Phần 02: Vẽ Bức Màn Tre

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

(trang bỏ trống)
p15

Phần 02: Vẽ Bức Màn Tre

Giữa giai đoạn năm 1946 và khoảng nửa năm 1954, lực lượng Việt Minh và Pháp tiến hành cuộc chiến tranh khắp Đông Dương, với hầu hết các chiến đấu nghiêm trọng đang diễn ra ở Bắc Bộ. Khi chiến tranh tiếp tục kéo dài mà không có một sự kết thúc rõ ràng trong tầm mắt và những thương vong cao hơn, sự nồng nhiệt của Pháp tàn lụi. Trận chiến cuối cùng theo xu hướng chung tại Điện Biên Phủ ở phía tây bắc của Bắc Bộ, gần biên giới Lào, là một chiến thắng vang dội dành cho các lực lượng Cộng sản. Ngay cả với sự thất bại nhục nhã của Pháp, sự chuyển đổi từ chiến trường đến bàn hội nghị hòa bình ít mang lại sự hài lòng cho bất kỳ ai trong số các bên có liên quan.
Hiệp định Genève, bắt đầu vào tháng Năm năm 1954, được tham dự bởi bốn quốc gia mới của Đông Dương thuộc Pháp trước đây, Pháp, Anh, Liên Xô, Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, và Hoa Kỳ. Khi những cuộc đàm phán kết thúc vào tháng Bảy, một thỏa thuận ngưng bắn được đạt đến. Vĩ tuyến 17 giữa tỉnh Quanq Bình đến phía bắc và tỉnh Quảng Trị đến phía Nam dòng Sông Bến Hải chạy xuyên qua đến Biển Đông đã được thành lập như là một đường phân chia Đông-Tây tách ra một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (ở phía bắc và là Cộng sản) khỏi một nước Việt Nam Cộng Hòa (ở phía nam và là không cộng sản). Cái gì đó sẽ trở nên được biết đến đối với thế giới như là Khu phi Quân sự, sẽ trở thành bất cứ là gì, ngoại trừ phi quân sự hóa.
Sự thỏa thuận ngưng bắn cung cấp một khoảng thời gian 300 ngày trong suốt thời gian mà quyền tự do di chuyển giữa phía bắc và phía nam là không bị ngăn cấm bởi các chính phủ mới. Đến giữa năm 1955, hơn 1 triệu công dân, một con số phần trăm lớn nhất của những người theo đạo Công giáo La Mã, đã lựa chọn dở nhà thay đổi chỗ ở, bỏ lại các ngôi mộ của tổ tiên và các thế hệ của truyền thống làng mạc phía sau ở miến Bắc hơn là sống dưới chế độ Cộng Sản.

p16

Trong khi một số lượng nhỏ, không xác định của những cán bộ Mác-xít hiến dâng từ đất nước Việt Nam Cộng Hòa di chuyển về phía bắc, không một công dân bình thường nào được biết đến là đã thực hiện cùng cuộc hành trình.1 Bằng đường hàng không, đường sắt, và lội bộ, nhưng chủ yếu là bằng tàu vận chuyển qua đường biển, họ đến phía nam, là những người miền Bắc dời chỗ nầy. Một số ít người bên ngoài nhận thức về tác động và hậu quả của sự phân chủng lưu vong này vốn có miền nam. Nền văn hóa và tính khí của những người Bắc Kỳ thường nghiêm túc hơn và khó tính, quen kén chọn cách sống từ một vùng đất bất đắc dĩ của Đồng bằng Sông Hồng, với màu da sáng hơn của họ, giọng điệu khác biệt, cách ăn mặc, và những truyền thống thì kỳ lạ đối với những người anh em họ miền Nam gọn gàng hơn vốn là những người, dường như ít nỗ lực hơn nhiều, có thể bòn rút sự nuôi dưỡng nhiều hơn từ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thừa thãi, dồi dào.2 Vào năm 1955, điều đó đã sẽ là giống nhau ở Mỹ nếu 12 triệu cư dân của Thành phố New York với tất cả sự hối hả và nhộn nhịp bỗng nhiên phải dời chỗ đến vùng nông thôn Georgia hoặc Mississippi, và tất cả sự kiện đó được thực hiện với sự hỗ trợ mỏng manh nhất hoặc mạng lưới an toàn từ chính phủ trung ương.
Một phần của các Hiệp định Genève vốn được chấp nhận bởi tất cả các bên đỡ cho Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa kêu gọi những cuộc bầu cử quốc gia được tổ chức khắp Việt Nam vào tháng Bảy năm 1956. Với một dân số 16 triệu người theo ước tính ở miền bắc và 14 triệu ở miền nam, và tự tin rằng họ sẽ có thể loại bỏ phe đối lập đầy đủ ý nghĩa và củng cố quyền lực ở phía bắc của Vĩ tuyến 17, Hồ Chí Minh và các lực lượng của ông ta vui vẻ chấp nhận những viễn ảnh này.(pc 01)
Giữa năm 1953, trước khi sự kết thúc những thù nghịch, và bước vào năm 1956, những người Cộng Sản bắt đầu một loạt các cuộc thanh trừng đẫm máu mà trong đó vết tích có thể nhận dạng của chủ nghĩa tư bản bị loại bỏ một cách tàn nhẫn. Trong một hàng loạt những chương trình cải cách ruộng đất trong suốt giai đoạn đó, những người Cộng sản tính rằng trong mỗi một làng cao nhất là 5% dân số tiêu biểu cho những địa chủ và chính giới “giàu có” nầy vốn là những người đang bốc lột 95% còn lại. Những tài sản của họ bị tước khỏi họ và phân phối lại cho những người còn lại, những vụ giết người theo con số 5% có thu nhập cao được tiến hành với độ chính xác bởi các nhóm đặc biệt của những điềm chỉ viên thuộc chương trình cải cách ruộng đất.3

p17

Không có chi tiết chính xác nào tồn tại về số lượng người dân bị khử đi trong suốt giai đoạn này, cũng không có một hồ sơ nào về những người bị loại trừ trong suốt những cố gắng của họ rời bỏ hoặc bị đe doạ từ việc di chuyển đến miền Nam. Như có rất ít trong cách đưa tin của báo chí, tin tức về những cuộc thanh trừng lớn chỉ được thu thập bằng cách truyền miệng khi tin đó đến được miền Nam và được đưa ra sự chú ý hiếm hoi trên các phương tiện truyền thông Tây phương.
Bất cứ điều gì ngoại trừ sự tốt lành và vượt xa khỏi sự hoàn hảo, chính phủ được thành lập ở miền Nam được ưu ái hơn đối với những người vốn đã từng trải nghiệm những cái thực tế của Chủ nghĩa Cộng sản. Trong khi hoàng đế Bảo Đại lỗi thời là người đứng đầu danh nghĩa của nó, quyền lực thực sự thuộc về Thủ tướng Ngô Đình Diệm và nhóm gần gủi của các thành viên trong gia đình của ông ta. Đối mặt với những thách thức to lớn đối với thẩm quyền của ông ta hơn là buộc phải đối mặt bởi các đối thủ phía bắc của mình, điều tuyệt vời là việc cân đo trọng lượng của hai vấn đề trên của chính phủ, ngay cả với sự hỗ trợ từ chính quyền Eisenhower, chính phủ của ông ta chỉ tìm cách sống còn là trên hết.(pc 02)
Ngay lập tức, chính quyền Diệm đã bị bao vây với những thách thức. Báo chí Tây phương mang tính chất thù nghịch tự nhiên đưa ra một nguồn tin ít ỏi khi tường thuật về những nỗ lực của chế độ Diệm giải quyết theo cách quân sự những mối đe dọa được đặt ra bởi giáo phái Hòa Hảo, Cao Đài, và các lực lượng khác của Phật giáo vốn là những người hoàn toàn không tín nhiệm những giáo lý thuộc Công giáo La Mã của Thủ tướng và nhóm những người Trung Kỳ tha hương của ông ta. Thêm vào cuộc xung đột tôn giáo và văn hóa, và gánh nặng đầy ấp của việc thu hút quá nhiều công dân mới, chính phủ mới phải đối mặt với sức mạnh gây ảnh hưởng về tài chính và chính trị của nhóm Bình Xuyên. Bình Xuyên cơ bản là những hải tặc vốn là những người săn mồi trên việc vận chuyển bằng đường thủy vốn đi qua Sông Sài Gòn trong thập niên 1930s và 1940s. Sau Thế Chiến thứ II, Bình Xuyên đã được bỏ mặc để điều hành cả cảnh sát và những vùng nhượng địa phụ ở Chợ Lớn, là một phân khu thuộc Sài Gòn của người Hoa. Ông Diệm xem Bình Xuyên, giống như giáo phái Hòa Hảo và Cao Đài, như là một mối đe dọa đối với khả năng của ông ta lãnh đạo đất nước.
Những thắng lợi của Cộng sản trên toàn thế giới, đặc biệt là ở châu Á, đã bảo đảm một cách hiệu quả sự quan tâm của Mỹ ở Việt Nam. Ngay từ giữa những năm 1950s, trong phản ứng đối với cuộc xâm lược của Bắc Hàn, Tổng thống Truman đã ra lệnh thành lập Nhóm Cố vấn Hỗ trợ Quân sự (NhCVHTrQS) ở Đông Dương thuộc Pháp. Phục vụ phần lớn như là một phương tiện tài trợ thông qua sự trợ giúp mà qua đó có thể được tuôn vào cho Pháp trong những nỗ lực chống lại Việt Minh, sự ra đời của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) cho nó một mục đích mới. NhCVHTrQS của Hoa Kỳ sẽ bắt đầu đưa vai chịu lấy gánh nặng trong cuộc chiến đấu chống lại những người Cộng sản.

p18

Một tổ chức được tạo ra trong phần lớn qua những nỗ lực của một thành viên của ban nhân viên NhCVHTrQS(pc 03) duy nhất là Quân đoàn bé nhỏ của Thủy quân Lục chiến (TQLC) cho nước cộng hòa mới.
Quân đội Mỹ sẽ đầu tư trực tiếp những khoản to lớn của máu và công khố quốc gia trong việc tiến hành cuộc Chiến tranh Lạnh. Một trong những điều đó không được nhận thấy hoặc được nhận thức hoàn toàn bởi hầu hết dân chúng Mỹ là việc đào tạo và viện trợ được ban cho các quốc gia đang đấu tranh hầu duy trì sự tự do của họ trong một thế giới ngày càng thù nghịch. Trong những năm ngay sau Thế Chiến thứ II, một món quà khác của Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ cho Thế giới Tự do là phần việc của nó trong việc sinh ra bốn Quân đoàn mới của TQLC ở châu Á.
Đối với các nước cộng hòa mới ở Hàn Quốc, Đài Loan và Phi Luật Tân, những binh lính “Cổ Áo Da” (i.e. tiếng lóng cho TQLC) của Mỹ hào phóng gieo những hạt giống của công cụ chiến tranh viễn chinh cho những nhóm nhỏ của những người đặc biệt ở quê hương tương ứng của họ. Trong mỗi nước, Quân đoàn TQLC mới sẽ mang dấu ấn của những người anh em già dặn Mỹ của họ. Luôn luôn là các dịch vụ nhỏ nhất, như ở nước Hoa Kỳ, danh hiệu “Thủy quân Lục Chiến” trong mỗi những ngôn ngữ địa phương sẽ cuối cùng là đồng nghĩa với tất cả người giỏi nhất trong tinh thần thượng võ và đức hạnh chiến binh.
Trong số bốn Quân đoàn TQLC con đẻ, mối quan hệ giữa Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ (QĐTQLCHK) và TQLC, cho đến nay, sẽ trở thành riêng tư, mạnh mẽ, và tốn kém nhất. Đối với VNCH, chỉ có Sư đoàn Dù của quân đội họ sẽ đứng như là ngang hàng với một danh tiếng khó có được cho kỹ năng chiến đấu và sự tin cậy. Một nhóm nhỏ những người đàn ông vốn là những người sắp phục vụ như là những quân nhân TQLC Việt Nam từ năm 1954 trở đi sẽ chứng minh lòng nhiệt huyết đặc trưng đó vốn quá rõ ràng là đặt TQLC ra một vị trí riêng biệt trong mỗi nền văn hóa.
TQLC(pc 04) có những nguồn gốc của nó trong một tổ chức rất nhỏ của những đơn vị loại biệt kích, khét tiếng được thành lập với sự hỗ trợ của Pháp vào năm 1946. Những đại đội tấn công trên sông này, được biết đến như là những “Sư đoàn Bộ binh Tấn Công của Hải quân” (“Dinassauts”),(pc 06) là sự phối hợp của những đơn vị bộ binh chuyên nghiệp với những khả năng chiến đấu trên nước và trên bộ. Những hoạt động đầu tiên của họ là trên vùng phía bắc trong khu vực đồng bằng Sông Hồng. Trong số những đơn vị chiến đấu Việt Nam bắt đầu với sự trợ giúp của Pháp, những Sư đoàn Dinassaut hưởng được một danh tiếng đặc biệt mạnh mẽ cho sự mãnh liệt, nồng nhiệt của đơn vị và tinh thần đồng đội của họ.4

(Huy hiệu của Sư đoàn 1 Dinassaut vào năm 1946)

(Hai chiếc tàu nhỏ chuyển quân của Mỹ được tân trang
đang làm nhiệm vụ trên sông)

(Hoặc con tàu đổ quân lớn hơn của Mỹ nầy trong Thế Chiến thứ II
cũng được cải tiến cho Sư đoàn Dinassaut của Pháp)

Việc phân vùng của Việt Nam vào năm 1954 được mang theo với nó là một cố gắng phát triển toàn diện một cơ cấu lực lượng quân sự quốc gia có khả năng trong việc bảo vệ nền cộng hòa mới từ mối đe dọa hiển hiện, sắp xảy ra, đối với mặt phía bắc.

p19

Cùng với sự cần đến cho một quân đội hiện đại, lực lượng Không quân và Hải quân cuối cùng đi đến sự nhìn nhận thử trước đối với các đơn vị chuyên nghiệp có khả năng tiến hành các hoạt động thủy-bộ trên nhiều cây số bờ biển của Việt Nam và những đường thủy nội địa.
Những sự tranh đua nội bộ về phục vụ thường phổ thông trong mỗi một cơ cấu quân sự của quốc gia cũng xảy ra trên những người Việt Nam. Từ lúc bắt đầu của nó, TQLC, giống như những người anh em Mỹ của họ, sẽ là một phục vụ nhỏ nhất, cố gắng hết sức mình để giải quyết hoàn cảnh khó khăn cho các nguồn tài lực ở bất cứ nơi nào, lúc nào. Những năm tháng của cuộc tranh luận giữa các nhóm lớn của các sĩ quan quân đội của Việt Nam, Pháp và Mỹ không thể tạo ra một biểu đồ tổ chức có thể chấp nhận được hoặc phát triển các vai trò và nhiệm vụ cho lực lượng thủy-bộ mới nầy sẽ hoạt động qua đó. Điều đó cần đến một sự cương quyết tập thể, tính chất bạo dạn, và sức mạnh tuyệt đối của ý chí của một vị Thiếu tá Việt Nam, một Đại úy đội quân Pháp, và một Trung tá của QĐTQLCHK(pc 07) để biến đổi việc thành lập Quân đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam tách biệt trở thành một hiện thực.
Như là một người con trai trưởng, công việc chủ yếu của cậu bé Bình là đạt được nền giáo dục của mình. Người cha và mẹ kế của cậu ta cũng tương tự như thế gốp tay cho sự thành công của cậu ta. Cậu bé Bình chăm chỉ học hành để đạt được kết quả đó.
Bước vào chương trình mẫu giáo tại một ngôi trường của những cậu bé con ở Tân Định trong suốt thời gian chiếm đóng của Nhật, tình trạng bình thường của sự hỗn loạn đó tiếp tục không suy giảm qua sự việc trở lại gây nhiều tranh cãi của người Pháp, cuộc chiến tranh với Việt Minh, và trở thành sự thành lập đầy biến động của đất nước mới của cậu bé Bình.
Trong khi những người từ miền Bắc, hầu hết chống đối Chủ nghĩa Cộng sản tạo nên một cuộc di cư to lớn của họ vào năm 1954, vẫn còn có nhiều người dân ở miền Nam với chút lòng nhiệt tình dành cho chế độ Diệm. Sức quyến rũ của Chủ nghĩa Cộng sản, đối với nhiều người là một sự lựa chọn tuyệt vời đối với cái ách áp bức của chủ nghĩa thực dân Pháp, có sự chấp nhận đặc biệt rộng rãi trong số những người thay đổi chính kiến của thế hệ đầu tiên.
=============
* Trung tá Victor Croizot của QĐTQLCHK,(pc 07) giống như rất nhiều những sĩ quan khác của Quân đoàn TQLC,(pc 04) là một người có những kỹ năng và thành tích xuất xắc. Những nỗ lực của ông ta dành cho TQLC được biết đến một cách rộng rãi. Sự đóng góp vào sự lãnh đạo của ông ta trong việc quản lý cuộc di cư của 807.000 công dân Việt Nam từ miền Bắc vào miền Nam trong năm 1954, trong khi ít được biết đến, không thể là được phóng đại. Ngoài sự kiện là một người “cha đẻ” Mỹ đối với TQLC, Trung tá Croizot cũng phục vụ như là vị cố vấn chính thức đầu tiên đối với TQLC Việt Nam. Ông ta sau nầy về hưu như là một vị Đại tá và là tác giả của cuốn sách “Vượt qua Rặn san hô: Xe có Xích Lội nước trong Chiến tranh” (Across the Reef: The amphibious Tracked Vehicle at War).
=============

p20

Một số bị thu hút bởi điều gì đó chẳng khác gì là việc cấp giấy phép thực thụ của những người Cộng sản để giết những điền chủ của họ hoặc bất kỳ ai bị cáo buộc về việc bốc lột giai cấp vô sản. Những đảng viên nồng cốt của mọi trình độ sẵn sàng chấp nhận lời kêu gọi của đảng cho sự hy sinh để vượt hơn chủ nghĩa tư bản và sự áp bức của ngoại bang. Những người đó giống như gia đình của cậu bé Bình, vốn là những người đã từng sống dưới hoặc bị tác động một cách tiêu cực bởi Việt Minh, đã không kém nóng lòng phá bỏ các vết tích của chủ nghĩa thực dân. Cũng không phải họ ôm chặt lấy những lời nói dối hoàn toàn của những người Cộng Sản và những sự thật nửa vời mà họ biết được từ kinh nghiệm cay đắng của gia đình.
Một số lượng những giáo viên tại trường trung học của cậu Bình, có thể đã từng là những thành viên thuộc một nhóm ẩn kín của một cán bộ Cộng sản được gài lại phía sau vào lúc phân vùng đất nước. Họ có thể chỉ đơn giản từng là một phần của nhóm ít người nhưng rải rác rộng lớn đó ở miền Nam vốn là những người có cảm tình với Cộng sản. Bằng cách nầy hay cách khác, họ không lo ngại bày tỏ điều gì đó cho chàng thanh niên Bình vốn không là gì hơn là lời tuyên truyền. Khi có thể, cậu ta sẽ trân trọng thách thức quan điểm thế giới của họ về sự vĩ đại của Trung Quốc và Liên Xô. Trong khi những học sinh học hỏi về chiến thắng của Trung Quốc trong Chiến tranh Triều Tiên và về sự vinh quang của chương trình không gian của Nga với việc phóng đi phi thuyền Sputnik, ít được nghe nói về Hoa Kỳ và khi được nhắc đến, không bao giờ là tích cực. Khi cậu Bình chia sẻ điều này với cha của mình, người có tuổi hơn sẽ lấp vào điều gì mà cậu ta biết về những sự kiện lịch sử mà qua đó các giáo viên thuận tiện bỏ ra ngoài.
Mặc dù việc chiến đấu, một sự kiện không chắc chắn, và một mưu toan về chính trị không bao giờ chấm dứt vốn tạo thành cách sinh hoạt thông thường, mỗi ngày ở Việt Nam, những chu kỳ của cuộc sống tiếp tục diễn ra. Người Nhật, Pháp, Việt Minh, và thậm chí là cuộc nổi dậy của nhóm Bình Xuyên chống lại chế độ Diệm vào năm 1955 đã không ngăn được chàng thanh niên Bình đẩy mạnh về phía trước bằng việc giáo dục mà gia đình của cậu ta mong mỏi rất nhiều nơi cậu. Điều đó chưa đến lúc cho mãi đến năm 1957, năm mà cậu ta hoàn tất trung học ở trường Petrus Trương Vĩnh Ký, mà qua đó bất kỳ biến động nào trong số những cuộc khủng hoảng vô danh, gần như hàng ngày cuối cùng đã làm gián đoạn việc học của cậu ta trong một khoảng thời gian ngắn. Khi cậu ta đã tốt nghiệp trung học và được tiến vào trường đại học, chàng thanh niên Bình đã có đủ mối đe dọa nguy hại của Cộng sản, đã từng nghe những câu chuyện về cuộc sống ở Hà Đông quen thuộc như thế nào trước khi Việt Minh đã chiếm lấy, đã từng nghe hàng trăm lần về những việc làm nhục nhã được gán cho khi bà nội và những chú bác và anh em họ của mình. Để chỉnh lại một sự bất công, để trả thù cho danh dự của gia đình mình, để làm một cái gì đó mà một thanh niên hiểu lý lẻ phải làm, có nghĩa là tham gia vào nỗ lực để loại bỏ dùm cho đất nước của mình điều gì mà cậu ta nhìn thấy như là một căn bệnh ung thư quái ác đang phát triển của Chủ nghĩa Cộng sản.

p21

Đến năm 1957, chàng thanh niên Bình biết rằng sự lựa chọn duy nhất của mình là phục vụ đất nước mình như là một sĩ quan trong những lực lượng quân sự của nó.
Chàng thanh niên Bình là một học sinh trung bình. Nơi mà anh ta được hướng đến, anh ta chắc chắn rằng không ai trong số những quân nhân mà anh ta sắp sửa dẫn dắt, sẽ hỏi anh ta về những số điểm học vấn của mình là gì. Và trong khi trường học không riêng biệt đến dễ dàng cho anh ta, việc tốt nghiệp của anh ta vào năm 1961 với bằng cử nhân về lịch sử và địa lý là một sự đo lường nhỏ nhoi của những giáo sư của anh ta về tính bền bỉ của trí tuệ và kỷ luật tự giác và các kỳ thi mà họ làm ra, thì không có cách nào ước định một cách chính xác.
Giữa việc thành lập những nước Việt Nam riêng biệt vào giữa năm 1954 và 1959, cả hai chính phủ tập trung những nỗ lực của họ vào việc củng cố chính trị trong nước. Trong khi ít được tường trình về vấn đề thông tin liên lạc bị cưỡng bức của toàn thể dân cư thuộc nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và việc giết hại hàng ngàn công dân bị xét xử là những kẻ thù của nhà nước, những thách thức phải đối mặt bởi chế độ Diệm và nhiều thiếu sót của nó đã được phát sóng một cách rộng rãi.
Ngô Đình Diệm, một người bên ngoài đối với nhiều người và là một người Công giáo La Mã vốn là người đã từng sống trong một thời gian ở Hoa Kỳ, ban đầu được xem xét với sự ủng hộ ở các nước phương Tây chống Cộng. Trong quốc gia riêng của mình, thêm nhiều vô số Phật tử và những giáo phái khác nhau không tín nhiệm hoàn toàn vào bè lũ Diệm. Việc sử dụng quân đội để đè bẹp những người chống đối của giáo phái Hòa Hảo, Cao Đài, và nhóm Bình Xuyên chỉ là tạm thời dặp tắt những thách thức đối với thẩm quyền thuộc chế độ của ông ta.
Vào năm 1958, với củng cố quyền lực ở miền Bắc hoàn tất, Hồ Chí Minh ra lệnh cho việc di chuyển cán bộ trở lại miền Nam và năm sau họ, cùng với những người được gài lại phía sau hoặc được tuyển dụng gần đây hơn, bắt đầu cuộc chiến tranh nhân dân của họ chống lại chính quyền Sài Gòn một cách sốt sắng nhất. Giữa năm 1954 đến cuối năm 1960, Việt Cộng (VC) đã từng ám sát gần 1.700 và bắt cóc thêm 2.000 người ủng hộ Saigon gồm những trưởng làng và trưởng lão.5 Từ năm 1961, chiều hướng về những nỗ lực khủng bố của họ sẽ gia tăng. Khi nhu cầu của Cộng sản về người và vật liệu dấy lên, việc xây dựng được khởi xướng trên cái gì đó sẽ trở nên được thế giới biết đến như là Đường mòn Hồ Chí Minh. Đến năm 1965, hệ thống đường mòn có khả năng vận dụng 5.000 đến 6.000 người hàng tháng và tất cả trong số các nguồn cung cấp của họ được gởi xuống hầu “giải phóng” những người anh em ngoan cố của họ.6

p22

Những cuộc biểu tình chính của Phật giáo bắt đầu vào năm 1961 mà qua đó cuối cùng dẫn đến hàng loạt những biến cố được tường thuật ngoạn mục, rộng rãi vào năm 1963 trong suốt thời gian mà các nhà sư trông tốt lành và vô hại trong những tấm áo choàng vàng nghệ và ngồi trong tư thế hoa sen được tưới lên bằng xăng và được châm lửa như là một phương cách để thu hút sự chú ý đến sự bất công của chế độ Diệm. Khá lâu trước sự kiện nầy, những người Cộng sản đã từng xâm nhập một cách hiệu quả vào nhiều nhóm trong số những nhóm đối lập với chính quyền Sài Gòn. Đối với nhiều người, điều khó khăn chính là không cảm thông với phe đối lập khi nạn tham nhũng của chế độ Diệm thì dễ dàng ghi chép lại và ban lãnh đạo hoàn toàn, quá nghiệp dư không đáng ưu ái được chút nào. Trong khi những người ở Mỹ có thể đã ước muốn cho việc xuất hiện lần thứ hai của Bà Chiang Kai-shek (i.e. Tưởng Giới Thạch), thanh nhã, dịu dàng, có trình độ giáo dục của học viện Wellesley(pc 08) về sức khoẻ xã hội; trong khi Bà Nhu, người em dâu có biệt hiệu là Long Nữ gần như xúc phạm thánh thần và là bất cứ là gì-ngoại trừ-nghiêm trang của ông Diệm chị em trong luật pháp, thực hiện lời phê bình công khai sau một trong các vụ tự thiêu rằng dân chúng vừa mới chứng kiến một màn “nướng thịt ngoài trời.” Không có một cảm tưởng nào về việc bà ta sẽ được cảm nhận như thế nào bởi những người vốn có thể không đồng cảm với quan điểm của bà ta, khi bà ta nói với một người phỏng vấn, “Hãy để chúng cháy và chúng ta sẽ vỗ tay.”7
Vai trò lãnh đạo chính trị của Mỹ trong những năm 1950s và 1960s, hàng ngày phải đối mặt với viễn ảnh của chiến tranh hạt nhân với Liên Xô, và từ danh sách ngày càng tăng của những nhà nước khách hàng ở châu Âu và trên toàn châu Á, nguy cơ của cuộc chiến tranh nhân dân, tuy nhiên được xác định. Chưa phai mờ từ cái gì mà nhiều người Mỹ sẽ mô tả như là một hiệp ước đình chiến đáng lo ngại ở Hàn Quốc, cả hai siêu cường tìm cách giảm thiểu những cơ hội phải đối mặt với nhau trực tiếp trong cuộc chiến đấu mà qua đó có thể nhanh chóng biến chuyển thành hạt nhân. Những thất vọng về việc không có khả năng bảo đảm một chiến thắng hoàn toàn bị làm xáo trộn bởi niềm tin rằng có thể không bao giờ có một lần khác là thắng lợi hoàn toàn đó như được nhìn thấy trong năm 1945.
Đối với Hàn Quốc và không phải là Thế Chiến thứ II, như là sự hướng dẫn phù hợp với lứa tuổi, việc tham gia của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á sắp được đo lường bằng thước đo của cuộc Chiến tranh Lạnh đó. Tình hình trong một nước Việt Nam Cộng hòa mới có nhiều điểm tương đồng đối với tình hình đó trên bán đảo Triều Tiên. Cả hai Cộng sản Hàn Quốc và Việt Nam chia sẻ một vùng biên giới chung với Trung Quốc và nhận được sự trợ giúp đáng kể từ nó. Cả hai nhận được những khoản viện trợ to lớn tương tự từ Liên Xô. Cả hai quốc gia đã từng trải qua kinh nghiệm gần đây với những kẻ chiếm đóng thuộc địa, với người Nhật, cho đến nay, là sự đàn áp tàn bạo nhất.

p23

Chiến tranh Triều Tiên là một cuộc chiến tranh hầu như qui ước được chiến đấu trên lãnh thổ mà, khi cả hai bên không được thiết lập ở các vị trí tĩnh, cho phép sự huy động các đơn vị lớn chống lại kẻ thù có thể nhận dạng được một cách hợp lý. Bắc và Nam Triều Tiên bị phân chia tại Vĩ tuyến 38 bởi cùng sự kiện có toàn quyền quyết định mà qua đó đã bắt đầu việc phân chia của Việt Nam tại Hội nghị Yalta vào năm 1945. Quãng đường duỗi dài 240 km lẻ này của lãnh thổ biên giới là một con đường đất duy nhất vào trong hoặc ra khỏi miền Nam. Do có một số ít khu rừng, những lực lượng của đối phương gặp khó khăn trong việc ẩn nấp từ máy bay đồng minh đang lảng vảng và việc cô lập chiến trường thì tương đối dễ dàng. Với những khả năng hạn chế của Hải quân, những cơ hội cho sự xâm nhập của Cộng sản bằng đường biển bị kiềm chế đối với sự di chuyển của các đơn vị nhỏ.
Chính là những khác biệt đối với Hàn Quốc mà qua đó sẽ khiến cho việc bảo vệ Việt Nam tạo thách thức xa hơn cho cả những người tài trợ Mỹ và những người Việt tìm cách tránh khỏi quyền cai trị của Cộng sản. Nơi mà dân cư Hàn Quốc, cả miền Bắc và Nam, thì gần như đồng nhất, trong khi Việt Nam và các nước láng giềng phía tây của nó chia sẻ những vùng biên giới xốp dễ dàng vượt qua, khó xác định và là nơi cư ngụ cho một dân số lớn của các nhóm dân tộc thiểu số khác hẳn nhau. Với những quy tắc tự áp đặt cho sự ràng buộc và những giới hạn về địa lý, khu rừng dầy đặc và những khu vực núi non của phía đông Cam-pu-chia và Lào là những nơi ẩn náu cho các khu bất khả xâm phạm của Cộng sản và tạo nên sự ngăn trở xâm nhập vào trong Việt Nam gần như không thể xảy ra. Do những hạn chế về địa lý và chính trị, thế chủ động trên chiến phải nhường phần lớn cho đối phương.
Bắt đầu với cuộc Khủng hoảng Kênh đào Suez(pc 09) vào đầu mùa hè của năm 1956, một loạt các hành động tích cực từ những người Cộng sản được tung ra: sự đàn áp tàn bạo những người chiến đấu Hungary cho tự do bởi những binh lính Liên Xô, cuộc xâm lược của Cộng sản Trung Quốc chống lại Trung Hoa Quốc Dân Đảng trong suốt cuộc Khủng hoảng Eo biển Đài Loan lần Thứ hai vào cuối năm 1958, sự mất đi Cuba cho những du kích quân của Castro ngay tại cửa sau của Mỹ vào năm 1959, việc bắn hạ máy bay thám thính U-2 của Gary Power trên đất Nga, sự tan rã của quân đội ở Vịnh Heo, việc dựng lên Bức tường Bá Linh, và những thách thức đối với Tây phương ở nước Congo từ Patrice Lamumba và những đội quân của ông ta.

(Kênh đào Suez vốn được mở ra vào tháng 11/1869,
nằm giữa Ai Cập và Israel, từ phía bắc của biển
Địa Trung Hải kéo dài vào Biển Đỏ, phía nam)

(Những lính dù của Anh–Pháp rơi trên Kênh đào Suez
và cuộc chinh phục Sinai của Israel)

Tình hình trên vùng đất trong khu vực Đông Nam Á đến đầu thập niên 1960s thì không có triển vọng nhiều hơn các sự kiện ở nơi khác. Mặc dù các vị cố vấn quân sự Mỹ đã được tích cực sử dụng trong tất cả các cách thức của những vai trò thuộc ban nhân viên không-chiến-đấu ở Việt Nam từ năm 1954,

p24

nhu cầu để đặt những người Mỹ trong chiến trường hầu quan sát tốt hơn và trợ giúp trong việc phát triển toàn diện những khả năng của đồng minh họ cuối cùng được cho phép trên cơ bản giới hạn, kiềm chế, vào năm 1960. Những sĩ quan Mỹ ít nhìn thấy điều đó đang khuyến khích trong sự việc xảy ra trước đây.
Lực lượng TQLC, vốn sẽ không bao giờ bao gồm nhiều hơn 2% tổng số nỗ lực quân sự của Việt Nam, liên tục được cải thiện những kỹ năng chiến đấu của mình như là một nhóm với kích thước nhỏ của một tổ chức phản ảnh địa vị ưu tú của nó trong số các lực lượng của VNCH.(pc 05) Quân đội Việt Nam lớn hơn nhiều, thường được đề cập đến như là Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH), mà trong đó không thiếu những con người dũng cảm, bị cản trở làm việc bởi những vấn đề đặc trưng trong những tổ chức quân sự mới được thành lập ở các nước nghèo. Nguồn tài lực hạn chế, việc huấn luyện bị giới hạn, và một quân đoàn sĩ quan thường bao gồm, đặc biệt là ở cấp trên, những người được chọn lựa và xét đoán nhiều về lòng trung thành với phe phái chính trị và các kết nối hơn là về những khả năng chiến đấu được minh chứng và vai trò lãnh đạo mà qua đó thường đặt đơn vị của chế độ Sài Gòn vào một tình huống bất lợi rất lớn đối với những lực lượng đôi khi có nhiều khả năng bị dẫn dắt và thúc đẩy bởi Cộng sản.
Những sĩ quan quân đội Mỹ được đưa vào để giúp tạo ra, uốn nắn, và hướng dẫn một quân đội Việt Nam còn non trẻ, là trong số những người giỏi nhất và sáng dạ nhất hiện có. Thành công ở Hàn Quốc với việc thành lập quân đội của nước cộng hòa mới đó, công tác của Trung tướng John “Mike Sắt” O’Daniel như là Trưởng ban NhCVHTrQS(pc 03) Hoa Kỳ đại diện cho đỉnh cao trong những kỳ vọng của ban lãnh đạo chính trị và quân sự của Mỹ. Quá trình lâu dài, gian khổ trong việc xây dựng những tổ chức quân sự cần thiết và cơ sở hạ tầng hỗ trợ tối thiểu được đưa trao cho hàng trăm sĩ quan cống hiến của Mỹ, một số lượng của các đối tác Pháp giảm xuống, và hàng ngàn người Việt có cùng tâm ý, nóng lòng muốn nhìn thấy sự thịnh vượng đất nước của họ.
Việc thực hiện ban đầu bởi quân đội VNCH trong cuộc chiến đấu chống lại du kích quân là đốm nhỏ. Những chiến thắng nào đó mà họ thực sự đạt được đối với những người Cộng sản, bấy giờ được đề cập đến như là Việt Cộng, thường là những sự kiện nhất thời khi các chính sách của chế độ Diệm làm suy yếu những hoạt động của họ ở chiến trường. Sự quyết định thay thế những quan chức thôn làng được chọn lựa bầu bằng những người được chỉ định bởi chính quyền Sài Gòn làm xa lánh nhiều người trong dân cư nông thôn. Những chiến dịch đàn áp chống lại những công dân, thậm chí mơ hồ được nghĩa là có cảm tình với Cộng sản đã làm lợi thêm việc tuyên truyền ở mọi nơi được gây cảm hứng từ Hà Nội.

p25

Đồng thời những tay mật vụ ở-lại-phía-sau đang được khơi động trở lại, việc tuyển dụng địa phương cho VC(pc 10) được tích cực theo đuổi và sự xâm nhập của những cán binh thuộc dòng chính yếu của Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) vào trong miền Nam được thêm vào danh sách của những vấn đề khó khăn đang đối mặt với nền cộng hòa. Đến năm 1961 và bước vào năm 1962, người ta ước tính rằng những người Cộng sản trên thực tế có quyền kiểm soát nhiều hơn một nửa đất nước.
Ở những cấp cao nhất của ban lãnh đạo Mỹ ở Việt Nam và Washington, một cuộc tranh luận đang diễn ra dữ dội tập trung vào vấn đề hành động nào để tiến hành và cách nào tốt nhất để giải quyết ông Diệm, mà những hành động của riêng họ thường không phù hợp với ý định của Mỹ. Cách thức cai trị của ông Diệm và nạn tham nhũng trắng trợn của chế độ của ông ta là điều đáng xấu hỗ và làm cản trở cái gì đó mà những người Mỹ nhìn thấy như là sự cố gắng hào hiệp của riêng họ nhằm ngăn chận những thu hoạch của Cộng sản. Trong số các thường dân Việt Nam, ông Diệm hưởng được sự ủng hộ tối thiểu, và từ những người trong quân đội sự yêu mến của quần chúng dành cho ông ta thậm chí còn dễ lung lay hơn.
Đến mùa hè 1963, Mỹ đã đầu tư gần chín năm của phần vốn mồ hôi nước mắt không lãi của chính trị trong sự thành công của Việt Nam. Với sự cố gắng cố vấn đang gia tăng và sự hỗ trợ quân sự gần như trực tiếp, cũng có một danh sách ngày càng tăng về những thương vong của Mỹ. Đối với tất cả máu và công khố quốc gia được bỏ ra cho đến nay, có ít ỏi để phơi bày. Nhiều người Mỹ cao cấp và nhiều hơn một số ít tướng lãnh Việt Nam tin rằng vai trò lãnh đạo tiếp tục của ông Diệm mang đến một tương lai cho Việt Nam với ít hy vọng cho một chiến thắng.
Đi đến mức nầy, đến nay đã đầu tư rất nhiều và có một Việt Nam thất bại và sụp đổ đối với kẻ thù phía bắc của nó sẽ bắt đầu cho những con cờ domino ngã xuống. Sự xuất hiện của giải pháp yếu đuối của Mỹ trong khu vực Đông Nam Á sẽ khuyến khích hơn chủ nghĩa bành trướng và sự xâm lược của Liên Xô trên toàn thế giới. Trong số ban lãnh đạo quân sự Việt Nam là một nhóm sĩ quan ngày càng tăng thêm vốn là những người tin rằng cách duy nhất để cứu lấy đất nước của họ là loại bỏ ông Diệm. Sự tham gia của Mỹ vào cuộc đảo chính nhằm thay thế ông Diệm, vẫn còn gây tranh cãi và là chủ đề của cuộc tranh luận nóng bỏng, ít nhất cho thấy một mức độ chính xác nào đó trong lời nhắc nhở trước đó được nêu ra trong lá thư nổi tiếng của năm 1948 từ George Kennan gởi cho một quan chức thân hữu Chip Bohlen của Bô Ngoại Giao:

Điều này không có nghĩa rằng tất cả các chính phủ mà chúng ta giúp đỡ để chống lại áp lực của Sô-Viết sẽ được tĩnh ngộ, những chính phủ tự do, đang thực thi nền dân chủ theo những cách mà người dân của chúng ta sẽ tìm thấy đáng khen ngợi.

p26

Nhiều chính phủ trong số những chính phủ này có thể là tham nhũng hoặc độc tài. “Nhưng chúng sẽ được ưu ái hơn, từ một quan điểm về những quan tâm của Mỹ, đối với những chế độ bị Cộng sản thống trị; vì họ sẽ không khao khát đối với sự thống trị thế giới, hoặc họ cũng sẽ không có những nguồn tài lực để cho phép họ mơ đến cuộc xâm lược trên quy mô lớn” (những chữ in nghiêng được thêm vào).8

Đối với những nhà lãnh đạo quân sự Việt Nam với sức mạnh để tạo ảnh hưởng cho sự thay đổi, rõ ràng là ông Diệm sẽ phải đi nếu Việt Nam Cộng Hòa sắp có một cơ hội sống còn nào đó.(pc 11)
Có một giả định hợp lý, theo trực giác trong số nhiều người Việt Nam yêu nước ở miền Nam đó là, một khi đất nước đạt được vị thế chắc chắn của nó, một nỗ lực quân sự hầu giải thoát các gia đình bị bắt làm nô lệ của họ khỏi sự gian ác nhất thời ở miền Bắc sẽ được thực hiện. Như là một người quen thuộc với chiến lược quân sự và chiến lược Hải quân một cách đặc biệt, Lê Bá Sách biết rằng đội tiên phong của cuộc xâm lược cuối cùng sẽ là TQLC. Lê Bá Sách thương yêu những đứa con của mình, nhưng ông ta cũng thực sự yêu đất nước mình và nuôi dưỡng một lòng hận thù thấu xương, bầm gan tím mật đối với những người Cộng sản; một hận thù đủ mạnh đến nổi ông ta sẵn sàng đầu tư đứa con trai số một của mình về hướng kết quả đó. Lê Bá Sách mạnh mẽ khuyên đứa con trai đầu lòng của mình làm nghĩa vụ của anh ta như là một quân nhân TQLC.
Sau việc tốt nghiệp của anh Bình từ trường đại học, anh ta được nhận ngay vào trường Sinh viên Sĩ quan Quốc gia bên ngoài Sài Gòn cho một khóa học 10 tháng vốn sẽ đưa đến việc phong cấp sĩ quan của mình. Do kích thước tương đối nhỏ của những phân nhánh quân sự của Việt Nam bên cạnh quân đội, các dịch vụ được chia sẻ cho trường Sinh viên Sĩ quan Quốc gia của họ hầu giảm thiểu những chi phí và sử dụng một cách hiệu quả hơn các nguồn tài lực khan hiếm cho việc huấn luyện. Chương trình học 10 tháng phơi bày cho những sĩ quan trẻ khao khát vai trò lãnh đạo quân sự, những phong tục, những tác phong nhã nhặn, nền văn hóa, sự tập luyện, và một số chiến thuật bộ binh rất cơ bản vì số lượng lớn của mỗi khóa dù sao cũng được lãnh đạo quân đội (QĐVNCH). Lớp của anh Bình là một nhóm lẻ trong đó của nhiều trăm sinh viên sĩ quan một số, 60 người trong số họ đã chọn lựa nhiệm vụ với TQLC khao-khát-những-lãnh-đạo-trẻ-mới hiện nay.
Đến năm 1962, lực lượng TQLC, trong tám năm tồn tại ngắn ngủi của nó, vừa mới thêm vào một tiểu đoàn bộ binh thứ ba của nó. Với một tiểu đoàn pháo binh riêng của nó, một tiểu đoàn thủy-bộ hỗ trợ, và một bộ phận huấn luyện tân binh chính thức, TQLC bây giờ có thể đặt toàn bộ một lữ đoàn vào trong chiến trường.9 Đến lúc anh Bình được gắn lên những vạch vàng sáng chói của một vị Thiếu úy, gần 6.000 người Việt Nam đã tương tự như thế có được quyền mặc đồng phục khác biệt riêng có vằn như cọp, độc nhất cho Quân đoàn của họ và công bố phương châm phục vụ của họ: “Danh Dự Tổ Quốc,” mà qua đó dịch ra đại khái như là “Tuyệt đối vinh danh đất nước chúng ta.”

p27

Theo sau việc tấn phong, 60 vị Thiếu úy mới của TQLC được ghi danh vào một khóa học một tháng ở Thủ Đức được dự kiến để truyền thụ cho họ xa hơn vào trong những cách thức của Quân đoàn. Với sự nhấn mạnh trên chiến thuật bộ binh và thủy-bộ, nó mang ý nghĩa là chuẩn bị họ cho vai trò lãnh đạo chiến đấu ở cấp trung đội và cấp đại đội. Trong số cả nhóm, anh Bình tốt nghiệp số một trong lớp học của mình.
Một quân nhân cao cấp của TQLC,(pc 04) Trung Tướng Lê Nguyên Khang, gần đây đã chỉ huy Tiểu đoàn 3, cũng được biết đến như là “Sói Biển” hoặc “Wolves of the Sea.” Tự hào về đơn vị cũ của mình, vị Tư lệnh không có chút gì là lạm dụng việc chộp lấy những sĩ quan trẻ đầy hứa hẹn để bảo đảm sự thành công trong tương lai của Sói Biển yêu mến của mình. Và đó là việc anh Bình được phân nhiệm cho Tiểu đoàn 3 như thế nào.
Những sĩ quan TQLC Mỹ được giao nhiệm vụ như là các vị cố vấn cho TQLC sẽ tìm thấy phần nhiều là một nền văn hóa quen thuộc. Quân đoàn Thủy quân Lục chiến Việt Nam nhanh chóng hấp thụ cùng một cách gan lì và niềm tự hào dành cho tổ chức mà những vị cố vấn tinh thần Mỹ của họ đã từng thành công tìm cách để thấm nhuần. Nhận thức được giá trị thượng thừa của nền văn hóa võ bị của họ, lực lượng TQLC và Lữ đoàn Dù khoe khoang của QĐVNCH được chỉ định như là một lực lượng trừ dự chung cho toàn bộ Quân lực Việt Nam Cộng hoà (QLVNCH) vào giữa năm 1959.10 Hai đơn vị nhỏ nhưng đáng tin cậy nầy trở thành một lực lượng của quốc gia họ luôn sẵn sàng, những “lữ đoàn lửa” để sử dụng trong trường hợp của những khẩn cấp cực kỳ, các đơn vị được gởi vào để giải quyết các nhiệm vụ khó khăn nhất.
Đơn vị chính của việc khai triển và sử dụng cho TQLC trở thành một tiểu đoàn. Được tổ chức rất giống với các đối tác QĐTQLCHK của nó, cũng có một sự liên lạc của Hệ thống Trung đoàn Anh quốc theo cách của một công việc dài hạn được tiến hành. Như là một phân nhánh nhỏ của quân đội không có lợi ích nào của một lịch sử hoạt động quan trọng, dễ dàng để hiểu rằng các sĩ quan và những người lính vẫn còn ở lại với các đơn vị trước đây miễn là thực dụng. Trong khi không người nào đã từng phục vụ đủ lâu để gọi thời gian của mình là một sự nghiệp, điều đó có vẻ hợp lý rằng một người đàn ông có thể, nếu anh ta sống qua cuộc chiến đấu, được giao cho cùng một tiểu đoàn trong một khoảng thời gian. Những người phản đối hệ thống này lập luận rằng điều đó kiềm chế sự đổi mới và sự truyền lại cho người tiếp nối. Một lập luận trái ngược là ngay cả đối sự phân chia hàng ngũ, một môi trường như tựa gia đình hơn được bồi dưỡng mà qua đó góp phần cho sự nồng nhiệt và tinh thần đồng đội lớn hơn.

p28

Nền văn hóa của người chiến binh bên trong TQLC là một sự pha trộn chiết trung của tất cả vốn là độc nhất đối với người Việt với một số khoảng trống còn lại dành cho sự ảnh hưởng của Mỹ. Cũng như không có hồ sơ duy nhất nào cho một thanh niên, vốn là người ghi tên đi lính như là một quân nhân “Cổ Áo Da” của Mỹ, không có một hồ sơ Việt Nam duy nhất. Có một số lượng những nhóm ở Việt Nam, tuy thế, họ vốn là những người được đại diện một cách không thích hợp. Khi những giáo phái vốn đã đặc biệt bị chấm mục tiêu bởi những người Cộng sản, những thanh niên với nguồn gốc Hòa Hảo và Cao Đài nhìn thấy việc đi lính như là một cách tìm kiếm sự trả thù. Và trong khi báo chí Mỹ trong nhiều năm sẽ làm nổi bật những thanh niên Việt Nam nào vốn là những người tìm cách để tránh quân vụ hoàn toàn hoặc, hầu hết, phục vụ theo những cách vốn sẽ tránh gặp phải nguy hiểm, không có thiếu những người mới Việt Nam yêu nước vốn là những người tin rằng Chủ nghĩa Cộng sản không phải là câu trả lời và nhìn thấy việc phục vụ trong TQLC như là một cách tốt nhất để đóng góp cho sự tự do của miền Nam.
TQLC là một tổ chức tình nguyện. Những việc nhập ngũ thường là, ít nhất vào lúc đầu, trong ba năm. Trại huấn luyện là tám tuần dài và được tổ chức phần nhiều theo những phong cách rất giống như những trại đó của QĐTQLCHK. Nhiều người trong số các hướng dẫn viên rèn luyện Việt Nam đã được theo học ở thành phố San Diego và Đảo Parris.
Những sĩ quan phải gánh nặng với những cam kết về thời gian lớn hơn. Khi chiến tranh tiến triển, nếu họ không bị mất mạng hoặc mang thương tích trầm trọng, họ được giữ lại trên nhiệm vụ hoạt động vô thời hạn. Và giống như những cấp bậc được ghi danh nhập ngũ, các sĩ quan của TQLC không phải là một phần của bất kỳ một nhóm đặc biệt nào. Quân đoàn sĩ quan TQLC là một sự pha trộn bao dung gồm những người miền Nam, những người miền Bắc di cư, những tín đồ Phật giáo, và Công giáo La Mã.
Không có nơi nào mà sự tôn trọng theo Nho giáo và sự phân chia tầng lớp thẩm quyền thì rõ ràng hơn so với ở trong lực lượng TQLC. Trong bốn quân vụ của Mỹ, Quân đoàn Thủy Quân Lục chiến, cho đến nay, thì hợp thức nhất trong phần về sự tôn trọng và sự nể nang được dành cho những người thuộc hàng ngũ cao hơn. Đối với những người không biết hoặc thông thạo có ít sự đánh giá về những tình cảm sâu sắc mà hầu hết thường chỉ là bên dưới bề mặt trong những quan hệ giữa sĩ quan–người lính, cao cấp–sơ cấp. Trong khi những sĩ quan thuộc Quân đoàn Thủy quân Lục chiến sẽ hiếm khi gọi những người của mình bằng tên của họ và những người đó chỉ nói đến những sĩ quan như là “ngài” hoặc bằng cấp bậc của họ, những sự kết hợp giữa các nhóm thì cực kỳ mạnh mẽ, ngay cả trong việc điều hành các đơn vị bên ngoài. Và trong khi hàng ngũ và danh hiệu là cái gì đó tách biệt những sĩ quan và người lính, sự chịu đựng gian khổ và sự nhận lấy khó khăn thì giống nhau cho tất cả mọi người.

p29

Bên trong quân đội Mỹ, đặc biệt là Quân đoàn Thủy Quân Lục Chiến, sự nhấn mạnh đặc biệt được đặt trên những người chủ động và đào tạo để tiếp nối nếu một sĩ quan cao cấp bị thiệt mạng hoặc trở nên không còn khả năng. Chính là cái gì đó gần như là độc nhất đối với nền văn hóa Mỹ, có lẽ là một phần tác dụng tinh thần của “người theo chủ nghĩa cá nhân chịu gian khổ” và bản chất tự nhiên thứ hai vốn cho phép các đơn vị tiếp tục chiến đấu một cách hiệu quả ngay cả khi những người chính thức phụ trách đó bị mất hết.
Sự phân chia xếp hạng cấp bậc trong TQLC thì ít giống kiểu Mỹ hơn, mang tính chất Việt Nam hơn hoặc thậm chí kiểu châu Âu trong thực dụng. Khi nói chuyện với một sĩ quan cao cấp, điều lịch sự thông thường và tôn trọng là không bao giờ nhìn một người thẳng vào đôi mắt. Ý niệm về “mặt mũi” và sự mất thể diện là tối thượng. Điều đó có thể không được chú trọng quá đáng. Việc bảo đảm là những mệnh lệnh được tuân hành và tất cả các hành động trước hết phải được cho phép trước khi được thực hiện thì rất quan trọng. Cái hố ngăn cách giữa những sĩ quan và những người nhập ngũ thì rõ ràng ngay cả ở cấp Thiếu úy. Những vị chỉ huy trung đội, mỗi người đều có một phân khu nhỏ trong trụ sở chính bé tí của họ, thường là 1 đến 3 người vốn là những người đóng vai trò như là những người cần vụ, phục dịch, đưa tin, điều hành cho một Trung úy trẻ. Càng cao hơn chức vụ một sĩ quan tiến triển, càng lớn hơn số lượng những người đàn ông được giao nhiệm vụ chăm sóc anh. Sĩ quan Mỹ sẽ tham khảo những người đàn người được giao cho nhiệm vụ chăm sóc ông ta. Những sĩ quan Mỹ sẽ không xem những người nầy như là những “tên cao bồi.” Chính là một công việc danh dự và không phải là một sự ô nhục để phục vụ như là một tên cao bồi của một sĩ quan.
Thiếu úy Lê Bá Bình tham gia của Sói Biển vào tháng Mười năm 1962, một tháng sau khi chương trình “Beverly Hillbillies” cho xem sơ qua trên truyền hình, cùng tháng là bản nhạc “Monster Mash” (i.e. “Sự ve vản của Quái thú”(pc 12)) của Bobby “Boris” Pickett trở thành bài hát nhạc pop số một ở Hoa Kỳ, trong cùng tháng Con Chim Ưng Mỹ và Con Gấu Liên Xô gần như như đi đến những cú đấm hạt nhân trao đổi trên những dàn phi đạn ở Cuba. Theo một chương trình có tên là Chiến dịch Shufly,(pc 13) bắt đầu sớm hơn trong năm, những chiếc trực thăng của Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ hiện tại đang trợ giúp bẳng việc vận chuyển những binh lính TQLC Việt Nam hải và các đơn vị của QĐVNCH vào và ra khỏi cuộc chiến đấu.

(Đĩa nhạc Monster Mash (xin bấm vào để nghe) được thu âm
riêng một bài của Bobby (Boris) Pickett
và ban nhạc The Crypt-Kickers)

(Chiến dịch Shufly của TQLC Hoa Kỳ vào tháng 4/1962)

Phương pháp sử dụng những cấp úy mới toang trong TQLC là một cuộc huấn luyện gần như ngay-trên-công-việc. Vừa mới đến với Tiểu 3, anh Bình được bổ nhiệm làm Trung đội Trưởng của Đại đội 2. (Không giống như các đối tác Mỹ của họ vốn là những người đưa cho những đại đội những quy định bằng mẫu tự, trong khi người Việt Nam đánh số những đại đội của họ.)

p30

Từ lúc, Thiếu úy Lê Bá Bình trình diện nhóm vào tháng Mười đến đầu tháng Mười Một năm 1963, Tiểu đoàn 3 được khai triển vô số lần trong việc chạm trán với các đơn vị Việt Cộng từ vùng cao nguyên tận phía bắc Sài Gòn đến mũi phía nam của Bán đảo Cà Mau.
Nếu được xét đoán từ quan điểm của những quân nhân Thủy quân Lục chiến được tham gia, đặc biệt là những người như anh Bình với kinh nghiệm chiến đấu, cuộc chạm súng của đối phương thì đáng kể. Nếu được nhìn từ một quan điểm trung lập, xa xôi, bao quát, những cuộc chạm trán thuộc về sự tác động nhỏ nhặt. Trong khoảng thời gian hai năm của “người đi đây đó” nầy, Thiếu úy Lê Bá Bình bị thương ba lần dẫn khi dẫn dắt trung đội mình chống lại các lực lượng Cộng sản và thực sự được nhìn nhận cho lòng dũng cảm cá nhân của anh ta, học hỏi được những bài học vốn sẽ có ích lợi cho anh ta và những người mà anh ta sẽ dẫn dắt trong cuộc xung đột sau nầy. Nếu được so sánh với những gì mà anh ta sau này sẽ phải đối mặt khi là một vị chỉ huy cao cấp của đại đội và là vị chỉ huy tiểu đoàn, sự khởi đầu chậm chạp hơn, ung dung hơn vào trong cuộc chiến đấu là một cách tốt để đột nhập vào khi là một vị lãnh đạo còn non yếu.
Chỉ đơn giản là chuyện kỳ lạ của số phận vào đầu tháng Mười năm 1963, với Sài Gòn và gần như toàn bộ ban lãnh đạo quân sự cao cấp của Việt Nam tham gia vào một âm mưu và một luận điệu lẩn tránh mà qua đó sẽ kết thúc bằng cuộc đảo chánh nhà nước để thay thế Ngô Đình Diệm, các sĩ quan và những người của Tiểu đoàn 3 tất cả đều đang nghỉ phép. Sau việc tường trình ngược lại một ít ngày sau khi Tướng Dương Văn Minh –được biết đến như là “Minh To con” bởi hầu hết những người Mỹ– đã chiếm lấy quyền hành và cuối cùng được thay thế vào cuối tháng Giêng năm 1964, sau khi thêm nhiều thay đổi hơn của chính phủ, bởi Thống chế Không quân Nguyễn Cao Kỳ, tiểu đoàn trở lại công việc chiến đấu với VC, giống như trước đây, dành cho những binh lính TQLC của Sói Biển.
Trong khi anh ta đang tăng trưởng như là một nhà lãnh đạo từ những kinh nghiệm của mình khi là một vị chỉ huy trung đội, anh Bình thực sự đã được chọn lựa và thông báo về nhiệm vụ chưa được quyết định chính thức của mình để tham dự vào Trường Cơ bản của Quân đoàn Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ ở thị trấn Quantico, thuộc tiểu bang Virginia. Viễn ảnh du hành đến nước Mỹ, nhìn thấy tất cả nó bằng mắt mình, và hưởng được lợi ích từ việc đào tạo có chất lượng cao hơn mà anh ta mong muốn nhận được, là một thách thức mà anh ta háo hức mong đợi.
Có cái gì đó không thể cưỡng lại được và không thể tránh khỏi như là đối với những gì đó mà hầu hết mọi người sẽ mô tả như là một nền văn hóa có mặt ở khắp nơi và xâm chiếm tất cả mọi nơi của Mỹ. Một chủ đề mà qua đó có rất ít cuộc tranh luận. Một lập luận bắt đầu về việc liệu lực lượng của nó có chủ ý, và tiếp tục nói về việc liệu nó có lợi ích gì không.

p31

Những tính chất bài ngoại ở châu Âu và châu Á, đặc biệt là những người có khuynh hướng tả khuynh hoặc nghiêng về Cộng sản, sẽ mãi mãi buộc tội những người Mỹ về chủ nghĩa đế quốc văn hóa và lật đổ chính quyền văn hóa. Những người ít có khuynh hướng chỉ trích sẽ có khuynh hướng nhiều hơn về việc chỉ đơn giản là thưởng thức những phim ảnh và âm nhạc mà qua đó lớn hơn quá nhiều so với 48 tiểu bang tiếp giáp hoặc thậm chí nhiều hơn với tiểu bang Alaska và Hawaii được bao gồm như là cách khiến cho nó hoàn hảo hơn.
Có thể nào trở thành một người yêu nước trong đất nước sinh ra của người đó, để giữ lại tất cả điều tốt đẹp nhất của nền văn hoá đó, đặc biệt là một quốc gia mới thuộc Thế giới Thứ ba, và tuy lấy làm lạ trước đức tính đàn ông hùng dũng phổ quát của tài tử điện ảnh Burt Lancaster và Gary Cooper hoặc sức quyến rũ phổ quát của nữ hoàng bơi lội Esther Williams và nữ minh tinh Deborah Kerr?

(Tài tử điện ảnh Burt Lancaster 1913-1994)

(Tài tử điện ảnh Gary Cooper 1901-1961)

(Nữ hoàng bơi lội Esther (Jane) Williams
được sinh vào năm 1921 và được 92 tuổi vào năm 2013)

(Nữ minh tinh Deborad (Jane) Kerr 1921-2007)

(Burt Lancaster và Deborah Kerr trong cuốn phim ăn khách nhất
“Từ Nơi đây đến Vô tận” –From Here to Eternity (1953))

Có thể nào một người hiểu lý lẻ thậm chí có thể giúp vui lại là một người Cộng sản mà có lần tiết lộ với nam tài tử Gene Kelly muốn được xem và nghe bài nhạc “Singin ‘in the Rain” –“Đang hát trong Mưa” ? Có thể nào người ta có thể tránh được nhịp điệu tự nhiên của cơ thể đáp ứng lại một bài hát của ban nhạc Temptations hoặc Four Tops không? Mặc dù không có bất kỳ sự hiểu biết nào về tiếng Anh cả, có một vài hạnh phúc nào đó không thể giải thích được và sự chuyển động rõ ràng, vui vẻ từ vẻ biểu lộ đến nổi vượt qua mọi nền văn hoá.

(Gene Kelly (1912-1996) trong Singin’ in the Rain (1952))

(Ban nhạc Temptations thời thập niên 60’s–80’s với bản nhạc
“My Girl” –“Nàng của Tôi”— nổi tiếng vào năm 1964)

(Ban nhạc Four Tops trong thập niên 60’s-80’s
“I Can’t Help Myself (Sugar Pie Honey Bunch)”
–“Tôi khó chịu nổi chính mình (Bánh Đường, Bánh mì Mật)”

nổi tiếng vào năm 1965)

Và vì thế, điều đó đối với Lê Bá Bình, một người Việt Nam yêu nước và là một sĩ quan mới được phong chức của Thủy quân Lục chiến. Khi còn là một cậu bé, không có sự thỏa hiệp văn hóa của cậu ta hoặc dân tộc chủ nghĩa của mình, việc tiếp thu ảnh hưởng của Tây phương mà không có việc xóa bỏ điều tốt đẹp nhất của những gì thuộc về người Việt Nam, cậu ta sẽ bắt chước các giai điệu của người ca sĩ da đen Nat King Cole. Cậu ta sẽ đi vào trong các rạp chiếu phim nhỏ ở Sài Gòn, với những đồng bạc trong tay, để suy ngẫm sự rộng lớn của miền Tây Hoang dã qua những cuốn phim ưu thích của High Noon (Lúc Đúng Bóng)Veracruz (Thành phố Cảng Veracruz). Vào tuổi trưởng thành sớm, cậu ta chỉ một ít tuần chậm hơn những thanh thiếu niên đối tác Mỹ trong sự tiếp xúc với những âm thanh mới từ Bill Haley, Danny và Juniors, và tất cả những người khác đi về phía trước. Nên biết thêm nữa là “cuộc xâm lược của Anh” vào năm 1964 và sau đó không dừng lại ở Bắc Mỹ. Những ban nhạc vang danh của Anh Quốc như The Beatles, The Animals, The Herman’s Hermits, The Yardbirds, The Rolling Stones; chúng cũng đã hạ cánh và chinh phục trong khu vực Đông Nam Á.

(Ca sĩ Nat King Cole 1919-1965, với bài nhạc
“Unforgettable” –“Khó thể nào Quên”— nổi tiếng vào năm 1951)

Anh Bình tìm cách chuyển đổi từ một sinh viên đại học đến một sinh viên sĩ quan, đến một Trung đội Trưởng mới vào nghề, đến một người với lòng tự tin mà chỉ đến sau khi đã sống sót qua cuộc chiến đấu liên tục. Việc huấn luyện ngay-trên-công-việc như là một sĩ quan mới, xa khỏi phương cách lý tưởng để học hỏi về việc dẫn dắt những binh lính trong trận chiến, là sự chọn lựa duy nhất hiện có trong hoàn cảnh của đất nước anh ta.

p32

Một cơ hội cho việc học hỏi xa hơn ở Hoa Kỳ là một món quà từ trên trời. Anh ta dâng hiến chính mình cho việc gặt hái phần lớn kinh nghiệm sắp tới của mình qua Trường Cơ bản.
Cái gánh nặng của việc liên tục duy trì một quân đội Mỹ ở mức độ nào đó của sức mạnh chiến đấu cuộc chiến ít được nghĩ đến bởi những người được sinh ra sau Thế Chiến thứ II. Cho đến thời điểm đó, từ sự đầu của một quốc gia qua sự khởi đầu của Chiến tranh Lạnh, Mỹ chỉ huy động cho cuộc chiến đấu, không bao giờ cho sự đe dọa. Với bản chất đang thay đổi của chiến tranh, tổn phí của cuộc Chiến tranh Lạnh cho nhân lực, những nguồn tài lực, và ngân quỹ vượt xa khỏi kinh nghiệm dân tộc, và tuy thế, một sự cảnh giác được đòi hỏi để đẩy lui mối đe dọa của Cộng sản cho thấy rằng không có sự lựa chọn nào khác.
Kể từ Thế Chiến thứ II, những người Mỹ cuối cùng mong muốn rằng nếu một cuộc khủng hoảng sắp nổ ra ở bất cứ nơi nào trên thế giới, luôn luôn rất đơn giản là sẽ có những quân nhân TQLC được gởi vào, một lực lượng đặc nhiệm của hàng không mẫu hạm gần đó, hoặc những chiếc máy bay thả bom thuộc Bộ Chỉ huy Chiến lược Không quân đang ẩn kín ở một nơi nào đó trên những vùng trời, chỉ đang chờ đợi mệnh lệnh của Tổng thống để tấn công.
Thế Chiến thứ II đòi hỏi quá nhiều năng lực và cố gắng của quốc gia đến nổi không người nào mà không bị ảnh hưởng. Trong bốn năm, chính nền kinh tế. Trong những ngày đó, trước khi cuộc chiến thắng được bảo đảm sự chọn lựa cho nền kinh tế quốc gia là “súng hoặc bơ sửa.” Nói chung, người ta đã từng sống mà không cần có sự lựa chọn đó và phải gánh chịu chung những thiếu hụt. Ngay cả nếu họ không có một phần ăn tương đối, lời kêu gọi Không-có-Thịt Ngày thứ Ba(pc 14) của chính phủ Mỹ và sự phân phối khí đốt cho phép mọi công dân chia sẻ trong sự hy sinh dành cho chiến thắng.

(Kịch sĩ điện ảnh Wallace Beery trong một
hình ảnh hưởng ứng “Không-có-Thịt Ngày thứ Ba”)

Trong môi trường sau chiến tranh, với sự tăng trưởng kinh tế của Mỹ trên một chiều hướng mạnh mẽ vươn lên, có một sự chuyển đổi từ “súng hoặc bơ sửa” đến “súng bơ sửa.”Trong khi sự chi tiêu về quân sự tiêu thụ rất nhiều hơn sản phẩm quốc gia so với trước Thế Chiến thứ II, sự phát triển kinh tế và sự tiến triển kỷ thuật là những thứ mà sự vĩnh viễn của những chi phí cho Chiến tranh Lạnh cho phép những công dân được hưởng những lợi ích thiết thực của sự tự do mà không có cùng một mức độ hy sinh cá nhân được đòi hỏi chỉ một vài năm trước đó.
Tầm cỡ to lớn tuyệt đối của quân sự Mỹ thì khó có thể tìm hiểu. Từ giai đoạn ghi danh đi lính hoặc tuyển dụng xuyên qua đến việc đào tạo những cá nhân để trở thành những binh sĩ, thủy thủ, phi công, hoặc Thủy quân lục chiến, nhiều người với cuộc huấn luyện tiếp theo trong những chuyên ngành quan trọng,

p33

cho những nhiệm vụ của họ ở các đơn vị mà nơi đó sẽ có cuộc huấn luyện xa hơn, cho việc tung ra sức mạnh của Mỹ ở bất cứ nơi nào mà nhu cầu xuất hiện đã tiêu thụ những nguồn tài lực mà chỉ có quốc gia nào thật sự giàu có mới có thể gánh vác được. Ở giữa giai đoạn bắt đầu và cuộc chiến đấu hoặc sự đe dọa, có sự tổn đang xảy ra về việc cung cấp lương thực, nơi ở, và việc chăm sóc chu đáo cho những ai vốn là những người phục vụ những nhu cầu quân sự của quốc gia. Những đòi hỏi cho sự nghiên cứu và phát triển thêm vào chi phí hơn nữa để bảo đảm cho những người chiến đấu cho cuộc chiến tranh của Mỹ duy trì một lợi thế có chất lượng trên những kẻ thù tiềm năng vốn là những người không có cách nào có thể cung ứng việc huấn luyện theo như cách mà những người Mỹ làm. Để đặt một phi đội B-52 có khả năng thả những trái bom trên mục tiêu hoặc vị trí của một lực lượng đặc nhiệm của hàng không mẫu hạm nơi mà phi đội đó có thể gây ảnh hưởng đến tình hình với một kết quả thuận lợi cho những lợi ích của Mỹ là công việc không đơn giản. Những người Nga cũng đang có một thắng lợi ngoại trừ là họ không bao giờ đạt đến được cái phần “và” trong “súng bơ sửa”.
Một đất nước nhỏ bé như Việt Nam Cộng Hòa chắc chắn không có những nguồn tài lực hoặc cơ sở hạ tầng có khả năng sản xuất và đào tạo một quân đội đủ mạnh để làm những gì mà nó cuối cùng sẽ phải gánh vác việc làm. Ở những giai đoạn sớm nhất của sự phát triển của nó, việc quyết định gởi đi tất cả các sĩ quan mới trong TQLC để tham dự Trường Cơ bản ở thị trấn Quantico dường như được thấy trước. Như là một người tiến triển lên trong một chuỗi và nếu tình hình cho phép, cùng một vị sĩ quan đó có thể trở lại thị trấn Quantico cho việc học thêm như là một vị Đại úy, Thiếu tá, và cao hơn nữa.
Công việc của Thiếu úy Lê Bá Bình để tham dự Trường Cơ bản ở thị trấn Quantico, thuộc tiểu bang Virginia, cùng với bốn sĩ quan TQLC khác được sắp xếp thời gian một cách hoàn hảo. Tất cả năm người quân nhân Thủy quân Lục chiến Việt Nam là những chiến binh kỳ cựu. Tất cả những cấp úy đã từng thực hiện hàng chục những chuyến bay vào cuộc chiến đấu trên hai chân cản của trực thăng hoặc những cú nhảy từ những chiếc máy bay có cánh cố định, giữa các điểm mục tiêu trong đất nước trên chiếc máy bay C-47 và máy bay quân sự thuộc loại khác. Tất cả họ quá quen thuộc với hiểm nguy, đối với họ, chuyến đi dài đến Mỹ là một khoảng thời gian của sự cứu trợ, giáo dục, và chỉ đơn thuần là vui thích. Ít nhất là không một ai ở Hoa Kỳ, như mức độ mà họ có thể hiểu, sẽ cố gắng giết họ.

(Chiếc máy bay C-47 đang chờ những binh lính lên tàu bay)

Từ Tân Sơn Nhất, một phi trường kế bên Sài Gòn, đến Căn cứ Không quân Clark ở Philippines đến đảo Guam, thuộc tiểu bang Seattle, và sau đó đến Căn cứ Không quân Travis ở tiểu bang California, chuyến bay thì dài và nhàm chán và lạnh lẽo. Tuy nhiên, những vấn đề hậu cần thay đổi và chặng đường khoảng 4.900 km cuối cùng là chuyến đi xe lửa ba ngày.

p34

Ba ngày từ Fairfield, một thị trấn nhỏ bên ngoài Căn cứ Không quân Travis, thuộc thị trấn Quantico; anh Bình cuối cùng có thể nhìn thấy và gần như chạm vào phần lớn những khoảng không gian mở rộng mà anh ta đã tự hỏi khi còn là một cậu bé trong suốt buổi chiều của mình tại những xuất phim, ngay nơi đó trong vùng Tân Định không lâu lắm.
Lớp học của Trường Cơ bản vốn bắt đầu việc huấn luyện vào tháng Bảy năm 1964, được biết đến bởi dấu hiệu quy định bằng mẫu tự của nó —H Company hoặc Khách sạn Đại đội (cũng được gọi đơn giản là “Khách sạn”)– bằng nhiều thứ tiếng và đa dạng văn hóa. Trong số những người tốt nghiệp đại học Mỹ có gương mặt mới mẻ, mới được phong cấp là những cấp úy có gương mặt mới mẻ không kém, cũng mới được phong cấp đến từ Hàn Quốc, Trung Quốc, Indonesia, Venezuela, và Tây Ban Nha. Trong số toàn bộ nhóm, nhóm Việt Nam là những người duy nhất với kinh nghiệm chiến đấu đáng kể.
Trong khi giới thanh niên Mỹ bận rộn với tiêu thụ những đôi giầy cao ống Beatle Boots, âm nhạc, và các kiểu tóc biến đổi mới, anh Bình và những bạn cùng lớp thuộc Khách sạn Đại đội của mình bắt tay vào việc thường ngày của Trường Cơ bản qua việc học hỏi tất cả những gì mà họ có thể, về chiến thuật bộ binh, thể dục và sự phối hợp của tất cả cách thức của hỏa lực Mỹ, những lề lối quân sự và những tác phong nhã nhặn, và bất cứ điều gì khác mà các giảng viên lão luyện có thể nghĩ ra.

(Đôi giầy cao ống thời 1963 kiểu ban nhạc The Beatles
nổi tiếng của Anh Quốc, có tên là Beatle Boots)

(Kiểu tóc biến đổi mới của ban nhạc The Beatles)

Anh Bình và bốn Thiếu úy Việt Nam khác của Khách sạn Đại đội là những chiến binh kỳ cựu. Những người anh em Mỹ của họ bị cuốn hút bởi những câu chuyện của họ và thường tỏ ra tôn kính trong cách đối xử. Mong mỏi rằng họ sẽ sớm có thể tham gia với họ trong trận chiến, sự thú vị thuộc về nghề nghiệp là chân thật.
Đối với những cấp úy Việt Nam, những cơ hội để chia sẻ ý kiến với các giảng viên và những sinh viên thân ái của họ là điều hữu ích và vui thích. Khi chiến tranh đang phát triển, việc giới thiệu chính thức về chiến thuật và sự ứng dụng của hỏa lực trong lớp học và những sắp xếp chiến trường cho việc luyện tập là một cái gì đó mà TQLC chỉ đơn giản là, từ trước đến nay, đã không có các nguồn tài lực hoặc sự sang trọng để thực hiện. Nhóm người Việt Nam sẽ thường thảo luận với nhau về những lợi ích của mỗi bài học, xuống đến các chi tiết nhỏ nhất, và chia sẻ những suy nghĩ về cách tốt nhất để bổ sung điều gì mà họ đã học được với những quân nhân Thủy quân Lục chiến của họ khi họ trở về nhà.
Khi Khách sạn Đại đội trải qua những ngày của nó và hầu hết những đêm cho cuộc huấn luyện của nó trong khu rừng ở thị trấn Quantico, sự tham gia của Mỹ trong khu vực Đông Nam Á gia tăng bởi những mức độ cao hơn. Vừa khi Khách sạn hoàn tất những văn bằng chứng nhận về tầm súng trường của nó, Quốc hội thông qua Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ. Không có sự tuyên bố chính thức nào về điều đó, Mỹ đã hiệu lực hóa đi đến cuộc chiến tranh.

p35

Khi mùa hè trở thành mùa thu, các sĩ quan TQLC sẽ thú vị trước sự thay đổi của màu sắc. Và trong khi tất cả họ đã biết đến cái lạnh buốt da vốn có thể làm ớn lạnh xuống ngay đến xương trong những vùng núi ở Việt Nam, đợt tuyết rơi đầu tiên là một kinh nghiệm mới vốn xuất hiện như là ma thuật, gợi nhớ lại cùng một sự thích thú mà bất kỳ những kinh nghiệm trẻ con nào với sự tiếp xúc lần đầu của mình đến đồ vật.
Nghiêm ngặt như sự giảng dạy của Trường Cơ bản, thì ít căng thẳng nhiều hơn so với việc nhận lãnh phát súng thật sự. Ngay cả khi mất một vài tuần cho sự lộn xộn ở Trường Cơ bản của những đầu bếp hội trường để tìm ra làm thế nào để chuẩn bị đúng cách một bữa cơm đơn giản, và ngay cả khi họ làm điều đó là phiên bản hạt gạo dài theo kiểu Mỹ, anh Bình không có vấn đề khó khăn nào với bít-tết và những bánh mì kẹp thịt và những cục xúc xích kiểu Mỹ. Những ngày cuối tuần thường là những thời gian để đi đây đó và tham quan những địa điểm lịch sử và văn hóa vô số kể trong khoảng cách lái xe của thị trấn Quantico.
Tốt nghiệp vào tháng Mười Hai, anh Bình có thời gian cho lần nghỉ phép một tháng trước khi trở về nhà. Không có sự hối hả thực sự. Vẫn sẽ có đủ những số lượng Cộng sản còn lại để chiến đấu. Anh Bình đã đi thăm vòng quanh nơi mà anh ta có thể, vào những ngày cuối tuần được nghĩ và sau đó trên chuyến hành trình dài, chậm chạp về nhà. Trong khi anh ta không để lại trái tim của mình ở đó, chính là thành phố San Francisco và đặc biệt là khu phố Tàu của nó mà anh ta thích nhất, được hướng dẫn một cách chuyên nghiệp bởi một người bạn của Trường Cơ bản vốn là người đã trưởng thành ngay bên kia Vịnh.
Vào tháng Giêng năm 1965, anh ta làm chuyến về nhà, trở lại Việt Nam, trở lại Sói Biển bấy giờ như là một vị Trung úy mới trong quyền chỉ huy đại đội của riêng mình, trong nhiều thời gian ở đó trước khi một số trong những người bạn cùng lớp của anh ta thuộc Trường Cơ bản của Mỹ chạm bãi biển ở trên phía bắc gần thành phố Đà Nẵng với Đại đội 9 Thủy quân Lục chiến.

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ “Hồ Chí Minh và các lực lượng của ông ta vui vẻ chấp nhận những viễn ảnh nầy” : tuy nhiên, trên thực tế, có nhiều bằng chứng cho thấy rằng quyết định chấp nhận sự phân chia của ông Hồ là chủ kiến của Trung cộng, vì Trung cộng cũng muốn thu hoạch lợi ích riêng trong sự phân chia Việt Nam nầy như trường hợp Triều Tiên. Và Trung cộng biết chắc chắn rằng Hoa Kỳ sẽ không nhượng bộ vì đó cũng là một kinh nghiệm đã từng diễn ra ở Triều Tiên đối với Trung cộng.
Nhận được phần đất phía Bắc cũng đã là một thắng lợi của Cộng sản, nói chung, và đó là bàn đạp cho những bước xây dựng chiến tranh kế tiếp như ở Triều Tiên; đồng thời cũng là cách rửa nhục cho sự thất bại của Trung cộng ở đó khi dùng miền Bắc là một công cụ chiến tranh mới hầu trả đủa Hoa Kỳ. Đó là chưa kể đến những lợi ích lâu dài hơn cho Trung cộng, khi buộc Cộng sản miền Bắc tiếp tục chiến tranh bằng những món nợ khổng lồ của họ mà qua đó họ sẽ dễ dàng tính toán hơn sau nầy vì vùng địa lý tiếp cận.
Mặc dù Bắc Hàn cũng là vùng địa lý tiếp cận của Trung cộng, lợi ích tham vọng vương ra làn sóng đỏ ở đó luôn bị giới hạn vì hoàn cảnh thiên nhiên; ngược lại Việt Nam đúng là bàn đạp cho sự khống chế toàn khu vực Đông Dương và ngay cả vùng Biển Đông kéo dài bao trùm khu vực đó.


pc 02_ “chính phủ của ông ta chỉ tìm cách sống còn là trên hết” : sự nhận định nầy đối với nền Cộng hòa Thứ nhất của Ngô Đình Diệm dường như quá khắc khe, và điều đáng ngạc nhiên là hầu như tất cả những cây viết người Mỹ khi nhắc đến chính phủ của Ngô Đình Diệm thì thường đi đến cùng quan điểm như trên.
Tuy nhiên, nếu được xét một cách công bằng, Ngô Đình Diệm là một nhân vật chống cộng mãnh liệt nhất, không phải chỉ là muốn bảo vệ nền dân chủ tự do của miền Nam mà còn là mối tư thù với những người Cộng sản –vốn sát hại người anh ruột của ông ta là Ngô Đình Khôi, và đứa cháu trai là Ngô Đình Huân trên đường áp giải ra Hà Nội– thì không có lý nào cho rằng “chính phủ của ông ta chỉ tìm cách sống còn là trên hết” hoặc bất cứ lời phê bình nào về chế độ Ngô Đình Diệm như là độc tài, cứng rắn, chuyên quyền, tham nhũng v.v., chỉ là những nhận định mú quáng theo tuyên truyền của Cộng sản mà không đặt sự phán xét vào hiện tình miền Nam lúc bấy giờ trước khi thấu hiểu để đi đến một kết luận chắc chắn. Thí dụ là những bằng chứng tự thiêu của tín đồ Phật giáo, sau nầy được phơi bày rõ ràng hơn và không phải chỉ là một vụ tự thiêu của Thích Quảng Đức mà còn nhiều cuộc tự thiêu “cưỡng bức” khác tiếp theo do nhóm thanh niên bảo vệ Phật giáo hành động mà thực ra họ là những người nằm trong tổ chức của Cộng sản miền Nam.
Trong một đất nước nhiễu loạn và đầy đảng phái “nửa vời” luôn là một cơ hội tốt cho những người Cộng sản gài người và dễ dàng phá hoại chính phủ miền Nam hơn. Trước vận nước bấp bênh đó, nếu không dùng đến quyền lực –mà vốn bị cáo buộc là độc tài, chuyên quyền– để bảo đảm an ninh, là một điều thất sách. Trong khi Cộng sản luôn luôn lợi dụng tính chất dân chủ và tự do ở miền Nam để xúi giục bạo động, tuyên truyền, lôi kéo, cưỡng bức tham gia v.v. dưới nhiều lớp áo che đậy khác nhau –điển hình nhất là giới Phật giáo lúc bấy giờ và những nhóm sinh viên thường mang danh nghĩa yêu nước– Chỉ ngần đó, cũng cho thấy rằng quyền lực đôi khi cũng cần đến một cách quyết liệt, cũng như Hoa Kỳ đã từng ứng dụng trong việc triệt hạ những thuộc tộc bản địa trước đó để trải dài đất nước.

pc 03_ NhCVHTrQS : Nhóm Cố vấn Hỗ trợ Quân sự (MAAG = Military Assistance Advisory Group.

pc 04_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 05_ VNCH : Việt Nam Cộng hòa.
pc 06_ Dinassaut : (Division d’Infanterie Navale d’Assaut hoặc DNA, “Sư đoàn Bộ binh Tấn công của Hải quân “) là một loại đơn vị quân đội ven sông được sử dụng bởi Hải quân Pháp trong suốt cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất.
Mỗi Dinassaut bao gồm khoảng 12 tàu nhỏ, thường là những con tàu nhỏ dùng để chuyển quân của Mỹ được tân trang với lớp bọc thép và sử dụng những tháp pháo xe tăng như là những vũ khí. Những con tàu nhỏ mang súng cối 81 ly được sử dụng như là đội pháo binh ven sông.

pc 07_ QĐTQLCHK : Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ (USMC = The United States Marine Corps).

pc 08_ Học viện Wellesley : chuyên nghiên cứu về vấn đề sức khoẻ dân cư, cũng như những cuộc vận động và chính sách giúp đỡ những cộng đồng quyết định về những chọn lựa bảo vệ sức khoẻ.

pc 09_ Cuộc khủng hoảng Kênh đào Suez : cũng được đề cập đến như là cuộc Xâm lăng của Ba thế lực (Tripartite Aggression), Chiến tranh Suez, cuộc Chiến tranh Arab-Israel Thứ hai, hoặc cuộc “Chiến tranh vùng Sinai” (“Sinai War”) là một cuộc đối đầu về quân sự và ngoại giao vào cuối năm 1956 giữa Ai Cập (Egypt) ở một bên, Anh, Pháp và Israel một bên khác, với Hoa Kỳ, Liên Xô, và Liên Hiệp Quốc đóng những vai trò quan trọng trong việc buộc Anh, Pháp và Israel rút quân.
Chưa đầy một ngày sau khi Israel xâm chiếm Ai Cập, Anh và Pháp đã đưa ra một tối hậu thư chung cho Ai Cập và Israel, và sau đó bắt đầu dội bom thủ đô Cairo của Ai Cập. Mặc những phủ nhận các chính phủ Israel, Anh, và Pháp, những luận điệu cho cái cớ bắt đầu xuất hiện rằng cuộc xâm lược của Ai Cập đã từng được lên kế hoạch trước đó bởi ba cường quốc. Những lực lượng Anh–Pháp được rút đi trước cuối năm 1956, nhưng những lực lượng Israel vẫn còn cho đến tháng Ba năm 1957, kéo dài cuộc khủng hoảng. Vào tháng Tư, kênh đào được hoàn toàn mở cửa lại cho việc vận chuyển, nhưng những hậu quả khác theo sau.
Cuộc tấn công theo sau sự quyết định vào ngày 26 tháng Bảy năm 1956 của vị Tổng thống Ai Cập, Gamal Abdel Nasser, nhằm quốc hữu hóa các Kênh đào Suez, sau việc rút khỏi một ý kiến đề nghị của Anh và Hoa Kỳ nhằm tài trợ việc xây dựng Đập Aswan, mà qua đó là trong sự đáp trả cho mối kết hợp mới của Ai Cập với Liên Xô và việc nhìn nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong suốt đỉnh cao của những căng thẳng giữa Trung Quốc và Đài Loan. Những mục đích của cuộc tấn công chủ yếu là giành lại quyền kiểm soát của Tây phương về kênh đào và loại bỏ ông Nasser khỏi quyền lực.
Ba đồng minh, đặc biệt là Israel, thành công phần lớn trong việc đạt được những mục tiêu quân sự trước mắt của họ, nhưng sự áp lực từ Hoa Kỳ và Liên Xô tại Liên Hiệp Quốc và nơi khác buộc họ phải rút lui. Như là một kết quả của áp lực bên ngoài, Anh và Pháp đã thất bại trong những mục đích về chính trị và chiến lược của họ của việc kiểm soát kênh đào và loại bỏ ông Nasser khỏi quyền lực. Israel hoàn thành một số mục đích của nó, chẳng hạn như là đạt được quyền tự do đi lại của hàng hải qua những Eo biển Tiran. Như là một kết quả của cuộc xung đột, UNEF sẽ bố trí lực lượng giữ trật tự vùng biên giới Ai Cập–Israel để ngăn chận cả hai bên từ việc khơi mào những thù nghịch.
Một số nguồn tin cho rằng cuộc khủng hoảng bắt đầu vào ngày 26 tháng Bảy với việc quốc hữu hoá kênh đào, và rằng những hành động quân sự của Anh, Pháp và Israel là phản ứng của họ đối với cuộc khủng hoảng. Kết quả thảm bại của Ai Cập với 1.650 đến 3.000 người bị thiệt mạng trong nhiệm vụ, gần 5.000 người bị thương và từ 5.000 đến 30.000 bị bắt. Trong khi liên minh chỉ có khoảng 257 người thiệt mạng (với tổn thất nặng nề nhất của Israel chiếm khoảng 230 người thiệt mạng, và 900 người bị thương) và khoảng 1028 người bị thương.

pc 10_ VC : Việt Cộng.
pc 11_ “… rõ ràng là ông Diệm sẽ phải đi nếu Việt Nam Cộng Hòa sắp có một cơ hội sống còn nào đó.” : tuy nhiên, trên thực tế của lịch sử cho thấy rằng những sĩ quan của VNCH vốn tham gia trong cuộc lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm, đã cảm thấy bối rối, hoang mang hơn khi họ không biết chọn lựa một ai trong số họ có đủ tư cách nắm giữ vai trò lãnh đạo trong khi phe nhóm bắt đầu hình thành và ngấm ngầm lo sợ một cuộc tranh giành khác. Đó là chưa nói đến lực lượng nằm vùng Việt Cộng dưới sự chỉ đạo của Cộng sản Bắc Việt đang lợi dụng sự rối loạn của chính biến để lôi cuốn và phân rẽ sâu hơn hàng ngũ quốc gia.
Điều đó cho thấy rằng cuộc lật đổ là một thất sách vì chính họ, những sĩ quan nhúng tay vào, không có được bất kỳ kế hoạch nào cho bước kế tiếp. Đó là một dấu hỏi cho hành động của họ như là vô ý thức hay chỉ thừa hành cho một mưu toán khác hơn của một quyền lực bên ngoài mà họ biết rằng sau sự kiện, họ không thể quyết định gì hơn nữa.
Chính biến đó, chắc chắn cũng là một ân hận đối với chính quyền Hoa Kỳ sau nầy mặc dù nó không trực tiếp ra tay, nhưng gián tiếp chủ động và khuyến khích. Cũng như chính biến khoảng 2 tuần sau đó ở ngay trên đất nước Hoa Kỳ là vụ ám sát Tổng thống Kennedy mà dân chúng và chính quyền sau nầy luôn cảm thấy bất an khi nhớ đến.
Một khi sự bất an trong lòng còn tồn tại trong nhiều thế hệ sau, một khi cuộc tranh luận không bao giờ đi đến kết thúc, điều đó có nghĩa là chắc chắn phải có điều gì đó không ổn trong những lý luận bào chữa, hay biện hộ mà bản thân chúng không cách nào có được lý lẻ đủ mạnh để thuyết phục người khác và chắc chắn rằng đó là điều sai lầm –một sự sai lầm bao trùm cả một hệ thống quyền lực, bao gồm những người tài giỏi nhất nước Mỹ nên khó mà cho họ phải chịu nhìn nhận.

pc 12_ Bản nhạc “Monster Mash” (“Sự ve vản của Quái thú”) : là một bài hát mới lạ của năm 1962 và là một bài hát nổi tiếng nhất của Bobby “Boris” Pickett. Bài hát đã được phát hành như là một đĩa nhạc được thu âm riêng một bài trên nhãn hiệu Trung tâm Thu nhạc Garpax của Gary S. Paxton vào tháng Tám năm 1962 cùng với một hình thức thu âm loại LP (hát lâu dài) đủ-thời-gian-dài được gọi là “Nguyên bản của bài nhạc Sự ve vản của Quái thú” (“Original Monster Mash”), mà trong đó chứa đựng nhiều giai điệu khác theo chủ đề quái thú. Đĩa nhạc đơn bản “Monster Mash” đạt được số một trên bảng xếp hạng 100 Bài nhạc Nóng bỏng vào ngày 20 tháng Mười của năm đó, đúng vào lúc trong ngày lễ Quái Y (Halloween). Nó đã từng là một ngày lễ ưu thích được tồn tại lâu năm từng có từ trước đến nay.
Đây là một bài nhạc mang âm điệu ma quái nhưng vui nhộn chưa từng có trước đây, nên được giới trẻ và hầu như mọi người dân Mỹ ưa thích, ngay cả những quân nhân Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Được viết bởi Bobby Pickett và Leonard Capizzi.


I was working in the lab late one night
When my eyes beheld an eerie sight.
For my monster from his slab began to rise
And suddenly to my surprise.


He did the mash.
He did the monster mash.
The monster mash.
It was a graveyard smash.
He did the mash.
It caught on in a flash.
He did the mash.
He did the monster mash.


From my laboratory in the castle east
To the master bedroom where the vampires feast,
The ghouls all came from their humble abodes
To get a jolt from my electrodes.


They did the mash.
They did the monster mash.
The monster mash.
It was a graveyard smash.
They did the mash.
It caught on in a flash.
They did the mash.
They did the monster mash.


The zombies were having fun.
The party had just begun.
The guests included Wolf Man,
Dracula, and his son.


The scene was rockin’, all were digging the sounds
Igor on chains, backed by his baying hounds.
The coffin-bangers were about to arrive
With their vocal group, “The Crypt-Kicker Five.”


They played the mash.
They played the monster mash.
The monster mash.
It was a graveyard smash.
They played the mash.
It caught on in a flash.
They played the mash.
They played the monster mash.


Out from his coffin, Drac’s voice did ring.
Seems he was troubled by just one thing.
He opened the lid and shook his fist.
And said, “Whatever happened to my Transylvania twist?”


It’s now the mash.
It’s now the monster mash.
The monster mash.
And it’s a graveyard smash.
It’s now the mash.
It’s caught on in a flash.
It’s now the mash.
It’s now the monster mash.


Now everything’s cool, Drac’s a part of the band.
And my monster mash is the hit of the land.
For you, the living, this mash was meant too.
When you get to my door, tell them Model A sent you.


Then you can mash.
Then you can monster mash.
The monster mash.
And do my graveyard smash.
Then you can mash.
You’ll catch on in a flash.
Then you can mash.
Then you can monster mash.

pc 13_ Chiến dịch Shufly : Một trong những khai triển quan trọng nhất trong biên niên sử về những hoạt động của TQLC Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam trong suốt đầu thập kỷ 1960s đã xảy ra ngay sau khi việc tạo ra Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự Hoa Kỳ cho Việt Nam (MACV). Vào giữa tháng Tư năm 1962, một phi đội trực thăng trung bình của TQLC được rải ra đến vùng Đồng bằng Sông Cửu Long để cung cấp sự hỗ trợ cho những lực lượng của chính phủ miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến của họ với các du kích Cộng sản. Tầm quan trọng của sự xuất hiện của phi đội đã vượt ra ngoài cuộc vận chuyển được thêm vào mà nó dành cho những đơn vị đó của Việt Nam trong việc cố gắng bám giữ khu vực đồng bằng sản xuất gạo. Sự trùng hợp là thế với sự gia tăng trong số lượng của những binh lính Thủy quân Lục chiến đang phục vụ ở ban nhân viên của Bộ Chỉ huy Quân sự Hoa Kỳ cho Việt Nam và dưới quyền của Nhóm Cố vấn và Hỗ trợ Quân sự (MAAG), sự xuất hiện của nó cho thấy rằng vai trò của TQLC sẽ mở rộng theo tỷ lệ thuận đối với Mỹ việc khai rộng hơn nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa.
Chiến dịch nầy bao trùm vùng Sóc Trăng thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long, cũng là một thử nghiệm của những lý thuyết quân sự của Hoa Kỳ trong cuộc hành quân quy mô bằng sự vận chuyển của những chiếc trực thăng và sự đối mặt trực diện với những lực lượng Việt Cộng của những binh lính TQLC Việt Nam và những đơn vị khác của quân đội miền Nam Việt Nam –không có sự hiện diện của những đơn vị bộ binh hoặc lực lượng TQLC Hoa Kỳ trên trận địa.

pc 14_ Không-có-Thịt Ngày thứ Ba : Đó chính là ngày thứ Ba, 30 tháng Mười, năm 1917 mà qua đó bắt đầu cho những năm tháng tiếp theo trong sự sinh tồn theo ngày không-có-thịt của dân chúng Mỹ dành cho sự hỗ trợ đất nước họ trong việc tham chiến vào cuộc chiến tranh đang diễn ra trên thế giới.
Trong suốt thời gian Thế Chiến thứ I, Hoa Kỳ cung cấp thức ăn cho riêng mình, và thức ăn cho Anh, Pháp và một số những đồng minh khác. Thời tiết xấu trong năm 1916 và 1917 đã có một ảnh hưởng bất lợi trên việc làm mềm thực phẩm. Tổng thống Wilson bổ nhiệm Herbert Hoover như là người đứng đầu của Bộ Quản trị Thực phẩm mới. Ông Hoover ứng dụng một khái niệm mới về sự tự nguyện là “Không-có-Lúa-mạch Ngày thứ Hai” và “Không-có-Thịt Ngày thứ Ba.” Trong khi, không phải là chính thức, nhiều nơi của đất nước được quan sát thấy là “Không-có-Khí-đốt Ngày Chúa Nhật,” “Không-có-Đường Ngày thứ Hai,” “Không-có-Thịt Ngày thứ Ba,” “Không-có-Lúa-mạch Ngày thứ Tư,” “Không-có-Thịt- heo Ngày thứ Sáu,” và hai bữa an ngày thứ Bảy.
Sau đó, Quản trị viên Thực phẩm Liên bang, Arthur Williams, đã đưa ra lời kêu nài cho hai ngày không-có-lúa-mạch trong mỗi tuần. Những ngày không-có-thịt ở Khách sạn Waldorf-Astoria, thuộc thành phố New York, ông ta nói, đã tiết kiệm được khoảng 900 kg thịt bò… Việc lưu trữ thực phẩm của New York sẽ bắt đầu vào chiều ngày Chúa Nhật. Những tấm thẻ ở mỗi gia đình về sự hướng dẫn trong nền kinh tế và việc lưu trữ sẽ được cấp phát. Và ngay cả những khách sạn, nhà hàng cũng hưởng ứng theo sự yêu cầu của ch

One thought on “Phần 02: Vẽ Bức Màn Tre

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s