, Tướng Lãm đã có sẵn cho ông ta một cuộc tập hợp rất ấn tượng của các đơn vị QĐVNCH. Cùng với Sư đoàn 1 Bộ binh, những tài sản súng pháo và xe thiết giáp dư thừa, Tướng Lãm có quyền tùy ý sử dụng gần như toàn bộ lực lượng Trừ bị Chiến lược Quốc gia; cả lực lượng Dù và TQLC.(pc 01) Chiến dịch Lam Sơn 719 sẽ là ngay lần đầu tiên mà lực lượng TQLC bước vào chiến trường được sử dụng như là một sư đoàn.3

(Chuẩn tướng Dư Quốc Đống của binh chủng Dù VNCH)

(Những cánh Dù “Thiên thần Mũ đỏ” của QĐVNCH)

Hàng loạt 64 ngày hoạt động của những trận chiến đang tiến hành tiếp tục diễn ra từ ngày 30 tháng Giêng thông qua ngày 24 tháng Ba năm 1971. Trong khi binh lính miền Nam Việt Nam nhận lãnh những tổn thất đáng kể, sự kiện được chấp nhận chung rằng họ đã giết chết một số lượng Quân Bắc Việt lớn hơn vốn là những người đã tương tự như thế đưa vào một số trong những đơn vị giỏi nhất của họ và các nguồn tiếp liệu to lớn để chống lại các lực lượng của QLVNCH và TQLC. Khi chiến dịch hoàn thành, có một vài tranh luận nào đó về vấn đề chỉ là bao nhiêu lợi ích đã đạt được. Trong thực tế, và với một ít phô trương của báo chí, một phần lớn thiệt hại đã được tạo ra, giống như bước đột phá trước đó ở Cam-pu-chia, trên Quân Bắc Việt.

(Một trong những khu dự trữ tiếp liệu bất khả xâm phạm của Cộng
quân ở vùng biên giới Lào, Cam-pu-chia được biến thành chiến
công của những chiến sĩ VNCH trong Chiến dịch Lam Sơn 719)

(Cuộc triển lãm chiến thắng vào đầu Xuân 1972 của TQLCVN)

p211

Từ quan điểm của sách lược Nixon với một mục đích hướng tới Việt Nam hóa chiến tranh, Chiến dịch Lam Sơn 719 là một thảm họa về những quan hệ công chúng. Mỗi sự yếu đuối và nhược điểm của miền Nam Việt Nam được ghi chép và đánh dấu bởi giới truyền thông phía Tây phương. Những vấn đề khó khăn dành cho QĐVNCH(pc 02) bắt đầu với sự can thiệp vào việc điều hành hoạt động bởi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, như là một quan chức được đắc cử trong một nền dân chủ non trẻ, vốn là người đã quá nhạy cảm đối với sự thiệt hại về chính trị của việc nhận lấy những thương vong quá nhiều. Ban lãnh đạo Cộng sản ở Hà Nội không phại chịu áp lực như thế.
Đã có những thách thức về quyền chỉ huy, quyền kiểm soát và quyền phối hợp nào đó vốn đã tồn tại, mà qua đó được rêu rao cho mọi người biết đến bởi giới báo chí vô cảm. Sự trình bày kéo dài, trở lại Chiến dịch Lam Sơn 719 trên phương tiện truyền thông Tây phương là cuốn phim của những binh lính QLVNCH đang cố gắng một cách bạo lực leo lên chiếc trực thăng rút quân ra hoặc tái tiếp tế. Những cảnh quay được này được đưa ra chiếu đi chiếu lại ở Hoa Kỳ khi có nhiều phần trong số những đoạn phim gây chấn động từ cuộc Tổng tấn công dịp Tết năm 1968. Hầu hết mọi người trở về nhà có sự khó khăn trong việc đồng cảm với những người lính vốn là những người dường như không sẵn sàng chiến đấu cho đất nước của họ trong khi những người Mỹ đã thực sự bị chảy máu quá nhiều rồi để giúp đỡ, và vẫn đang làm như thế bằng cách cung cấp tất cả sự hỗ trợ của trực thăng cho toàn bộ hoạt động trong suốt thời gian mà nhiều chiếc trong số những phi đoàn đó bị bắn hạ và giết chết.
Phần bề mặt nổi đối với Chiến dịch Lam Sơn 719 sẽ hoàn toàn trôi đi không được chú ý một khi các phóng viên nộp những báo cáo của họ. Như là đối với cuộc xâm nhập Cam-pu-chia, những lực lượng Quân Bắc Việt và các nguồn tiếp liệu của họ đã bị ảnh hưởng một cách tác hại. Điều này được ghi nhận rộng rãi bởi tình báo đồng minh mà qua đó nhìn thấy những sút giảm trong cuộc xâm nhập trên Đường mòn Hồ Chí Minh và hành động khởi sự của kẻ thù trên các chiến trường khắp tất cả miền Nam Việt Nam trong những tháng sau đó.4

(Những người dân bị Cộng quân bắt đi tải đạn, súng ống mà
phần lớn như là món nợ từ Liên Xô, nhất là Trung Cộng,
để tiếp tục tiến hành chiến tranh ở miền Nam Việt Nam)

(Những thanh niên miền Bắc cũng không cách nào trốn khỏi
cái “nghĩa vụ” chuyển súng đạn trên con đường băng rừng
núi vào Nam được gọi là Đường mòn Hồ Chí Minh)

Cách làm việc của TQLC trong suốt Chiến dịch Lam Sơn 719, trên cán cân, được công nhận là khá tốt. Lòng dũng cảm và những hy sinh của riêng những binh lính TQLC, tuy nhiên, phần lớn bị gây tổn hại bởi sự ngược đãi tổ chức thái quá từ những trụ sở chính cao hơn của QĐVNCH của họ. Những ganh đua gay gắt giữa những binh chủng và sát hại lẫn nhau trong số các sĩ quan cao cấp, tiêu biểu là sự hận thù nổi tiếng của Tướng Lãm đối với Quân đoàn TQLC Việt Nam, và sự không ưu thích dành cho ông ta được phản ảnh bởi Trung tướng Khang (gần đây được lên chức từ Thiếu tướng) và những vị cấp úy hàng đầu của ông ấy, chỉ tăng trưởng dữ dội hơn.
Chiến dịch Lam Sơn 719 là bất cứ điều gì ngoại trừ sự lập chuyến đi tương đối dễ dàng mà những lực lượng TQLC đã từng có với đối phương thù hận của họ chỉ vài tháng trước đó ở Cam-pu-chia. Cuộc chiến lần nầy, trên một địa hình thách thức hơn, những binh lính TQLC phải trả một giá rất cao hơn cho sự đau đớn mà họ đã gây ra.

(Trung tướng Hoàng Xuân Lãm thân cận với Tổng thống
Nguyễn Văn Thiệu hơn về mặt chính trị, là vị tướng thuộc
binh chủng Thiết giáp, thường có nhiều đố kỵ với TQLC,
nắm toàn quyền trong Chiến dịch Lam Sơn 791)

p212

Với anh Bình vẫn như là một Sĩ quan Điều hành, Tiểu đoàn 3 đang hoạt động như là một trong những đơn vị cấu thành của Lữ đoàn 258. Hầu hết hành động của TQLC được tập trung gần một nơi có tên là Co Roc. Một địa hình đầy núi có rừng rậm dày đặc là kẻ thù phần nhiều như Quân Bắc Việt kiên quyết. Cuộc chạm trán nặng nhất dành cho Tiểu đoàn Sói Biển (i.e. Tiểu đoàn 3) là khi Tiểu đoàn 1 đã bị tấn công bởi một trung đoàn Bắc Việt và Tiểu đoàn 3 công kích vào trong một mặt của Quân Bắc Việt để giải tỏa áp lực trên những binh lính TQLC anh em của họ. Khi cuộc chiến đấu dịu xuống và những lực lượng của QĐVNCH và TQLC(pc 01) rút trở lại vào trong miền Nam Việt Nam, anh Bình và nhóm chỉ huy mà anh ta kiểm soát, là trong số những người cuối cùng rời khỏi chiến trường bằng trực thăng đến Khe Sanh.
Sự trợ giúp rộng rãi về hậu cần và việc lên kế hoạch càng ngày được đòi hỏi khi lực lượng TQLC tiếp tục tăng trưởng trong kích thước. (Tiểu đoàn thứ chín của Bộ binh đã được bổ sung thêm vào năm 1970.) Việc duy trì đầy đủ 2/3 những đơn vị của nó trong chiến trường, trong Quân khu I, trong hoạt động, luôn luôn, đặt trước một sự căng thẳng khủng khiếp trên hạ tầng cơ sở yễm trợ đang phát triển. Những sĩ quan cao cấp Việt Nam và Mỹ cùng nhau lên kế hoạch và vạch ra vô số các yêu cầu để chăm lo những binh lính TQLC chiến đấu và những gia đình của họ được ngụ ở trong và xung quanh Thủ Đức. Việc thiết lập những nguồn tiếp liệu được dành cho việc xây dựng làm gia tăng những cơ sở tạo nơi ngụ cho gia đình, sự hỗ trợ về y tế, và nhiều và nhiều nữa.
Việc giữ những người lính chiến đấu và gia đình của họ được dưỡng nuôi một cách đúng cách là một vấn đề khác mà những người hoạch định cố gắng giải quyết. Những gia đình quân nhân được khuyến khích trồng rau và lúa cho riêng mình trên những thửa đất được kiểm soát bởi lực lượng TQLC để bổ sung vào tiền lương ít ỏi và các nguồn cung cấp hiện có. Như là một điều thú vị bên cạnh đó, được ghi nhận trong suốt Chiến dịch Vũ Ninh XII, mà qua đó diễn ra trước Chiến dịch Lam Sơn 719, là nhiều binh lính TQLC vốn là những người đã từng có mặt trong chiến trường ở phía bắc Quân khu I trong những giai đoạn kéo dài, cuối cùng đã được bốc đi bằng trực thăng với các triệu chứng giống như bệnh sốt rét. Vỡ ra là những người lính, trên thực tế, đang khốn đốn vì những thiếu hụt chất đạm trong cử ăn của họ mà qua đó là một trận chiến dễ dàng thắng hơn là trận chiến riêng với những con muỗi.

(Những người lính VNCH đang ngồi trên một chiếc xe
tăng T-54 của Cộng quân bị tịch thu, trong cuộc triển
lãm tại Công trường Lam Sơn, vào năm 1972)

Cách giải quyết về chất đạm, một phần được đưa ra bởi vị cố vấn tháo vát có tên là Gene Harrison. Trước khi đạt được nghạch vụ của mình, Thiếu tá Harrison đã từng là người trồng trọt và là nhân viên quận –vị cố vấn của chính phủ giúp đỡ người dân nông thôn với những phương pháp trồng trọt và vấn đề kinh tế gia đình– ở tiểu bang Florida.

p213

Câu trả lời của anh ta cho việc cải thiện mức tiêu thụ thịt cho lực lượng TQLC(pc 01) là đi đến Philippines và tìm ra một giống heo tốt hơn, chắc thịt hơn mà qua đó sẽ mang lại nhiều thịt hơn. Thiếu ta Harrison trở thành một người rất được yêu mến đối với những người lính, mà thậm chí còn được cảm kích hơn bởi các gia đình ở Thủ Đức.5 Tiếp theo việc giới thiệu về giống heo mạnh khoẻ hơn, sung mãn hơn, chính là một chuyến bay tái tiếp tế hiếm hoi về hướng bắc từ phi trường Tân Sơn Nhứt mà qua đó không có một con heo nhà nào hoặc hai hoặc ba con trên sàn tàu cho các tiểu đoàn khác nhau để bổ sung vào phần ăn gì đó mà họ sẽ tìm mua được ở địa phương.

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 02_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 03_ Tu chính án Cooper–Church : (Cooper–Church Amendment) đã được giới thiệu ở Thượng viện Hoa Kỳ trong thời gian Chiến tranh Việt Nam. Dự kiến đề nghị về Luật bổ sung nầy là lần đầu tiên mà Quốc hội đã hạn chế việc khai triển những quân lính trong suốt cuộc chiến tranh chống lại những mong muốn của Tổng thống. Luật bổ sung, tìm cách nhằm :
1. Chấm dứt việc tài trợ để giữ lại những quân lính bộ binh và các vị cố vấn quân sự của Hoa Kỳ ở Cam-pu-chia và Lào sau ngày 30 tháng Sáu năm 1970.
2. Ngăn cấm những hoạt động không lực trong không phận Cam-pu-chia trong sự hỗ trợ trực tiếp của những lực lượng Cam-pu-chia mà không có sự chấp thuận của Quốc hội.
3. Chấm dứt sự ủng hộ của Mỹ cho những lực lượng của Việt Nam Cộng hòa bên ngoài lãnh thổ miền Nam Việt Nam.

Luật bổ sung nầy được trình bày bởi Thượng nghị sĩ John Sherman Cooper và Frank Church và được kèm thêm vào một dự luật lớn, là Đạo luật Bán hàng Quân sự Nước ngoài (HR 15628). Sau sự cản trở thông qua đạo luật ở nghị viện bảy-tuần và cuộc tranh luận sáu-tháng, Luật bổ sung nầy đã được phê chuẩn bởi Thượng viện với số phiếu 58 chống lại 37 vào ngày 30 tháng Sáu năm 1970. Dự luật này đã thất bại trong Hạ viện, vốn chống đối điều bao gồm của Luật bổ sung nầy với số phiếu 237 chống lại 153. Tổng thống Richard M. Nixon đe dọa sẽ phủ quyết dự luật nếu nó có chứa những điều khoản của Tu chính án Cooper-Church, và Dự luật Hỗ trợ Nước ngoài sau đó được thông qua mà không có nó.
Tu chính án Cooper–Church tác được sửa đổi, số Luật Phổ biến là 91-652, được thông qua cả hai viện của Quốc hội vào ngày 22 tháng Mười Hai năm 1970 và được ban hành vào ngày 5 tháng Giêng năm 1971, mặc dù phiên bản này đã hạn chế những giới hạn về những hoạt động không lực và được kèm thêm vào Đạo luật Hỗ trợ Nước ngoài Bổ sung của năm 1970.
Vào thời điểm đó, các lực lượng bộ binh của Hoa Kỳ đã chính thức rút quân khỏi Cam-pu-chia rồi, trong khi những phi vụ thả bom của Hoa Kỳ ở Cam-pu-chia (qua Chiến dịch Cách-giải-Quyết-Quyền- Tự-do –Freedom Deal) tiếp tục cho đến năm 1973. Chính quyền Nixon lên án tất cả các phiên bản của dự luật tu chỉnh, tuyên bố rằng họ làm tổn hại nỗ lực quân sự và làm suy yếu vị thế mặc cả của Mỹ tại các cuộc đàm phán hòa bình Paris.
Tác giả David F. Schmitz phát biểu rằng dự luật tu chỉnh là một bước ngoặt trong lịch sử phản đối chiến tranh, những sáng kiến của Quốc hội nhằm mang cuộc chiến đấu đến sự kết thúc, và những cố gắng nhằm kiểm soát quyền hành pháp trong chính sách đối ngoại.

pc 04_ VNCH : Việt Nam Cộng hòa.

One thought on “Phần 15: Trở lại Hoa Kỳ

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s