Phần 13: Mỹ Lai

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

(trang bỏ trống)
p175

Phần 13: Mỹ Lai

Vụ thảm sát hơn 300 thường dân vô tội tại ngôi làng nhỏ bé Mỹ Lai, một hành động tồi tệ nhất như thế được gây ra bởi một đơn vị Bộ binh Mỹ kể từ khi các cuộc chiến tranh chống lại Dân da đỏ gần 100 năm trước đó, đã xảy ra vào ngày 16 tháng Ba năm 1968. Nó xảy ra trong một khu vực bên trong phạm vi giới hạn của Quân khu I một ít tuần trước khi chuyến đến của George Philip. Trong khi nó đã không được làm cho được biết đến với công chúng Mỹ cho đến năm 1969, nó sẽ trở thành một cuộc tranh luận gây chú ý cho tất cả những người vốn phản đối sự tham dự của Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam.
Đối với thông tin sai lạc, và việc cố tình không thông báo, thuật ngữ “Mỹ Lai” trở thành một tĩnh từ mô tả, một thước đo được nhận thức mà theo đó bởi sự kiện thường ngày của quân đội làm công việc hoặc tiến hành các hoạt động. Vụ thảm sát ở Mỹ Lai, trên thực tế, là kết quả của sự lãnh đạo cực kỳ kém cỏi trong phạm vi một số các đơn vị nào đó của Sư đoàn Americal của quân đội và là một sự loạn trí, hoàn toàn đáng nguyền rủa đối với cách mà những hoạt động chiến đấu phải tiến hành.
Hành động ở Mỹ Lai thì hơn là một trang giấy lấy ra từ cuốn sách kịch bản của Việt Cộng, một sự lặp lại –trên một quy mô nhỏ hơn nhiều– của cách hành xử gần đây của Quân Bắc Việt ờ Huế, hoặc điều gì sẽ theo sau một cách thường lệ trong các cuộc tấn công của Cộng sản vào năm 1972 và năm 1975 mà qua đó sẽ làm cho Mỹ Lai hầu như có vẻ không quan trọng trong phần về những số tuyệt đối và tính chất tàn bạo có máu lạnh.
Tin tức quốc gia và quốc tế, ngay cả khi chưa có những tiết lộ về Mỹ Lai được thực hiện, không khuyến khích gì cả từ quan điểm chính trị của Mỹ. Cuộc xung đột chủng tộc tiếp tục và các cuộc biểu tình chống chiến tranh ở rất nhiều khuôn viên đại học quốc gia chuyển hướng, pha loãng, và làm tiêu tan bất cứ cách giải quyết ở đó như thế nào của quốc gia mà trước đó đã sắp kết thúc cuộc chiến này bẳng một loại chiến thắng nào đó theo truyền thống có thể nhận ra dễ dàng.

p176

Vụ chìm tàu bí ẩn của chiếc tàu ngầm USS Scorpion (SSN-589) –một tàu ngầm hạt nhân tấn công– vào ngày 22 tháng Năm là một sự xấu hổ lớn cho Hải quân nói chung và đối với nhóm Dịch vụ Triệt âm(pc 01) ưu tú nói riêng. Theo sau chỉ khoảng hơn 5 năm sau sự kiện mất đi chiếc tàu ngầm USS Thresher (SSN-593)(pc 02) và rất gần bên sự kiện bắt giữ chiếc tàu USS Pueblo, sự mất đi của chiếc tàu ngầm Scorpion chỉ là thêm một sự kiện vốn làm sứt mẻ đi niềm tin của công chúng vào chất lượng của các dịch vụ quân sự của nó.

(Tàu ngầm hạt nhân USS Scorpion (SSN-598) thuộc lớp
Skipjack của Hoa Kỳ vào năm 1968 trước khi bị nạn cùng năm)

(Chiếc tàu ngầm dẫn đầu lớp tàu ngầm hạt nhân tấn công,
USS Thresher thứ hai (SSN-593) thuộc lớp Permit,
vào năm 1961, bị chìm vào năm 1963)

Ngay tại những cấp độ cao nhất của chính phủ và quân đội, vụ chìm chiếc tàu ngầm USS Scorpion ắt hẳn là nguyên nhân cho mối quan tâm lớn. Theo sau chỉ 10 tuần sau sự kiện mất đi chiếc tàu ngầm K-129 của Liên Xô, một cái gì đó mà công chúng Mỹ không nhận biết đến, có những câu hỏi như về việc có phải chiếc tàu ngầm Scorpion đã bị chìm bởi hành động thù nghịch hoặc gánh chịu một vài cái gì đó khi chưa được xác định là về máy móc hay sự hư hại của những hệ thống. Có thể nào những người Nga, theo ấn tượng sai lầm rằng K-129 đã bị tấn công bởi một tàu ngầm của Mỹ hoặc các lực lượng chống-tàu-ngầm khác, đã theo sau chiếc tàu ngầm Scorpion như là sự trừng phạt? Chính là một câu hỏi đó mà qua đó sẽ không được công khai xem xét nhưng ắt hẳn đã được ngẫm nghĩ bởi Tổng thống và các vị cố vấn của ông ta.

(Tàu ngầm K-129 thuộc lớp Golf-II chạy bằng dầu cặn và điện
của Liên Xô bị chìm vào năm 1968, nhưng Liên Xô không vớt
lên –chỉ khoảng 10 tuần lễ trước khi chiếc tàu ngầm USS
Scorpion (SSN-598) của Hoa Kỳ bị chìm)

Ngay cả với số lượng to lớn của Quân Bắc Việt và Việt Cộng bị giết và bắt giữ trong suốt cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, những người Mỹ vốn trước đó đã tin vào những câu chuyện mà các nhà lãnh đạo của họ đã nói về việc có ánh sáng ở cuối đường hầm, hiện thời thấy nó càng lúc càng nhiều hơn nữa như là chuyến xe lửa đang tới theo nghĩa cách ngôn. Sự sẵn lòng của quốc gia tiếp tục đầu tư máu và ngân khố trong sự cho phép toàn quyền sử dụng vào trong khu vực Đông Nam Á đang suy yếu. Sự quyết định của Tổng thống Johnson từ chối yêu cầu của Tướng Westmoreland về việc thêm vào 200.000 quân nhân và sự bất đồng của ông ta kêu gọi những binh lính dự bị là những dấu hiệu từ chối cách giải quyết mà qua đó đã xảy ra không được nhận biết bởi giới lãnh đạo ở Hà Nội, Bắc Kinh, Moscow.
Vụ bắn Robert Kennedy sau khi giành chiến thắng ở hội nghị tuyển lựa ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ ở California vào lúc xế buổi chiều tối của ngày 5 tháng Sáu và cái chết của ông ta vào lúc sớm buổi sáng hôm sau kết thúc mãi mãi ước muốn không ngừng hoài cổ của nhiều người Mỹ, đặc biệt là những người phản đối chiến tranh, để quay trở lại những ngày dường như là huyền diệu của nhiệm kỳ tổng thống của người anh ông ta.

(Ứng cử viên tổng thống, Robert F. Kennedy giành được thắng lợi trong
đêm tranh luận định mệnh với Nghị viên Eugene McCarthy cho cuộc vận
động của mình, tại Khách sạn Ambassador ở thành phố Los Angeles,
California vào ngày 5/6/1968. Và từ trần sáng hôm sau, cách đúng 5 năm,
5 tháng và 15 ngày từ vụ ám sát của người anh ông ta
, J.F. Kennedy)

(Vị Tổng thống thứ 36 của Mỹ, John F. Kennedy và người vợ
Jackie Onassis ở thành phố Dallas, tiểu bang Texas, trước khi bị
ám sát sau đó vài phút vào ngày 22/11/1963. Và đúng 20 ngày
sau của vụ ám sát Tổng thống Ngô Đình Diệm
của nền Đệ nhất
Cộng hòa miền Nam Việt Nam vào ngày 2/11/1963, mà chính
ông Kennedy là người đã ngầm thuận cho Cục tình báo Mỹ ra tay)

(Tổng thống Ngô Đình Diệm (1901–1963) là một nhân vật
nguy hiểm nhất đối Bắc cộng và cũng là một người chống
đối mạnh mẽ nhất đối với chính sách áp đặt của Mỹ lên
chính quyền VNCH lúc bấy giờ, mặc dù Hoa Kỳ cũng
cùng mục đích là đẩy lui làn sóng đỏ của Cộng sản)

p177

Vào cuối tháng Sáu, Căn cứ Chiến đấu Khe Sanh cuối cùng, chính thức bị đóng cửa và bỏ rơi. Vào ngày 1 tháng Bảy, Tướng Westmoreland chuyển giao những nhiệm vụ như là vị Tư lệnh của Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự ở Việt Nam cho Tướng Creighton Abrams. Tướng Westmoreland tiếp tục đi lên công việc hàng đầu trong quân đội như là vị Tham mưu Trưởng. Với sự ra đi của ông ta khỏi khu vực Đông Nam Á, sau bốn năm nắm quyền chỉ huy, –ít nhất là trong thời gian hiện nay– cũng trải qua bất kỳ những kế hoạch nghiêm trọng nào cho việc tung ra các hoạt động trên bộ vào trong chính miền Bắc Việt Nam, chống lại các khu vực lưu trữ tiếp liệu của Cộng sản ở Lào, hoặc hạ tầng cơ sở đáng sợ của hệ thống Đường mòn Hồ Chí Minh.

A- Nuôi dưỡng Thú dữ:

Khi Gerry Turley thành công kết thúc chuyến quân vụ Việt Nam đầu tiên –chuyến quân vụ được tuyển chọn từ các nguồn nhân lực khác nhau của anh ta như là một sĩ quan tham mưu cho trung đoàn và sau đó như là sĩ quan chuyên về những hoạt động và là sĩ quan điều hành cho Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 7 Thủy quân Lục chiến (TQLC), khi John Ripley chuyển giao quyền chỉ huy của Đại đội Lima, họ đang giành được thắng lợi –ít nhất là anh Turley và anh Ripley, và tất cả các binh lính TQLC, họ đã được hội nhập với hai người– như họ thường nghĩ vậy. Bằng bất kỳ cách đo lường hợp lý nào, những tâm trí kiểu Mỹ và các quá trình tư tưởng chịu ảnh hưởng Tây phương của họ có thể gợi lên, họ đang chiến thắng. Qua những ngày vốn trở thành những tháng, nhiều người bạn đồng hướng đã bị thiệt mạng. Thêm nhiều người hơn nữa đã trầm trọng bị thương. Tuy nhiên, trong cùng những ngày và tháng, trong hầu hết những trận chiến không tên, họ đã từng đứng vững, đôi khi phải khòm người nhưng không bao giờ oằn mình, và trong mỗi một cuộc giao chiến họ luôn chiếm ưu thế. Mỗi một cuộc giao chiến. Ít ra khi họ đã trở về nhà, biết rằng họ đang làm điều tốt, chắc chắn rằng những hy sinh có giá trị, và biết rằng làn sóng quần chúng ủng hộ họ.

B- Mùa xuân ở thủ đô Prague, Czech (Tiệp Khắc) :

Mùa hè năm 1968 sẽ không là “Mùa hè của Tình yêu, Phần hai.”* Đến giai đoạn này trong chiến tranh, với những cuộc bạo loạn chủng tộc lan rộng và sự biến động xã hội đang lẻn vào mà qua đó dường như hầu hết gắn liền với sự thối nát nhận biết được của chính sách đối nội và đối ngoại của Mỹ,
=============
* Mùa hè năm 1967, được đặt tên là “Mùa hè của Tình yêu,” được kết hợp gần gũi nhất với giới hippy và cảnh tượng của thành phố San Francisco và được biến thành bất tử bởi Đại nhạc hội Monterey vào năm 1967 và những bài hát như là “San Francisco–Be Sure to Wear Some Flowers in Your Hair” (“San Francisco–Hãy nhớ Cài vài Cánh hoa trên Tóc bạn”) của Scott McKenzie.
=============

p178

Đó là điều khó khăn để nhớ rằng Hoa Kỳ không phải là một nguồn xấu xa duy nhất trên thế giới. Việc bỏ qua từ các trang nhất và tin tức truyền hình là những câu chuyện của sự đàn áp thực sự ở các tiểu bang có cảnh sát thực sự.

(Quang cảnh của cái gọi là “Mùa hè của Tình yêu, Phần hai” vào
năm 1967, trong những ngày trình diễn nhạc ngoài trời, phê thuốc
tự do, làm tình tự do, dần dà biến thành thác loạn, cuối cùng để
lại một số xác chết, rác rưới, và phá hoại)

(Điển hình cho cái gọi là phong trào “Hippy” thác loạn ở Mỹ,
cũng ảnh hưởng khá nhiều đến giới trẻ miền Nam Việt Nam)

Việc thiếu tường thuật đầy đủ cũng càng lúc tăng lên nhưng không ngừng, những cái lợi chắc chắn phải có cho quyền tự do và những thị trường tự do đang được thực hiện gần như ở khắp mọi nơi ở Á châu, ngoại trừ ở Trung Quốc Đỏ và Bắc Triều Tiên. Trung Hoa Dân Quốc, Hong Kong, Singapore, Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, và đặc biệt là Nhật Bản; không nước nào không có những vấn đề khó khăn, nhưng tất cả đều cho thấy những dấu hiệu của uy thế và sự tăng trưởng về kinh tế như là những quốc gia không phải mang cái ách Cộng sản. Hầu hết dân cư ở Nhật đã thực sự đi qua khỏi kỷ nguyên “Ba Báo vật Thiêng liêng” rồi (máy giặt, tủ lạnh, và truyền hình đen trắng) và đang tiến triển đến kỷ nguyên “Ba C” ((car) xe hơi, (color television) truyền hình màu, và (cooler)máy lạnh –điều hòa không khí).1 Những nền kinh tế nhỏ hơn khác sẽ cố gắng theo sát phía sau. Một khi được tiếp xúc với những lợi ích của tự do và những tiêu chuẩn sống cao hơn, có ít cơ hội đi ngược theo hướng khác.
Cùng một lúc và bị thua thiệt cho hầu hết những quốc gia ở phương Tây là sự thù hằn ngày càng tăng giữa hai nhà hảo tâm lớn của miền Bắc Việt Nam. Vào tháng Tư năm 1968, Liên Xô đã thực sự bắt đầu khai triển cái gì đó mà cuối cùng sẽ lên đến 1/3 những lực lượng chiến đấu trên bộ của nó chống lại một số lượng tương tự của những binh đoàn của Mao dọc theo biên giới tiếp giáp khoảng 6,500 km của họ.2 Thật không may cho Lê Bá Bình, George Philip, và tất cả những người đồng hướng của họ cùng tham dự vào cuộc chiến tương tự thế, vì những chính trị gia Mỹ thiếu khả năng khai thác một cách thực tiển sự rạn nứt giữa con vật khổng lồ đỏ.

(Cuộc đấu lộn của hai con vật khổng lồ đỏ: Liên Xô và Trung cộng)

(Hai vị trí vùng chiến tranh biên giới giữa Liên Xô và Trung cộng vào
năm 1969 với hình được phóng to từ khung chữ nhựt bên trái gần
Mongolia và từ khung chữ nhựt nhỏ bên phải với những đường
vạch ngắn đỏ là nơi từng xảy ra những cuộc chiến)

(Xác định rõ hơn khung chữ nhựt nhỏ, là khu vực ngã ba sông
của Amur (nằm ngang) và Ussuri (từ trên xuống))

Trong hơn hai mươi năm, vị thần nữ tự do đã bị giữ mạnh mẽ và thường xuyên bên trong cái chai của mình bởi những lực lượng Liên ước Warsaw –đọc thêm về Liên Bang Sô-Viết– ở những nơi như Hungary, Ba Lan và Đông Đức. Những nỗ lực để thoát ra luôn luôn gặp phải lực lượng cảnh sát nghiền nát, áp đảo và sức mạnh quân sự. Bấy giờ vào mùa hè năm 1968, những sinh viên đại học ở Tiệp Khắc bị nhiễm giống nhau với ý nghĩ cuồng nhiệt về quyền tự do mà qua đó dường như được chuyển đến những người khác trong dân cư vốn là những người cũng bắt đầu đòi hỏi sự thay đổi. Để đè bẹp dịch bệnh, y học Liên Xô ra toa cho một liều thuốc lớn của 600.000 binh sĩ và hàng ngàn xe tăng –nhiều người hơn là Hoa Kỳ có vào cùng thời điểm đó, hoặc từng có, ở Việt Nam– để chữa trị bệnh nhân.3

(Những lực lượng của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO)
chống lại Liên ước Warsaw gồm 8 nước : Bulgaria, Czechoslovakia
(Tiệp Khắc), Đông Đức, Hungary, Ba Lan (Poland), Romania,
Liên Bang Sô-Viết, và Albania), trong cuộc Chiến tranh Lạnh
của khoảng thời gian 1945–1990. Và chính Liên ước Warsaw
xây dựng nên Bức tường Bá Linh (Berlin))

(Con đường ở thủ đô Prague sau trận chiến cho đài phát thanh)

(Một phần trong hàng ngàn xe tăng là những đơn vị đầu tiên của Quân
đội Thiết giáp 20 của Sô-Viết trong thị trấn Liberec, nhằm đè bẹp
sinh viên, và người dân Tiệp Khắc đòi hỏi quyền tự do, với sự trợ
lực của 600.000 binh lính Liên Xô)

(Những người dân và sinh viên Tiệp Khắc cuồng nhiệt đòi
hỏi quyền tự do từ chế độ Cộng sản vào năm 1968)

p179

Phải mất ba tuần cho y học kiểu Liên Xô trông nom cách “chạy chữa” cho bệnh nhân. Hàng ngàn người không được nghe nói đến, không được ghi vào hồ sơ, hầu hết là vô tội, hầu hết không vũ trang –nếu họ được trang bị gì đó, họ được vũ trang rất nhẹ– những thường dân Tiệp Khắc bị giết chết mà không có một tờ báo nào dí mũi vào để ghi lại các sự kiện. Tương tự như những hành động giết người được gây ra bởi Quân Bắc Việt ở Huế chỉ sáu tháng trước đó, cũng như thế không có tiếng ồn ào nào ở Hollywood hoặc cuộc biểu tình nào chống lại hành động của Sô-Viết trên chỉ một khuôn viên đại học của Mỹ.

(Cuộc chiến đấu của dân Tiệp Khắc với tay không chống lại xe
tăng và hơn nửa triệu quân lính được vũ trang đầy đủ của Liên
Xô trên danh nghĩa là “được mời qua dẹp loạn.” Kết quả là
hàng ngàn cái chết không nghe nói đến qua báo chí như vụ thảm
sát ở Huế 6 tháng trước đó bởi Quân Bắc Việt và Việt Cộng)

C- Trong khi đó, Trở lại Cuộc chiến –Tháng 9 năm 1968:

Đại đội Bravo và phần còn lại của 1/26(pc 03) tiếp tục nhìn thấy cuộc giao tranh trên khắp Quân khu I, di chuyển xung quanh theo cách bàn cờ đến bất cứ nơi nào mà những người có chức vụ cao hơn vốn là những người ra những quyết định đó, xem sự hiện diện của họ là quan trọng nhất. Như trước đây, những hoạt động của họ không có sự chấm dứt. Không giống như hầu hết những binh lính vốn là những người biết chính xác bao nhiêu ngày còn lại trên chuyến quân vụ của mình, George Philip chưa bắt đầu đếm ngược ngày về nhà.
Cái kiểu và cường độ của cuộc chiến được trải qua dao động từ cuộc chạm súng nhỏ của những đội hỏa lực đến những cuộc giao chiến lớn nơi mà toàn bộ tiểu đoàn có thể bị lôi cuốn vào. Chính là trong suốt những giai đoạn đó khi anh George chứng kiến, trong hầu hết các trường hợp, mọi thứ thực sự có vẻ làm việc với nhau như thế nào –kết hợp các loại vũ lực– Không quân và Pháo binh (và tiếng súng Hải quân nếu họ đang ở gần bờ biển) làm tất cả điều gì mà họ có thể nhằm hỗ trợ Bộ binh, chỉ như đã được báo cho biết trước tại Trường Cơ bản.
Ngay cả mặc dù Đại đội Bravo đang ở trong chiến trường, thường thường chính là những thời gian nghỉ ngơi ngắn ngủi vốn trở nên đáng nhớ nhất. Với sự bất biến và nhàm chán của những khoảng thời gian trong rừng bụi cây, ngoại trừ đối với những trường hợp đó của cuộc giao chiến lớn hoặc một việc gì đó không may xảy ra cho một người bạn đồng hướng gần gũi, cái gì đó dần dà đốt cháy trở thành những hồi ức của một người đàn ông là những chuyện nhỏ nhặt đó, đôi khi là những điều tốt đẹp, vốn phá vỡ thói quen của anh ta.
Đối với những lý do không được biết đến với Thiếu úy George Philip, và chỉ giống như những ngày khi mà họ buộc phải di chuyển bởi những người có quyền lực như thần thánh về những hoạt động từ nơi này đến nơi khác, có một ngày khi mà họ đã và đang làm việc ở một nơi nào đó về phía nam của Đà Nẵng và đã được mang đi khỏi, không có một lời giải thích nào, chiến trường bằng xe cam-nhông trở lại vùng “hậu phương” ở Đà Nẵng.

p180

Điều đó là luôn luôn là một sửng sốt xảy đến từ chiến trường; để trở lại giữa sự sống, sự hít thở sinh khí, những binh lính TQLC(pc 04) vốn là những người không đi đến rừng bụi cây, những người bạn đồng ngũ vốn là những người có thư từ của họ mỗi ngày, vốn là những người đi cầu ở những chỗ được ngồi trên bồn cầu, vốn là những người tắm rửa thường xuyên, có thể mua sắm ở Trạm Trao đổi hoặc đi ra ngoài vào thị trấn cho một ít chuyện trăng hoa, ngủ trên những cái giường gấp lại được và là những người, chắc chắn là, hàng ngày ăn ít nhất hai bữa ăn nóng với trái cây cùng bánh mì và sữa tươi thực sự. Những binh lính TQLC ở rừng bụi cây, những người lính TQLC thực sự, gọi những người người đó là REMF. Những tên REMF này (Rear Echelon Mother Fuckers = Những thằng Mẹ đ… có Cấp bậc ở Hậu phương) dễ dàng nhận ra. Họ có những đôi giầy trận sáng bóng và những bộ đồng phục được ủi sạch sẽ vốn không bị phai màu, hoặc mòn rách. Những tên REMF được cạo râu sát bóng và nặng nề hơn những anh em của họ trong rừng bụi cây vốn là những buộc phải từ bỏ tất cả thứ đó như là sữa và bữa ăn ngon. Những quân nhân TQLC(pc 04) thực sự cùng một lúc thù ghét một cách cực kỳ và lẫn ghen tị một cách âm thầm những tên REMF.
Vào ngày mà anh George và hầu hết các sĩ quan khác của Đại đội Bravo đến, điểm dừng ngay lần đầu tiên của họ là một cơ sở lộn xộn nào đó của thành phố Đà Nẵng dành cho các sĩ quan. Việc xuất hiện giống như họ mới đến từ một ít tuần ở chiến trường –mà họ đã từng có mặt; việc tỏa ra những mùi cây rừng và mùi hôi cơ thể vốn đã trở thành một phần của xác thịt của họ và những bộ đồng phục của họ, họ nổi bật giống như những người dân da đen tại một cuộc họp xét xử của đám kỳ thị chủng tộc quá khích Klan, và sắp được như là chào đón.

(Cuộc họp theo lễ nghi của đám Ku Klux Klan (KKK), có cả
những nhân viên cảnh sát, ở tiểu bang Georgia vào năm 1946)

Sau khi đi qua một hàng thực phẩm và chồng chất lên mỗi dĩa của họ với rất nhiều thức ăn hơn họ có thể có thể tiêu thụ, sau khi uống nhiều ly sữa lạnh, tươi, nguyên chất và bình nhựa nước trái cây với hương vị nhân tạo hiệu “Bug Juice” trong khi vẫn còn trong hàng người lấy thức ăn, và sau đó thêm đầy lại những cái ly trước khi tìm kiếm một nơi, xa khỏi những tên REMF, để ngồi, George Philip và những sĩ quan trong đại đội theo dõi một cái gì đó đặc biệt.*
Trong những vô số thứ cơ bản bị bỏ lỡ bởi những thanh niên rắn rỏi vốn là những người đã trải qua những tuần lễ cuối trong những khu rừng tối tăm và những cánh đồng lúa hôi thúi trên khắp Việt Nam, là niềm vui đơn giản của việc nhìn vào mặt và nói chuyện với một người phụ nữ Mỹ thực sự.
=============
* Bug Juice –là tên được dùng để mô tả thức uống có hương vị, loại Kool-Aid (i.e. thức uống bằng hương vị nhân tạo) thường được phân phối chuyển ra nước ngoài, ở những phòng ăn chung của quân nhân, và thậm chí được chế biến cho những binh lính ở chiến trường, trước khi kỹ thuật cho phép việc giới thiệu những thức uống có chất ga. Bug Juice trên cơ bản là nước đường với màu sắc nhân tạo. Bug Juice cũng là một cái tên được dùng cho thuốc chống muỗi vốn thường được mang theo trong những cái chai nhựa nhỏ được giữ yên một chỗ bằng dụng cụ giống như sợi dây cao su lớn mà những binh lính TQLC(pc 04) và những chiến binh mang trên nón sắt của họ.
=============

(Chai nhựa thuốc chống muỗi)

(Hình ảnh tiêu biểu của một người lính TQLC Mỹ ở
Việt Nam với những trang bị súng đạn, đồ dùng cá
nhân, và chai nhựa thuốc chống muỗi trên nón sắt)

p181

Cái gì đó hiện hữu đối với những chiến binh và những binh lính TQLC trong hàng ngũ các đơn vị theo cách tương tác với phụ nữ ở Việt Nam, nếu có sự hiện hữu nào đó, chính là hầu hết những tên REMF, thường là một giao dịch công việc khách quan với một số phụ nữ tạp dịch có tuổi nào đó dọn dẹp bàn rượu mạnh hoặc giặt giũ, hoặc một giao dịch công việc cá nhân nồng nhiệt mà qua đó bao gồm một cơ hội để ký hợp đồng với chiều hướng vi khuẩn nào đó của bệnh tật trong xã hội. Khả năng tương tác với một phụ nữ, hoặc những phụ nữ Mỹ; những nữ y tá, tiếp viên hàng không, phóng viên, bất cứ là gì, luôn luôn là một kinh nghiệm đáng chú ý bởi vì hiếm khi xảy ra.
Vừa khi anh George và những sĩ quan khác của Đại đội Bravo chiếm lấy cái bàn của họ, anh ta nhìn lên và ngạc nhiên nhìn thấy ba người phụ nữ. Những phụ nữ Mỹ. Những phụ nữ nầy là những con “Búp bê trong Bộ đồng phục,” có thể là làm việc cho Tổ chức Phục vụ Liên Hợp (United Service Organization = USO), và họ dường như đang di chuyển về hướng nơi mà các sĩ quan của Đại đội Bravo ngồi.
Mang những dĩa thức ăn, và theo sau vết chân một cách lịch sự, là ba vị Trung úy thuộc loại REMF râu ria nhẵn nhụi, áo quần thẳng hồ, và được ủi ly vốn là những người chưa từng để mắt đến anh George và nhóm. Ra dấu hiệu cho những người bạn mình dừng lại, ngừng ăn, và thử nhìn vào phép lạ sắp xảy ra, những sĩ quan của Đại đội Bravo, cùng một lúc, đứng thẳng lên, chuẩn bị tinh thần chính mình cho cuộc trò chuyện bằng kiến thức, bất kỳ là nói chuyện gì. Nhận biết rằng bề ngoài và sự vệ sinh của họ vượt khỏi luật lệ ăn cữ, họ đang tin tưởng vào lòng thương hại bao trùm của những con chim Họa mi vùng Florence mai sau nầy. Vào giai đoạn nầy các chuyến quân vụ của họ, họ sẽ tạo sự chú ý của phái nữ bằng bất cứ cách nào mà họ có thể có được. Ann và Margret trông giống như nhau, những con búp bê trong bộ đồng phục thì không thế, nhưng thời gian đáng kể ở trong rừng bụi cây có cách để làm giảm các tiêu chuẩn của một người đàn ông. Mặc dù có tất cả những trang bị cần thiết và những thứ thêm vào, ít ra họ là những phụ nữ.
Sự dự đoán tạm thời thật là siêu phàm. Anh George Philip cảm thấy giống như một cậu bé lớp bảy phải lòng với một nàng cổ vũ thể thao của trường trung học –tất cả trong khoảng không gian một ít giây– cho đến khi cái thực tế bị áp đặt trở lại một cách thô lỗ bởi những vị Trung úy thuộc loại REMF vốn là những người, một khi họ nhìn thấy sự hiện diện của những sĩ quan thuộc Đại đội Bravo, đột ngột lái những con búp bê trong bộ đồng phục ra xa và hướng tới một khu vực nhã nhặn hơn của phòng ăn. Thật là một thất vọng. Giữa chính họ, các sĩ quan của Đại đội Bravo tiếp tục ăn, tức thời và cùng lúc thì thầm những câu nói khác nhau mà qua đó tất cả đều có câu gì đó như là chủ đề gốc của họ “… đ…m… những tên REMF…”

p182

Ngay cả mặc dù có cuộc thảo luận về sự thâm niên của Thiếu úy, đến lúc anh George đang bắt đầu tháng thứ sáu của mình như là một Quan sát viên Tiền phương cho B 1/26,(pc 03) anh ta là một quân nhân TQLC(pc 04) khá dày dạn, ít nhất là theo những tiêu chuẩn của Mỹ. Nhờ vào sự sống sót lâu dài nầy của mình, đối với những quân nhân mới hơn, ông là một nhà hiền triết. Với nhiều chục những nhiệm vụ hỏa lực trong kinh nghiệm của mình, có vài việc mà qua đó hiện thời thực sự khiến anh ta bực tức. Anh ta có thể ra lệnh gây ra một số cái chết và sự hủy diệt khá hợp lý với độ chính xác trong nháy mắt. Anh ta đã từng nhận lấy ý kiến của Đại tá Helmer, áp dụng nó, và hiện thời chia sẻ nó với những người khác.
Vào tháng Chín năm 1968, George Philip, người bạn của anh ta là Matt Dillon, và nhiều người khác trong số những binh lính TQLC thuộc Đại đội Bravo từng phục vụ lâu dài bị gây ảnh hưởng bởi chất thải của rừng –một thứ kinh tởm nào đó không rõ vốn tấn công lớp da, đặc biệt là ở những khu vực nhạy cảm và quan trọng. Sự chữa trị thực tiển duy nhất là ra khỏi Việt Nam đến một nơi hiếu khách hơn, giống như ở nhà.
Ngay cả đối với việc nuốt thức ăn thỉnh thoảng tại những nơi giống như phòng ăn của những sĩ quan ở thành phố Đà Nẵng, anh George bây giờ có cân nặng ở giữa 54–60 kg, giảm xuống từ sức nặng 68 kg thiếu mỡ rồi đó trước đây. Anh George đã từng có bề ngoài của một trong những người bạn tròn trĩnh hơn bước ra khỏi trại tập trung Auschwitz hoặc Buchenwald của Đức Quốc Xã vào giữa năm 1945. Cơ thể được tô vàng với loại kem dưỡng da đáng ngờ nào đó mà những y tá quân y điều trị cho tất cả các vấn đề về da, nếu người mẹ của anh ta đã có thể nhìn thấy anh ta trông như thế nào, bà ta có thể đã bị đột quỵ.

D- Sự Thuyên chuyển Trở lại Đội pháo binh Alpha 1/13:

Vào khoảng nửa đoạn đường qua chuyến quân vụ 13 tháng của mình, đến lúc cho anh George thuyên chuyển trở lại để phục vụ cho một đội pháo binh, như là cách thường lệ dành cho tất cả các vị Thiếu úy pháo binh. Nhiệm vụ đó, trong khi không dễ dàng, là ở nơi mà không có nơi nào nghiêm ngặt hoặc nguy hiểm gần như nửa thời gian đầu tiên của chuyến quân vụ của anh ta lom khom trên những con đường mòn và những cánh đồng lúa với những lời càu nhàu.
Tháng Mười Hai năm 1968 đánh dấu tháng thứ 45 kể từ khi những binh lính TQLC(pc 04) đã đến bờ biển ở Việt Nam và nỗ lực trong cuộc chiến lớn của Mỹ ở vùng Đông Nam Á đã bắt đầu.
Đến tháng thứ 45 của cuộc chiến trên bộ trong cuộc Nội Chiến Mỹ, lực lượng Liên minh đang bấp bênh trên bờ vực của sự sụp đổ.

p183

Tướng William Tecumseh Sherman, người gây họa của miền Nam và một cái tên vẫn bị chửi rủa một trăm năm sau, dưới Đường phân ranh Mason–Dixon, cùng với những quân lính của mình đang theo đường vào tiểu bang Georgia và sẽ nhanh chóng di chuyển vào tiểu bang Carolina, phá hủy tất cả mọi thứ trên đường của mình.

(Thiếu tướng William Tecumseh Sherman (1820–1891)
thuộc Quân đội Liên Hợp (Union Army) thời Nội Chiến Mỹ,
bị nguyền rủa hàng trăm năm bởi dân miền Nam vì sự tàn
phá do ông ta gây ra trên đường tiến quân, dù không tàn sát
thường dân như sự kiện ở Cố đô Huế, Việt Nam)

(Đường tiến quân màu xanh của Thiếu tướng Sherman phá hủy
mọi thứ trải dài hơn 700 km từ thủ phủ Atlanta, Georgia, vào ngày
2/09/1864, xuyên qua tiểu bang đó về hướng đông nam, xuyên qua
tiểu bang South Carolina và ngược lên tiểu bang North Carolina vào
ngày 26/04/1865, trong vòng 8 tháng gieo họa tàn phá của ông ta)

(Đường phân ranh Mason–Dixon nguyên bản chia ra
vùng phía bắc và nam trong cuộc Nội Chiến Mỹ)

(Những bia kỷ niệm ranh giới có tên là “Hòn đá Vương niệm”
(Crownstone), nằm dọc theo Đường phân ranh Mason–Dixon
tại mỗi khoảng cách khoảng 8 km)

Bốn mươi lăm tháng sau khi Hoa Kỳ đã tuyên chiến với Đức vào tháng Tư năm 1917, một “cuộc Chiến tranh nhằm Chấm dứt Tất cả những cuộc Chiến tranh” đã kết thúc trong hơn hai năm. Những người Mỹ được khuyến khích để bắt đầu hưởng thụ sự thịnh vượng chưa từng có và sẽ nhảy múa kiểu Jitterbug và Charleston trên đường của họ qua “Thập niên Hai mươi Nhộn nhịp.”(pc 05)

(Kiểu khiêu vũ Jitterbug phổ thông của Mỹ trong đầu
thế kỷ 20, với những người đang nhảy múa vào năm 1938)

(Kiểu khiêu vũ Charleston trong thập niên 1920s,
náo nhiệt hơn kiểu khiêu vũ Jitterbug)

Bốn mươi lăm tháng sau khi người Nhật tấn công Cảng Trân Châu, Hoa Kỳ đang chuẩn bị để đưa đến một-phát-súng-ân-huệ qua quả bom nguyên tử bằng cách thả xuống quả bom “Nhóc Con” trên đảo Hiroshima và “Gã Mập” trên đảo Nagasaki. Những người Mỹ mỏi mệt chiến tranh một lần nữa mong đợi hưởng thụ nền hòa bình –mà qua đó sẽ chứng minh là mơ hồ và ảo tưởng– và đang chi tiêu tất cả tiền bạc mà họ đã từng dành dụm trong suốt cuộc xung đột, trên những thứ vốn chẳng bao lâu được sản xuất bởi khả năng kỹ nghệ gia thời chiến được tự do phát triển của quốc giải.

(Quả bom nguyên tử “Nhóc Con” (Little Boy) chứa
Uranium-235, nặng khoảng 4.400 kg, được thả xuống đảo
Hiroshima, Nhật, vào ngày 6/08/1945, trước nhất)

(Quả bom nguyên tử “Gã Mập” (Fat Man) chứa plutomium,
nặng hơn 4.600 kg được thả xuống đảo Nagasaki, Nhật,
vào ngày 8/09/1945, trong cuối Thế Chiến thứ II)

Bốn mươi lăm tháng sau khi những chiếc xe tăng T-34 được cung cấp bởi Liên Xô trong lần đầu tiên lăn bánh xuyên ngang thủ đô Seoul, Nam Hàn, một thỏa thuận ngưng bắn đã có hiệu lực trong chín tháng. Bốn mươi lăm tháng sau khi sự khởi đầu hành động đó ở đó trong vùng Bắc Á, Bill Haley và ban nhạc Sao chổi (Comets) thu âm bản nhạc “Rock Around Clock” (“Kích động Suốt Ngày”).
Khi năm 1968 lăn đến gần, ngay cả với những cái chết của Quân Bắc Việt và Việt Cộng được xếp chồng lên nhau như loại gỗ đốt, có bằng chứng thực tiển bị giới hạn đối với những người Mỹ ở quê nhà để cho thấy rằng những người tốt đã tạo nên nhiều tiến bộ trong cái gì đó mà hiện thời là năm đẫm máu nhất, tiêu hao nhất của cuộc xung đột. Từ nỗ lực như sức mạnh Hercule trong suốt mười hai tháng đó, một cái nhìn vào bản đồ cho thấy một ít rằng dường như tình hình đã thay đổi tốt hơn. Vẫn còn có cuộc chiến đấu trên khắp đất nước Việt Nam Cộng Hòa. Một quốc gia qua bề ngoài đang tăng trưởng cảm giác chán chường dự vào của nó mà qua đó dường như chỉ sinh ra một vụ thu hoạch cay đắng. Nếu Quân Bắc Việt và lực lượng Việt Cộng còn lại đã mất đi ý chí chiến đấu, đó là điều không rõ ràng ở mức độ mà George Philip và những người đồng hướng của mình hoạt động.

(Xe tăng T-34/85 của Liên Xô)

p184

A- Cuộc sống Tiếp tục / anh Bình Gặp cô Cẩm / Không phải là cuộc Chiến tranh của người cha mình:

Trong những tháng theo sau nhiệm vụ tại cầu Bình Lợi, Tiểu đoàn 3 và tất cả các đơn vị di động khác của TQLC(pc 04) tiếp tục phục vụ ở bất cứ nơi nào mà những người có chức vụ cao hơn trong chuỗi chỉ huy quyết định cho những công việc phục vụ của họ vốn phải cần đến một cách quan trọng nhất. Mặc dù bận rộn như nhịp độ của các hoạt động, có phương pháp và thói quen cho công việc của họ.
Trong suốt những khoảng thời gian ngắn ngủi của việc phục hồi lại và tổ chức lại khi Tiểu đoàn 3 sẽ luân chuyển qua Thủ Đức, Đại úy Bình có thể trở về nhà trong chuyến thăm viếng sơ qua gia đình và bạn bè mình. Như trước đây, anh ta luôn luôn đến với đoàn người phụ tá bắt buộc phải có của những vệ sĩ và những chàng cao bồi vốn là những người, sau kinh nghiệm của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, cảm ứng nhiều hơn đối với sự nguy hiểm tiềm ẩn. Sự hiện diện của anh ta và việc đến và đi của anh ta tạo nên sự trấn tĩnh và lẫn sự an tâm cho vùng lân cận lớn hơn mà trong đó cũng có nhiều gia đình mà những người con của họ đang phục vụ xa.
Đối với những người Mỹ vốn là những người chỉ nhìn thấy chiến tranh trên truyền hình hoặc đọc về nó trong các tạp chí và báo chí, sự nhận thức về cuộc sống bình thường ở Việt Nam thì gần như không thể nào hiểu rõ. Đối với hầu hết dân Mỹ, đất nước đó dường như ngập trong làn sóng Việt Cộng và Quân Bắc Việt, đầy rẩy với các nhà sư Phật giáo chỉ tìm kiếm một cái cớ để đánh diêm quẹt vào những áo choàng sắc vàng nghệ của họ, những đường phố chính của nó đầy ắp với những người bán hàng bất hợp pháp, không thành thật và những gái điếm. Cuộc sống đó tiếp tục diễn ra như trước đây chỉ được biết đến đối với những người vốn có thể nhìn thấy nó xảy ra. Và cuộc sống, trong mọi cách và trong mỗi chu kỳ, tiếp tục tiến hành với sự gián đoạn ngắn.
Cuộc hôn nhân của người em gái tên Yến của anh Bình vào ngày 17 tháng Mười Một 1968 thì đáng chú ý đặc biệt đối với vị Đại úy TQLC chiến đấu dày dạn. Lê Yến đã từng làm việc trong văn phòng kế toán của Trạm Trao đổi thuộc Quân đội Hoa Kỳ từ năm 1966. Trong số bạn bè gần gũi nhất của cô ta, Bành Cẩm là một phần của nhóm nhỏ gồm những thiếu nữ thu hút, có đủ điều kiện, đang có mặt. Việc tán thành chuyện hai người qua sự thay mặt người anh của mình, cô Yến đã liên tục ca tụng đức tính tốt và sự vĩ đại của anh ta, giống như bất kỳ người em gái nào cảm thấy tự hào, cho cô Cẩm nghe trong nhiều tháng trời dẫn đến lễ cưới của cô Cẩm. Giữa việc anh Bình gần như luôn luôn được đi chiến đấu ở một nơi nào đó và việc mẹ của Cô Cẩm theo những cách truyền thống riêng biệt, đã không có những cơ hội nào trước đó cho một cuộc giới thiệu chính thức, hợp thức theo đạo làm con. Cuộc hôn nhân của Lê Yến đưa đến một cơ hội như thế. Phần còn lại, như tất cả họ sẽ nói, sẽ là lịch sử.

(Đại úy Lê Bá Bình và Bành Cẩm trong ngày cưới của họ)

p185

Khó nắm bắt mặc dù sự chiến thắng ở khu vực Đông Nam Á xuất hiện, không phải mọi thứ trong tháng Mười Hai năm 1968 chỉ ra sự chuyển tiếp đáng chú ý của Nền văn minh Tây phương. Có niềm vui quốc gia chân thực trong sự trở lại của đoàn thủy thủ của con tàu USS Pueblo vốn là những người đã phải chịu đựng mười một tháng tra tấn thân thể và giằn vặt về tinh thần dưới bàn tay của những người Bắc Triều Tiên.
Tuy phần nhiều quân đội Mỹ có thể như là bị sa vào những đầm lầy và ruộng lúa của Việt Nam, cuộc phóng phi thuyền Apollo 8, chuyến bay có-người-lái lần đầu tiên đi vào quỹ đạo mặt trăng, đã trưng bày sự vượt bực về kỹ thuật của quốc gia. George Philip lắng nghe cùng với một ít quân nhân TQLC khác vào Ngày Giáng sinh –là Đêm Giáng sinh tại quê nhà– chương trình phát sóng của Mạng lưới Truyền của Lực lượng Vũ trang về lời chào mừng bất ngờ vào dịp lễ Noel từ ba phi hành gia của phi thuyền Apollo 8 cách hàng trăm ngàn dặm xa trong tàu vũ trụ nhỏ bé của họ.
Trong cái gì mà sau đó được lắng nghe phần phát sóng nhiều nhất từng có, ba nhà phi hành William Anders, Jim Lovell, và Frank Borman, mỗi người đọc một đoạn từ sách Sáng Thế Ký. anh Anders bắt đầu:

Cho tất cả người dân của Trái đất, phi hành đoàn của phi thuyền Apollo 8 có một thông điệp mà chúng tôi xin phép gởi đến các bạn: Trong sự khởi đầu, Thượng Đế tạo ra trời và đất. Và trái đất thì không có hình dáng và trống rỗng; và bóng tối phủ trên bề mặt của vực thẩm. Và thần linh của Thượng Đế di chuyển trên bề mặt những vùng nước. Và Thượng Đế nói, hãy có ánh sáng. Và đã có ánh sáng. Và Thượng Đế nhìn thấy ánh sáng, đó là điều tốt, và Thượng Đế phân ánh sáng ra khỏi bóng tối.

Anh Lovell tiếp tục:

Và Thượng Đế gọi ánh sáng là Ngày và bóng tối Ngài gọi là Đêm. Và buổi chiều tối và buổi sáng là ngày đầu tiên. Và Thượng Đế nói, hãy có một bầu trời ở giữa những vùng nước, và hãy để cho nó phân chia những vùng nước khỏi những vùng nước. Và Thượng Đế tạo nên bầu trời, và phân chia những vùng nước mà qua đó nằm dưới bầu trời là những vùng nước vốn đã ở trên bầu trời, và nó là như thế. Và Thượng Đế gọi bầu trời là thiên đàng trên. Và buổi chiều tối và buổi sáng là ngày thứ hai.

p186

Anh Borman kết thúc với:

Và Thượng Đế nói, hãy để cho những vùng nước dưới thiên đàng được tập hợp lại với nhau trong một nơi, và hãy để cho vùng đất khô xuất hiện. Và nó là như thế. Và Thượng Đế gọi vùng đất khô là Mặt đất; và nơi tụ tập với nhau của những vùng nước Ngài gọi là Biển.
Và Thượng Đế thấy rằng đó là điều tốt. (Sáng Thế Ký 1:01–1:10) Và từ phi hành đoàn của phi thuyền Apollo 8, chúng tôi khép lại với lời chúc ngủ ngon, may mắn, một Giáng Sinh Vui vẻ, và Thượng Đế ban ơn lành cho tất cả các bạn… tất cả các bạn trên Trái đất tốt đẹp.” (nguồn tài liệu từ NASA, Wikipedia)

(Hình chụp trong con tàu vũ trụ Apollo 8 đang bay vòng quanh mặt
trăng vào năm 1968, với Frank F. Borman II, vị chỉ huy, ở giữa,
James A. Lovell, Jr., bên trái, và William A. Anders, bên phải
đang truyền sóng lời chúc mừng dịp Noel)

Xế buổi chiều tối Giáng Sinh đó, anh George ngồi bên ngoài hầm trú của Trung tâm Điều hành Hỏa lực nhìn lên mặt trăng gần đầy, mơ màng chỉ như là một thanh niên thường hay làm. Anh ta nghĩ về cha mẹ mình, em trai và những người em gái mình, cuộc chiến tranh, và những người bạn mà anh ta đã từng nhìn thấy bị thiệt mạng và bị thương. Anh ta nghĩ về việc điều kỳ lạ làm sao là nửa triệu người Mỹ ở Việt Nam đang chiến đấu trong những hoàn cảnh man khai nhất trong khi ba người ở trên đó đang bay vòng quanh mặt trăng. Điều đó tạo một ít hợp lý đối với anh ta để cố gắng biết và hiểu cái gì đó không thể tạo ra sự hợp lý về nó. Anh ta suy nghĩ thêm một ít. Anh ta suy thêm một ít, và sau đó anh ta trở lại bên trong hầm trú.
Chỉ giống như những quân nhân TQLC vốn là những người quá bận rộn chiến đấu với Quân Bắc Việt không thể nghe sự tiên đoán vào tháng Hai của xướng ngôn viên truyền hình Walter Cronkite về sự thất bại theo dự kiến của họ trong trận chiến cho Khe Sanh, có thể đó là một điều tốt mà những người lính ở Việt Nam hầu như miễn nghe tin tức về một cuộc thăm dò được thực hiện gần cuối năm mà qua đó cho thấy rằng, trong số những sinh viên Mỹ, người mà họ chọn để nhận định với hầu hết mọi người là Che Guevara.4 Khi năm 1968 sắp kết thúc, khi George Philip, gần đây được thăng chức lên Trung úy, phản ảnh trên tất cả việc vốn đã qua đi rồi và sắp xảy ra, anh ta tiếp tục quay trở lại với cái gì mà anh ta đã sớm phỏng đoán — “đây không phải là cuộc chiến tranh của cha mình.”

(Ernesto “Cher” Guevara (1928–1967) thường được
biết đến như là “el Che” hoặc “Che” là một nhà cách
mạng Agentina theo chủ nghĩa Marx)

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Dịch vụ Triệt âm : (Service Silent) là Dịch vụ Tàu ngầm Hải quân Hoàng gia (The Royal Naval Submarine Service), một thành phần của Hải quân Hoàng gia. Khi những những tàu ngầm nói chung đòi hỏi hoạt động không bị phát hiện, nhóm Dịch vụ Triệt âm được thành lập trong mục đích đó.

pc 02_ Tàu ngầm USS Thresher (SSN-593) : là chiếc tàu ngầm thứ hai với cùng tên USS Thresher. SSN-593 là chiếc tàu ngầm dẫn đầu của lớp những chiếc tàu tấn công chạy bằng năng lượng ngầm hạt nhân trong Hải quân Hoa Kỳ. Sự mất đi trên biển của nó trong vùng Bắc Đại Tây Dương trong suốt những cuộc thử nghiệm lặn sâu khoảng 354 km về phía đông của thành phố Boston, thuộc tiểu bang Massachusetts, vào ngày 10 tháng Tư năm 1963 là biến cố quan trong cho một bước ngoặt của Hải quân Hoa Kỳ, qua việc dẫn đến sự thực hiện một chương trình nghiêm ngặt về vấn đề an toàn cho tàu ngầm được gọi tắt là SUBSAFE (Submarine Safety). Được đo lường bằng những sinh mạng bị mất, bối cảnh và ý nghĩa sự kiện đã qua, vụ chìm chiếc tàu ngầm Thresher còn đó, và vẫn còn ngày hôm nay, một thảm họa tàu ngầm tồi tệ nhất của thế giới. Khi chiếu tàu ngầm hạt nhân đầu tiên bị mất đi trên biển, sự biến mất của nó tạo ra sự sửng sốt và cảm thông trên quốc tế.

pc 03_ B 1/26 : Đại đội Bravo, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 26.
pc 04_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 05_ “Thập niên Hai mươi Nhộn nhịp” : (Roaring Twenties) là một thuật ngữ đôi khi được sử dụng để đề cập đến những năm 1920s, mang đặc điểm một khía cạnh văn hóa đặc biệt của thập kỷ ở thành phố New York, Chicago, Paris, Berlin, London, và nhiều thành phố lớn khác trong suốt giai đoạn của sự thịnh vượng kinh tế bền vững.

Advertisements

One thought on “Phần 13: Mỹ Lai

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s