Phần 04: Cú chơi Liều mạng Cuối cùng

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p49

Phần 04: Cú chơi Liều mạng Cuối cùng

Trung đội 1, Đại đội Lima,
Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 3 Thủy quân Lục Chiến (3/3)
Bắc Quân khu I, Việt Nam Cộng Hòa
Thứ năm ngày 02 tháng Ba năm 1967
1630 giờ

Đối với những quân nhân Thủy quân Lục chiến (TQLC) của Đại đội Lima 3/3 vốn là những người sống sót trong một trận chiến không tên vốn có thể được mô tả chỉ bằng một trục tọa độ kẻ ô ít người biết đến, một nơi nào đó ở khu rừng rậm nằm hướng tây bắc của Đông Hà ở phía trên gần Khu phi Quân sự mà qua đó diễn ra trong suốt những giờ ban ngày của ngày 2 tháng Ba năm 1967, ngày đó sẽ là một điểm trong thời gian vốn xác định được họ, một ngày mà nó đánh dấu họ, một ngày mà nó thử nghiệm, trên hết những ngày khác, liệu có hay không cái gì đó mà họ có khi nó nhận lấy để chịu đựng tất cả thứ gì mà cuộc chiến tranh có thể bày ra, là những khủng khiếp kinh hồn nhất của chiến tranh, và họ vươn lên để vượt qua chúng.

(Huy hiệu của 3/3 TQLC Mỹ ở Việt Nam)

(Cuộc hành quân ở Đông Hà của TQLC Mỹ)

Đến khoảng 1500 giờ vào ngày 2 tháng Ba năm 1967, Chuck Goggin, là một Hạ sĩ quan chỉ có hai ngày, vì sự cần thiết, đã nắm lấy quyền chỉ huy của những gì còn sót lại của Trung đội 1 thuộc Đại đội Lima. Không hẵn là mười ba tháng trước đó, lúc Corporal Goggin còn là một thường dân, một lực sĩ thể thao trẻ đầy hứa hẹn đang làm cái gì mà anh ta có thể để tạo điều đó trở thành như là một đấu thủ của đội dã cầu (baseball) lớn. Là một người trong một nhóm tương đối nhỏ của những quân nhân TQLC thực sự đăng lính trong suốt cuộc Chiến tranh Việt Nam, anh ta đã được thăng lên chức Binh nhất một cách xứng đáng trong suốt thời gian trải nghiệm được rút ngắn tám tuần ở trại huấn luyện quân sự của mình được thực hiện ngắn hơn bởi những nhu cầu của cuộc xung đột. Trường học chính thức, duy nhất của anh ta theo những sự khắc nghiệt của trường quân sự trên Đảo Parris đã từng là một ITR (Trung đoàn Huấn luyện Bộ binh), một chương trình huấn luyện bộ binh bốn tuần được đưa ra cho tất cả những quân nhân TQLC hướng đến sự phục vụ với các đơn vị trong hàng ngũ.

p50

Và bây giờ anh ta nắm quyền chỉ huy, có thẩm quyền về cái sống và cái chết của cái gì đó còn lại của Trung đội 1 thuộc Đại đội Lima trong cuộc đấu tranh vì sự sống của mình.
Từ tháng Bảy ngày qua phần đầu của tháng Mười Hai năm 1966, anh Chuck phục vụ như là một tay súng trường trong một trong số ba tiểu đội của Trung đội 1 thuộc Đại đội Lima. Giai đoạn đó hơn là đủ dài cho anh ta để chuyển đổi từ một người lính mới đến một chiến binh trong rừng có kinh nghiệm. Năm tháng đó cho anh ta nhiều thời gian chiến đấu hơn anh ta muốn có, những cơ hội để nhìn thấy quá nhiều những người bạn đồng hướng bị thiệt mạng hoặc bị thương, và phát triển các mức độ của tình bạn với những quân nhân khác của TQLC(pc 01) mà qua đó vượt qua bất cứ điều gì mà anh ta đã từng biết đến ở bất cứ nơi nào khác.
Nhận thức được thế chủ động và vai trò lãnh đạo của mình, Thiếu úy John Bledsoe chọn Chuck Goggin, bây giờ là một Hạ sĩ, để phục vụ như là truyền tin viên cho trung đội vào đầu tháng Mười Hai. Công việc của truyền tin viên là một công việc tỉ mỉ. Nghe nói rằng kẻ thù luôn luôn nhắm mục tiêu vào ban lãnh đạo của một đơn vị, những y tá quân y , và những truyền tin viên của nó trước nhất. Cùng với việc trở thành một mục tiêu có lợi ích nhiều hơn đi đến sự thử thách đòi hỏi gia tăng về thể chất của việc vác lên lưng thêm một trọng lượng khoảng 13.6 kg của đài truyền tin AN/PRC-25 (được gọi như là “Cái dựng Đứng-25” (“Prick-25”) bởi những binh lính), bao gồm cục pin dự phòng.

(Đài truyền tin AN/PRC-25 (Prick-25) được mang trên
lưng,nặng khoảng 13.6 kg, được sử dụng vào năm 1965)

(Đài truyền tin AN/PRC-77 (Prick-77), được cải thiện nhẹ hơn
–nặng khoảng 6.2 kg– và được sử dụng vào năm 1968)

Những truyền tin viên được yêu cầu phải theo nghĩa bóng là dính liền ở bên hông với vị chỉ huy mà họ đang phục vụ. Bất cứ khi nào anh ta ta đi, họ đi theo. Khi họ chưa chuẩn bị truyền tin lời yêu cầu cho sự hỗ trợ của pháo binh hoặc Không quân hoặc cuộc tải thương khẩn cấp bằng trực thăng, họ cần lắng nghe cho sự chỉ dẫn từ một đơn vị cao hơn gần đó –trong trường hợp của Hạ sĩ Goggin, những mệnh lệnh và yêu cầu cho thông tin từ vị chỉ huy đại đội. Những vị chỉ huy trung đội và những vị chỉ huy đại đội sẽ sống, ăn, chiến đấu, và ngủ bên cạnh những người vốn trở thành, theo mặc định, những bản thể thay thế khác của họ. Cường độ của cuộc chiến đấu phát triển những sự liên kết một cách nhanh chóng và những đòi hỏi về sinh tồn là như một truyền tin viên giỏi có thể luôn nằm trong tâm trí của người cấp trên của anh ta, vốn là người sẽ dự đoán và gần như biết trước điều gì phải làm, điều gì cần yêu cầu, khi nào nhận được sự hỗ trợ của hỏa lực từ những yêu cầu được gởi đi.
Cái khả năng để quan sát một cách liên tục những hành động của các sĩ quan được đào tạo từ trường lớp của họ, để chứng kiến sự phối hợp với các đơn vị hỗ trợ được yêu cầu cho sự thành công, để nhìn thấy làm cách nào các bộ phận phù hợp với nhau, đã cho một nhận thức rộng lớn hơn và một hình ảnh lớn hơn so với cái hiện có chỉ ở cấp của người cầm súng trường.

p51

Một truyền tin viên đặc biệt sáng suốt thậm chí có thể học hỏi bằng cách quan sát và trải nghiệm làm cách nào định hướng trên bộ, điều gì đòi hỏi để điều động một đơn vị trong cuộc giao chiến, làm cách nào để điều chỉnh pháo binh vào trong một mục tiêu đang di động. Nếu năm tháng quân vụ đầu tiên của Hạ sĩ Goggin ở Việt Nam là văn bằng tốt nghiệp đại học của anh ta qua việc chiến đấu trong cuộc chiến tranh, anh ta bắt đầu làm việc trên bằng thạc sĩ, không có một luận án nào đòi hỏi, là ngày mà anh ta đeo vào cái đài truyền tin PRC-25. May mắn cho những người của Trung đội 1, Hạ sĩ Chuck Goggin sẽ chứng minh là, một lần và thêm một lần nữa, một người học hỏi rất mau chóng.
Điều đó không phải là lạ lùng gì cả, giả sử là những cá nhân được xoay vòng liên tục, vì bị thương hoặc bị thiệt mạng, để có những đơn vị được chỉ huy bởi những người thuộc cấp bậc thấp hơn được trù tính cho. Thời gian quân vụ thông thường của Thiếu úy Bledsoe với 3/3(pc 02) thuộc Đại đội Lima kết thúc vào tháng Mười Hai năm 1966. Không có một cấp úy nào khác có sẵn ngay lập tức để tiếp nhận trung đội, công việc rơi vào vị Trung sĩ trung đội của Trung đội 1. Phó Trung sĩ nhất Gerald Witkowski –được gọi là, theo cách tự nhiên, “Phó Trung sĩ nhất ‘Ski” bởi những binh lính TQLC của mình– đảm nhận những nhiệm vụ trong 9 đến 10 tuần sau đó, cho đến khi một cấp úy mới xuất hiện. Thiếu úy Terry Heekin, mới ra khỏi Trường Cơ bản ở thị trấn Quantico, và là người cuối cùng được đề cử để thay thế vị Thiếu úy cuối cùng, đã ở với Trung đội 1 chỉ có một hoặc hai ngày trước khi có hoạt động của Đại đội Lima vào ngày 1 tháng Ba năm 1967.
Trong cuộc sống trước đó, Chuck Goggin đã là một đấu thủ dã cầu. So với một số lượng tương đối của những người bạn đồng đội của anh ta trong Trung đội 1 và phần còn lại của Đại đội Lima, anh Chuck thực tiển là một ông già. Gần 22 tuổi, tốt nghiệp Trường Trung học Pompano Beach vào năm 1963 và ngôi sao dã cầu đã từng chơi cho đội bóng trong một khoảng thời gian nào đó tại một trường cao đẳng ở Florida trước khi đang được chọn ra bởi tổ chức đội dã cầu Los Angeles Dodgers vào năm 1964. Trong hai năm, anh ta chơi cho những đội Hạng A của Dodgers, lần đầu tiên như là một đấu thủ giữ vị trí thứ hai trong sân chơi với đội Salisbury Dodgers của Liên đoàn West Carolina và sau đó là một đấu thủ đứng vòng ngoài sân với đội St Petersburg Saints của Liên đoàn Florida State. Một chấn thương trong suốt mùa tranh giải đầu tiên của anh ta, những dây chằng bị rách ở đầu gối trái của anh ta, loại mà đòi hỏi cuộc phẫu thuật qua đó để lại một vết sẹo như đường rầy xe lửa, đáng lý ra đã miễn cho anh ta khỏi việc phục vụ quân sự nếu anh ta thúc đẩy nó. Nhưng điều đó không phải là cách mà Chuck Goggin thực sự làm việc.
Giữa vô số giờ của việc theo dõi làn sóng vô tuyến và đào những cái hố chiến đấu và lang thang trên những con đường mòn trong rừng, của việc chiến đấu với Quân Bắc Việt và những phần tử khác, Hạ sĩ Goggin đôi khi có sự sang trọng hiếm hoi của một ít khoảnh khắc để ngẫm nghĩ về thế giới dã cầu và trong cách đau đớn của nó, tưởng tượng tất cả điều đó đang di chuyển về phía trước mà không có anh ta.

p52

Vào khoảng cùng thời gian mà Đại đội Lima liên tục giao chiến với những đơn vị của Quân đội Bắc Việt và cảm thấy khó thể tiêu diệt chúng; những người bạn đồng đội cũ của anh Chuck, muốn lãng quên đi điều gì đang xảy ra ở Quân khu I về phía bắc, đang bắt đầu cuộc huấn luyện vào mùa xuân của họ, đang gánh chịu những lo lắng của việc tạo ra sự cắt giảm hay không. Trong khi Đại đội Lima đã nướng và trở nên gần như bị sấy khô trong những cái lò nướng của khu rừng già ẩm thấp của Việt Nam và chịu đựng một hệ thống cung cấp nước ngoại biên, những người bạn thân cũ của đội dã cầu của mình, anh ta biết, mỗi đêm cho tiền huê hồng một vài người và cùng ăn uống với những người đàn bà trẻ đẹp hiện có dư thừa ở đó trong tiểu bang Florida nắng chói.
Trong những nỗ lực liên tục nhằm truyền thụ và huấn luyện những người lãnh đạo ở mọi cấp độ, Quân đoàn TQLC làm một công việc hợp với khuôn phép với việc khắc sâu các nguyên tắc lãnh đạo, đặc biệt là đối với cuộc chiến đấu. Nơi mà sự hướng dẫn lớp học tập trung vào các khái niệm cơ bản nhất vốn có thể được rút ngắn trở thành những từ dễ nhớ và những chữ viết tắt cho việc nhồi nhét trở lại và kiểm khảo dễ dàng, thế giới thực sự có một chút nản lòng hơn. Khi tất cả những câu châm ngôn về vai trò lãnh đạo, mà qua đó thường có vẻ giống như một trang giấy bị đánh cắp từ Hướng Đạo, là phần cơ bản nhất đối với việc thực hành –có một lời châm biếm vượt thời gian gièm pha Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ vốn đùa rằng sự khác biệt duy nhất giữa Hướng đạo và Quân đoàn Thủy quân Lục chiến là ít ra Hướng đạo có ban lãnh đạo thuộc người lớn– điều đó có thể được tóm tắt một cách khá tốt đẹp rằng người lãnh đạo thành công chăm sóc cho cả nhiệm vụ được giao và những binh lính TQLC của mình. Nếu một người lãnh đạo có thể kết hợp với nhau vô số các thành phần cấu thành mà anh ta ta cần đến để thực hiện sứ mệnh của mình trong khi giám sát những người của mình theo một cách vị tha, những cơ hội thành công của anh ta ta rất cao. Như vị Hoàng đế nước Pháp Napoleon nổi tiếng chủ trương là: “Không có những trung đoàn tồi tệ, chỉ có những vị đại tá tồi.” Và một người bạn Pháp Dutourd những năm sau đó đưa ra sự quan sát có kết quả tất yếu với lời nhận xét đáng nhớ của anh ta ta là: “Những người đàn ông không phải là những con sư tử cũng không là những con cừu. Chính là người đàn ông vốn là người dẫn dắt họ, vốn là người biến đổi họ trở thành những con sư tử hoặc những con cừu.” Đại úy John Walter Ripley có ý muốn bảo đảm rằng những quân nhân TQLC của anh ta ta đi vào chiến trường như là những con sư tử. Đó là chủ ý quan trọng nhất của anh ta ta mà Đại đội Lima sẽ là vua của kinh nghiệm rất thật về rừng của nó.
Việc xây dựng Đại đội Lima trong hình ảnh của vị Đại úy trẻ tuổi của nó được bao gồm xa hơn nhiều thì rõ ràng ngay cả đối với một quân nhân được đào tạo kỹ lưỡng. Điều đó không phải chỉ là công cụ cho cuộc chiến đấu, điều đó cũng là những thứ khác vốn xây dựng nên họ.

p53

Những thứ nhỏ nhặt. Rất nhiều. Được thêm vào với nhau, từng chút một, những tương tác cá thể được kết hợp bắt đầu trở thành hiện thực. Những thứ giống như mang người đầu bếp của đại đội ty vào chiến trường tại “ngọn đồi đại đội” ở Cà Lu hơn là giữ anh ta ở khu vực phía sau, do đó những người lính có thể có nước nóng để cạo râu và cho việc nấu canh và pha cà phê.1 Những thứ mà cho thấy mức độ quan tâm những người khác đã không được xem là có thể có hoặc thực tiển. Nếu một người nào đó ở phía sau nói với Đại úy Ripley là “không,” anh ta ta sẽ tìm cách một cách để đi đến tiếng “có.”
Trong việc huấn luyện những binh lính TQLC(pc 01) của mình, nhiều người trong số họ với thời gian chiến đấu rất nhiều hơn so với anh ta ta sau nầy có được, anh ta ta mang kiến thức của Trường Biệt kích, của tính cách chuyên nghiệp trong việc tuần tra của mình từ những ngày của anh ta ta ở Lực lượng Trinh sát. Anh ta ta bị mắc kẹt với điều cơ bản. Trong trò chơi bóng cầu dục, họ gọi đó là việc “ngăn cản và túm lấy.” Trong Quân Đoàn, họ gọi đó là “di chuyển, bắn, liên lạc.” Nắm vững những điều cơ bản và bạn làm chủ chiến trường.
Mọi thứ được diễn tập. Tất cả những quân nhân TQLC biết những công việc của họ và hầu hết mọi người biết các công việc của những người khác nếu những bạn đồng hướng ngã xuống và những vị trí cần được trám vào. Khi họ tiến hành sự di chuyển để giao chiến, hơn 200 binh lính TQLC và những y tá quân y của Đại đội Lima di chuyển một cách lén lút và liên lạc đạt 100% theo cách ra dấu không lời. Khi cuộc giao chiến được thực hiện, một mức độ trật tự nhất định là bằng chứng trong cảnh hỗn loạn ồn ào chắc chắn là thế và tiếng gầm thét của cuộc chiến đấu.
Tất cả binh lính TQLC trong cuộc chiến đấu muốn có sự tự tin nơi những người lãnh đạo của họ. Sự mong mỏi đó tuôn ra không phải từ tình cảm nhưng phần nhiều từ bản năng tự bảo toàn. Những người lãnh đạo có khả năng không điên rồ bắt những người của mình chịu thiệt mạng. Thêm vào sự hỗn hợp là lòng tự tin mà những người đàn ông của Đại đội Lima có ở nơi khả năng của vị “thuyền trưởng” (i.e. tiếng lóng cho đại đội trưởng) TQLC của họ đưa đến vũ lực yễm trợ chính xác. Ngoài việc quản lý một danh sách của những thứ mà một người lãnh đạo trong cuộc chiến đấu cần đến và cần phải làm, có lẽ thậm chí còn quan trọng hơn thứ tương đương của Quân đoàn TQLC với tính chất tiết kiệm, sạch sẽ, và tôn kính, là khả năng để thực hiện việc định hướng hiệu quả trên bộ. Để mang vào công cuộc tải thương khẩn cấp đó, để kêu gọi vào và điều chỉnh pháo binh một cách chính xác, và, nếu họ đang hoạt động gần bờ biển hơn, tiếng súng của Hải quân, có nghĩa là luôn luôn biết một cách chính xác gần nơi nào mà Đại đội Lima đang có mặt.
Phần lớn sự hướng dẫn ở Trường Cơ bản được dành riêng cho việc nắm vững tất cả những khía cạnh của vấn đề định hướng trên bộ. Những vị Trung úy trẻ sẽ trải qua hàng giờ nầy đến hàng giờ khác trong lớp học cho việc ôn luyện các nguyên tắc cơ bản và những điểm tế nhị trong việc sử dụng chính xác bản đồ và la bàn.

p54

Từ lớp học đến bên ngoài thực tế, những vị Trung úy sẽ đổ mồ hôi ra cho thời gian trong việc cố gắng di chuyển một cách chính xác từ điểm này đến điểm khác, bằng cách sử dụng tất cả những tài năng và phát triển các kỹ năng liên kết địa hình của họ. Trong khi một số người theo tự nhiên giỏi hơn những người khác, giống như mọi thứ khác, việc nắm vững vấn đề định hướng trên bộ đòi hỏi sự tập trung và nỗ lực lớn lao về trí tuệ. Trong số những tội lỗi trầm trọng nhất mà một sĩ quan trẻ có thể phạm vào, một cách chắc chắn để tiêu diệt tinh thần chiến đấu và lòng tự tin của một trung đội hoặc đại đội, là khiến họ bị lạc hướng, đặc biệt là nếu nơi đó là Quân khu I ở phía bắc.
Một trong những chương trình truyền hình phổ biến vào thời điểm đó là “F Troop” (“Toán quân F”). Chế giễu cả hai phía trong thế cân bằng của miền Tây Hoang dã, những người lính vụng về của đoàn Quân kỵ Mỹ được đưa ra đọ sức chống lại những Dân da Đỏ vô hại như nhau. Tên của một bộ lạc –Hekawi– là một câu đối thoại kịch bản tế nhị mãi mãi như khi Trung sĩ O’Rourke hoặc Hạ sĩ nhất Agarn luôn luôn hỏi “Where the Hekawi(pc 03)?” (“Chúng ta đang ở nơi chết tiệt nào đây?”) –vốn là những người luôn luôn bị lạc. Là những người bạn có văn hóa mà họ thường là thế, bất cứ khi nào những binh lính TQLC bị lạc như họ sẽ có thể, nếu tình hình vẫn chưa trở nên quá quan trọng, hãy hỏi một câu hỏi hơi kém tế nhị: “Where the Fukawi(pc 04)?” (“Chúng ta đang ở nơi chó đéo nào đây?”). Một sĩ quan TQLC không bao giờ muốn, và không thể chịu đựng được, là cái đích cho trò đùa đó hoặc bị cáo buộc là người lãnh đạo “bộ lạc”đó.(pc 05)

(Được tái bản vào năm 2006, chương trình TV “F Troop”
mùa đầu tiên với Forrest Tucker, Larry Storch,
Melody Patterson and Ken Berry –từ trái qua phải)

Bảy tuần thiếu là ngày sinh nhật thứ 23 của anh ta, Thiếu úy Terry Gene Heekin của thành phố nhỏ Covina, thuộc tiểu bang California mới ra từ Trường Cơ bản ở thị trấn Quantico khi anh ta trình báo cho nhiệm vụ ở Việt Nam. Được bổ nhiệm cho Trung đội 1 thuộc Đại đội Lima vào cuối tháng Hai, hành động rất quan trọng đầu tiên của anh ta là chiến dịch được khởi động vào ngày 1 tháng Ba năm 1967.
Áp lực trên những vị Trung úy mới rất là to lớn. Đối với việc không có cơ hội lần thứ hai cho một ấn tượng đầu tiên, những sĩ quan mới trong binh nghiệp chỉ là quá cảnh giác về vai trò lãnh đạo mà những quân nhân TQLC soi rọi họ dưới kính hiển vi. Trong khoảnh khắc, những vị chỉ huy trung đội chưa được thử thách và chưa được thử nghiệm nầy cần thiết lập sự tin cậy và tôn trọng trong khi đi lên nhanh chóng trên đường biểu đồ cong có dốc thẳng đứng của mức tiến độ học hỏi về cuộc chiến đấu. Một số sĩ quan trẻ, trong một nỗ lực trung thực để chứng minh chính mình, có thể vượt thoát khỏi vòng khó khăn như là tỏ ra rất quan trọng hoặc như là tỏ ra được đào tạo rất tốt từ trường lớp. Hầu như, sự chuyển đổi từ một người không ai biết đến một người từng được thử nghiệm qua trận chiến được thực hiện xong chỉ với những thử thách nhỏ, có thể chấp nhận được. Trung úy Heekin, từ rất sớm, dường như là một phần của nhóm thứ hai. Đủ thông minh, đủ sâu sắc, và đủ bảo đảm tính chất đàn ông của mình,

p55

anh ta hỏi những câu hỏi đúng, dựa vào sự xét đoán của người Trung sĩ trung đội kỳ cựu và truyền tin viên của mình khi anh ta bắt đầu tìm hiểu cách làm việc. Đường biểu đồ cong của mức tiến độ học hỏi của Terry Heekin sẽ dốc hơn so với hầu hết người khác.

A- “Cái lưỡi lê của tôi không gãy!” :

Khi Đại đội Lima bắt đầu lên đường và di chuyển ra ngoài vào sáng sớm ngày 1 tháng Ba 1967, Đại úy Ripley đã đặt Trung đội 1 của mình tại một vị thế của cuộc hành quân trinh sát vào đất địch. Về việc di chuyển để giao chiến với đối phương, đặc biệt là trong một môi trường rừng rậm, những người đồng đội trong cuộc hành quân trinh sát là những người hầu như luôn luôn, theo trù tính, chủ động cuộc giao chiến hoặc khởi động một cuộc phục kích trước khi phần còn lại của các đơn vị di chuyển theo dấu vết của tọa điểm trinh sát tiến vào cuộc chiến. Những người đi đầu trinh sát và những đơn vị đi đầu trinh sát có một trách nhiệm đặc biệt là cảnh giác cho các dấu hiệu hoạt động của đối phương, sự hiện diện, những bẫy mìn, những bẫy sập, v.v. Cuộc hành quân trinh sát đòi hỏi một người, một đội súng, một tiểu đội, một trung đội để hoạt động với tất cả các giác quan hoàn toàn được tham gia để bảo đảm rằng kẻ thù là không thể thực hiện bất kỳ yếu tố bất ngờ nào đối với một đơn vị lớn hơn mà họ đang phục vụ.

(Người đi đầu trinh sát —“a point man”— trong cuộc hành quân)

Đại úy Ripley đã đặt Trung đội 1 vào cuộc hành quân trinh sát vì một số lượng những lý do. Ngoài ra việc đến phiên của họ và bên cạnh đó là mức độ nguy hiểm cao, cuộc hành quân trinh sát là một kinh nghiệm học hỏi cho Trung úy Heekin, một cách cho anh ta phá vào căn cứ địch nhanh hơn. Và ngay cả với một vị trung đội trưởng chưa được thử nghiệm, Đại úy Ripley đã có niềm tin vào vị Trung sĩ trung đội và những tiểu đội trưởng của anh Heekin, và biết rằng kinh nghiệm và sự phán đoán của họ là sự đền bù tính chất mới mẻ của vị Trung úy của họ.
Sự di chuyển thích hợp, hiệu quả dọc theo những con đường mòn rừng rậm của một đại đội súng trường TQLC đầy đủ sức mạnh đang mong đợi thực hiện một cuộc giao chiến với kẻ thù là một nhiệm vụ không dễ dàng. Ngay cả khi mọi thứ xảy ra như được dự định, như điều đó hiếm khi xảy ra, qua việc duy trì sự tập trung và phương hướng đòi hỏi sự góp sức tối đa của việc lãnh đạo từ Đại úy Ripley xuống đến người lính mang súng trường cuối cùng.
Đại đội Lima đã thực sự được vận chuyển về phía đông bằng xe tải trên Quốc lộ 9 từ một căn cứ yểm trợ hỏa lực được biết đến như là Rockpile đến một điểm thả quân ở giữa nơi đó và thành phố Đông Hà nơi mà sau đó họ bắt đầu tiến hành hoạt động trong ngày.

p56

Hầu hết những người đàn ông thực sự đang đổ mồ hôi ướt đẫm khi Đại đội Lima đã bắt đầu di chuyển với bất kỳ tốc độ nào và nhịp điệu của cuộc tiến quân được thiết lập. Một ngày sắp sửa là được một tình trạng gian khổ khác, họ có thể biết như thế, và nó vẫn còn nhiều giờ cho đến khi sức nóng tối đa.
Khi buổi sáng hao mòn dần và họ nhích về phía bắc, khu rừng già bắt đầu dầy hơn và những ngọn đồi mọc lên dần dần dốc hơn. Một ít giờ trước buổi trưa, Đại đội Lima đã trải nghiệm một cuộc tiếp xúc nhỏ với một đơn vị không xác định được kích thước của Quân Bắc Việt tại một ngã ba đường mòn mà qua đó đưa đến kết quả kỳ lạ trong tình trạng hoàn toàn không có hành động nào hoặc những thương vong. Vào khoảng một giờ sau đó, với Trung đội 1 vẫn còn dẫn đầu cuộc hành quân trinh sát, với Hạ sĩ Taylor khoảng hai mươi mét hay như thế vượt xa phía trước những người còn lại của đơn vị, vừa lúc sau khi anh ta đã lên đỉnh một ngọn đồi vốn có một số khu vực trống trải trên dốc và đang bắt đầu làm việc theo cách của mình xuống đường mòn dưới cùng của một khe núi dầy đặc cây cối rậm rạp, anh ta bắt đầu tìm cách xuống đường mòn đến bên dưới hẽm núi có rừng cây dầy đặc, mà qua đó anh ta bắt đầu nhận lấy lằn đạn. Bị kẹt trong loạt đạn đầu tiên, anh Taylor bị bắn trúng vào chân và ngã xuống.
Những người còn lại của Trung đội 1 vẫn chưa đến được đỉnh đồi. Ngay lập tức, không một lời nói hay sự điều hành từ vị chỉ huy trung đội hoặc những tiểu đội trưởng, những người lính trải ra, theo một hàng, trực giao 90 độ với hướng của cuộc đọ sức, một nửa ở bên trái của đường mòn, một nửa ở bên phải. Hạ sĩ nhất Goggin đã chạy lên ngọn đồi tìm kiếm anh Taylor và đã mang anh ta trở lại vào trong vị trí phòng thủ mới được thành lập bởi những binh lính TQLC hành động nhanh chóng của Trung đội 1.
Ngay cả trước khi Hạ sị nhất Goggin đã kéo Hạ sĩ Taylor đến nơi an toàn, những binh lính TQLC bắt đầu khai hỏa trả lại, vẫn không thể có được một tầm nhìn tốt về từ nơi chính xác nào hỏa lực của đối phương bắn ra. Bụi cây và cỏ của khu rừng thì gần như cao bằng đầu gối và những binh lính TQLC nằm sấp người chỉ có thể bắn vào những âm thanh khi mà tầm nhìn của họ về khu vực mục tiêu đã bị che khuất. Bằng một loạt hỏa lực, dường như kẻ thù có ít nhất hai khẩu súng máy đang nhã đạn vào họ. Hỏa lực của đối phương có ít ảnh hưởng không gì khác hơn là giữ chân những binh lính TQLC khỏi di chuyển về phía trước.
Phía sau tuyến hỏa lực của Trung đội 1, những người còn lại của Đại đội Lima được trải ra ngược trở lại xuống đường mòn; những người lính ngồi xỗm xuống trong những vị thế phòng thủ với vũ khí chĩa ra ngoài và trong trạng thái sẵn sàng. Trong vòng nhiều giây của khẩu súng máy của đối phương phun ra, Đại úy Ripley đang trên mạng lưới vô tuyến của đại đội gọi đến Trung đội 1 cho việc muốn có một báo cáo về tình hình.

p57

Khi anh ta trở lại trên ngọn đồi với Hạ sĩ Taylor trong tay dìu, Hạ sĩ nhất Goggin tiếp tục những nhiệm vụ truyền tin viên của mình và đáp lại vị “thuyền trưởng” TQLC của mình.
Một đại đội súng trường của TQLC đi vào chiến trường với ba trung đội bộ binh và một trung đội vũ lực. Vào khoảng cùng kích thước như là một trung đội bộ binh, trung đội vũ lực là một trung đội “pháo binh riêng” của vị chỉ huy đại đội, là sức mạnh hỏa lực dữ dội có tổ chức của đơn vị. Hai vũ lực chính của một trung đội vũ lực ở Việt Nam là một số lượng những đội súng máy trung liên M-60 và một toán những súng cối 60 ly, thường là ba ống phóng đạn. Việc mang vác lên vai trong chiến trường, những khẩu súng cối, những bệ chân súng, những đồ trang bị, và tất cả các băng đạn, chắc chắn là hữu dụng trong các tình huống giống như hiện tình mà Đại đội Lima lúc bấy giờ đối mặt. Với một độ cự ly của tầm đạn có hiệu quả tối đa khoảng 1.800 mét, là khả năng để bắn ra những đầu đạn một cách gián tiếp ở góc cao (không có nhắm trực tiếp vào mục tiêu) cũng như cho phép đưa những đầu đạn trong khoảng cách gần nếu đối phương chỉ ở ngay bên ngoài vòng chu vi. Những khẩu súng cối sẽ thường xuyên phục vụ như là một cứu cánh cho đến khi sự hỗ trợ hỏa lực nghiêm trọng hơn có thể được đưa vào khoảng cách tiêu chuẩn.

(Súng máy trung liên M-60 của Hoa Kỳ)

(và Súng cối 60 ly của Hoa Kỳ
thường được mang theo bởi lực lượng bộ binh)

Ngay khi tiếng súng ở phía trước đã được nghe, mà không có một mệnh lệnh được đưa ra, những người lính trong toán súng cối bắt đầu lấp ráp những mảnh rời của khí giới. Theo bản năng, họ biết điều gì sắp xảy ra kế tiếp. Những quả đạn được chuyền tay qua nhau từ những người lính vui mừng được gở xuống trọng lượng thừa mà họ đang mang. (Những quả đạn súng cối và những vòng đạn dư ra cho súng máy thường được phân phối và mang theo bởi tất cả những người lính của đại đội.)
Có một giao thức và thủ tục nhất định dành cho những vấn đề thông tin liên lạc qua vô tuyến của Quân đoàn TQLC.(pc 01) Trong cuộc chiến đấu, thủ tục đó thường được theo sau với hiệu quả thích hợp. Mỗi đơn vị với một đài vô tuyến thay đổi những tần số và những tín hiệu cuộc gọi mỗi ngày trong sự cố gắng giữ cho kẻ thù khỏi nghe lén được hoặc nhận ra ai đang liên lạc. Để giảm thiểu thời gian trải qua cho việc phát sóng, những tin nhắn phải thật ngắn. Những binh lính TQLC đều có động cơ thúc đẩy tốt để giảm thiểu thời gian phát sóng. Quân Bắc Việt có những khả năng xuất sắc trong việc tìm ra phương hướng mà qua đó cho phép họ, trong một thời gian tương đối ngắn, điều khiển cuộc pháo kích vào vị trí đang phát sóng. Đến năm 1967, những binh lính TQLC đã có đủ sự tôn trọng để thừa nhận là một tỷ lệ phần trăm cao về thông tin liên lạc của họ tiếp tục bị lắng nghe lén.
Trong việc qua lại bình thường trên làn sóng vô tuyến bên trong phạm vi một đơn vị, người cao cấp được gọi là “6” (The Six). Đại úy Ripley là “Lima 6” (Lima Six). Khi chính Đại úy Ripley được nhắc đến hoặc đang đàm thoại, anh ta được nhận biết như là “Lima 6 Thật” (Lima Six Actual) hoặc “6 Thật” (Six Actual) cho ngắn.

p58

Mỗi trung đội được nhận biết bởi một con số của nó và vị chỉ huy trung đội là một con số cùng với chữ “thật” (actual). Trung đội 1 là “Lima 1,” trung đội trưởng của nó là “Lima 1 Thật,” Trung đội 2 là “Lima 2,” vị chỉ huy của trung đội là “Lima 2 Thật,” v.v. Điều nghi ngờ là Quân Bắc Việt đã bị lừa bởi điều này, nhưng điều đó vẫn là một thủ tục tốt hơn so với việc sử dụng những cái tên.
Trung đội 1 tiếp tục tuôn đổ hỏa lực theo hướng chung chung của một hàng cành cây bó lại như bàn chải ở phía dưới ngọn đồi. Có được một bức tranh sơ sài từ Hạ sĩ nhất Goggin, Đại úy Ripley cho những toán súng cối của mình một sứ mệnh hỏa lực, với hy vọng một loạt pháo cho mỗi ba ống phóng đạn duy nhất sẽ làm im những tiếng súng của đối phương. Trong lúc đó, một trong những binh lính TQLC của Trung đội 1, cảm thấy thất vọng bởi sự bất lực của mình không thể nhìn thấy mục tiêu, đã khom người lên để tống đi một số quả đạn. Được biết đến với những người khác như là Bé Huey vì vóc dáng và sức mạnh phi thường của mình và, Bé Huey chỉ tung ra nhận một ít quả đạn trước khi chính mình bị khoan vào ngực. Có thể chính là vóc dáng của anh ta mà qua đó cuối cùng đã cứu lấy anh ta ngày hôm đó, nhưng anh ta trở thành người bị thương thứ hai trong nhiệm vụ của Trung đội 1 vào buổi chiều sớm đó.
Sau hàng rào yễm trợ súng cối ban đầu, những người lính của Trung đội 1 cảm thấy ngán ngẩm khi Quân Bắc Việt tiếp tục lại khối lượng hỏa lực tương đối không chính xác nhưng ở mức độ khá mạnh mẽ của họ. Trong một ít phút kế đó, Trung đội 1 tiếp tục đáp trả hỏa lực theo một cách chọn lựa hơn trong nỗ lực để bảo tồn đạn dược.
Lui xuống đường mòn, Đại úy John Walter Ripley, với những người còn lại của Đại đội Lima, đang tăng dần sự mất kiên nhẫn. Lòng tự tin cao độ nhất, và có lẽ có một chút lỗi thời, anh ta tiếp tục tự mình theo dõi điện đài. Quân Bắc Việt đang bắt đầu bực tức anh ta khi sự trì hoản này là nước bước của anh ta. Với chiếc trực thăng tải thương đã được gởi đến để bốc đi anh Taylor và Bé Huey, quyết định kế tiếp của anh ta đòi hỏi một phản ứng ngập ngừng của người truyên tin cảm thấy nghi ngại của Trung đội 1.
Đại úy Ripley gọi đến Trung đội 1 của mình trên mạng lưới liên lạc của đại đội: “Kêu Một Thật nghe điện thoại.” Trung úy Heekin đang bận rộn điều hành hoạt động, chỉ giống như anh ta có nhiệm vụ phải làm. Khối lượng hỏa lực tạo nên tiếng ồn, như mọi khi trong suốt cuộc giao chiến, gần như làm điếc tai.
Hạ sĩ nhất Goggin nói với vị Đại úy của mình: “Một Thật thì khá bận rộn, ‘ Thuyền trưởng.’ Thực sự là điều khó khăn ngay cả việc hiểu được ý những truyền dẫn thông tin của làn sóng.

p59

“Tôi muốn anh bạn chuyển điều nầy đến Một Thật.” Ngưng lại. “Tôi muốn anh bạn gắn lưỡi lê vào.”
Hạ sĩ nhất Goggin không thể tin vào điều gì mà anh ta nghĩ rằng anh ta mới vừa nghe. Anh ta hy vọng điều đó là một kiểu sai lầm nào đó trong sự truyền tải, một loại nhiễu sóng nào đó. Anh ta hy vọng anh ta đã hiểu lầm. Cảm thấy sửng sốt bởi mệnh lệnh, anh ta trở lại với câu nói: “Sáu Thật, hãy nói lại câu cuối cùng của anh bạn.”
Đại úy Ripley khẳng định: “Tôi muốn anh bạn gắn lưỡi lê vào. Chúng tôi sắp sửa cung cấp cho bạn một hàng rào yễm trợ với nhiều đợt súng cối. Sau khi đợt cuối im đi, tôi muốn anh bạn đứng lên và xung phong vào vị trí. Hãy gắn lưỡi lê vào.”
Vẫn còn cảm thấy choáng váng bởi mệnh lệnh, Hạ sĩ nhất Goggin bò qua đến nơi mà Trung úy Heekin đang điều binh hoạt động. Trung úy Heekin ngay lập tức hiểu ra là vị chỉ huy của đại đội có mệnh lệnh chuyển đến anh ta. Khi anh Goggin đến đủ gần để cho họ có thể hét to hơn tiếng ồn của các loại vũ khí, anh ta hỏi: “Ông ta đã nói gì thế?”
“Trung úy, ông ta muốn chúng ta gắn lưỡi lê vào và xung phong.”
Không do dự, Trung úy Heekin yêu cầu: “Hãy hỏi ông ta lặp lại điều đó.”
“Tôi làm rồi, thưa ông.”

Hạ sĩ nhất Goggin sau đó giải thích kế hoạch như được chỉ dẫn bởi Đại úy Ripley. Hạ sĩ nhất Goggin đề nghị với Trung úy: “Thưa ông, tại sao ông không chuyển lời cho cánh trái và tôi sẽ chuyển lời đến cánh phải?” Cả vị Trung úy và truyên tin viên của anh ta được trang bị chỉ với cây súng nhỏ .45 ly.
Với âm thanh ồn ào liên tục và tiếng gầm và sự bối rối khó hiểu, đó là điều khó khăn chuyển đưa mệnh lệnh. Nó cần được chuyển xuống hàng ngũ, từ người nầy đến người nọ. Ở ngay bên phải của Hạ sĩ nhất Goggin là một chàng trai trẻ đến từ tiêu bang Louisiana vốn là người tham gia toàn diện trong trận chiến, tập trung vào kẻ thù dưới ngọn đồi. Trong khi anh ta có thể đã không đến từ đại học Harvard hoặc cũng không phải anh ta sẽ có mặt ở đó sau chuyến quân vụ của mình, anh ta là một người chiến đấu đáng kinh ngạc. Anh ta không nghe thấy Goggin vào lúc đầu đang la hét ra lệnh cho anh ta khi anh ta tiếp tục bắn ra những loạt đạn. Cuối cùng, Hạ sĩ nhất Goggin nắm chui súng .45 ly của mình và gõ anh ta trên nón sắt để tạo sự chú ý của anh ta. Với những gương mặt của họ cách khoảng không xa, vì vậy anh Goggin có thể ra mệnh lệnh cho anh ấy, Hạ sĩ nhất Goggin hét lên, “Hãy gắn lưỡi lê vào!”
Cảm thấy choáng váng trong khoảnh khắc, anh quân nhân TQLC trẻ suy ngẫm về mệnh lệnh, bằng cách cố gắng làm cho hợp lý điều gì đó không tạo nên lý lẽ gì cả đối với anh ta, và trả lời bằng sự chân thành sâu sắc: “Lưỡi lê của tôi không bị gãy!” Rồi ngưng lại.

p60

“Hãy đặt lưỡi lê của mình ở phần cuối súng trường của bạn!!” Và Hạ sĩ nhất Goggin ra dấu cho anh ta bằng sự chuyển động của bàn tay.
Lời được truyền trước tiên từ một quân nhân TQLC nầy đến một quân nhân TQLC khác và sau đó các nhóm còn lại nhìn thấy chuyện gì đang xảy ra và bắt chước theo sau. Không có chuyện bịa đặt trong mệnh lệnh. Không có hơi hướng giống như kiểu phim ảnh Hollywood hoặc phô trương, không có âm thanh của những cái kèn. Âm thanh gắn vào dễ nhận biết của kim loại trên kim loại khi những cái lưỡi lê được cắm vào những đỉnh của nòng súng có thể không được nghe bên trên tiếng inh tai nhức óc như là những lời trình cáo của khí giới. Không ai tính thời gian cho điều đó. Có thể là tròn một phút trước khi tất cả người của Trung đội 1 đã gắn lưỡi lê vào. Trung úy Heekin nhìn người truyền tin của mình. Như là một gã mới, vị Trung úy thực sự đặt vấn đề thắc mắc về anh ấy: “Hạ sĩ nhất Goggin, chúng ta có từng bao giờ làm điều này trước đây không?”
“Thưa ông, tôi không nghĩ rằng bất cứ ai đã làm điều này kể từ khi cuộc Nội Chiến.”
Vào khoảng lúc đó, Đại úy Ripley kêu trên điện đài: “Mọi người sẵn sàng chưa?”
“Vâng, thư ông!”
“Hãy chuẩn bị.” Gần như ngay lập tức xuất hiện những âm thanh ầm ầm và lạo xạo mau lẹ của nhiều loạt pháo được bắn ra từ những khẩu súng cối 60 ly cách một trăm mét về phía sau.
Trong cái gì đó dường như là quá ngắn cho một khoảng thời gian, Đại úy Ripley trở lại trên mạng lưới thông tin: “Xung phong.”
Và Trung đội 1 đứng lên, mỗi một người họ. Bốn mươi hoặc khoảng đó binh lính TQLC còn lại đứng lên trên hàng dài. Tất cả mọi người sợ hãi đến khô nước miếng nhưng tuy vậy, được khiến bạo dạn hơn bởi sự táo bạo tuyệt đối của hành động này, họ bắt đầu di chuyển với mục đích và tốc độ. Và họ bắt đầu la hét lên và nguyền rủa giống như những người điên. Những tiếng hét nổi loạn. Những tiếng hét làm đông tụ máu. Chỉ giống như những người vốn theo sau Trung tướng quân Liên Minh Stonewall Jackson và Thiếu tướng quân Liên Minh Jeb Stuart. Ở đây trong những khu rừng hoang vắng của Việt Nam, 100 năm sau đó một dân cư khác của tiểu Virginia điên-như-một-con-cáo đang ra lệnh cho những người lính gắn lưỡi lê vào và xung phong. Họ tiến lên xông vào trong cái gì đó có thể đã là một hỏa lực giết người của những khẩu súng máy của Quân Bắc Việt. Khi họ đến được chân đồi, không có một phát đạn nào đã được bắn trúng vào họ. Một cách thiết thực là rơi vào trong cái rãnh phủ ngụy trang kỹ lưỡng được bỏ lại bởi Quân Bắc Việt đang trốn chạy, tất cả thứ mà họ tìm thấy là hàng trăm và hàng trăm những vỏ đạn đã dùng qua. Và một ít đốm máu. Với việc kinh hồn lộn ruột gan ở những mức độ, ngay cả những cựu chiến binh gan lì nhất và phục vụ lâu nhất đã rất hiếm trải nghiệm, đó là điều cảm thấy hay ho được còn sống. Rất là tốt đẹp.

(Trung tướng Thomas “Stonewall” Jackson 1824-1863
thuộc quân Liên Minh trong cuộc Nội Chiến Mỹ, nhưng được
xem là một trong những vị Tướng có tài năng nhất Hoa Kỳ.
Là dân cư của tiểu bang Virginia)

(Thiếu tướng vang danh James Ewell Brown “Jeb” Stuart
1833-1864, của quân Liên Minh, nhưng cũng được tôn trọng,
và tưởng niệm bởi quân Liên Hợp và dân Hoa Kỳ.
Cũng là dân cư của tiểu bang Virginia)

p61

B- Đến mục tiêu kế tiếp:

Có ít thời gian cho việc liên hoan. Đây không phải là một cuốn phim. Những người còn lại của Đại đội Lima tiến về phía trước. Đại úy Ripley và những người khác đánh giá những kết quả. Những đốm máu ít nhất là báo hiệu rằng những binh lính TQLC(pc 01) đã “thanh toán được một số.” Cuộc hành quân được tiếp tục.
Đại đội Lima đã chưa đi được quá xa trên đường mòn khi những thi thể của nhiều Quân Bắc Việt bị giết chết mới đây được phát hiện, rõ ràng là cái chết từ cuộc giao chiến trước đó. Điều đó rõ ràng là Đại đội Lima đang di chuyển vào trong, không xa từ, trung tâm của đất nước như của Dân da Đỏ. Họ đã không đi xa nhiều hơn một cái búng tay (1 km) trước khi Đại úy Ripley quyết định xoay vòng những chiếc xe ngựa và bắt đầu cho buổi chiều tối. Trong một vị trí mà anh ta tin là cung cấp nơi che chở tốt đẹp và là nơi ẩn náu và có thể được bảo vệ khá chắc chắn, những binh lính TQLC của Đại đội Lima bắt đầu đào hầm.
Khi những binh lính TQLC trong rừng bụi cây thiết lập nơi trú ngụ qua đêm, điều đầu tiên mà họ luôn luôn làm cùng lúc là chỉ định một ít người bạn đồng đội cho những nơi gác bên ngoài để giữ an ninh bởi một người, họ bắt đầu đào những cái hố chiến đấu cho buổi chiều tối của họ, và khởi sự cuộc tuần tra khép kín địa phương của khu vực xung quanh địa điểm ấn náu tạm của đại đội nhằm bảo đảm rằng Quân Bắc Việt sẽ không gây ngạc nhiên cho họ. Không bao giờ từng có một cơ hội buông lỏng việc cảnh giác của một người. Buổi chiều tối ngày 1 tháng Ba năm 1967 thì tương đối không có chuyện gì xảy ra, một sự bình lặng riêng biệt trước khi có bão tố. Những người lính ít ra có cơ hội để làm đầy những bi-đông đựng nước từ các dòng suối nhỏ gần đó và tiêu thụ những phần ăn gì đó mà họ đã có mang theo. Kể từ khi bắt đầu cuộc hoạt động trước đó trong ngày, Đại đội Lima đã chưa được tái tiếp tế. Đại úy Ripley ra lệnh rằng đạn dược từ các trung đội khác phải được phân phối lại và đưa cho những người lính của Trung đội 1 vốn là những người đã tiêu dùng một số lượng khá nhiều trong cuộc đọ súng trước đó trong ngày.
Với những sinh mạng của hơn 200 binh lính TQLC trong cán cân quân bình, mà John Ripley trẻ trung cảm thấy bị áp lực, trong một đất nước sâu thẳm nhất đen tối nhất như của Dân da Đỏ. Với Đại đội Lima trải ra trong một chu vi chật hẹp bao quanh tất cả, với các vị chỉ huy trung đội của mình và những Trung sĩ trung đội và những tiểu đội trưởng, tất cả họ đều đang làm công việc của mình, với vị trí của anh ta gọi điện vào trụ sở chính cao cấp hơn và một số lượng khá nhiều pháo binh hiện tại dưới sự tùy ý sử dụng của anh ta, chỉ đang chờ đợi mệnh lệnh để khai hỏa; John Ripley đang sẵn sàng cho một đêm. Sẵn sàng như anh ta có thể.

p62

Đối với bất kỳ người đàn ông nào trong cuộc chiến đấu, điều khó khăn là tin rằng thế giới bên ngoài cái thế giới của mình tiếp tục thúc đẩy mạnh và tuy vậy, mỗi người đàn ông biết rằng nó làm điều đó và có lẽ biết ơn rằng nó đã làm. Đối với Đại úy Ripley, thế giới bên ngoài thế giới của anh ta là người vợ Moline và đứa con trai nhỏ Stephen. Với tất cả việc lên kế hoạch mà có lẽ anh ta có thể thực sự kết thúc, anh ta có thể đánh cắp nó đi vào trong tâm trí và trái tim của mình và nghĩ về ngày thứ Tư, 1 tháng Ba năm 1967, mà thực tế là anh ta đã chưa từng được sống trở lại ở thành phố Alexandria, thuộc tiểu bang Virginia.
Mười một giờ sau thời gian của Việt Nam, khi một tiểu đội từ mỗi trung đội của đại đội Lima lặng lẽ bò loanh quanh khu rừng tối đen trên cuộc tuần tra bên ngoài vị trí của đại đội, cô Moline thì không có nghi ngại gì về việc chăm sóc đứa con nhỏ Stephen, dọn dẹp, cho ăn, tắm rửa, đưa đứa bé đi dạo trong chiếc xe đẩy, hoặc chơi đùa ở công viên, bất cứ việc gì. Cũng yên tâm khi biết rằng vợ của người anh lớn George, Maureen, với ba cô con gái, tất cả đều lớn hơn bé Stephen, sống trong cùng một khu chung cư ở thành phố Alexandria, ngay phía nam của thủ đô Washington, D.C. Với cả hai người chồng của họ ở Việt Nam, cô Maureen và cô Moline đã phát triển gần gủi hơn so với họ từng là thế. Và không quá xa cho một chuyến lái xe, chỉ một vài giờ, đối với cô Moline để xếp hành lý và theo hướng đi xuống đến thị trấn Radford nơi mà cha mẹ của cả cô Moline, thuộc dòng họ Blaylocks, và dòng họ thâm niên Ripleys, sống. Về phía những việc của gia đình Blaylock, bé Stephen là đứa cháu ngoại đầu tiên và duy nhất cho đến nay. Khi đứa bé trai ở trong thị trấn, đứa bé là một trung tâm sân khấu, một điểm thu hút chính. Và ngay cả ở nhà của gia đình Ripley, nơi đã có một đứa cháu trai khác lớn hơn bé Stephen, đứa bé và ma-ma của bé luôn luôn được chào đón một cách nồng nhiệt. John Ripley không phải lo lắng về phúc lợi của họ quá nhiều. Anh ta chỉ nhớ họ khủng khiếp.
Thật vui thích như là thế khi suy ngẫm về người vợ Moline và đứa con trai nhỏ Stephen, một thực tế gần gủi hơn đó là bên trong thế giới nhiều cây số vuông của riêng mình có ít nhất là hàng trăm, thậm chí có lẽ là hàng ngàn quân chính quy Bắc Việt, những người bằng thịt và máu giống như những người của Đại đội Lima, chỉ nóng lòng tiêu diệt anh ta như anh ta đối với họ. Anh ta cần phải giữ viễn ảnh đó, tình trạng nguy khốn đó của một chiến binh. Anh ta cần phải tập trung vào sự sống còn.

p63

Một nơi nào đó ở phía bắc của Quốc lộ 9, phía tây của Đông Hà
Thứ năm, ngày 2 tháng Ba, 1967
Vào thời điểm nào đó, sau khi mặt trời mọc

Mặc dù cuốn lịch cho biết một ngày mới được xác nhận bởi mặt trời đang mọc, một ít người cho rằng đó là bước đi trước của thời gian. Thức dậy vào thứ Năm, ngày 2 tháng Ba đối với những binh lính TQLC của Đại đội Lima, nếu họ đã có thể ngủ được một ít nào đó, thì không giống như điều đó đã sẽ là như thế ở bất cứ nơi nào khác ngoại trừ ở Quân khu I về phía Bắc.
Sống trong một Đất nước Kẻ xấu không cho phép sự nghĩ ngơi trọn vẹn từ ngày hôm trước, không một kỳ vọng nào cho sự kết thúc những hoạt động của cuộc chiến đấu cho đến khi Đại đội Lima sẽ rút lui khỏi chiến trường, bất cứ khi nào mà nó có thể. Ở ngoài nơi mà họ có mặt, họ hoặc là trong cuộc giao chiến, đang hồi phục từ cuộc giao chiến trước đó, hoặc là đang chuẩn bị cho cuộc giao chiến sắp xảy ra. Ngoài việc luôn luôn là dơ bẩn, ngoài việc luôn luôn là mệt mỏi, ngoài việc luôn luôn là đói khát và đổ mồ hôi, một điều khác duy nhất là liên tục cảm thấy sợ hãi –một sự đơn điệu của nổi sợ hãi. Trong rừng bụi cây, không có thời gian cho những nghĩ ngơi, không có những gián đoạn quảng cáo, không có những chuyện lại xảy ra như trước ngay lập tức, không có giờ hạnh phúc, không có những ngày nghỉ cuối tuần; chỉ có cái chết hay sự sống còn.
Dữ dội như các sự kiện đã từng xảy ra cho 3/3(pc 02) của Đại đội Lima vào ngày thứ Tư, Đại úy Ripley và những binh lính TQLC của mình chỉ là một bánh răng nhỏ, ở trong một nỗ lực lớn hơn nhiều đang xảy ra trên khắp Việt Nam. Chỉ riêng ở Quân khu I về phía bắc, tiểu đoàn mẹ của Đại đội Lima được tham gia vào trong chiến trường qua bốn tiểu đoàn bộ binh khác thuộc Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ. Trong sự yễm trợ trực tiếp của năm tiểu đoàn đó là toàn bộ Trung đoàn 12 Pháo binh của TQLC cùng với nhiều phi đội trực thăng và máy bay tấn công cánh cố định. Những nhà phân tích trong cộng đồng tình báo tin rằng Quân Bắc Việt có ít nhất bốn sư đoàn đang hoạt động trong vùng lân cận. Nếu chính xác trong việc đánh giá đó, những binh lính TQLC Mỹ sẽ có tất cả hành động mà họ có thể ứng xử.
Nói chung, những người Mỹ thường hưởng được tính chất ưu việt của hỏa lực địa phương, đặc biệt là khi sức mạnh Không quân có thể được khai thác một cách đầy đủ, và nếu đủ gần bờ biển, họ có thể thêm tiếng súng của Hải quân vào sự pha trộn. Việc sử dụng những chiếc trực thăng để di chuyển những người lính và vật liệu cho các vị chỉ huy sự linh hoạt chưa từng có trước đây. Hệ thống tái tiếp tế khá nhanh chóng cho những người được đưa vào nhiệm vụ chiến đấu trên bộ một số mức độ của sự tự tin nào đó trong việc biết rằng nếu họ bị thương,

p64

trời đất sẽ được di chuyển để cho họ sẽ được khẩn trương vận chuyển đến nơi chăm sóc y tế gần đó, và khi những cái đầu và những viên đạn sắp cạn kiệt, trong một thời gian ngắn sẽ có thêm sắp tới. Tuy nhiên, kết quả của cuộc chiến đấu của bộ binh nằm trong tay của đám thanh niên ở cả hai phía vốn là những người thường không hơn gì những thanh thiếu niên được dẫn dắt bởi những người đàn ông chỉ lớn tuổi hơn một chút.
Quân Bắc Việt cũng không phải là không có những lợi thế địa phương. Việc hoạt động bên trong khoảng cách gần đối với Bắc Việt Nam và đông Lào nơi mà các cánh tay bạch tuột mở rộng của Đường mòn Hồ Chí Minh tiếp tục cung cấp lương thực cho họ một cách dồi dào, thậm chí nếu nỗ lực cung cấp đó vượt xa hơn nhân lực và sự phụ thuộc vào người mang vác so với sự dựa vào kỷ thuật của Hoa Kỳ, Quân Bắc Việt thường không bị cản trở bởi những hạn chế hậu cần ở Quân khu I về phía bắc.
Có lẽ lợi thế lớn nhất được hưởng bởi Quân Bắc Việt là chính sách Hoa Kỳ được công khai tuyên bố rằng các lực lượng trên bộ của nó sẽ không vượt vào trong Lào hoặc miền Bắc Việt Nam. Việc đó tạo cơ hội rãnh tay cho vô số những cán binh vốn là những người có thể theo một cách khác hơn đã được yêu cầu để bảo vệ những nơi trú ẩn, những kho cung cấp, và các vị trí pháo binh nếu đã có sự lo ngại rằng Hoa Kỳ hoặc các lực lượng của Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) có thể xâm nhập, sự giới hạn được áp đặt theo chính trị này nhường lại thế chủ động về chiến lược trên chiến trường một phần lớn cho kẻ thù.

C- Những Huân chương “Trái tim Tím” và những Giải thưởng cho lòng Dũng cảm:

Những tiêu chuẩn cho việc ban thưởng những huân chương dũng cảm –Huân chương Danh dự Quốc hội, Bội tinh Hải quân (trong Quân đội, họ ban thưởng Bội tinh Phục vụ Xuất sắc, và Bội tinh Lực lượng Không trong Lực lượng Không quân Hoa Kỳ), Sao Bạc, và Sao Đồng– thực sự đi kèm với các hướng dẫn được tạo ra bởi Quân đoàn TQLC.

(Những huân chương “Dũng cảm”)

(Huân chương “Trái tim Tím” dành cho những chiến binh bị thương)

Với một bài viết về những ban thưởng được khởi đầu và lần đầu tiên được tiến hành ở cấp tiểu đoàn, việc cấp phát những ban thưởng cho chủ nghĩa anh hùng trong cuộc chiến đấu phần lớn cón tùy thuộc trên một số lượng những yếu tố chủ quan. Sự luân chuyển bình thường và tương đối nhanh chóng của những vị chỉ huy tiểu đoàn, những người lính với động lực chính yếu và trước tiên để khiến những việc bắt đầu, có nghĩa là các tiêu chuẩn luôn luôn thay đổi khi những người lính thường có những ý kiến rất khác nhau liên quan đến việc nhìn nhận lòng dũng cảm. Các vấn đề khác bao gồm những thừa số vào trong phương trình trao ban thưởng bao gồm khả năng của người viết về sự ban thưởng cho các sự kiện được xây dựng nên một cách chính xác và khéo léo tạo chúng trở thành một câu chuyện hấp dẫn.

p65

Phẩm chất và số lượng của các nhân chứng cũng có sự tác động. Có một số lượng đáng kể trong số những sĩ quan cao cấp và trung cấp của Quân đoàn TQLC,(pc 01) vốn là những người tin rằng chỉ đơn giản là mặc đồng phục cùng với việc được giữ lại ở các vị trí quan trọng của ban lãnh đạo trong suốt những lần cố gắng nhất là đủ nhìn nhận. Khi điều đó xuống đến Quân đoàn TQLC nói chung, và 3/3(pc 02) nói riêng, thì hết sức bủn xỉn, hoàn toàn mất tự do trong việc trao ban thưởng những huân chương dũng cảm cho những sĩ quan và những người lính mới vốn là những người sống sót qua thời kỳ của họ trong cuộc chiến đấu.
Tiêu chuẩn cho việc ban thưởng huân chương “Trái tim Tím,” có một chút ít hẹp hòi và kém hơn chủ quan, cũng có điều kiện theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt. Điều đó đang khuyến khích để lưu ý rằng một tỷ lệ phần trăm rất cao của những người lính bị thương đó sẽ thường từ chối những huân chương “Trái tim Tím” của họ do quy định rằng nếu một người lính bị trúng đạn ba lần, anh sẽ được tự động gởi về nhà. Lòng trung thành với đơn vị và tình bạn đồng đội cá nhân thường có nhiều hơn vẫn không giữ được những quân nhân TQLC trong cuộc chiến đấu. Với điều đó nói lên rằng, tiêu chuẩn cho Tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 3 TQLC bao gồm ba điểm chính. Thứ nhất, một vết thương phải là kết quả của hành động của đối phương. Thứ hai, một quân nhân TQLC phải bị “ngã xuống.” Và cuối cùng, phải có sự xuyên thủng. Huân chương “Trái tim Tím” không được ban thưởng cho những quân nhân TQLC bị thương đó trong khi “tìm kiếm nơi ẩn nấp nhanh chóng.” Những thương tích gây ra từ việc nhảy vào một cái rãnh hoặc những cái hố chiến đấu trong suốt một cuộc tấn công bằng súng cối, việc quên cúi xuống trong khi chạy vào trong hoặc ra khỏi một tòa nhà và việc đụng đầu mình vào cạnh đang treo thấp của vật liệu lợp kim loại để lợp nhà đã không thoả mãn tiêu chuẩn của 3/3 cho một vết thương trong cuộc chiến đấu.
Trong trường hợp của Đại úy Ripley, sau khi nắm lấy quyền chỉ huy Đại đội Lima, anh ta đã nhắc nhở người y tá quân y thâm niên của mình rằng anh ta không bao giờ “gắn thẻ” “thuyền trưởng” (i.e. tiếng lóng cho tiểu đội trưởng trực thăng) cho người lái trực thăng tải thương mà không có sự đồng ý của anh chàng y tá quân y hoặc trừ khi người đó có kết quả là chết. Những sự kiện trong ngày 2 tháng Ba năm 1967 sẽ chứng minh sự nhìn thấy trước của mệnh lệnh đó.

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 02_ 3/3 : tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn 3.
pc 03_ Heckawi : là tên một bộ lạc ở nước Mỹ; tuy nhiên, theo cách chơi chữ của âm đọc Heckawi giống như là “heck are we.” Vì vậy, trong câu hỏi phát âm như là “Where the Heckawi?” nghe qua có vẻ như là muốn hỏi “Bô lạc Heckawi đâu?”; nhưng có thể được hiểu như là “Where the heck are we?” (“Chúng ta đang ở nơi chết tiệt nào đây?”)

pc 04_ Fukawi : là một bộ lạc ở Phi Châu; tuy nhiên, cũng theo cách chơi chữ của âm đọc Fukawi giống như là “fuck are we.” Vì vậy, trong câu hỏi phát âm như là “Where the Fukawi?” nghe qua có vẻ như là muốn hỏi “Bộ lạc Fukawi đâu?”; nhưng có thể được hiểu như là “Where the fuck are we?” (“Chúng ta đang ở nơi chó đéo nào đây?”)

pc 05_ “bộ lạc” đó : ý tác giả muốn nói đến những người lính nào dùng câu nói đùa khiếm nhã đó –không phải là nói đến một bộ lạc nào đó.

Advertisements

One thought on “Phần 04: Cú chơi Liều mạng Cuối cùng

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s