Phần 06: Những Đột kích Quân của ông Ripley

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

(trang bỏ trống)
p87

Phần 06: Những Đột kích Quân của ông Ripley

Cuộc chiến đấu tiếp tục diễn ra ác liệt ra từ giữa chiều đến xế chiều; vẫn cá biệt, vẫn tàn bạo, thường ở giữa trong khoảng mức độ của lưỡi lê và lựu đạn cầm tay. Không quân và Pháo binh của Thủy quân Lục chiến (TQLC) là điều đáng biết ơn, qua việc giữ được lực lượng kẻ địch lớn hơn nhiều tại vịnh, việc làm mờ đi, tuy vẫn không loại bỏ hoàn toàn lòng nhiệt tình của họ muốn lấy lại tất cả các trang bị mà họ đã bỏ lại phía sau.
Những binh lính TQLC thay thế được hòa nhập vào trong các tiểu đội đa dạng của Trung đội 1 và 2 cùng với tất cả đạn dược mà họ có thể bắn. Những cuộc tải thương bằng trực thăng chỉ mang ra được những người bị thương trầm trọng nhất. Phần còn lại của những người bị thương –gần như mọi người khác– ở lại trong cuộc chiến đấu.
Trong khi đó, Đại đội India, sự cứu trợ của Đại đội Lima, tiếp tục theo hướng đi đến trong suốt cả ngày. Vào khoảng 1730 giờ(pc 01) hoặc muộn hơn một chút, một trung đội từ Đại đội India thực hiện sự liên lạc với những người trong vòng đai của Đại đội Lima. Thật là một niềm vui cho tất cả những người lính của Đại đội Lima để biết rằng “đoàn kỵ binh,” tuy đến trễ, đã tạo nên một quang cảnh. Một câu nói chân thành, tập thể “Chúc lành cho Đại đội India” trên môi của tất cả các binh lính TQLC của Đại đội Lima.

(Huy hiệu của Đại đội India)

Tràn đầy mong đợi để có vị trí của mình được cũng cố và vững chắc nhằm mục đích giữ lấy tất cả trang bị của Quân Bắc Việt khỏi rơi trở lại vào trong quyền kiểm soát của họ, sau khi trả một giá cao như thế để chinh phục một mảnh rừng địa ngục mà hiện tại phải hiến dâng quá nhiều máu của Đại đội Lima, điều đó xảy ra như là một sự cực kỳ sỉ nhục và việc hoàn toàn gây sửng sốt đối với Đại úy Ripley khi Trung sĩ nhất Mack, vị chỉ huy trung đội từ Đại đội India vốn là người đã thực hiện sự liên kết, đưa ra những mệnh lệnh từ bỏ vùng địa phương này và lui về nghĩ qua đêm ở ngã ba nơi mà Trung đội 3 của Đại đội Lima đã buộc phải tạm thời ngưng trận chiến.
Đại úy Ripley giận tái người. Ngay cả nếu họ đã không phải trả một cái giá to lớn để chiếm giữ tất cả trang bị của Quân Bắc Việt mà hiện tại họ kiểm soát, Lima Sáu Thật không định bỏ lại nó cho họ trở lại và tái chiếm hữu.

p88

Ngay cả khi tất cả những người bị thương còn đi được của Đại đội Lima trong tình trạng đầy đủ sức mạnh và sức khỏe tối đa, ngay cả khi điều nầy không phải là một tình huống chiến thuật và thậm chí nếu anh ta đã có thể kiểm tra cuốn Điện thoại Niên giám cho một công ty dọn hàng để đóng thùng đồ vật này ra khỏi nơi đó, Đại úy Ripley đã sẽ cần đến một đội xe tải, tất cả các con voi ở đoàn xe lửa cung cấp của gánh xiếc lưu động Hannibal.

(Súng đạn của Quân Bắc Việt phải bỏ lại)

Không có phương pháp nào từ sách giáo khoa hay phương cách điển hình nào mà qua đó để phá vỡ cuộc giao chiến. Cuộc chiến đấu trên vị trí này chỉ kiểu như là mất dần trên trận chiến của riêng nó khi đêm đến gần, cả hai bên trải nghiệm qua sự kiệt sức gần như hoàn toàn về thể chất, tinh thần, và vật chất.
Trước khi rời khỏi vùng đất nầy mà hiện thời ướt đẫm trong máu của Đại đội Lima và rải rác với những xác chết của Quân Bắc Việt và dụng bị của họ, Đại úy Ripley và “Hoàng tử Henry người Định hướng,” vốn là người giống như vị “thuyền trưởng” TQLC(pc 02) của mình đã bị va mạnh nhưng vẫn tương đối còn sống, chuẩn bị kỹ lưỡng một khối lượng thậm chí còn lớn hơn của những yêu cầu về cuộc không kích và dập pháo nhằm liên tục che chăn vị trí mà họ sắp sửa di tản. Giống như một đứa trẻ bướng bỉnh, ích kỷ, thái độ của quân nhân TQLC là nếu họ không ở quanh đó thì Quân Bắc Việt cũng không thể. Từ các cuộc không kích, chính là những quả bom có biệt danh là “con rắn và gáy cổ” (“snake and nape”)(pc 03) (quả bom “Mắt Rắn” (Snake-Eye) là một trọng lượng 228 kg (500 pounds) trở lên của chất liệu nổ mạnh, là loại hóa chất xăng đặc (napalm) như chất keo vốn đốt cháy mọi thứ mà nó chạm đến), từ pháo binh đi đến hàng loạt chất nổ mạnh. Đến lúc, những sứ mạng đó là “số đạn pháo hoàn tất bắn ra,” sẽ có ít cơ hội cho Quân Bắc Việt có thể sử dụng các vật tư vốn đã bị bỏ lại phía sau.

(Nhóm bom MK80 “Mắt Rắn” –Snake-Eye)

(Những quả bom MK-81 thuộc nhóm vũ khí “con rắn và gáy cổ,”
với “cái đuôi, dụng cụ làm chậm sức rơi”)

Việc giữ an ninh cho địa điểm để đảm bảo rằng tất cả các binh lính TQLC được giải thích, Đại úy Ripley nói ngắn gọn với Trung sĩ nhất của đại đội mình. Việc khảo sát qua danh sách phân công của nhân viên Đại đội Lima cho thấy bị giảm xuống và được xoay vòng một cách đột ngột, điều này vốn rất riêng biệt đối với những hạ sĩ quan thâm niên của Quân khu TQLC, theo cách bày tỏ mạnh mẽ riêng biệt của những hạ sĩ quan thâm niên của Quân khu TQLC, cho Lima Sáu Thật thấy một phần nào khủng khiếp của những sự kiện thực sự của hoàn cảnh trong ngày: ‘Thuyền trưởng,’ chỉ có 15 thằng chó đéo còn lại trong bộ quần áo này không bị giết hoặc bị thương ngày hôm nay… và ông không phải là một người trong số họ, thưa ông.” Cùng với cái đó, là Đại đội Lima, và cái gì còn lại của nó, di chuyển cùng nhau ra ngoài và theo hướng đi xuống đường mòn.

p89

Thần chết đến:

Mệnh lệnh nhấn mạnh, chính thức, nhưng có thể là không hợp thức của Đại úy Ripley cho người y tá quân y thâm niên của mình —“Anh bạn đừng bao giờ gắn thẻ cho tôi!”— không bao giờ được tuân thủ. Việc phát thanh rất thiếu khôn ngoan trên mạng lưới vô tuyến không ẩn giấu rằng ‘Thuyền trưởng’ bị trúng đạn! ‘Thuyền trưởng’ bị trúng đạn” bởi một trong những truyền tin viên bị bối rối đáng lý của đại đội, được nghe bởi mọi người ở phía sau tại Phân bộ G-3 nơi mà tất cả vấn đề thông tin liên lạc được theo dõi. Sự truyền tin rất giống nhau đó chắc chắn cũng được lắng nghe lén bởi những vô tuyến viên thăm dò của Quân Bắc Việt.
Lưu ý là vị sĩ quan chuyên trách các hoạt động cấp trung đoàn cho Trung đoàn 3 TQLC, trung đoàn mẹ đối với 3/3,(pc 03) Thiếu Tá George Ripley, là anh lớn đối với vị “thuyền trưởng” trong hiện thời, một đồng nghiệp giấu tên nhưng có liên quan đang theo dõi làn sóng phát thanh ở phía sau đã có ý ghi lại thông tin trên một trong những tập giấy ghi tin chính thức đó của chính phủ Mỹ có ba màu, có giấy in ở giữa những bản sao. Thiếu tá George Ripley nhận lấy bản sao màu vàng của tin tức bán chính thức và vẫn không thể kết luận: ‘Thuyền trưởng’ L của 3/3 bị trúng đạn. Vẫn còn thở… “ (i.e. “L” ám chỉ Lima). Thiếu tá George Ripley, cũng chính là người bằng cách cho phép người em nhỏ của mình đọc, chống lại lời khuyên của cha mẹ mình, cuốn sách “Tiếng thét của Trận chiến” (“Battle Cry”) của Leon Uri lúc xưa khi đó, đã giúp đỡ tạo nên sự chú ý nơi đứa em có lòng tốt đến một cuộc sống mà hiện thời dường như sắp sửa bị tiêu tan; với một trái tim nặng nề bị bao phủ một phần và kế đó trong sự trộn lẫn của đau buồn và tức giận, anh ta vo tròn tờ giấy màu vàng và bỏ vào trong túi mình.
Một khi tin đồn ra ngoài rằng Đại úy Ripley bị thương vong, bất cứ tình trạng ra sao, một quá trình thông báo cứng ngắt như bọc thép, không vô nghĩa cho thân nhân được bắt đầu theo cách không thể sửa đổi khác đi. Với anh Ripley vẫn còn trong chiến trường, không có cách nào anh ta có thể chận trước quá trình thông báo thương vong.
Cuộc giao tranh vốn đã diễn ra vào ngày 2 tháng Ba, đã kết thúc từ lâu, được thay thế bởi những cuộc chạm trán lẻ tẻ khác trong những ngày tiếp theo đến lúc vị Viên chức Thông báo Thương vong có nhiệm vụ đưa tin cho Moline Ripley đã đến. Vẫn còn trong chiến trường, trong vị trí chỉ huy và cuộc chiến đấu gần như còn tiếp diễn, Đại úy Ripley không biết rằng người vợ và những người thân của mình chẳng bao lâu được thông báo về thương tích mà anh ta nhận lấy nhưng đã không tuyên bố thành tích nào cho nó.
Không cần biết cô ta sợ hãi nhiều như thế nào về điều gì đó có thể được phơi bày hoặc phát thanh, Moline Ripley bị thu hút đến mỗi thông báo tin tức liên quan đến Việt Nam.

p90

Với những cảm giác nhạy bén, cô ta có thể ở trong một căn phòng khác đang chăm sóc bé Stephen hoặc làm những công việc lặc vặt khác nhưng vẫn nghe ngóng đến những từ ngữ chính yếu như “những binh lính Thủy quân Lục chiến” hoặc “những thương vong” hoặc “Bắc Quân khu I.” Không có tin tức nào, không có sự đề cập nào về cuộc giao chiến liên quan đến TQLC; đó là tin tốt.
Đến xế sáng của ngày 3 tháng Ba năm 1967, Moline Ripley đã thực sự có được thông tin rằng Thượng nghị sĩ Robert Kennedy vào ngày hôm trước đã công bố một kế hoạch ba điểm để chấm dứt chiến tranh. Kế hoạch của ông ta bao gồm việc đình chỉ cuộc dội bom của Mỹ vào miền Bắc, việc rút quân của những lực lượng bộ binh Mỹ và của cả Bắc Việt khỏi miền nam, và sự thay thế bằng một loại lực lượng quốc tế trung lập nào đó. Những ý định tốt của vị nghị sĩ này chắc chắn đã không nhỏ giọt xuống đến một trong hai phía hiện đang bị nhốt bên trong cuộc chiến đấu sống chết trọng ở Quân khu I về phía bắc.
Cũng có cuộc tường thuật liên tục về sự phản đối chiến tranh ngày càng tăng trên quang cảnh của trường đại học Mỹ. Chưa đầy hai tuần kể từ khi một cuộc biểu tình lớn đã diễn ra tại Đại học Wisconsin, nơi mà những sinh viên biểu tình chống đối sự hiện diện của những đại diện thuộc công ty Hóa chất Dow trong khuôn viên trường. Công ty Dow, là nhà sản xuất của chính hóa chất xăng đặc mà Đại úy Ripley và “Hoàng tử Henry người Định hướng” chỉ vài giờ trước khi đã khéo léo ứng dụng nhằm mục đích cứu lấy những mạng sống của những binh lính TQLC thuộc Đại đội Lima và tiêu diệt những sinh mạng của kẻ thù của họ, đã đến để tuyển dụng các nhà khoa học trẻ đầy hứa hẹn. Các cuộc biểu tình thu hút sự chú ý cả nước. Vào lúc kết thúc của họ, những người vốn đã từng tham gia, ngoại trừ những người tổ chức, có thể trở lại với những theo đuổi của việc làm tình và say sưa nghiêm trọng hơn ở trường đại học. Đối với những binh lính TQLC không thể chối bỏ những lời cảm ơn cho tài năng khoa học của những kỹ sư của công ty Dow, sự sống hoặc cái chết trong rừng rậm là tất cả điều gì mà họ có thể tiếp tục mong đợi.

(Những sinh viên của Đại học Wisconsin
biểu tình chống đối công ty Hóa chất Dow)

(Mặt trái của những phong trào Hippy phản chiến là
những cuộc say thuốc, rượu, và làm tình tập thể lan
tràn trong đám sinh viên Đại học)

Được kết nối liên lạc và được hỗ trợ tận tình bởi người chị chồng xấp xỉ tuổi của cô ta là Maureen, có chồng là Thiếu Tá George Ripley, là người đầu tiên trong gia đình nghe về tin xấu, hai người phụ nữ gần gủi nhau như họ có thể. Sống trong cùng một khu toà nhà hỗn tạp chung cư ở thành phố nhỏ Alexandria, thuộc tiểu bang Virginia trong khi những người chồng của họ ra trận, họ ở trong khoảng cách tương đối gần với nhau. Anh George và cô Maureen có ba đứa con gái, tất cả đều lớn hơn bé Stephen. Cả hai bà mẹ trẻ có thể thay phiên nhau để nghĩ ngơi khi có nhu cầu.
Cửa sổ nhà bếp của cô Maureen nhìn ra ngoài vào trong bãi đất chính nơi những người khách viếng khu toà nhà hỗn tạp nầy buộc phải đậu xe vào đó. Cô ta chính là người đầu tiên phát hiện ra sự đến gần của chiếc xe chính phủ thuộc Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ mà đáng lý ra cũng có thể được thay thế bởi một bộ xương cưỡi ngựa.

p91

Khi mà cô ta và cô Moline là những người vợ duy nhất có chồng lính trong phần đất phát triển nầy của sự, trừ khi viên chức TQLC đi lạc, một ngày mới của cô ta ngay lập tức bị sụp đổ; cô ta biết rằng một là mình sẽ mất đi người chồng hoặc người em chồng.
Maureen Ripley gọi đứa đứa con gái út của mình vào, hai đứa khác đang ở trường, và chạy vội ra để chận trước vị Đại úy TQLC trẻ vốn là người vừa mới đậu chiếc xe hiệu sedan của mình. Nhận ra từ xa nỗi sợ hãi cùng cực trong đôi mắt của cô ta khi khoảng cách giữa họ gần lại, vị Đại úy mở miệng trước cô ta vài giây, cả hai nói với nhau. “Tôi đang tìm gia đình Ripley, xin làm ơn cho biết.”
“Chính là họ Ripley nào ông muốn, Đại úy?”
Khi cô Maureen biết được rằng chính là John và không phải George, cô cảm tạ cho khoảnh khắc trao đổi ngắn ngủi nhất, cảm ơn rằng người chồng của mình không sao. Sự nhẹ nhõm đó ngay lập tức được thay thế bởi cảm giác tội lỗi của người sống sót của riêng mình và kế đó là nỗi buồn và sự thông cảm cho cô Moline và bé Stephen đáng yêu. “Tôi sẽ đưa ông đến người vợ của Đại úy Ripley…”
Maureen Ripley đi cùng anh ta đến căn nhà chung cư của cô em dâu mình. Dễ chịu và chuyên nghiệp như anh biểu lộ, chỉ đơn giản là không có cách nào để tạo nên một cuộc trò chuyện thân thiện trên đường đi. Và đó là cuốc bộ dài dường như kéo dài mãi mãi. Khi họ đến cửa nhà, vị Đại úy lịch sự gõ nhẹ trên khung cửa với cô Maureen đang đứng phía sau anh ta.
Không mong đợi một ai riêng biệt, Moline Ripley nhanh nhẹn đáp lại; người chị dâu có thể đã không gõ cửa. Sau khi mở cánh cửa, cử chỉ của cô ta thay đổi theo tốc độ nhìn thấy từ một nụ cười tự nhiên mà qua đó cô ta hầu như luôn luôn khoác lấy cái gì đó chỉ có thể được mô tả như là sự sửng sốt và sợ hãi và cực kỳ buồn bã. Trong khi vẫn chưa quen thuộc đối với điều này, vị Đại úy trẻ đã từng trải nghiệm hàng loạt đủ loại những kết quả –không cái nào trong số đó là tốt, một số chỉ ít tồi tệ hơn so với những cái khác– đối với những phản ứng trước sự hiện diện của anh ta luôn luôn được khơi lên. Anh ta muốn đối mặt với cùng một kẻ thù mà John Ripley hiện đang phải đối mặt hơn là phục vụ như một Viên chức Thông báo Thương vong, nhưng nhiệm vụ kêu gọi.
Cô Moline rên rỉ, sau đó dứt khoát nói, “Không khi nào…?” Tuy có thể duy trì sự bình tĩnh và phẩm giá của mình, cô ta cố gắng tìm lời để mời anh ta vào. Sự đột biến trong khoảnh khắc đã chiếm trọn cô ta, quá nhiều đến nổi cô ta vô tình khép cửa lại trước mặt cô Maureen như thể cô ấy còn ở đó.

p92

Chính nhiệm vụ kỳ lạ và khủng khiếp như thế là để phục vụ như một Viên chức Thông báo Thương vong. Trong các trường hợp mà một quân nhân TQLC tham dự bị thiệt mạng trong nhiệm vụ, không bao giờ có một kết quả tốt đẹp từ chuyến thăm viếng, không có một niềm vui nào cả. Với một gia đình, đặc biệt là gia đình đó của một sĩ quan chuyên nghiệp hoặc những hạ sĩ quan thâm niên, những thân nhân của họ trở nên gần như choáng váng khi họ sẽ biết được rằng người lính TQLC của họ là “chỉ” bị thương.
Một khi Viên chức Thông báo Thương vong đã bảo đảm với cô Moline rằng người chồng của cô vẫn còn sống khoẻ và hy vọng sẽ bình phục, tâm trạng của cô ta thay đổi một cách đáng kể. Cảm ơn anh ta rối rít, cô Moline ghi nhận lòng tốt và tính chất chuyên nghiệp của anh ta. Cô ta cảm thấy sự an ủi to lớn trong việc biết rằng người lính TQLC của mình đã không bị mất mạng. Ít nhất là chưa.
Quá trình cho việc thông báo cho thân nhân chính –là người vợ nếu người lính kết hôn hoặc thường là cha mẹ nếu người lính độc thân– thì rất riêng tư nhiều hơn so với việc thông báo cho người thân thứ hai. Trong trường hợp của Đại úy John Ripley, những thân nhân của ông ta nhận được bức điện tín riêng biệt, vô thời hạn, và không-có-bất-kỳ-lòng-thương-hại-nào-cả. (Đến năm 1967, những bức điện tín được sử dụng bởi một số người càng ngày càng ít hơn khi các cuộc gọi điện thoại viễn liên đã thay thế nhu cầu của họ ngoại trừ phương pháp riêng lẽ của việc thông tin liên lạc như là nhu cầu cho cơ quan chính phủ để thông báo cho người trong gia đình về cái chết của người thân của họ trong trận chiến.)
Xa hơn về phía nam và tây trong thị trấn Radford nhỏ bé nơi mà ông bà Bud và Verna Ripley được biết đến rộng rãi, sự biết đến thông thường chính là tất cả ba người con trai của họ, trong một khoảng thời gian, ở Việt Nam với nhau. Điều đó cũng là sự hiểu biết bình thường đối với tất cả người Mỹ ở khắp thị trấn nhỏ bé vào năm 1967 rằng người đàn ông vốn đi phát những bức điện tín cho công ty thư tín Western Union, trông vô thưởng vô phạt như ông ta có thể trông thấy trong bộ đồng phục ngớ ngẩn, nhiều lần hơn là không, đặc biệt là khi cuộc chiến tranh đang gia tăng, chính ông ta trở thành một Tử thần. Trừ khi người nào đó gởi một bức điện tín thông báo về sự ra đời của đứa trẻ –mà qua đó lý ra đáng giá chi phí của một cuộc gọi viễn liên– và hiện thời dù sao không có một phụ nữ mang thai nào trong vòng tròn gia đình Ripley to lớn, bất cứ tin nhắn nào mà ông ta có thể mang lại, sẽ không là tin vui.
Khi tin nhắn đến và trước khi nó được phát, thậm chí không có nội dung nào của nó được tiết lộ cho bất cứ ai, tin tức rằng có một bức điện tín cho gia đình Ripleys, truyền đi bằng sự vội vã đáng ngạc nhiên trong thị trấn Radford nhỏ, quá nhanh đến nỗi một số lượng khá đông người dân cho rằng biết có nguy cơ báo trước của nó trước khi ông bà Bud và Verna Ripley nhận được sự giao phát của nó.

p93

Bà Verna Ripley dòm chừng kỹ sự đến gần của một người đàn ông xui xẻo của công ty thư tín Western Union trước khi ông đến cửa nhà. Ngay lập tức cho rằng tin đến không tốt, bà ta bắt đầu bước ra theo hướng ngược lại, khóc gào lên một cách thật khích động, như thể là biết chắc không thể phủ nhận cái thực tế của chuyện gì đó mà bà ta sắp sửa biết được. Ông Bud được bỏ lại để bắt đầu giải quyết việc tin đưa vốn chưa đi đến kết luận, tuy thế, nhờ ơn Thượng Đế, được xác nhận rằng người con trai út của họ vẫn còn sống.
Với ý niệm rằng Đại úy John Ripley, dù sao theo báo cáo cuối cùng, được nhìn thấy còn sống, được khoẻ mạnh vừa phải, và vẫn còn đủ sức để chỉ huy đại đội súng trường của mình, xem như là một loại thuốc tiên cho cô dâu trẻ đáng yêu của anh ta. Khả năng của Moline Ripley để phân lập và kế đó suy luận về tin tức đó, và tiếp tục bám vào nó như thể bằng cách nào đó anh ta được an toàn và lành mạnh, là cách hợp lý duy nhất để đối phó với điều chưa được biết nhiều chi tiết, những chi tiết vốn có thể khiến cô ta mang bệnh vì lo lắng. Ít nhất anh ta còn sống. Điều đó an ủi để biết rằng, cái gì đó vốn sẽ cho phép cô ta tiếp tục tập trung vào một điều tốt trong cuộc sống của mình mà qua đó cô ta thực sự có được sự kiểm soát nào đó trên vấn đề là vai trò làm mẹ và việc nuôi dưỡng bé Stephen dễ thương.
Tuy nhiên, Đại úy Ripley không được an toàn và lành mạnh. Trong khi anh ta muốn người vợ và những người thân không phải lo lắng, sự thật thực tế là cuộc giao chiến ở Bắc Quân khu I đã chưa bao giờ thực sự ngừng lại, đã chưa bao giờ thực sự giảm leo thang gì cả…
Điều đó có thể không phải là mỉa mai gì cả khi mà cái đồng hồ một lần nữa sắp sửa tiến lên thêm một khoảng thời gian hai mươi-bốn-giờ để đánh dấu kiểm soát trên những cuốn lịch quân vụ của mọi người còn lại đang sống sau một ngày chiến đấu –cả hai vị chỉ huy trung đội của anh Ripley đã bị thiệt mạng và mỗi tiểu đội trưởng từ Trung đội 1 và 2 hoặc là bị thiệt mạng trong nhiệm vụ hoặc bị thương trong nhiệm vụ– mà qua đó cuộc giao chiến cuối cùng với kẻ thù sẽ được bắt đầu và kết thúc bởi một tiểu đội của mỗi người lính vốn là người đã đánh hơi ra trụ sở trung đoàn Bắc Việt trong khoảng 12 tiếng trước đó.
Đại úy Ripley, cùng với một số ít người vạm vỡ, tích cực còn lại của mình cộng với tất cả những người vốn đã từng tham gia như là những người thay thế trong suốt cả ngày, cuối cùng đã bắt được liên kết với Trung đội 3 ở ngã ba đường mòn ban đầu. Thêm vào sự tập trung có phẩm chất gồm những binh lính TQLC(pc 02) của Đại đội Lima là hầu hết Đại đội India và một số lượng nhỏ gồm những người khác từ tiểu đoàn.

p94

Chỉ vì họ đã chiến đấu một cuộc chạm súng lớn và bị mất mát và được thay vào một số lượng lớn những người đồng đội của họ thì không có lý do gì để lui trở lại. Đây không phải là một trò chơi bóng cầu dục. Đồng hồ đã chưa chạy hết thời gian mặc dù Đại đội Lima đã gần như sắp hết người. Đây là Quân khu TQLC Hoa Kỳ và nơi đây ở Bắc Quân khu I, cuộc chiến tranh vẫn tiếp tục là một cách chắc chắn.
Một khi các đơn vị khác nhau đã liên kết được nghĩ qua đêm, các công việc quen thuộc về chiến thuật thông thường được tái lập. Được đặt vào 50% sự cảnh giác, với hai người lính cho mỗi hố chiến đấu nơi mà một người ngủ và người kia canh gác, mỗi trung đội cũng gởi ra ngoài một toán tuần tra an ninh hoặc một toán phục kích để bảo vệ các địa điểm ẩn náu lớn hơn. Mệt mỏi như anh ta cảm thấy, Đại úy Ripley theo dõi sự thông tin liên lạc với truyền tin viên của mình. Hạ sĩ nhất Hobbs đã được gởi ra ngoài với tiểu đội của anh ta đến một địa điểm chung được chọn lựa bởi vị “thuyền trưởng” của mình. Nghĩ rằng nếu Quân Bắc Việt định đến khiêu khích, chúng sẽ phải vượt qua một điểm nào đó trên đường mòn, vì vậy họ đã chọn một vị trí phục kích thích hợp. Hạ sĩ nhất Hobbs và toán lính không phải chờ đợi lâu cho những người khách viếng.
Chính là một lò sát sinh. Có lẽ, Quân Bắc Việt mong mõi những người Mỹ bị áp đảo, không mong có áp lực từ kẻ thù vốn đã mất mát gấp nhiều lần số lượng những người chiến đấu mà họ đã mất, và cảm thấy mệt mỏi như họ. Khối lượng hỏa lực phá vỡ sự tĩnh lặng của ban đêm. Địa điểm phục kích ở xa nhưng đủ gần cho toàn bộ đại đội nghe được những tiếng hét của đối phương đang la lớn, dường như để van xin, “Chiêu hồi! Chiêu hồi!” “Mầy cũng thế. Những thằng khốn nạn. Bất cứ ‘chiêu hồi’ có nghĩa gì.”
Chỉ sau nầy những binh lính TQLC biết được rằng những người bị kẹt trong cuộc phục kích của anh Hobbs, một khi bị phát hiện ra, đã quyết định đầu hàng. (“Chiêu hồi” có nghĩa là “tôi đầu hàng.”) Không có những tù nhân nào bị bắt được đêm đó. Nếu đã có được sự hiểu biết về điều gì họ nói, sau việc trải nghiệm trận chiến trước đó, vẫn nghi ngờ rằng có những tù nhân bị bắt đêm đó.
Cuộc giao chiến vốn theo sau vào ngày 3 tháng Ba thì hơi khác biệt hơn cuộc chạm súng của ngày 2 tháng Ba. Ngày 3 tháng Ba được theo sau bởi cuộc giao tranh lần thứ tư, thứ năm, và thứ sáu. Đại đội Lima vẫn còn trong chiến trường, hối hả từ nơi nầy đến nơi khác, trong cuộc giao tranh với Quân Bắc Việt mỗi ngày một lần. Machete Eddie thì chính xác trong việc đánh giá của anh ta; John Ripley có một loại nam châm nào đó vốn thu hút cuộc giao chiến.

p95

Đại đội Lima sẽ vẫn ở trong rừng bụi rậm cho thời gian còn lại của tháng Ba. Chuck Goggin vẫn chịu trách nhiệm Trung đội 1, thậm chí còn được thăng lên trung sĩ bởi vị “thuyền trưởng” của mình vốn là người không có thẩm quyền thực sự để làm như thế. Tướng Ryan, một hoặc hai ngày sau đó, ra ngoài và làm cho nó hợp pháp hết.
Mỗi một ngày mới thì gần giống như ngày trước, và một ngày trước đó. Những binh lính TQLC chỉ biết đó là ngày Chúa nhật vì nó là ngày mà những y tá quân y sẽ phát ra những viên thuốc trị bệnh sốt rét. Cuộc giao chiến, một cuộc chạm súng liên tục với kẻ thù tiếp tục diễn ra mãi. Không dịu lại. Những gười lính thường xuyên bị thiệt mạng hoặc bị thương mỗi một ngày. Không giảm bớt.
Cuộc giao chiến lôi cuốn 3/3(pc 03) của Đại đội Lima vào đầu tháng Ba năm 1967 không phải là độc nhất. Ở Bắc Quân khu I, phần còn lại của Quân khu I và khắp cả miền Nam Việt Nam, một tuần đầu tiên trong tháng cho thấy tổng số thương vong lớn nhất cho chiến tranh đến nay với 1.617 người Mỹ bị thiệt mạng, bị thương hoặc mất tích.
Không cần biết họ đã bị hành hạ và kiệt sức nhiều như thế nào, những người còn lại, đến lúc nầy khá tự tin vào những khả năng của mình và là những người của một một người dẫn dắt họ. Những binh lính TQLC của Đại đội Lima vốn là những người còn lại, vẫn có quyền tự hào. Trong mỗi một cuộc chạm súng, họ đã nhận lấy một phần chia công bằng của những lần trúng đạn của họ nhưng họ đã luôn luôn đánh bại Quân Bắc Việt. Luôn luôn.
Phải ít nhất là hai tuần sau cuộc giao chiến lớn, đầu tiên của ngày 2 tháng Ba khi một người trong số những quân nhân kỳ cựu của Đại đội Lima nhận lấy những bức thư được gởi vào của mình từ những mẩu tin tức ở quê nhà về những khai thác của cơ sở kinh doanh về thông tin Boston Globe hoặc một số báo chí khác ở Bờ biển Đông hiện tại đang đề cập đến như là “Những Đột kích Quân của ông Ripley.”
Đủ lạ lùng là, trong suốt quá trình của ngày hôm đó vốn dường như không bao giờ kết thúc, trong suốt một trong những vô số chuyến bay tái tiếp tế / tải thương đến vị trí của Đại đội Lima bị tấn công vào trong và sau đó được bảo vệ vào ngày 2 tháng Ba, một nhóm ồn ào của các nhà báo và truyền thanh được chở ra để có một cái nhìn-thấy tận mặt cái tổ của loài ong sáp Lima đã bị khuấy động. Với Đại úy Ripley và mỗi một binh lính TQLC của mình tập trung vào trận chiến, những đoàn người quay phim, và những người với máy ghi băng khảo sát một cách bừa bãi các vị trí của Đại đội Lima, gần như thể là họ không phải là một phần hoặc đối tượng của cuộc chiến đấu đang diễn ra tất cả mọi nơi chung quanh. Hơn bất cứ điều gì khác, sự hiện diện của họ là một sự phiền toái và là sự thu hút làm lạc hướng đối với những binh lính TQLC đang cố gắng hoàn tất nhiệm vụ mình. Như thể là những người này hoàn toàn trung lập về cái gì xảy ra,

p96

một toán máy ảnh thậm chí thu phim một nhóm những binh lính TQLC đang chuyển một đồng đội bị thương đến một chiếc trực thăng đang chờ bằng cách sử dụng một tấm áo đi mưa nhà binh như một cáng khiên. Khi một loạt đạn cối che chắn đang đến khiến cho những người khiên cáng phải bỏ xuống người bạn của mình khi họ tìm nơi ẩn nấp, toán máy ảnh thu hình lại đoạn phim. Cha mẹ của người bạn đồng đội trong tấm phong-sô biết được về sự thương tích của đứa con trai họ khi họ nhìn thấy tất cả cuộc giao chiến trên chương trình tin tức chiều tối. Bản tin cụ thể nầy khiến cho họ mang lấy nổi buồn và đau đớn mãi mãi.

(Một cảnh tải thương bằng cáng khiên giả chiến)

Một thời gian dài trước khi sự việc nầy xảy ra, sự phổ biến của các loại phương tiện truyền thông cho hầu hết những binh lính TQLC trong cuộc giao chiến chỉ hơi cao hơn cảm tình yêu thích của họ dành cho Quân Bắc Việt. Khi cuộc tấn công tiến triển và gia tăng hơn, với các thành viên của báo chí cũng đang ở trong hoàn cảnh nguy hiểm, sự ước muốn tự bảo vệ mạng sống khiến cho một người trong số họ nhào đến một chiếc trực thăng “sâu rọm” CH-46 vốn sắp sửa cất lên với vỉ sắt cầu dốc của nó gần như khỏi mặt đất. Đang lướt đi với một tốc độ tranh đua với Jesse Owens, chính là người đàn ông đã tung dụng cụ của mình lên, vào trong chiếc trực thăng, đến nơi mà nó đáp xuống bên nhiều người trong số những những binh lính TQLC bị thương đang được chuyển lên. Với thiết bị của mình trên sàn, anh ta sau đó cố gắng leo lên tấm sắt cầu dốc khép kín phía sau của chiếc trực thăng. Những quan nhân TQLC chứng kiến sự phơi bày trắng trợn của sự hèn nhát và việc tự bảo vệ mạng sống nầy cảm thấy bừng giận. Ít nhất là một người trong những binh lính TQLC của Đại đội Lima muốn bắn người đàn ông đó.

(Một cảnh tải thương bằng phong-sô đến chiếc trực thăng)

(Chiếc trực thăng “sâu rọm” CH-46 đang chuyển tiếp liệu
và bóc những người bị thương trong chiến trường)

Trong số những nhóm các nhà báo vốn là những người tạo ra và có thể nộp những báo cáo, ít nhất là một người cảm kích bởi sự can trường và kiên quyết của những việc khai triển của Đại đội Lima. Trong bài viết về điều gì đó mà anh ta đã có thể tận mắt quan sát và học hỏi từ những binh lính TQLC qua cuộc tiếp xúc, anh ta mô tả điều này dường như là vào tháng Tám và ngày càng là một nhóm nhỏ-hơn-theo-kim-giờ của những người “Cổ Áo Da” như là “Những Đột kích Quân của ông Ripley.”
Cái tên đó được mang luôn. Đối với những người vốn là một phần của nó, nó là một danh hiệu danh dự, một điều tự hào để mô tả chính mình như là một thành viên trong nhóm hiện thời rất nhỏ đó của những người được biết đến, miễn là vị “thuyền trưởng” của họ dẫn dắt họ trong trận chiến, như là “Những Đột kích Quân của ông Ripley.”
Cho dù Quân Bắc Việt được gần gủi với tờ báo Boston Globe hay không chẳng quan trọng nhiều. Họ đổ những cán binh giỏi nhất của họ vào trong cuộc giao tranh với một tốc độ ngày càng gia tăng để tạo nên trận chiến với các đơn vị TQLC(pc 02) trên khắp Quân khu 1. Cuộc chạm súng thường xuyên và cường độ của trận chiến dành cho tất cả các đơn vị thuộc Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ từ cuối thánh Hai năm 1967 trở đi là một thực tế mà một số ít người ở quê nhà có thể nhận thức được.

p97

Trong bất kỳ tổ chức quân sự nào khác, việc trở lại Cà Lu chỉ có thể được mô tả như là nhiệm vụ khó khăn cùng cực. So với nơi mà Đại đội Lima đã trải qua bốn tuần lễ vừa rồi, so với cuộc giao tranh tàn bạo mà họ thường xuyên dự vào mỗi một ngày khi họ đấu đá những đơn vị của Quân Bắc Việt bao khắp mọi nơi của khu vực nhỏ bé của họ thuộc Bắc Quân khu I, việc trở lại “ngọn đồi đại đội” vốn là Cà Lu, một Quân đồn của Dân da Đỏ Apache thật sự trong vùng hoang dã, thì gần như là những binh lính TQLC đầy bùn sẽ được đến thiên đàng mà không phải chết trước, vào đầu tháng Tư năm 1967.
Theo chiến lược, được đặt ở vị trí dọc theo Quốc lộ 9 tiếp giáp với sông Thạch Hản, Cà Lu là vị trí vững chắc xa nhất về phía tây được chiếm đóng bởi những binh lính TQLC trước khi đống quân ở Khe Sanh, khoảng hai mươi km gần hơn đến biên giới Lào.

(Vị trí Cà Lu –gần chữ “Việt Nam”– nằm hướng đông bắc
của Khe Sanh. Với Cam Lộ gần Quốc lộ 9 và Cồn Thiên
bên trên; và bên phải là Quốc lộ 1, tương ứng với Đông
Hà bên dưới và Giao Linh phía trên)

Để cho Đại đội Lima được chút nghỉ ngơi từ cuộc giao chiến, một đại đội súng trường khác được vận chuyển bằng trực thăng vào nhằm cung cấp người cho vòng chu vi ở Cà Lu. Khi người lính TQLC cuối cùng của Đại đội ở bên trong hàng rào thép gay dây lúc nào đó vào khoảng 1730 giờ, những cuộc liên hoan có chất lượng và tính chất tao nhã mang nét tốt đẹp của Quân đoàn TQLC được lộ ra. Với những số lượng vô giới hạn của những miếng thịt bò chiên và bia rẻ tiền được tạo nên một cách kỳ diệu dành cho những người lính vốn là những người trông giống như những người tham gia trong một thử nghiệm điên khùng, to lớn nào đó về chứng mất ngủ, căng thẳng, và nhịn đói hơn là các chiến binh dầy dạn trong trận chiến mà họ đã trở thành, một vật chủ thể của những người trong nhóm đã đủ phát triển cơn bệnh cho dạ dày của họ từ việc tộng vào những miếng thịt bò nướng hoặc say mèm từ men bia đến 2200 giờ khi tin đồn đến rằng một tiểu đoàn từ TQLC 9 đã bước vào trong một cuộc giao chiến cực kỳ to lớn. Việc tăng cường đã được yêu cầu. Đến 2230 giờ, “Những Đột kích Quân của ông Ripley” được hình thành, sẵn sàng lên đường, sẵn sàng ra đi. Họ trở lại trong nó… từ trên xuống dưới… một lần nữa.

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ 1730 giờ : là 5 giờ 30 phút chiều, theo cách nói trong quân đội.
pc 02_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 03_ 3/3 : tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 3.

One thought on “Phần 06: Những Đột kích Quân của ông Ripley

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s