Phần 14: Trở lại Việt Nam

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p187

Phần 14: Trở lại Việt Nam

Cũng vào năm 1971, những sinh viên Mỹ tiếp tục phản đối cuộc chiến tranh cùng với những bất công được nhận thức và thực tế khác. Từ sức mạnh cao điểm của 543.400 đạt được vào tháng Tư năm 1969, lòng nhiệt thành của Tổng thống Nixon rút ra khỏi khu vực Đông Nam Á đã đưa số lượng những binh lính ở Việt Nam xuống đến 430.000 trước cuối năm 1969. Mười hai tháng sau đó, chỉ có 280.000 quân còn lại (i.e. vào năm 1970). Một vài cái gì đó khuyến khích thêm, ít nhất là từ quan điểm giới hạn của việc cố gắng “Việt Nam hoá” chiến tranh, là số lượng ngày càng giảm bớt của những người Mỹ bị thiệt mạng trong nhiệm vụ. Những cái chết của Quân đoàn Thủy quân Lục chiến (TQLC) đã đi từ 4.634 vào năm 1968 đến một con số ít hơn một nửa vào năm 1969. Trong năm 1971, một tổng số 41 quân nhân TQLC bị thiệt mạng trong nhiệm vụ trong Vietnam.1 Đối với mọi người vốn không được tham gia trong cuộc chiến đấu hoặc bị kẹt trong các trại tù của đối phương, Việt Nam đang trở thành chỉ là một ký ức đớn đau, tuy gần đây.
Đến tháng Bảy năm 1971, những đơn vị chính quy chiến đấu trên bộ cuối cùng của Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ đã rời khỏi Việt Nam.(pc 01) Đến cuối tháng Mười Hai, một số ít hơn 160.000 người Mỹ vẫn còn ở Việt Nam, và trong số những người đó, ít hơn 1.000 người trong số họ là những quân nhân TQLC.

(Những sĩ quan Hoa Kỳ trở về nước Mỹ)

(Những binh lính TQLC Hoa Kỳ cũng kết thúc nhiệm
vụ của họ ở Việt Nam vào năm 1971)

Với chương trình Việt Nam hóa chiến tranh được công bố rộng rãi của Tổng thống Nixon được tiến hành tốt đẹp, Quân đoàn TQLC(pc 02) đang cố gắng sự quay về “trạng thái bình thường” của nó và tập trung sự chú ý trở lại trên những cam kết khác trên toàn cầu của nó –là một việc “mỗi xứ xở và mỗi nơi chốn.” Đối với những binh lính TQLC trước năm 1965 và sau 1971, “trạng thái bình thường” có nghĩa là nhiệm vụ tại một vài điểm trên đảo Okinawa một lần nữa –theo một cách yêu thích và lẫn chế giễu được đề cập đến như là “Hòn Đá.” Như là một Phụ tá Trung tá, thời gian của Gerry Turley đã đến thêm một lần nữa, cho một chuyến quân vụ khác không người tháp tùng trong 1 năm đến Hòn Đá.

p188

Việc thảo luận về những cơ hội việc làm hiện có cho một người với những kỹ năng và cấp bậc của mình, sự thăm dò của anh Gerry cũng làm cho anh ta nhận thức về một công việc ở Việt Nam. Đơn vị Cố vấn TQLC, một tổ chức mà nhiệm vụ chính của nó là cung cấp tất cả những sĩ quan cố vấn của bộ binh và pháo binh cho các tiểu đoàn khác nhau của TQLC, đang cần đến một số lượng gồm hai người, đại loại là vai trò sĩ quan điều hành với danh hiệu “Phụ tá Cố vấn Cao cấp TQLC.” Nếu anh Gerry muốn nó, công việc của anh ta.
Trong tâm trí của anh ta, anh Gerry tập hợp một bảng quân bình trong đầu cho mỗi địa điểm. Đối với cả Việt Nam và Hòn Đá, anh ta sẽ xa cách khỏi người vợ Bunny và những đứa trẻ trong một năm dù là thế nào đi nữa.
Nhiệm vụ trên đảo Okinawa sẽ có các tiện nghi hiện đại của nó: anh ta có thể ăn bửa ngon, ngủ trong các khu sạch sẽ dành riêng cho sĩ quan, có tình bạn thân, tao nhã với những quân nhân TQLC(pc 02) mà anh ta đã biết và phát triển cho tình bạn mới với những người khác. Anh ta sẽ khá an toàn. Anh ta có lẽ sẽ có, liên quan đến nhiệm vụ trước đó của mình ở Việt Nam, một công việc không có nhiều nguy hiểm đến thể chất. Khi anh ta không làm việc, anh ta có thể vận động thể dục hoặc đọc sách hoặc nghĩ ngơi hoặc tự mình dự xa hơn vào công việc của mình vì không có ai về nhà vào ban đêm.
Nhiệm vụ trên đảo Okinawa cũng sẽ không phải là việc dễ làm. Đến cuối năm 1971, Quân đoàn TQLC, cùng với tất cả các thành phần phục vụ, bị nhiễm dịch với cuộc đua vi khuẩn hiểm và những vấn đề ma túy. Một cuộc cách mạng văn hóa vốn bắt đầu từ những năm trước đó đã biểu lộ trong Quân Đoàn cũng như với những hậu quả khủng khiếp, liên tục diễn ra, và chưa được giải quyết. Những vấn đề lãnh đạo nghiêm túc đã từng phát triển mà qua đó anh Gerry và tất cả bạn bè thuộc Quân đoàn Xưa của mình đã không bao giờ có thể tưởng tượng chỉ một ít năm trước đây. Một nhà sử học và là bình luận gia được tôn trọng rộng rãi, Đại tá Robert Heinl, Jr. thuộc Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ (Giải ngũ), vào tháng Sáu năm 1971 đã quan sát những thách thức đang diễn ra trong tất cả các thành phần phục vụ và phát biểu rằng tình hình hiện nay chứng minh một “tình trạng thấp nhất của tinh thần quân đội trong lịch sử của nước Mỹ.”2

(Thị trấn Naha, trên đảo Okinawa, vào năm 1971, đã
có những xe buýt, xe hơi, dù dân số không nhiều)

(Sau 37 năm, hòn đảo nhỏ bé của Nhật biến dạng văn
minh hơn vào năm 2008)

Trên đảo Okinawa, anh ta sẽ bận rộn trong hoàn cảnh sống của nó, và như là phong cách của mình, anh biết rằng anh sẽ tình nguyện cho nhiệm vụ được phân công khó khăn nhất. Nếu một cái gì đó bị phá vỡ, Gerry Turley sẽ làm tất cả như anh ta có thể, nhờ Thượng Đế, để sửa chữa cho nó. Nếu có một công việc có danh hiệu là “Sĩ quan Kiểm soát Ma túy và Bạo loạn Chủng tộc thuộc Sư đoàn 3 TQLC,” Trung Tá Turley đã có thể giơ tay lên để nhận nó, không phải vì anh ta muốn làm việc đó, nhưng bởi vì đó sẽ là điều đúng nên làm.

p189

Đơn vị Cố vấn TQLC ở Việt Nam là một tổ chức khá nhỏ; một số ít hơn 60 người với hầu hết trong số họ được chuyển ra ngoài để hỗ trợ 9 tiểu đoàn bộ binh và 3 tiểu đoàn pháo binh. Nhiệm vụ như là người nắm quyền chỉ huy thứ hai có thể sẽ liên quan đến nhiều việc hậu cần và giấy tờ, có lẽ là một ít tiếp xúc với cuộc chiến; có thể là không nhiều quá, có thể chỉ là một ít hỏa lực gián tiếp của kẻ thù từ lần nầy đến lần khác.
Cũng được biết đến rộng rãi trong số các sĩ quan TQLC rằng những người vốn phục vụ như là những vị cố vấn cho các tiểu đoàn khác nhau của TQLC thường là trong số những vị Đại úy và Thiếu tá giỏi nhất, sáng suốt nhất, và có thành tích nhất của bộ binh và pháo binh trong Quân Đoàn. Ở Việt Nam sẽ không có thời gian cho các vấn đề ma túy và phân biệt chủng tộc. Ngay cả mặc dù các đơn vị Mỹ không còn chiến đấu, “Việt Nam hóa chiến tranh” có nghĩa là miền Nam Việt Nam đang chiến đấu thêm phần lớn nữa, và những vị cố vấn của họ cũng thế. Khi mà một số lượng là hai người, anh ta chắc chắn sẽ không được kỳ vọng sẽ dẫn dắt những binh lính vào hoặc ra khỏi con đường nguy hiểm, nhưng vai trò lãnh đạo, những kỹ năng điều hành, và kinh nghiệm của anh ta có thể ít ra là có giá trị đối với những người đang làm công việc nâng lên nặng nề. Giống như cộng đồng nhỏ bé của Lực lượng Biệt động mà anh ta đã từng trải qua trong những năm trước của mình, theo bản năng anh ta biết rằng sự liên hiệp của anh ta với nhóm nhỏ đồng bộ, riêng biệt của những chiến binh sẽ là một công việc bổ ích hơn. Anh ta vừa mới thuyết phục người vợ Bunny rằng đó là một bước đi đúng. Cho dù cô ấy có tin anh ta hay không, cô ta sẽ lặng lẽ tán thành quyết định của anh ta, anh ta đã nhất định.

(Trung tá Gerry Turley Ripley như là vị phụ tá cố vấn
cao cấp cho TQLC Việt Nam vào năm 1972)

A- Gia đình Ripley Giữa những chuyến Quân vụ:

Có lẽ có một cái gì đó trong dòng nước chảy ngược về thị trấn Radford, tiểu bang Virginia. Có lẽ, chính là cách nấu ăn đặc biệt ở nhà của bà Verna Ripley hay chỉ là phong cách người làm cha của ông Bud Ripley. Trong khi nó không phải là độc nhất, chắc chắn không phải là mọi gia đình người Mỹ vốn tự hào và nhất quyết đặt ba đứa con trai ở Việt Nam, trong cuộc chiến, cùng một lúc. Mà qua đó tất cả họ đều đã sống còn qua những chuyến quân vụ của họ, thì không phải là một phép mầu nhỏ nhặt.
Sau khi hoàn tất thời gian của mình như là một sinh viên tại Trường Chiến tranh Lội nước (Amphibious Warefare School = AWS) ở Căn cứ Quân đoàn TQLC Quantico, một nhiệm vụ nghiêm túc, không được say xỉn rất thường hay phục vụ qua những tiểu tiết về tang lễ tại Trụ sở Quân đoàn TQLC, việc may tốt đẹp mỉm cười một lần nữa trên vị Đại úy trẻ, nghiêm túc, và một gia đình đang mở rộng của anh ta. Được chọn lựa để phục vụ như là một sĩ quan trao đổi với TQLC của Hoàng gia Anh, sự nghiệp của John Ripley quả thật đang bắn ra tất cả các nòng súng.

p190

Mối quan hệ giữa Quân đoàn TQLC(pc 02) Mỹ lớn hơn nhiều và lâu đời nhất của thế giới và thậm chí hơn quân đoàn nhỏ bé bị ràng buộc theo truyền thống của TQLC Hoàng gia được cho là mối quan hệ đặc biệt nhất và mang tính chất huynh đệ đích thực được hưởng ứng bởi bất kỳ hai lực lượng phục vụ quân đội nào của hai quốc gia khác nhau trong lịch sử hiện đại. Như là một lực lượng phục vụ nhỏ hơn nhiều, những binh lính TQLC Hoàng gia là một bộ binh chuyên biệt hơn với bộ trang phục giống như những đơn vị Biệt kích của Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ và Lực lượng Biệt kích, hoặc Biệt động Quân Hoa Kỳ.
Đối với một sĩ quan TQLC Mỹ được lựa chọn cho nhiệm vụ này đòi hỏi quốc thư về vai trò lãnh đạo không tỳ vết cũng như sự cứng cỏi về thể chất phân ranh giới trên cực độ. Việc phục vụ với TQLC Hoàng gia yêu cầu rằng vị sĩ quan trao đổi hoàn tất khóa học Biệt kích rất nghiêm ngặt và nguy hiểm đến thể chất. Ngay cả mặc dù những người được lựa chọn để tham dự phải được sàng lọc kỹ lưỡng trước, không có gì khác hơn là sự gan dạ, trí tuệ bén nhạy, không dễ bỏ cuộc dưới những điều kiện huấn luyện khủng khiếp, và một chút ít may mắn bảo đảm sự thành công trong việc vượt qua được của anh ta.
Trong khi nhiều phần trong số những kỹ năng về kỹ thuật mà anh John được tiếp xúc trong suốt thời gian của mình với những Biệt kích quân, thì mới mẻ, hầu hết trong số họ chỉ đơn giản là được củng cố thêm và được nhấn mạnh về những bài học đáng giá mà anh ta đã từng học được ở Trường Biệt kích và trong trường đời thực sự ở Việt Nam. Ít khi nào anh ta biết rằng phần nhiều trong số những kỹ năng đó một lần nữa sẽ sớm trở nên hữu dụng.
Việc thách thức về thể chất và tinh thần như một cuộc huấn luyện ban đầu và tất cả những nơi đóng quân tiếp theo sau là nhiệm vụ –người Anh chuyên biệt một cách nặng nề trong cùng một thứ về “mỗi xứ xở và mỗi nơi chốn” như những người anh em Mỹ của họ– khi anh ta chưa sẵn sàng được khai triển, cũng là theo nghi thức lạ thường và yêu cầu một số thời gian lớn cho việc giải trí. Trong khi anh John hoàn tất việc thụ huấn dưới thời tiết lạnh ở Na Uy, thụ huấn trong sa mạc ở Aden, hoặc thụ huấn chiến tranh trong rừng ở Malaya, đôi khi dưới những điều kiện chiến đấu thực sự, người vợ Moline gần như luôn luôn đang làm một cái gì đó để nâng cao hoặc duy trì những mối quan hệ ngoại giao thân hữu với các chủ khách người Anh của họ.
Dòng họ Ripleys đã từng mong đợi sự ra đời của đứa con thứ ba của họ khi họ đến đó; đứa con trai thứ hai Thomas được sinh ra ở Anh Quốc và được xếp sau người chị Mary hơn ít tuổi của cậu bé. Anh John và cô Moline không thể cảm thấy hạnh phúc hơn nữa trong suốt thời gian đóng quân nầy. Cùng nhau, họ thực sự biết rằng, nếu anh ta sống sót đủ lâu dài, những người bạn mà họ làm quen trên chuyến quân vụ riêng biệt nầy, sẽ là những người bạn suốt đời.

p191

John Ripley là điển hình trong số nhiều sĩ quan của Quân đoàn TQLC vốn là những người, như những thanh niên, không đòi hỏi những khoảng thời gian dài của lần ngưng nghĩ giữa những công tác gai go và vốn là những người, trên thực tế, có thể đã bị ngột ngạt khi không được kéo giãn và thử thách một cách liên tục. Được tiếp xúc qua sự thăm dò của mình trong khi phục vụ với người Anh, anh ta được cho biết về một cơ hội để trở lại vào trong Việt Nam như là một vị cố vấn bộ binh cho TQLC Việt Nam. Lúc bấy giờ, việc tái khai triển tất cả các đơn vị chiến đấu trên bộ của Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ ở ngoài khu vực Đông Nam Á đã gần như hoàn thành, anh ta háo hức chấp nhận thử thách như là nhiệm vụ cố vấn mà nó là một hoạt động thực sự duy nhất vẫn còn hiện có.
Từ nước Anh xưa cũ vui nhộn, trở ngược lại tiểu bang Virginia chỉ đủ lâu để an bài cho người vợ Moline và những đứa con gần ông bà nội trong khi anh ta sẽ đi xa. Chính là trong suốt thời gian khoảng giữa đó, một bi kịch đập vào gia đình Ripley lớn hơn.
Vị Thiếu tá 33 tuổi Mike Ripley, một năm và ít tháng lớn tuổi hơn em trai John, đã từng bước vào Quân đoàn TQLC(pc 02) qua chương trình Tuyển sinh Sĩ quan Hàng không (Aviation Officer Candidate = AOC) trong khi anh John là một sinh viên Chuẩn úy tại Học viện Hải quân. Giống như hai người em của mình, anh Mike là một người đàn ông có sức mạnh thể chất đặc biệt, và có sự phối hợp của tay–mắt và vô kể các kỹ năng khác cần đến để điều khiển máy bay hoạt động hữu hiệu cao.
Ban đầu được chỉ định để bay những chiếc phi cơ A-4 –là chiếc phản lực tấn công, một chỗ ngồi, được cải tiến của Quân đoàn Hải quân và TQLC, vốn được sử dụng chủ yếu cho việc hỗ trợ của không lực trong khoảng cách gần; lúc trở về từ những phi vụ chiến đấu ở Việt Nam, anh ta được chọn để bước vào chương trình thử nghiệm máy bay của Quân đoàn Hải quân / TQLC được đặt tại sông Patuxent ở tiểu bang Maryland.
Những phi công thử nghiệm được cứu xét tổng quát, trong cộng đồng hàng không, là những người giỏi nhất trong số những người giỏi. Không chỉ họ được đòi hỏi là những mẫu người cứng cỏi về thể chất, sự làm việc liên tục và rất sinh động của họ thường phụ thuộc vào những khả năng của họ giải quyết tức thời những vấn đề phức tạp và chuyển dịch thông tin không liên quan trở thành những đáp ứng rất quan trọng. Ngoài ra, là một phi công thử nghiệm chỉ là một việc làm đơn giản là nguy hiểm, dĩ nhiên, thêm vào sự quyến rũ của công việc.

p192

Major Mike Ripley, đã kết hôn và là cha của ba đứa con nhỏ dưới sáu tuổi, sẽ tiếp tục trở thành biển thử nghiệm người phi công thử nghiệm đầu tiên của TQLC trong chương trình mà qua đó đang phát triển máy bay tấn công VSTOL loại AV-8A Harrier cho Quân Đoàn. Kỹ thuật VSTOL –vốn thay thế cho “Vertical/Short Take-Off and Landing” (“Cất cánh và Đáp Thẳng đứng/Ngắn đoạn”)– là loại mới vào đầu thập niên 1970s và chiếc máy bay lúc đầu bị tai nạn với những vấn đề hoạt động chính yếu mà qua đó có thể được tìm ra bởi rất nhiều và rất nhiều bàn tay đóng góp vào việc bay thử được thực hiện bởi những phi công thử nghiệm có khả năng, dũng cảm nhất.

(Chiếc phản lực tấn công AV-8A Harrier (do hảng Hawker Siddeley
Harrier sản xuất), còn có tên là “chiếc Phản lực Nhảy” (“Jump Jet”),
có khả năng cất lên và đáp xuống thẳng đứng trong khoảng ngắn,
cũng như đứng yên một chỗ trên không, được bắt đầu vào năm
1969, và cuộc thử nghiệm toàn diện khả năng vào năm 1971)

Theo chính quan niệm của anh Harrier, nếu nó có thể đạt đến những mục đích của chương trình, nó phù hợp một cách lý tưởng với sứ mệnh viễn chinh của Quân đoàn TQLC. Bởi vì máy bay có thể cất cánh hoặc đáp xuống từ một vị trí lơ lửng, việc cần đến những boong tàu của hàng không mẫu hạm to lớn với những cái máy phóng phi cơ bằng hơi nước hoặc những đường băng dài bằng xi măng được giảm thiểu. Theo lý thuyết, phi cơ Harrier sẽ dễ dàng tác chiến từ bất kỳ con tàu nào với không trống trên boong thích hợp để phóng đi và thu lại như một chiếc trực thăng. Trên bờ biển, những chiếc máy bay có thể được ẩn nấp trong hàng cây và sau đó phóng ra để đưa đến tất cả các loại chết chót và hủy hoại trên kẻ thù từ những khu vực khá nhỏ, trống trơn.
Nếu phi cơ Harrier có thể được sử dụng đến mức tiềm năng tối đa, sự phụ thuộc vào một hạm đội để bảo vệ những binh lính TQLC đang công kích vào vị trí đầu cầu tranh chấp nào đó có thể được giảm rất nhiều. Những vị Đô đốc hàng không mẫu hạm Mỹ đánh giá cao khái niệm về vấn đề không bị ràng buộc vào việc hạ bãi để bảo vệ những binh lính TQLC đang trên bờ biển trong các cuộc xung đột trong tương lai, đặc biệt là trong ánh sáng của mối đe dọa đang phát triển từ Hải quân Sô-Viết. Những nhà kế hoạch cho TQLC vui mừng khi có thêm cú đấm địa phương mà phi cơ Harrier sẽ đưa đến cho những lực lượng trên bộ cho dù máy bay được sử dụng trong sự hỗ trợ trong khoảng không gian gần hoặc một vai trò không kích vào sâu.
Phi cơ Harrier AV-8A có được rất nhiều hứa hẹn. Trước khi nhận thức được tất cả những lợi ích đó, vẫn còn có một danh sách dài và dài của những vấn đề cần được sửa chữa nhằm mục đích làm cho máy bay trở nên hoàn hảo hơn đối với khoản tiền đầu tư của nó. Tại thời điểm này trong sự phát triển của nó, phi cơ Harrier đáng tiếc là một mối đe dọa lớn hơn đối với những người lái nó hơn là đối với những kẻ thù mà cuối cùng nó sẽ được sử dụng chống lại.
Một cuộc điều tra ban đầu, mà qua đó sau này được chứng thực vững chắc thêm bởi một cuộc điều tra chính thức và chi tiết hơn, trong tai nạn vốn đã đưa đến cái chết của Thiếu tá Mike Ripley cho thấy rằng trong khi thực hiện điều khiển phi đạn vào một mục tiêu ngay đó trong vịnh Chesapeake gần sông Patuxent,

p193

chiến phi cơ AV-8A Harrier của anh ta không đáp ứng khi anh ta cố gắng kéo cần bay ra khỏi màn bổ nhào tấn công mà anh ta đã ở trong đó. Một điều đáng thương xót duy nhất là người chồng trẻ và là cha của ba đứa nhỏ bị giết chết vào lúc chiếc máy bay của anh ta đụng mặt nước vào buổi sáng của ngày 18 tháng Sáu năm 1971.

(Thiếu tá Micheal (Mike) John Ridley tử nạn trong đợt thử
nghiệm lần đầu tiên của Quân đoàn Hải quân/TQLC trên
chiếc “Phản lực Nhảy” AV-8A Harrier vào năm 1971)

Như định mệnh sẽ là thế, một đám tang với đầy đủ những danh dự của quân đội dành cho Thiếu tá Mike Ripley được tổ chức trong vòng 24 giờ của chuyến khởi hành đến Việt Nam theo lịch trình của Đại úy John Ripley. Toàn bộ gia đình Ripley, nhưng đặc biệt nhất là ông Bud và bà Verna, phải đau khổ với việc phải nói lời tạm biệt cuối cùng của họ đến một đứa con trai và sau đó là những lời tạm biệt cuối cùng có tiềm năng đến đứa con thứ hai trong một thời gian ngắn đến như thế. Tất cả điều đó diễn ra trước mắt họ, đối với công tác đến Việt Nam của anh John, là một sự kiện khác trong mười hai tháng không chắc chắn là an toàn. Nhưng, nhiệm vụ kêu gọi sẽ luôn luôn được trả lời.

B- Anh Bình ở Khoảng giữa Vô định:

Huệ Tân, 7 năm trẻ hơn Lê Bá Bình, đã tốt nghiệp trung học vào năm 1964 và ngay lập tức gia nhập vào Lực lượng Không quân Việt Nam. Sự mở rộng nhanh chóng của tất cả các dịch vụ quân sự là một yếu tố trong sự kết hợp với các kỹ năng tiếng Anh của anh ta vốn đã nhìn thấy sự thăng chức mau chóng của mình lên Trung sĩ cho ban tham mưu trước năm 1968. Anh Tân làm việc trong vai trò liên lạc cho Văn phòng Tùy viên Quốc phòng (Defense Attaché Office = DAO).
Gia đình của anh Tân sống ngay kế bên nhà của anh Bình, chỉ khỏi con hẻm nhỏ cắt ngang đường Hai Bà Trưng, là con đường chính vốn chạy qua Tân Định. Khi còn là một cậu bé, cậu ta đã kết thân xung quanh với một trong những đứa em cùng cha khác mẹ của anh Bình làm tất cả những việc giống nhau, chơi tất cả các trò chơi giống nhau mà cậu bé Bình đã từng chơi chỉ một vài năm trước.
Đến cuối năm 1968 và trước 1969, anh Tân thường ở nhà tại nơi ngụ của cha mẹ mình khi người bạn “vai anh” của anh ta sẽ trở lại thăm. Như là tình láng giềng, theo thói thường, họ sẽ ngồi hàng giờ trong phòng tầng trệt của một trong hai nhà, nhấm nháp trà lạnh, nói chuyện về trong những điều mà những thanh niên ở mọi nơi nói về.
Trong công việc của anh ta tại Văn phòng Tùy viên Quốc phòng, anh Tân có cơ hội để tiếp xúc với những người Mỹ, và cũng nhìn thấy họ ở mọi nơi mà những nhiệm vụ thuộc lực lượng Không quân của anh ta đưa đi. Giống như anh Bình, vốn là người đã từng thích thú thời gian của mình ở Căn cứ Quân đoàn TQLC Quantico, anh Tân đã phát triển sự ưu thích và tò mò riêng biệt về những người Mỹ.

p194

Cả hai chàng thanh niên có thể bỏ qua tác động tiêu cực mà sự hiện diện của Mỹ thường mang theo nó. Trong khi, không phải tất cả người Việt Nam cảm thấy như nhau, anh Tân và anh Bình có thể không hoàn toàn hiểu lý do tại sao Hoa Kỳ gởi những đứa con của riêng mình để chiến đấu và chết nhằm giữ những người Cộng sản ở ngoài Việt Nam.
Anh Tân thích trêu chọc người anh của mình rằng người phụ nữ mới trong cuộc sống của anh bạn –và đó là điều rõ ràng đối với tất cả mọi người vào đầu năm 1969 rằng anh Bình cuối cùng, nếu anh ta không mất mạng trước, sẽ cưới Bành Cẩm– thì quá ư là đẹp đối với anh bạn mình. Và dĩ nhiên anh Tân hiểu được tính chất năng lực; anh ta hiểu rằng những người đàn ông hùng mạnh sẽ có quyền trước tiên trên những phụ nữ hấp dẫn nhất. Đó là điều rõ ràng cũng như mặt trời mọc là vào trước năm 1968 đối với bất cứ ai vốn là người quen biết anh Bình hoặc biết về anh ta, Đại úy Bình chính là một người đàn ông hùng mạnh.
Bất cứ khi nào anh Bình trở về nhà, anh ta được chở trong chiếc xe jeep của riêng mình đầy ở phía sau với ít nhất la hai người, đôi khi là ba chàng “cao bồi” hay những cận vệ sĩ. Và dường như rằng anh Bình luôn luôn phục hồi từ một vài loại vết thương chiến đấu nào đó mà anh ta sẽ không thảo luận hoặc đưa ra phần nhiều sự thừa nhận về chúng. Anh Bình sẽ không bao giờ nói chuyện về bản thân mình hoặc điều gì anh ta đã làm. Chính là lúc khi anh ta đi bộ một mình xuống con hẻm để thăm những người láng giềng khác mà qua đó những chàng cao bồi của anh ta hoặc người lái xe jeep của anh ta sẽ tiết lộ những câu chuyện cho gia đình và bạn bè về những khả năng tuyệt vời và lòng dũng cảm của vị chỉ huy của họ. Tất cả những người dân ở Tân Định, nhưng đặc biệt là những người sống xung quanh gần nhất căn nhà thời niên thiếu của anh ta, chia sẻ và kể lại những câu chuyện về những thành tích chiến đấu của người anh hùng và là người con yêu thích Lê Bá Bình ở địa phương của riêng họ.

(Chiếc xe jeep quân đội dành cho sĩ quan VNCH và Hoa Kỳ)

Không giống như các đối tác người Mỹ của anh Bình, không có lịch trình thời gian rút ngắn, không có chuyện chất dứt quân vụ, không có gì ở khoảng giữa, không có những ngày nghĩ phép thật sự cho Lê Bá Bình hoặc bất kỳ ai trong số những bạn của anh ta từng phục vụ lâu dài. Khi Gerry Turley, John Ripley, George Philip, và mọi người Mỹ khác vốn là những người sẽ phục vụ cho chuyến quân vụ thứ hai ở Việt Nam, có thời gian và nhiệm vụ ở xen lẫn nhau, anh Bình vẫn còn ở một nơi nào đó trong khoảng giữa vô định của nỗ lực mình để giúp đất nước mình chiến thắng cuộc chiến.
Chắc chắn là, quân đội của Việt Nam Cộng hòa (VNCH) đến cuối thập niên 1960s thì gần như đủ lớn và ngày càng đủ chuyên nghiệp để gởi một ít sĩ quan đến các trường trung cấp và cao cấp ở Hoa Kỳ. Thậm chí có một số sĩ quan TQLC(pc 02) vốn là những người theo chuyến đi thụ huấn trở lại Căn cứ Quân đoàn TQLC Quantico như là những vị Đại úy và Thiếu tá. Anh Bình không phải là một người trong số họ. Thực chất là bị kẹt bởi sự thành công của riêng mình, những kỹ năng và vai trò lãnh đạo của anh ta là thế cho nên anh ta phải ở lại với Tiểu đoàn 3 trong suốt khoảng thời gian dài.

p195

Cuộc tuyển cử của Richard Nixon vào tháng Mười năm 1968 và sự tiếp tục những nhiệm vụ của ông ta vào đầu năm tới mang theo với nó lời hứa của ông ta “Việt Nam hóa” chiến tranh. Trong khi toàn bộ TQLC và các đơn vị nhất định của quân đội VNCH(pc 03) có thể chắc chắn nhận lấy vấn đề với ý kiến là cho đến thời điểm này họ đã không từng mang lấy sự chia sẻ công bằng của họ về cuộc chiến đấu, toàn bộ cử tri Mỹ ngày càng mòn mỏi về việc đầu tư mà qua đó, cho đến nay, đã sinh ra ít ỏi theo cách lợi ích thực tiển.
Trong gần năm năm, Việt Nam đã tiêu thụ hầu hết sự tập trung chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Trong mỗi khu vực khác thế giới, những lợi ích chiến lược của Mỹ đã bị bỏ qua một cách đau đớn. Học thuyết phát triển của Nixon sẽ tìm cách tái tập trung các nguồn tài lực quốc gia theo cách mà nó sẽ phản ảnh một cách thích hợp hơn những đòi hỏi toàn cầu đó, trong khi cùng một lúc, cụ thể việc tách rời khỏi khu vực Đông Nam Á bằng cách cung cấp và đào tạo các lực lượng của miền Nam Việt Nam nhằm hoàn toàn giải quyết những kẻ xâm lược phương Bắc trên đất nước của riêng họ.
Đối với anh Bình, và đối với mọi công dân Việt Nam với sự nguy nan trong kết quả của trận chiến cho đất nước của họ, không có một bức tranh nào, không có lo ngại nào lớn hơn về ảnh hưởng của Liên Xô ở châu Âu hoặc châu Mỹ Latinh hay Bắc Á châu. Tất cả mọi thứ đều quan trọng, ngoại trừ những quyết định chính trị được thực hiện ở Washington mà qua đó sẽ trực tiếp gây tác động đến dòng chảy của trợ giúp vật chất cho quốc gia của anh ta, đang xảy ra bên trong bốn vùng quân khu của VNCH.
Từ ngày thứ nhất, cô Cẩm sẽ tập làm quen với những khoảng thời gian dài cách biệt anh Bình vốn được ngắt quãng bởi những chuyến trở về lẻ tẻ, thỉnh thoảng, không báo trước của anh ta từ những góc xa nhất của Việt Nam. Sẽ có một vài bất ngờ trong mối quan hệ đó, từ ngay khoảnh khắc đầu tiên, dường như được định mệnh sắp đặt cho cuộc hôn nhân… nếu anh Bình sống đủ lâu.
Sự kết hợp đang phát triển giữa anh Bình và cô Cẩm cùng một lúc là theo thời đại và lẫn truyền thống, nhưng chủ yếu là truyền thống. Anh Bình là một người con hiếu thảo, biết tôn kính và cũng là một người nể trọng phụ nữ vốn là người sẽ là mẹ vợ của anh ta. Cô Cẩm là một người con hiếu thảo, biết lo. Những ngày hẹn hò của họ và các chuyến thăm viếng của anh ta luôn luôn được giám sát và có người đi kèm theo. Với tất cả cuộc chiến và sự xấu xa mà anh ta đã từng nhìn thấy và trải nghiệm, đối với anh Bình việc duy trì những truyền thống hiếu thảo là việc làm cho yên tâm và điềm tĩnh.

(Đại úy Lê Bá Bình và Bành Cẩm tại căn cứ
Sóng Thần, Thủ Đức, vào năm 1973)

(Căn cứ Sóng Thần, Thủ Đức)

p196

A- George Philip ở giữa Khoảng giữa Vô định:

Đối với những người vốn là chuyên nghiệp, được đề cập đến một cách tôn trọng và đôi khi không tỏ ra tôn trọng, như là những “Lifers” (“nghiệp gia”) việc trở về từ Việt Nam thì khác xa hơn là điều đó đối với những người vốn là những dân quân theo truyền thống trong lịch sử Mỹ hơn. Những người đăng lính và những người tình nguyện trong một kỳ vốn là những người gia nhập quân đội, đã đến Việt Nam, trở về nhà, và sau đó cố gắng bắt kịp cuộc sống từ đó, nói chung là có những kinh nghiệm trở về quê nhà rất khác biệt.
Những người giống như Gerry Turley và John Ripley, khi họ trở lại từ Việt Nam, ngay lập tức được đồng hóa vào trong một nền văn hóa mà qua đó khẳng định họ, di chuyển họ đi theo, và đến một mức độ nhất định che chỡ họ khỏi những thực tế khắc nghiệt hơn của những thay đổi lớn hơn về xã hội xảy ra sau đó. Vẫn còn có sự tự hào to lớn trong phục vụ, thậm chí là điều không nói ra nhưng là một hệ thống phân cấp rất thực tế giữa những chiến binh cho thấy những giới hạn bởi sự khó khăn và thời gian dài của cuộc chiến phải chịu đựng.
Trong thế giới dân sự, trong cuộc chiến này, không có những cuộc diễu hành chào mừng trở về quê nhà, không có những cái ôm nồng nàn hoặc những cái vỗ lưng để nói lời cảm ơn, không ai hỏi về cuộc chiến như thế nào theo những cách vốn thể hiện sợ hãi hoặc tôn trọng đối với việc phục vụ. Đối với nhiều người vốn là những người trả lời tiếng gọi quốc gia của họ, kinh nghiệm Việt Nam là một cái gì đó để lại phía sau, cất giấu đi, chia thành từng phần nhỏ, quên đi về nó.
Đối với những người giống như George Philip, được nuôi dưỡng để phục vụ nhưng vẫn còn quá non nớt để được gọi là “nghiệp gia,” và không có một người vợ nào để cầm giữ anh ta như là một người đàn ông trong nền văn hóa mà anh ta đã lớn lên từ khi còn là một cậu bé, có một cảm giác bối rối nào đó, một chút day dứt về việc chính xác nơi nào anh ta được cho là phù hợp trở lại nơi đây trong cái “Thế giới.”
Sau khi nghỉ phép một tháng, trở về hướng đông đến Căn cứ Quân đoàn TQLC Quantico để làm nhiệm vụ ở Trường Thí sinh Sĩ quan (Officer Candidates School = OCS). Đó không phải là điều khó khăn để cảm nhận được tình trạng bất ổn tổng thể của quốc gia và sự ác cảm đối với cuộc chiến tranh ở Việt Nam và đặc biệt là những người được xem như là những người chuyên nghiệp về quân sự.
Mặc dù tâm trạng rộng lớn hơn về quốc gia, việc phục vụ như là một Trung đội trưởng tại Trường Thí sinh Sĩ quan điều hành những tuyển sinh sĩ quan qua một chương trình 10 tuần lễ thực sự khá thoả mãn đối với anh George.

p197

Mặc dù sự kiện thực tế là vào cuối mùa hè năm 1969, 500.000 người trẻ tham dự các buổi Đại nhạc hội tại thị trấn Woodstock ở vùng White Lake, New York –hầu hết trong số họ mạnh mẽ phản đối cuộc chiến tranh– từ quan điểm của anh ta ở Căn cứ Quân đoàn TQLC Quantico, anh ta được khuyến khích rằng vẫn còn một số lượng lớn thanh niên mong muốn phục vụ như là các sĩ quan TQLC trong một cuộc chiến tranh mà mỗi ngày tăng lên thêm nhiều tranh cãi. Với nhu cầu vẫn còn rất lớn cho những vị Thiếu úy, Trường Thí sinh Sĩ Quan đang hoạt động hết sức như có thể. Trong khoảng thời gian một năm, anh George sẽ giúp tiến hành bốn lớp riêng biệt qua Trường Thí sinh Sĩ Quan.
Trước khi tốt nghiệp từ Học viện Hải quân Hoa Kỳ Annapolis vào năm 1967, anh George đã trải qua một thời gian đáng kể với những người bạn Chuẩn úy của mình ở khu vực Washington và xung quanh đó trong các quán rượu và hợp đêm ở trường đại học, vui nhộn theo đuổi những thứ ưu thích của những nữ sinh viên chung trường ở địa phương. Việc quay trở lại các cơ sở buôn bán tương tự vào cuối mùa hè năm 1969 và việc mong chờ những kết quả tương tự như những cái được trải nghiệm qua chỉ hai năm trước đó đã mang lại một kết quả cay đắng.
Quán rượu ngay lần đầu tiên mà anh George và một người bạn đồng hướng Trung úy bước vào trong trên chuyến đi ngắn ngủi ban đầu của họ trở lại thủ đô Wahsington DC là một sự nhắc nhớ mạnh mẽ về tất cả sự thay đổi vốn đã diễn ra kể từ những thời kỳ trước đây, hiện nay dường như là yên bình. Khi mà chỉ có hai người với kiểu tóc quân đội, họ phải chịu đựng mà không lời than phiền. Trong khi không ai có can đảm nói bất cứ điều gì trực tiếp với họ, sự thù nghịch thì thực sự rõ ràng. Sau khi nhanh chóng nóc cạn chỉ một chai bia cho mỗi người, anh George quay sang người bạn mình, khuyên nhủ anh ta: “Thôi đi. Chúng ta đi thôi. Chúng ta không thuộc về nơi này nữa… “

(Đại úy George Philip và Đại úy Nguyễn Văn Tâm tại căn cứ
Alpha-2 ở Quân khu I phía bắc, vào năm 1971. Sau nầy, Đại úy
Tâm bị bắt trong suốt cuộc đầu hàng của QĐVNCH tại Doanh
trại Carroll và phải trải qua 8 năm trong trại cải tạo)

D- Hoạt động với Tiểu đoàn 3… :

Khi những người Mỹ thiết yếu tiếp nhận vai trò chính của việc tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam vào năm 1965, họ đã thay đổi hoàn toàn cách thức kinh doanh đang được thực hiện. Cách chiến tranh của Mỹ là, từ quan điểm của người đồng minh miền Nam Việt Nam của họ, đại khái giống như là tiểu bang Texas đối với phần còn lại của Hoa Kỳ: mọi thứ thì lớn hơn và bằng cách nào đó bệ vệ hơn. Cách chiến đấu cuộc chiến của Mỹ tìm kiếm những cuộc chạm súng gần như thiên anh hùng ca, cả quyết với các đơn vị lớn sử dụng sức mạnh hỏa lực đông đảo, dựa vào một nguồn cung cấp vật liệu vô tận. Việc làm của những người chiến đấu của Mỹ, và đặc biệt là tiểu đoàn của nó qua các nhà lãnh đạo cấp sư đoàn, làm mạnh thêm ước muốn tìm kiếm và thu được một chiến thắng nhanh chóng. Với những chuyến quân vụ Việt Nam kéo dài 12 tháng cho Quân đội và tháng 13 cho TQLC,

p198

và với hầu hết những sĩ quan chỉ được đưa ra những mệnh lệnh chiến đấu trong một nửa thời gian của họ ở Việt Nam, có một khuyn hướng tự nhiên cho những người ở vị trí lãnh đạo chiến đấu là tích cực tìm cách giao chiến với kẻ thù, để đạt được một loại đòn đo ván nào đó, để tạo nên thành tích của họ, sớm như họ có thể.
Đối với người Việt, sẽ không hoàn toàn công bằng để nói rằng ban lãnh đạo quân đội VNCH đã không tích cực, và theo thuật ngữ của Mỹ, tìm kiếm để “xác định vị trí, bao vây, và tiêu diệt” đối phương mỗi khi có dịp. Những thứ khác nhau về văn hóa cùng với những hạn chế về hậu cần và vật liệu tạo ra phương pháp Việt Nam cho việc tiến hành cuộc chiến khác biệt từ những phương pháp được giảng dạy và ưa chuộng bởi những người Tây phương.
Đồng thời những người Mỹ lo ngại với sự gây hấn ngoại biên của những người đồng minh miền Nam Việt Nam của họ, ban lãnh đạo chính trị và quân sự của VNCH lấy làm bối rối khi những người Mỹ ngày càng trở nên gắn bó với việc chấp nhận sự phòng thủ theo chiến lược như là một cách để tiến hành chiến tranh một cách thích hợp. Ngay cả người cha của anh Bình, vốn là người đã từng khuyên đứa con trưởng của mình trở thành một quân nhân TQLC để cho anh ta một ngày nào đó có thể dự phần trong việc giải thoát căn nhà gia đình xưa cũ của họ gần Hà Nội, kỳ vọng rằng vào một thời điểm nào đó, trong một tương lai không quá xa, sẽ có những cuộc tấn công trên bộ chống lại và một cuộc xâm lược đưa đến miền Bắc giải cứu người dân khỏi sự áp bức của Cộng sản.
Nhớ rằng 1 triệu người Trung Quốc Đỏ đã vượt qua sông Yalu vào tháng Mười năm 1950 khi những lực lượng của Tướng MacArthur đã xâm nhập quá xa vào trong Bắc Hàn, ban lãnh đạo chính trị Mỹ tự thuyết phục rằng, để tránh Liên Xô và Trung Quốc việc xem xét vấn đề đưa ra những binh lính của riêng họ, họ sẽ hạn chế cuộc chiến trên bộ đến các khu vực bên trong phạm vi những vùng biên giới của miền Nam Việt Nam. Những người cộng sản Liên Xô và Trung Quốc chỉ là quá hân hoan không thể khuyến khích và khai thác dòng suy nghĩ đó.

(–>: Cuộc tấn công của những quốc gia liên hiệp (UN)
–>: Cuộc xâm lược của Bắc Hàn
–>: Cuộc tấn công của Trung cộng
*: Những trận đánh lớn
(Chiến tranh Triều Tiên 1950–1953 với những trận đánh lớn,
với sông Yalu phân chia biên giới Trung cộng và Bắc Hàn))

(<–: Cuộc tấn công của Bắc Hàn, sau đó thêm vào Trung cộng
: Đường biên phòng thủ
<–: Cuộc tấn công của UN, sau đó thêm vào Hoa Kỳ
: Đường vĩ tuyến phân chia
(Hai giai đoạn tấn công và phòng thủ của UN và Hoa Kỳ))

Nơi mà những người Cộng sản Việt Nam nhìn thấy tất cả về cái gì đó là một Đông Dương thuộc Pháp trước đây như là một chiến trường khổng lồ, hợp pháp, Hoa Kỳ đã chọn để giới hạn những nỗ lực trên bộ của mình bên trong phạm vi những vùng biên giới của VNCH.(pc 03) Những người Mỹ tự thuyết phục xa hơn rằng sự di động và sức mạnh hỏa lực áp đảo của họ sẽ tạo nên nhiều hơn những vùng giới hạn trên địa lý được tự áp đặt lấy, và rằng Cộng Sản cuối cùng sẽ hoặc là từ bỏ hoặc bị đẩy đến bàn đàm phán sau khi đã mất mát quá nhiều người.

p199

Những thách thức vô số trong việc đối mặt với các lực lượng vũ trang của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH = Bắc Việt) từ năm 1954 về phía trước đã luôn luôn rất là đáng kể. Với những người Mỹ, đến cuối năm 1968, bây giờ muốn chuyển giao phần lớn những trách nhiệm của việc chiến đấu cuộc chiến cho đồng minh non nớt của họ, những vấn đề đó được bàn rộng xa hơn. Một hậu quả ngoài ý muốn với sự tiếp nhận công việc chiến đấu chủ yếu của Mỹ từ năm 1965 trở về trước là lãnh đạo của Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH), trong nhiều trường hợp, càng lúc tăng lên quá phụ thuộc vào các nhà hảo tâm Mỹ của họ. Sự phát triển về những phẩm chất lãnh đạo vô thực thể tuy rất quan trọng cho quyền chỉ huy giống như khả năng sáng tạo, đổi mới, và chuyên nghiệp bị cho là giảm đi khi họ đáng lý ra nên được nâng cao và khuyến khích. Sự phụ thuộc vào hỏa lực yễm trợ mà qua đó chỉ có thể được cung cấp bởi các lực lượng Mỹ là một nguồn lực khác mà nhiều người lính trở nên bị vứt bỏ trước một cách đau đớn.
Cùng với những vấn đề khó khăn về kỹ thuật đối mặt với QĐVNCH là những vấn đề thậm chí còn lớn hơn của sự tham nhũng toàn diện, sự tin cậy về chính trị và trình độ chiến đấu tổng thể. Chân dung của QĐVNCH trong giới truyền thông Tây phương thì hầu như là một sự kết tụ của suy nhược, không gây hiệu quả, và vào những lần, thậm chí các đơn vị phản nghịch được điều hành bởi những vị tướng lãnh giống như quan chức thời vua chúa và vì lợi ích của họ vốn là những người không hơn gì những lãnh chúa thời hiện đại.
Từ sự sinh ra của đất nước vào năm 1954, máu của những chiến sĩ trẻ và những binh lính TQLC trong các đơn vị của miền Nam Việt Nam đã được tự do đổ vào việc phòng ngự của quốc gia.
Ban lãnh đạo can đảm và có khả năng không bao giờ ở trong tình trạng thiếu cung cấp trong số các đơn vị ưu tú; những binh lính TQLC, Dù, Biệt động, và các Lực lượng Đặc biệt. Đối với các sư đoàn bộ binh chính thức còn lại mà qua đó bao gồm 90% khác của QĐVNCH, chất lượng thì vượt xa khỏi bộ đồng phục. Để chắc chắn, có những vị tướng lãnh đó vốn là những người truyền ra những hình thành của họ với tinh thần chiến đấu và lòng nhiệt quyết. Tuy nhiên, tất cả sự việc quá thường xảy ra là vấn đề gia đình trị, tham nhũng, huấn luyện không đầy đủ, và vai trò lãnh đạo yếu kém dẫn đến tinh thần chiến đấu nghèo nàn và hoạt động kém hiệu quả.

E- Một lịch sử ngắn của TQLCVN:

Từ lúc ngay những khởi đầu của nó, Quân đoàn TQLC Việt Nam (TQLCVN) là một tổ chức mà qua đó phần lớn sẽ không có chuyện về sự tai tiếng và tham nhũng. Được thúc đẩy sau khi việc ra đời của nó để tiến triển và thích ứng hoặc bị tàn lụi, TQLC trở thành một sự pha trộn nhiều loại khác nhau của cái hay nhất về võ dũng của phương Đông và phương Tây.

p200

Trong vòng năm năm được hình thành, những sĩ quan non nớt của nó thường xuyên được được gởi đến Căn cứ Quân đoàn TQLC Quantico cho việc huấn luyện tại Trường Cơ bản với những đối tác Thiếu úy Mỹ có khuôn mặt mới mẻ. Những vị Hạ sĩ và Trung sĩ trẻ đầy hứa hẹn nhất đến Hoa Kỳ để học hỏi nghệ thuật và khoa học về việc trở thành những hướng dẫn viên thực tập quân sự.

(Những chiến sĩ TQLCVN trong dàn hàng chào)

Đến tháng Sáu năm 1959, lực lượng TQLC(pc 02) và sư đoàn Dù ngang hàng lực lượng ưu tú và đáng tin cậy về chính trị (cả hai tổ chức vào thời điểm đó vẫn là kích thước lữ đoàn(pc 03)) được quy định như là lực lượng dự bị của đất nước theo chiến lược quốc gia. Với những áp lực ngày càng tăng của cuộc nổi dậy của Cộng sản, TQLC gần như tự nhiên tăng trưởng cả về kích thước và tầm vóc. Việc hình thành tiểu đoàn bộ binh đầu tiên của nó vào năm 1954, đến năm 1960 đã có bốn tiểu đoàn. Năm sau, lực lượng TQLC, với sự trợ giúp của vị cố vấn TQLC Hoa Kỳ của nó, đã thành lập một lữ đoàn vốn bao gồm một tiểu đoàn pháo binh và các đơn vị hỗ trợ nhỏ hơn để giải quyết mệnh lệnh khác nhau, quyền kiểm soát, và những đòi hỏi về hậu cần.

(Những binh lính Dù của QĐVNCH đang lên chiếc máy
bay C-47 của Không lực Việt Nam cho sứ mệnh)

(Tiểu đoàn 4 Biệt kích Dù thuộc Đại đội 81 của
QĐVNCH, trên đường hành quân)

Khi năm 1968 đến gần, lực lượng TQLC đã có tám tiểu đoàn bộ binh được hình thành trong ba lữ đoàn. Với ba trung đoàn này tương đương với lực lượng TQLC được chính thức quy định là sức mạnh của sư đoàn. Hạ tầng cơ sở hỗ trợ cũng đã được tăng cường để duy trì các nhu cầu ngày càng tăng của cuộc chiến. Những kế hoạch nằm trên sổ sách thêm vào một tiểu đoàn bộ binh thứ chín để xẻ thịt ra một lữ đoàn thứ ba ngay sau khi các nhân viên có thể được tuyển chọn và huấn luyện.3 (Một lữ đoàn về bản chất là một trung đoàn với các đơn vị bổ sung được kèm theo để làm cho nó là một đơn vị chiến đấu hiệu quả hơn. Một trung đoàn thường thường có ba tiểu đoàn. Trong trường hợp của TQLC, mỗi lữ đoàn có ba tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh, và một người đứng đầu của các đơn vị nhỏ hơn khác dành cho sự hỗ trợ. Ban đầu, khi TQLC đặt vào hoạt động với ba lữ đoàn, họ đánh số ba lữ đoàn là Lữ đoàn 147, 258, và 369. Lữ đoàn 147 theo nguồn gốc bao gồm Tiểu Đoàn 1, 4, và 7, v.v. Khi thời gian đi qua một nấc, những tiểu đoàn sẽ luân chuyển giữa 3 trụ sở chính của lữ đoàn, như thế Tiểu đoàn 1 vào các thời điểm khác nhau nằm trong hai lữ đoàn khác, v.v. nhưng những danh hiệu của lữ đoàn vẫn không thay đổi).

(Lễ gắn huy chương Hoa Kỳ cho hiệu kỳ Tiểu đoàn 2 tại
Bộ Tư Lệnh TQLCVN vào năm 1967)

Phần nhiều lực lượng TQLC giống như những vị cố vấn của Quân đoàn TQLC Mỹ trong những phần về tinh thần chiến đấu tích cực, những tiêu chuẩn cao, kỷ luật và vai trò lãnh đạo, những sự khác biệt thì đáng chú ý như nhau.

p201

Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ được biết đến đối với dân Mỹ là một trong bốn dịch vụ quân sự bị ràng buộc theo truyền thống, đòi hỏi, và khổ hạnh nhất, sự khắt khổ vốn dường như đã lỗi thời trong bề mặt của những thay đổi về xã hội diễn ra sau đó. Điều lệ hành vi giống như điều lệ Bushido(pc 05) thời phong kiến của Nhật, dứt khoát và tuyệt đối được thực hành và chấp nhận rộng rãi bên trong phạm vi quân đoàn bé nhỏ của TQLCVN(pc 06) khiến cho những người anh em Mỹ của họ dường như không hẳn là rất nghiêm túc.

(Tay kiếm sĩ quý tộc –samurai– Nhật trong bộ áo
giáp,tuyệt đối tuân thủ theo điều lệ Bushido. Hình
chụp vào thập niên 1860s)

Những vấn đề liên quan đến tội phạm và ít hơn so với những hành vi nêu cao danh dự, được giải quyết một cách nghiêm khắc trong TQLC, đặc biệt là nếu gây ra dưới những hoàn cảnh chiến đấu. Nhục hình cho những tội phạm khác nhau hoặc những vi phạm quy luật được phân ra hầu như dành riêng ở cấp tiểu đoàn hoặc thấp hơn. Nếu một tội phạm đủ nghiêm trọng, án tử hình được thi hành một cách trực tiếp bởi chính người chỉ huy tiểu đoàn với tất cả trong số những binh lính TQLC của đơn vị đang đứng xem. Thẩm quyền gần như không giới hạn được ban cho các nhà lãnh đạo quân sự cho phép một cuộc hành quyết nhanh chóng của công lý dành cho những tội phạm đó được xem như là những tội phạm nghiêm trọng.
Hơn bất cứ người nào khác, tính khí, văn hóa của người chiến binh và danh tiếng không có chuyện xấu xa của lực lượng TQLC được truyền dẫn, thấm nhuần, thấm sâu, và được khích lệ nhất bởi một sĩ quan trẻ, biết nghĩ trước vốn là người đã có mặt trong phòng nhi sinh khi TQLC(pc 02) được sinh ra và đã trở thành vị Tư lệnh đầu tiên của nó vào năm 1960. Sau khi lần đầu tiên phục vụ như là một vị Trung úy mới toang trong những lực lượng ven sông mà cuối cùng sẽ tạo thành một quân đoàn phôi thai của TQLC Việt Nam, Lê Nguyên Khang là người đàn ông thích hợp vào đúng thời điểm cho một công việc thích hợp. Như với một số lượng những người miền Bắc di tản vốn là những người sẽ vươn lên những vị trí quyền lực trong một đất nước mới Việt Nam Cộng hòa, sự lỗi lạc cho vai trò lãnh đạo và tầm nhìn của Thiếu Tướng Khang cho điều gì mà TQLC cần đến để trở thành chính nó, được bồi đắp thêm bởi sự hận thù dành cho những người Cộng sản vốn in sâu vào tâm hồn.4

(Trung tá Lê Quang Trọng là vị chỉ huy từ khởi thủy
của TQLC được thành lập vào năm 1954)

(Thiếu tướng Lê Nguyên Khang (ở giữa) được tháp tùng bởi
các cấp úy đang thị sát mặt trận, vào năm 1965, là cấp chỉ huy
của TQLCVN khi được nâng lên cấp sư đoàn vào năm 1960)

(Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu tướng Bùi Thế Lân,
vị chỉ huy TQLCVN cuối cùng từ năm 1972–1975)

Nhiều thử thách đang đối mặt với Tướng Khang và Quân đoàn TQLCVN(pc 06) của mình trong khi thật sự hoành tráng, thì ít đáng kể hơn so với những thử thách đang đối mặt với QĐVNCH,(pc 07) bởi vì kích thước lớn hơn nhiều của nó, mà qua đó không có cùng một chất lượng đồng nhất của những sĩ quan và những người lính. Trở ngại lớn nhất đối với việc cải thiện thành công toàn bộ tổ chức cho tất cả các lực lượng VNCH trên chiến trường là một khuynh hướng văn hóa hướng đến sự tôn trọng cứng nhắc và đối với thẩm quyền.
Những khái niệm Nho giáo ăn sâu lâu dài đó về sự tôn trọng những người lớn tuổi và những người ở các vị trí bên trên một trạm quân của người nào đó đã làm chậm đi sự phát triển phần lớn sáng kiến cá nhân và dòng chảy tự do của những ý tưởng.

p202

Sự “sùng bái người chỉ huy” có thể được phụ thuộc vào chỉ khi nào mọi thứ đang diễn ra trong sự ủng hộ của đơn vị và nhờ rất nhiều vào thiên tài chiến đấu của một người đàn ông duy nhất đang nắm quyền. Việc thay đổi những điều kiện chiến trường gần như luôn luôn đòi hỏi một sự sai lệch từ những kế hoạch được thành lập và nhắc đi nhắc lại trước khi sự khởi đầu của cuộc chạm súng. Một khi màn “sương mù của chiến tranh” bao trùm, tính luân lưu của hoạt động thường bị cản trở bởi việc cần có được sự chấp thuận rõ ràng, cụ thể từ những người chịu trách nhiệm trước khi thực hiện những sự thay đổi cần thiết và những quyết định quan trọng. Trong tất cả những trường hợp quá thường đó vốn lấy đi quá nhiều thời gian, những mạng sống quý giá, và các nguồn lực thường được thương lượng đi đến sự thỏa hiệp.5 Tồn tại cùng lúc với chuỗi mệnh lệnh cứng nhắc là những vấn đề về “mặt mũi” và “sĩ diện,” một khái niệm khó khăn đối với các vị cố vấn Mỹ đặt nặng giá trị vào đó khi sự hoàn thành nhiệm vụ bị treo trong thế cân bằng.
Một điểm yếu khác rất đáng kể vốn trở nên gay gắt hơn khi lực lượng TQLC tiếp tục đảm nhận một phần lớn những trách nhiệm chiến thuật từ những đơn vị rời bỏ của Mỹ ở Quân khu I, và họ chuyển đổi từ việc chiến đấu như là những tiểu đoàn riêng biệt nghiêng về phía những lữ đoàn (gồm ba tiểu đoàn), là sự cần thiết để rèn luyện đúng mức và bổ sung các chức năng tham mưu theo yêu cầu của các hoạt động quân sự tinh vi hơn. Những việc vốn là bản chất thường lệ và là bản năng thứ hai đối với những sĩ quan chuyên nghiệp về quân sự được rèn luyện quanh năm suốt tháng giống như sự quan trọng của những chương trình bảo trì dụng cụ hiệu quả, không phải là nhất thiết rõ ràng theo hệ thống “súng bái người chỉ huy” xa xưa. Sự phê bình về việc phát triển ban tham mưu kết hợp, năng động và những phương cách hoạt động theo tiêu chuẩn để cho ban quản trị (có ký hiệu là S-1), tình báo (S-2), hoạt động (S-3), và hậu cần (S-4) có thể phối hợp một cách hiệu quả những nỗ lực của họ và làm tăng thêm tối đa những cơ hội thành công trên chiến trường của người chỉ huy của họ, là một cái gì đó mà các vị cố vấn Mỹ đã có một thời gian khó khăn riêng trong việc thuyết phục những người đối tác Việt Nam của họ.6

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ “…những đơn vị chính quy chiến đấu trên bộ cuối cùng của Quân đoàn TQLC đã rời khỏi Việt Nam.” : có nghĩa là họ rút gần như toàn bộ quân số TQLC trước khi Hiệp định Paris ký kết vào năm 1973, từ con số 430.000 binh lính TQLC vào khoảng 1965–1969 còn lại chưa đến 1.000 người vào cuối năm 1971 trong số 160.000 quân nhân khác của Mỹ vẫn hiện diện trong vai trò cố vấn, hành chánh, liên lạc v.v. mà không tham chiến.

pc 02_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 03_ VNCH : Việt Nam Cộng hòa.
pc 04_ Lữ đoàn : thì gần như là một trung đoàn với số người khoảng 3.000–5.000 với những đơn vị khác thêm vào; còn sư đoàn vào khoảng 10.000–15.000 người, và tiểu đoàn khoảng 300–1.300 người. Một trung đoàn thường thường có khoảng 3 tiểu đoàn ít nhất.

pc 05_ Bushido : là điều lệ của các tay kiếm sĩ quý tộc (samurai) trong thời phong kiến Nhật Bản, nhấn mạnh đến lòng trung thành và sự vâng phục tuyệt đối và đánh giá cao danh dự trên sinh mạng.

pc 06_ TQLCVN : Thủy quân Lục chiến Việt Nam.
pc 07_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.

One thought on “Phần 14: Trở lại Việt Nam

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s