Phần 39: Cải tạo

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p549

Phần 39: Cải tạo

Những hoàn cảnh mà qua đó miễn cho Trung úy Nguyễn Lương, đã rút mất đi sự chăm sóc về ý tế từ Quân đoàn Thủy quân Lục chiến (TQLC) Việt Nam, những nỗi kinh hoàng và những sự tước đoạt của việc cải tạo thì lộn xộn mang tính cách quan liêu hơn so với những hành vi tử tế về phần của những kẻ xâm lược miền Bắc. Những khả năng của riêng anh Lương để lừa, và nêu rõ trường hợp của mình, cũng có thể đã giúp ích gì đó.
Hệ thống an toàn xã hội mà qua đó đã được tạo lập nên cho đến lúc cuối vào cuối tháng Tư năm 1975, cái hệ thống đó vốn trả cho các cựu chiến binh tàn tật của Việt Nam Cộng hòa (VNCH) một khoản trợ cấp nhỏ hàng tháng để giúp họ sống với hoàn cảnh, đã chấm dứt với sự chiếm lấy của Cộng sản. Sẽ không có những vị trí đặc biệt nào trong những trường học vẫn mở ra cho các con em của những người vốn đã hy sinh quá nhiều cho nền Cộng hòa Việt Nam hiện thời không còn tồn tại. Những người cầm quyền mới cảm thấy không có nghĩa vụ tưởng thưởng bất cứ người nào cho việc đã từng chiến đấu chống lại họ.
Giống như những người khác được cho biết phải trình báo cho việc cải tạo vào tháng Năm, anh Lương đã sẽ là một phần của nhóm đầu tiên ra đi bởi vì cấp bậc của mình, mặc dù có sự lo ngại nào đó mà ngay cả những sĩ quan mới và những hạ sĩ quan từ các đơn vị tinh nhuệ hơn — TQLC, Biệt động Quân, Binh chủng Dù– có thể bị loại riêng ra cho sự trừng phạt đặc biệt, có thể nhận được nhiều hơn ba ngày được công bố bởi những ông chủ mới.1
Tình trạng hỗn loạn mang tính chất quan liêu vốn vẫn còn phải được giải quyết trong nhiều tuần theo sau sự sụp đổ của Sài Gòn tạo nên lợi ích cho những sĩ quan TQLC(pc 01) trẻ trước đây. Khi anh Lương trình báo theo thủ tục tiến hành, anh ta nói với viên cán bộ quản lý cấp thấp chuyên giải quyết thủ tục giấy tờ rằng công việc của anh ta tại Nhà máy điện Biên Hòa rất quan trọng. Nếu anh Lương bị đưa đi khỏi đến nơi cải tạo, tất cả Biên Hòa có thể là không có điện; và điều đó sẽ làm cho mọi người bực tức, bao gồm những người Cộng sản.
Nhà máy điện đáng lẻ ra có thể hoạt động mà không có cần sự hiện diện của anh Lương, dĩ nhiên. Tuy thế, quan chức cấp thấp nầy không biết điều đó. Hắn ta không phải là một kỹ sư.

p550

Và may mắn thay cho anh Lương, hắn ta đủ sợ hãi không muốn mạo hiểm làm tức giận bất kỳ ai trong số những cấp trên của mình, hoặc không muốn biểu lộ đối với quân nhân TQLC VNCH nầy là không có thẩm quyền. Một trong hai điều sẽ là một sự mặt to lớn.
Và vì vậy anh Lương được miễn cho sự làm nhục và nỗi đau đớn của bất kỳ nơi cải tạo nào. Đơn giản là thế. Đáng tiếc là nhà máy điện tại Biên Hòa không lâu phải đặt dưới ban lãnh đạo mới –ban lãnh đạo Cộng sản. Việc quản lý mới không có chỗ cho một quân nhân TQLC trước đó và anh Lương không được giữ lại. Anh ta tự coi như được may mắn là anh ta chẳng bao lâu có thể có được một vị trí kỹ thuật làm việc trong một nhà máy làm nước đá không quá xa từ nhà mình ở Biên Hòa. Ít ra, anh ta có một công việc trong thiên đường xã hội chủ nghĩa mới. Vị Tiểu đoàn Trưởng của anh ta không chia sẻ được sự may mắn nào của anh Lương.

A- Anh Bình đã Mất hay còn Sống ?:

Điểm dừng đầu tiên của anh Bình trên cái gì sẽ vở ra trở thành một giai đoạn không xác định, vô tận của sự trả thù và nơi cải tạo nằm trong Sài Gòn tại Long Khánh. Từ rất sớm vào thời điểm nầy, sự thống trị và kiểm soát của Cộng sản thì chưa hoàn toàn và trong một ít ngày đầu tiên đó, cô Cẩm có thể nhờ đến những người bạn và người quen vốn có những tiếp xúc bên trong và xung quanh nơi những cựu sĩ quan quân đội của VNCH(pc 02) bị giữ lại. Những người đàn ông và phụ nữ đang làm việc như là những người bán hàng lặt vặt hoặc lái xích lô hoặc bất cứ là gì có thể bí mật truyền tiếp thông tin mà qua đó đi ngược trở lại đến những người vợ lo lắng và những người trong gia đình rằng những người đàn ông của họ đã không sao.
Từ Long Khánh, anh Bình và nhóm của anh ta bị đưa một cách lặng lẽ vào ban đêm đến vùng Suối Máu gần Biên Hòa. Phiên dịch sơ cho chữ “Suối Máu” là “Blood Stream” mà qua đó trong cho thời điểm nầy dường như được mang tên như thể là một điềm gở báo trước. Nhóm những cựu sĩ quan VNCH của anh Bình, gần như tất cả trong số họ là những vị Đại úy, Thiếu tá, và Trung tá, bị giữ lại ở đó trong khoảng hai tháng. Ngay cả tại Suối Máu, cô Cẩm đã có thể, qua cách sử dụng tương tự những người thân thiện chuyển thông tin một cách bí mật, để ngầm quan tâm đến người chồng của mình.
Chính tại vùng Suối Máu nơi mà sự thường xuyên của “quyền kiểm soát bằng dạ dày” được giới thiệu và thành lập một cách hoàn hảo. Những tù nhân ít có khả năng gây ra những vấn đề rắc rối, ít có khả năng cố gắng trốn thoát, ít có khả năng đối kháng một cách dữ dội nếu sức mạnh thể chất của họ được chảy cạn khỏi họ.

p551

Trước khi cuộc kết thúc chiến tranh, anh Bình đã cân nặng ở ngay tại một trọng lượng 60 kg không nhiều mỡ, gọn gàng. Trong vòng một năm tù, anh ta có thể mất đi, giống như hầu hết những người bạn tù của mình, vào khoảng 1/3 trọng lượng cơ thể ban đầu của mình.
Cuộc sống trong và xung quanh Sài Gòn đối với cô Cẩm và tất cả những người khác vốn đã chưa trốn thoát được trong cuộc phân hóa dân tộc lần thứ hai hoặc bị gởi đến nơi cải tạo, đã là một sự thích nghi rất ư khó khăn như tháng Năm trở thành tháng Sáu và sau đó tháng bảy. Khi những kẻ xâm lược từ miền Bắc nhanh chóng hâm nóng quyền lực mới của họ và tiếp cận tất cả những thứ vật chất mà hiện tại là của họ tịch thu được, sự đâm rễ bình thường của hoạt động thương mại và đời sống đang tiếp tục diễn ra hầu như đã bị chảy cạn từ chân không. Những người trước đây là trung bình và thậm chí phát đạt bị rút giảm đến mức cơ hàn hoặc gần mức đó. Để tồn tại, những công dân bình thường bị buộc phải bán đi những đồ đạc của họ, tất cả mọi thứ quý giá đối với họ. Sài Gòn trở thành, theo thuật ngữ của Mỹ, một nơi buôn bán hàng tống-khứ-đi khổng lồ với những ông chủ miền Bắc ở vị trí tốt nhất của họ để mua qua giá rẻ mạt.
Nền văn hóa hoang tưởng đặc hữu đối với tất cả những chế độ độc tài được thể hiện từ sớm hơn, lập lại, và sẽ tiếp tục. Tại điểm dừng đầu tiên của anh Bình ở cái gì đó đối với anh ta và những người khác sẽ là “Giai đoạn 30 Ngày của việc Cải tạo” của họ, tất cả các cựu sĩ quan quân đội trong nhóm của anh ta được yêu cầu viết chi tiết về tiểu sử gia đình ngược đến hai thế hệ.
Anh Bình và những người khác bị buộc phải lắng nghe cán bộ Cộng sản mắng nhiếc họ, buộc tội họ về tất cả các loại của những điều vô nghĩa, thêm vào đó là việc đã từng chiến đấu chống lại bên chiến thắng hiện thời, những điều mà chỉ những người Cộng sản có thể nghĩ dựng lên. Anh Bình và những người khác vẫn đang còn trong tình trạng hơi choáng váng qua toàn bộ quá trình mà qua đó đã chiếm mất sự tự do của mình từ những người đó. “Có phải chăng những người nầy thực sự tin vào tất cả những điều mà họ đang nói không ?” Những cựu sĩ quan quân đội của VNCH cảm thấy nghi hoặc.
Đa phần trong số những phát biểu của cán bộ và sau đó là các câu hỏi thẩm vấn đã chứng tỏ sự thiếu vắng gần hoàn toàn về tính chất thời đại và sự hiểu biết về thực tế; ít nhất là cái thực tế được biết đến bởi những người miền Nam bị giam giữ. Mao trong nhiều năm trước đó đã từng nói và tình hình hiện nay đã chứng minh là ông ta đúng: “Quyền lực chính trị tăng trưởng ra khỏi nòng súng.” Những người cộng sản có súng, vì vậy, những khẩu súng của họ là cái thực tế mới đáng nói trong lúc nầy. Một câu hỏi được hỏi hoặc lời buộc tội được tuyên bố một lần nữa hết lần đến lần khác, trong những phiên bản khác nhau và hoán vị chữ nghĩa là, “Các anh đã làm gì cho Cục Trung ương Tình báo Mỹ ?”

p552

Mọi người đều bị buộc tội làm việc cho công cụ tư bản chủ nghĩa ác độc, hung ác, ở khắp nơi, nắm tất cả quyền lực. Nếu như Cục Trung ương Tình báo Mỹ đã sở hữu một phần nhỏ nhất của quyền lực được gán cho nó bởi những cán bộ nầy, những người Cộng sản đã sẽ bị đánh bại trước năm 1954.
Dùng thời gian của mình, anh Bình nghiêm túc cố gắng đặt xuống trên tờ giấy phần nhiều câu chữ như đã được yêu cầu nhưng không đưa ra quá nhiều thông tin. Không cần biết là anh ta đã viết gì, nó bị từ chối vì những lý do khác nhau, không một lý nào trong số đó xem ra là hữu lý. “Hãy làm lại một lần nữa… và lần nầy bao gồm…” Đó là điều gần như không thể nào hiểu được những gì mà các ông chủ mới muốn, ngay cả mặc dù mọi người đều nói tiếng Việt. Thuật ngữ của Cộng vẫn không tạo nên ý nghĩa nào đối với bất kỳ những người miền Nam có suy nghĩ phải lẽ. Những thuật ngữ giống như “phản động,” “suy đồi,” “tư sản,” “tiểu tư sản,” “tư sản mại bản,” “côn đồ,” “bọn hòa bình giả tạo,” và cứ thế tiếp tục không tạo nên một lý lẽ nào. Anh Bình không biết gì về những thuật ngữ nầy. Anh ta, không may, cùng với nhiều trăm ngàn người khác, sẽ có thời gian để học hỏi.
Anh Bình cuối cùng qua được trở ngại ban đầu nầy được đặt ra trước mặt anh ta, không phải bởi việc viết ra cái gì họ muốn, nhưng bởi việc viết cùng một sự kiện một lần nữa, chỉ bằng cách viết rất nhỏ đến nổi người ta gần như cần đến một cái kính phóng đại để đọc nó. Viên cán bộ bị làm cho điên tiết lên vốn là người mà anh ta nộp nó vào, phát tay cho anh ra khỏi với nụ cười khinh bỉ. Chính là chiến thắng đầu tiên của anh Bình chống lại những kẻ bắt giữ mình.
Cho đến nay, trong kinh nghiệm của anh Bình hay bất kỳ tù nhân nào khác, không có một hồi đáp chính thức nào cho những người trong gia đình. Nếu không phải là vì khả năng sử dụng những tay “gián điệp” và những người đưa tin thân thiện tại Long Khánh, và Suối Máu, cô Cẩm đã sẽ không biết gì về việc người chồng của mình đang ở đâu. Chính là sau khi việc di chuyển từ Suối Máu mà qua đó khả năng theo dấu chồng mình của cô Cẩm, thậm chí tìm hiểu một manh mối thông tin mơ hồ nhất, đã gặp phải một bức tường hoàn toàn bằng đá.
Được biết đến từ lâu như là những bậc thầy về ngụy trang và sự điều động lén lút, những người Cộng sản lão luyện không kém trong việc di chuyển các tù nhân của họ. Bị mang đi vào một đêm trong bóng tối hoàn toàn từ Suối Máu bằng xe tải được che đậy đến một bờ biển, những tù nhân được đặt trong một khoang kín bít của con tàu và được gởi về miền Bắc. Được cho thức ăn tối thiểu và không có phương tiện để giải tỏa chính mình, anh Bình và những người khác luôn luôn cảm thấy đói nhưng phải vượt qua nhiều hơn với việc bị say sóng; luôn luôn khát nước, và bị buộc phải đi tiểu và đi cầu ngay nơi mà họ bị giữ. Sau 3 đêm và 2 ngày trên biển, con tàu đến Bến Thủy gần Hải Phòng.

p553

Từ trong khoang của con tàu hiện thời hoàn toàn hôi thúi của họ, các tù nhân được xếp hàng đi đến những toa lửa chở súc vật kiểu thô sơ mà qua đó sẽ đưa họ đến nơi cuối cùng của mình. Dọc theo tuyến đường ngắn đó, những người dân địa phương tràn ra chửi bới họ; một số người trong đám đó thậm chí còn ném đá. Anh Bình không chắc là nhóm người đó đã xuất hiện một cách tự ý hoặc vì có mặt ở đó bởi vì mệnh lệnh nào đó của chính phủ.(pc 03) Trong trường hợp nào đi nữa, anh ta không để điều đó làm phiền mình.
Ngoại trừ tất cả những người tham gia là người Việt, toàn bộ tình hình tại điểm chuyển đổi giữa tàu và xe lửa nhắc nhở anh Bình về cuốn phim Thế Chiến thứ II thuộc loại kinh phí thấp về người dân Do Thái đang được gởi đến các trại tập trung; với nhóm của anh ta đang thủ vai như một phần của những người Do Thái. Những toa xe thùng được đẽo sơ sài, được xây dựng tồi tệ bằng gỗ. Nếu nó không có một ít miếng ván đã bị gẩy long ra rồi, đã sẽ không có chỗ thông gió nào cho những người đàn ông vốn được đóng nhét bên trong giống như những con cá mòi. Như nó đã là thế, hai người trong số những người đàn ông trong toa xe mà anh Bình cưỡi bên trong chạy lên những vùng núi Yên Bái, đã chết vì bị nghẹt thở.
Yên Bái thực sự là một loạt toàn bộ những trại tù khác nhau. Được đặt vị trí trong những vùng núi cách khoảng 120 km về phía tây bắc Hà Nội, chính là khoảng cách tương đương đến biên giới với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Anh Bình không chắc nhưng đã nghe nói rằng có từ 60 đến 80 trại trong toàn diện khu vực.2 Căn trại vốn là “ngôi nhà” mới của anh ta, cũng là ngôi nhà cho 442 người khác. Như căn trại chỉ một phần nào được xây dựng khi họ đến, điều đó rơi trên những tù nhân để hoàn thành công việc.
Những cơ hội cho việc trốn thoát thành công là điều tối thiểu theo nghĩa đúng nhất. Những tù nhân bị giữ ở những mức gần chết đói qua các phần ăn ít ỏi và rất dưới mức tiêu chuẩn, bảo đảm rằng không có người nào có năng lực để thoát đi rất xa. Ngoài ra, địa hình khó khăn, một khối dân cư địa phương được tuyên truyền nhồi sọ kỹ lưỡng mà qua đó biết làm thế nào luôn luôn để ý đến những người bỏ trốn, và trong phạm vi gần với những trại khác mà những tay canh gác của trại sẽ vui lòng bắn bỏ một người đàn ông mà chúng tin là đang trốn chạy, đã chồng chất lên thêm những điều quái dị có lợi cho những tay cai ngục.
Có 443 tù nhân trong trại Yên Bái vốn là nhà của anh Bình hiện thời. Tất cả những người khác đều là những vị Đại úy đến các vị Trung tá, với khoảng thời gian từ 5 năm đến 15 năm phục vụ trong quân đội cho riêng mỗi người. Đối với những người Cộng Sản, các sĩ quan quân đội chuyên nghiệp nầy là loại kẻ thù nguy hiểm nhất.

p554

Yên Bái là một trại quân sự, có nghĩa là những người vốn điều hành căn trại, là những cán binh. Đối với một mức độ hạn chế, có một vài tác phong nhã nhặn, chuyên nghiệp được trao đổi và một chút mỏng nhất của sự tôn trọng giữa các tay cai ngục và những người bị buộc tội của họ. Những cán binh được sử dụng để điều hành các trại tù Cộng sản thì khó là những người giỏi nhất và sáng chói nhất, chắc chắn còn xa từ lớp binh ưu tú. Nhiều người trong số các tay gác là 14, 15, hoặc 16 tuổi. Tương tự như thế, những cán bộ chính trị được đưa vào điều hành phần tù “cải tạo” thường khó là có học thức và dường như có khả năng duy nhất là việc oang oang bất cứ điều gì mà họ đã được bảo để nói.
Một ngày điển hình dành cho anh Bình và 442 người bạn đồng ngũ của anh ta bắt đầu lúc 0500 giờ sáng. Những tù nhân được cho thời gian tối thiểu để đi cầu và ăn phần thức ăn sáng ít ỏi trước khi bắt đầu ngày làm việc 12 tiếng của họ. Thực phẩm được cung cấp thật khiêm tốn theo đúng nghĩa. Nếu có món canh, về cơ bản chỉ là nước nóng pha muối cho mặn, với một ít rau, nếu có bất kỳ miếng rau nào, được ném vào. Hầu hết cơm được ban cho tù nhân nghe nói là đã đến từ những nơi cất giấu gạo ngày xưa của Quân Bắc Việt trên Đường mòn Hồ Chí Minh; vì thế nó thường bị hôi thúi, cũ mèm, hoặc mốc meo và bị loại bỏ bởi thời gian và khí hậu. Chất dinh dưỡng thật tối thiểu và số lượng trái cây hoặc rau hoặc những củ khoai lang phổ biến hơn sẽ sớm phụ thuộc vào cái gì đó mà những tù nhân có thể và cho phép trồng trong các trại hoặc việc lục lọi tìm thức ăn khi đang làm việc trong những cánh rừng. Việc bổ sung chế độ ăn uống với cái gì cũng có thể được xoáy cắp, đã trở thành một điều cần thiết. Những con thạch thùng, rắn mối, ếch, côn trùng, những con gặm nhắm, chuột, rắn; tất cả những con gì vốn có thể đánh bắt được, sẽ bị giết chết và ngấu nghiến tiêu thụ. Cái đói có một cách thay đổi những tiêu chuẩn của một người về cái gì là ngon miệng.
Những vấn đề về sức khỏe liên tục gây tai họa cho các tù nhân. Bệnh kiết lỵ và tiêu chảy là vấn đề phổ biến mà qua đó có thể và đôi khi thực sự là đã dẫn đến cái chết kể từ khi số lượng của các loại thuốc chính hãng thì gần như không còn tồn tại. Sự phụ thuộc vào các biện pháp chữa trị bằng dược thảo địa phương đôi khi đáp ứng nhu cầu. Trong trường hợp, một người bị thương, thậm chí là một vết thương mà qua đó dưới những hoàn cảnh không phải là tù tội và trước những ngày khi những người Cộng sản điều hành mọi thứ, đòi hỏi một cuộc phẫu thuật nhỏ nhất, có nguy cơ đáng kể về sự nhiễm trùng và tử vong. Nếu một tù nhân thiết yếu cần đến sự can thiệp cho sự chăm sóc y tế nhiều hơn, là lúc anh ta giống như đã chết. Không có thuốc gây mê ở bất cứ nơi nào, và được biết rằng một số ca phẫu thuật đã thực sự được thực hiện không có gì khác hơn là những lưỡi dao cạo.

p555

Những vấn đề về tâm lý đang thì xấu như hoặc tồi tệ hơn những thách thức về thể chất phải đối mặt bởi các tù nhân. Những nan đề về sự trầm cảm và cô lập không bao giờ có thể được giải quyết một cách thích hợp. Nhiều người chết vì những lý do không bao giờ được chuẩn đoán. Đối với những người sống sót, mỗi một người trong số họ sẽ mang những vết sẹo của kinh nghiệm cải tạo của họ mãi mãi.

(Một trong những lưỡi dao cạo tương tự như trong hình nầy
được dùng như dao phẩu thuật ở miền Bắc ngay trong thời kỳ
1975, thêm vào đó là không có thuốc gây mê ở bất cứ nơi nào
trong thiên đàng xã hội chủ nghĩa)

Sự phụ thuộc vào phần việc hàng ngày của họ, mà trong đó trại Yên Bái của anh Bình thường chủ ý làm việc bên ngoài trong các khu rừng, những tù nhân được phát cho những công cụ, và dụng cụ cho phân đội làm việc riêng biệt của họ. Vào cuối ngày, tất cả các công cụ được cẩn thận kiểm kê để bảo đảm chống lại những cố gắng trốn thoát. Nếu một cái gì đó bị mất hoặc không thể kiểm chứng được, có một sự trừng phạt mau chóng. Những tù nhân thuộc những phân đội làm việc khác nhau trong các khu rừng già Yên Bái thường không bị giám sát khi những cơ hội cho việc trốn thoát hầu như không có. Chính là trên một trong những phân đội thường là bốn người mà qua đó anh Bình và những người bạn đồng cảnh ngộ của mình trải nghiệm qua một khoảnh khắc hiếm hoi của ơn lành và chiến thắng vốn giữ cho họ tiếp tục trong suốt những mùa khô hành hạ, kéo dài của sự đau đớn, đói kém và chán ngắt.
Vào một ngày mà qua đó không khác hơn bất kỳ vô số những ngày nào trước đó trong năm đầu tiên ở Yên Bái, anh Bình là một phần của một phân đội đốn gỗ bốn người không bị giám sát, khi một thành viên trong nhóm của anh ta phát hiện ra cái xác của một con bê dường như vừa mới chết. Ngay lập tức kiểm soát để xem nếu có bất cứ ai xung quanh vốn là người có thể nhận con bê đó, bốn sĩ quan VNCH(pc 02) đang đói xác định rằng hiện thời họ là những người làm chủ đúng lý. Gần đó là một dòng nước lạnh, nhỏ đang chảy từ trên núi. Nhanh chóng, họ vạch ra một kế hoạch theo đó họ sẽ cất giấu đi mình con bò bên dưới mặt nước lạnh. Theo cách nầy, họ có thể thẻo ra những lát thịt quý giá và kéo dài ra sự tiêu thụ qua một khoảng thời gian dài như có thể. Trong gần như cả tháng, bốn người bạn đồng cảnh ngộ, vốn là những người giữ kín việc có con bò, trở lại mỗi ngày để cắt ra và tiêu thụ những mảng thịt sống. Đói cào cả ruột như họ luôn luôn là thế, mảng thịt có vị ngon đối với anh Bình như bất cứ thứ gì mà anh ta đã từng được ăn hai lần trong đời trước đây ở tiểu bang Virginia hoặc thành phố San Francisco.
Ngu đần và thiển cận như là hầu hết những tay canh gác và cán bộ trong trại anh Bình, họ vẫn có súng, vẫn có quyền lực. Cái đói kinh niên giữ cho những tù nhân trên cơ bản phải tuân thủ. Đôi lúc, một tên canh gác hoặc cán bộ mới, là người với tính nóng nảy hơn một chút và sự bần tiện trong người hắn, sẽ có mặt cho nhiệm vụ và phô trương loại bản chất tàn ác mà qua đó không làm người nào trong số các tù nhân ngạc nhiên.

p556

Việc cố gắng làm lây lan sự chia rẽ và xung đột giữa các tù nhân, sau một ngày làm việc, một cán bộ đi đến một tù nhân và, làm một tuyên bố rất công khai, nói: “Tù nhân nầy, ngày hôm nay, anh đã làm việc rất chăm chỉ. Anh là một tù nhân điển hình. Chúng tôi đang tưởng thưởng anh con vịt nầy cho anh ăn. Anh phải chia sẻ con vịt nầy với 442 người khác. Hãy cho chúng tôi biết anh sẽ làm điều nầy như thế nào. Hãy báo cáo lại cho chúng tôi…” Con vịt trong thí dụ nầy đặc biệt là ốm teo. Điều đó chỉ làm cho anh Bình và những người khác thù ghét những tên cánh gác vệ sĩ nhiều hơn thế nữa.
Trong khi ngày làm việc tiêu biểu của các tù nhân kết thúc lúc 1730 giờ chiều hoặc khoảng đó, ngày của họ còn xa mới chấm dứt. Một khi các công cụ và dụng cụ được nộp lại và được kiểm nhận, có một bữa ăn tối nhanh chóng và cực kỳ thiếu thốn. Theo sau bữa ăn tối là nỗi đau đớn và chán ngắt trong hai tiếng đồng hồ mỗi ngày của nỗ lực cải tạo thực sự. Trong hai tiếng mỗi ngày, các tù nhân bắt phải chịu đựng những cán bộ đút cho họ ăn bất cứ điều gì mà chính những cán bộ đó được bảo phải nói thế.
Trong mỗi nền văn hóa Á châu vốn vẫn chưa bị chà đạp một cách dã man bởi tư tưởng Cộng sản, vẫn còn có sự tôn trọng và tôn kính theo truyền thống đối với những người lớn tuổi. Ngược lại, có ít sự tôn trọng phù hợp với những người vốn chưa thành những người đàn ông trong đôi mắt của những người lớn tuổi. Đó là điều khá phi lý và trơ trẽn đối với những cựu sĩ quan VNCH, hầu hết họ có trình độ đại học giáo dục, phải ngồi và lắng nghe những bài giảng được đưa ra bởi những gã đực vốn là những tên đôi khi thực sự chưa có thể được mô tả như là những người đàn ông, không cần nói đến ngay cả giới trẻ hiểu biết. Đó cũng là điều gây nên bực bội vì phải lắng nghe những điều được nói đến mà họ biết một phần nào đó không phải là lời những nói dối, nhưng hoàn toàn sai, đại loại như trắng thành đen, ngày thành đêm như một loại sai lầm. Nhưng họ có quyền lực, họ có súng. Nếu họ muốn ăn, họ đã phải chịu đựng sự đau đớn của việc tuyên truyền. Những tù nhân ngồi đó và lắng nghe.
Có một lần, một cán bộ kể câu chuyện về việc làm cách nào Lực lượng Không quân Việt Nam đã đánh bại những người Mỹ. Trong câu chuyện xưa đó, hiển hiện là viên cán bộ thậm chí không hiểu rõ ràng những chiếc máy bay bay như thế nào hoặc lực hút của trái đất gây ảnh hưởng như thế nào. Thường thường, và điều nầy xảy ra trước khi cuộc chiến tranh năm 1979 với Trung Quốc, cán bộ sẽ nói về ba quốc gia hùng mạnh nhất trên thế giới như là Nga, Việt Nam và Trung Quốc, thường theo thứ tự đó.

p557

Nhiều, rất nhiều lần, các tù nhân ngồi ở đó sẽ cho viên cán bộ đang nói chuyện một tràng vỗ tay như sấm và những lời cổ vũ; đặc biệt là sau khi có những lời tuyên bố lăng nhục tài tình. Những cán bộ thường quá ngu đần và thô thiển không thể hiểu được sự xem thường, sự giễu cợt nhạo báng; mà qua đó các tù nhân đang thực sự khinh miệt họ, khinh miệt họ bằng sự hào hứng. Những điều đó là những chiến thắng nhỏ, nhưng những chiến thắng dù sao vốn giữ cho những người đàn ông không bị điên rồ và có thể chịu đựng tất cả những sự sỉ nhục chất đóng trên người họ.
Một lợi ích bất ngờ đối với việc sống trong một trạng thái nửa chết đói thường trực và kết quả là sự yếu sức mà nó gây ra, là đôi khi kết quả của nó làm giảm đi các giác quan của con người. Nếu một người đàn ông hay phụ nữ phải tập trung tất cả, hoặc gần như tất cả, năng lực của anh ta hoặc cô ta chỉ đơn giản là trên việc tìm cái sống, thì có ít năng lượng còn lại hoặc thời gian cho phép để ngẫm nghĩ về tất cả những gì bị mất đi, hoặc sự cách biệt khỏi những người thân yêu. Đôi khi. Mỗi ngày là một trận chiến để sống còn. Sự sống còn của mỗi ngày là một chiến thắng trên những cai tù của con người. Tuy nhiên, có những khoảnh khắc yên tĩnh đó vốn chỉ thuộc về anh Bình và không người nào khác trong suốt thời gian mà anh ta có thể nghĩ về người vợ xinh đẹp của mình và đứa con gái nhỏ đáng yêu. Mệt mỏi và yếu sức như anh ta từng trở nên thế, anh Bình không bao giờ từ bỏ hy vọng rằng một ngày nào đó anh ta sẽ được đoàn tụ với họ. Anh ta sẽ không bao giờ bỏ cuộc. Những người Cộng sản đã không thắng được anh ta trong một trận chiến quy ước. Hiện thời, họ sẽ không đánh bại được anh ta. Anh Bình sẽ không bao giờ từ bỏ hy vọng. Không bao giờ.

B- Trở lại Sài Gòn :

Một khi anh Bình đã bị đưa đi khỏi, và ngay cả trước khi cô Cẩm đã mất hoàn toàn dấu vết của anh ta, cuộc sống đã nhận lấy một hướng đổi chắc chắn cho điều tồi tệ hơn. Giống y gần như mỗi một người trong số hàng trăm ngàn những người vợ khác mà những người chồng của họ hiện thời đã biến mất một cách bí ẩn, trách nhiệm rơi trên những người phụ nữ để cung cấp cho những đứa con và gia đình của họ. Giống như nhiều người trong số các người vợ của những sĩ quan VNCH trước đây, cô Cẩm cùng với bé Ngọc bị tống ra khỏi nhà mình bởi những cán miền Bắc. Thật cảm tạ là cô ta có thể chuyển đến sống chung với mẹ mình.
Ngay cả trước khi bị tống ra khỏi nhà mình, cô Cẩm đã bắt đầu quá trình bán đi những thứ đã từng là của họ. Tất cả mọi thứ. Tất cả mọi thứ ngoại trừ một ít cuốn album ảnh gia đình vốn rất quan trọng trong việc chứng minh rằng họ đã từng thực sự tồn tại trước đây, rằng anh Bình đã từng tồn tại ngay cả mặc dù hiện thời anh ta bị biến mất.

p558

Cô Cẩm bán đi mọi thứ, gần như tất cả những tài sản mà họ có, cho những người mua vốn là những người gần như không cần trả tiền cho những thứ đó. Nhiều người trong số những người mua, hầu hết những người mua, là những người miền Bắc khờ khạo chưa biết dùng đến thậm chí cả những thứ tiện nghi đơn giản nhất. Điều đó làm đau đớn cho cô Cẩm rất nhiều khi bán đi quần áo của họ, những đồ dùng nhà bếp và những cái nồi và chảo của họ, đồ đạc bàn ghế của họ, tất cả mọi thứ. Nhưng cô ta và bé Ngọc phải ăn. Việc đó giống y nhau đối với những người láng giềng của cô ta. “Những người miền Bắc nầy sẽ mang thứ đồ vật nầy đi đâu ? Câu trả lời thật đơn giản. Đó là tất cả được vận chuyển trở lại miền Bắc. Trong khi sự choáng váng và nỗi đau đớn về những hoàn cảnh mới của họ ngăn cản họ không suy nghĩ về điều đó từ lúc ban đầu; những người miền Nam bị tước đoạt, một ngày nào đó sẽ suy nghĩ rằng những người miền Bắc ít nhất ra buộc phải nhìn nhận lời nói dối trắng trợn về cuộc cách mạng. Miền Nam Việt Nam, nói một cách tương đối, được tràn ngập trong sự phong phú về vật chất trong khi miền Bắc có rất ít. Chủ nghĩa Cộng sản đã không đưa đến cái gì cả trong những năm hy sinh của họ ngoại trừ cái gì mà hiện thời họ có thể trên bản chất là đánh cắp từ những người vốn đã làm việc cho những gì họ có.
Một khi cô ta đã chuyển đến sống chung với mẹ mình, cô Cẩm sẽ chăm sóc đứa con gái của mình và làm việc 7 ngày một tuần qua việc làm bánh và bán bánh giò, bánh chưng, hoặc bán lẻ những món hàng gì mà cô ta có thể mua ở một nơi và bán chúng ở một nơi nào khác trên đường phố cho món tiền lời ít ỏi gồm công sức và chi phí đi lại. Mỗi ngày. Vào những buổi sáng, buổi chiều, và chiều tối. Hàng ngàn và hàng ngàn, hàng trăm ngàn những phụ nữ khác bị đẩy vào trong những cách sinh tồn tương tự. Những ông bà trông chừng cháu để cho các bà mẹ có thể làm những gì cần làm.
Vào những buổi chiều tối, khi cô Cẩm có thời gian với bé Ngọc, cô ta sẽ ôm con mình và họ sẽ ngồi xuống với nhau xem lại những hình ảnh trong những cuốn album gia đình của họ. Mỗi đêm, cô Cẩm sẽ làm vui và gây thích thú cho đứa con gái của mình bằng những câu chuyện về người cha của bé khi họ chậm rãi lật lại những trang quá ít ỏi về những kỷ niệm tuyệt vời mà bé Ngọc, đặc biệt là trong một ít năm đầu tiên của sự vắng mặt của anh Bình, không có một khái niệm hay hồi ức nào về chúng. Nhưng đó là điều quan trọng đối với cô Cẩm là bé Ngọc hiểu rằng cô bé thực sự có một người cha vốn là người yêu thương mình; ngay cả mặc dù cô Cẩm không chắc chắn để biết rằng người cha của bé Ngọc đã chết hay còn sống.

C- Tầm nhìn Vĩ mô ở Sài Gòn và Chung quanh Việt Nam…:

Sự chinh phục miền Nam thực sự từ miền Bắc đã bắt đầu sau khi cuộc chiến đấu chính thức đã chấm dứt vào ngày 30 tháng Tư năm 1975. Những người Cộng sản ngay lập tức chứng minh rằng họ là những cán binh có khả năng vượt xa những người quản trị hành chánh cho chính phủ và xã hội.

p559

Trong khi việc tịch thu tài sản công cộng và cá nhân đang diễn ra mà qua đó chúng đã từng thuộc về những người ở miền Nam, vẫn tiếp tục không dịu bớt và hàng hóa được nhanh chóng chuyển về miền Bắc cho những người vốn không sẽ thể nào hiểu được sự bao la của của cải giàu có của miền Nam mà bấy giờ là của họ, và những người bị gởi đi cải tạo vẫn chưa nghe gì về họ, những chính sách mới của chính phủ được đặt ra vốn làm gia tăng hơn nữa nỗi đau đớn và thống khổ.

(Đây là cuộc vận động đám dân chúng miền Nam khờ khạo “đánh tư sản” ngay
trên mảnh đất của mình, là một chiến dịch “cướp của” đầu tiên mang bí hiệu
X-1 vào tháng 9/1975, một trong 3 chiến dịch được tiến hành trong những năm
theo sau, theo bí hiệu thứ tự –X-1, X-2, và X-3– Thực chất là, không ngoài
mục đích vơ vét tài sản miền Nam làm giàu cho những đảng viên cao cấp của
Cộng sản và những người với đủ loại chức vụ khác trong guồng máy của nó)

Trong nháy mắt, mọi thứ hiện thời là tài sản của chính phủ. Nếu những nông dân có những mặt hàng vốn được trồng trên đất mình, để bán mà qua đó đã không còn thực sự là của họ, họ được qui định là bán chúng cho chính phủ. Nếu người ta muốn mua những thứ –chính thức– họ được qui định là mua chúng từ chính phủ trong các cửa hàng chính phủ kiểm soát. Mọi thứ để bán đều có giá “chính thức” và mọi người làm việc, kiếm được một mức lương “chính thức.” Mọi thứ rất quan trọng đối với cuộc sống người Việt hiện thời được phân chia theo đầu người. Tất cả thiết lập nầy thiết lập nọ bảo đảm là có những thiếu hụt chắc chắn về tất cả mọi thứ có giá trị, và một thị trường chợ đen phát triển mạnh mọc ra để đáp ứng những nhu cầu của các công dân đói kém và bị tước đoạt. Nếu sự khốn cùng yêu thích cái gì đồng cảnh ngộ, nó sẽ có rất nhiều.
Việc chứng minh xa hơn là cuộc chinh phục gần đây là một cuộc xâm lược hơn là giải phóng, ngay cả những người Cộng sản miền Nam, là những thành viên cũ của Mặt trận Giải phóng Dân tộc và những Việt Cộng trước đây, bị gạt sang một bên như là thứ cấp thứ hai và thứ không muốn có. Một số người thậm chí bị bao gồm trong các nhóm được gởi đi cải tạo. Tất cả những người ở miền Nam vốn là những người đã thành lập phe đối lập tích cực đối với chính phủ của ông Thiệu, hoặc là những người Cộng sản hay chỉ đơn giản là những người chống chính phủ vốn là những người đã làm được rất nhiều để phá hoại từ bên trong và đẩy nhanh sự sụp đổ của đất nước của riêng mình, được đối xử cũng gần bằng chế nhạo như đối với những người vốn đã từng từ trước giờ hoặc là trung thành với chính quyền Sài Gòn hoặc thờ ơ. Sự thay đổi lớn nhất lần nầy là hiện thời không có những phóng viên báo chí hay nhiếp ảnh viên nào để ghi lại những sự vi phạm mới về quyền công dân của họ; mà qua đó dù sao đi nữa họ không còn có những quyền đó. Đối với những công dân kiên quyết của miền Nam vốn là những người vẫn còn vững chắc trong sự đối kháng của họ đối với những người Cộng Sản, đây là điều cay đắng của họ, một cuộc chiến thắng kiểu Chiến tranh Pyrrhus (i.e. xin xem lại phần 11, trang 156) và sự chứng minh tính chất chính đáng của họ rất nhỏ.3
Nhằm mục đích thực hiện sự chinh phục của họ hoàn thiện hơn, nhưng dưới những sự bao che của các nhà đầu cơ và những người tích trữ hàng hóa đáng trừng phạt, vào tháng Chín năm 1975, chính phủ lập pháp một cuộc đổi tiền.

p560

Những người dân được phép trao đổi chỉ những số lượng hạn chế của tiền cũ của họ cho tiền miến Bắc. Bất cứ cái gì trên mức nào đó mà chính phủ cho phép, về cơ bản sẽ trở thành vô giá trị. Đối với những công dân vốn có bất kỳ những thứ gì dành dụm được, ít nhất là trong tiền cũ, quá nhiều hơn số lượng tối thiểu được phép trao đổi, tiền đó hiện thời là vô giá trị. Nếu có quá nhiều tiền cũ cũng bị nhận dạng như là một tay tư bản bốc lột, tham lam, độc ác. Bị ảnh hưởng riêng biệt nặng nề bởi việc đổi tiền đầu tiên nầy là những người Hoa địa phương vốn là những người trong năm nầy đến năm khác đã từng không chế thương mại của miền Nam.4
Cùng với công cuộc cải cách tiền tệ, chính phủ mới bắt đầu cuộc di tản cưỡng bức những công dân hầu hết là thành phố Sài Gòn quá đông đúc, theo kiểu nói của những người Cộng sản thực sự, đến một nơi nào đó được gọi là Vùng Kinh tế Mới. Những người dân bị gởi đến những Vùng Kinh tế Mới bao gồm những người thất nghiệp, những người bị xem là thừa trong công việc, và những người bị xét như là không cần đến bởi những ông chủ mới. Một số vùng trong số những Vùng Kinh tế Mới là những khu vực bị nhiễm nặng bởi chất Xúc tác màu Cam. Sự tác động có hại trên sức khỏe của những người đó ngay lập tức sẽ bắt đầu cho thấy như sẽ là sự gia tăng trong số lượng những dị tật bẩm sinh từ những trẻ em được sinh ra từ những người đó. Ở những khu vực, nơi mà có những mức tập trung cao của bom, mìn chưa nổ, không phải là điều bất thường đối với người lao động bị buộc phải dọn sạch những bãi mìn và bom bằng đôi tay trần của họ. Những Vùng Kinh tế Mới khác thường là những luống đất rộng lớn mà từ trước đến nay đã không được sử dụng nhiều bởi vì từ lâu chúng được xét là vùng ngoại biên và ít có giá trị về kinh tế. Kể từ khi giá cả, sự thực tiển, và những lực lượng của thị trường tự do không còn là một phần của quá trình ra quyết định, những công dân không may bị cưỡng bức vào trong những Vùng Kinh tế Mới sẽ là những người được nghĩ là phải đốn hạ những khu rừng và trồng lúa nơi mà cây lúa không cách nào tăng trưởng, để tạo nên gắm lụa từ cái tai heo nái, để biến nước bẩn thành rượu.

(Phía sau là những đoàn xe đưa những đoàn người dân miền Nam Việt
Nam bị cưỡng bức rời khỏi thành phố, bỏ lại tất cả tài sản, nhà cửa cho
chính quyền mới của Cộng sản để đến những nơi nào đó chưa có bóng
người mà chúng được gọi là Vùng Kinh tế Mới)

(Những bãi đất cằn khô, xa xôi nới Vùng Kinh tế Mới không được trợ
giúp gì nhiều bởi chính phủ mới, nên người dân cuối cùng cũng phải bỏ
trốn trở về thành phố dù phải sống lây lất đó đây và bất chấp việc ruồng
bắt bởi chính quyền vì họ không còn có gì để giữ)

Cùng một lúc khi những người Cộng sản đang cố gắng áp đặt trật tự mới của họ, hàng ngàn và hàng ngàn và hàng ngàn công dân bắt đầu tiến trình rời khỏi đất nước. Trong khi cuộc ly hương giống như những người dân Do Thái, trong lần thứ hai đã bắt đầu từ trước ngày 30 tháng Tư, và Hải quân Hoa Kỳ đã giải cứu trên hơn 30.000 người Việt Nam trong khoảng thời gian cuối tháng Tư và đầu tháng Năm đó, một thuật ngữ mới chẳng bao lâu sẽ được biết đến với phần còn lại của thế giới là: “Thuyền Nhân.”

(Những “Thuyền Nhân” Việt Nam chật kín trên phương tiện đi lại trên
sông hơn là vượt biển, nhưng những công dân Việt Nam nầy cùng với
những đứa bé trên tay dám đánh đổi mạng sống chung cho một cơ hội
mong manh chỉ vì muốn trốn chạy xa khỏi thiên đường Cộng sản)

p561

Hiện tượng “Thuyền Nhân,” mà qua đó cho thấy những công dân đang rời khỏi đất nước trước khi cuộc kết thúc chiến tranh vào cuối thập niên 1980s và đầu thập niên 1990s, sẽ tước bỏ quốc gia một tỷ lệ phần trăm cao của những công dân có tài năng nhất của nó, chắc chắn là có nhiều người trong số những công dân dũng cảm nhất của nó. Những người vốn sẽ chọn rời bỏ đất nước của nơi sinh của họ, một khi họ đã thành công lẩn trốn và hối lộ cho con đường trốn thoát của họ được trơn tru ra khỏi vùng đất tổ tiên của mình, kế đó buộc phải can đảm vượt qua những thách thức của chuyến đi bằng tàu thuyền qua vùng đại dương mở rộng, của sự hãm hiếp đang chờ đợi, của việc giết người, và cướp phá từ những tên cướp biển ở mọi nơi đang chực chờ bên ngoài bờ biển, và đầu mối của một loạt những khó khăn khác không ai biết. Sẽ không bao giờ có bất kỳ những con số chính xác thực sự cho những người vốn phải chịu thiệt mạng trong những cố gắng của họ để mưu cầu tự do khỏi Chủ nghĩa Cộng sản, nhưng người ta tin rằng hơn 2 triệu người đã đến được tự do. Con số phần trăm lớn nhất của những người vốn bị bỏ lại, cuối cùng sẽ kết thúc ở Hoa Kỳ. Mà qua đó rất nhiều người sẵn sàng và háo hức mạo hiểm bất chấp để rời khỏi vùng đất của những tổ tiên của họ, là một dấu hiệu mà những điều hiện nay thật đặc biệt là tồi tệ. Sự mất mát của xã hội, sự cạn kiệt của chất xám và nhân lực, “sự tiêu hao cơ hội” thực sự đối với cái gì còn lại của Việt Nam sẽ là điều không lường trước được.

(Những “Thuyền Nhân” may mắn nầy còn có cơ hội bước lên đất liền
trong khi hơn nửa tổng số khác bước vào lòng đại dương, để bắt đầu
lại cho những thế hệ sau nối tiếp nơi xứ người. Tuy nhiên, có những kẻ
“Thuyền Nhân” sinh sau vẫn cố tình mù lòa trước nỗi đau của ông cha họ)

D- Việc Thống nhất được Làm cho Chính thức :

Tháng Tư năm 1976, những cuộc bầu cử giả mạo làm cho việc thống nhất của hai nước Việt Nam được chính thức, ngay cả mặc dù chính là sự thống nhất được làm cho vĩnh viễn chỉ bằng sức mạnh của súng đạn. Một đất nước thống nhất được đổi tên thành Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Như thể là tiếp tục chà xát muối và mảnh kiếng vụn nhiều hơn nữa vào trong những vết thương của những người miền Nam bị nô dịch hóa, Sài Gòn được đổi tên là “Thành phố Hồ Chí Minh” vào tháng Sáu cùng năm.5
Những mối quan hệ với cả Liên bang Sô-Viết và Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc đưa đến một ý nghĩa và tầm quan trọng mới, một khi phần việc chiến tranh của Mỹ đã kết thúc. Trong khi cả hai con thú tiền sử khổng lồ Cộng sản đã cung cấp sự viện trợ rất quan trọng về vật chất và cố vấn kỹ thuật trong suốt cuộc chiến tranh, những thù hằn cũ với người Trung Quốc bắt đầu tự tái khẳng định đối với lợi thế của Liên Xô.
Ở Mỹ, nhu cầu phải tiếp tục di chuyển bao gồm việc xóa bỏ bằng cách tẩy nhẹ tất cả những việc của ông Nixon. Một sự việc mới mở ra mà qua đó những người Mỹ tìm thấy chính họ dường như bây giờ biết muốn gì, được bày tỏ qua một đồng bào vốn là người sẽ đánh bại Tổng thống Ford trong cuộc bầu cử năm 1976.

p562

Trong một ấn bản của tạp chí Playboy vào tháng Mười Một năm 1976, mà qua đó đứng vị trí bán chạy nhất trên những quầy báo vào đầu tháng Mười, vị Thống đốc tiểu bang Georgia, Jimmy Carter, làm một cuộc tự thú công khai rằng trong lòng của mình, ông ta đã từng thèm khát những phụ nữ khác hơn là bà vợ mình. Vị Tổng thống Ford, người đàn ông vốn đã từng tha thứ cho ông Nixon đáng hổ thẹn và bị nguyền rủa, đã không làm một cuộc tự thú tương tự. Những người Mỹ dường như thưởng thức sự cởi mở đó và chọn ông Carter như là vị Tổng thống thứ 39 của đất nước.
Trong lúc đó, khi những người Mỹ tự hỏi về những quan sát kỳ lạ và những lời tự thú của người đàn ông vốn sẽ là nhà lãnh đạo mới của họ, anh Bình và hàng trăm ngàn tù nhân khác bị kẹt bên trong trại tre lao động cưỡng bức của họ cũng đang khao khát: sự thèm khát thực phẩm, bất kỳ loại thức ăn nào để cho họ khỏi phải chịu cơn đói kinh niên và đau đớn của mình, thực phẩm để lấp đầy những khoảng trống liên tục trong dạ dày của họ; quên hết về tình dục.

E- Cuộc chiến tranh với Cam-pu-chia, Cuộc chiến tranh với Trung Quốc :

Việc cố gắng để hiểu rõ những lợi ích của Mỹ trong khu vực Đông Nam Á trước ngày 30 tháng Tư năm 1975, đã từng được mô tả một cách sâu sắc bởi một số người giống như là đang cố gắng lột củ hành; lớp nầy đến lớp khác, kỳ vọng ở một điểm bên trong nào đó đến được cốt lõi của sự sáng tỏa và hiểu biết. Vấn đề khó khắn, dĩ nhiên, là việc tách ra mỗi vòng và xuống đến vòng cuối cùng, không có gì cả, và toàn bộ việc thực hành chỉ đơn giản là một việc trong sự vô ích tối đa. Nếu có được cái nhìn thấu được bên trong và sự hiểu biết về Việt Nam là một củ hành duy nhất, việc cố gắng để hiểu được cái gì đang xảy ra kế bên ở Cam-pu-chia trong khoảng thời gian hậu-Mỹ là toàn bộ rất nhiều cố gắng.
Loại độc ác mà qua đó dần dần được phát hiện ra ở Cam-bốt, bây giờ là Cam-pu-chia, thì rất kỳ quái, rất phi lý, rất thái quá, nó cướp bóc Việt Nam và những đối tượng không may của Việt Nam mà những quyền chính đáng của họ thường bị vi phạm một cách mức về hầu hết sự giám sát công cộng quốc tế mà qua đó đáng lý ra được áp dụng nếu mọi việc đã không quá tồi tệ trong một vài cây số về phía tây. Pol Pot, tay lãnh đạo điên cuồng của Khmer Đỏ làm cho Hitler, Stalin, và Mao dường như nhẹ đi sự so sánh. Ngay cả đối với những người Cộng sản Việt Nam tàn nhẫn vốn là những người rõ ràng là đã không cần nghĩ gì cả về việc hành quyết nhiều người đó, nhiều ngàn người đồng chủng bị giết chết ngay lập tức sau khi chiếm lấy miền Nam, mà không cần theo đúng thủ tục, và tiếp theo đó là việc chuyển đi khỏi bằng tàu, hàng trăm ngàn sĩ quan quân đội và các cựu quan chức chính phủ của VNCH(pc 02) để cải tạo trong một thời gian nào đó cuối cùng sẽ là những năm tháng vô hạn định của sự trả thù và trừng phạt, mức độ thanh trừng quy mô của Khmer Đỏ và cách thức mà qua đó cuộc thanh trừng được tiến hành –trên của người dân của riêng chính họ— nhiều người trong số họ là những người Cộng sản được thừa nhận, gây ra sự kinh hãi quá mức trong tâm trí của mọi người.

p563

Chỉ những kẻ có lương tri lạnh lùng nhất trong số những cán bộ Cộng sản ở Việt Nam có thể dính dáng đến câu nói được quy cho những cán binh Khmer Đỏ nói với những người mà họ muốn đe dọa: “Nếu chúng tao giết mầy, chúng tao chẳng mất gì. Nếu chúng tao để cho bọn mầy sống, chúng tao không có được gì cả.”

(Những tay lãnh đạo Khmer Đỏ trong suốt cuộc đấu tranh vào năm 1971.
Nhân vật Nuon Chea đang ngồi ở vị trí thứ nhất từ bên trái và nhân vật
nổi tiếng giết người với trái tim lạnh đang ngồi ở vị trí thứ ba. Họ là
những “sản phẩm” ưu tú trước đây của Cộng sản miền Bắc)

(Đây là một trong những tàn tích sọ người trong một vùng rừng núi
nào đó ở Cam-pu-chia, cũng là “thành tích” vang dội của Khmer
Đỏ làm thất kinh cả thế giới nhân loại có lương tri vào khoảng năm
1977 đến tháng 11/1978 với con số ước lượng trong khoảng 2.2–3
triệu người bị tàn sát bởi nhiều tổ chức nghiên cứu quốc tế)

Những sự kiện ở Cam-pu-chia vẫn tạo nên vấn đề quan trọng đối với Việt Nam trong một số lượng những lý do. Có một thiểu số dân cư người Việt khá lớn đang sinh sống bên trong đất nước Cam-pu-chia. Những người Khmer Đỏ nói chung là rất chớp nhoáng mở rộng trong việc áp dụng sự tàn bạo, nhưng đặc biệt là hung hăng chống lại các nhóm dân tộc được coi là trái ngược đối với những lợi ích của Đảng Cộng sản Cam-pu-chia mới, Angkar. Những người Khmer Đỏ siêu hoang tưởng, vốn là những người không tin vào bất kỳ ai theo đúng nghĩa đen của nó, đã có một hoang tưởng đặc biệt đối với những dân cư Việt Nam không được hoan nghênh, cũng như lòng hận thù gần như di truyền văn hóa, từ những thế kỷ xa xưa về những người láng giềng phía đông của họ.
Việc thể hiện xa hơn sự hoang tưởng và sự thiếu vắng hoàn toàn hành vi có lý trí và hợp lý mà qua đó thế giới cuối cùng đi đến sự hiểu biết về họ, thực sự chính là những người Khmer Đỏ rất nhỏ nhắn hơn về tầm thước và thấp kém về vật chất mà những hành động được lặp đi lặp lại và có chủ ý của họ trong một khoảng thời gian nhiều tháng khiến sớm đưa đến một cuộc chiến tranh hợp pháp đầu tiên vốn được nhìn nhận bởi thế giới như là một cuộc chiến tranh giữa các nước Cộng sản. (Những cuộc xâm lược của Liên Xô hoặc việc dặp tắt những cuộc nổi dậy nổi tiếng ở Hungary vào năm 1956 và ở Tiệp Khắc vào năm 1968 không cần nói đến).
Sự việc tương tự xa xưa giữa vua David và người khổng lồ Goliath thì không đủ giống để mô tả những sự khác biệt tương đối trong những khả năng quân sự về số lượng và chất lượng giữa hai nước. Trừ khi mỗi cán binh Khmer Đỏ có thể giết chết 30 người Việt, đó là điều không thể nào về thể lực đối với họ để đạt được chiến thắng. Và nếu điều nầy thực sự sẽ là một cuộc gặp gỡ của vua David chống lại người khổng lồ Goliath, vị Thượng Đế mà không người Khmer Đỏ nào hoặc cũng không người Cộng Sản Việt Nam nào tin tưởng vào, đã sẽ phải can thiệp vào nhân danh cho những người Khmer Đỏ độc ác hơn. Ngài đã không làm như vậy.
Đã từng có cuộc chiến đấu giữa những cán binh Việt Nam và Khmer Đỏ khá thường xuyên trước khi Cam-bốt đình chỉ những mối quan hệ với nước láng giềng của mình vào cuối tháng Mười Hai năm 1977.

p564

Ban lãnh đạo chính trị Việt Nam đã quyết định vào mùa xuân năm 1978 để tung ra một cuộc tấn công vào cuối năm trong cố gắng loại bỏ khu vực của Pol Pot. Cuộc tấn công bắt đầu vào ngày 22 tháng Mười Hai năm 1978, và trong vòng chưa đầy ba tuần, Quân đội Việt Nam thực sự giải phóng thành phố Phnom Penh. Lực lượng Việt Nam không bắt giữ hoặc giết chết ban lảnh đạo Khmer Đỏ nhưng đúng hơn là buộc họ từ bỏ quyền lực và thiết lập một chính phủ thân thiện với họ. Những cán binh Việt Nam vẫn chính thức ở lại Cam-pu-chia cho đến năm 1989, đặt lên sự căng thẳng thậm chí lớn hơn trên những nguồn tài lực hạn chế vốn cần đến cho việc xây dựng lại bên trong đất nước của riêng họ.6

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 02_ VNCH : Việt Nam Cộng hòa.
pc 03_ “Anh Bình không chắc là nhóm người đó đã xuất hiện một cách tự ý hoặc vì có mặt ở đó bởi vì mệnh lệnh nào đó của chính phủ” : Thật ra, nhận xét của vị Tiểu đoàn Trưởng Lê Bá Bình có điều không sai. Vì theo những tin tức gần đây, từ những người miền Bắc cho biết là họ từng bị bắt buộc làm điều đó –tràn ra chửi bới những tù nhân sĩ quan, quan chức của VNCH– và xen lẫn trong đó là những nhóm công an, thành viên thanh niên Cộng sản đứng ra ném đá và hô hào quần chúng phải làm theo. Và sự thật nầy cũng dễ dàng được nhìn thấy rõ ràng ở những cuộc đàn áp dân oan, cưỡng chế đất đai, nhà cửa từ những lực lượng công an Cộng sản gần đây trong năm 2013. Họ vẫn sao qua lại cách dùng đàn áp tinh thần từ trước đến nay bằng cách vận động một số quần chúng qua những hứa hẹn và đe dọa và thậm chí là những đám côn đồ trong xã hội được dung dưỡng, bao che bởi công an để thi hành theo mệnh lệnh có lợi cho công việc của họ.

Advertisements

One thought on “Phần 39: Cải tạo

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s