Phần 40: Anh Bình Sống sót trong Trại tre Lao động Cưỡng bức

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p565

Phần 40: Anh Bình Sống sót trong Trại tre Lao động Cưỡng bức

Rất hao tốn hơn về phần những người bị thiệt mạng và quân dụng bị mất, cuộc chiến tranh ngắn ngủi và đẫm máu của Việt Nam với Trung Quốc là một kết quả trực tiếp của sự đột nhập đánh phá sau đó vào trong Cam-pu-chia. Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc đã từng là những người hỗ trợ chính yếu cho những người Khmer Đỏ, và sự bại trận nhanh chóng của họ là một sự mất mặt đối với những người Trung Quốc. Thêm vào đó, có những lý do khác giải thích tại sao mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam gần đây đã trở nên chua chát đi. Những biện pháp hà khắc được mang vào Việt Nam để ngăn trở chủ nghĩa tư bản –những việc đổi tiền, việc di chuyển người dân đến những Vùng Kinh tế Mới, v.v.– được nhìn thấy bởi những người Trung Quốc như là những phương pháp không rất tinh tế lựa của việc lựa chọn ra nhóm thiểu số người Hoa đáng kể và thành công thiếu cân đối đang sinh sống ở đó. Cùng với những vấn đề hiện tại, tình trạng thù hằn lịch sử giữa những người Việt Nam và những người láng giềng phương bắc của họ chảy rất sâu hơn sự thù hận đối với những người Cam-pu-chia.
Liên bang Sô-Viết sẽ là nước hưởng lợi trực tiếp của sự căng thẳng trong những mối quan hệ Trung-Việt. Đối với cái giá viện trợ khá đáng kể về tài chính và tiếp tục về quân sự, Hải quân Liên Xô sẽ được tiếp cận tự do đến những cơ sở siêu cấp, được Mỹ xây dựng tại Vịnh Cam Ranh. Được xét bởi nhiều người là một bến cảng nước sâu tốt nhất trong khu vực, hoạt động của Hải quân Liên Xô trong khu vực phía tây Thái Bình Dương và khả năng của họ phóng đi sức mạnh rất xa từ đất nước mình đã trở nên mối quan tâm đang gia tăng đối với Hoa Kỳ vào lúc khi nó vẫn còn đang cố gắng rút lui khỏi những nghĩa vụ ở châu Á.
Trung Quốc sẽ gọi nó là “Cuộc Chiến tranh Trừng phạt năm 1979,” và mặc dù họ khởi đầu cuộc giao chiến, theo cách nói nước đôi thuần khiết của Cộng sản, nó được gọi là “cuộc phản công tự vệ.” Ngắn ngủi và dữ dội, cả hai bên, một lần nữa theo kiểu tuyên truyền thuần khiết của Cộng Sản chiến thắng, tuyên bố chiến thắng.

p566

Người ta tin là cả hai bên đã bị mất khoảng 30.000 người bị thiệt mạng trong một khoảng thời gian ba tuần. Khi cuộc chiến đấu kết thúc, những người Trung Quốc rút những cán binh của họ khá nhiều đến những khu vực biên giới xưa kia.1
Do nằm trong phạm vi Yên Bái đối với biên giới Trung Quốc, nhà cầm quyền Việt Nam muốn di chuyển những tù nhân đến các khu vực mà họ sẽ không có nguy cơ được phóng thích bởi những cán binh Trung Quốc đang tiến công nếu tình hình quân sự rơi vào nơi đó. Đã từng có tin đồn rằng một số người trong các tù nhân đã đưa ra sự phục vụ của mình cho nhà cầm quyền trong sự trao đổi cho việc giảm nhẹ bản án. Những đề nghị đưa ra đó đều bị từ chối. Theo sự hiểu biết của anh Bình, không ai trong số các sĩ quan Thủy quân Lục chiến (TQLC) mà anh ta biết, đã phải đưa ra những đề nghị trợ giúp. Anh Bình công nhận những kẻ bắt giữ mình hiểu rằng nếu họ phát vũ khí cho bất kỳ những sĩ quan TQLC nào, họ đã sẽ ngay lập tức quay lại chống những kẻ bắt giữ họ.
Từ vùng Yên Bái, anh Bình được chuyển đến tỉnh Hà Nam, vốn nằm ngoài những ngọn núi và gần bờ biển hơn, về phía đông nam Hà Nội. Trước khi chuyến khởi hành của anh ta đến Hà Nam, vào cuối năm là ba lần di chuyển trong khoảng thời gian cải tạo của anh ta mà qua đó cuối cùng anh Bình được phép viết một lá thư cho người vợ mình. Mặc dù không được hướng dẫn về điều gì được nói, anh Bình hiểu rằng lá thư sẽ được đọc bởi cán bộ trước khi nó được chuyển đến người vợ mình. Anh Bình viết một lá thư vốn đã có thể được mô tả như là thói thường, chiếu lệ. Anh ta biết cô Cẩm sẽ hiểu. Anh Bình cố tình nhắc đến rằng anh ta vẫn khoẻ, rằng việc cải tạo tiến hành tốt đẹp, và hỏi những câu hỏi phải có như “Em khoẻ không ?”“Đứa con gái của chúng ta khoẻ không ?” Và cứ thế tiếp tục.

(Bản đồ miền Bắc Việt Nam. Từ tỉnh Yên Bái đi về hướng
đông nam qua tỉnh Phú Thọ, Hà Tây đến Hà Nam)

Cô Cẩm, dĩ nhiên, rất vui mừng, an tâm, phấn khởi, ngây ngất khi cô ta nhận được lá thư qua bưu điện. Anh Bình còn sống, chắc chắn là vậy. Cô ta đã từng cầu nguyện trong suốt cùng khoảng thời gian và không bao giờ hoàn toàn chắc chắn. Cô ta hiểu, người chồng mình là một chiến binh. Cô ta hiểu rằng anh ấy được xem là một con hổ thuần chất trong lực lượng TQLC(pc 02) ngày trước, và bởi vì thế, anh ta có thể đã làm điều gì đó tự hành quyết mình hoặc cố gắng làm một việc gì đó vốn có thể đã gây tức giận những kẻ bắt giữ anh ta. Điều mà anh Bình còn sống, là một tin rất ư là tốt nhất mà cô Cẩm đã nhận được kể từ sự sụp đổ của đất nước họ.
Việc trao đổi thư từ ban đầu giữa những tù nhân và gia đình mở ra cánh cửa cho việc thông tin liên lạc xa hơn nữa, cũng như việc cho phép chuyến thăm viếng có thể có trong tương lai. Trong một ý nghĩa nào đó, đó là điều gần như được thương xót mà trước đó cô Cẩm đã không được phép đi thăm người chồng của mình.

p567

Trong vài năm đầu, cô ta đã không thể có đủ khả năng chi phí cho việc đó; đã không thể tìm đâu ra tiền để trả cho tất cả những khoản hối lộ cần thiết để được cho phép làm chuyến đi rất xa, để qua việc qua được tất cả chuyện đó, sau đó cô sẽ phải có khả năng tiền bạc để mua sắm và đưa đến cho người chồng của mình.
Trong nước Việt Nam mới, những điều duy nhất, không có những thiếu hụt, là nỗi đau đớn và khốn khổ và đói kém. Dù sao đi nữa, không bao giờ có quá nhiều dư ra của bất cứ thứ gì, ngoại trừ trong suốt khoảng thời gian mà cô ta đã làm việc cho những người Mỹ và có thể giúp trả các chi phí của việc ăn học cho những đứa em của mình, cô Cẩm biết làm cách nào để tiết kiệm. Mọi công dân của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nếu họ không học hỏi tiết kiệm trước khi những người Cộng sản áp đặt cái nhãn của họ về công bằng kinh tế trên phần đất phía nam của đất nước, về sự cần thiết phải học hỏi để tiết kiệm, để kéo dài thời gian, để làm cho những thứ lâu hết, để tạo thành những bữa ăn thế phẩm và những thiết tiệc từ những nguồn thực phẩm ít ỏi nào đó hiện có sẵn trong Thiên đường Xã hội Chủ nghĩa mới.
Quá trình thật khó khăn nhưng đơn giản. Mỗi ngày, cô Cẩm sẽ cố gắng sống trên mức kém hơn mà cô ta tạo ra để cho có những khoản tiền mặt dành dụm. Những khoản tiền mặt tiết kiệm đó, cô ta sẽ nhanh chóng biến thành những thứ khác hữu hình, những thứ sẽ không mất đi giá trị, những thứ mà sau nầy cô ta có thể dùng đến để đổi cho những thứ hàng khác của sự quan trọng vượt bực trên hoặc có giá trị đối với cô ta.
Một số ít công dân có lòng tin vào tiền tệ Cộng sản, đặc biệt là sau chuyện gì đó đã xảy ra vào năm 1975. Trên thị trường chợ đen, điều tốt hơn là nên giao dịch bằng tiền đô-la (và không bị bắt) hoặc bằng vàng hoặc đơn giản là đổi chác bằng hàng hóa khó hao mòn (i.e. những mặt hàng như ti-vi, tủ, đồ điện v.v.); rất nhiều gạo cho một con gà, rất nhiều thứ nầy cho một thứ khác. Trong khi giá trị tiền đồng Việt Nam chắc chắn không hoàn toàn giống như những đơn vị tiền tệ Reichmark của Đức của thập niên 1920s, nếu bạn dùng loại tiền tệ với hình của Hồ Chí Minh trên đó, bạn cần đến rất nhiều loại tiền đó. Và lòng tin đó chỉ yếu đi khi nhà cầm quyền một lần nữa thay thế tiền tệ, một lần nữa trong phần lớn là cùng những lý do –nhằm trừng phạt việc đầu cơ tích trữ và chủ nghĩa tư bản tham tàn, bất chính– vào tháng Năm năm 1978.
Trong khi cô Cẩm và hàng trăm ngàn người vợ khác trong những tình huống tương tự phải giựt gấu vá vái để cung cấp cho những đứa con của mình và số tiền dự tữ nhỏ nhặt nhất đó để thu thập và tích lũy cho những chuyến viếng thăm hàng năm chưa đi được để gặp những người chồng bị giam giữ của họ, những người đàn ông của họ bị mắc kẹt ở bất cứ nơi nào mà những người đó; đặc biệt là trong vài năm đầu, chủ yếu là trong những trại cưỡng bức lao động ở phía bắc, đang tưởng tượng về thực phẩm, đang tự hỏi về những đứa con của họ bây giờ trông giống như thế nào, nếu họ còn nhớ được chúng, và đang tin tưởng rằng những người vợ của họ vẫn còn trung thành.

p568

Tác động về tâm lý và tình cảm đối với gia đình, vợ chồng, mối quan hệ giữa cha và con của họ sẽ mãi mãi bị tổn hại theo những cách mà không bao giờ có thể được mô tả một cách đầy đủ hoặc hoàn toàn bình phục. Những thách thức nầy chỉ có thể phải chịu khốn khổ và bằng cách nào đó phải chịu đựng.
Đến cuối thập niên 1970s, những người đầu tiên trong số những người vốn đã rời khỏi Việt Nam như là một phần của cuộc ly hương của người Do Thái lần thứ hai, đang dần dà được thành lập ở những quê hương mới của họ. Việc thu xếp trước tiên trong công việc làm ăn đối với gần như mỗi người đàn ông và phụ nữ Việt Nam thuộc lớp con cái là chuyển các nguồn tài trợ trở lại cho những người vẫn còn bị mắc kẹt phía sau Bức Màn Tre, cho những người mà sự gánh chịu khốn khổ của họ vẫn là một điều chắc chắn. Ở Hoa Kỳ, Pháp, Gia nã Đại, Úc, và những nơi khác, đợt sóng đầu tiên của những người tìm kiếm tự do đã đến nơi được, những người dũng cảm mới đến đã nắm bắt những cơ hội ở bất cứ nơi nào và bất cứ khi nào họ xuất hiện. Không cần biết họ làm gì, không cần biết họ làm được bao nhiêu hoặc không kiếm được, họ nghiêm túc gởi những số tiền hào phóng trở lại cho người vợ hoặc chồng, cha mẹ, anh em, chị em, cô dì, chú bác, anh em họ, và những người khác trong gia đình.
Người em của Cô Cẩm và sáu đứa con của cô ta đã đến được Canada vào năm 1975, trong khi người chồng của cô ta đã bị mắc kẹt trong một trại cải tạo ở một nơi nào đó ở miền Bắc Việt Nam giống như anh Bình. (Anh ấy sẽ vẫn còn ở đó có trong hơn mười năm trước khi anh ta đã có thể rời khỏi đất nước.) Đến năm 1977, người em gái của cô Cẩm thường xuyên gởi qua bưu điện những thùng hàng hoàn toàn không đáng kể đối với người dân ở Canada hoặc Hoa Kỳ nhưng được xem gần như là kho báu bởi những người, giống như người em của cô Cẩm, nhận được chúng ở Việt Nam. Trong khi không phải luôn luôn an toàn tin tưởng vào việc gởi qua bưu điện, hầu hết những thùng hàng thực sự đã qua.
Một thùng hàng điển hình thường bao gồm các đồ dùng vệ sinh cá nhân như kem đánh răng, các vật dụng về quần áo và thực phẩm. Trong số các món hàng thực phẩm, là bánh kẹo, bất cứ thứ gì ngọt và có vị sô-cô-la, thì giống như vàng. Chúng quá ư có giá trị không thể tiêu dùng. Người em của cô Cẩm chung thủy gởi thùng hàng nầy đến thùng hàng khác, hoàn toàn hiểu được giá trị thương mại của chúng. Đó là một dịp hiếm hoi mà cô Cẩm sẽ cho phép chính mình niềm vui của việc tiêu thụ bất kỳ thứ gì nhưng thường thường sẽ chiều cho bé Ngọc chỉ một chút. Hầu hết cái gì được nhận, trở thành hàng tồn kho cho cô Cẩm để bán đi hoặc trao đổi, để biến thành hàng hóa khác để sau đó trao đổi hoặc bán đi. Một khi cô Cẩm đã tái lập những thông tin liên lạc với người chồng mình và sẽ cần đến những nguồn tài chánh thêm để đi thăm và cung cấp cho anh ta, sự nhạy bén trong công việc làm ăn của cô ta trở thành điều quan trọng hơn nhiều.

p569

Trong khi việc tái lập sự thông tin liên lạc giữa anh Bình và cô Cẩm ở một điểm cao, một sự kiện quan trọng, chính là một niềm vui của họ trong hai thế giới rất nhỏ; thế giới của anh Bình trong trại tù của mình và thế giới của cô Cẩm ở Sài Gòn trong sự cố gắng chỉ đơn giản là để sống còn. Mỗi người họ theo một cách riêng biệt có thể nhớ lại bài hát đó cách đây khá lâu, bài hát mà trong đó kể về một người lính rất cách xa và người yêu của mình ở nhà, cả hai nhìn thấy cùng một mặt trăng vào cùng một lúc và bởi vì điều đó, họ vẫn ở gần bên nhau dù là thế nào, thuộc về một tinh thần ngay cả mặc dù xa xôi thể chất. Giống như bài hát “Cờ Ta Bay trên Quảng trị Thân Yêu,” bài hát đó đã bị xoá khỏi những đĩa nhạc và sẽ không bao giờ được cho nghe trên những làn sóng truyền thanh. Anh Bình không được phép viết những điều giống như thế trong những bức thư mà anh ta sẽ gởi về nhà. Cán bộ Cộng sản sẽ không cho phép cho sự ngu ngốc và tính đa cảm của giới tư sản như thế. Nhưng họ không thể ngăn chận anh ta hay người vợ của mình khỏi suy nghĩ về điều đó.
Trong lúc đó, mỗi ngày của anh Bình phải trải qua trong việc biến những tảng đá lớn trở thành những hòn đá nhỏ và sau đó mỗi đêm phải lắng nghe lời nói ngốc nghếch liên tục của việc tuyên truyền của Cộng sản. Sáu ngày một tuần, với thời gian nghĩ vào ngày Chúa Nhật hầu như để lắng nghe thêm lời tuyên truyền. Đối với cô Cẩm, điều đó chỉ thêm một chút thay đổi. Cô ta ít nhất ra có thể có niềm vui của tình phụ mẫu trong những khoảnh khắc mà cô ta không làm bất cứ việc gì cô ta đòi hỏi cần làm để cho có thể có gạo, rau cải, và có thể là một con cá nhỏ cho đứa con gái của mình, mẹ của cô ta, và chính cô ta ăn. Nếu cô ấy thực sự đẩy mạnh, có thể có tài chánh còn lại để dành dụm cho chuyến đi thăm của mình để gặp người chồng. Toàn bộ gia đình tham gia vào nỗ lực và nguồn tài chánh nghèo nàn để cho cô Cẩm, bé Ngọc, và tất cả những đồ tiếp tế của họ có thể đi về phía bắc để gặp anh Bình.

A- Cuộc đi Thăm đầu Tiên đến Hà Nam:

Cuộc gặp gỡ tận mặt lần đầu tiên của bé Ngọc với người cha mình, ít nhất là một cuộc gặp gỡ mà cô bé cuối cùng cũng đủ lớn để nhớ được, trong hoàn cảnh kém hơn những điều kiện lý tưởng. Lúc cô bé chưa đầy một tuổi khi anh ta bị gởi đi xa cho khoảng thời gian không xác định của việc trả thù và cải tạo của Cộng sản, người cha của cô bé được tạo nên thực sự đối với cô bé bởi người mẹ mình vốn là người hàng ngày làm vui thích cho cô bé bằng câu chuyện nầy đến câu chuyện khác về những thành tích của người cha như là một quân nhân TQLC và nói với cô bé hết lần nầy đến lần khác là ông ta yêu thương cô bé nhiều như thế nào.

p570

Bé Ngọc không bao giờ chán ngắm nhìn tất cả những bức hình trong những cuốn album gia đình còn lại, là một trong số vài thứ mà họ đã không bán đi cho thực phẩm, hoặc không chán lắng nghe những mô tả đầy sinh động của mẹ mình về người đàn ông đẹp trai, thần thoại nầy, vốn là người đang ở một nơi nào đó rất xa.
Phần lớn như bé Ngọc có thể tận hưởng cuộc sống ở Sài Gòn, cô bé thực sự thích thú. Những hoàn cảnh đối với gia đình của cô bé, mà qua đó là tất cả những gì mà cô bé đã trải qua và dù sao còn quá trẻ không thể đánh giá một cách đầy đủ, thì giống như nhau đối với hầu hết những người khác mà họ biết. Nhiều, rất nhiều ngàn trẻ em ở Sài Gòn đang lớn lên mà không có được diễm phúc của sự va chạm và sự hiện diện thực thể của những người cha của chúng.
Cuốc xe lửa 3 ngày từ Sài Gòn đến một nơi mà họ cần phải lấy cuốc xe cuối cùng đến Hà Nam là bất cứ cảm giác gì ngoại trừ vui thích. Có rất ít chỗ ngủ, không có chỗ riêng, và tiện nghi tối thiểu. Cô Cẩm bắt đầu cuộc hành trình với khoảng 250 kg thực phẩm, thuốc men và những đồ đạt lặt vặt; một phần trong đó cô ta dự kiến sẽ bán cho người dân ở phía bắc xa hơn vốn là những người muốn như điên mua bất cứ thứ gì từ phía nam, đặc biệt là một số các món ăn mà cô ta có thể mang theo. Việc di chuyển 250 kg đồ đạt –gấp sáu lần trọng lượng cơ thể của cô ta– và thêm nữa là việc chăn dắt đứa con gái của mình đã là một thách thức về việc quản lý chi ly, một thách thức to lớn về việc quản lý không dành cho sự yếu đuối về ý chí hoặc tinh thần. Trong hy vọng sẽ bán được hoặc đổi chác khoảng 50 kg hàng hóa dự trữ đáng giá của mình, một số hàng đó sẽ được dùng như phần trả công cho những việc khuân vác nhằm trợ giúp họ. Cái gì còn lại sẽ được dành cho người chồng của cô ta để tiêu thụ hoặc trao đổi khi anh ta nhìn thấy phù hợp. Khi cô ta và bé Ngọc trở lại Sài Gòn, chuyến đi sẽ ít đòi hỏi về việc quản lý chi ly.
Đến năm 1979, những người Cộng sản đã ít ra có được đoàn xe lửa vốn chạy toàn bộ chiều dài của đất nước để chạy theo một lịch trình khá thường xuyên. Những người Cộng sản kham khổ, vị lợi cho phép sự tiện nghi duy nhất dành cho các đảng viên cao cấp nhất trên xe lửa. Những người dân bình thường chia sẻ sự khốn khổ chung của việc ngồi trong những toa xe hành khách được xây cất thô sơ với những băng ghế ngồi bằng gỗ vốn quá mức số đông và thiết yếu mở ra bên ngoài. Đầu máy xe lửa được đốt bằng than đá, ợ ra khói đen ngồm và phủ lớp lọ nồi đó vào hơi nước ẩm dính rít và làn gió nhẹ của sự chuyển động về phía trước thổi ngược lại vào những hành khách xoay ra bên ngoài. Đến lúc họ đến chặn cuối của một phần đường xe lửa của cuộc hành trình, và ngay cả mặc dù cô Cẩm thương gia đã thành công bán lẻ thực phẩm và hàng hóa nào đó mà cô ta đã hy vọng, cho tất cả mọi người trong số các hành khách chịu đựng khốn khổ lâu dài; những người đàn ông, phụ nữ, những đứa trẻ nhỏ, tất cả mọi người ngoại trừ những bé sơ sinh nhỏ nhất trùm kín bằng chăn, trông giống như những bức tranh biếm họa Việt Nam thu nhỏ và kỳ lạ của nhân vật biểu diễn hài Al Jolson; được mang mặt nạ trong lớp lọ nồi than đá.

(Al Jolson (tên thật là Asa Yoelson) (1886–1950) là nhân vật
biểu diễn hài với những bài hát loại nhạc jazz, được xem là
“Người mua vui Vĩ đại nhất Thế giới”)

(Al Jolson thường được nhớ đến với cách hóa trang thành
gương mặt đen vui nhộn, nhảy múa, hát nhạc jazz, blues)

p571

Phần nhiều như cô Cẩm cố gắng kỳ cọ cho bé Ngọc và chính mình sạch bụi đen trong một dòng suối nhỏ gần đó trước khi họ lên xe vốn sẽ đưa họ gần hơn đến Hà Nam, phần nhiều như cô ta muốn cả hai người trong tình trạng đẹp nhất của mình, cô ta biết rằng anh Bình sẽ mừng quýnh lên khi nhìn thấy và chạm vào họ dù họ trông như thế nào cũng không quan trọng. Cô ta đã đúng.
Sau khi họ rời khỏi xe lửa, cô Cẩm sẽ cần phải thuê hai người khuân vác để giúp cô ta và bé Ngọc lôi kéo tất cả thực phẩm và những đồ đạt lặt vặt mà họ đã mang theo đến Hà Nam. Cô Cẩm cũng có thể mau chóng “thuê” một chiếc xe tải nhỏ tải được chất đầy với củi đốt đang đi theo hướng của họ. Và vì vậy, người vợ và đứa con gái của anh Bình, hai người giúp việc tạm thời của họ, và khoảng 200 kg còn lại của gạo, muối, đường, những que thịt bò khô (loại que thịt khô của Việt Nam tương đương với thịt bò khô ở Mỹ), những lon sữa đặc ngọt đường –cùng một thứ mà người cận vệ có biệt hiệu “Jack Ba ngón Tay”(pc 01) của anh Bình âu yếm đút cho cho một John Ripley kiệt sức sau khi anh ta làm nổ tung cây cầu Đông Hà– một số ít mặt hàng thực phẩm khác, một số loại thuốc, và những đồ dùng vệ sinh cá nhân ngồi cưỡi ở trên một xe chất đầy than củi đến cổng trước của trại cải tạo Hà Nam.
Khi đến với tất cả những thứ tiếp tế của họ, những món hàng được kiểm tra và sau đó một nữ cán bộ khám xét người cô Cẩm và bé Ngọc để bảo đảm họ không mang theo vật dụng bị cấm. Sau đó, họ được phép vào bên trong căn trại. Hai người khuân vác được cho nghĩ.
Một cuộc viếng thăm hai mươi phút mà họ được cho phép bao gồm sự hiện diện, luôn luôn bao gồm sự hiện diện, của một cán bộ chính trị trong phòng với họ. Họ được phép ngồi ở một cái bàn với anh Bình đối diện với người vợ, và một cán bộ ở đầu bàn. Hai mươi phút là một đặc ân, không phải là quyền công dân. Nhận lấy điều đó hay không có gì.
Từ lúc anh Bình đã phải rời khỏi lên đây cho đến ngày mẹ con Cô cẩm khởi hành từ Sài Gòn cho chuyến đi đầu tiên của họ, cô Cẩm khôn ngoan và chung thủy, trên cơ bản mỗi ngày, đã chỉ cho đứa con gái dễ cảm xúc của mình những bức ảnh của một người đàn ông huyền thoại hiện thời vốn là người cha của cô bé. “Đây là cha của con. Ông ta yêu thương con rất nhiều,” là lời nói thường có của cô Cẩm khi cả hai mẹ con dường như rất thích thú ngắm nhìn những bức ảnh của một quân nhân TQLC chương diện bảnh bao trong bộ đồng phục đang đứng với cả hai mẹ con hoặc một mình trong một số ít tấm hình còn lại. Cô Cẩm sẽ kể cho đứa con gái mình những câu chuyện về người cha của cô bé trong một cố gắng dũng cảm để giữ cho kỷ niệm về anh ta vẫn còn sống.

p572

Khi họ cuối cùng đã đến Hà Nam và có thể nhìn thoáng qua anh Bình trong lần rất đầu tiên trong hơn 4 năm, cuộc gặp gỡ lần đầu giữa người cha và đứa con gái không phải là một cuộc hội ngộ vui vẻ; không giống như trong những cuốn phim hoặc trong một câu chuyện cổ tích vui thích. Người đàn ông trước mặt bé Ngọc không phải là người cha của cô bé, ít nhất là không phải là người cha từ tất cả những tấm hình được khoe ra mỗi ngày bởi người mẹ của cô bé. Người đàn ông nầy, người đàn ông rất gầy nầy với nụ cười nhưng hơi thở có mùi hôi và mùi nồng nặc của cơ thể, trông thật dơ bẩn. Người đàn ông nầy quá gầy còm. Người đàn ông nầy vốn là người đã đưa tay ra và nắm lấy bàn tay của cô bé, đã nhắc nhớ cô bé về những người đàn ông hốt rác mà cô bé đã từng nhìn thấy ở Sài Gòn. Người đàn ông nầy làm cô bé sợ hãi. Và sau đó, đột nhiên 20 phút của họ đã hết hạn.
Những thách thức của cuộc hội ngộ lần đầu tiên, được so sánh với sự sửng sốt của đứa con gái của họ, là một điều nhỏ nhặt đối với anh Bình và cô Cẩm. Đối với cả hai người họ, ngay cả với việc nếu đứa con gái của họ tinh tế phân biệt được hướng về người cha của cô bé, đó là một khoảng thời gian vui mừng, mặc dù quá ngắn. Đối với bé Ngọc, cái thực tế về tình huống của người cha mình, mặc dù vượt xa khỏi chuyện có một không hai trong số những người mà gia đình cô bé biết đến, thật là điều khó khăn, gần như không thể nào đối với một bé gái năm tuổi có thể tiếp thu, hiểu được ý nghĩa của việc đó, và cảm thấy an lòng về điều đó. Có một vết thương lòng đích thực được gây ra bởi tất cả những gì mà cô bé vừa tức thời trải nghiệm, và điều đó sẽ mất một thời gian dài và rất dài để chữa lành và để hiểu tất cả những gì vốn đang tiếp tục xảy ra.
Sự thất kinh của bé Ngọc càng trầm trọng thêm bởi chuyến trở về. Để trở lại nơi mà họ cần phải đón xe lửa, cùng con đường mà họ đã tiếp tục đi lên, là một điều khó khăn khi không có xe nào đang đi theo hướng ngược lại và vì vậy, hai mẹ con vốn là những người rất quan trọng nhất đối với anh Bình, đã buộc phải đi bộ 10 cây số hoặc khoảng đó của những con đường không trải nhựa, tối tăm, và rừng rậm đáng sợ trước khi họ một lần nữa đến được một khu vực nơi mà họ đã có thể lấy cuốc xe đến một ga xe lửa. Để nhìn thấy và chạm vào anh Bình, để nói chuyện với anh ta mặt đối mặt và biết rằng anh ta vẫn còn sống và trong tình trạng sức khỏe khá tốt, đang làm yên lòng cô Cẩm. Bây giờ, họ có thể bắt đầu điểm thời gian cho chuyến đi khác vào năm sau nếu những người Cộng sản cho phép điều đó. Giống như người chồng của mình, cô Cẩm sẽ phải gánh chịu nỗi đau đớn, nhưng sẽ không bao giờ từ bỏ hy vọng cho tương lai. Tương lai của họ.
Chuyến đi ba-ngày trở về nhà ít ra đơn giản một chút về vấn đề chăm nom. Không còn bị buột ràng với việc coi sóc 250 kg hàng hóa, gánh nặng chính là cảm xúc; cho cả cô Cẩm và lẫn bé Ngọc. Người chồng của cô ta sẽ sống còn thêm một năm nữa không ?

p573

Những người Cộng sản sẽ tỏ ra rất khoan dung và cho phép cô ta đi thăm một lần nữa không ? Sẽ mất một thời gian là bao lâu cho bé Ngọc năm tuổi có được một sự hiểu biết đích thực đối với điều gì đang thực sự tiếp tục xảy ra ?
Lý do cho sự tồn tại thêm nữa của cô Cẩm, cùng với việc chăm sóc đứa con gái mình, sẽ là vấn đề giựt gấu vá vai và suy tính cho chuyến đi trở lại. Và cô ta đã thực hiện việc đó một lần nữa vào năm 1980, 1981, 1982, và 1983. Hai mươi phút mỗi lần. Trong 5 năm của những chuyến đi thăm, không hoàn toàn có đủ thời gian tích lũy để xem cuốn phim “To Hell and Back” (“Đến Địa ngục và Trở lại”) –cuốn phim vốn có thể đã từng được chiếu hai lần trong suốt thời gian mà John Ripley đang ở dưới cây cầu Hà Đông bắt dây vào nó với những chất nổ– dù một lần. Trong suốt thời gian đó, anh Bình và cô Cẩm cả hai người đã đến Địa ngục đó. Họ vẫn chưa trở lại. Tại thời điểm nầy trong cuộc sống của họ, nó chưa giống như cuộc sống nào đó mà họ đã từng nghĩ đến.
Bé Ngọc sẽ không thực hiện những chuyến đi thăm tiếp theo đến Hà Nam khi chuyến đi quá mắc và những thách thức về tình cảm quá nghiêm trọng. Cô bé sẽ được trông chừng bởi bà ngoại của mình trong khi mẹ cô bé trải qua một tuần lễ vắng nhà, việc đi lại cả hai bận cho chuyến thăm hai mươi phút mà cô được chấp nhận một cách cao thượng. Khi những năm tháng đó bắt đầu trôi qua, bé Ngọc cuối cùng hiểu rằng “con người đàn ông hốt rác” quả thật là người cha của mình, và vết thương lòng giảm đi một chút. Nó phải là thế. Nhận lấy điều đó hay không có gì. Không có một chọn lựa thay thế nào khác đối với những gia đình của những tên tội phạm không can án của họ. Ở giữa mỗi chuyến đi thăm gần như là 400 ngày của công việc vất vả, cực nhọ và buồn tẻ và đau đớn. Nhận lấy hay không có gì.

B- Cuộc sống ở Trại cải tạo Hà Nam đối với anh Bình và Những người Khác :

Hà Nam thì khác biệt từ Yên Bái trong một số cách. Gần bờ biển hơn và nằm ngoài những ngọn núi, nó ấm nhiều hơn trong suốt những lúc ban ngày và lẫn những buổi chiều tối; mặc dù vẫn mát lạnh vào ban đêm. Ít ra khi có nước cho việc tắm gội mà không một ai bị đông cứng trong đó trong mục đính làm sạch mình, hoặc trong thực tế, chỉ đơn giản là bớt hôi hám.
Những nhiệm vụ của anh Bình ở Hà Nam tập trung vào việc làm ra những vật liệu khoáng sản –biến những tảng lớn trở thành những cục đá nhỏ– như là một trại riêng biệt mà anh ta trong đó làm ra bê-tông cho những dự án khác nhau gần đó. Anh ta sẽ làm công việc giống nhau mỗi ngày. Mỗi một ngày mà anh ta ở Hà Nam, anh ta làm cùng một công việc.

p574

Hà Nam cũng khác biệt từ Yên Bái, trong đó nó là một nhà tù được điều hành bởi công an và không phải là quân đội. Đối với mức độ mà một vài tác phong nhã nhặn chuyên nghiệp và một chút tôn trọng được tồn tại giữa những người đối nghịch ở Yên Bái, mà qua đó bị biến mất ở Hà Nam. Có lẽ, lực lượng công an vốn là những người điều hành Hà Nam, cảm thấy bị đe dọa vì không phải là những cán binh. Bất cứ điều đó là gì; hoặc là có một loại phức cảm tự ti quen thuộc nào đó của thể chế hay không có, anh Bình nhận thấy rằng ban lãnh đạo và những tay canh giữ nói chung chỉ là bần tiện trắng trợn và tham nhũng hơn. Ít nhất là những tay canh giữ và những tay cai ngục có thể được hối lộ và mua chuộc đến một mức độ nhất định. Một khi những chuyến đi thăm các tù nhân từ gia đình được khởi xướng, cuộc sống bắt đầu cải thiện từ đó rất nhẹ nhàng.
Giữa những gói hàng nhỏ mà cô Cẩm gởi cho người chồng của mình qua bưu điện, và cái gì mà cô ta mang theo trong suốt những chuyến đi thăm hàng năm trong vòng 20 phút bị giám sát toàn bộ, anh Bình có thể ăn tốt hơn mặc dù trọng lượng của anh ta vẫn ở mức thấp khi những nhu cầu công việc và những phần ăn theo quy định vẫn còn ít ỏi đã khiến cho tất cả các tù nhân bị suy dinh dưỡng một cách đáng kể. Trong vòng tròn của bạn bè mà hầu hết các tù nhân phát triển, những thứ được chuyển vào gồm thực phẩm và những đồ dùng vệ sinh cá nhân thông thường được chia sẻ cho lợi ích của mọi người.
Đó không phải là điều bất bình thường trong khi hàng hóa dành cho các tù nhân được nhận được vào lại dành cho những tay canh giữ hoặc những cán bộ ngẫu nhiên cho rằng một món hàng như thế và như thế thì không được phép và chiếm lấy nó cho mình. Nếu tiền được nhét cho các tù nhân và những tay canh giữ phát hiện ra, chúng sẽ khiến cho họ trao đổi nó cho thẻ tiền được sử dụng tại gian hàng nhỏ bán đồ tạp nhạp của nhà tù. Căn-tin của nhà tù được thiết lập cho nhân viên mua những thứ lặt vặt. Các tù nhân chỉ có thể mua những món hàng còn sót lại mà không nhân viên nào khác muốn; mà qua đó thường có là những thứ giống như những cái bánh nướng giòn vốn đã cứng như xương trên các kệ hàng và sẽ làm gẫy răng nếu phải cắn vào. Những người vợ buộc phải trở nên sáng tạo hơn một chút trong việc luồn lậu tiền mặt vào cho những người chồng của họ; mà qua đó họ đã thực sự làm thế.
Một mặt hàng được đánh giá cao nhất bởi các tù nhân khi những người vợ đến là đường. Loại đường cát, nguyên thô, chưa tẩy trắng (i.e. đường cát vàng thô). Với những phần ăn cực kỳ nhạt nhẽo, ít ỏi của họ gồm canh, rau, rất ít cơm, và chất đạm, không bao giờ có bất cứ món gì là ngọt. Ngay cả đối với những công dân bình thường, không bị giam giữ, có rất ít đường để chia sẻ chung quanh. Đối với những tù nhân, chính là thứ yêu thích nhiều hơn đó. Đối với mỗi tù nhân “đường quý hơn những hạt kim cương.” Và đáng thú vị rất nhiều hơn.

p575

Rất thèm khát và đói lòng cho bất cứ thứ gì ngọt mà tất cả các tù nhân cảm thấy, mà qua đó khi được cho ít đường cát vàng thô, phản ứng đầu tiên của họ luôn luôn là tộng nó xuống ngay lập tức. Đường và kẹo không được vui vẻ chia sẻ, ngay cả trong số những người bạn, như là cơm và kem đánh răng.
Theo thời gian, với mỗi chuyến đi thăm kế tiếp của người vợ và gia đình của một tù nhân, anh Bình và những người bạn đồng cảnh của anh ta sẽ tích lũy những khoản tiền nhỏ và các mặt hàng khác để trao đổi. Hầu như mọi thứ mà họ có, là kết quả của sự lao động muốn gẫy lưng và lòng trung thành kiên định của những người vợ của họ. Tại Hà Nam, một trong những tù nhân đã bằng cách nào đó có thể thu mua được một đài phát thanh bán dẫn. Vì những lý do an ninh, nó luôn luôn được giữ kín gồm nhiều mảnh hợp phần. Khi họ có thể tụ tập với nhau trong sân nhà tù, mỗi người giữ lấy của một mảnh hợp thành sẽ khéo léo chuyền nó đến một người bạn khác vốn là người khác sẽ nhanh chóng lắp ráp lại đài phát thanh và họ sẽ túm tụm với nhau, cố gắng không để thu hút quá nhiều sự chú ý và lắng nghe cái gì mà họ có thể từ đài BBC (British Broadcasting Corporation: Liên đoàn Phát thanh của Anh quốc) hay đài VOA (Voice of America : Tiếng nói Hoa Kỳ). Điều mà họ có thể để lắng nghe sau đó sẽ được rỉ tai và được nói lại cho các tù nhân vốn là những người đã không trực tiếp nghe tin tức.
Những tù nhân biết thêm về thế giới bên ngoài hơn mỗi một người trong số những cán bộ của họ. Họ biết về cuộc chiến tranh với Trung Quốc. Họ biết rằng những người Sô-Viết đã xâm lăng đất nước Afghanistan. Họ biết về phi thuyền con thoi không gian, mặc dù không biết một cách chính xác nó trông giống như cái gì. Họ biết gần như mọi thứ. Những cựu sĩ quan quân đội của Việt Nam Cộng hòa trong vũ trụ nhỏ bé của anh Bình bị xáo trộn một cách đặc biệt khi họ biết được về sự cố gắng trên cuộc đời của vị Tổng thống Ronald Reagan chống Cộng mạnh mẽ. Mà qua đó ông ta đã sống sót từ viên đạn của tên sát thủ, được nhìn thấy như là một điềm báo thuận lợi.

(Tổng thống Ronald Reagan ngay tại địa điểm sắp biến thành hiện trường ám
sát ông ta vào ngày 30/03/1981 trong khi đang rời khỏi Khách sạn Washington
Hilton ở thủ đô Washington, D.C. sau cuộc nói chuyện với báo chí)

(Tên sát thủ John Warnock John Hinckley, Jr. bị bắt tại hiện trường lúc 26
tuổi, nhưng sau đó không bị buộc tội vì lý do điên khùng khi hắn ta muốn
tạo ấn tượng đối với nữ minh tinh thiếu niên Jodie Foster lúc bấy giờ)

Chính là lúc trong khi kín đáo lắng nghe các chương trình phát sóng của đài VOA mà anh Bình và các bạn tù của mình lần đầu tiên nghe nói về một cái gì đó được gọi là Chương trình Ra đi Trật tự, được gọi tắt là ODP (Orderly Departure Program). Chương trình Ra đi Trật tự được thiết lập vào năm 1979 như là một cách để xúc tiến việc nhập cư của những người Việt Nam đến Hoa Kỳ. “ODP” trở thành gần như một thuật ngữ kỳ diệu, một câu thần chú mà qua đó sẽ cho rất nhiều người trong nhóm đang gánh chịu khốn khổ lâu dài nhưng không bao giờ cải tạo được một hy vọng mới cho tương lai của họ. Chính là lúc trong khi anh ta vẫn là một tù nhân ở Hà Nam mà qua đó Lê Bá Bình nhất định rằng anh ta và gia đình mình sắp sửa đi Mỹ. Cuối cùng là thế.
Cuộc chiến tranh ở Việt Nam, ít ra là một cuộc chiến được hiểu bởi những người Mỹ vốn là những người đã từng đến và tham gia vào với sự đầu tư quá nhiều nhân lực và vật chất, vẫn còn đang tiếp diễn, mặc dù theo một phương cách gần như không thực, khó nhận ra được.

p576

Một chiến thắng vốn lảng tránh nỗ lực của Mỹ, một chiến thắng mà qua đó chưa từng bao giờ bị giảm đi sự xác định hoặc được đặt ra như là một mục đích để đạt được, hiện thời đang được tiến hành giữa các cai tù Cộng sản và những công dân mới, từng bị bắt làm nô lệ của họ.
Không giống như một cuộc chiến quy ước, loại mà giữa các đối thủ được trang bị vũ trang với những hạn chế về thể chất và hậu cần của nó –bạn chiến đấu cho đến khi bạn không còn binh lính hoặc viên đạn nào và sau đó phá vỡ việc liên lạc– để sống còn trong trại tre lao động cưỡng bức rừng đòi hỏi những kỹ năng khác, những sức mạnh khác. Cuộc chiến tranh trong các trại tù được di chuyển đến một đấu trường hoàn toàn khác biệt. Thêm vào những cai tù của họ, kẻ thù mới là thời gian và nghi ngờ, thất vọng và đói kém. Để có được một chiến thắng, người đàn ông phải chịu đựng thời gian, vượt qua sự nghi ngờ, và đè nén sự tuyệt vọng và cơn đói của mình. Chính là điều đó hoặc mất mạng. Trong mỗi ngày. Những người cộng sản có quyền sở hữu những thể xát của các tù nhân và kiểm soát dạ dày của họ, nhưng những trái tim và tâm trí của họ không nhất thiết phải theo. Và cuộc chiến tranh đang tiếp tục; không có sự kết thúc.
Đối với anh Bình và mỗi người đàn ông bị giữ lại trong trận chiến hàng ngày cho quyền kiểm soát tư tưởng và sự trả thù và trừng phạt, cuộc chiến thắng được giảm đến một mức tối thiểu hết mức. Mỗi ngày mới, khi nó đến quá chậm và thay thế một ngày quá chậm kết thúc, nếu một người vẫn còn sống và không hoàn toàn bị phá vỡ và chịu thua đầu hàng, là một chiến thắng. Mỗi ngày mới, khi một người, tuy thế, nhân lên nhiều người ở đó vốn đang còn ở lại trong hàng trăm căn trại khắp tất cả trại lao động cưỡng bách của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, vốn là những người đã không từ bỏ và chịu thua cho phía bên kia, là một bàn thắng. Mỗi ngày mới mang anh Bình một ngày gần đến sự giải thoát hoặc cái chết hơn, và anh Bình biết rằng cách nào đi nữa, anh ta sẽ rời khỏi bất cứ cái trại gì gì đó mà anh ta đang ở trong đó, không nhượng bộ cho những lời dối trá và ngu ngốc mà những tên cai ngục đang cố gắng để nhét vào trong tâm trí của anh ta.
Những người vốn hiện thời kiểm soát toàn bộ địa lý Việt Nam, đã viết lên sự thật về lực lượng TQLC(pc 02) và Quân đội Việt Nam Cộng hòa từ những cuốn sách lịch sử. Mỗi bản sao của bài nhạc “Cờ Ta Bay trên Quảng trị Thân Yêu” được tìm thấy và bị tịch thu bởi những người Cộng sản, đã bị phi tan. Bài hát sẽ không bao giờ được phát một lần nữa qua những làn sóng vô tuyến tự do trong nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, không ai có thể khiến cho không phát ra trong tâm trí của Lê Bá Bình hoặc những tâm trí của những người bạn và những bạn tù của mình; và đã có một chiến thắng trong điều đó.

p577

Ở nơi sâu kín trong tâm trí của anh Bình, anh ta có thể nhớ lại một cuộc trò chuyện mà anh ta nghe được trước đây theo kinh nghiệm “cải tạo” của mình, giữa một tù nhân mà anh ta không còn có thể nhớ cái tên và một tên cai tù mà anh ta không thể nhớ nổi tên. “Anh sẽ giữ chúng tôi bao lâu ?” Là câu hỏi nghiêm chỉnh của một tù nhân.
Câu đáp lại, vào lúc đó dường như quá tàn nhẫn thậm chí không thể nào tưởng tượng, thật lạnh lùng và rất thực tế. “Bạn sẽ trải qua một năm trong việc cải tạo cho mỗi năm mà bạn phục vụ chính phủ bù nhìn.” Sự đánh giá đó trước đây cuối cùng sẽ chứng minh là gần chính xác đối với hầu hết các tù nhân.*
Chỉ đơn giản là để sống thêm một ngày trong sự đối mặt với những điều kiện khủng khiếp khốn khổ, thường bị cô lập về thể chất và tình cảm; để sống còn đối với các tay canh giữ và những cán bộ vốn là những người, theo cách diễn tả hay nhất, lạnh lùng và có trái tim băng giá tồi tệ nhất và tàn bạo, trong đóng rác rưởi và hủ bại, bị tách biệt khỏi gia đình chỉ với sự thừa nhận của những người bạn gần gũi đồng cảnh ngộ, của thư từ thỉnh thoảng từ quê nhà và bây giờ, một lần trong một năm của cuộc thăm viếng 20 phút được giám sát; để sống mà không có thức ăn và thuốc men đầy đủ, với cái đói kinh niên; để vẫn còn chịu lạnh và không được làm cho ấm áp vào ban đêm; để vẫn còn chịu nóng và không được nghĩ mệt trong suốt cái nóng làm cho vô dụng trong ngày; để cố gắng ngủ với tiếng vo ve lanh lảnh gây phiền nhiễu quá mức của những con muỗi mang đầy bệnh hoạn, luôn luôn vang lên bên tai bạn và hút máu của bạn bởi vì những cái lưới mùng mà họ được cấp cho, luôn luôn có những cái lỗ, ngày nầy qua ngày khác, bị hư hại giảm xuống đến không còn là gì cả và không bỏ cuộc –đó là một chiến thắng. Và vì thế, cuộc chiến tranh tiếp tục, không có sự kết thúc.
Đối với những người Mỹ vốn là những người đã vẫn còn ở Sài Gòn –bây giờ là thành phố Hồ Chí Minh– đến phút cuối cay đắng, cái trượt vào trong vực thẳm kinh tế đã có thể tạo ra một nơi gần như không thể nào nhận ra trong những năm theo liền sau sự cưỡng chiếm của Cộng sản. Không một người Mỹ nhìn thấy tận mắt nào có thể đã quên đi sự kiện đó trước khi cuộc kết thúc, có những người nghèo, những người dân trên những đường phố đang ăn xin, những người cần sự giúp đỡ. Và tuy thế, với tất cả nỗi khốn khổ gây ra bởi cuộc chiến tranh mà qua đó có thể được đổ lỗi cho ông Thiệu và ông Nixon và ông Kissinger bởi những người Cộng sản, vẫn còn có thực phẩm có sẵn để mua dùng. Những chợ buôn bán thửa thải với sản phẩm và cá và các loại thịt và hàng hóa.
=============
* Đó là điều rất phổ biến đối với những người có chức vụ cao so với anh Bình, những sĩ quan với chức vụ chính thức là Đại tá và Tướng, kết thúc thời gian trải qua từ 16 đến 17 năm trong việc cải tạo –nếu họ bằng cách nào đó có thể chịu đựng được thời gian dài đó. Những người đàn ông đó và gia đình của họ có những thách thức thậm chí còn lớn hơn về tình cảm và tâm lý để phải đối mặt một khi được hội ngộ với người thân.
=============

p578

Đến năm 1979, sự khốn cùng và sức sản suất bị mất đi do việc loại bỏ thử những lực lượng của thị trường tự do đã phân chia lại nỗi đau đớn của những thiếu thốn đến một tỷ lệ phần trăm lớn hơn nhiều, gần như 100%, trong dân số. Qua sắc lệnh của nhà cầm quyền, những luật lệ về cung và cầu đã được hủy bỏ, và tuy thế, giá cả vẫn là cách, thông qua thị trường chợ đen, để phân phối các nguồn sản phẩm khan hiếm. Huyết mạch của tiêu khoản chăm sóc từ Mỹ và Canada và Pháp và ở bất cứ nơi nào khác trở thành một nguồn hàng hóa chính mà qua đó bổ sung cho cái gì mà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam không còn khả năng sản xuất.2

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ anh Jack : là một quân nhân TQLC Việt Nam được chọn là người cận vệ cao cấp của Thiếu tá Lê Bá Bình, vị tiểu đoàn trưởng của Tiểu đoàn 3 TQLC, sau nầy anh ta cũng làm cận vệ cho cả Đại úy cố vấn Ridley. Tên Jack là do Đại úy Ridley đặt cho anh ta để dễ gọi (được nhắc đến trong phần 27, p370).

pc 02_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.

One thought on “Phần 40: Anh Bình Sống sót trong Trại tre Lao động Cưỡng bức

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s