Phần 09: Năm 1968: sự Bắt đầu của một Kết thúc

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

(Trang bỏ trống)
p117

Phần 09: Năm 1968: Sự Bắt đầu của một Kết thúc

Cái tháng Giêng năm 1968 nhìn thấy Hoa Kỳ đang bước vào tháng thứ 34 của các hoạt động chiến đấu trên bộ ở Việt Nam. Với kinh nghiệm gần như ưu thích được gợi lại về Thế Chiến thứ II như là một thước đo, có một số ít dấu hiệu hợp lý ngoài trừ những bảo đảm được đưa ra bởi Tổng thống Johnson và các sĩ quan quân đội cao cấp rằng sự tiến triển đang được thực hiện hướng tới chiến thắng.
Đến tháng thứ 34 của sự tham gia của Mỹ trong Thế Chiến thứ II, có một chuỗi không gián đoạn của những chiến thắng và chinh phục mà qua đó những người dân ở quê nhà với những tấm bản đồ của công ty Địa lý Quốc gia có thể theo sau bước tiến. Trong những cuộc chiến thắng đẫm máu ở vùng Thái Bình Dương tại những nơi như Midway, Guadalcanal, Tarawa, Guam, và Philippines cho thấy sự thu hẹp liên tục của Đế quốc Nhật.
Đến tháng thứ 34 của sự tham gia của Mỹ trong Thế Chiến thứ II, trong Chiến trường của những Chiến dịch ở Âu châu, những người Đức đã bị đuổi khỏi Bắc Phi, những người Ý đã bị loại khỏi cuộc chiến, những quân Đồng minh đã thoát ra khỏi những vị trí đổ bộ đầu cầu trong Ngày Đổ Bộ (D-Day), giải thoát thủ đô Paris, Pháp và đang tiến vào thủ đô Berlin, Đức. Những người Nga đang dần tiến từ phía đông. Stalin, Churchill và Roosevelt đang nói một cách công khai về thế giới sau chiến tranh rồi. Những người Mỹ, vốn là những người sẵn sàng gánh chịu hơn nữa, có thể ít nhất cảm thấy rằng chiến thắng đang ở một nơi nào ngoài đó trên một chân trời đang đến gần.

(Những binh lính của Quân đội Hoa Kỳ đang đi bơi vào
bờ trên Bãi biển Omaha, Pháp, vào sáng ngày 6 tháng
Sáu, 1944 –được gọi là “D-Day” (“Ngày Đổ Bộ”)–
(thay vì được lên kế hoạch cho sáng ngày 5 tháng Sáu,
nhưng bị hoãn lại vì thời tiết xấu)

Đến tháng thứ 34 của sự tham gia của Mỹ trong Thế Chiến thứ II, dân chúng ở quê nhà đã hoàn toàn được truyền bá thông tin và dự phần vào kinh nghiệm chiến tranh. Với 12 triệu người đàn ông và phụ nữ dưới quân đội trong một dân số 140 triệu người, một số ít gia đình không có ít nhất một đứa con trai hoặc người chồng hoặc người cháu trai hoặc người anh em họ đang phục vụ. Sự nỗ lực về kinh tế được đòi hỏi để hỗ trợ toàn bộ cuộc chiến hầu như bảo đảm rằng ngay cả khi một gia đình không có một thân nhân hoặc người bạn thân trong bộ đồng phục, tuy thế họ bị lôi cuốn hoặc ảnh hưởng một cách đáng kể qua việc làm dân sự của riêng mình.

p118

Theo nền văn hóa, đến tháng thứ 34 của Thế chiến II, những người Mỹ đã dần dà quen thuộc với việc xem phim thời sự hàng tuần ghi lại những chiến thắng của những lực lượng Đồng Minh vốn đang giành được thắng lợi khắp thế giới, quen thuộc với việc thưởng thức những anh hùng màn bạc của họ –những người vốn đã không tự ra đi để tham gia thực sự– qua một cách chính đáng gởi ra những kẻ thù được mô tả một cách xảo trá của họ trong những cuốn phim có tiếng và không-có-tiếng-lắm như Corregidor (Hải đảo Corregidor), Fighting Seabees (Lực lượng Ong biển Chiến đấu), Air Forces (Lực lượng Không quân), Guadalcanal Diary (Nhật ký từ Hải đảo Guadalcanal), Wake Island (Hải đảo Thức tỉnh), Behind the Rising Sun (Phía sau Mặt trời Mọc), Five Graves to Cario (Năm Ngôi mộ cho thủ đô Cairo), Destination Tokyo (Điểm đến Tokyo), và Foreign Correspondent (Phóng viên Nước ngoài).
Âm nhạc cũng không giống nhau hoàn toàn đến tháng Giêng năm 1968, sự phát triển hoặc phản triển– tùy thuộc vào quan niệm của người ta về những sự việc– từ bản nhạc “Rum & Coca Cola” (“Rượu Rum & nước ngọt Coca”) đến “Purple Haze” (“Sương Tím”)“Eight Miles High” (“Tám Dặm Trên Cao”). Sự ngọt ngào và chân thành có nhận thức của các bài hát như “Don’t Sit Under the Apple Tree” (“Đừng Ngồi Dưới cây Táo”)“The White Cliffs of Dover” (“Những Vách đá Trắng của thị trấn biển Dover”) đã dần biến đổi trở thành sự phi lý và hỗn loạn với bản nhạc “White Rabbit” (“Con thỏ Trắng”) mà qua đó chẳng bao lâu sẽ được theo sau bởi những ưu thích của bài nhạc phản chiến “The Fish Cheer” (“Lời chào mừng của Con cá”). Từ ban tam ca Andrews Sisters và nữ ca sĩ kiêm minh tinh Dinah Shore, một bước nhảy vào thế giới tình dục nguyên thủy của hai nữ ca sĩ kiêm nhạc sĩ Grace Slick và Janis Joplin chỉ đơn giản là không nói lên tính chất lành mạnh, sự chắc chắn, hoặc niềm tin chiến thắng trong bất kỳ cách quen thuộc nào.

(Ban tam ca Andrew Sisters nổi tiếng trong thời Thế Chiến thứ II,
với bản nhạc Boogie Woogie Bugle Boy(pc 01) (xin bấm vào để nghe)
vào năm 1941 là một điển hình về âm điệu hợp ca thành công của họ)

(Nữ ca sĩ kiêm minh tinh Dinah Shore trong cuốn phim
“Till the Clouds Roll By” (1946) —“Cho đến khi những
Đám mây Trôi qua”
)

(Cuốn phim “Till the Clouds Roll By” cũng được
trình chiếu ở miền Nam Việt Nam trong rạp Năm Châu)

(Nữ ca sĩ và nhạc sĩ Janis Joplin trình bày bản nhạc
nổi tiếng Maybe,”(pc 02) (xin bấm vào để nghe) là một
trong những bài được ưu chuộng)

(Đĩa hát đơn White Rabbit(pc 03) (xin bấm vào để nghe) và ban
nhạc Jefferson Airplane, vào năm 1967 được viết và trình
bày bởi nữ ca sĩ Grace Slick vốn được biết nhiều đến với
bản nhạc Somebody to Love(pc 04) (xin bấm vào để nghe)
–được viết bởi Darby Slick)

(Country Joe McDonald và ban nhạc “The Fish” tại
Buổi nhạc Woodstock ’79 ngoài trời, đang trình
bày bản nhạc phản chiến nổi tiếng của mình,
The Fish Cheer(pc 05) (xin bấm vào để nghe))

Ngay cả bằng cách sử dụng Chiến tranh Hàn Quốc gần đây hơn như là một thước đo của sự tiến triển tạo ra một ít sự kiện song song đáng khích lệ. Ngoại trừ sự kiện là cuộc xung đột ở Việt Nam cho đến nay đã tổn phí một số mạng sống ít hơn so với cuộc Chiến tranh Hàn Quốc, và đã không bị thu hút vào sự tham gia trực tiếp của Liên Xô hay Trung Quốc –ít nhất là không một sự tham gia nào vốn được thực hiện công khai– đến tháng thứ 34 của những hoạt động chiến đấu trên bộ ở bán đảo Triều Tiên, một hiệp ước đình chiến được ký kết.
Sự khởi đầu của năm 1968 mang đến với nó không có trái phiếu hoặc những cuộc vận động cho kim loại phế thải nào, không có những Ngày thứ ba Không-có-Thịt, không có chuyện phân phối khí đốt hoặc đường. Công nhân hảng xưởng trung bình của Mỹ không sản xuất những chiếc máy bay ném bom hoặc những viên đạn hoặc những tàu chiến. Không có những lời động viên mà qua đó như là “Lỡ lời làm Chìm Tàu” và “Nàng Rosie, người Nữ công nhân bắn Đinh tán” (“Rosie the Riveter”) đã tách chia bối cảnh. Trong khi Thế Chiến thứ II, sự gánh chịu khốn khổ chung và sự hy sinh được chia sẻ đã có một trong mười hai người Mỹ mặc một bộ đồng phục với có lẽ một nửa những người đồng hương đó đang phục vụ một nơi nào đó ở nước ngoài,

p119

đến thời gian của Chiến tranh Việt Nam có lẽ là một trong 100 người đang phục vụ, và chỉ có một trong 400 người đang ở khu vực Đông Nam Á. Đến cuối những năm 1960s, nếu một gia đình không trực tiếp có một đứa con trai, anh em, người chồng, hoặc bạn thân đang phục vụ ở Việt Nam, và nếu người đàn ông đó không trực tiếp tham gia trong cuộc chiến ra-vào-rừng-cây–bụi, sự tham gia của Mỹ là một ít nhiều hơn một sự bất tiện hoặc phiền toái đối với hầu hết mọi người, một cái gì đó gây ra cảm giác khó chịu về nó cho đến khi chương trình tin tức chiều tối trên truyền hình kết thúc và chương trình Batman (Người Dơi), Dragnet (Lưới Cào), LaughIn (Cười Vang), hoặc The Monkees (Ban nhạc Monkees) tiếp tục hiện lên thay thế.

(“Loose Lips Might Sink Ships” của Seymour R. Goff,
có nghĩa là “Hãy cẩn trọng lời nói thiếu suy xét”
vì kẻ thù có thể lợi dụng tìm hiểu thêm tin tức)

(Cô nàng Norman Rockwell là hình ảnh của một “Rosie
the Riveter’ được đăng lên trên tuần báo Saturday Evening
Post, vào thời Thế Chiến thứ II, nhằm cổ động lực lượng
nữ công nhân Mỹ tham gia trong hảng xưởng để thay
thế cho những người đàn ông ra chiến trận)

(Chương trình Batman trong thập niên 1960’s)

(Chương trình kịch bản hình sự Dragnet)

(Chương trình LaughIn của Rowan và Martin)

(Chương trình ca nhạc–kịch vui của ban nhạc The Monkees)

A- Việc tạo Thời gian:

Đến lúc Gerry Turley, John Ripley, Chuck Goggin, và hàng trăm ngàn những người lính Mỹ chiến đấu khác đã kết thúc –và trong hầu hết phần cuối– chuyến quân vụ; đến lúc Thiếu úy George Philip, tốt nghiệp Khóa 1967 Học viện Hải quân Mỹ (i.e. theo hệ thống Mỹ, khóa học được gọi theo năm tốt nghiệp), được chuẩn bị để bắt đầu, Đại úy Lê Bá Bình vẫn lu mờ còn đang ở khoảng giữa khóa học của mình.
Những người lính chiến khắp bốn quân khu nóng lòng đánh dấu những ngày còn lại trên thời gian ở Việt Nam của họ. Khi một người được xuống đến 99 ngày hoặc ít hơn, anh ta trở thành “ngắn,” một “người lùn bởi hai con số.” Với kém hơn mười ngày, anh ta trở thành “cực ngắn” và là một “người lùn bởi một con số.” Trong Đại đội Lima, những Đột kích Quân của ông Ripley có truyền thống của riêng họ và sẽ đưa một cỗ bài cho mỗi người lính khi anh ta có 52 ngày còn lại trên chuyến quân vụ của mình. Để dành lại lá bài Ách Bích cho ngày cuối cùng, người lính sẽ đánh dấu thời gian của mình bằng cách ngẫu nhiên kéo một lá từ cỗ bài mỗi một ngày. Những ngày dành cho anh ta trở nên được biết bởi lá bài mà anh kéo ra. Một sự nhận biết duy nhất khác về những ngày là ngày Chủ nhật khi các y tá quân y sẽ phát ra những viên thuốc sốt rét cho tất cả mọi người uống.
Đối với Lê Bá Bình, những người lính của Sói Biển, và toàn bộ Thủy quân Lục chiến (TQLC), không có chuyện tiếp tục đi tới, không có trò chơi dã cầu hoặc bất cứ điều gì khác cho vấn đề đó, để trở về. Để chắc chắn, có những người vợ, người mẹ, bạn gái, và gia đình yêu thương, nhưng tất cả họ ở ngay đó hoặc khá gần bên. Đối với những người Việt, không có một bức tranh lớn hơn để suy xét. Trong khi những quan tâm và can dự về chiến lược của Mỹ vươn ra thế giới từ châu Á đến châu Âu và tất cả những đại dương ở khoảng giữa, trong khi nước Mỹ sở hữu khả năng nhân lực và kỹ nghệ để đáp ứng các nghĩa vụ khác nhau, và Việt Nam là chỉ là một trong những nghĩa vụ đó –mặc dù hiện nay đẫm máu nhất, nó vẫn chỉ là một trong nhiều con bài domino cần đến sự hỗ trợ.

p120

Đối với những người Việt, trận chiến với những người Cộng sản là sự tiêu phí tất cả. Không có những chuyện suy xét khác. Chỉ là vậy.
Quân đội Mỹ đã khôn ngoan quyết định rằng nếu một người lính bị thương ba lần trong suốt chuyến quân vụ của mình và vẫn còn thở, tốt nhất là đưa anh ta về nước. Không có nhu cầu để thử thách định mệnh quá liều lĩnh. Một người có thể làm ngắn lại cuộc sống của riêng mình bao nhiêu thời gian nữa? Đại úy Lê Bá Bình, đến tháng Giêng năm 1968, đã thực sự bị thương năm lần kể từ khi việc bổ nhậm chức vụ chỉ huy của anh ta vào năm 1962. Tuy nhiên, đất nước của anh ta không có sự xa xỉ của nguồn nhân lực dư thừa để hứa hẹn những điều như thế.
Đến tháng Giêng năm 1968, những số lượng ngày càng tăng của những người Mỹ đang đặt câu hỏi về sự sẵn sàng của quốc gia để tiếp tục theo sau lời hứa của Tổng thống Kennedy “trả bất cứ giá nào và mang lấy bất cứ gánh nặng nào…” Với ít điều để đích thực chỉ cho những người dân ở quê nhà về những cái giá bằng máu và vật liệu phải trả cho đến nay, điều đó nghe có vẻ hợp lý hơn để thách thức dòng suy nghĩ đó. Đối với những người đàn ông Mỹ trong độ tuổi 18 đến 25, viễn ảnh của việc chiến đấu và chết chóc trong chiến tranh mà nhiều người đã không tin là cuộc chiến đấu của họ bắt đầu với có ít khả năng thu hút lý trí hoặc tình cảm.
Những người Mỹ có thể lịch sự hoặc không rất lịch sự tranh luận và phản đối cuộc chiến tranh mà không có một hậu quả đáng kể. Mối đe dọa trực tiếp của Quân Bắc Việt và Việt Cộng (VC) đối với khu vực Hollywood hoặc thành phố biển Berkeley, California hoặc thủ phủ Madison, Wisconsin hoặc thành phố Ann Arbor, Michigan, là tối thiểu. Đối với người Việt Nam vốn là những người mong muốn không phải sống dưới ách thống trị của Chủ nghĩa Cộng sản, những chọn lựa đều bị hạn chế. Họ không hưởng được cùng sự bảo an về không gian và thời gian và vị trí như các nhà hảo tâm người Mỹ của họ. Các mối đe dọa đối với họ thì hơn hẵn thực tế và ngay lập tức. Những sự kiện bên ngoài Việt Nam, đến một mức độ lớn, tạo nên vấn đề đối với những người Việt Nam chỉ trong phạm vi mà họ gây tác động lên khả năng và sự sẵn sàng của Mỹ nhằm hỗ trợ và cung cấp các nỗ lực của riêng họ để duy trì tự do.

B- Giai đoạn Trước khi Xảy ra Biến cố ở Khe Sanh và dịp Tết ’68:

Cho dù bằng thực chất hiện hữu hay không, những phóng viên tường trình cuộc chiến tranh ở Việt Nam qua thời gian để lại cho những độc giả Mỹ và những người xem truyền hình thường trực với ấn tượng rằng khắp chiều dài và chiều rộng của đất nước được buộc chặt với những đường hầm và những nơi trú ẩn an toàn của đối phương,

p121

với những gián điệp VC khéo léo che giấu đang kiểm soát các khu rừng và ẩn kín trong mỗi thôn, làng, và thị trấn. Có cảm giác rằng không ai và không nơi nào là an toàn. Điều đó chỉ đơn giản là không đúng sự thật.
Sự tuyên truyền của Cộng sản và bên cạnh đó là báo chí Tây phương thông thường khắc nghiệt, vô cảm, nền dân chủ non trẻ của một nước Việt Nam Cộng hòa mới đang bắt đầu, đến năm 1966, cho thấy sự tiến bộ và lời hứa hẹn thực sự. So với những ông chủ thuộc địa trước đây của họ ở châu Âu sau Thế Chiến thứ II và những thay đổi rất khó theo dõi được trong những chính phủ mà Pháp đã trải qua, tình hình tại Việt Nam, nếu cứ tiếp tục theo một tiêu chuẩn tương tự, không có vẻ vô cùng quan trọng. Theo sau việc loại bỏ ông Diệm vào năm 1963 và các cuộc đảo chánh và phản-đảo-chánh tiếp theo, sau khi Nguyễn Cao Kỳ trở thành Thủ tướng, một vẻ bề ngoài của sự ổn định được thành lập, mặc dù đất nước đang có chiến tranh. Vào năm 1966, 85% những công dân đủ điều kiện đi bầu đó thực sự thực hiện nỗ lực để ghi tên.1
Các cuộc bầu cử cấp quốc gia của Việt Nam được tổ chức vào tháng Mười Một năm 1967 và tình trạng toàn vẹn chung chung của quá trình bình chọn không phải là một phép lạ nhỏ. Trong khi giới truyền thông Mỹ và Âu châu nhanh chóng chỉ ra rằng các ứng cử viên với các khuynh hướng Cộng sản công khai thừa nhận không được phép ra tranh cử, ngay cả mặc dù mục tiêu tuyên thệ của họ là sự lật đổ bằng bạo lực bất kỳ chính phủ phi-Cộng nào, hàng chục tổ chức tôn giáo và chính trị bên ngoài gởi vào những quan sát viên bầu cử vốn là những người tìm thấy một ít gì đó trong cách của những điều bất thường. Mà qua đó việc Nguyễn Văn Thiệu thắng cử đã được dự kiến, nhưng mà ông ta thắng chỉ với 35% số phiếu, không làm cho nó hợp lệ qua sự cáo buộc của Cộng sản rằng những cuộc bầu cử bị gian lận. Không có sự bày tỏ quyền tự do như thế diễn ra ở nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam.
Trên mặt trận quê nhà của Mỹ, nhiều người vẫn còn mong đợi chiến thắng và tin tưởng vào điều gì mà họ đang được nghe đến bởi những người lạc quan và những người ủng hộ chính trị lâu dài của cuộc xung đột. Tướng Westmoreland, vị sĩ quan cao cấp của Mỹ ở Việt Nam, trong suốt một bài nói chuyện được đưa ra tại Washington, DC đến Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia vào ngày 21 tháng Mười Một năm 1967, qua việc đề cập đến Năm Mới sắp tới, tiếp tục với cái nhìn khẳng định mà ông ta lưu ý kỷ cho điều đó khi ông ta nói rằng, “sự kết thúc bắt đầu hiện ra trong tầm nhìn.” Ông ta cũng tiếp tục phát biểu rằng trong vòng hai năm tới hoặc ít hơn, những người Mỹ có khả năng sẽ chuyển qua một gánh nặng công việc lớn hơn cho những lực lượng miền Nam Việt Nam.2

p122

Bài diễn văn về Nhà nước Liên minh của Tổng thống Johnson từ đầu tháng Giêng năm 1968 thì kiên quyết và đi thẳng vào luận điểm. Trong vòng giây phút đầu tiên, ông ta đi vào trong việc thảo luận về Việt Nam và nêu rõ:

Kể từ khi tôi báo cáo đến các bạn vào tháng Giêng năm ngoái: Ba cuộc bầu cử đã được tổ chức ở Việt Nam giữa lúc chiến tranh và dưới sự đe dọa liên tục của bạo lực. Một Tổng thống, Phó Tổng thống, một Hạ viện và Thượng viện, và những quan chức làng mạc đã được chọn lựa bởi cuộc đầu phiếu phổ biến, tranh đua. Kẻ thù đã bị đánh bại trong trận chiến nầy đến trận chiến khác. Số lượng những người miền Nam Việt Nam đang sống trong những khu vực dưới sự bảo vệ của chính phủ đêm nay đã tăng trưởng hơn một triệu người kể từ tháng Giêng năm ngoái.

Những điều nầy là tất cả những dấu ấn của sự tiến triển, tuy nhiên: Kẻ thù tiếp tục đổ người và vật liệu qua những vùng biên giới và vào trong trận chiến, mặc những mất mát nặng nề, liên tục của mình. Kẻ thù tiếp tục hy vọng rằng ý chí kiên trì của người Mỹ có thể bị bẻ gãy. Thế đấy, hắn ta đã sai. Người Mỹ sẽ kiên trì. Sự kiên nhẫn của chúng ta và sự kiên trì của chúng ta sẽ phù hợp với sức mạnh của chúng ta. Cuộc xâm lược sẽ không thắng được. Tuy nhiên, mục đích của chúng ta là hoà bình –và hòa bình tại khoảnh khắc sớm nhất như có thể… “3

Vị Tổng thống tiếp tục đi xa hơn để phác thảo ngắn gọn những mục đích của mình cho hình thức hòa bình nào đó với những người Cộng Sản tại Hà Nội. Xa hơn điều đó, phần lớn của bài phát biểu thì quan tâm nhiều hơn với sự theo đuổi ảo tưởng của ông ta về một Xã hội Vĩ đại.
Cùng lúc đó, các nhà hoạch định quân sự Mỹ đang tìm kiếm những cơ hội để chạm trán và tiêu diệt phần lớn những phần tử của Quân Bắc Việt. Khe Sanh, một ngôi làng xa xôi ở phía tây bắc của Quân khu I trên Quốc lộ 9, chỉ hơi cách biên giới Lào, đối với những người Mỹ trông giống như một khu vực trạm dừng thích hợp từ đó để ngăn chặn Đường mòn Hồ Chí Minh và có lẽ sau này sẽ khởi đầu hoạt động trên bộ vào trong Lào hoặc có thể thậm chí vào miền Bắc Việt Nam.
Các lợi ích cho những người Mỹ trong việc chiến đấu bên ngoài, xa khỏi các khu vực đông dân cư, mặc những hạn chế khổng lồ về hậu cần, là khả năng để tận dụng toàn bộ biện pháp của sức mạnh Không quân mà không có nguy cơ giết chết những thường dân vô tội.
Trong nhiều năm, đã có cuộc tranh luận quan trọng giữa các vị tướng lãnh Quân đội và Hải quân về cách tốt nhất để tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

p123

Những binh lính TQLC(pc 06) ủng hộ các nỗ lực bình định, qua việc kiểm soát những thị trấn và làng mạc ven biển, và cố gắng ngăn chận sự tiếp cận của Cộng sản đến những dân cư –như TQLC đã từng làm trong suốt những cuộc Chiến tranh Banana chống lại những băng cướp với sự thành công nào đó. Tướng Westmoreland và ban tham mưu của ông ta gồm những tướng lãnh Quân đội thuộc Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự Hoa Kỳ cho Việt Nam ưa thích những nỗ lực để giao tranh với kẻ thù xa khỏi các khu vực đông dân cư nơi mà sức mạnh hỏa lực vượt trội và sự tái tiếp tế nhanh chóng của Mỹ có thể thắng thế hơn. Qua đó Sư Đoàn 3 TQLC tìm thấy chính mình, đến cuối năm 1967, được thành lập khá tốt đẹp ở những vị trí gần như tĩnh động khắp khu vực tiếp giáp với Khu phi Quân Sự và bên ngoài gần Khe Sanh, hầu hết là một kết quả của tầm nhìn chiến lược của Tướng Westmoreland.

(Tướng Westmoreland trong cuộc nói chuyện vào năm 1968)

1967 đã là một năm của sự thách thức lớn nhất và tuy hy sinh nhiều nhất cho những lực lượng bộ binh và Không quân Mỹ ở Việt Nam. Gần 10.000 người lính bị giết trong 12 tháng đó thì nhiều hơn con số bị mất mát ở đó trong tất cả các năm trước gọp lại. Ở cực bắc của Quân khu I, ngay phía nam của Khu phi Quân Sự và nơi mà cuộc chiến đã từng là đặc biệt dữ dội, những binh lính TQLC lao lực và chiến đấu dưới những điều kiện không lấy gì thích thú của họ.
Khuynh hướng của “Cổ Áo Da” cho những hoạt động tấn công bị cản trở bởi những trách nhiệm bổ sung về việc xây dựng và bảo vệ nỗ lực tạo dựng cái gì đó sẽ trở nên được biết đến một cách nhạo báng như là “Tuyến phòng McNamara” –được đặt tên theo sau Bộ trưởng Quốc phòng Robert Strange McNamara sau đó. Khái niệm cho một loại rào cản thực thể nào đó vốn sẽ làm nản lòng cuộc xâm nhập từ phía bắc, đã được đưa ra suy xét mạnh mẽ trong nhiều năm, thậm chí trong một thời gian ngắn bởi những sĩ quan cao cấp của TQLC.

(Tuyến phòng McNamara gồm –từ trái qua phải– hàng máy cảm ứng,
kế đến trong khoảng giữa từ 100–150 m là những bãi mìn và những
cái máy khám phá về sự xâm nhập, địa chấn, áp suất, tiếp theo là hệ
thống hàng rào kẻm gai với 3 lớp, 2 tầng, và sau cùng là lớp hàng
rào sắt khác bên ngoài, cách khoảng 50 m. Bên trong là những đồn
trú canh gác, quan sát và những hệ thống radar và thông tin liên lạc)

(Hệ thống radar từ bên trong Tuyến phòng McNamara)

Được biết đến đối với nhiều người như là Dye marker(pc 07) (Điểm đánh Dấu bằng Màu), một đồn lũy kiên cố hoặc hệ thống rào cản là một đường cỏ bị cắt của mảnh đất từ 600 đến 1.000 mét rộng được dọn sạch và ủi bằng, mở rộng từ khoảng phía đông đến phía tây qua những phần của Khu phi Quân Sự mà trên đó những bãi mìn, máy cảm ứng, và những dây thép gai sẽ được đặt vào nhằm ngăn cấm cuộc xâm nhập của đối phương hoặc để lùa chúng vào trong những khu vực nơi mà những lực lượng đồng minh có thể dễ dàng giết họ. Thêm vào đó, Dyemarker sẽ bao gồm các lô cốt bê-tông cách khoảng để những đơn vị của TQLC(pc 06) hoặc Việt Nam Cộng hòa (VNCH) có thể quan sát và bảo vệ tuyến phòng.
Không mấy gì thích thú được giao nhiệm vụ với việc xây dựng của nó bởi Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự Hoa Kỳ cho Việt Nam, những binh lính TQLC ở tất cả các cấp nhìn thấy sự vô ích của nỗ lực đó, qua việc xem xét nó là sự đổi mới của Tuyến phòng Maginot. Nhu cầu để điều hành những nguồn nhân lực để dọn trống khu vực,

p124

đặt vào những bãi mìn và máy cảm ứng, dựng lên các cấu trúc bê-tông, và suốt thời gian bảo vệ công cuộc xây dựng to lớn đó, nỗ lực đã thực sự kéo mỏng các nguồn nhân lực của các đơn vị được giao cho nhiệm vụ này.

(Tuyến phòng McNamara kéo dài trên khu vực Cồn Thiên
đến Giao Linh và xuống nửa đường đến Đông Hà)

(Bộ trưởng Quốc phòng Robert Strange McNamara,
cha đẻ của Tuyến phòng McNamara công phu, nhưng
vô hiệu quả với sự tốn kém khoảng hơn 3 tỷ đô-la chỉ
để bắt đầu hoạt động, chưa kể đến tổn phí duy trì lâu dài)

Sớm như vào đầu tháng 7 năm 1967, Trung tướng Victor Krulak, đang phục vụ như là vị tướng lãnh cao cấp của TQLC trong chiến trường Thái Bình Dương và là người đề xướng từ đầu về việc ngăn chận dân cư đến với kẻ thù –qua việc giành lấy “Tâm and Trí”– hơn là chiến đấu một cuộc chiến tranh phòng thủ trong những khu vực xa xôi, đã lên tiếng bày tỏ ý kiến của mình về việc tiến hành chiến tranh trong Khu phi Quân Sự. Sự đánh giá của ông ta về các mục đích của Quân Bắc Việt là họ muốn: “… khiến chúng ta đến gần những vũ khí và các lực lượng của đối phương như có thể, bao lấy chúng ta hoàn toàn bằng những vũ khí bắn theo góc độ cao tầm gần, giao tranh với chúng ta trong cuộc chiến xáp gần và bạo lực, sẵn sàng chấp nhận sự mất mát sinh mạng đáng kể cho cơ hội để giết chết một số lượng những người lính của chúng ta ít hơn, và rút lui vào trong khu bảo mật ở miền Bắc Việt Nam của mình để tân trang lại.”4
Những binh lính chiến đấu của TQLC và những chiến sĩ tại điểm giao chiến với kẻ thù đã từ lâu bị chọc tức điên lên bởi các quy luật giao tranh vô cùng kỳ quái và phản trực giác. Không cho phép cuộc truy đuổi thực tiển những đơn vị Bắc Quân đang rút lui vào trong Cam-pu-chia, Lào, và những khu bảo mật ở miền Bắc Việt Nam; những khái niệm hào hiệp lỗi thời và sai lầm về những cuộc ngưng bắn trong dịp nghỉ lễ thì đúng là đáng nực cười. Trong suốt thời gian hiệp ước ngưng bắn của mùa Giáng sinh năm 1967 và dịp lễ Năm Mới, những vi phạm của đối phương qua lệnh ngưng bắn vào tuần sau thì vô số kể. Thiếu tá Gary Todd, một sĩ quan tình báo của Sư đoàn 3 TQLC, mô tả về điều gì mà mọi người đã biết là đúng khi ông ta cho rằng “tiếng súng cuối cùng bắn ra trước khi lệnh ‘ngưng bắn’ có hiệu lực thì giống như khẩu súng lục của người khởi hiệu cho Bắc Việt, thu mình xuống và căng mình ra để tung vút lên trở thành cú phóng nhanh” để tái cung cấp các lực lượng của họ ở miền Nam.5
Tướng Giáp và các đồng nghiệp miền Bắc Việt Nam của ông ta nghe nói họ xem những trận chiến đang treo đó dường như không thể tránh khỏi cho Khe Sanh như là một cơ hội để lặp lại cuộc chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 của họ trên những lực lượng Pháp. Nếu những số lượng binh lính Mỹ thích hợp có thể sẽ bị nhử ở đó, bị cô lập bằng cách nào đó, và sau đó bị tiêu diệt, công chúng Mỹ cuối cùng có thể cảm thấy ăn không ngon vì cuộc chiến tranh mà trong đó dường như là Cộng sản sẽ không bao giờ đầu hàng, không cần biết sự tổn phí ra sao.
Bắc Việt đã di chuyển các nguồn cung cấp và cán quân đáng kể vào khu vực bên trong và xung quanh Khe Sanh.

p125

Cuộc giao tranh không liên tục nhưng mãnh liệt ở những ngọn đồi vây quanh căn cứ chiến đấu chẳng bao lâu được mở rộng trong những tháng trước khi hết năm 1967 đã xác nhận nguồn tin tình báo Mỹ rằng có khả năng ít nhất là ba sư đoàn đầy đủ của Quân Bắc Việt hiện tại và nóng lòng giao chiến với những binh lính TQLC.

(Thung lũng Khe Sanh và những ngọn đồi chiến lược)

Từ Nhà Trắng, Tổng thống Johnson đặc biệt chú ý đến trận chiến đang hiện ra lờ mờ và những vận may của trung đoàn TQLC được đặt ở đó giống như miếng mồi trong một cái bẫy. Những sự so sánh đối với Điện Biên Phủ đã thực sự được thực hiện bởi báo chí. Tổng thống sẽ làm sao để chắc chắn rằng sẽ không có sự lặp lại những sai lầm đáng xấu hổ được làm ra bởi các tướng lãnh Pháp mà đoàn quân kỵ binh của họ xem thường sự khéo léo của kẻ thù của họ và sự thất bại không tuân thủ theo các nguyên tắc cơ bản về cách chiến đấu trong chiến tranh đã làm tổn phí những mạng sống của rất nhiều người dũng cảm.
Tại Điện Biên Phủ, Pháp đã chiếm những vị trí trong một thung lũng và nhường vùng đất cao cho Việt Minh, qua việc tin tưởng rằng họ không có khả năng đặt trọng pháo tầm xa trong những vùng núi xung quanh. Theo hậu cần, Điện Biên Phủ là cơn ác mộng của việc tái tiếp tế khi nó nằm xa khỏi các căn cứ phe bạn. Những chiếc máy bay chiến đấu có những lần lảng vảng ngắn ngủi một khi họ đến quân trạm. Việc khôn khéo đặt vị trí những khẩu súng chống máy bay hiệu quả bởi Việt Minh khiến cho máy bay thả bom không thể thực hiện những phi vụ hạ thấp độ cao thả bom, chính xác hơn. Những chiếc máy bay chở hàng C-119 ì ạch được sử dụng cho việc tái tiếp tế bằng không vận buộc phải thả xuống đồ dùng từ những độ cao, bởi vì những điều kiện gió thổi ở trên cao, mà qua đó thường khiến cho số đạn dược, thực phẩm, và thuốc men đáp xuống bên trong tuyến phòng tiếp tục đang mở rộng của kẻ thù.

(Chiếc máy bay chở hàng cồng kềnh C-119, từng
được sử dụng trong Trận chiến Điện Biên Phủ,
Chiến tranh Triều Tiên, Chiến tranh Việt Nam)

Các lực lượng Mỹ có nhiều lợi thế không sẵn có đối với binh lính Pháp. Chính khu vực Khe Sanh nằm trên vùng đất cao và những binh lính TQLC(pc 06) kiểm soát một cách hiệu quả một số lượng những đỉnh núi chính yếu kề bên. Ngay cả mặc dù Quân Bắc Việt sẽ đặt vị trí cho những số lượng lớn của trọng pháo tầm xa trong những vùng núi thuộc nước Lào về phía tây và sẽ có khả năng bắn gần như một cách liên tục, và ngay cả mặc dù họ đã hiệu quả cắt Quốc lộ 9 giữa Khe Sanh và Đông Hà mà qua đó là tất cả điều gì họ có thể làm ngoại trừ việc loại bỏ khả năng của Mỹ tái cung cấp lương thực hoặc củng cố lực lượng qua các đoàn xe vận chuyển, sức mạnh Không quân của Mỹ cùng với sự tái tiếp tế dồi dào từ trực thăng và máy bay cánh cố định sẽ giữ lại những binh lính TQLC trong cuộc chiến vô thời hạn. Những khẩu súng lớn tại Doanh trại Carroll –những trọng pháo 175 ly– có tầm đạn xa và cú đấm mạnh được đòi hỏi để giúp bảo vệ căn cứ chiến đấu từ lực lượng bộ binh Bắc quân đang tiến gần. Trong lúc đó, các hoạt động khắp Quân khu I và phần còn lại của Việt Nam tiếp tục lan ra nhanh chóng.

(Một cuộc tái tiếp tế cho chiến trường Khe Sanh)

(Căn cứ Khe Sanh dưới hỏa lực của Quân Bắc Việt)

(Khẩu trọng pháo 175 ly đang khai hỏa)

p126

C- Bành Cẩm:

Vào cuối năm 1967, Bành Cẩm là một thư ký viên 21 tuổi trong bộ phận thu mua tại Cơ quan Hối đối Hải quân Mỹ, trạm đổi tiền, ở trung tâm Sài Gòn gần Chợ Lớn. Câu chuyện cuộc sống của cô ta và những trải nghiệm của gia đình cho đến thời điểm này phản ảnh rất nhiều và ghi chép lại tình trạng náo động và sự thay đổi vốn đã đi qua trên đất nước của mình kể từ khi sự kết thúc của Thế Chiến thứ II.
Được sinh ra ở Hà Nội vào năm 1946, là người con thứ hai và là cô gái thứ hai, cô Cẩm đã chuyển đến Sài Gòn vào năm 1952 với mẹ, chị, và hai đứa em trai mình. Theo văn hóa Việt Nam, không là bất thường gì cả cho một người đàn ông tiến hành quan hệ hoặc có một gia đình thứ hai với một phụ nữ khác. Có ít nguồn tin về người vợ và những đứa con bị xô đẩy đến vị thế bất lợi. Có một số ít chọn lựa cho mẹ của cô Cẩm khi người cha của cô ta đã chọn chiều hướng này cho chính mình. Với bốn đứa con trẻ theo sau, mẹ của cô Cẩm bắt đầu lại và chuyển vào Nam, hai năm trước khi có cuộc ly hương lớn mà qua đó sẽ mang thêm một triệu người miền Bắc đến vùng đất tự do khỏi sự đàn áp của Cộng sản vào năm 1954. Cô ta may mắn bởi vì cô ta nhanh chóng có khả năng đảm bảo một vị trí làm việc như là một thư ký trong một cơ quan tương đương với Toà Đô Chánh của thành phố Sài Gòn.

(Toà Đô Chánh Sài Gòn ngày xưa)

Trong khi người chị của cô Cẩm đã kết hôn và chuyển đi xa, cô Cẩm bỏ học vào năm 1962 để phụ giúp mẹ mình với các chi phí liên kết với việc nuôi nấng hai đứa em trai của mình. Trước khi làm việc tại trạm Hối đối của Hải quân Mỹ vào năm 1966, cô ta đã làm một loạt các công việc khác nhau.
Sự tác động trên nền kinh tế Việt Nam từ việc chi tiêu của người Mỹ ở địa phương thật là đáng kể. Những lợi ích được tích lũy không tương xứng đối với những người được mướn làm việc trực tiếp hoặc được trợ giúp ngay lập tức từ các kết quả của việc chi tiêu đó. Trả một số tiền đáng kể nhiều hơn cho bất cứ những dịch vụ gì mà họ sử dụng so với một dịch vụ tiêu biểu trước khi có sự xuất hiện của họ, việc chi tiêu đó cuối cùng sẽ có những hậu quả tai hại lâu dài trên sự lạm phát và sự phân bổ các nguồn cung cấp khan hiếm trong thời chiến.
Đối với Bành Cẩm và gia đình của cô ta, công việc tại trạm Hối đối Hải quân ngay lập tức đã làm cho cô ta trở thành người trụ cột chính cho gia đình và chu cấp cho họ một tiêu chuẩn sinh sống tốt hơn đáng kể mà họ lẽ ra có thể hưởng thụ trừ khi cô ta không có công việc làm cho những người Mỹ.

p127

Sự kết hợp lợi tức của cô ta từ công việc của mình và thu nhập từ công việc hành chánh cho chính quyền thành phố của mẹ cô ta đảm bảo rằng những đứa em trai của cô Cẩm có thể tiếp tục việc học của mình mà không bị gián đoạn.
Cuộc sống dành cho một cô Cẩm trẻ và quyến rủ vào cuối năm 1967 thì tương đối tốt đẹp theo những tiêu chuẩn Việt Nam và trong nhiều cách chỉ hơi khác biệt so với cái gì mà những thiếu nữ khoảng tuổi của cô ta có thể trải nghiệm ở nơi khác.
Mỗi sáng hàng ngày trong tuần, cô Cẩm trở thành một phần của số đông của con người mà qua đó đối với bất kỳ người ngoài nào dường như là một cuộc nổi loạn của phong trào nhưng đối với những công dân của một Sài Gòn tự do và đang phát triển là công chuyện bình thường. Đi từ nhà của mẹ mình ở Phú Nhuận đến trạm Hối đối bằng xe xích-lô, cô ta sẽ thưởng thức những quang cảnh và mùi vị và âm thanh của phố nhà dưỡng nuôi thứ hai của mình. Trên chuyến xe 10 km, cô ta sẽ nhìn thấy tất cả cuộc sống mà cô ấy biết như là bình thường; những đứa trẻ trong bộ đồng phục bắt đầu theo hướng về ngôi trường, những người chủ tiệm và các ngưởi buôn bán trên vỉa hè đang trưng bày hàng hóa nhưng sẵn sàng bán hàng cho bất kỳ khách qua đường vào bất cứ lúc nào, những nhân viên cảnh sát đang điều hành giao thông, thỉnh thoảng những người lính Việt hoặc Mỹ lái xe ngang qua trong những chiếc xe jeep ngoáy nhìn cô ta sững sờ và tất cả các phụ nữ khá trẻ khác đang đi đây đó trong những chiếc áo dài của họ.

(Hình ảnh những chiếc xe xích-lô, áo dài, trong quang cảnh
bình yên nhưng náo nhiệt của Sài Gòn năm xưa)

Tính ưu việt về văn hóa Việt Nam đã được hoàn toàn thiết lập với sự sáng tạo của chiếc áo dài. Một trang phục, dành cho hầu như tất cả phụ nữ, tạo ra cái gì đó mà không có cái gì khác có thể trong bất kỳ ngôn ngữ hay văn hóa nào khác.
Đơn giản trong thiết kế, gợi cảm khó thể đo lường, nó làm nổi bật tất cả cái gì vốn là tốt nhất và tất cả cái gì vốn là nữ tính. Không giống như rất nhiều phần lớn của cái gì thuộc Tây phương và cục mịch, phơi bày và để lại ít ỏi trong tâm trí, chiếc áo dài không phơi bày gì cả, ngoại trừ những thách thức sự đánh giá cao của một người đàn ông cho những đường nét và vẻ cân đối về hình dáng, và một đề nghị về nét đẹp đó vốn nằm bên dưới lớp vải được để lại đầy đủ cho sự dự đoán và tưởng tượng. Với rất nhiều vẻ đẹp trên các đường phố, vỉa hè, và đại lộ, chính là một thắc mắc mà những binh sĩ và binh lính TQLC có thể tìm thấy sức mạnh hoặc sự tập trung để chiến đấu một cuộc chiến.

(Nét duyên dáng của những chiếc áo dài Sài Gòn)

(Và của những nữ sinh Huế áo dài áo trắng thanh nhã
nhưng sẽ chỉ còn là… ngày xưa đối với chế độ
Cộng sản “văn minh trái mùa” hôm nay, 2013)

(Để thay vào đó là những bộ đồng phục bắt chước
theo Trung cộng, Đài Loan, v.v. làm biến chất văn
hóa riêng biệt của Việt Nam)

Sự giao thông của Sài Gòn tuôn chảy –chủ yếu là những chiếc xe đạp với một số lượng nhỏ nhưng đang tăng trưởng của những chiếc xe gắn máy và xe hơi. Sài Gòn luôn luôn di chuyển. Dân cư của nó đòi hỏi tất cả tập quán của những sự vật để sống và để ăn. Cái gì không được sản xuất bên trong thành phố cho sự tiêu thụ hầu hết được di chuyển trong những số lượng nhỏ tăng dần từng chút một, trên một chuyến đầy hàng của chiếc xe đạp ba bánh mỗi lần,

p128

cho dù đó là những con gà hoặc heo, chuối hoặc bưỡi, những bao gạo, hoặc những bó rau xanh. Có rất ít tủ lạnh. Cái gì được bán vào hôm thứ Hai, được tiêu thụ vào ngày thứ Hai. Đối với ngày thứ Ba, quá trình bắt đầu hết lại một lần nữa. Chu kỳ thì không có sự kết thúc.

(Chiếc xe gắn máy hiệu Solex hữu dụng lần đầu
tiên xuất hiện ở miền Nam Việt Nam)

(Và những loại xe gắn máy khác sau nầy như vespa, molex,
honda, v.v.và các loại xe hơi khác trong một cảnh
sinh hoạt tiêu biểu trên đường Trần Hưng Đạo)

Những người bán hủ tiếu mì bên lề đường có ở khắp nơi –những người cung cấp thức ăn liền, chính thức và nguyên gốc– với những “nhà hàng” nhỏ xíu, dễ di chuyển của họ vốn có thể được dựng lên hoặc dỡ xuống trong nháy mắt gần như ở bất cứ nơi nào cho bất kỳ ai, và được gánh đi từ một địa điểm đến một đia điểm khác trong hai cái vạc lớn vốn cân bằng trên cái đòn được chịu trên vai hoặc những dụng cụ kỳ lạ hơi lớn hơn trên chiếc xe đẩy nhỏ để nuôi một thành phố đói bụng chỉ vừa mới sống lại. Tất cả điều đó có vẻ ồn ào và vô tổ chức đối với những người Mỹ đang làm bất cứ điều gì mà chính họ bị lôi cuốn vào, nhưng sự thường trực và liên tục của thói quen này là chuyện bình thường và sự cho thấy về những công dân của một nước Việt Nam Cộng hòa mới vốn cũng rất có thể có niềm hy vọng cho một ngày mai tươi sáng và chắc chắn.

(“Gánh hàng lưu động” trên hè phố nuôi dân cư thành phố)

(“Nhà hàng lưu động” qua những ngõ hẻm Sài Gòn)

(Một xe bán hủ tiếu mì ở Sài Gòn)

(Xe ba-gác bán chuối dạo)

Theo truyền thống và nghiêm khắc như mẹ của cô Cẩm và hầu hết mọi người trong xã hội Việt Nam vẫn còn chuyện hẹn hò và tán tỉnh, một môi trường đủ an toàn để cho cô Cẩm được cho phép trong suốt các buổi chiều tối, khi không có những nghĩa vụ cho gia đình, để đi đến các câu lạc bộ và những quán ăn có ca hát với những người bạn gái trẻ của mình. Họ thích thú cuộc sống về đêm sinh động của Sài Gòn, khiêu vũ, và âm nhạc.
Trong khi có một số lượng ít ỏi những cuốn phim được sản xuất tại Việt Nam để xem, không có thiếu các cuốn phim nước ngoài được phụ đề hoặc lồng trong tiếng Việt. Cô ta rất nhiều thích thú những minh tinh như Sophia Loren và Gina Lollobrigida, quyến rũ và xinh đẹp trong bất cứ ngôn ngữ nào. Sự yêu thích hơn nhất của cô Cẩm, tuy thế, người mà cô ta nhắc đến như là vị “thiên thần” của mình, chính là Elizabeth Taylor.

(Nữ minh tinh Mỹ gốc Ý Gina Lollobridgida)

(Nữ minh tinh Mỹ gốc Ý Sophia Loren)

(Nữ minh tinh Mỹ nổi tiếng Elizabeth Taylor)

D- Sinh viên Sĩ quan Nguyễn Lương:

Sinh viên Sĩ quan Nguyễn Lương đã bắt đầu sự giáo dục của mình để trở thành một sĩ quan quân đội chuyên nghiệp khi anh ta tham gia Khóa 24 của Học viện Quân sự quốc gia vào mùa thu của năm 1967. Được biết đến bởi con số khóa học của họ, cái nhóm hơn 300 thanh niên yêu nước nầy, nếu mọi thứ diễn ra theo hoạch định, sẽ tốt nghiệp như là những vị Thiếu úy mới và mang lon chính thức vào tháng Mười Hai năm 1971.

p129

Học viện Quân sự Quốc gia Việt Nam có nguồn gốc được thành lập bởi người Pháp vào năm 1948 như là l’Ecole Inter-Armes ở Huế. Được lên chương trình có phần nào theo St. Cyr, là Học viện Quân sự của Pháp tương đương với West Point của Hoa Kỳ, nhiệm vụ là cung cấp sinh viên sĩ quan đáng tin cậy được đào tạo và giáo huấn, những sĩ quan chuyên nghiệp.6 Trong số các học viên tốt nghiệp xuất sắc của Học viện, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã là một thành viên của Khóa Một.

(Học viện Quân sự Quốc gia St. Cyr ở Paris của Pháp)

(Học viện Quân sự Quốc gia Westpoint ở New York của Hoa Kỳ)

(Học viện Quân sự Quốc gia ở Đà Lạt của miền
Nam Việt Nam)

(Tổng thống nền Đề nhị Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu đang
duyệt hàng binh cùng Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ
(bên phải), vốn là người bao che cho đám sinh viên Việt Cộng
vì tị hiềm chiếc ghế Tổng thống, sau cùng cũng là người bán
rẽ tình đồng bào hải ngoại qua việc thông đồng với chế
độ Cộng sản trong chính sách “hòa hợp hòa giải”
với tham vọng ngầm là hy vọng tìm một địa vị mới)

Học viện, lúc bấy giờ, được đặt trong thị trấn nghỉ mát thuộc vùng núi dìu dịu của Đà Lạt, khoảng 225 km về hướng đông bắc Sài Gòn, giáo trình giảng dạy của học viện, trong phần lớn nhất của sự tồn tại của nó, là hai năm dài. Với sự trợ giúp của Pháp và Mỹ, giáo trình giảng dạy được mở rộng đến ba và sau đó là bốn năm vào cuối thập niên 1950s. Đến năm 1960 tuy nhiên, những hạn chế về thế giới thực tiển, những nhu cầu cần đến để chiến đấu chống lại mối đe dọa đang leo thang của Cộng sản, và sự thèm muốn vô độ của chiến tranh đối với những sĩ quan non nớt khiến cho việc di chuyển trở lại một nền giáo dục hai năm.
Với sự tham dự của Mỹ ngày càng tăng, những người Việt Nam được khuyến khích ứng dụng mô hình bốn năm của Học viện West Point vào giữa thập niên 1960s. Khóa 22 thực sự được chia thành hai phần; 22A sẽ tốt nghiệp trong hai năm và 22B trong bốn năm. Những Khóa 23 và 24 cả hai là chương trình bốn năm. Một kế hoạch sắp tiếp tục một cách vô thời hạn theo cách này.
Việc nhập học vào Học viện Quân sự quốc gia, giống như những đối tác Mỹ của nó, thật cực kỳ tranh đua. Từ một khối đông nhiều ngàn người hội đủ điều kiện nộp đơn, nóng lòng chiến đấu cho đất nước của mình, Khóa 24 đã được chọn ra cho khoảng 300 ứng thí viên có trình độ học vấn cao nhất và thể chất. Khi Việt Nam chưa được thành lập hoặc đủ dồi dào để chu cấp những học viện riêng biệt cho mỗi binh chủng phục vụ; những Quân đoàn Không quân, Hải quân, và Thủy quân Lục Chiến sẽ được phân bổ một số ít sĩ quan trẻ từ mỗi khóa với tỷ lệ phần trăm cao nhất dành cho quân đội bộ binh mà qua đó, cho đến nay, là một binh chủng phục vụ lớn nhất. Đó là điều khá thông thường đối với các học viên tốt nghiệp hàng đầu, qua việc phản ảnh tinh thần chiến đấu và élan (i.e nhiệt tình, tự tin, và phong cách) của trường và theo những thời kỳ, nhằm yêu cầu sự phục vụ với binh chủng Dù hoặc TQLC.7

(Cổng trước của Học viện Quân sự Đà Lạt)

(Lễ tốt nghiệp của Khóa Một trong đó có
Nguyễn Văn Thiệu là vị Tổng thống sau nầy)

(Giương cung là truyền thống bế mạc của ngày lễ)

(Lễ tốt nghiệp của Khóa 22)

Được sinh ra vào năm 1947 tại Biên Hòa, khoảng 32 km về hướng đông bắc Sài Gòn, Nguyễn Lương là người anh cả trong số năm anh em và người chị. Người cha của anh ta lúc đầu đã làm việc như là một nhân viên trong ngành hiến binh địa phương trước khi có sự phân chia đất nước vào năm 1954.

p130

Một khi Việt Nam Cộng hòa được thành lập, cha của anh Lương được thuyên chuyển đến dịch vụ bưu chính nơi mà ông ta là một phần của một nhóm cực kỳ bí ẩn vốn lao lực trong việc bí mật kiểm tra quan hệ thư từ qua các tin nhắn được mã hóa giữa những người Cộng sản ở miền Bắc và các mật vụ của họ ở miền Nam. Thường thì thư từ như thế được gởi theo đường qua Âu châu hoặc đến những địa chỉ khác được cảm thấy là tốt lành với những hy vọng tránh được những con mắt sáng suốt của những người giống như cha của anh Lương.
Lớn lên, anh Lương rất thích chơi đàn guitar, đặc biệt là chơi đàn guitar theo nhạc cổ điển. Giống như những chàng trai trẻ ở mọi nơi, tính chất ảo tượng và hào hứng của những phim ảnh nắm bắt trí tưởng tượng của anh ta. Những cuốn phim hành động, miền viễn Tây Hoa Kỳ, khoa học giả tưởng; anh ta thưởng thức tất cả chúng. Những cuốn phim giống như Hai Mươi Ngàn dặm Dưới Biển (Twenty Thousands Leagues under the Sea) của Jules Verne là trong số những câu chuyện mà anh ta sẽ luôn luôn nhớ lại một cách ưu thích.

(Cuốn phim “Twenty Thousands Leagues under the Sea”
nổi tiếng với tài tử ăn khách Kirk Douglas, vào năm 1954)

Như là một thành viên của đội Hướng Đạo địa phương, chàng thiếu niên Lương và những bạn đồng hành của mình đi cắm trại khi nào họ có thể, trong những khu vực xa xôi vây quanh gần Nha Trang, Thủ Đức, và Bình Dương. Họ thậm chí cắm trại ở bên ngoài tại chùa Giác Lâm ở Sài Gòn. Thường thì các thiếu niên hướng đạo được gắn liền với những nhiệm vụ thực tế về sự trợ giúp hoặc chi sẻ tình thương khi quốc gia non trẻ của họ phải đối mặt với những thách thức của nó. Điều đó không phải là bất thường gì cả đối với họ để trợ giúp những thảm cảnh hoả hoạn, các dự án xây dựng mới, hoặc việc xây dựng lại những con đường và những cây cầu bị hư hại qua cuộc chiến; bất cứ điều gì để góp một bàn tay giúp đỡ trong lúc cần đến.

(Chùa Giác Lâm tọa lạc trên 118 đường Lạc Long Quân,
quận Tân Bình, Sài Gòn)

(Với tháp 7 tầng nổi tiếng)

Nền giáo dục của anh Lương trước khi đến Học viện Quân sự quốc gia đã bao gồm tương đương hai năm cao đẳng kỹ thuật của Mỹ. Ở Việt Nam, những việc học tại các học viện như thế có khuynh hướng đào tạo về kỹ thuật, vì vậy theo tự nhiên họ thiên về toán và khoa học. Điều này là sự chuẩn bị quan trọng cho anh Lương khi giáo trình giảng dạy của học viện quân sự, trong cách theo sau mô hình của Học viện Quân sự West Point, được lấp đầy một cách tương tự với môn học về kỹ thuật.
Đến năm 1967, ở Mỹ, đang trong quân đội –và xem như bạn đang ở trong một quân đội riêng biệt– không nhất thiết phải cải thiện hoàn cảnh bất thường của một thanh niên đối với một dân số lớn hơn của những phụ nữ trẻ có thể chọn làm vợ. Ở Việt Nam, một đất nước đang chiến đấu cho sự sống còn thực sự của nó, những sĩ quan mong muốn thăng tiến được xem rất nhiều ưu chuộng hơn –như là những vị cứu tinh của đất nước mình– bởi những người đương thời phái nữ so với ở Học viện Hải quân Annapolis, Học viện Quân sự West Point, hoặc Học viện Không quân. Những việc chọn lựa ra các sinh viên sĩ quan từ học viện nói chung thì khá tốt.

(Trưởng Trần Văn Khắc (phải), người sáng lập Hướng đạo
Việt Nam vào năm 1930 và Bác sĩ Nguyễn Văn Thơ, hội
trưởng cuối cùng của Hội Hướng đạo Việt Nam (4/1975)
–chụp hình tại Trại Họp bạn Quốc tế Hướng đạo Việt Nam
“Thẳng Tiến 2” được tổ chức tại Toronto vào năm 1988)

(Huy hiệu của Hội Hướng Đạo Việt Nam ngày xưa,
với châm ngôn “Sắp Sẵn” của ngành thiếu niên)

(Những thiếu niên Hướng Đạo Việt Nam đang thực
hiện nghĩa vụ của một hướng đạo viên, vào năm 1968)

(Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chúc mừng đoàn
Hướng Đạo Việt Nam)

(Hướng đạo Cộng sản Việt Nam, xem như thành lập vào ngày 31
tháng 5 năm 1993 tại Hà Nội do cán bộ Hoàng Đạo Thúy –người
mặc áo trắng, ngồi giữa. Thật đáng tiếc khi không được thế giới chấp
nhận
vào cuối năm 1991 qua lời xin gia nhập của Vũ Xuân Hồng, Bí
thư thứ nhất của đoàn thanh niên Cộng sản HCM, trong chế độ Cộng
sản hiện nay –2013– Hướng Đạo Cộng sản Việt Nam cũng
chưa được chính thức nhìn nhận
bởi chính chế độ nặn ra nó)

p131

Khi không bận trong những việc học hoặc những tập luyện về chiến trường, anh Lương duy trì một mối quan hệ ổn định với một phụ nữ trẻ từ quê nhà Biên Hòa của mình. Từ lúc khởi đầu việc tán tỉnh của họ thì mạnh mẽ và cô ta vui lòng và có ý thức bổn phận tham dự tất cả các hoạt động khác nhau được đòi hỏi theo lịch trình của anh ta về vấn đề giao tế theo nghi thức xã hội.

(Thiếu úy Nguyễn Lương (bên phải ngoài cùng)
và những người bạn đồng đội, mùa Thu 1971)

E- Thiếu úy George Philip III của Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ:

Thiếu úy George Philip III, tốt nghiệp Khóa 1967 Học viện Hải quân Hoa Kỳ (i.e. theo hệ thống Mỹ, khóa học được gọi theo năm tốt nghiệp), cảm thấy lo lắng rằng cơ hội hiếm hoi của mình như là nhìn thẳng vào trong mắt con voi có thể bốc hơi trước khi anh ta có thể đến được Việt Nam và giành chiến thắng cá nhân trong chiến tranh. Riêng một mình, anh ta đã cắt ngắn giai đoạn kỳ nghỉ tốt nghiệp và báo cáo vào Căn cứ Quân đoàn TQLC Quantico rằng đã sử dụng ít hơn một nửa thời gian được phiên chế để tham gia vào một lớp học hình thành trước đó của Trường cơ bản. Trước sự ngạc nhiên và niềm vui của anh ta, có tám hoặc chín cựu học viên khác của trường Hải quân vốn là những người có mặt sớm, tựa như nóng lòng để bắt đầu quá trình đào tạo.
Anh George báo cáo vào trong Trường Cơ bản và Đại đội Alpha 1-68 (lớp học đầu tiên được lên lịch trình tốt nghiệp trong quí 12 tháng của năm 1968 –đôi khi vào giữa tháng đến cuối tháng Mười) vào cuối tháng Sáu năm 1967 hoàn toàn có ý định để có được con số ký hiệu 0302 –là Sĩ quan Bộ binh– theo hệ thống Ký hiệu Chuyên ngành của Quân đội (Military Occupationary Specialty Code = MOSC). Quân đoàn tất cả là về bộ binh. Nếu bạn không nằm trong bộ binh như là một người lính TQLC,(pc 06) sau đó bạn làm việc để hỗ trợ những người vốn là binh lính TQLC. Đó là điều đơn giản, ít nhất là từ quan điểm của một vị Thiếu úy mới.
Con đường đến Học viện Hải quân Annapolis, đến Căn cứ Quân đoàn TQLC Quantico, và đến Việt Nam dành cho Thiếu úy Philip đã bắt đầu, chỉ là có một chút khác biệt so với con đường đã khởi đầu cho khối đông bạn học viên của trường Hải quân của anh ta và chẳng bao lâu sẽ là những người bạn cấp úy mới. Đối với hầu hết học viên, sự giáo dục của họ như là những sĩ quan quân sự chuyên nghiệp và sự khắc sâu vào trong văn hóa chiến binh được bắt đầu từ ngày mà họ đã đến Học viện hoặc Trường Thí sinh Sĩ Quan (Officer Candidate School = OCS). Một cách chắc chắn là, tất cả họ đã trực tiếp và gián tiếp chịu ảnh hưởng bởi xã hội và lịch sử Mỹ, bởi những người cha, anh em, chú bác, và những người bạn; những người vốn đã từng phục vụ và có những câu chuyện để kể. Sự độc đáo của phục vụ đó, là niềm tự hào và sự hài lòng hiển hiện được phơi bày bởi những người đàn ông, bởi vì kinh nghiệm quân sự của họ có vẻ khôn ngoan và sâu sắc dị thường, vốn đã thu hút những chàng trai trẻ háo hức để hấp thụ những bài học được chia sẻ. Cường độ của những câu chuyện kêu gọi cảm giác trẻ trung của họ về sự táo bạo và lãng mạn, là một phần của cái gì đó vốn có ý nghĩa sâu xa.

p132

Không có sự kêu gọi nào khác mang tính chất rủi ro, và tiềm năng mà qua đó ban cho chàng thanh niên một cơ hội thách thức đặc biệt, cho sự thỏa lòng riêng mình và một phần thưởng tâm linh.
Con đường đi đến một cuộc sống quân đội dành cho George Philip đã bắt đầu từ lâu trước khi sự nhận thức. Bên phía mẹ của anh ta, gia đình Taussig, kể từ khi cuộc Nội Chiến, đã từng đưa ra một dòng liên tục những người đàn ông vốn đã ra đi xuống biển trong những chiếc tàu và phục vụ với sự xuất sắc tuyệt vời. Ngoài việc mất người chồng đầu tiên của bà ta, người cha của anh George –và là người thừa kế phái nam còn sống duy nhất của người cha anh ta làm anh George là “người con trai độc nhất còn sống sót” hợp pháp– người em trai của mẹ anh ta, Joe Taussig, tốt nghiệp Khóa 1941 Học viện Hải quân Hoa Kỳ, đã đồng thời có được một huân chương Bội tinh Hải quân và mất đi một chân khi còn là một sĩ quan non trẻ mang lon chính thức trên chiến hạm USS Nevada tại Cảng Trân Châu vào ngày 7 tháng Mười Hai năm 1941.

(Một Học viện Hải quân ở Washington, DC)

(Huân chương Anh dũng Bội tinh Hải quân –Chữ thập Hải quân)

(Chiến hạm USS Nevada BB-36 đang bốc cháy
tại Cảng Trân Châu vào năm 1942)

Trong mỗi căn nhà mà họ sẽ di chuyển trong suốt sự nghiệp trong Quân đoàn TQLC của riêng người cha kế của mình, mẹ của anh George luôn luôn chưng bày, trên bức tường hành lang dài nhất, bức chân dung nầy đến hình ảnh khác của những người đàn ông trong dòng họ Taussig: những người thân trông nghiêm khắc, nghiêm nghị, nhiều người mà những cái tên của họ nằm trong những cuốn sách của lịch sử Hải quân, những người đàn ông mà sự dũng cảm và phục vụ trung thành của họ đã giúp biến đổi Hải quân Hoa Kỳ từ một lực lượng ven biển non trẻ trở thành ưu việt tuyệt đối toàn cầu.
Về phía dòng họ Philip, sự phục vụ cho đất nước và sự hy sinh ít ra như đã là đáng kể. Bà nội của anh George, Alice Waldron Philip, là một phần tư gốc Dân da đỏ Sioux. Người em trai của bà ta, John Waldron, tốt nghiệp Khóa 1924 Học viện Hải quân Hoa Kỳ, là người đàn ông đầu tiên từ một nửa gốc của gia đình mình theo đuổi sự nghiệp hải quân. Như là một phi công và là sĩ quan chỉ huy của Phi đội Ngư lôi 8 (Torpedo 8) (có ký hiệu là VT-8) trên hàng không mẫu hạm USS Hornet (CV-8) vào đầu tháng Sáu năm 1942 trong suốt cuộc giao chiến mở đầu cho Trận chiến Midway, vị Trung úy Chỉ huy Waldron dẫn 15 phi cơ Douglas lỗi thời thuộc Phi đội 1 Thả bom Ngư lôi (TBD-1) mang tên “Những kẻ Hủy hoại” (Devastators) vượt trội về kỹ nghệ của mình vào trong những hoàn cảnh may rủi khó thể nào thực hiện khi họ hy sinh tấn công những chiếc hàng không mẫu hạm của Hải quân Đế quốc Nhật. Đơn vị đầu tiên để xác định vị trí và giao chiến với kẻ thù vào ngày 4 tháng Sáu đó, những hành động của họ, qua đó tổn phí cho phi đội tất cả những chiếc máy bay của nó, tất cả những người đàn ông của nó để cứu lấy chàng Ensign George Gay trẻ tuổi, và không gây ra sự thiệt hại nào trên những con tàu của đối phương, phục vụ mục đích của việc thu hút xuống những cao độ thấp hơn hầu hết các chiến đấu cơ của Nhật hiện có trên cao như là sự bảo vệ cho hạm đội.

p133

Những khoảnh khắc sau đó, những lực lượng còn lại của Mỹ có thể lợi dụng đẩy mạnh cuộc tấn công mà phần lớn thiếu đối kháng, bởi vì Phi đội Ngư lôi 8 đã làm gì đó. Một trận chiến này, và các sự kiện vốn xảy ra trong 4 đến 8 phút tiếp theo, vĩnh viễn làm đổi làn sóng chiến tranh ở Thái Bình Dương theo chiều hướng có lợi cho Mỹ. Đối với sự lãnh đạo không vị kỷ và lòng dũng cảm của ông ta ngày đó, John Waldron được truy tặng sau khi mất một huân chương Anh dũng Bội tinh Hải quân.

(Hình ảnh của một phụ nữ Dân da đỏ Sioux)

(Hàng không mẫu hạm USS Hornet –CV-8)

(Phi đội Ngư lôi 8 –VT-8 trong Trận chiến Midway, 1942
của Thế Chiến thứ II trên vùng Thái Bình Dương)

(Những phi công của Phi đội Ngư lôi 1, “Những kẻ Hủy hoại”:
Đang đứng (trái–phải): Owens, Ensign Fayle, John Waldron
(người bác của anh Goerge)
, R.A. Moore, J.M. Moore,
Evans, Teats, Cambell. Đang ngồi (trái–phải): Ellison, Kenyon,
Gray, người sống còn độc nhất là vị Sĩ quan Chính thức
Goerge Herry Gay, Woodson, Creamer, Miles)

(Vị Sĩ quan Chính thức George Henry Gay, Jr. (bên phải),
đứng trước chiếc phi cơ với hậu xạ thủ của mình, George Arthur
Field, vào tháng Năm năm 1942, trước khi Trận chiến Midway)

Ba năm sau đó, trong suốt Trận chiến Okinawa, đứa con trai của bà nội Philip, vị Chỉ huy George Philip, Jr, tốt nghiệp Khóa 1935 Học viện Hải quân Hoa Kỳ, sau khi từng nhìn thấy hoạt động mở rộng của Hải quân ở quần đảo Solomon, Philippines, và tại hải đảo Iwo Jima, Nhật, đang chỉ huy chiến hạm USS Twiggs (DD- 591)(pc 08) khi tàu của ông ta bị tấn công bởi những phi đội cảm tử kamikaze của Nhật trong lúc phục vụ nhiệm vụ trực quân phòng. Trong khi nhiều người của đội thủy thủ được cứu, có sự mất mát sinh mạng to lớn. Vị Chỉ huy Philip là trong số 174 thủy thủ vốn là những người đã phải trả cái giá cuối cùng. Giống như người bác John Waldron của anh ta, vị Chỉ huy Philip cũng được truy tặng sau khi mất một huân chương Anh dũng Bội tinh Hải quân.

(Chiến hạm USS Twiggs (DD-591) vào tháng Hai, 1945)

Thế Chiến thứ II đã tạo ra nhiều góa phụ và những đứa trẻ không cha. Margaret Taussig Philip được 26 tuổi khi người chồng của cô ta bị thiệt mạng. George Philip III, tốt nghiệp Khóa 1967 Học viện Hải quân Hoa Kỳ, thì chín tháng, người chị lớn tên Snow được ba tuổi lúc người cha của họ bị mất tích.
Wilbur Helmer, vị Thiếu tá pháo binh trẻ của Quân đoàn TQLC, đã sống sót sau cuộc giao tranh như địa ngục trên Bougainville, Guam, Iwo Jima, và cập vào bờ biển trên đảo Okinawa chiến đấu với Nhật khi chiến hạm USS Twiggs bị mất. Mẹ của cậu bé George và Thiếu tá Helmer gặp gỡ sau chiến tranh và kết hôn vào năm 1947. Trong những năm theo sau, ba đứa trẻ nữa được thêm vào gia đình.
Ngay cả đối với người mẹ của họ tái hôn với ông Helmer hiện thời là Đại tá, cậu bé George và người chị Snow sẽ trải qua những mùa hè tại nhà bà nội Philip ở miền Nam tiểu bang Dakota vốn là người muốn chắc chắn rằng họ được tràn ngập ảnh hưởng phía đó của lịch sử gia đình. Bà nội Philip giới thiệu lại di sản Sioux của họ. Trước khi không lâu nó trở thành thượng cổ, bà ta dẫn cậu bé George và cô bé Snow đến những nơi giống như vùng “Đầu gối Bị thương”(pc 09) lịch sử (“Wounded Knee”). Họ được tạo nên nhận thức một cách sâu sắc rằng họ đã từng bắt nguồn từ những người Mỹ đầu tiên.

(Những khẩu đại bác Hotchkiss của Pháp được sử dụng trong
cuộc tàn sát tại vùng “Con Lạch Đầu gối Bị thương”
(Wounded Knee Creek) bởi quân đội Hiệp chủng Mỹ)

(Khẩu đại bác Hotchkiss 1.65 ly với tầm xa hơn 3 km
và tạo ra những mảnh vụn của 30 viên đạn chì)

(Mồ chôn tập thể do thường dân gơm lại những xác chết
dân da đỏ Lakota Sioux sau cuộc tàn sát
vào gần cuối tháng 12/1890)

(Từ trái qua phải: Buffalo Bill, Đại úy Baldwin,
Tướng Nelson A. Miles, Đại úy Moss, và những người khác,
trên lưng ngựa, đến giám sát biến cố cuộc thảm sát
trên chiến trường Wounded Knee, vào đầu năm 1891)

(Vị Tướng chỉ huy Nelson Appleton Miles, chính là
người phải chịu trách nhiệm hoàn toàn cuộc tàn sát đó)

Cuộc hợp mặt của hai dòng họ Philip–Taussig cho cậu bé George một lối vào trong một sự pha trộn về gia đình quân sự–quí tộc thật là khác thường nhưng không phải là độc nhất.

p134

Họ quí tộc không phải trong ý nghĩa giàu có kinh khủng về vật chất nhưng quí tộc trong ý nghĩa mà trong những thế hệ, những người đàn ông của gia đình dường như nuôi dưỡng để phục vụ và có khuynh hướng khác thường để vươn lên đến đỉnh trong nghề nghiệp võ bị. Họ đã không nhất thiết phải là những người trưởng nhóm của hảng xưởng kỹ nghệ nhưng họ đã chắc chắn là những vị thuyền trưởng của những con tàu và là những vị chỉ huy của những người đàn ông đang đi vào con đường nguy hiểm. Đó là nền văn hóa gia đình mà George Philip được sinh vào.
Sự quyết định của anh George để trở thành một quân nhân TQLC và không là một thủy thủ đã phải không là một chuyện khó khăn. Với di sản gần đây nhất của cha mình như là một vị Thuyền trưởng khu trục hạm, không bao giờ có áp lực để gia nhập Hải quân. Hoặc cũng không phải là người cha kế TQLC của anh ta đã thúc đẩy anh ta. George Philip, khá đơn giản, chỉ có ý muốn phải là một quân nhân TQLC.

F- Từ Trường Cơ bản đến Quân đồn Sill:

Không bao giờ được biết đến cho việc tầm phào hoặc dư thừa, đến giữa năm 1967, giáo trình giảng dạy tại Trường Cơ bản đã được cô động xa hơn xuống đến những điều cần thiết vừa đủ tối thiểu nhất. Nhu cầu ngày càng tăng cho những vị chỉ huy trung đội bộ binh ở Việt Nam đã buộc các nhà hoạch định ở Căn cứ Quân đoàn TQLC Quantico cắt giảm cái gì mà họ có thể từ chương trình vốn không trực tiếp mang lại lợi ích cho những kỹ năng lãnh đạo cuộc chiến của một vị sĩ quan. Thời gian ở Trường Cơ bản bây giờ ít hơn năm tháng. Hai lớp học cuối cùng của quí 12 tháng của năm 1967, Những Đại đội N và O, đã được kết hợp trở thành một đại đội và gần như 80% những vị cấp úy đó được phân công đến Việt Nam như là những sĩ quan bộ binh. Sự quân bình được sử dụng để lấp đầy tất cả những chuyên ngành còn lại như pháo binh, thiết giáp, cung cấp, truyền thông, v.v.
Nền giáo dục của một vị Thiếu úy tại Trường Cơ bản là một cái gì đó mà Quân đoàn TQLC(pc 06) đầu tư vào và nhấn mạnh. Các nguồn tài liệu được dùng để tạo ra những sĩ quan non trẻ vốn là những người sẽ rời khỏi Căn cứ Quân đoàn TQLC Quantico và đi ngay vào chiến trường, thực sự là đầy ấn tượng. Những giảng viên tại Trường Cơ bản gần như tất cả là những vị Đại úy, những người đàn ông vừa mới trở về từ Việt Nam với kinh nghiệm trực tiếp làm tất cả các thứ mà những vị cấp úy nầy sẽ sớm được giao nhiệm vụ tự mình làm. Quân đoàn đặc biệt quan tâm đến chất lượng của những sĩ quan mà nó được gởi đến để hướng dẫn tại Trường Cơ bản mà qua đó thể hiện trong phẩm lượng của những cấp úy tốt nghiệp.
Cuộc huấn luyện năm ngày rưỡi một tuần, những vị trung úy học viên không cần sự nhắc nhở về sự nghiêm túc của công việc hướng dẫn và nơi mà họ sẽ chẳng bao lâu đi về hướng đó.

p135

Những bài giảng trong lớp học được theo sau bởi cuộc huấn luyện trên chiến trường mở rộng và sự ứng dụng thực tế trên các chủ đề bắt đầu với chiến thuật của toán hỏa lực bộ binh và tiểu đội tiến triển đến những cấp trung đội và đại đội. Trong khuôn khổ đó, những vị Trung úy sẽ trải qua vô số giờ qua việc định hướng trên đất, tuần tra, chiến thuật tấn công, chiến thuật phòng thủ, phục kích, việc sử dụng thích đáng tất cả phương thức sức mạnh hỏa lực hiện có, và trên và còn nhiều nữa. Không có gì là không đáng kể. Nếu một cái gì đó dường như không cần thiết hoặc vô lý, có một giảng viên cấp Đại úy đội với một câu chuyện chiến đấu trong thế giới thực tế như để đặt lý do tại sao là quan trọng cho bất cứ chủ đề gì. Những câu giới thiệu giống như “Các vị trung úy, đây có thể là lớp học quan trọng nhất mà bạn sẽ từng có,” hoặc lời cảnh cáo để kêu gọi “Hãy chú ý, quí vị, điều này có thể cứu lấy mạng sống của bạn hoặc mạng sống của những người lính của bạn,” được nghe suốt ngày, mỗi ngày.
Thiếu úy George Philip đã đến với Trường Cơ bản hoàn toàn có ý định đi đến Việt Nam như là một sĩ quan bộ binh. Mà qua đó người cha kế của anh ta là một pháo thủ nghiệp dư có thể có một tác động tiềm thức mà anh George đã không suy ngẫm rất nhiều. Mặc dù phần nhiều Quân đoàn TQLC là một tổ chức bộ binh, những tài sản to lớn được đòi hỏi để hỗ trợ cho sự nỗ lực của binh chủng bộ binh đó. Quân đoàn có nhu cầu cho các sĩ quan khác trong một số đông Những Chuyên ngành của Quân đội để tạo nên sự thực tế hỗ trợ đó. Từ pháo binh đến thiết giáp, đến không quân, đến thông tin và cung cấp cùng với những vô số nhu cầu ở giữa, những sĩ quan sinh viên tại Căn cứ Quân đoàn TQLC Quantico, đang khoảng giữa đường qua hết trường lớp của họ, cũng được ghi tên vào –khi họ đang trong các lớp học lúc mà nhu cầu cho những sĩ quan bộ binh thật lớn mà qua đó đã xảy ra với hai khóa học trước khi có Đại đội Alpha 1-68– hoặc được cho phép tranh đua và áp dụng cho những khoảng thời gian xen kẻ trong các chuyên ngành khác nhau.
Không ai sẽ tranh luận trong các quán bar, hợp đêm, hoặc các lớp học, cho dù trong lời nói giỡn hoặc hoàn toàn tỉnh táo, rằng Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ trước tiên và quan trọng nhất là một tổ chức được tập trung vào những gốc rễ bộ binh của nó. Trong số các quý ông ở đó được cho phép thảo luận một cách thân thiện như những chuyện ai có ảnh hưởng lớn nhất, ai thông minh nhất, đẹp trai nhất, v.v. Những phi công sẽ chế nhạo những người bạn dặm đất (i.e. ám chỉ lính bộ binh) của họ và nhắc nhở họ rằng lý do cho những bộ áo bay của họ có rất nhiều túi là để cất giữ tất cả tiền được thêm mà họ kiếm được trong tiền lương chuyến bay. Những sĩ quan bộ binh sẽ quật ngược với những câu hỏi về thân phận của họ như là những chiến binh thực sự vì những phi công hiếm khi ngủ trong các bụi cây hoặc ăn những phần ăn C giống như “những binh lính TQLC thực sự.”

p136

Giữa bộ binh và pháo binh là sự hao mòn sức lực nhưng vẫn được đánh giá cao bởi mọi thế hệ mới của những vị trung úy trong cuộc thảo luận về binh chủng nào trong số hai binh chủng đó có tác động lớn hơn trên bất kỳ kết quả của trận chiến nào. Những sĩ quan pháo binh sẽ mạnh dạn và lớn tiếng tuyên bố rằng tính chất chuyên biệt quân sự của họ là “Vua của Trận chiến.” Sự phản ứng được huấn luyện của mỗi sĩ quan bộ binh đối với sự nhận xét đó là một cái gì đó giống như “Bạn có thể là Vua của Trận chiến nhưng vị Nữ hoàng (bộ binh) luôn luôn bảo bạn nơi nào để đặt những Trái đạn.” Và như thế đó, cuộc thảo luận tiếp tục.
Thiếu úy George Philip có thể làm quyết định cuối cùng của mình trên sự chọn lựa về Chuyên ngành Quân đội theo cách ít hoàn toàn thuộc về tri thức hơn. Luôn luôn chắc chắn rằng anh ta sẽ phục vụ, ở mức tối thiểu, trong vũ lực chiến đấu trên bộ –bộ binh, pháo binh, hoặc thiết giáp– chính là ngày trên một trong rất nhiều phạm vi của Căn cứ Quân đoàn TQLC Quantico mà qua đó số phận của anh ta được niêm phong. Với toàn bộ Đại đội Alpha 1-68 được tập hợp trong sự khiêm tốn nhất của những hàng chỗ ngồi trên khán đài lộ thiên để chứng kiến một cuộc diễn hành của sức mạnh hỏa lực, vị Đại úy phụ trách giai đoạn hướng dẫn cụ thể này, là một sĩ quan pháo binh trở lại từ Việt Nam, hô to sự chú ý của những vị trung úy đến một mảnh đất nhiều trăm mét phía ở phía trước họ. Với một cái máy phát âm nhỏ mở lên và trên làn sóng phát thanh, ông ta rất chính xác và chuyên nghiệp gọi đến sứ mệnh hỏa lực của pháo binh, một cách chính xác như họ đã được dạy làm ở trên lớp. Hướng sự chú ý của họ đến một khu vực mục tiêu, các học viên lắng nghe và theo dõi. Với sứ mệnh hỏa lực được yêu cầu, sự trao đổi qua làn sóng về “Hãy bắn, chấm hết” được theo sau bởi “Hãy bắn, ngưng” có nghĩa là sự phá hủy ngay lập tức sẽ theo sau.
Đối với hầu hết mọi người, đây là lần đầu tiên mà họ đã chứng kiến cận cảnh việc phát pháo thực sự, sống động. Tác động của những viên đạn của khẩu pháo bắn ra xé nát mặt đất. Đủ xa khỏi những sức nổ để được an toàn, họ đủ gần đến nổi mỗi cảm giác vẫn hoàn toàn dự cảm. Sự phơi bày thực sự với đất cát bị khuấy lên, việc phóng vọt lên trên và ra ngoài gần như là trong sự chuyển động chậm chạp, không lâu được theo sau bởi tiếng gầm như sấm sét mà qua đó thực sự là tiếng súng mau lẹ, ầm, ầm, ầm, khi những đợt pháo trúng đích cách nhau phần ngàn giây nhau trong khi mặt đất để lộ ra sự rung rinh nhẹ. Lực áp suất quá mức từ bầu khí quyển bị dời chỗ là một cảm nhận cuối cùng chạm vào những vị trung úy. Đó là điều hiển nhiên đối với tất cả mọi người, trong trường hợp của pháo binh, rằng chính là luôn luôn thêm phúc để cho hơn là nhận được. Anh George bật ra tiếng và dứt khoát, nhưng chỉ với chính mình, “Điều đó dành cho tôi.”

p137

Quân đoàn TQLC dựa rất nhiều vào các phục vụ của ngành chị em của nó để trợ giúp với cuộc huấn luyện vững vàng ban đầu về Chuyên ngành của Quân đội cho những sĩ quan non trẻ của nó. Bên cạnh việc nhận lấy sự hỗ trợ về y tế, nha khoa, và tuyên úy, hoàn toàn từ Hải quân, tất cả các phi công của Quân đoàn TQLC được huấn luyện trở thành những phi công cho Hải quân và kiếm được huy hiệu đôi cánh của họ cùng với những quân hàm mới mẻ chính thức tại Trạm Không lực Hải quân Pensacola, thuộc tiểu bang Florida.

(Huy hiệu của Trạm Không lực Hải quân Pensacola)

(Một trong những nơi cư ngụ cho những học viên
của Trạm Không lực Hải quân, trông giống như
những khách sạn hạng sang trung cấp)

Trong khi Quân Đoàn quyết định một cách đúng đắn để giải quyết mọi khía cạnh của việc huấn luyện bộ binh nhằm bảo đảm một nền văn hóa thích đáng và dấu hiệu chiến đấu cuộc chiến của TQLC được truyền dẫn vào trong lòng những vị trung úy của nó, Quân đoàn không có các nguồn tài lực, cơ sở hạ tầng để hoàn toàn phát triển những sĩ quan thiết giáp hoặc pháo binh mới của nó. Những người sẽ-là những tay lái xe tăng được gởi đến Quân đồn Knox ở tiểu bang Kentucky và những người sẽ-là những pháo thủ được giao cho trường học tại Quân đồn Sill ở tiểu bang Oklahoma.
Như là “những khách viếng,” đặc biệt là tại một trường quân đội, điều đó được tạo nên rất rõ ràng đối với những vị trung úy học viên của TQLC rằng họ được kỳ vọng, bất cứ lúc nào, chứng tỏ cách ứng xử thích hợp, luôn luôn nhớ họ là ai, tuyệt đối không làm gì hạ thấp thanh danh và tiếng tăm khó có được của Quân đoàn của họ.

G- Trong khi đó … Trở lại cuộc Chiến… :

Từ những thời gian tạm ngừng của ngày nghỉ giả vờ và việc trở lại những hoạt động chiến đấu “bình thường” sớm vào tháng Giêng năm 1968, đặc biệt là đối với các binh sĩ và binh lính TQLC(pc 06) trên bộ và những toán phi công đang bay những phi vụ hỗ trợ, điều đó chỉ đơn giản là “cùng một cuộc chiến tranh, khác ngày.” Đối với những người ở quê nhà có thể tập trung vào những chuyện khác hơn là chiến tranh, đội bóng bầu dục Green Bay Packers, dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Vince Lombardi, đã giành được chức vô địch Liên đoàn Bóng cầu dục Quốc gia lần thứ ba của họ và chiến thắng giải vô địch Super Bowl hàng năm lần thứ hai. Trong khi đó, những người Cộng sản đã bí mật sắp đặt các lực lượng vào những địa điểm và sự hỗ trợ hậu cần cho mùa xuân cả nỗ lực to lớn tại Khe Sanh và cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân khắp cả nước cấp đang treo lơ lửng thậm chí còn phức tạp hơn nhiều. Các nhà phân tích tình báo của đồng minh chắc chắn là có một cái gì đó đang tiến hành. Bất cứ sự giải thích là gì của họ, sự đáp ứng hiệu quả nhằm ngăn chận dữ liệu truyền thông liên lạc của đối phương thì không đủ thích hợp để chống lại mức độ to lớn của những nỗ lực bí mật của Hà Nội.

(Biểu tượng chung của giải vô địch bóng cầu dục
Super Bowl được sử dụng kể từ cuộc tranh tài Super
Bowl XLV (45), trưng bày Cúp Vince Lombardi,
lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1967)

p138

Sự minh chứng của những mong đợi theo tình báo về cuộc giao chiến được dự đoán tại Khe Sanh thì nhanh chóng hiện ra. Vào ngày 20 tháng Giêng, các trận đánh ác liệt giữa những binh lính TQLC Mỹ và những đơn vị thuộc lực lượng chính của Quân Bắc Việt báo hiệu rằng cuộc chiến đấu đang được chờ đợi từ lâu đã được tham dự. Cuộc leo thang gần như tức thời với cả hai bên đổ vào các nguồn tài lực khổng lồ để tiến hành cuộc giao tranh bây giờ là chính yếu mà qua đó có rất nhiều thu hút về chính trị. Trong những ngày sắp tới, Khe Sanh duy trì sự chú ý toàn bộ của giới truyền thông Mỹ.
Cuộc đấu tranh đang diễn ra để giành được tâm và trí của người dân Mỹ qua cái truyền hình trong những phòng khách trên đất nước đã không diễn ra tốt đẹp. Việc thông cáo về các trận chiến ở Khe Sanh, một số nhiều phóng viên sẽ bay vào trong căn cứ chiến đấu chỉ đủ lâu để quay phim những binh lính TQLC đang bị dập pháo và đang núp xuống ẩn che trước khi bay ra ngoài một lần nữa để gởi qua đêm những câu chuyện của họ và nhâm nhi bia trong những khu vực an toàn ở hậu phương.
Việc liên tục phát lại đoạn phim khá xúc động về cuộc tấn công bằng pháo binh của Quân Bắc Việt mà qua đó phá hủy bãi chứa đạn dược đáng kể của Khe Sanh đã cho những người dân ở quê nhà một cái nhìn trái ngược về TQLC đối với cái gì mà họ quen thuộc. Việc nhìn thấy những chiến binh vinh dự nhất của quốc gia trong hoàn cảnh đang nhận lấy đến phút cuối cùng của sự trừng phạt, đêm này qua đêm khác, để lại một cảm tưởng bị bóp méo ở quê nhà như là về việc cuộc chiến tranh đang được tiến hành như thế nào. Những cảm tưởng đó, tuy nhiên không chính xác, sẽ chỉ khiến bực tức hơn với các cuộc tấn công lúc đầu và được tường thuật về những thành công kẻ thù qua cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân.8
Vào ngày 23 tháng Giêng, Mỹ được nhắc nhở một cách thô bạo rằng những lợi ích về chiến lược của nó được kéo dài vượt ra ngoài phạm vi hạn hẹp của khu vực Đông Nam Á. Việc bắt giữ vô cớ con tàu tình báo USS Pueblo bởi những lực lượng Bắc Triều Tiên, ở mức tối thiểu, là một hành động nghiêm trọng gây chiến tranh. Thế giới chuẩn bị tinh thần cho phản ứng được dự đoán của Mỹ –những cuộc không kích áo ạt, cuộc xâm lược, bất cứ là điều gì.*

(Con tàu USS Pueblo vào năm 1967)

(Vị trí hai dấu xx vào ngày 23/01/1968 là điểm
mà con tàu USS Pueblo bị bắt giữ bởi Bắc Triều Tiên)

=============
* Việc bắt giữ con tàu Pueblo kiếm được cho Liên Xô một phần thưởng tình báo khổng lồ. Kẻ phản quốc John Walker trước đó đã đưa cho họ những mật mã của Hải quân Mỹ, bấy giờ họ có dụng cụ để đọc những tin tức liên lạc đó. Điều này không được biết đến đối với những người Mỹ vào lúc đó.
=============

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ “Boogie Woogie Bugle Boy” : được viết bởi Bette Midler vốn là tay thổi kèn đồng (trumpet) nổi tiếng ở thành phố Chicago, được trình bày bởi ban tam ca Andrew Sisters.


He was a famous trumpet man from out Chicago way.
He had a boogie style that no one else could play.
He was the top man at his craft.
But then his number came up and he was gone with the draft.
He’s in the army now, a-blowin’ reveille.
He’s the boogie woogie bugle boy of Company B.


They made him blow a bugle for his Uncle Sam.
It really brought him down because he couldn’t jam.
The captain seemed to understand.
Because the next day the cap’ went out and drafted a band.
And now the company jumps when he plays reveille.
He’s the boogie woogie bugle boy of Company B.


A-toot, a-toot, a-toot-diddelyada-toot.
He blows it eight-to-the-bar, in boogie rhythm.
He can’t blow a note unless the bass and guitar is playin’ with ‘I’m.
He makes the company jump when he plays reveille.
He’s the boogie woogie bugle boy of Company B.


He was some boogie woogie bugle boy of Company B.
And when he plays the boogie woogie bugle he was busy as a “bzzz” bee.
And when he plays he makes the company jump eight-to-the-bar.
He’s the boogie woogie bugle boy of Company B.


Toot toot toot-diddelyada, Toot-diddelyada, toot-toot.
He blows it eight-to-the-bar.
He can’t blow a note if the bass and guitar isn’t with ‘I’m.
Ha-ha-hand the company jumps when he plays reveille.
He’s the boogie woogie bugle boy of Company B.


(Instrumental)
He puts the boys to sleep with boogie every night.
And wakes ’em up the same way in the early bright.
They clap their hands and stamp their feet.
Because they know how he plays when someone gives him a beat.
He really breaks it up when he plays reveille.
He’s boogie woogie bugle boy of Company B.


Dat-da da-do-do da-dup.
Dat-da da-do-do da-dup.
Dat-da da-do-do da-dup.
Dat-da da-do-do da-dup.
Ha-ha-hand the company jumps when he plays reveille.
He’s the boogie woogie bugle boy of Company B.

pc 02_ “Maybe” : được viết bởi Leroy Moore, P. Barrett, và Ventrice Morgan, và được trình bày bởi nữ ca sĩ hippy Janis Joplin.


Alright, alright! this is an old rock & roll tune,
it was done by the chantells in the 50s, a song called maybe.

Maybe.
Oh if i could pray and i try, dear,
You might come back home, home to me.


Honey, maybe.
Whoa, if i could ever hold your hand.
Ooh you just might understand.
Honey maybe, maybe, maybe, maybe, yeah.


Maybe, maybe, maybe, maybe, maybe dear.
I guess i might have done something wrong,
Honey i’d be glad to admit it.
Oh, come back home to me!
Honey maybe, maybe, maybe, maybe yeah.


Well i know that it just doesn’t ever seem to matter, babe,
Oh honey, when i go out or what i’m trying to do,
’cause i’m still left here.
Holding on in needing you.


Please, please, please, please,
Oh won’t you reconsider babe.
Come on, i said come back.
Won’t you come back to me!


Maybe dear, oh maybe, maybe, maybe dear,
Let me help you show me how.
Honey, maybe, maybe, maybe, maybe,
Maybe, maybe, maybe.
Maybe, maybe, maybe, yeah.
Ooh!

pc 03_ “White Rabbit” : được viết và trình bày bởi nữ ca sĩ hippy Grace Slick và ban nhạc Jefferson Airplane.


One pill makes you larger.
And one pill makes you small.
And the ones that mother gives you.
Don’t do anything at all.
Go ask Alice.
When she’s ten feet tall.


And if you go chasing rabbits.
And you know you’re going to fall.
Tell ’em a hookah-smoking caterpillar.
Has given you the call.
Call Alice.
When she was just small.


When the men on the chessboard.
Get up and tell you where to go.
And you’ve just had some kind of mushroom.
And your mind is moving slow.
Go ask Alice.
I think she’ll know.


When logic and proportion.
Have fallen sloppy dead.
And the White Knight is talking backwards.
And the Red Queen’s off with her head.
Remember what the dormouse said.
Feed your head.
Feed your head.

pc 04_ “Somebody to Love” : được viết bởi Darby Slick và được trình bày bởi nữ ca sĩ hippy Grace Slick và ban nhạc Jefferson Airplane.


When the truth is found to be lies.
And all the joy within you dies.
Don’t you want somebody to love, don’t you.
Need somebody to love, wouldn’t you.
Love somebody to love, you better.
Find somebody to love.


When the garden flowers baby are dead, yes and,
Your mind, your mind is so full of red.
Don’t you want somebody to love, don’t you.
Need somebody to love, wouldn’t you.
Love somebody to love, you better.
Find somebody to love.


Your eyes, I say your eyes may look like his.
Yeah, but in your head, baby, I’m afraid you don’t know where it is.
Don’t you want somebody to love, don’t you.
Need somebody to love, wouldn’t you.
Love somebody to love, you better.
Find somebody to love.


Tears are running down and down and down your breast.
And your friends, baby they treat you like a guest.
Don’t you want somebody to love, don’t you.
Need somebody to love, wouldn’t you.
Love somebody to love, you better.
Find somebody to love.

pc 05_ “The Fish Cheer” : được viết và trình bày bởi nam ca sĩ hippy phản chiến Country Joe McDonald và ban nhạc The Fish.


Gimme an F…
Gimme a I…
Gimme a S…
Gimme a H…


What’s that spell?
What’s that spell?
What’s that spell?
What’s that spell?
What’s that spell?


Yeah, c’mon on all you big strong men.
Uncle Sam needs your help again.
He’s got himself in a terrible jam,
way down yonder in Vietnam;
so put down your books and pick up a gun,
we’re gonna have a whole lot of fun.


And it’s 1, 2, 3, what’re we fighting for?
Don’t ask me, I don’t give a damn.
Next stop is vietnam.
And it’s 5, 6, 7, open up the pearly gates.
Well there ain’t no time to wonder why.
Whoopee! we’re all gonna die.


Well c’mon generals, let’s move fast.
Your big chance has come at last.
Gotta go out and get those Reds.
The only good Commie is one who’s dead,
and you know that peace can only be won
when we’ve blown ‘em all to kingdom come.


(chorus)


Well c’mon on Wall Street.
Don’t be slow.
Why this is war a-go-go.
There’s plenty good money to be made
by supplin’ the Army with the tools of the trade.
Just hope and pray that if we drop the bomb,
they drop it on-the Vietcong.


(chorus)


Well c’mon mothers throughout this land.
Pack your boys off to Vietnam.
C’mon pops, don’t hesitate.
Send ‘em off before it’s too late.
Be the first one on your block to have your boy come home in a box.


And it’s 1, 2, 3, what’re we fighting for?
Don’t ask me, I don’t give a damn.

pc 06_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 07_ Dye Marker : Tuyến phòng McNamara (bao gồm Đồ án Thực hành điểm thứ Chín (Project Practice Nine), Đồ án Điểm đánh Dấu bằng Màu (Project Dye Marker), và Đồ án những Bãi cạn Xâm nhập (Muscle Shoals)) là một cái tên không chính thức cho một loạt các đồ án hàng rào phòng thủ được khởi xướng bởi Hoa Kỳ giữa thời gian năm 1966 và 1968 trong suốt Chiến tranh Việt Nam nhằm ngăn chận sự xâm nhập vào miền Nam Việt Nam bởi các lực lượng Bắc Việt nằm ở miền Bắc Việt Nam và Lào.
Hàng rào cản sẽ bao gồm 20.000 dụng cụ lắng nghe được thả xuống bằng máy bay kết hợp với 240.000.000 mìn Sỏi (Gravel mine) 300.000.000 mìn Nút áo, và 19.200 quả bom cụm Sadeye (tất cả những loại mìn, bom đặc biệt nầy đều được rải xuống bằng máy bay), với chi phí vào khoảng 1 $ tỷ đô-la một năm, không bao gồm 1,6 $ tỷ cho việc nghiên cứu và phát triển và việc xây dựng một trung tâm chỉ huy 600 $ triệu ở Thái Lan.

pc 08_ Chiến hạm USS Twiggs (DD-521) : có lẽ tác giả viết lầm là (DD-521) mà đúng ra là (DD-591) là chiến hạm tiêu diệt tàu ngầm thuộc lớp Fletcher. Sau nhiều lần bị hư hại trong những trận chiến khác nhau, lần cuối cùng là vào tháng 6, 1945 trong Trận chiến Okinawa bị trúng thủy lôi của máy bay Nhật với 152 người bị thiệt mạng và mất tích mà trong số đó có vị Sĩ quan Chỉ huy Goerge Philip. Số còn lại được cứu sống khỏi những vùng nước đầy dầu là 188 người.

pc 09_ vùng “Đầu gối Bị thương” lịch sử (“Wounded Knee”) : đây là vùng xảy ra cuộc thảm sát người dân da đỏ vào ngày 29 tháng Mười Hai năm 1890, gần vùng “Con lạch Đầu gối Bị thương” (Wounded Knee Creek) (tiếng Lakota là: Čhaŋkpé OPI Wakpála) ở vùng Đồi Thông Dành riêng cho Dân da đỏ Lakota (Lakota Pine Ridge Indian Reservation) –cả tên là Dân da đỏ Lakota Sioux– ở miền Nam tiểu bang Dakota, Hoa Kỳ. Chính là trận chiến cuối cùng của các cuộc Chiến tranh giữa người Mỹ và Dân da đỏ.
Vào ngày 28 tháng Mười Hai năm 1980, một phân đội của Trung Đoàn 7 Kỵ binh Hoa Kỳ được chỉ huy bởi Thiếu tá Samuel M. Whitside ngăn chận một đoàn 350 Dân da đỏ Lakota thuộc phân nhóm Miniconjou của Tù trưởng Nai-Lộc-Đốm (Spotted Elk) –trong đó có khoảng 120 phụ nữ và trẻ em– và 38 người Dân đa đỏ Lakota thuộc phân nhóm Hunkpapa gần vùng “Đồi phẳng Con Nhím” (Porcupine Butte) và hộ tống họ 8 km về phía tây đến vùng “Con Lạch Đầu gối Bị thương” (Wounded Knee Creek), nơi mà họ dựng trại. Phần còn lại của Trung Đoàn 7 Kỵ binh mới đến được dẫn dắt bởi Đại tá James Forsyth –mang con số binh lính lên 500 người– và bao quanh nơi đặt doanh trại được hỗ trợ bởi bốn khẩu súng đại bác Hotchkiss.
Vào buổi sáng của ngày 29, những binh lính đã đi vào trong trại để giải giới Dân da đỏ Lakota. Một phiên bản của các sự kiện tuyên bố rằng trong quá trình giải giới Dân da đỏ Lakota, một người bộ tộc bị điếc tên là Sói-Đen-đồng-cỏ (Black Coyote) đã miễn cưỡng giao cây súng trường của mình, qua việc tuyên bố rằng anh ta đã trả rất nhiều cho nó. Một cuộc ấu đả trên cây súng trường của Sói-Đen-đồng-cỏ đã leo thang và một phát súng được bắn ra mà qua đó gây ra kết quả trong việc khai hỏa của Kỵ binh 7 một cách bừa bãi từ khắp mọi phía, giết chết những người đàn ông, phụ nữ, và trẻ em, cũng như một số những người lính đồng ngũ của riêng họ. Một số ít chiến binh Lakota đó vốn là những người vẫn còn có vũ khí, bắt đầu bắn lại những quân lính đang tấn công, vốn là những người nhanh chóng dập tắt ngọn lửa của Dân da đỏ Lakota. Những Dân da đỏ Lakota còn sống sót bỏ chạy, nhưng những kỵ quân Mỹ theo đuổi và giết chết nhiều người vốn là những người không có vũ khí.
Đến lúc chấm dứt, ít nhất là 150 người đàn ông, phụ nữ, và trẻ em của Dân da đỏ Lakota Sioux đã bị giết chết và 51 người bị thương (4 nam, 47 phụ nữ và trẻ em, một số người trong họ đã chết sau đó); một số ước tính đặt số lượng người chết lên 300. 25 binh lính cũng bị thiệt mạng, và 39 người bị thương (6 người trong số những người bị thương sau đó đã chết). Người ta tin rằng nhiều người là nạn nhân của hỏa lực phe bạn, khi cuộc bắn giết xảy ra ở tầm gần trong những hoàn cảnh hỗn loạn. Ít nhất là 20 người lính được tặng thưởng Huân chương Danh dự rất được ham muốn.
Theo vị Tướng chỉ huy Nelson A. Miles, cuộc ấu đả “đã xảy ra giữa một chiến binh Dân da đỏ vốn là người có một cây súng trường trong tay và hai binh lính. Cây súng trường bị phát nỗ và một trận chiến xảy ra, không chỉ là các chiến binh Dân da đỏ mà còn Tù Trưởng Nai-Lộc- Đốm đang bị bệnh,và một số lượng lớn những phụ nữ và trẻ em vốn là những người cố gắng vượt thoát bằng cách chạy bộ và tuôn rải ra trên cánh đồng, bị săn lùng và giết chết.”
Địa điểm đã được quy định là một Quang cảnh Lịch sử Quốc gia.

One thought on “Phần 09: Năm 1968: sự Bắt đầu của một Kết thúc

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s