Phần 11: Tâm và Trí ở Quê nhà

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

(trang bỏ trống)
p155

Phần 11: Tâm và Trí ở Quê nhà

Khóa học Cơ bản về Pháo binh dành cho những Sĩ quan mà George Philip đã từng là một phần trong những người được tốt nghiệp từ Quân đồn Sill vào đầu tháng Ba năm 1968. Đến lúc tốt nghiệp, anh ta đã biết được nhiều bạn bè nữa bị thiệt mạng ở Việt Nam; một người trong số họ là vị Thiếu úy bộ binh mà vừa rồi anh ta đã trải qua một phần thời gian nghỉ phép lễ Giáng sinh của mình với người đó tại nơi giải trí Disneyland. Người bạn đặc biệt đó đã bị thiệt mạng trong vòng một tuần vừa đến đất nước.
Từ bây giờ, bắt đầu tin vào hoàn cảnh của cái chết của riêng mình và nhận ra rằng có lẽ sẽ không thiếu những mục tiêu để không mưu tính gì cả khi anh ta đến Quân khu I, Thiếu úy George Philip lợi dụng hết một tháng nghĩ phép được cấp cho tất cả các thành viên phục vụ trước khi đi ra nước ngoài. Lời khuyên bảo già giặn lúc chia tay nhưng tựa như là bình thường của người cha kế của anh ta sẽ biến ra thành điều sáng suốt khôn ngoan: “Hãy hạ đầu và mông mình xuống, con.” (i.e. “Hãy khiêm tốn và tránh gây sự gây chú ý nha, con.”)
Những tháng của tháng Hai, tháng Ba và tháng Tư đã chứng kiến một nhịp độ ngày càng tăng lớn của các sự kiện ngày càng lớn, hầu hết nhưng không phải tất cả có liên quan đến những vấn đề xung quanh cuộc chiến ở Việt Nam. Cuộc chiến đấu tiếp tục trong khu vực Đông Nam Á chia sẻ thời gian trên các buổi phát hình tin tức hàng đêm và các trang bìa của tất cả tờ báo với những câu chuyện chung chung về những sự căng thẳng về chủng tộc đang sưng phồng to lên ở các thành phố của Mỹ và sự bất mãn của công chúng đang gia tăng đối với cuộc chiến tranh, đặc biệt là ở các khuôn viên đại học quốc gia. Quang cảnh chính trị đang trải qua một sự thay đổi cơ bản.
Những thương vong to lớn gây ra cho Việt Cộng và riêng biệt về hạ tầng cơ sở của nó cùng với Bắc Việt đã làm thoả mãn một số ít người vốn chú mục trên con số ghi nhận về những người Mỹ bị thiệt mạng và bị thương vào tháng Hai. Nếu đây là một chiến thắng, chính là một chiến thắng kiểu vua Pyrrhus(pc 01) (i.e. chiến thắng nhưng cuối cùng dẫn đến sự bại trận) theo cách diễn tả đúng nhất. Vào ngày cuối cùng trong tháng, Robert Strange McNamara từ chức Bộ trưởng Quốc phòng (i.e. vào ngày 29 tháng Hai năm 1968).

(Những chiến dịch của vua Pyrrhus của nước Epirus nhỏ bé
tấn công nước Ý (La Mã) với những chiến thắng nhưng cuối
là sự thiệt hại không thể thay thế được đưa đến sự bại trận)

p156

Nếu xét về sự ảnh hưởng và lực hấp dẫn về chính trị nhiều hơn là ông ta có thể đã xứng đáng, những lời tuyên bố hàng đêm của Walter Cronkite về cuộc chiến tranh trở nên hắc ám hơn mỗi ngày. Được quảng cáo như là một người đàn ông đáng tin cậy nhất ở Mỹ, chương trình phát sóng của ông ta vào ngày 27 tháng Hai, bao gồm những quan sát từ một chuyến đi gần đây đến Việt Nam và sự tiên đoán của riêng ông ta rằng dường như “chắc chắn hơn bao giờ hết là kinh nghiệm đẫm máu ở Việt Nam sắp kết thúc trong một thế cờ bế tắc.”1 Sự đánh giá của ông ta về cuộc giao tranh ở Khe Sanh may mắn là không được chiếu trực tiếp cho những binh lính Thủy quân Lục chiến (TQLC) hiện đang tham gia ở đó: “Một vụ xử hòa khác có lẽ đang đến trong các trận chiến lớn được dự kiến là về phía nam của Khu phi Quân sự. Vùng Khe Sanh có thể sụp đổ tan tành, với sự mất mát khủng khiếp qua những sinh mạng, uy tín và tinh thần chiến đấu của người Mỹ, và điều này là một thảm kịch của sự bướng bỉnh của chúng ta ở đó.” Tổng thống Johnson được cho là đã từng bị nhiều quấy rầy bởi những nhận xét các của tin tức viên và thú nhận với các vị cố vấn của mình rằng, “Nếu tôi đã mất ông Cronkite, tôi đã mất đất nước.”

(Phát ngôn viên chính của truyền hình, truyền thanh Walter Leland
Cronkite của chương trình Tin tức Chiều tối CBS trong những thập
niên 60’s, 70’s, cũng là người công bố đầu tiên về cái chết
của Tổng thống John F. Kennedy vào ngày 22/11/1963)

(Walter Cronkite –người mặc áo giáp– đang thực hiện cuộc
tường thuật sau biến cố Tết Mậu Thân 68′ và cũng là người
viết bài “Report from Vietnam: Who, What, When, Where, Why?”(pc 02)
(“Bài Tường thuật từ Việt Nam: Ai đó, Điều gì, Khi nào, Nơi đâu, Tại sao?”))

Trong khi đó, biến cố con tàu USS Pueblo (i.e. vụ Bắc Hàn bắt con tàu Mỹ) vẫn còn chưa được giải quyết với nhóm thủy đoàn của nó gánh chịu sự tra tấn và hành hạ tiếp tục, và khả năng của Mỹ để trả đáp dường như yếu ớt và không hiệu nghiệm. Vào ngày 7 tháng Ba, một tàu ngầm có phi đạn thuộc lớp Golf của Sô-Viết, có tên là K-129, bị nổ tung một cách bí ẩn và bị chìm xuống ở mực nước 3.048 m (10.000 bộ), khoảng 644 km về phía bắc của Cảng Trân Chân. Được giữ bí mật từ công chúng Mỹ, ngay cả những người Liên Xô không biết rằng những nguồn tình báo chống tàu ngầm của Hoa Kỳ đã theo dõi dấu vết K-129; các vấn đề xung quanh sự mất mát con tàu chỉ gây phức tạp bãi lầy của những quan hệ Sô-Viết–Mỹ. Cùng một lúc, những căng thẳng giữa Trung Quốc và Liên Xô đang gia tăng mà không có bất kỳ khả năng rõ ràng nào của Mỹ để rút ra sự lợi ích cho chiến trường ở Việt Nam hoặc ở tòa án của dư luận quốc tế.

(Tàu ngầm có phi đạn liên lục địa, thuộc lớp Golf II,
của Liên Xô chạy bằng dầu cặn và điện, được hạ thủy vào
năm 1960, và bị chìm vào ngày 8/03/1968, nhưng Sô-Viết
không truy tìm. Mãi đến năm 1974, Mỹ mới kéo lên)

(Vị trí được cho là tìm thấy lại được của K-129,
gần Cảng Trân Châu)

Việc sử dụng hiệu quả những gián điệp và những tài sản bị kiểm soát trong giới truyền thông nước ngoài bởi Ủy ban An ninh Nhà nước (KGB) hay Cục Tình báo Trung ương Sô-Viết cho phép thông tin sai lạc và thông tin bóp méo để gây ra sự thiệt hại lan rộng cho uy tín của Mỹ. Một thí dụ như thế bao gồm sự giả mạo(pc 03) theo cảm hứng Liên Xô về một bức thư từ Văn phòng Nghiên cứu Hải quân Hoa Kỳ “tiết lộ sự tồn tại (trên thực tế không còn tồn tại) của những vũ khí vi khuẩn của Mỹ ở Việt Nam và Thái Lan.”2 Được công bố theo nguyên bản trên tờ “The Free Press Journal” (“Báo chí Tự do Hàng ngày”) ở thủ đô Bombay (Mumbai), Ấn Độ và sau đó được tường thuật trên tờ “The Times” (“Thời báo”) ở thủ đô London, Anh Quốc vào ngày 7 tháng Ba, nó được chấp nhận một cách hân hoan và rộng rãi như là một sự kiện thực tế bởi những kẻ thù của Mỹ và những người phản đối chiến tranh.

(Biểu tượng của Cục Tình báo Trung ương Sô-Viết, KBG)

(Vị Tổng thống nước Nga, sau khi Sô Cộng sụp đổ vào năm 1991,
với 3 nhiệm kỳ liên tiếp từ năm 2000–2016 và cũng có thể giữ tiếp,
là một cựu tình báo KGB 16 năm (1975–1991), từng làm việc đắc
lực ở thành phố Dresden, Đông Đức trong suốt thập niên 1980)

(Đền tưởng nhớ đến những nạn nhân của KGB
ở thủ đô Vilnius, thuộc Cộng hòa Lithuania)

(Vị trí của nước Cộng hòa Lithuania và thủ đô Vilnius của nó,
từng bị Liên Xô chiếm lấy vào cuối năm 1944 trong Thế Chiến thứ II,
và một quốc gia đầu tiên trong khối Cộng sản Sô-Viết tuyên bố độc lập
vào ngày 11/03/1990, trước một năm ngày sụp đổ của khối Cộng sản đó)

Trên mặt trận ở quê nhà về chính trị của Mỹ, tình hình đang trở nên đặc biệt nghiêm trọng đối với Lyndon Johnson.

p157

Với hội nghị tuyển lựa ứng cử viên Tổng thống đầu tiên ở tiểu bang New Hampshire, LBJ (Lyndon Baines Johnson) chỉ vừa đủ thắng trước ứng cử viên phản chiến mạnh mẽ, Eugene McCarthy vào ngày 16 tháng Ba. Khi những việc bám vào vị thế của đảng Dân chủ chỉ xuống dốc khi mà Thượng nghị sĩ Robert Kennedy của thành phố New York, người em trai có lực lôi cuốn của John Kennedy, tuyên bố việc bước vào cuộc đua của ông ta cùng ngày sau đó.
Vào ngày 25 tháng Ba, các kết quả của Harris Poll gần đây cho thấy rằng trong sáu tuần qua “cơ bản” hỗ trợ cho chiến tranh trong số những người Mỹ đi từ 74% đến 54%. Một con số 60% cực kỳ to lớn của những người được hỏi đó, tin rằng cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân là một chiến bại cho các mục tiêu của Hoa Kỳ ở vùng Đông Nam Á.3
Từ ngay lúc bắt đầu sự tham gia to lớn của Mỹ, từ thời điểm các cuộc không kích trả đũa đầu tiên chống lại Bắc Việt Nam vào cuối năm 1964, những quyết định về khi nào, ở đâu, và bao nhiêu nơi để dội bom các mục tiêu khác nhau bên trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) được dự định bởi Tổng thống Johnson và nhóm cố vấn thân cận của mình để gởi những tín hiệu tư mật nhưng có thể nhận biết rõ cho Hồ Chí Minh và nhóm cố vấn thân cận của ông ta. Vào chiều tối ngày 31 tháng Ba, vị Tổng thống diễn thuyết trước dân tộc trong một bài nói chuyện táo bạo mà qua đó kết thúc bằng sự sửng sốt. Tạo nên cuộc kêu gọi tích cực công khai nhất của mình cho hình thức hòa bình nào đó ở khu vực Đông Nam Á, ông ta kêu gọi cho việc dừng lại đơn phương tất cả các cuộc đánh bom phía trên Vĩ tuyến 20, một khu vực vốn bao gồm khoảng 90% miền Bắc Việt Nam. Bài diễn văn dài kết thúc với việc tự loại bỏ mình ra khỏi cuộc đua tổng thống, có vẻ như là để cho ông ta có thể tập trung những năng lực của mình duy nhất trên việc theo đuổi hòa bình.
Bất cứ sự giải thích như thế nào về việc tạm dừng cuộc dội bom lần này có nghĩa là, những người Cộng sản không bao giờ để ý vào những khái niệm hào hiệp giả tạo của lòng thành tốt đẹp mà những người Mỹ ngây thơ dường như gắn bó với chúng.
Những việc tạm dừng cuộc dội bom được công bố một cách công khai, chỉ đơn giản là cho những người Cộng sản các cơ hội để tái khai triển các nguồn cung cấp khan hiếm cho một số địa điểm khác nào đó nơi mà chúng có thể được sử dụng để giúp chiến thắng cuộc chiến tranh.
Điều mà xảy đến như là một sự sửng sốt đối với quốc gia và thế giới trong bài diễn thuyết của Tổng thống vào ngày 31 tháng Ba, không có ý nghĩa quan trọng nhiều đối với George Philip. Anh ta không phải là một người hâm mộ cách thức mà LBJ(pc 04) đã và đang tiến hành cuộc chiến tranh, và cho dù vị Tổng thống sẽ tìm kiếm việc tái tranh cử hay không, điều đó có ít tác động tức thời trên những việc mà anh George sắp dự phần vào.
Ba ngày trước khi cuộc khởi hành theo lịch trình của anh ta đến Việt Nam, vào ngày 4 tháng Tư, một tay bắn tỉa đã nhả đạn và giết chết người lãnh đạo dân quyền Martin Luther King ở thành phố Memphis, thuộc tiểu bang Tennessee.

(Nhà lãnh đạo dân quyền Martin Luther King, Jr. (15/01/1929–4/04/1968)
bị ám sát bởi James Earl Ray với tồng phạm Loyd Jowers, chủ căn khách
sạn, tuy là có nhiều nghi ngờ liên quan đến những mật vụ chính phủ)
(Câu nói của ông King: “Nếu bạn không thể bay, bạn có thể chạy; nếu bạn
không thể chạy, bạn có thể đi; nếu bạn không thể đi, bạn có thể bò; nhưng
bất cứ điều gì bạn làm, bạn phải tiếp tục tiến về phía trước”
)

(Căn khách sạn Lorraine, nơi mà ông King bị ám sát, hiện tại
là địa điểm của Bảo tàng Dân quyền Quốc gia)

p158

Trong vòng hàng giờ, cuộc bạo loạn đã lan rộng khắp nước và trong vòng một ít ngày, ít nhất là 60 thành phố của Mỹ bị vây phủ bởi bạo lực và cảnh hỗn loạn. Thủ đô Quốc gia là trong số các thành phố bị ảnh hưởng nặng nhất.
Trong khi xem tin tức truyền hình và chờ đợi tại Căn cứ Lực lượng Không quân Travis trong phòng chờ chuyến bay dành cho hành khách đi ra nước ngoài mà qua đó sẽ đưa anh ta đến Hải đảo Okinawa, Nhật Bản, để cho anh ta có thể được giải quyết giấy tờ vào trong Việt Nam; George Philip, cùng với hàng trăm những binh lính TQLC(pc 05) và những thủy thủ khác cũng theo hướng đến Hòn Đá,* theo dõi trong nỗi kinh hoàng khi các chương trình tin tức chiếu hết đoạn phim nầy đến đoạn phim khác, trong thành phố nầy đến thành phố khác, về cảnh bạo lực. Cái không mất đi trên anh ta là một sự mỉa mai mà nơi đây anh ta đang chuẩn bị rời khỏi đến cuộc chiến tranh và người chị Snow, hiện tại là một sinh viên tốt nghiệp tại Đại học George Washington ở tiểu bang Washington DC, chính cô ta bây giờ đang sống trong vùng chiến tranh. Có thể trò chuyện trước khi chuyến ra đi của anh ta, cô ta bảo đảm với anh ta rằng lực lượng Bảo an Quốc gia giữ được tình hình dưới quyền kiểm soát và không phải lo lắng về cô ấy. Đối với Thiếu úy George Philip của Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ, điều đó là cách rất lạ để ra đi. Điều này chắc chắn không phải là cuộc chiến tranh của cha mình.
Hoàn toàn không có sự ngừng lại trong điều xa lạ. Thời gian trải qua ở các tiệm nhảy rẻ tiền và các quán rượu của Lawton (một thị trấn nhỏ kế bên Quân đồn Sill ở tiểu bang Oklahoma) và xung quanh nó, trong khi còn là một sinh viên tại Quân đồn Sill, là một sự chuẩn bị nhỏ nhoi về văn hóa cho điều gì mà Thiếu úy George Philip sẽ trải nghiệm trong suốt thời gian bốn ngày vào đầu tháng Tư giữa chuyến đến của anh ta trên Hải đảo Okinawa, một tiến trình cho việc vận chuyển xa hơn đến Việt Nam, và chuyến bay cuối cùng thực sự về hướng Nam vào trong Đà Nẵng.
Nếu thị trấn Lawton hoặc Tijuana, đối với George Philip, là vùng Viễn Tây Hoang dã, Okinawa là Thành phố Dodge gấp 20 lần. Nếu một sĩ quan trẻ đã buộc phải viết lời Kinh Thánh cho quyển Cựu Ước mới, cuộc giao chiến bên ngoài của mỗi doanh trại TQLC và căn cứ lực lượng Không quân trên hòn đảo nhỏ bé sẽ được ghi chép lại như là hai thành phố thời đại Sodom và Gomorrah. Nếu Mỹ những người bà, người mẹ, người vợ, bạn gái, cô dì, và các bác gái lớn chỉ cần biết điều gì đang xảy ra…

(Bức tranh “Sự phá hủy Sodom và Gomorrah” của họa sĩ
John Martin, vào năm 1852. Đó là hai thành phố trong Kinh Thánh
Tân Ước, cũng như trong Qur’ran, bị phá hủy trong ngày phán xét)

Phải nhận lấy từ lực lượng Nhật Bản với tổn phí khổng lồ trong trận chiến trên bộ cuối cùng của Thế Chiến thứ II, vào năm 1968, Hải đảo Okinawa vẫn còn dưới sự kiểm soát của Mỹ và phục vụ như là một thành lũy cho Chiến tranh Lạnh trong vùng Tây Thái Bình Dương.
=============
* Hải đảo Okinawa, một khi Thế Chiến thứ II kết thúc, trở thành một căn cứ tiền phương quan trọng của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương, đặc biệt là cho Lực lượng Không quân và Quân đoàn TQLC.(pc 05) Đối với những người vốn vượt ngang qua, hải đảo trở nên được biết đến như là “Hòn Đá.”
=============

p159

Quân đoàn TQLC và riêng biệt là Lực lượng Không quân có những cơ sở quan trọng trải khắp hòn đảo. Với tất cả hạ tầng cơ sở và những cơ dinh hỗ trợ được phát triển và ở nơi dành cho Sư đoàn 3 TQLC được đặt ở đó, đó là một nơi hợp lý mà từ đó cung cấp những người lính vào trong khu vực Đông Nam Á, hoặc lấy rút họ về từ đó. Như vậy, Hải đảo Okinawa được tràn ngập trong những chàng trai trẻ cương cường, hàng ngàn và hàng ngàn những chàng trai trẻ hùng dũng với các tuyến tăng trưởng hoóc môn và cảm xúc mảnh liệt, đến và đi, tất cả họ trộn lẫn vào nhau; người đàn ông trên đường đến cuộc chiến tranh tin rằng họ sắp chết hoặc ít nhất là trong một khoảng thời gian rất dài không có thể chia sẻ tất cả những điều thích thú mà bây giờ hiện có trong những số lượng lớn luôn luôn thừa thải, và những người đàn ông trên đường về nhà vốn là những người gần đây đã sống còn trong những khoảng thời gian dài như địa ngục mà không có bất kỳ những thú vui gì mà bây giờ hiện có trong những số lượng lớn luôn luôn dư thừa.
Hải đảo Okinawa cùng lúc là cơn ác mộng và ảo tưởng. Nó là nơi náo nhiệt và xấu xa. Okinawa ắt hẳn là từ ngữ Nhật có nghĩa “trác táng.” Okinawa là một vấn đề hóc búa của người chỉ huy. Nếu một người trên đường đến Việt Nam phá vỡ các quy tắc và đi chơi khuya hoặc dự vào cuộc cãi lộn say rượu, họ có thể làm gì đối với anh ta? Gởi anh ta về quê nhà ? Mà qua đó hàng trăm binh lính TQLC không bị thiệt mạng trong các cuộc đánh lộn ở quán rượu và tất cả những việc khác đang tiếp tục vốn xảy ra, thì không phải là sự tỏ lòng kính trọng đối với ban lãnh đạo một đơn vị nhỏ đơn thuần là may mắn và có thế mạnh.
Sau khi kéo dài việc gì có thể đã được hoàn tất trong một hoặc hai ngày trở thành bốn ngày, nhưng không phải đối với sự thất vọng của hầu hết những người lính phải chịu đựng khoảng thời gian tạm nghĩ 96 tiếng trên Hòn Đá, từ nơi nó bước vào vùng chiến sự. Nếu một người chưa tĩnh rượi vào thời điểm anh ta lên chuyến bay về hướng nam, một ít giờ còn lại đó cho anh ta cơ hội để ngẫm nghĩ về điều gì sắp xảy ra.
Ở Việt Nam, mức độ đo lường không chính thức về giá trị của một người lính đối với đơn vị của mình phụ thuộc rất lớn vào thời gian của anh ta trong đất nước. Những người lính mới mẻ đối với việc chiến đấu, không phân biệt cấp bậc, được xét bằng sự nghi ngờ như là chưa được thử nghiệm, chưa được chứng minh, và có thể nguy hiểm. Những thuật ngữ như là “Cherry” (“Trái anh đào”), “Boot” (“Khởi động”), “F—ing New Guy” (“Cái gã Mới chó Đéo”) hoặc “FNG” cho ngắn, là những danh hiệu không ai muốn được biết đến bởi mọi người, ít nhất là không lâu lắm.
Hệ thống quy củ phức tạp của Quân đoàn TQLC mà qua đó đòi hỏi Thiếu úy George Philip trải qua những tiến trình giấy tờ, khám nghiệm sức khoẻ từ lúc khởi đầu của anh ta ở địa điểm nhập cảnh trong nước đi một mạch ra ngoài mặt trận tại bất cứ vị trí chẳng thú vị gì mà những quân nhân “Cổ Áo Da” đang tham chiến với kẻ thù và đang cần đến những kỹ năng mà một sĩ quan pháo binh mới có thể mang lại,

p160

hoặc bất kỳ người nào khác được đào tạo chiến đấu cho sự việc đó, sẽ tạo hiệu nghiệm và hiệu quả như nó có thể sau ba năm của việc chiến đấu liên tục hết mình. Đối với George Philip, điều đó có nghĩa là một ít ngày của việc thủ tục giấy tờ và sự làm quen với khí hậu ngay nơi đó ở hậu phương tại Đà Nẵng. Việc giải quyết những chuyện lặc vặt khác nhau về hành chánh và được phát những bộ đồng phục thích hợp và tất cả việc đó cho phép thời gian để quen với sức nóng và độ ẩm của Việt Nam. Hoàn toàn nhận biết rằng bất cứ nơi nào anh ta đi đến với cấp bậc của mình và vẻ mới toang của bô đồng phục mình sẽ làm lộ ra tình trạng “trái anh đào” của mình, anh ta không thể làm gì hơn.
Từ Đà Nẵng, một nhóm nhỏ những vị Thiếu úy pháo binh mà anh George đã đến cùng với, bằng cách riêng của họ, đã quá giang một chuyến đi ngắn trên chiếc máy bay C-130 về hướng bắc đến Đông Hà nơi mà họ buộc phải trải qua những tiến trình giấy tờ, khám nghiệm sức khoẻ xa hơn, được đeo vào những khẩu súng ngắn của họ, (những sĩ quan được phát khẩu súng lục .45 ly và không buộc phải hành động như là những người cầm súng trường) được mang những chiếc áo giáp chống đạn nặng nề, và dụng cụ khác cho rừng bụi cây. Từ nơi đó, tất cả họ đều lên một chiếc xe cam-nhông vốn theo hướng ra ngoài Quốc lộ 9 về phía đông đến Doanh trại Carroll và lực lượng TQLC 12 –một trung đoàn pháo binh vốn yễm trợ cho Sư Đoàn 3 TQLC. Chính là những khẩu súng 175 ly của Doanh trại Carroll vốn đã từng bắn hàng chục ngàn quả đạn trong việc bảo vệ căn cứ tại Khe Sanh, và hầu hết vẫn được chĩa theo hướng đó.
Vị Thiếu tá nắm quyền quản trị là người mà họ báo cáo ở Trung đoàn 12 TQLC sẽ xác định một cách chính xác về những nhu cầu to lớn như thế nào của Quân đoàn TQLC mà qua đó sẽ được phục vụ tốt nhất trong việc giao nhiệm vụ cho những vị Thiếu úy vừa mới đến. Việc nắm giữ cuốn sổ ghi chép cá nhân của mỗi người, một nhóm nhỏ vẫn như một gia đình của Quân đoàn một lần nữa được tạo nên là bằng chứng. Lướt qua thông tin cá nhân của anh George và tờ giấy có tựa đề “Sự thông Báo cho Thân nhân,” vị Thiếu tá ngước lên trong sự ngạc nhiên nhỏ: “Anh bạn là con của Wilbur Helmer?”
“Vâng, thưa ông.”
Một ít lời vui vẻ được trao đổi. Thế thôi. Một lúc sau, ông ta tuyên bố: “Thiếu úy Philip, tôi nhìn thấy qua dữ liệu cá nhân của anh bạn là anh bạn còn độc thân. Anh bạn sẽ đến Khe Sanh.”
Như thể đang việc độc thân hoặc lập gia đình là vấn đề quan trọng trên hết, George Philip nghiêm túc trả lời: “Vâng, thưa ông.”
Khung cảnh từ trên không trong suốt chuyến đi bằng trực thăng của George Philip vào trong Căn cứ Chiến đấu Khe Sanh dường như là một sự kết hợp của thiên thi anh hùng ca “Địa ngục” (“Inferno”)(pc 06) của Dante(pc 07) và cuốn sách “Tất cả đều Yên lặng trên Mặt trận phía Tây” (“All Quiet on the Western Front”) của tiểu thuyết gia Đức.

(Chân dung của Dante Alighieri, được tin là của nhà họa sĩ Ý Giotto,
trong nhà nguyện của Cung điện Bargello ở thành phố Florence, Ý.
Hình ảnh Dante lâu đời nhất này được vẽ ngay trước khi cuộc lưu
vong của ông ta và kể từ đó đã được phục hồi rất nhiều)

(Tượng của nhà họa sĩ Ý, Giotto di Bondone (7/1266–1/1337)

(Ấn phẩm đầu tiên của “Tất cả đều Yên lặng ở Mặt trận Phía tây”
vào năm 1929 của tiểu thuyết gia Enrich Maria Remarque,
một cựu quân nhân Đức thời Thế Chiến thứ I)

p161

Quân số của chính vùng đất Khe Sanh đã bị giảm xuống một cách đáng kể vào lúc công việc quân vụ của anh ta ở đó. Từ vị trí thuận lợi của riêng mình, tất cả thứ mà anh ta có thể nhìn thấy là một số ít đại đội càu nhàu, đội pháo binh của mình, và những con mèo và chó của các đơn vị yễm trợ còn lại để giúp đỡ dỡ dọn nơi nầy.
Từ trên không, anh ta có thể nhìn thấy tất cả thứ: những hố đạn pháo đây đó ở khắp mọi nơi tạo vết sẹo mặt đất, những hầm trú chiến đấu nằm y đó và các lớp bao cát đang phân hủy, nhiều sợi dây điện có dụng cụ tạo âm thanh trên một chu vi hiện tại được hiện rõ bởi rác rưởi bừa bãi, bị thổi tung theo gió, những tuyến chiến hào được xây cất tỉ mỉ được đào bởi Quân Bắc Việt khi họ đều đặn đã đến gần hơn hầu hết vòng chu vi của TQLC cho đến khi sự kết thúc của cuộc bao vây, cái vỏ bị cháy rụi của một chiếc máy bay C-123 mà thế giới đã từng nhìn thấy đang bóc lửa cả ngàn lần trên tin tức hàng đêm đang nằm chỉ ngoài đường băng, những số lượng vô tận của những vỏ đạn đã dùng được ném rải rác khắp nơi, và tất cả vô số những dấu hiệu khác của hoạt động gần đây. Ngoại trừ màu xanh lá cây xa khuất của rừng núi, anh ta nghĩ rằng anh ta đang nhìn vào một đoạn phim thời sự đen trắng của địa ngục hoặc một phía tối của mặt trăng.
Ở mọi nơi, mảnh vụn của chiến tranh nằm phơ bày. Nổi bật và ở đâu cũng có là những cánh dù nhỏ và những cái ống vỏ đạn đã dùng từ nhiều ngàn pháo sáng vốn đã được bắn ra bởi pháo binh hoặc được thả xuống bởi máy bay Hoa Kỳ trong suốt cuộc bao vây kéo dài. Những tán dù thu nhỏ của họ rải rác quang cảnh và nhiều cái đang liên tục xoắn xoay như thể đang cố gắng thoát ra khỏi sự bám giữ của vùng Khe Sanh trong cơn gió thoảng vốn quét qua khu vực.
Đỉnh đồi rộng vốn là Căn cứ Chiến đấu Khe Sanh mà anh ta đã từng nhìn thấy qua rất nhiều đoạn phim và những hình ảnh tin tức về nó, đã từng nghe và đọc rất nhiều về nó, hiện thời giống như nơi khai thác mỏ vàng bị bỏ hoang, một thị trấn ma mà trong đó những người thợ mỏ đã hết hứng thú và tiếp tục di chuyển đến những nơi đào xới đầy hứa hẹn hơn. Tất cả trông thật quái dị làm sao khi mà chiếc trực thăng sâu rọm Sea Knight (Hiệp sĩ Biển cả) CH-46, với Thiếu úy George Philip như là một hành khách duy nhất của nó, thực hiện cú bay xuống thấp nhanh chóng vào trong một khu vực mà chỉ những tuần trước đó đã là một tâm điểm chú ý chính của giới truyền thông thế giới.

(Chiếc trực thăng sâu rọm Sea Knight CH-46)

Trận chiến Khe Sanh đã chính thức kết thúc khoảng một tuần trước khi đến George. Như ngớ ngẩn như nó sau này dường như anh ta, và trong số rất nhiều những điều anh đang cân nhắc như ông đã để cuối cùng làm cho lối vào của mình vào cuộc chiến, rằng ông đã bằng cách nào đó bỏ lỡ hành động một lần nữa nhận được ở đó quá muộn.

p162

Đội pháo binh Alpha, Tiểu đoàn 1 thuộc TQLC 13 –một đơn vị của Trung đoàn 13 TQLC (cũng là đội pháo binh) và được biết đến đối với tất cả binh lính như là “Alpha 1/13” –dưới sự kiểm soát hoạt động của TQLC 12.
Alpha 1/13 là một đơn vị pháo binh cuối cùng vẫn còn ở Căn cứ Chiến đấu Khe Sanh và đang có nhu cầu cho một vị Thiếu úy mới.
Chiếc trực thăng sâu rọm CH-46 vốn thả George Philip vào trong bãi đáp gần vị trí của Alpha 1/13 hạ xuống chỉ đủ lâu cho người hành khách của nó chạy xuống đoạn dốc cầu phía sau đã được ấn xuống và mở rộng rồi với các dụng cụ của anh ta. Phi đoàn trưởng thực sự đang trong tiến trình rút lại đoạn dốc cầu thậm chí trước khi George Philip đã bước xuống đất, và trước khi anh ta có thể chuồn khỏi sức quạt của chong chóng phần đuôi, đã bảo những viên phi công cút ngay khỏi nơi đó. Trong khoảng khắc, chiếc trực thăng, mà qua đó gần giống như một con châu chấu kim loại, khổng lồ vốn đã có thể là một phần của cuốn phim hạng B với kinh phí thấp vào thập niên 1950s với cảnh tàn sát bằng hạt nhân, những phụ nữ có bộ ngực lớn, và những côn trùng có kích thước của quái vật khổng lồ, ra khỏi bãi và đang lạn lách xa khỏi Khe Sanh.
Một mình trong bãi đáp, Thiếu úy Philip chú ý đến sự yên tĩnh lạ thường, ngoại trừ âm thanh đang mau chóng xa dần của chiếc trực thăng sâu rọm ra khỏi phạm vi và dấu hiệu của một làn gió thoáng nhẹ được thể hiện bằng tiếng vỗ phần phật nhẹ nhàng, bất chợt của những cánh dù nhỏ bé vẫn còn gắn liền với những quả đạn chiếu sáng đã dùng qua và bị kẹt trong sợi dây thép gai làm bề bộn quang cảnh.
Sự tĩnh mịch đã nhanh chóng bị phá vỡ. Trong khoảnh khắc, rõ ràng là chuyến đi đến của anh ta đã được mong đợi khi một Hạ sĩ trẻ có tên là Brown chạy đến bãi. Một quân nhân da đen TQLC có bắp thịt vạm vỡ, Hạ sĩ Brown ngực trần ngoại trừ cái áo ngắn nặng nề, chóng đạn được cài nút của mình. “Chào mừng đến Khe Sanh, Thiếu úy. Theo tôi, thưa ông.” Hạ sĩ Brown, rõ ràng là thâm niên trong kinh nghiệm chiến đấu đối với người sĩ quan mới này, đưa ra lởi khuyên: “Thưa ông, nếu ông nghe một âm thanh rầm rầm, chính là những phi đạn của Việt Cộng. Nằm xuống sàn chỉ giống như tôi, hoặc nếu chúng ta đang ở gần những hầm trú của mình, chạy vào trong một cái.”
Trên đoạn đường nhiều trăm mét từ bãi đáp đến hần trú chính của A 1/13(pc 08) không có những cuộc tấn công bằng phi đạn của Việt Cộng. Vị sĩ quan chỉ huy của Đội pháo binh Alpha hiện tại đang ở dưới Đông Hà. Vị sĩ quan thừa hành còn lại nắm quyền chỉ huy ngoại trừ đối với tất cả chủ ý và mục đích, đặc biệt là kể từ khi họ đã không được khai hỏa cho bất kỳ sứ mệnh nào gần đây, việc điều hành thường ngày của pháo binh nằm trong đôi bàn tay có khả năng của người lính TQLC gia nhập lâu năm của nó, Thượng sĩ Bauerman. Sau Hạ sĩ Brown, Thượng sĩ Bauerman là người thứ hai, Thiếu úy Philip, được gặp gỡ tại đơn vị mới của mình.

(Đội pháo binh Alpha, Tiểu đoàn 1, Trung đội 13, TQLC Hoa Kỳ)

p163

Thượng sĩ Bauerman là một loại trong những vị Thiếu úy mới của TQLC tại Trường Cơ bản vốn đã được giảng dạy về pháo binh. Họ là những sĩ quan thâm niên chưa có ngạch; một cột xương sống, một khung xương, và hệ thần kinh của Quân đoàn Mẹ; một kiến thức kết hợp, những người phân phát công lý của Nồi Giống Xưa(pc 09) (Old Breed) có chức vụ chưa chính thức. Cảm giác lo sợ và tôn kính, tự hào và thường phàm tục, họ là những chất bôi trơn vốn giữ cho Quân đoàn TQLC, một bộ máy được vô dầu kỹ lưỡng, tiếp tục duy trì truyền thống thiêng liêng và những tiêu chuẩn cao.
Tại thời điểm này trong lịch sử của Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ, không phải là điều bất thường gì cả đối với các chiến binh nầy của Quân đoàn Xưa là những cựu chiến binh của ba cuộc chiến tranh. Thượns sĩ Bauerman phù hợp với khuôn mẫu một cách hoàn hảo. Một Binh nhất ở Trận chiến Iwo Jima với phục vụ chiến đấu bổ sung ở Hàn Quốc, ông ta đang gần đến việc kết thúc sự nghiệp của mình vào lúc ông ta ở Khe Sanh. Trong suốt khoảng giữa những năm hòa bình mong manh, ông ta đã làm và nhìn thấy mọi thứ khác –“trong mỗi miền và nơi chốn”– đều có thể làm.
George Philip thể hiện sự tôn kính sâu sắc đối với Thượng sĩ Bauerman, ngay cả mặc dù ông ta theo nghĩa đen đã lớn lên trong Quân Đoàn, ngay cả mặc dù một trong những người bạn thân thuở thiếu niên của ông ta là người con trai của Tướng Chesty Puller, ngay cả mặc dù người cha kế của riêng ông ta và tất cả những người lính của Đại tá Helmer gần như đã từng phục vụ tại tất cả các nơi mà bất kỳ người nào không quen thuộc lắm với lịch sử quân đội Mỹ có thể xem là quan trọng.

(Lewis Burwell “Chesty” Puller như là vị Trung tướng
khi còn tại chức, từng chiến đấu trong Thế Chiến thứ II,
và Chiến tranh Triều Tiên, giải ngũ vào năm 1955)

Ngay cả mặc dù ông ta là một đứa bé ngỗ nghịch của quân đội và rất nhiều điều về Quân đoàn mà qua đó thì mới mẻ đối với những sĩ quan trẻ đó vốn là những người đã lớn lên trong những cộng đồng dân sự, là bản chất thứ hai đối với ông ta, George Philip giữ người đàn ông này trong sự chú ý nhiều đến. Thượng sĩ Bauerman, và những binh lính TQLC giống như ông ta, được tôn sùng –đặc biệt bởi những quân nhân TQLC trẻ mới nhập ngũ– mọi thứ về họ, ngay cả những điều xấu, khá đơn giản là bởi vì họ xứng đáng được tôn sùng.
Anh George khoảng năm tháng trước ngày sinh nhật thứ 24 của mình khi anh ta đặt chân trên bãi đáp tại Khe Sanh. Đối với Thiếu úy Philip, vị Thượng sĩ mới của mình dường như có tuổi và giống như nhà hiền triết, sáng suốt và khôn ngoan. Đến lúc anh ta đã chuyển qua tuổi 24, Thượng sĩ Bauerman có lẽ đã là một cựu chiến binh của cuộc chiến tranh thứ hai của mình. Bây giờ có lẽ trong tuổi gần tứ tuần, ông ta là một con khủng long thực sự, hoặc dường như là như thế đối với những sĩ quan trẻ TQLC chỉ mới bắt đầu.

p164

Anh George không thể nhớ là từng biết được hoặc nghe đến tên Christian của Thượng sĩ Bauerman. Như là người nhập ngũ thâm niên trong đội pháo binh, ông ta không có ai là những người ngang hàng. Đối với vị “thuyền trưởng,” mà ông ta làm việc dưới quyền, và đối với những vị Thiếu úy, chính là công việc của ông ta để chịu đựng và nuôi dưỡng; đối với những binh lính, ông ta là người anh cả và lẫn là cái búa tạ, vì cái tên đầu tiên của ông ta thực sự là “Thượng sĩ.” Đó chỉ là cách như thế, mà qua đó sự mở rộng của Quân đoàn, trong mỗi một đơn vị của pháo binh và kích thước đại đội.
Trong khoảng một tuần sau khi sự phân công của Thiếu úy Philip về với Alpha 1/13 tại Khe Sanh, đội pháo binh được giao nhiệm vụ với rất ít sứ mệnh bắn pháo. Vào cuối tháng Tư, toàn bộ đội pháo binh, cùng với nhiều đại đội bộ binh và một số kỹ sư chiến đấu, trở thành một phần của đoàn xe khá lớn ra ngoài. Chính là cảm tưởng của anh George vào lúc mà Căn cứ Chiến đấu Khe Sanh đang bị bỏ rơi. Anh ta đã đích thân theo dõi các kỹ sư phá hủy và ủi bằng bất cứ thứ gì có giá trị để cho nếu Quân Bắc Việt trở lại, sẽ có ít thứ mà họ có thể cứu vãn.
Đoàn xe đi trên Quốc lộ 9 từ Khe Sanh ở hướng đông thẳng đến Đông Hà, qua Cà Lu –nơi vừa mới được xây dựng bởi các kỹ sư quân đội và hiện thời được biết đến với nhiều người như là “Bãi đáp Stud,” Rockpile, Doanh trại Carroll, và Cam Lộ –những địa điểm nơi mà gần đây như những tuần qua, cuộc phục kích và giao chiến với kẻ thù cho mỗi một chiếc xe đi qua con đường thì chắc chắn như màn sương buổi sáng của Quân đoàn I. Quân đội Bắc Việt, như tình báo đã phỏng đoán, có lẽ thực sự là phần lớn đã lẩn lút trở lại vào trong Lào để gôm nhóm lại và phân chia lại bởi vì toàn bộ sự di chuyển được thực hiện mà không có biến cố nào. Trong thời gian hiện tại, Quốc lộ 9 chỉ là một con đường nhếch nhác, quanh co, gập ghềnh khác ở giữa nơi không ai biết đến vốn kết nối với một ít điểm chấm xa khác.

(Đoàn xe đến Đông Hà trên con đường quanh co, gập ghềnh)

Tại Đông Hà, anh George cuối cùng được làm rõ chi tiết cho nhiệm vụ mà anh ta đã tích cực tìm kiếm. Được phân công như là một quan sát viên tiền phương cho pháo binh thuộc Đại đội Bravo, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 26 TQLC –B 1/26– anh ta thay thế quan sát viên tiền phương trước đây của đại đội vốn là người đã bị thiệt mạng trong nhiệm vụ trước đó nhiều tuần.
Trong suốt cuộc vây hãm tại Khe Sanh, B 1/26 đã là một trong những đại đội bộ binh vốn chịu đựng một số cuộc chiến đấu mệt nhoài nhất. Thường là tại trung tâm của cuộc giao chiến, họ đã dùng mẹo đẩy Quân Bắc Việt ra ngoài, và lẫn gánh chịu những thương vong cao. Vào thời điểm, 1/26 đã luân chuyển ra khỏi Căn cứ Chiến đấu Khe Sanh, những binh lính TQLC còn sống sót trong các đại đội súng trường khác nhau là những cựu chiến binh khôn khéo, được tôi luyện trong trận chiến.

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Chiến thắng kiểu vua Pyrrhus : là một nhóm chữ được đặt tên theo vua Pyrrhus của nước Epirus, mà quân đội của ông ta gánh chịu những thương vong không thể thay thế được trong việc đánh bại những người La Mã tại thành phố Heraclea vào năm 280 trước Công nguyên và Asculum trong 279 BC.
Trong cả hai chiến thắng của vua Pyrrhus, người La Mã phải chịu những thương vong to lớn hơn vua Pyrrhus phải gánh. Tuy nhiên, những người La Mã có nguồn cung cấp nhân lực lớn hơn nhiều mà từ đó rút ra những chiến binh, vì vậy những thương vong của họ gây ít thiệt hại hơn đối với nỗ lực chiến tranh của họ so với những thương vong của quân đội của vua Pyrrhus gây ra cho ông ta.
Bản báo cáo thường được đặt trong ngoặc kép như là “Một cuộc chiến thắng khác như thế, và tôi sẽ trở lại nước Epirus một mình” hoặc “Nếu chúng ta chiến thắng trong một trận chiến nữa với những người La Mã, chúng ta sẽ bị tàn lụi hoàn toàn.”

pc 02_ “Bài Tường thuật từ Việt Nam: Ai đó, Điều gì, Khi nào, Nơi đâu, Tại sao?” (“Report from Vietnam: Who, What, When, Where, Why?”): của phát ngôn viên chính của đài CBS, Walter Leland Cronkite, sau chuyến đến Việt Nam vào giữ tháng Hai năm 1968 để tham sát những dấu vết còn lại của những ngày trong biến cố Tết Mậu Thân vốn đã chấm dứt. Và đây là toàn bài viết của ông ta vào ngày 27 tháng Hai năm 1968, sau khi trở lại Mỹ :
“Đêm nay, trở lại trong môi trường quen thuộc hơn ở thành phố New York, chúng tôi muốn đúc kết những điều tìm thấy được của chúng tôi ở Việt Nam, một phân tích mà qua đó ắt hẳn là mang tính chất suy đoán, cá nhân, và chủ quan. Ai đã thắng và ai đã thua trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân to lớn chống lại những thành phố? Tôi không chắc chắn lắm. Việt Cộng đã không chiến thắng bằng một đòn đo giáng, nhưng chúng ta cũng không. Những người trọng tài của lịch sử có thể làm cho nó là một trận hòa. Một vụ xử hòa khác có lẽ đang đến trong các trận chiến lớn được dự kiến là về phía nam của Khu phi Quân sự. Vùng Khe Sanh có thể sụp đổ tan tành, với sự mất mát khủng khiếp qua những sinh mạng, uy tín và tinh thần chiến đấu của người Mỹ, và điều này là một thảm kịch của sự bướng bỉnh của chúng ta ở đó; tuy pháo đài không còn đóng vai quan trọng đối với phần còn lại của các khu vực phía Bắc, và không chắc rằng những lực lượng Mỹ có thể bị đánh bại trên khắp bề rộng của Khu phi Quân sự với một số mất mát vùng đất đáng kể. Một trận hòa khác.
Trên mặt trận chính trị, cách làm việc trong quá khứ không đưa đến sự tự tin rằng chính phủ Việt Nam có thể đối phó với các vấn đề của nó, hiện tại bị chồng chất thêm bởi cuộc tấn công vào các thành phố. Nó có thể không sụp đổ, nó có thể tiếp tục bám giữ, nhưng nó có lẽ sẽ không cho thấy những phẩm chất năng động phải có của quốc gia non trẻ này. Một trận hòa khác.
Chúng tôi đã quá thường thất vọng bởi sự lạc quan của các nhà lãnh đạo Mỹ, cả ở Việt Nam và Washington, có niềm tin bất kỳ là gì lâu dài hơn nào đó vào những đường viền bạc mà họ tìm thấy trong những đám mây đen nhất. Họ có thể đúng, rằng cuộc tấn công vào mùa đông-xuân của Hà Nội đã buộc phải thực hiện bởi sự nhận biết của Cộng sản rằng họ không thể chiến thắng một cuộc chiến tranh gây tiêu hao tinh thần chiến đấu lâu hơn nữa, và rằng những người Cộng sản hy vọng rằng bất kỳ sự thành công nào trong một cuộc tấn công sẽ cải thiện vị thế của họ cho các cuộc đàm phán cuối cùng. Điều đó sẽ cải thiện vị thế của họ, và nó cũng sẽ đòi hỏi sự nhận biết của chúng ta, rằng chúng ta đáng lý ra đã biết tất cả điều đó từ lâu, rằng bất kỳ cuộc đàm phán nào phải là –những cuộc đàm phán, không phải là sự độc đoán về những điều khoản hòa bình. Đối với điều dường như chắc chắn hơn bao giờ hết là kinh nghiệm đẫm máu ở Việt Nam sắp kết thúc trong sự bế tắc. Vụ xử hòa gần như chắc chắn của mùa hè này hoặc sẽ kết thúc trong những cuộc đàm phán cho-và-nhận thực sự hoặc một sự leo thang khủng khiếp; và đối với mỗi biện pháp mà chúng ta phải leo thang, kẻ thù có thể đuổi kịp chúng ta, và điều đó ứng dụng cho cuộc xâm lược của miền Bắc, cho việc sử dụng vũ khí hạt nhân, hoặc đơn thuần là sự can dự của thêm 100, hoặc 200, hoặc 300 ngàn binh lính Mỹ vào trận chiến. Và với mỗi bậc leo thang, thế giới đến gần hơn bờ vực của sự thảm họa vũ trụ.
Nếu nói rằng ngày hôm nay chúng ta đang gần cuộc chiến thắng hơn để tin vào, trong sự đối mặt của chứng cứ, những người lạc quan vốn là những người đã sai lầm trong quá khứ. Nếu cho rằng chúng ta đang trên bờ cạnh của sự bại trận, là sinh ra sự bi quan phi lý. Nếu nói rằng chúng ta bị sa lầy trong sự bế tắc, dường như chỉ là một kết luận thực tiển, nhưng không thoả đáng. Trên một cơ hội nhỏ nhoi mà các nhà phân tích quân sự và chính trị đúng, trong một vài tháng tới, chúng ta phải thử nghiệm những ý định của đối phương, trong trường hợp điều này quả thật là hơi thở hắc mạnh ra, cuối cùng của đối phương trước các cuộc đàm phán. Nhưng ngày càng rõ ràng đối với người phóng viên này là cách thoát ra có lý duy nhất sau đó sẽ là thương lượng, không như là những kẻ chiến thắng, nhưng như là người có danh dự vốn là những người sống theo lời tuyên thệ của họ bảo vệ nền dân chủ, và đã hết sức mình như họ có thể.
Đây là Walter Cronkite. Chúc ngủ ngon.”

pc 03_ Bức thư giả mạo : được KBG của Liên Xô cho là bút tích của Gordon Goldstein, là nhân viên khoa học gia trong Văn phòng Nghiên cứu Hải quân Hoa Kỳ. Nhưng đó chỉ là sự giả mạo.

pc 04_ LBJ : tên viết tắt của Tổng thống thứ 36 của Mỹ, Lyndon Baines Johnson.

pc 05_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 06_ Inferno : (tiếng Ý cho chữ “Địa ngục”) là phần đầu của Thiên thi anh hùng ca “Divine Comedy” (“Hài kịch của Đấng thiêng Liêng”) vào thế kỷ 14 của Dante Alighieri. Nó được theo sau bởi phần thứ hai Purgatorio (Sự chuộc Lỗi) và phần thứ ba Paradiso (Thiên đàng). Đó là một câu chuyện ngụ ngôn kể về cuộc hành trình của ông Dante qua Địa ngục, được hướng dẫn bởi nhà thơ cổ La Mã, Virgil (tức là Publius Vergilius Maro, 70BC–19BC). Trong bài thơ, Địa ngục được mô tả như là chín vòng tròn đau khổ nằm bên trong trái đất. Theo cách ngụ ngôn, tác phẩm “Hài kịch của Đấng thiêng Liêng” (“Divine Comedy”) tiêu biểu cho cuộc hành trình của linh hồn hướng về Thượng Đế, với phần thứ nhất Inferno (Địa ngục) mô tả sự nhìn nhận và từ bỏ tội lỗi.

pc 07_ Dante : chỉ đởn giản đề cập đến như là Durante degli Alighieri, (1265–1321), là một nhà thơ lớn thời Trung Cổ của Ý. Thiên thi anh hùng ca “Divine Comedy” (“Hài kịch của Đấng thiêng Liêng”) của ông ta, ban đầu được gọi là “Commedia” (theo tiếng Ý: Hài kịch) và sau này được gọi là “Divina” (theo tiếng Ý: Đấng Thiêng Liêng) bởi nhà thơ nổi tiếng người Ý, Giovanni Boccaccio (1313–1375), được rộng rãi xét là một tác phẩm văn học vĩ đại nhất được sáng tác bằng tiếng Ý và là một kiệt tác của văn học thế giới.
Ở Italia, ông ta được biết đến như là il Sommo Poeta (Nhà thơ Bậc nhất), hoặc chỉ là il Poeta (một Nhà thơ). Ông ta, nhà thơ Petrarch và Boccaccio cũng được biết đến như là “ba đài phun nước” hoặc “ba vương miện”. Ông Dante cũng được gọi là “Cha đẻ của ngôn ngữ Ý.”

pc 08_ A 1/13 : Đội pháo binh Alpha, Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 13 TQLC.

pc 09_ Nồi Giống Xưa : đó là cách nói của TQLC Hoa Kỳ nói riêng, và người Mỹ nói chung, trong sự hảnh diện về nồi giống của họ. Như câu nói thường nghe của quân nhân TQLC: “Nồi Giống Xưa, Nồi Giống Mới, không có chút quỷ quái khác biệt nào cả, miễn sao chính là Nồi Giống Thủy quân Lục chiến” (“Old Breed, New Breed, there’s not a damn bit of difference so long as it’s the Marine Breed”).

One thought on “Phần 11: Tâm và Trí ở Quê nhà

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s