Phần 38: Sự sụp Đổ của Saigon

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p533

Phần 38: Sự sụp Đổ của Saigon

Trong khoảng thời gian từ ngày 21 đến 28 tháng Tư, Không lực Hoa Kỳ, sử dụng máy bay vận chuyển C-141 và C-13 0, đã bay tổng cộng 304 phi vụ tổng hợp, di tản gần 43.000 người Mỹ và Việt Nam –hầu hết là những người Việt Nam– từ phi trường Tân Sơn Nhứt. Những cuộc tấn công bằng hỏa tiển và pháo kích của Quân Bắc Việt chống lại các cơ sở ở đó vào ngày 28 làm xếp lại nỗ lực mà qua đó cuối cùng được đẩy mạnh về phía trước một động lực để thực hiện Chọn lựa IV của Hoạt động Gió trường Kỳ (Operation Frequent Wind). Sự quyết định ban đầu để thực hiện Chọn lựa IV được thực hiện ngay trước khi 1100 giờ ngày 29 tháng Tư.1
Trước khi bắt đầu Hoạt động Chọn lựa IV, đã có một sự đột biến trong hoạt động bên ngoài từ bờ biển; tất cả các loại tàu nhỏ và lớn, được chất đầy với những gia đình nóng lòng trốn thoát làn sóng Đỏ đang chinh phục, và hy vọng rằng Hải quân Hoa Kỳ và những tàu buôn sẽ cung cấp khoảng thời gian nghỉ ngơi ban đầu trên chuyến hành trình đến một vùng đất mới nào đó nơi mà không có những người Cộng Sản.
Kể từ khi chuyến đến của nó ngoài khơi bờ biển Việt Nam nhiều ngày trước đó, đội thủy thủ của chiến hạm USS Kirk đã chưa nghe đến Lời tuyên bố Báo động Khẩn cấp (GQ = General Quaters) nhưng vẫn ở trong tình trạng cảnh giác và hoạt động cao độ. Hành động trong Trung tâm Thông tin Chiến đấu (CIC = Combat Information Center) của chiến hạm Kirk, kể từ ngày đầu trước khi đã đẩy mạnh lên một cách đáng kể. Sự căng thẳng và hứng thú trên khắp cả con tàu, nhưng đặc biệt là trong Trung tâm “Chiến đấu,” là có thể cảm nhận được.
Đối với vị Sĩ quan chưa Chính thức Khoá hai Jim Bongaard và những thủy thủ của anh ta, tình hình hiện nay cho tấc cả họ một cảm giác về mục đích mà họ từ trước đến giờ đã chưa từng trải nghiệm, ngay cả trong suốt cuộc di tản trước đó từ thủ đô Phnom Penh. Họ đang làm việc 12 tiếng đồng hồ liên tục và 12 tiếng nghĩ, “trước và sau mũi tàu” (i.e. tiếng lóng của thủy thủ ám chỉ sự làm việc). Theo định nghĩa của 12 tiếng nghĩ có nghĩa là bao gồm giấc ngủ và nghỉ ngơi. Dưới những điều kiện hiện nay, với những màn hình theo dõi làn sóng ra-đa trên biển và trên không trong Trung tâm “Chiến đấu” theo dấu rất nhiều hoạt động, với những công tác cho tấc cả nhóm làm việc thêm giờ khi những sự kiện bất thường nầy đòi hỏi, có ít thời gian dành cho giấc ngủ. Điều đó gần như là một sự kiện cần đến tất cả mọi người.

(Chiếc trực thăng sâu rợm CH-47 vừa mới cất cánh khỏi Tòa Đại sứ
Hoa Kỳ bên dưới, đang chuyển những người di tản ra một trong
những con tàu ngoài khơi bờ biển Việt Nam vào ngày 29/04/1975)

p534

Điều mà không một ai trong toàn bộ Hạm đội 7, từ những người có thông tin đầy đủ nhất, những vị Đô đốc cao cấp xuống đến những người làm việc trên boong cấp thấp nhất trên các tàu khác nhau trong hàng ngũ, có thể chắc chắn hoặc là Quân Bắc Việt dám có thể cố gắng tấn công những người chạy trốn khỏi sự nô lệ hóa hoặc là những tàu chiến Mỹ và các tàu buôn có thể hành xử như thế nào đó đối với những việc sắp xảy đến cho họ. Người ta tin rằng mối đe dọa tấn công trực tiếp trên những tàu chiến Mỹ bởi những người miền Bắc gần như chiến thắng là điều rất ít xảy ra. Tuy nhiên, những người Mỹ duy trì sự canh chừng của họ. Có một số ít cam kết mà những người Cộng sản giữ được. Sự cảnh giác liên tục là sự chọn lựa duy nhất.
Thêm vào những nhiệm vụ thường xuyên trong Trung tâm “Chiến đấu,” anh chàng Bon là người chịu trách nhiệm cho việc theo dõi khoảng cách từ bờ biển của chiến hạm Kirk. Quân Bắc Việt đến lúc bấy giờ đã chiếm lấy Vũng Tàu. Trên mũi đất của nó, Vũng Tàu có khẩu súng trên bờ biển –anh Bon tin rằng những cây súng đó trước đây đã từng thuộc về những binh lính của Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) nhưng không chắc chắn lắm –mà qua đó có chủ ý là để bắn ra biển. Những người bạn trong Trung tâm “Chiến đấu” có một cảm giác khá tốt đối với tầm tác xạ tối đa của những khẩu súng. Nhiệm vụ chính của anh chàng Bon là bảo đảm rằng chiến hạm Kirk vẫn còn nằm bên ngoài vòng bán cung của tầm pháo. Trong khi chờ đợi những người bạn thủy thủ của mình theo dấu vết của cái gì có vẻ giống như một số lượng đang gia tăng, một số lượng rất lớn, của những tiếp xúc không biết rõ bằng đường biển. Cho đến nay, hầu hết những sự tiếp xúc bằng đường bay là những vệt sóng của những chiếc trực thăng thuộc Thủy quân Lục chiến (TQLC) Hoa Kỳ đang theo hướng vào trong Sài Gòn. Chẳng bao lâu, những dấu vết sẽ thường xuyên chéo qua nhau theo cả hai hướng như là một dịch vụ đưa đón được tiếp tục trong sự sốt sắng. Chẳng bao lâu, chúng cũng sẽ bắt đầu ghi nhận những cái gì chưa biết rõ, những con ma đang bay về phía họ tán loạn mà qua đó sẽ vỡ ra là những chiếc trực thăng đang trốn chạy của Không lực Việt Nam (KLVN) và thậm chí một chiếc máy bay nhỏ điều khiển bằng cánh quạt đang tìm kiếm những boong tàu thân thiện để đáp xuống trên đó.

A- Bên trên những Vùng trời của Sài Gòn :

Những sứ mệnh được thực hiện bởi những binh lính TQLC(pc 01) trong suốt Hoạt động Gió trường Kỳ, thì khá giản dị nhưng vô cùng phức tạp. Những binh lính TQLC bộ binh được gởi đến Cục Phòng thủ Sát cánh (DAO = Defense Attache Office) và tiếp theo sau đó cũng được gởi đến Tòa đại Sứ Hoa Kỳ để tăng cường lực lượng an ninh đã ở đó có chủ đích cung cấp sự trật tự, ổn định, và mối đe dọa để cho cuộc di tản khỏi Sài Gòn có thể suông sẻ như được kế hoạch.

p535

Ban lãnh đạo ở mọi cấp nhận biết rằng sẽ có những vấn đề mà chúng chưa phát triển thành những tình huống bất ngờ –như trong việc gởi thêm những binh lính TQLC để dùng vào việc canh gác các bức tường của Tòa đại Sứ. Họ có thể ít ra là có lòng tin vào việc biết rằng những binh lính TQLC sẽ, ở mọi cấp, chứng tỏ sự tháo vát thích ứng với tình hình trên bộ luôn luôn đang thay đổi. Việc phối hợp tất cả những chiếc trực thăng của TQLC và Không lực Hoa Kỳ và sự di chuyển tới lui những con tàu, trên những vùng trời đông đúc và tầm nhìn bị giảm mất đi trên Sài Gòn, và sau đó bằng cách nào đó cố gắng phối hợp với cuộc triệt thối bằng trực thăng thiếu sự điều phối của KLVN,(pc 02) đã là một vấn đề hoàn toàn riêng biệt và ngang ngửa với thử thách.*
Đối với Đại úy John Bowman và viên phi công phụ, Trung úy Dave Androskaut, sứ mệnh rộng lớn của họ bao gồm việc cung cấp sự hỗ trợ của trực thăng tấn công cho những chiếc trực thăng vận chuyển binh lính TQLC đang trên không và những binh lính trên mặt đất. Sự hiện diện tạo đe dọa, hiển hiện của họ trong những vùng trời bên trên Sài Gòn có chủ ý nhằm phục vụ như là việc gây nản lòng cho bất kỳ vị chỉ huy nào của Quân Bắc Việt hoặc cán binh nào vốn là người dám muốn là một trong số những người cuối cùng chịu chết một cái chết vinh quang cho Hồ Chí Minh và cuộc Cách mạng khi những lực lượng của họ giải phóng những con múa rối ở miền Nam khỏi những tên đế quốc Mỹ. Thêm vào vai trò chính của việc hộ tống trực thăng và việc gây nản lòng cho Quân Bắc Việt khi họ đão quanh những bãi đáp ở Sài Gòn, những chiếc trực thăng chiến đấu Cobra phục vụ như là những tuyến phòng chỉ huy và kiểm soát trên không, những hướng dẫn viên, và những liên lạc viên viễn thông. Cùng với những vấn đề rõ ràng về sự chỉ huy, kiểm soát, và các khả năng phải nhận lấy hỏa lực từ Quân Bắc Việt và lẫn những người miền Nam cay đắng, bực tức, thời tiết được thêm vào danh sách của các những thứ nguy hiểm mà các phi hành đoàn cần đến để vượt qua. Khả năng tầm nhìn cũng bị suy giảm bởi khói. Những phi hành đoàn của chiếc trực thăng chiến đấu Cobra và tất cả những người khác được yêu cầu phải nhận thức đầy đủ, tham gia toàn diện trong mọi lúc.
Dưới những hoàn cảnh bình thường khi hoàn toàn thực hiện xong nhiệm vụ, một chiếc Cobra AH-1J mang trong mình phần dư ra khoảng 1.008 lít nhiên liệu. Dưới những điều kiện bay bình thường, chiếc Cobra đốt cháy nhiên liệu khoảng 28 lít mỗi 10 phút; cho một con chim tiêu biểu thời gian bay 3 tiếng đồng hồ tối đa mặc dù không ai từng thử đi đến thời gian dài đó. Những cái đồng hồ đo nhiên liệu trên những chiếc trực thăng chiến đấu Cobra đôi khi được biết là không chính xác khi cố gắng đọc những mức gần cạn. Những sứ mệnh được hoạch định cho Hoạt động Gió trường Kỳ chưa bao giờ được dự kiến sẽ dài hơn hai tiếng rưỡi.
=============
* Lực lượng trực thăng TQLC được bổ sung thêm bởi tám chiếc trực thăng hạng nặng, kiểu mới CH-53C của Không lực Hoa Kỳ và hai chiếc trực thăng vận chuyển và chiến đấu HH-53 từ Thái Lan mà qua đó đã được khai triển trên hàng không mẫu hạm USS Midway (số hiệu CV-41) (Dunham và Quinlan, “U.S Marines in Vietnam: The Bitter End 1973–1975” (“TQLC Hoa Kỳ ở Việt Nam: Sự kết thúc Cay đắng 1973–1975”), trang 192).

(Chiếc trực thăng vận chuyển hạng nặng Sikorsky CH-53C
Sea Stallion (Ngựa Biển), luôn luôn mang theo hai bình nhiên liệu phụ)

(Chiếc trực thăng vận chuyển và chiến đấu HH-53 “Super Jolly Green Giant”
(“Người Cực kỳ khổng lồ màu Xanh Vui vẻ”) còn được gọi là
Sikorsky MH-53 Pave Low (PAVE = Precision Avionics Vectoring Equipment:
Dụng cụ Định hướng Vật bay Chính xác; là hệ thống điều khiển bom bằng tia
sáng), là một hình thức khác của chiếc Sikorsky CH-53 Sea Stallion)

=============

p536

Khi anh Bowman đến gần mức đòi hỏi tiếp nhiên liệu trên chuyến phi vụ ban đầu của mình, anh ta và chiếc trực thăng “Trợ Cánh” được hướng dẫn trở lại đáp lên chiếc hàng không mẫu hạm Okinawa. Cuộc di tản đang tiến hành trong một lúc khá tốt đẹp, mặc dù rõ ràng đối với nhiều người là điều đó sẽ chỉ là việc không thể nào mang tất cả những người Việt vốn là những người cần đến việc bốc ra. Trong những khoảng thời gian ngắn, John Bowman có thể ngẫm nghĩ về những số phận và tương lai của họ. Điều quấy rầy anh ấy rất nhiều là nước Mỹ đang bỏ rơi những người vốn đã từng hợp tác với Hoa Kỳ ngay lúc nầy trên cơ bản là bị ném qua một bên như là thứ không tiện dụng, không còn trong lợi ích quốc gia. Nơi mà những người Mỹ đã nhanh chóng quên lãng, anh Bowman biết rằng Quân Bắc Việt ngay phía dưới những đại lộ Sài Gòn sẽ có những kỷ niệm lâu dài. Họ sẽ không bao giờ quên. Họ sẽ không bao giờ tha thứ.

(Chiếc trực thăng vận chuyển CH-53 đang thả xuống những người
di tản khỏi Sài Gòn trên boong hàng không mẫu hạm USS Midway,
vào ngày 29/04/1975)

Trên chiến hạm Kirk

Đến giữa chiều, ngày 29 tháng Tư, cuộc ly hương của những chiếc trực thăng ra ngoài của KLVN(pc 02) đang trở thành một dòng chảy. Trong nỗ lực để hỗ trợ cho những người đang tìm kiếm nơi trú ẩn, Trung tâm Thông tin Chiến đấu của chiến hạm Kirk truyền tin trên tần số trên không khẩn cấp, một băng tầng vô tuyến được biết đến đối với tất cả các phi hành đoàn, rằng chiến hạm có một sàn tàu trống cho máy bay.
Hầu hết những phi công đang tìm kiếm sự tự do, vốn là những người đã gói ghém vào những chim của họ đầy cả gia đình và bạn bè, chưa bao giờ đáp trên một con tàu di chuyển với một boong tàu nhô lên. Nhỏ như một sàn bay của chiếc hàng không mẫu hạm bắt buộc luôn luôn cho thấy là lần đầu tiên người phi công thử cố gắng đặt máy bay của mình trên nó, đặc biệt là dưới những điều kiện kém lý tưởng hơn, việc cố gắng đặt những chiếc trực thăng quá tải thường sắp hết chất đốt và hơi khói trên một khoảng trống có kích thước như con tem được cung cấp bởi con tàu giống như là chiến hạm USS Kirk, ắt hẳn có vẻ là việc gần như không thể nào.
Sự cần thiết luôn luôn thắng được những suy xét khác. Giả như đưa ra sự chọn lựa của việc đâm sầm vào trong đại dương và gần cái chết chắc chắn hoặc vào bất cứ sàn bay nào có ở đó, điều đáng ngạc nhiên là có bao nhiêu những người dũng cảm tìm kiếm tự do đã thành công trong việc đáp xuống. Sàn bay của chiến hạm Kirk được xây dựng để chứa trực thăng thuộc Hệ thống Đa năng Không vận Loại nhẹ (LAMPS = Light Airborne Multipurpose System) mà nó thường mang theo như là một phần của khả năng chống tàu ngầm của nó.

p537

Sàn bay của nó có thể an toàn chứa chính xác một chiếc trực thăng với những cánh quạt của trục quay. Trong khi việc thu lại được chiếc trực thăng đầu tiên dường như là một sự mới lạ và được cất giữ ở phía trước, sự mới lạ đó chẳng bao lâu qua đi. Khi chiếc thứ hai đến trên tàu, nó nhận ra rằng con người sẽ ở lại nhưng những chiếc trực thăng sẽ phải đi; đẩy qua hông tàu. Những hành động nầy đang được lặp lại hết lần nầy đến lần khác nữa trên mỗi con tàu đang trôi nổi bên ngoài bờ biển Việt Nam với đủ chỗ để đáp một chiếc trực thăng nhỏ. Phim và những hình ảnh cô động của chiếc trực thăng nầy đến chiếc khác đang bị chôn vào độ sâu đại dương, được gởi đến đáy của “Cái hòm của Davy Jones” (“Davy Jones’s Locker”) (i.e. đáy biển) sẽ tạo nên bản tin ở quê nhà trong Thành trì nước Mỹ sau khi Sài Gòn sụp đổ; qua việc củng cố quan niệm cho rằng cuộc chiến nầy, cho đến ngay phút cuối, với nhiều và nhiều, rất nhiều những chiếc trực thăng nầy bị bỏ đi, với hàng triệu và hàng triệu đô-la theo nghĩa đen đang tuôn đỗ xuống cống, là một sự lãng phí khổng lồ của cải vật chất của Mỹ.

(Chiếc trực thăng Huey thường bắt buộc phải bị tống xuống biển,
dành chỗ thêm cho những người di tản Mỹ và Việt Nam, nhưng chỉ
là một số nào đó, không nhiều như giới thông tin Mỹ loan tin)

(Dù chiếc trực thăng sâu rợm khổng lồ CH-47 cũng bị vứt xuống biển
trong vùng vịnh Bắc Bộ, cũng chỉ là số rất ít, và cần thiết phải làm)

(Nhân vật ảo tưởng Davy Jones trong bộ phim “The Pirates of the Caribbean”
(“Những tên Hải tặc của vùng biển Caribbean”) bắt đầu vào năm 2003,
là hình ảnh tiêu biểu cho “Cái hòm của Davy Jones” hoặc Đáy biển)

Tin tốt về 157 người đàn ông, phụ nữ, và trẻ em Việt Nam an toàn lên chiến hạm Kirk lúc nửa đêm, là họ vẫn còn sống, hít thở không khí như những người được tự do, hoàn toàn tuyệt vọng nhưng bất bại, bất phục.
Trong tất cả hành động mà anh chàng Bon đã từng hoạt động giống như hầu hết những người bạn thủy thủ của mình –không ngừng nghỉ. Khi buổi chiều trở nên tối hơn, số lượng của những chiếc trực thăng thuộc KLVN(pc 02) giảm dần và anh ta được thay phiên bởi một trong những người khác trong Trung tâm “Chiến đấu.” Anh Bon cuối cùng leo lên giường nghĩ một chút trước khi nửa đêm. Anh ta đã thức làm việc liên tục hơn 24 tiếng đồng hồ.

B- Phi vụ lần thứ Ba và Cuối cùng cho ngày 29 tháng Tư năm 1975:

Đối với việc tiếp nhiên liệu lần thứ hai của họ, anh Bowman và anh Androskaut được hướng dẫn đến chiến hạm USS Duluth (số hiệu LPD-6) hơn là đến chiếc hàng không mẫu hạm hạng trung Okinawa; chỉ bởi vì chiến hạm đó hiện thời có một sàn bay trống. Sự hoạt động trên biển như điên cuồng trên tất cả các con tàu với sàn bay. Những điều kiện trên cao đã xấu đi khi mặt trời lặn lúc bóng tối làm tăng lên sự nguy hiểm trên những vùng trời đầy máy bay. Điều đó không thành vấn đề. Những chiếc trực thăng vẫn tiếp tục với những sứ mệnh của chúng. Được tiếp nhiên liệu, anh Bowman và anh Androskaut chẳng bao lâu trở lại bên trên Tòa đại Sứ làm cái gì mà họ cần làm.
Việc điều khiển con chim chiến tranh của mình trong suốt đêm 29 tháng Tư trong những vùng trời bên trên Sài Gòn giống như đang bay bên trong một chai bị đóng nút chai chứa đầy sương mù. Việc bay vào và bay ra khỏi thành phố, những chiếc trực thăng chỉ dựa vào những dụng cụ.

p538

Trên thành phố, thậm chí với khả năng tầm nhìn giảm bị sút giảm, họ bay theo thị giác. Những đám cháy đang xảy ra vốn rải rác quang cảnh, vòng cung của mặt kiếng tròn của máy truy tìm dấu vết mà qua đó nhô lên lúc có lúc không giống những vòi nước trong khu vườn ánh sáng đèn điện khổng lồ đang phun ra một cách chậm chạp theo những hướng lộn xộn, và sự lóe sáng đôi khi của các vụ nổ làm cho nơi đó có một cảm giác và quang cảnh địa ngục. Sự lan tràn khắp nơi của sương mù thường ngăn cản các phi công từ việc xác định ở trên và dưới, nơi nào là chân trời, và từ nơi nào những ánh chớp thực sự đang đến.

(Chiến hạm USS Duluth LPD-6 có khoảng trống vừa đủ
ở phía sau cho một chiếc trực thăng duy nhất đáp lên)

(Hàng không mẫu hạm hạng trung USS Okinawa LPH-3)

Có hai cách mà anh Bowman trợ giúp những viên phi công anh em chuyển vận của mình. Việc sử dụng những khả năng tìm hướng tự động tầng số vô tuyến UHF (i.e. Ultra-High Frequency, là tầng số cực cao giữa 300 MHz và 3 GHz) để có được một phương hướng đi vào hoặc ra khỏi của vùng trời lõng bõng như canh, những bãi đáp tối đen là phần trước nhất. Để tìm ra đúng chỗ những bãi đáp tối thui đó khi những con chim bay vào định hướng về phía anh ta, anh Bowman bay với tất cả những đèn rọi bật lên để cho các phi công của chiếc trực thăng vận chuyển hạng nặng CH-53 sẽ biết rằng những bãi đáp trực tiếp nằm ngay phía dưới. Phần nhiều như nó trợ giúp những phi công chuyển vận, việc bay theo cách đó cũng chỉ như đang van xin những tay súng của Quân Bắc Việt nhắm bắn vào anh ta. Thật ra, tất cả những chiếc trực thăng trong suốt buổi chiều tối, họ đã bị bắn vào từng chập. Để bảo vệ máy bay của mình khi họ đánh vòng Tòa đại Sứ, anh Bowman thay đổi cả tốc độ và độ cao của mình. Trong đám sương mù và hơi nước làm rít người và sự dễ lầm lẫn, đó là tất cả nhưng không thể nào biết được lằn đạn đang đến từ nơi nào. Nếu bắn trả một cách bừa bãi, có thể giết chết những thường dân vô tội, và vì vậy họ cứ tiếp tục bay.
Những chiếc trực thăng chiến đấu Cobra luôn luôn được sử dụng trong những tiểu đội có hai chiếc đi song song. Những lợi thế và những sự phối hợp hành động chung về chiến thuật thật rõ ràng; và đó chính là một học thuyết vốn hiếm khi dám vi phạm. Gần đến phút cuối của chuyến phi vụ thứ ba trong ngày, anh Bowman, đang bên trên Tòa đại Sứ, nghe một bộ phận trực thăng Cobra bay qua Cục Phòng thủ Sát cánh báo là sắp cạn nhiên liệu và quay trở lại chiếc hàng không mẫu hạm Okinawa. Nhận biết rằng vẫn có những thường dân và hơn 100 binh lính TQLC trên mặt đất đang yêu cầu được bốc đi, anh Bowman vi phạm học thuyết trong lần đầu tiên ngày hôm đó. Ra lệnh cho chiếc trực thăng “Trợ Cánh” của mình che chắn Tòa đại Sứ một mình, anh Bowman và anh Androskaut bay một khoảng cách ngắn đến phi trường Tân Sơn Nhứt và chiếm một vùng bên trên bãi đáp của Cục Phòng thủ Sát cánh. Vẫn còn đang bay với tất cả các đèn rọi bật lên, họ đánh vòng và chờ đợi khi ba chuyến bay trong số bốn chiếc trực thăng hạng nặng CH-53 mỗi lần bay vào trong Cục Phòng thủ Sát cánh để tiếp tục bốc lên những thường dân nào đó ở đó còn lại và sau đó bắt đầu việc bốc đi lực lượng an ninh TQLC.
Gần đến trạng thái cạn nhiên liệu cho chính mình, chính là lúc chuyển con chim của họ theo hướng Hạm đội 7 và đến sàn bay thân thiện nào đó ở bên ngoài bờ biển trên chân trời phía đông tối đen như mực.

p539

Tuy nhiên, những binh lính TQLC(pc 01) bên dưới, trong chuyến bay cuối cùng, chưa lên được những chiếc trực thăng bốc quân của họ. Những phần tử dẫn đầu của đội tiên phong Quân Bắc Việt theo nghĩa đen là đang ở dưới đường phố, không phải là 2 km từ phạm vi quân đồn của Cục Phòng thủ Sát cánh và những cánh cổng của phi trường Tân Sơn Nhứt. Có lẽ, lực lượng Quân Bắc Việt sẽ không đụng đến những chiếc trực thăng vận chuyển CH-53. Cho đến bấy giờ, không một chiếc nào trong số những chiếc trực thăng vận chuyển đó đã bị bắn hạ. Anh Bowman không thể chắc chắn lắm. Anh Bowman giống như con gà mẹ theo ý nghĩa chăm ngôn quan tâm đến tất cả những con gà con của nó trong khi con cáo bẩn thỉu, độc ác, đói cồn cào, đang tiến đến chuồng gà. Anh ta sẽ không bao giờ có thể sống với chính mình nếu anh ta rời bỏ và chuyến bốc lên cuối cùng của buổi chiều tối đã bị bắn rơi, hoặc trở nên bị mất phương hướng và đâm xuống mà không có sự hộ tống thích hợp của anh ta.
Nếu anh Bowman và anh Androskaut tiếp tục ở một vị trí cố định lâu hơn nhiều nữa, họ sẽ không có đủ nhiên liệu vượt qua bờ biển mà không cần nói về việc đến được sàn bay phe bạn. Viễn ảnh trở thành những người Mỹ cuối cùng bị thiệt mạng (hai binh lính TQLC vốn là một phần của bộ phận TQLC tách rời của Tòa đại Sứ đã bị giết chết trong một cuộc tấn công bằng hỏa tiển của Quân Bắc Việt trong ngày trước khi tiến gần phi trường Tân Sơn Nhứt) hoặc trở thành “những vị khách” của Quân Bắc Việt, cố bám lấy chút van nài. “Nầy anh bạn Dave, chúng ta ở đây cho đến khi chiếc trực thăng vận chuyển CH-53 cuối cùng ra khỏi bãi đáp.”
Không có gì phải phản đối, viên phi công phụ bíp gọi anh ta và nói với anh ta về điều mà anh ta đã biết rồi, “… anh John, chúng ta có thể gần như đúng lúc sắp cạn nhiên liệu (Nơi buồng lái phía trước của chiếc Cobra nơi mà tay xạ thủ / viên phi công phụ ngồi, không có những cái đồng hồ đo nhiên liệu.)…”
“Nhận được… Tôi biết… Tôi biết…”

Sài Gòn bùng cháy. Tất cả xung quanh Cục Phòng thủ Sát cánh và phi trường Tân Sơn Nhứt, Sài Gòn đang bốc cháy. Ngay cả những cơn mưa dữ dội, từng lúc dường như cũng không thể làm tắt lụi những ngọn lửa. Anh Bowman cảm ơn rằng anh ta biết không ai trong số hàng ngàn, có thể là hàng chục ngàn vượt qua gian nan, và bây giờ với việc di tản gần như hoàn thành, là người Việt Nam vô vọng theo đúng nghĩa của nó vốn là người có khả năng phải đối mặt với sự giam cầm hoặc tử hình khi Quân Bắc Việt tìm ra được ai là ai. Anh ta có thể ít ra tập trung những năng lực của mình vào việc bảo đảm rằng một số ít những người lính TQLC cuối cùng nầy phải thoát ra được.
Sau khi cái gì đó dường như là vô tận nhưng có lẽ chỉ là một hoặc hai phút hơn –những tiếng lầm bầm trên mặt đất chỉ như là điều nóng lòng muốn ra quách khỏi nơi đó– chuyến bay cuối cùng của bốn chiếc trực thăng vận chuyển khổng lồ CH-53 đã thực hiện cuộc tiếp xúc qua vô tuyến, báo hiệu rằng những binh lính TQLC thuộc lực lượng an ninh tất cả đã được lên tàu bay. Có một cuộc bàn thảo ngắn qua vô tuyến nhưng mọi người bắt đầu được thở chỉ dễ dàng hơn một chút.

p540

Những chiếc trực thăng to lớn nhấn thêm gia tốc và cất lên khỏi mà không có biến cố nào. Yếu tố nhăn nhúm da mặt sẽ giảm xuống từng chút hơn nữa một khi họ qua khỏi bờ biển và trong vùng “chân ướt.” Họ sẽ, dĩ nhiên, chỉ nghỉ ngơi dễ dàng một cách hoàn toàn khi tất cả những binh lính TQLC đã hoàn toàn được thu hồi lên tàu bay và đã được báo cáo. Những binh lính TQLC mà anh Bowman đã cưu mang trong một ít khoảnh khắc vừa qua nầy, những người lính TQLC vốn sẽ không bao giờ biết tên của anh ta hoặc anh ta làm gì, hoặc xem sự hiện diện của chiếc trực thăng Cobra của anh ta cách nhiều chục thước bên trên họ đã thực sự tạo nên sự khác biệt trong việc bốc quân an toàn của họ, thì an toàn như anh ta và Dave Androskaut có thể làm cho họ. Lúc đó chỉ vào khoảng nửa đêm. Sứ mệnh hoàn thành…
“Nhiên liệu của chúng ta trông như là gì rồi, anh John ?”
“Không tốt lắm, anh bạn Dave…” Anh Bowman đang theo dõi những cái đồng hồ đo nhiên liệu của mình. Họ đang bay vào trong và ra ngoài chất lỏng bỏng như món canh. Anh ta gọi là vùng “chân ướt” ngay cả mặc dù anh ta thực sự không thể nhìn thấy nơi tách biệt giữa bờ biển và đại dương. Anh ta giả định là chiếc trực thăng Cobra của họ đang trên mặt nước khi anh ta có thể nhìn xuống và không còn thấy bất kỳ những ánh đèn nào. Việc truyền tin được nhận biết, có lẽ là do Trung tâm Hướng dẫn Trực thăng (HDC = Helicopter Direction Center) trên chiếc hàng không mẫu hạm Okinawa. Cảm ơn Chúa, anh thầm nghĩ. Ít nhất là nếu họ bị nạn bây giờ, họ sẽ không có khả năng bị bắt giữ bởi Quân Bắc Việt, hoặc những thân xác họ ở mức tối thiểu sẽ được thu lại, nếu chúng có thể được thu lại, bởi tình bằng hữu.

Một nơi nào đó Giữa Bờ biển Việt Nam và những Con tàu của Hạm đội 7 Hoa Kỳ
Năm phút sau đó
Ngày 30 tháng Tư năm 1975, lúc 0005 giờ

Trong tình trạnh hiện thời sắp cạn nhiên liệu của anh ta, điều đó làm phiền John Bowman là anh ta phải bay khoảng 48 km từ Sài Gòn chỉ đến được bờ biển. Hạm đội 7 và chiếc hàng không mẫu hạm hạng trung USS Okinawa nằm ở một khoảng cách 48 km khác nữa ngoài biển. Anh Bowman đã và đang bay khoảng 305 m độ cao khi anh ta đi vào vùng “chân ướt.” Từ từ anh ta bắt đầu hạ thấp, để đưa chính mình trong độ cao theo mô hình đáp xuống cho con tàu có sàn bay hoặc sân đáp cho trực thăng (LPH = Landing Platform Helicopter). Những điều kiện trên cao nằm trên vùng giới hạn theo cách tốt nhất. Ngay cả với mặt trăng bên ngoài, họ liên tục bay vào ra khỏi sự che phủ của mây. Khi họ không ở trong vùng lỏng bỏng như món canh, tất cả họ có thể nhìn thấy bên trên là những ngôi sao. Một đôi lần, họ theo sát ánh sáng trắng trên cột buồm của một con tàu phía dưới. Đối với những vấn đề thông tin liên lạc qua vô tuyến, một thách thức mà anh Bowman chưa bao giờ nhận được một sự lưu ý về bất kỳ những sàn bay nào trống gần đó.

p541

Đại úy Bowman đã không nhận được một tín hiệu hướng dẫn bình thường nào từ hệ thống Điều hướng Khéo léo (Trên không TACAN = a Tactical Air Navigation system) mà qua đó đáng lý đã xảy ra với chiếc hàng không mẫu hạm Okinawa trước khi anh ta bay vào vùng “chân ướt.” Trung tâm Điều khiển Trực thăng (HDC = Helicopter Direction Center) ở trên Sân đáp cho Trực thăng có thể cho anh ta một chỉ hướng để theo sau, mà qua đó anh ta đã làm theo. Cuối cùng, ở khoảng cách vào khoảng 48 km ngoài biển, chiếc trực thăng của anh ta nhận được tín hiệu từ hệ thống Điều hướng Khéo léo Trên không của nó, và nó chỉ ra một khoảng cách khoảng 8 km nữa đến chiếc tàu mẹ của anh ta.

(Những hệ thống theo dõi phức tạp trên một chiếc trực thăng điển hình)

(Chiếc trực thăng hạng nặng CH-46 đang câu Hệ thống TACAN
mới đặt lên chiếc hàng không mẫu hạm USS Boston vào năm 1966)

Khi anh ta theo dấu hiệu chỉ hướng của chiếc hàng không mẫu hạm Okinawa, anh ta nhìn ra ở trước mặt họ một con tàu màu xám được thấp sáng; hy vọng là thuộc về Hải quân Hoa Kỳ. Lúc đầu mong nó sẽ là Sân đáp cho Trực thăng của mình, anh ta mau chóng nhận ra khi họ đến gần nó mà đó là một con tàu khu trục nhỏ hoặc tàu chiến loại nhỏ với một sàn bay “bị hư hỏng nhiều.” (Chiếc trực thăng Huey cuối cùng mà chiến hạm Kirk đã thu hồi lúc buổi chiều tối, đã không được đẩy qua một bên.) Không có sự lựa chọn nào khác ngoại trừ tiếp tục theo hướng của chiếc hàng không mẫu hạm Okinawa. Chính là trong khoảnh khắc kế tiếp mà qua đó mọi thứ bắt đầu sai lạc một cách khủng khiếp.
Khi chiếc trực thăng chiến đấu Cobra AH-1J chở Đại úy John Bowman và Trung úy David Androskaut phun lửa ra ngoài, ở một nơi nào đó giữa bờ biển Việt Nam và những con tàu của Hạm đội 7, những cái đồng hồ đo nhiên liệu chỉ cho biết vào khoảng 113 kg –khoảng 25 phút thời gian bay– còn lại.
Đại úy Bowman đang bay chủ yếu bằng các công cụ trong khi Dave Androskaut, vốn là người không thể nhìn thấy nhiều bởi vì họ vẫn còn đang bay ra vào khỏi sự che phủ của đám mây, tập trung vào việc tìm kiếm một nơi để đáp xuống. Cây kim của cái đồng hồ đo nhiên liệu không di chuyển được. Nó dường như bị kẹt ở con số 113 kg.
Khi anh Bowman tìm cách điều khiển con chim của mình bằng sự chú ý và gìn giữ ở độ cao khoảng 91 m, chỉ ngay sau khi bay ngang qua chiến hạm Kirk với một sàn đáp tắc nghẽn, (vào khoảnh khắc đó, anh ta không biết tên con tàu) một động cơ quan trọng nhất bắt đầu xoay chậm lại. Không phải là một dấu hiệu tốt. Động cơ số hai theo sau không lâu sau đó.
John Bowman đã làm điều chỉ giống như anh ta đã được dạy, và từng thực hành hàng chục lần. Trong bóng tối đen hoàn toàn –ngay cả mặc dù có một mặt trăng ở ngoài, nó hiện thời đang nằm phía sau những đám mây– anh ta thực dụng sự xoay hướng tự động của một công cụ dùng cho ban đêm. Trong bóng tối đen hoàn toàn. Anh Bowman duy trì hướng bay của mình, nhanh chóng hạ xuống cần điều-khiển-sự-lên-xuống-chung của mình để giảm thiểu sự hao mòn tốc độ trục quay của họ. Đúng theo sách vở. Hoàn toàn theo đúng sách vở.
Khi chiếc Cobra đang mỏi mệt, hấp hối của họ đến gần mặt nước, tất cả tốc độ bay về phía trước đã bị mất dần. Ở mức đọc thấy 23 m trên máy đo độ cao bằng là sóng ra-đa, anh Bowman kéo mũi chiếc Cobra lên chỉ một chút, kéo cái cần điều khiển-sự-lên-xuống-chung của mình vào trong để làm nhẹ bớt đi sự va chạm mạnh khi hạ xuống.

p542

Chiếc trực thăng Cobra với tốc độ bay về phía trước là số không, lún xuống vào trong Biển Đông phẳng lặng còn thương xót. Theo đúng sách vở, Đại úy Bowman lăn chiếc trực thăng của mình qua bên phải bởi vì vòm kiếng che phía trước của viên phi cộng phụ được mở ra ở bên trái. Đó là nhiệm vụ của anh ta để bảo đảm Dave Androskaut được thoát khỏi chiếc trực thăng trước.

(Những vị trí điều khiển bay điển hình của trực thăng đại khái gồm
anti-torque pedals (những bàn đạp chống-lại-lực-xoắn) điều khiển mũi
trực thăng qua sức đẩy của cánh quạt nhỏ ở đuôi; cyclic control
(cần điều-khiển-chu-kỳ) điều khiển phương hướng bay; throtle control
(cần điều-khiển-lực-đẩy) điều khiển sức mạnh của động cơ; collective
pith control (cần điều-khiển-sự-lên-xuống-chung) điều khiển những
cánh quạt đồng loạt theo độ nghiêng lên xuống)

Cái nút bật thoát sợi dây an toàn của John Bowman không ở nơi mà nó đáng lý ra ở đó khi anh ta vói tay tìm nó. Trước khi anh ta cho nổ tung vòm kiếng che của riêng mình, anh ta quan sát khi nước biển bên trên khép dần qua lớp kiếng hợp chất của chiếc trực thăng của mình và trong một cách từ từ, nhưng với một ngẫu lực đang gia tăng, bắt đầu chìm vào trong vực thẳm chất lỏng màu đen. Anh vẫn bị kết dính chặc vào cái máy hiện thời vô dụng, không hoạt động. Anh ta lần mò tìm cái nút bật thoát sợi dây an toàn lần thứ hai –biến mất. “Mau lên, Bows, mau lên, Bows…,” anh ta nói lời chửi thề với chính mình và cầu nguyện với Thượng Đế trong giây phút tiếp theo. Lần thứ ba là một bùa phép yêu ma. Sau khi tìm thấy cái nút bật thoát, anh ta nhanh nhẹn mò tìm cái cần bật thoát vòm kiếng, mở khóa nó, hít vào hai hơi thở, và kéo mạnh. Nấp kiếng nổ tung, và những dòng nước đen ngòm của Biển Đông bắt đầu đổ xô vào trong buồng lái. Với nguyên tắc và sự suy tính kỹ lưỡng, anh ta cảm thấy tất cả xung quanh để bảo đảm rằng không có cái gì mà anh ta đang mặc sẽ làm vướng hoặc đang bị móc vào và kéo anh ta xuống đáy biển.
Bất cứ độ sâu nào mà anh ta đang ở đó, nó hoàn toàn tối đen và không có chân trời, không có bong bóng nước, không có gì cả. Đột nhiên kiến thức giáo dục của trường Quân đội Trừ bị Princeton của anh bật lên. Anh ta cảm thấy chiếc Cobra bên dưới đôi chân của mình đang trượt đi. “Cái đó phải là đang chìm xuống,” anh ta đã phỏng đoán đúng và vì vậy anh ta đạp tung với tất cả sức mạnh của mình theo hướng ngược lại. Những kỹ năng chơi lướt sóng trước đó của anh ta từ thời niên thiếu ở Hawaii đang trở lại với anh ta, mặc dù chưa bao giờ có một làn sóng nào vốn đẩy anh ta đến độ sâu nầy. Trong một chớp sáng theo đúng nghĩa, mặt trăng ở bên trên xuất hiện sau khi, cho cái gì dường như là một cõi vĩnh hằng khác, được ẩn kín phía sau những đám mây. Anh ta theo dõi một hình thù mờ bóng của đôi chân đang khuấy nước của viên phi công phụ của mình ở bên trên anh ta. Dave Androskaut, vốn là người lúc ban đầu tin rằng anh chàng phi công của mình đã chìm xuống với chiếc trực thăng chiến đấu Cobra và bị chết đuối, cảm thấy vui vẻ có người bạn đồng hành, xúc động là người bạn của anh ta đã làm được điều đó, và thực sự là làm khá tốt. Một lúc sau đó, khi anh ta tiếp tục khuấy nước, cuốn sổ ghi chú buột trên dùi mà tất cả những phi công đều mang vốn vẫn được dính liền với chân của anh ta, bắt đầu bị lỏng ra và trước khi anh ta nhận ra điều đó, đã nghĩ rằng việc cọ xát kỳ lạ là “cái gì đó” đang chạm phải chống lại anh ta.

(Cuốn sổ ghi chú buột trên đùi (knee-board) mà mỗi phi công đều có)

p543

Những viên phi công TQLC(pc 01) hiện thời không còn chiếc Cobra, khuấy đập nước chỉ trong một ít khoảnh khắc, mặc dù chỉ giống như đang chờ đợi cho những binh lính TQLC ở bãi đáp của Cục Phòng thủ Sát cánh, khoảng thời gian đó dường như dài hơn so với thực tế hiện thời. Con thuyền nhỏ loại săn cá voi, có động cơ của chiến hạm Kirk đã thực sự nằm sẵn trong nước trước khi họ tiến đến, và ngay lập tức thực hiện việc đánh dấu vị trí nơi mà họ nghĩ rằng họ đã quan sát chiếc trực thăng chìm xuống. Trong lúc đó, anh Bowman đã bắn ra một ít trái sáng nhỏ như cây bút chì và hiện thời đang giữ cái đèn nhấp nháy tí hon của mình ra khỏi mặt nước để những người trong chiếc thuyền giải cứu có thể nhìn thấy chúng tốt hơn. Đại úy John Bowman thuộc Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ và Trung úy David Androskaut thuộc Quân đoàn TQLC Trừ bị Hoa Kỳ, trong những khoảnh khắc sau đó, được vớt lên một cách mau lẹ khỏi Biển Đông và quay trở lại chiến hạm USS Kirk nơi mà họ được đón nhận một cách nồng nhiệt bởi vị Thuyền trưởng và một phần lớn đội thủy thủ của nó.
Anh Bowman và anh Androskaut vẫn còn ở qua đêm như là những vị khách của chiến hạm Kirk. Vào buổi sáng, hai người được bay trở về “nhà” đến chiếc hàng không mẫu hạm hạng trung USS Okinawa. Việc chứng tỏ tính chất ưu tú tuyệt vời đích thật và việc giải cứu mà qua đó tất cả những sĩ quan TQLC, đặc biệt là những phi công TQLC, được biết đến, vị chỉ huy phi đội của họ gởi đến chiến hạm Kirk một thùng 19 lít kem dâu cho việc kéo lên hai người lái chiếc Cobra của mình từ phải uống nước biển.*
=============
* Đến lúc đóng lại Hoạt động Gió trường Kỳ, chiến hạm USS Kirk đã trực tiếp thu hồi gần khoảng 200 thường dân Việt Nam. Trước khi từ giả khỏi khu vực bên ngoài bờ biển Việt Nam và trở về vịnh Subic, chiến hạm Kirk và thủy thủ đoàn dũng cảm của nó đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ để có được chiếc 32 tàu của Hải quân Việt Nam Cộng hòa hiện thời là trước đây và khoảng 30.000 người tị nạn trốn chạy an toàn đến vịnh Subic. Những chi tiết về sự nỗ lực nhân đạo khổng lồ nầy được rộng rãi biết đến trong phạm vi cộng đồng người Mỹ gốc Việt Nam biết ơn và xứng đáng là việc báo cáo thêm nữa.
=============

C- Sự chấm dứt Chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam:

Ngày 30 tháng Tư năm 1975

Cuộc di tản của Sài Gòn, vốn đã bị tạm ngưng lại trong khoảng thời gian ngắn với đợt bốc đi cuối cùng của phi vụ được anh Bowman và anh Androskaut hộ tống từ bãi đáp của Cục Phòng thủ Sát cánh gần nửa đêm, đã không lâu được tiếp tục trở lại tại Tòa đại Sứ Hoa Kỳ, kéo dài vào sáng sớm ngày 30 tháng Tư. Vào lúc 0458 giờ vào buổi chiều, chiếc trực thăng hạng nặng CH-46, có dấu hiệu gọi là “Nữ Phi công Xuất sắc Số 9” (“Lady Ace 09,”) với Đại sứ Graham Martin (vốn là người mà chính ông ta đã mất đi một đứa con nuôi trong cuộc chiến đấu ở Việt Nam), một số ít thường dân Mỹ còn lại, và lá cờ vốn đã từng tung bay trên tòa nhà Mỹ có chủ quyền trong khu vực trung tâm Sài Gòn, đã được bốc đi khỏi nơi hạ cánh trực thăng của Tòa đại Sứ.

p544

Trong khi đây là đợt bốc đi kết thúc sau cùng những thường dân, những binh lính TQLC còn lại vốn là những người có mặt ở đó để bảo đảm việc thoát ra an toàn của vị Đại sứ sẽ theo ngay sau đó; cuối cùng đặt lên sự chấm dứt tất cả sự hiện diện chính thức của Mỹ ở Việt Nam.

(Chuyến bay cuối cùng lúc 4: 58 chiều ngày 30/04/1975 của chiếc sâu rợm
CH-16, có dấu hiệu gọi là “Lady Ace 09,” bốc đi Đại sứ Graham Martin
cùng một số nhân viên, binh lính TQLC Mỹ và thường dân Việt Nam)

(Trong số những người Việt Nam tìm cách vào Tòa đại Sứ trong
những ngày sau cùng của Sài Gòn cũng là mối đe dọa đáng kể đối
với những binh lính TQLC Hoa Kỳ đang giữ an ninh vì họ dư biết
rằng trong số đó không ít thành phần Việt Cộng, và đám “Ba Mươi
tháng Tư” trà trộn vào nhằm quấy rối và lợi dụng cơ hội phá hoại)

Chưa đầy một khoảng thời gian 24 tiếng đồng hồ, cuộc di tản bằng trực thăng của TQLC đã bay 682 phi vụ và đưa 1.373 người Mỹ và 5.595 những người không phải là gốc Mỹ ra đến những con tàu đang chờ đợi.2 Trong con số hơn 5.000 người Việt Nam khỏi phải chết hoặc tù tội, những người đó đang trong trạng thái căng thẳng dữ dội nhưng cuối cùng là những giờ phút xứng đáng. Đối với vô số những người Việt mà những tờ vé số của họ đã không trúng được cuộc rút thăm, vốn là những người đã hy vọng được ra đi nhưng bị bỏ lại phía sau hoặc như thế nào đó đã chọn ở lại, sự chấn dứt một ngày của họ sẽ xa khỏi niềm vui.
Lúc khoảng 1200 giờ địa phương vào ngày 30 tháng Tư năm 1975, với Hạm đội 7 bắt đầu thối lui mất hút nơi chân trời phía đông và từ từ chạy về hướng vịnh Subic, Philippines, cuộc Chiến tranh Việt Nam, ít ra là một cuộc chiến đôi khi được mô tả bởi những người Cộng sản như là “cuộc Chiến tranh của Mỹ,” cuối cùng đã đến một kết thúc, tuy nhiên không vẻ vang gì. Đối với gần như mỗi công dân Mỹ, chủ đề về Việt Nam có thể bây giờ được di chuyển từ “những sự kiện hiện tại” đến “lịch sử.” Đối với những công dân của nước Việt Nam Cộng hòa trước đây bị kinh hoàng bởi bom đạn, cơn ác mộng liên tục của họ còn chưa gần đến cực điểm.

D- Triển Vọng :

Sự kết thúc ở Việt Nam, ít nhất là sự chất dứt cuối cùng đối với sự tham gia của Mỹ, vào ngày 30 tháng Tư năm 1975, đã cho những người ở bên ngoài những biên giới của đất nước bị kiểm soát bởi Cộng sản một sự tạm dừng lại cho việc phản ảnh và suy xét nội tâm. Không có một lý điệu nào cho rằng những người Mỹ, sau kinh nghiệm cay đắng của họ trong khu vực Đông Nam Á, đã dần trở nên những người cô lập hơn, cách biệt hơn. Chắc chắn là họ, vẫn đi về phía trước, sẽ rất ít thú vị đến việc trở nên bị lôi cuốn vào những mớ bòng bong rối rắm nước ngoài đòi hỏi máu rơi và sự đầu tư vật liệu một lần nữa vào bất cứ thời gian nào sớm hơn sau nầy.

(Những người dân Mỹ sẽ nghĩ gì khi nhìn thấy một chiến sĩ VNCH cô đơn trên
đỉnh đồi trấn giữ nào đó ở phía đông bắc Kontum, khoảng 435 km về hướng bắc
Sài Gòn trong ngày 25/03/1975. Bên dưới là con đường tiếp tế sống còn của Quân
Bắc Việt và quang cảnh phía sau là một chiến trường đẩm máu kể từ khi có cuộc
ngưng chiến từ năm 1973. Có lẽ trái tim anh ta quá nhỏ so với khoảng cách đại
dương đến nước Mỹ, nhưng lại quá to lớn đối với quê hương và gia đình mình)

Có lẽ, sự quan sát khôn ngoan, sâu sắc nhất của thế giới đang thay đổi đã đến từ cái nhìn nằm ngoài quỹ đạo Mỹ nhưng chắc chắn là một tầm nhìn của những kẻ hưởng lợi có chủ ý và không chủ ý trong cuộc xung đột gần đây.

p545

Lee Kwan Yew (i.e. Lý Quang Diệu), vị Thủ tướng phục vụ lâu dài, sáng lập đầu tiên của một nước Singapore (i.e. Tân Gia Ba) ngày càng thịnh vượng, và trong nhiều giới trong xã hội đã xét lão già khôn ngoan hơn tuổi của vùng châu Á kinh phi-Cộng sản, có ưu thế về kinh tế, đã không lùi bước trước quan điểm của mình:

Chính là những người Mỹ vốn là những người chận đứng những người Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam khỏi lây lan cuộc nổi dậy vào trong Cam-pu-chia và Thái Lan… Bởi vì những người Mỹ là những người kiên quyết chống-Cộng và chuẩn bị đối đầu với họ, ông Nehru, ông Nasser, và ông Sukarno có thể đủ khả năng không bị xếp vào hàng ngũ Cộng sản.3

Cách giải quyết của Mỹ, trong khi nó đã kéo dài, mua thời gian cần thiết để giữ những con bài domino Á châu khỏi rơi vào trong phe phái Cộng sản.
Phương pháp chữa trị vết thương của Mỹ từ Chiến tranh Việt Nam, đặc biệt là đối với những người đã trả những cái giá cao nhất, là một câu hỏi hóc búa. Đối với những chiến binh vốn là những người đã từng chiến thắng mỗi cuộc tham chiến lớn nhỏ, vốn là những người đã từng làm mọi việc được yêu cầu nơi họ, cuộc chiến tranh vẫn bị thua. Không có những sự chào đón trở về quê nhà rình rang, không có những cuộc diễu hành chiến thắng náo nhiệt hoặc những lời khẳng định mạnh mẽ về những hy sinh của họ hoặc những lời cảm ơn, không có sự kết thúc đúng cách giống như điều phù hợp với những cha của họ, những người vốn đã từng thành công đưa thế giới thoát khỏi chủ nghĩa phát-xít và giành được một nền hòa bình tạm thời vào năm 1945.

(Nước Singapore Cộng hòa là một quốc gia hải đảo với diện tích khoảng
720 km vuông nằm ở cuối hướng nam của Malaysia (Mã Lai Á), nhưng
trở thành một Trung tâm Tài chánh đứng hàng thứ tư trên thế giới)

(Bức hình vào năm 1951 của vị Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ,
Jawaharlal Nehru (1889–1964))

(Gamal Abdel Nasser Hussein (1918–1970), vị Tổng thống thứ hai
của Ai Cập, cũng là vị Tổng trưởng của Cộng hòa Liên hiệp Arab)

(Sukarno, tên thật là Kusno Sosrodihardjo (1901–1970),
vị Tổng thống đầu tiên của Indonesia)

(Lee Kuan Yew, tên thật là Harry Lee Kuan Yew (1923–được 90 tuổi
vào năm 2013) là vị “Cha Già” của Singapore, vị Thủ tướng đầu tiên,
lâu dài nhất –trong 50 năm– cũng là người đã đưa đất nước Singapore
Cộng hòa chiếm được một vị trí đáng nể trên thế giới, và chiếm lấy danh
hiệu “Hòn ngọc Viễn Đông” của miền Nam Việt Nam sau ngày 30/04/75)

Có lẽ, như là điều gây bực mình, đặc biệt là đối với những người vốn đã không lùi bước khỏi những nhiệm vụ của mình, đó là đối với những người vốn đã từng tích cực và cố ý tránh né việc phục vụ, hoặc thụ động và cố tình trốn tránh phục vụ, hoặc là bằng cách đi đến Canada, dùng đến các biện pháp để không hợp những tiêu chuẩn về thể lực quân sự của họ, ngồi lại ở trong trường lâu hơn, đã may mắn với những con số cao trong cuộc xổ số nhập ngũ, hoặc những người vốn chỉ đơn giản là cảm thấy không cần phải tình nguyện, không có sự xấu hổ hay tội lỗi hoặc hậu quả gì cả. Thật ra, trong những giới nhất định giống như trong những khuôn viên đại học, nhiều cựu chiến binh trẻ trở lại nhà trường, là những người vốn từng phục vụ, thường được nhìn bằng sự khinh miệt và chế nhạo, trong khi những người vốn đã từng tích cực trốn tránh việc phục vụ, được dành cho sự trọng vọng hơn về đạo đức.
Ý nghĩa phổ biến về bổn phận, được nhận thức gần như là phổ quát ở những người đàn ông và phụ nữ của một thế hệ vốn là những người chiến đấu trong Thế Chiến thứ II, chưa được tiếp tục truyền lại đầy đủ cho những đứa con trai và con gái của họ. Đối với rất nhiều người, ý nghĩa về bổn phận, việc phục vụ cho đất nước, và sự hy sinh đã bị thay thế bởi sự tập trung lớn hơn về sự ham muốn và rất ham muốn sống còn theo bẩm sinh, và sự đeo đuổi niềm lạc thú cá nhân.

p546

<span style=”font-family: Times New Roman; font-size: 18px”đdKhông giống như trong thời kỳ Thế Chiến thứ II, khi mọi người phục vụ, và những người vốn không thể nào có hoặc có thể là không có một lý do nào đáng nói nhưng vẫn mang lấy cảm giác tội lỗi cho việc không ghé vai gánh vác phần chia sẻ của họ cho sức nặng của nền tự do, gánh nặng của sự tiêu hao cho Việt Nam không được mang lấy như nhau. Đối với nhiều người trong số những người vốn đáp lại lời kêu gọi nhập ngũ, đây sẽ là một cuộc chiến tranh rất khó khăn hơn so với cuộc chiến mà những người cha của họ đã từng chiến đấu để từ đó một lần nữa dựng dậy cuộc sống.
Trong một cuộc đàm thoại ở Hà Nội vào cuối tháng Tư năm 1975, giữa một vị Đại tá của Quân Bắc Việt và Đại tá Harry G. Summers, Jr., thuộc Quân đội Hoa Kỳ vốn là người có mặt ở đó như là một phần của đoàn đàm phán Mỹ, điều mà ngay từ đầu đã là hiển nhiên đối với những người Cộng sản quỷ quyết, được tạo ra một cách thẳng thừng đến thế đối với một vị sĩ quan Mỹ nghĩ thẳng.
Ông Summers: “Anh bạn có biết rằng anh bạn không bao giờ đánh bại được chúng tôi trên chiến trường.”
Vị Đại tá của Quân Bắc Việt: “Điều đó có thể là thế, nhưng đó cũng là điều không liên quan đến vấn đề đang xét.”4

E- Thiên đàng Xã hội Chủ nghĩa:

Sự đau đớn và choáng váng của cuộc bại trận nhục nhã có lẽ được phai mờ đi và tắt ngắm tạm thời bởi sự cực kỳ quái lạ của Sài Gòn đang cố gắng tiếp thu và thích ứng đối với những kẻ xâm lược bắc phương của nó. Đối với một mức độ rất lớn bộ đội, những cán binh Bắc Việt vốn là những người thuộc đội tiên phong của cuộc xâm lược, cũng có thể đã đến từ một hành tinh khác. Rất khác biệt, rất quê mùa, vô văn hóa, và bị tuyên truyền triệt để là những đặc tính của người miền bắc cảm thấy sự kỳ lạ, lạc lỏng, không thích hợp nầy của họ, mà qua đó họ cũng phải ở trong một trạng thái bối rối, một sự bối rối không lớn như được cảm nhận bởi những người mà họ vừa mới chinh phục, nhưng không thiếu to lớn.
Hàng ngũ của những kẻ xâm lược được tạo nên gồm ba nhóm cán binh cơ bản. Nhóm đầu tiên là những cựu chiến binh phục vụ lâu dài và tận lực trong chiến đấu, là những người sống sót qua rất nhiều trận chiến và sự tàn bạo, quen thuộc với những điều kiện khó khăn và cách sống cực kỳ khắc khổ.
=============
* Harry Summers sẽ tiếp tục làm nổi bật chính mình như là một trong những nhà trí thức hàng đầu của Quân đội. Tác phẩm sắc sảo, rất sắc nét của anh ta là “Trên mặt Chiến lược –Một sự Phân tích rất Quan trọng về cuộc Chiến tranh Việt Nam” (“On Strategy –A Critical Analysis of the Vietnam War”) và vẫn được yêu cầu đọc đối với những sĩ quan quân sự Hoa Kỳ của mọi ngành.
=============

p547

Những người còn lại hoặc là những người quá trẻ hoặc là quá già, như có rất nhiều tuổi quân dịch mà những thanh thiếu niên được sử dụng, được dùng đến theo như những chỉ thị của Bộ Chính trị. Trong bất kỳ trường hợp nào, tất cả ba nhóm đều hoàn toàn không được chuẩn bị và hoàn toàn xa lạ với của cải vật chất mà những người anh em họ phía Nam “sai lầm” của họ đã từng tích lũy từ đó đến nay khi họ đã hy sinh bản thân mình để giải phóng những người anh em họ đó khỏi những nanh vuốt và những điều ác của sự giàu sang lan tràn, tương đối nầy mà qua đó không có cái gì trong giáo lý mà họ đã được tạo nên để tin tưởng trong những năm qua, đã từng đề cập đến.
Nếu tình hình trên vùng đất ở Việt Nam hiện thời đã không phải là quá ảm đạm và tuyệt vọng, những trò hề của những miền Bắc nầy đã có thể trở thành chủ đề cho loại hài kịch quái lạ, ma quỷ nhất. Những câu chuyện về sự ham mê của bộ đội đối với hệ thống ống nước trong nhà, những bồn cầu vệ sinh tuôn nước, đại để là thế, được chuyền tai nhau. Vì vậy, cũng như niềm tin rõ ràng của họ rằng những cánh quạt trần là những cái máy thay thế khác của bọn tư bản được sử dụng để chặt đầu người.

(Nấm mộ “liệt sĩ” của cán binh Cộng sản miền Bắc nhập ngũ lúc 9
tuổi và hy sinh lúc 12 tuổi, là một trong những bằng chứng khác về
những thanh thiếu niên bị bắt cầm súng vào “giải phóng” miền Nam)

(Và những đứa trẻ miền Nam nầy cũng được Cộng sản tuyên truyền,
đe dọa phải cầm súng, cũng là một hình thức nhằm đổ lỗi cho chính
phủ miền Nam Việt Nam áp bức qua thủ đoạn xảo quyệt của Cộng sản)

Quan điểm rằng ngay cả những người nghèo ở miền Nam làm chủ những cái máy phát thanh bán dẫn, những cái đồng hồ đeo tay vốn thực sự vẫn còn dùng được, và những thứ khác vốn làm lóa mắt những bộ đội, đã thất bại không phù hợp đi đôi với sự xứng đáng trong gần ba thập kỷ của sự tuyên truyền không ngờ vực mà họ đã bị nhồi nhét. Làm thế nào tất cả những người miền nam bị áp bức nầy, những nạn nhân của ông Thiệu và đế quốc Hoa Kỳ xảo quyệt, những người rất là anh em và họ hàng mà họ vừa mới đổ máu rất nhiều để “giải phóng” và định hướng lại, có thể có dồi dào những thứ mà chỉ những đảng viên cao cấp ở Hà Nội có thể có –hoặc chỉ là có thể ?
Sẽ có rất ít chuyện để cười về tất cả những gì sẽ theo sau. Kỳ dị và lỗi thời trong sự xuất hiện như đợt sóng đầu tiên của những cán binh sửng sốt của Hồ Chí Minh cảm thấy, quyền lực được vận dụng bởi cán bộ cao cấp vốn là người theo sau dấu vết chặc chẽ, sẽ là một cái gì đó vốn sẽ quét sạch những nụ cười từ những khuôn mặt ngay cả của những người miền Nam có lòng nhất, ủng hộ tích cực nhất.
Không chuyên nghiệp và phi lý như những chủ nhân mới có thể được trông thấy như thế, và hoàn toàn vô nghĩa như một bài văn tầm thường mà họ phun ra một cách hùng hồn, có thể đã cảm thấy được đối với những người biết suy luận, cấp tiến, một nỗi đau đớn được gây ra bởi trật tự mới thật sâu rộng; và có lẽ được suy nghĩ ra một cách tỉ mỉ và cho lên kế hoạch.

(Đời sống “tem phiếu” của hệ thống Cộng sản qua nền kinh tế quá tệ hại
khiến những bộ đội từ miền Bắc vào “giải phóng,” phải kinh hoàng đến
khó tưởng trước mức sinh sống quá cáo của một người thường dân miền
Nam ngang hàng với một đảng viên cao cấp của họ)

(Sau khi chiếm lấy miền Nam Việt Nam, Cộng sản miền Bắc áp dụng
ngay chính sách “tem phiếu” để triệt hạ nền kinh tế miền Nam xuống
ngang tầm mức sinh hoạt rất thấp ở miền Bắc)

p548

F- Sự khởi đầu cho việc “Cải tạo”:

Việc thể hiện bản chất xảo quyệt sắc sảo và tính hèn hạ cực kỳ, những người Cộng sản thực hiện quá trình “cải tạo” với sự tàn bạo đích thực và càng gia tăng. Được biết đến ở phương Tây bằng uyển ngữ rất phóng thoáng của nó, “cải tạo” hoặc “cải cách tư tưởng,” “cải tạo tư tưởng” theo chữ Việt, thì không có gì khác hơn là sự trả thù có tổ chức trên một quy mô lớn. Không lãng phí thời gian sau chiến thắng của họ, họ có được quyền kiểm soát nhanh chóng tất cả những hình thức của phương tiện truyền thông. Vào ngày 3 tháng Năm năm 1975, máy phát thanh tuyên bố rằng quá trình cải tạo được chuẩn bị để bắt đầu. Đợt đầu tiên tham dự sẽ là những loại quân sự xếp hạng thấp hơn: những sĩ quan mới, những hạ sĩ quan, và các quan chức chính phủ cấp nhỏ. Bởi vì họ không phải là những người quan trọng trong cuộc đối kháng chống lại những người Cộng Sản, giai đoạn cải tạo của họ được đặt ra kéo dài trong 3 ngày. Tiến trình thực sự của những người nầy, với việc trở lại cuộc sống dân sự rất phổ biến của họ một khi việc cải tạo đã kết thúc, đã cho thấy một mức độ nhỏ của lòng thành tốt về phần của những người Cộng sản.5 Thêm nhiều sĩ quan cao cấp sẽ là đợt kế tiếp ra đi, và vì những tội ác của họ được phán xét bởi những người mới có thẩm quyền như là có một chút hơi quá, giai đoạn cải tạo của họ được định là ba mươi ngày. Sự kiện thực tế mà qua đó nhóm đầu tiên đã được thả ra như được hứa hẹn, đã tước đi khí giới những người hoài nghi. “Ba mươi ngày. Điều đó có thể là tồi tệ đến như thế nào ?” Khi anh Bình và những người khác được triệu tập, họ được cho biết là mang theo thức ăn đủ cho 30 ngày. Anh Bình cũng được bảo mang theo quần áo ấm. “Quần áo ấm ? Điều gì sắp xảy ra đây, hoặc chỉ là một phần kế hoạch của Cộng sản để đánh lừa chúng ta ?” Bất cứ ai trong số những người vốn đã ở lại, có sự lựa chọn nào khác nữa ? Những người cộng sản có súng. Việc chống lại hơn nữa sẽ chỉ mang lại nhiều đau đớn hơn cho những gia đình của họ.
Sự dối trá quy mô thật sự có hiệu nghiệm, dĩ nhiên. Luôn luôn là những bậc thầy dối trá vĩ đại, một khi đám Cộng Sản thực sự muốn –những sĩ quan trung cấp và cao cấp– đã gần như vui lòng bước vào trong cạm bẫy, giống như con chiên đến lò sát sinh, không cách nào trốn thoát. Thảm kịch vốn sẽ rơi trên gia đình của Lê Bá Bình, được lặp đi nhiều hàng trăm ngàn lần. Nỗi đau đớn đến như thế nào đó mà anh ta và cô Cẩm và bé Ngọc sẽ phải chịu đựng, mà qua đó giống y nhau đối với hàng trăm ngàn gia đình Việt Nam khác bị mắc bẫy và buộc phải sống dưới một hệ thống trả thù của cải tạo đi quá xa, vượt xa hơn cái kinh nghiệm hiện thời đã chấm dứt của người Mỹ ở Việt Nam.

(Những người lính VNCH bắt buộc phải buông súng sau khi lệnh
đầu hàng của Dương Văn Minh vang lên nhiều lần trên làn sóng)

(Cuộc cải tạo đợt đầu gồm những người giữ chức vụ nhỏ, không
quan trọng, chỉ trong 3 ngày nhằm tạo niềm tin cho những người
kế tiếp với chức vụ cao hơn tự bước vào một kế hoạch trả thù trên
quy mô lớn của Cộng sản miền Bắc)

(Và kết quả hiện thực là một trong những khu được gọi là “cải tạo” của Cộng
sản Bắc Việt không hơn kém là những là trại tù nhằm hành hạ, trả thù lại những
sĩ quan hoặc nhân viên cao cấp của VNCH nhằm triệt hạ đi nhiều thế hệ bị
xem là có mầm mống đối kháng đáng sợ đối với những người Cộng sản)

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 02_ KLVN : Không lực Việt Nam.

Advertisements

One thought on “Phần 38: Sự sụp Đổ của Saigon

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s