Phần 37: Hoạt động Frequent Wind (Gió trường Kỳ)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p517

Phần 37: Hoạt động Frequent Wind (Gió trường Kỳ)

Một cây đinh khác trên quan tài của nước Việt Nam Cộng hòa (VNCH) đang vật dã được đóng thêm vào ngày 8 tháng Tám năm 1974, với sự từ chức của Richard Nixon bị thương tích khủng khiếp về chính trị. Trong khi Tổng thống Ford ngay lập tức ra hiệu cho Tổng Thống Thiệu lo lắng hợp lý rằng không có gì thay đổi, những người quan sát sắc sảo ở Hà Nội biết rõ hơn. Thật ra, không có gì thực sự đã thay đổi. Trong hơn một năm, những người Cộng Sản đã được thường xuyên vi phạm hiệp định Paris và ông Nixon đã không làm gì cả. Có phải chăng một sự thay thế thậm chí còn yếu đuối hơn ông Nixon sẽ là bất kỳ điều khác biệt nào ? Những chuẩn bị cho một cuộc tấn công mới, lớn hơn đang tiến hành nhưng các thành viên thận trọng nhất của Bộ Chính trị muốn bảo đảm hơn rằng những người Mỹ sẽ không trở lại với những chiếc máy bay dội bom B-52 của họ.
Tình trạng bất ổn chính thức ở Hoa Kỳ tiếp tục vào trong cuối năm. Trong Chỉ số Nghèo khổ của ông Okun cho năm 1974 sẽ công bố con số ghi nhận là 16.6 (con số thất nghiệp là 5.6% cộng với con số lạm phát ở mức 11%). Trong năm Mức trung Bình giá Cổ phiếu về Kỹ nghệ chịu mất thêm 23.1%. Những người Mỹ đang cảm xúc bất cứ chuyện gì ngoài việc từ thiện đối với người đồng minh Việt Nam của họ.
Với cái gì đó sẽ biến chuyển ra là cuộc tấn công cuối cùng đang được tiến hành tốt đẹp vào cuối năm 1974, với tinh thần chiến đấu của Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) cho thấy một ít dấu hiệu hy vọng hay khả năng phục hồi, và với cái nút chận vật liệu Mỹ hầu như đóng kín lại, những người miền Bắc Việt Nam muốn thêm một dấu hiệu rằng Hoa Kỳ sẽ bỏ lại bạn đồng minh của mình cho cơn xoáy trong gió. Cuộc công kích dốc hết toàn bộ vào tháng Giêng năm 1975 chống lại tỉnh Phước Long, vào khoảng 120 km về phía bắc Sài Gòn, mà không có bất kỳ ám chỉ phản ứng của Mỹ là tín hiệu cuối cùng đối với ngay cả sự cảnh giác nhất, những thành viên bảo thủ của bộ chính trị cảm thấy rằng hiện thời hoàn toàn an toàn đẩy mạnh về phía trước cho một chiến thắng hoàn toàn.

p518

A- Sự chấm dứt của VNCH:

Sự kết thúc đến khá nhanh chóng, ít ra bởi những dấu hiệu cho thấy ở bên ngoài. Sau đó, một lần nữa, cho thấy một sự tuyệt vọng lan tràn rõ ràng đối với những người ngoài, VNCH(pc 01) mất một thời gian dài để chết. Trở lại trong Thành trì nước Mỹ, sự quan tâm về Việt Nam đã tiếp tục rút dần như thủy triều xuống. Như điều đó luôn luôn gần như không thể nào đối với những người dân bình thường xúc tiến hành động tàn ác của việc gây ra sự khốn khổ được thực hiện vượt xa bên ngoài kinh nghiệm hoặc cuộc sống của họ, những câu chuyện về hàng chục ngàn người, chẳng bao lâu là hàng trăm ngàn và sau đó hàng triệu người phải di tản trốn chạy trước khi là sóng Cộng sản tiến tới có nghĩa là còn rất ít. Chúng chỉ đơn giản là thêm những câu chuyện trong tin tức mà đối với hầu hết mọi người không có nghĩa gì cả. Những người Mỹ cảm thấy bị yếu đuối về tình cảm bởi kinh nghiệm Việt Nam; ngay cả mặc dù đối với hầu hết mọi người, điều đó là một kinh nghiệm thay thế. Mà qua đó những người Cộng Sản vẫn tiếp tục thường xuyên nhắm mục tiêu vào những người vô tội trong bước tiến của họ đến quyền lực, là cái gì mà một số ít người hiện thời quan tâm đến. Đối với hầu hết những người Mỹ, chính là lúc di chuyển tiếp, chuyển hướng dòng chảy, đóng lại cuốn sách riêng biệt nầy. Những người Việt Nam, mà cuộc chiến tranh đối với họ đã là bất cứ cái gì ngoại trừ cái thay thế cho nó, tương tự như thể là một cuộc chiến tranh mệt mỏi và chắc chắn nóng lòng cho nền hòa bình, nhưng đối với những người vốn bị mắc kẹt trong cơn ác mộng mà những người Mỹ chẳng bao lâu sắp sửa thoát ra, điều đó sẽ là một nền hòa bình không có quyền tự do. Nó sẽ là một nền hòa bình với sự trừng phạt. Một nền hòa bình với sự trả hận. Một nền hòa bình với sự nô dịch hóa. Một nền hòa bình với sự đói kém. Một nền hòa bình với nỗi đau đớn tối đa.
Đối với những thành viên Bộ Chính trị sắc sảo về chính trị và thận trọng-đối-với-phản-ứng-của-Mỹ, sự thành công qua nỗ lực của họ ở tỉnh Phước Long là nguyên nhân cho cuộc liên hoan. Từ các tỉnh cực bắc của tỉnh Quảng Trị và Thừa Tiên thẳng một mạch xuống đến Sài Gòn, dồn hết tốc độ về phía trước. Ban lãnh đạo VNCH thất bại một cách thảm hại với bất kỳ loại kế hoạch phòng thủ chiến lược nào, mặc dù Thủy quân Lục chiến (TQLC) và những đơn vị nào đó của QĐVNCH(pc 02) đã chiến đấu một cách kiên trì và dũng cảm khi họ thường bị vượt hơn về số đông và luôn luôn bị thua kém về súng ống. Tổng thống Thiệu ngoan cố bám lấy khái niệm không nhượng bộ kẻ thù một lãnh thổ nào, và hy vọng một cách bi thảm rằng những người Mỹ bằng cách nào đó vẫn có thể vuợt qua. Nơi mà mà đáng lý ra có cơ hội gây ra tiêu hao tối đa trên Quân Bắc Việt đang tiến bước, đã có một kế hoạch phòng thủ vững chắc hơn được bổ sung, những lực lượng VNCH thay vào đó được sử dụng với hiệu quả chiến lược tối thiểu. Quân Bắc Việt vẫn tiếp tục cuốn phăng về hướng Sài Gòn.

p519

Với sự bại trận một điều gần như chắc chắn, nỗi tuyệt vọng đã thắng thế. Khi Tết âm lịch đến và đi, trong tất cả ngoại trừ các đơn vị quân đội giỏi nhất, tinh thần chiến đấu đã bị sụp đổ và các đơn vị quân đội tan ra trở thành vô giá trị; những binh sĩ hiện thời tập trung vào sống còn của họ và của gia đình họ. Chỉ là vấn đề thời gian. Sự kết thúc trở thành một kết quả tự hoàn thành.
Cùng với cái chết còn đang treo lơ lửng của VNCH(pc 01) là những vấn đề xã hội: sự dời chỗ khổng lồ của dân cư, sự sợ hãi, sự giận dữ, sự xấu hổ, sự kinh sợ, sự hỗn loạn về tài chính, sự tích trữ, sự siêu lạm phát, những nỗ lực rời khỏi, để che đậy quá khứ của một người hoặc ít ra là cách chuẩn bị tốt nhất đối với những “ông sếp mới,” và hàng triệu những thứ khác, không thứ nào trong số đó là tốt đẹp.

(Bức hình chụp được vào ngày 12/05/1975 tại cửa biển Thuận An, Huế,
với những vật liệu quân dụng của Mỹ bị phá hủy mà tờ Báo chí Liên hợp
(AP) cho là bởi lực lượng Quân Bắc Việt sau khi thành phố bị chiếm lấy.
Tuy nhiên, người ta có thể hiểu rằng chính những lực lượng VNCH phá
hủy trước khi rút đi về hướng nam)

(Dòng người và xe bỏ chạy từ Huế vào nam với hy vọng được
bảo vệ sự sống còn của họ khỏ làn sóng đỏ đang hung hăng xăm lược)

B- Anh Bình với Tiểu đoàn 6:

Có ít thời gian cho sự chuyển đổi từ cái gì mà anh Bình đã trải nghiệm, sự tương đối yên tĩnh ở căn cứ Sóng Thần, ngược trở lại đến sự hoàn toàn dữ dội của cuộc chiến đấu tất cả đỗ vào, dồn ra hết sức ở những tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, và Quảng Nam trong Quân khu I. Những binh lính TQLC(pc 03) của anh Bình đã chiến đấu như anh ta mong đợi, qua việc nhượng lại vùng đất với một cái giá cao đối với kẻ thù vượt trội về số lượng và vật chất, và lần nầy không có một phúc lợi nào của tiếng súng Hải quân hoặc hỗ trợ của Không quân Mỹ. Khiến cho cuộc chiến thậm chí hỗn loạn hơn là những mệnh lệnh thay đổi, mâu thuẫn, và trái ngược được ban ra từ Sài Gòn bởi Tổng thống Thiệu và những cố vấn gần gũi nhất của ông ta. Như là một phần của Lữ đoàn 369, tiểu đoàn của anh Bình chiến đấu mở đường trở lại bờ biển, sau Năm Mới, để bảo vệ Đà Nẵng mà qua đó được nghe nói là có trên 1 triệu người tị nạn tuyệt vọng đang trốn chạy khỏi cuộc xâm lăng của Cộng sản.
Sau hai tuần ở Đà Nẵng, và nhìn nhận rằng tình hình trên phía bắc bị thua, những binh lính TQLC được đưa lên tàu và gởi về phía nam đến Cam Ranh. Ngay cả mặc dù sự chấn dứt dường như sắp xảy ra, và những binh lính TQLC đã nhận những thương vong rất lớn, đang bị rút giảm từ 12.000 đến khoảng 4.000 người, kỷ luật trong phạm vi Lữ đoàn TQLC vẫn còn cứng rắn.1 Không một ai đào ngũ. Từ Cam Ranh, những binh lính TQLC di chuyển đến Vũng Tàu nơi mà họ tái tổ chức tất cả các lực lượng còn lại và khởi hành vào giữa tháng Tư đến Biên Hòa. Biên Hòa sẽ là một nơi chống chọi cuối cùng của họ; một Alamo của họ. Jim Bowie và Davy Crockett đã sẽ nhận ra tình hình trên bộ và cảm thấy sắp trở về quê nhà.

(Trận chiến Alamo từ 23/02 đến 06/03/1836 giữa Mỹ và Mexico sau 13
ngày bị bao vây bởi số đông binh lính và súng ống của Mexico trong suốt
cuộc Cách mạng Texas. Sự thất thủ của thành Alamo với toàn bộ 189 chiến
binh Mỹ bị thiệt mạng –chống chọi với 1.800 binh lính Mexico với 600
thương vong– đã trở thành thiên anh hùng ca trong lịch sử Hoa Kỳ)

(James “Jim” Bowie là nhân vật mở đường của Mỹ vào thế kỷ 19, cũng là
một người lính, một tay buôn lậu, một tay mua bán người nô lệ, và là một tay
tích trữ đất đai, đã đóng một vai trò nổi bật trong cuộc Cách mạng Texas, và
trở thành vị anh hùng huyền thoại trong lịch sử Hoa Kỳ)

(David “Davy” Crockett cũng là một vị anh hùng huyền thoại thứ hai
trong Trận chiến Alamo, đã từng là một người lính và chính trị gia.
Trở thành nhân vật tưởng tượng ngoại hạng trong loạt phim truyền
hình “Davy Crockett” vào thập niên 1950s)

p520

Chiến dịch Baby Lift (i.e Chiến dịch Bốc đi Trẻ thơ) là một nỗ lực mà nhiều người Mỹ ở quê nhà vẫn liên hệ đến thậm chí trong sự kết thúc bất hạnh đến gần nầy của cuộc chiến tranh. Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã tạo ra hàng ngàn và hàng hàng ngàn trẻ mồ côi. Nhiều đứa bé trong số đó bị bỏ lại phía sau là sản phẩm của những người cha Mỹ và người mẹ Việt Nam. Chúng sẽ phải đối mặt với sự phân biệt đối xử riêng biệt trong một xã hội vốn không nhất thiết, đặc biệt là tại thời điểm trong thời gian nầy, đánh giá cao sự pha trộn của máu huyết, cũng không là cái gì nhắc nhở mà những người nước ngoài đã đến và để lại dấu ấn của họ.
Vào tháng Ba và đầu tháng Tư năm 1975, có những người Mỹ dũng cảm đó vốn là những người hy vọng có được càng nhiều càng tốt những đứa trẻ mồ côi không người nhận và bất lực ra khỏi Việt Nam; mang chúng đến nước Mỹ nơi mà sẽ không thiếu những gia đình nóng lòng muốn nuôi dưỡng và nhận vào những đứa bé có chủng tộc Việt Nam và hỗn hợp nầy.
Vào ngày 4 tháng Tư, chuyến bay đầu tiên của những trẻ mồ côi sắp sửa đến Hoa Kỳ cùng với một số lượng những tình nguyện viên vốn đã từng làm việc quên mình, không biết mệt mỏi vì lợi ích cho những đứa bé nầy. Chiếc máy bay C-5A Galaxy vốn là con chim tự do của chúng, gặp phải những trục trặc nghiêm trọng ngay vừa khi nó đang cất cánh khỏi phi trường Tân Sơn Nhứt và bị rơi trong những khoảnh khắc sau đó, giết chết hơn 100 trẻ em và những tình nguyện viên. Mặc dù có những người sống sót, bi kịch trong câu chuyện nầy dường như báo hiệu cho những người Mỹ mệt mỏi chiến tranh rằng ngay cả trong việc cố gắng làm điều tốt, rất ít việc về Việt Nam chuyển sang điều tốt đẹp.

(Chiếc máy bay Lockhead C-5A Galaxy đầu tiên đến phi trường Tân Sơn Nhứt
vào ngày 4/04/1975 trong Chiến dịch Baby Lift trong khi chiến trận vẫn đang
sôi động ở những vùng phía bắc xa xôi của miền Nam Việt Nam nhưng ít được
sự quan tâm bởi những người dân Mỹ hơn và những chiến sĩ vô danh VNCH
chấp nhận nằm xuống cho Chiến dịch nầy được suông sẻ ở Sài Gòn. Tuy nhiên,
nó bị tai nạn trong lúc cất cánh rời khỏi phi trường không lâu sau đó)

(Những đứa bé sơ sinh hai dòng máu nầy là những hành khách
đặc biệt nhất trong chuyến bay khác không-tốn-tiền đến Hoa Kỳ)

C- Trận đánh Anh hùng ca tại Xuân Lộc, Tổng thống Thiệu từ Chức :

Trong suốt giai đoạn của ngày 8 đến 21 tháng Tư, Sư đoàn 18 của QĐVNCH, được tăng cường bởi một trung đoàn từ Sư đoàn 5 của QĐVNCH và một lữ đoàn từ Sư đoàn Dù dựng lên một nơi phòng thủ mạnh mẽ, tuyến chiến cuối cùng tại Xuân Lộc. Chỉ hơn 60 km từ trung tâm phố xá Sài Gòn, chính là một thế chống chọi cuối cùng thực sự của QĐVNCH trước khi những kẻ xâm lược có mặt ở những vùng ngoại ô thành phố. Sự kiên trì của những người bảo vệ thuộc QĐVNCH làm ngạc nhiên những người trong giới truyền thông Tây phương. Chỉ mới trước khi và cho đến thời điểm của trận chiến, Tướng Frederick Weyand, hiện đang phục vụ như là Trưởng ban Tham mưu Quân đội và vốn là người đã từng là vị chỉ huy cuối cùng của Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam (và vốn là vị Phó chỉ huy của Bộ Chỉ huy Cố vấn Quân sự cho Việt Nam đã từng cảm ơn Gerry Turley cho việc phục vụ của anh ta trong suốt những ngày điên cuồng nhất của cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh), đã kết thúc một chuyến đi tìm hiểu sự kiện thực tế tại Việt Nam và đã trở lại thủ đô Washington trong những hy vọng về việc thuyết phục các thành viên Quốc hội nhằm bung ra ngân quỹ khẩn cấp để chống đỡ Việt Nam.

p521

Những lời nài xin của ông ta rơi trên những cái tai điếc. Tất cả điều mà những người bảo vệ Xuân Lộc đã mua bằng những hy sinh máu huyết của mình, là thêm thời gian cho nhiều người trong số những đồng hương của mình bắt đầu tổ chức những cuộc ra đi của riêng họ khỏi nước cộng hòa đang dần chết.

(Những tàu chiến của Hải quân Hoa Kỳ kéo nhau ra xa khỏi bở biển Việt
Nam, giải tỏa vịnh Bắc Bộ và rời bỏ tuyến Hải pháo yễm trợ trong Quân
khu I. Thậm chí, họ cũng đã làm ngơ trước cuộc tấn công của Trung cộng
chiếm đánh hải đảo Hoàng Sa của miền Nam Việt Nam vào năm 1974)

Cuộc chiến bại cuối cùng của lực lượng QĐVNCH(pc 02) tại Xuân Lộc, với sự hao tổn to lớn cho Quân Bắc Việt, là hành động cuối cùng trong nhiệm kỳ tại chức của Tổng Thống Thiệu. Sự cay đắng cùng cực với kết quả rõ ràng, bài diễn văn từ chức được phát hình trong ba tiếng đồng hồ vào ngày 21 tháng Tư của ông ta chuyển giao quyền lực cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương. (Trần Văn Hương một vài ngày sau đó sẽ chuyển giao thẩm quyền đó cho Tướng Dương Văn Minh). Trong một bài diễn văn đả kích rất dài, thiếu mạch lạc đó, ông Thiệu dư hơi đỗ lỗi cho Hoa Kỳ. “Hoa Kỳ đã không tôn trọng những lời hứa của mình. Đó là điều vô nhân đạo. Đó không phải là điều đáng tin cậy. Đó là điều vô trách nhiệm.” Ông Thiệu và gia đình mình rời khỏi đất nước ngày hôm sau đến Đài Loan.2
Những binh lính TQLC(pc 03) còn lại của Tiểu đoàn 6 chiến đấu với những người Cộng sản ở bên ngoài gần Biên Hòa, đến phút cuối cay đắng, và đã tiếp tục chiến đấu đến người cuối cùng và viên đạn cuối cùng, cho đến khi họ được mệnh lệnh hạ vũ khí của mình xuống vào khoảng 10:30 sáng vào ngày 30 tháng Tư. Vị chỉ huy lữ đoàn của họ, Đại tá Trí, cuối cùng đã truyền lời rằng hiện thời, điều khôn ngoan nhất đối với người của ông ta là về nhà và chăm sóc gia đình của họ theo cách tốt nhất như họ có thể. Nhiều người trong số những binh lính TQLC muốn tiếp tục chiến đấu, cầu xin với những vị chỉ huy của họ đừng đầu hàng. Có tiếng nghiến răng mạnh mẽ, nhiều hận thù, nhưng, họ có thể làm gì khác, làm gì hơn ? Đó là những mệnh lệnh được ban ra từ ở trên cao. Những binh lính TQLC là những người chuyên nghiệp; vì vậy, họ tuân theo mà không có gì vui hay mừng rỡ. Miễn cưỡng, và bất khả chiến bại, họ buông xuống khí giới mình và cố gắng trở về nhà nơi mà thực sự không còn tồn tại.

(Phó Tổng thống Trần Văn Hương của miền Nam Việt Nam)

(Phiên họp liên kết của Quốc hội miền Nam Việt Nam vào ngày 28/04/75 nhằm
yêu cần vị Tổng thống ba-ngày Trần Văn Hương trao quyền cho Tướng Dương
Văn Minh trong cố gắng đàm phán với lực lượng Cộng sản trong giờ thứ 11)

(Cuộc thương lượng của Tướng Dương Văn Minh hóa ra là đọc vài lời
của lực lượng Cộng sản viết ra nhằm kêu gọi QĐVNCH buông súng)

Để tránh cho cô Cẩm và bé Ngọc sự trả thù có khả năng xảy ra, anh Bình tin rằng điều khôn ngoan là trải qua một ít ngày đầu tiên của “trật tự mới” tại nhà của người dì mình gần Biên Hòa. Anh ta lo lắng rằng những kẻ phản bội mới, những kẻ cộng tác và kẻ hợp tác mới, “những tên Cộng sản 30 tháng Tư,” bất cứ người nào mà chúng sẽ hóa ra là, có thể bằng cách nào đó tìm kiếm ân sủng với những ông chủ mới của họ trong việc tố cáo một quân nhân TQLC cao cấp để bắt giữ.

p522

Khi vào xế trưa vào ngày 30 tháng Tư năm 1975, Quân đoàn TQLC Việt Nam, sau khi gần 21 năm chiến đấu liên tục, không còn tồn tại ngoại trừ trong những trái tim và tâm trí của những người vốn đã từng thuộc về nó. Lịch sử chính thức của những hy sinh cá nhân và tập thể của họ, lòng dũng cảm và trung thành của họ đối với nhau và đất nước mà họ đã từng chảy máu rất nhiều cho nó, sẽ bị xoắn lại, xoá bỏ, và loại bỏ bởi những kẻ xâm lược đầy thù hận. Điều mà ai cũng biết rõ rằng những kẻ chiến thắng có quyền viết lịch sử. Không ai mong đợi lòng khoan dung hay chân thật từ những con Quỷ Đỏ. Mọi người vốn giữ lấy niềm tin đó, chẳng bao lâu sẽ được chứng minh là đúng.

D- Việc rời bỏ Vội vàng –Hoạt động Frequent Wind (Gió trường Kỳ):

Ngày 29 tháng Tư năm 1975

Đối với những binh lính TQLC, từ ngữ “rút lui” là thứ nguyền rủa, hết sức đáng ghét. Nó không phải là một phần của thuật ngữ chính thức của họ. Với lối nói trại phóng thoáng, cách uyển ngữ rất khoáng đạt, việc di tản cuối cùng của những nhân viên Mỹ còn lại và những đồng minh Việt Nam không may của họ khỏi Sài Gòn đã có thể được gọi là một “hoạt động tháo chạy.”
Trong suốt cuộc Chiến tranh Hàn Quốc, Thiếu tướng O.P. Smith, chỉ huy Sư đoàn 1 TQLC –và anh chàng vốn là người sau đó được quan sát thấy là Trung sĩ Gerry Turley trẻ, cứng đầu từng đích nhân dặp tắt cuộc náo loạn với tỷ lệ nhiều hơn hai-đối-bốn một ít và những cuộc đấu tay trần không cần găng của anh ta trong nhà tù quân sự ngoài trời tại Doanh trại Pendleton trước khi nhiệt tình viết vào phía sau tờ đơn của mình cho việc phong cấp sĩ quan trực tiếp (i.e. không cần qua những khóa đào tạo sĩ quan trước)– được nhắc nhở rộng rãi câu nói khi ông ta dẫn dắt những binh lính TQLC(pc 03) của mình ra khỏi Trận chiến Chosin Reservoir (Vùng trữ nước Chosin): “Chúng ta không phải đang rút lui. Chết đi! Chúng ta chỉ đang tấn công theo một hướng khác.” Những binh lính TQLC Mỹ không phải đang rút lui với rất nhiều những cán binh Trung Cộng luôn vây quanh họ. Họ, chỉ giống như vị chỉ huy của họ đã nói, khá đơn giản, đang tấn công theo một hướng khác. Và họ thực hiện… thẳng một mạch ra biển.

(Trận chiến Chosin Reservoir (Vùng trữ nước Chosin) trong mùa
đông từ ngày 27/11 đến 13/12/1950 của cuộc Chiến tranh Triều Tiên
(màu đỏ là những cuộc tấn công của Trung cộng, màu xanh là những
cuộc rút quân của TQLC Hoa Kỳ về hướng nam))

Tại khu vực Đông Nam Á vào cuối tháng Tư năm 1975, Hoa Kỳ không phải đang tấn công theo một hướng khác. Việc tụ tập to lớn sức mạnh vạn năng của Hải quân Mỹ –gần như toàn bộ Hạm đội 7– cùng với những binh lính TQLC trên tàu và rất nhiều con tàu hàng lớn được thuê theo hợp đồng, đã được tập hợp để tiến hành cái gì đó sẽ biến thành một trong những nơi di-tản-tạm-trú nhân đạo lớn nhất từng được thực hiện dưới áp lực trong một thời gian ngắn như thế.

p523

Những nhân viên quân sự Mỹ tham gia vào cái gì đó chính thức được biết đến như là Hoạt động Gió trường Kỳ (OFW = Operation Frequent Wind), cuộc di tản cuối cùng của nước VNCH đang hấp hối, sẽ không rời khỏi vùng hoạt động của họ với sự hài lòng ít nhất là, thêm một lần nữa, phá hủy những số lượng lớn những quân đoàn Bắc Việt hiện thời đang say men chiến thắng. Trong khi các lực lượng Mỹ tham gia vào Hoạt động Gió trường Kỳ tiến hành những nhiệm vụ của mình một cách anh hùng và chuyên nghiệp, những ý nghĩa lớn hơn về quốc gia và quốc tế đối với Hoa Kỳ có bề mặt tích cực còn kém xa hơn. Tính chất ưu việt của Mỹ, riêng biệt là khắp những khu vực Thái Bình Dương to lớn hơn, đã bị che khuất bởi Con gấu Liên Xô, Trung Quốc ra vẻ như có uy thế, và những người đại diện Cộng sản của họ. Ở miền Nam Việt Nam, ánh sáng của tự do chỉ đơn giản là nhưng theo cách tàn nhẫn đang bị dập tắt.

Trên chiến hạm USS Okinawa (số hiệu LPH-3)
Một nơi nào đó ngoài khơi bờ biển Việt Nam gần Vũng Tàu trong Biển Đông
Giữa buổi sáng ngày 29 tháng Tư năm 1975

Đại úy John Webster Bowman, thuộc tốp mới của Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ, Khóa huấn thụ ở trường Quân sự Princeton năm 1966, đã có được một ít giấc ngủ vào buổi chiều tối trước đó, hoặc trong nhiều ngày qua cho vấn đề đó. Anh ta đã không mong đợi, và dù sao đi nữa điều đó thực sự không thành vấn đề. Sự căng thẳng và hồi hộp, trên hết là sự nghiêm trọng vốn sẽ xảy ra trong những giờ sau đó, sẽ bảo đảm trạng thái báo động cao độ của anh ta và rằng máu của anh ta sẽ bơm lên như anh ta lái chiếc trực thăng chiến đấu Sea Cobra (Rắn hổ Mang Biển) AH-1J của mình qua những vùng trời bên trên Sài Gòn cung cấp việc hộ tống bằng trực thăng tấn công cho những chiếc trực thăng vận chuyển binh lính TQLC đang chở một nguồn cung cấp vô tận là những người Mỹ và Việt Nam đến những con tàu của Hạm đội 7 đang chạy những vòng tròn cách khoảng 32 km bên ngoài vùng biển.
Rất giống như gia đình George Philip, gia tộc Bowman cũng thuộc đại loại quý tộc nào đó. Họ không phải là quý tộc trong ý nghĩa nhiều của cải vật chất nhưng trong sự dầy đặt thế hệ của những người đàn ông vốn đã từng phục vụ quốc gia theo tính chất chuyên nghiệp về võ bị không theo một tỷ lệ nào.

p524

Trong các thế hệ đương thời nhất, người cha của mẹ anh ta, Smith Hempstone, là vị Đại úy Hải quân với một sự nghiệp xuất sắc mà qua đó bao gồm việc phục vụ trong Thế Chiến thứ I, ở quần đảo Haiti, và với việc tuần tra con sông Dương Tử truyền thuyết ở Trung Hoa trong suốt những năm trước Thế Chiến thứ II.
Người anh của mẹ anh ta, Smith Hempstone, Jr., đã từng phục vụ như là vị Trung úy pháo binh TQLC trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Khi rời Quân Đoàn, Bác Smith trở thành một nhà báo xuất sắc với nhiều tờ báo bao gồm tờ “Chicago Daily News” (“Chicago Tin tức hàng ngày”). (ông Hempstone, một chuyên gia được chú ý về các vấn đề châu Phi, cũng đã từng là tác giả của nhiều cuốn sách, và đã được trao một Học bổng Neiman Thanh thế tại Đại học Harvard). Người cha của anh Bowman, John W., Senior, thuộc Khóa 1943 của Học viện Hải quân Hoa Kỳ. Khóa 1943 ở trường Quân sự Hải quân Annapolis, do nhu cầu cấp bách của chiến tranh, đã tốt nghiệp trước một năm. Ông cha John W., khi chính thức vào ngạch như là một quân nhân TQLC, đã trở thành vị sĩ quan viễn thông và đến khu vực Thái Bình Dương đúng lúc để nhìn thấy cuộc chiến đấu trên Roi Namur, Tinian, Saipan, và Iwo Jima. Đại tá Bowman nghỉ hưu khỏi nhiệm vụ hoạt động theo ơn huệ, như đứa trai của ông ta thường nói đùa, để tránh cho Quân Đoàn sự thách thức về việc đối phó với hai người trong số họ, cùng ngày ông con Bowman được gắn lên những vạch vàng của mình.
Từ trường Quân sự Princeton và sau đó Trường Cơ bản ở thị trấn Quantico, Thiếu úy Bowman được giao cho trường dạy bay tại thị trấn Pensacola, tiểu bang Florida, nơi mà anh ta có được huy hiệu đôi cánh phi công Hải quân của mình như là một phi công trực thăng. Do khóa học dài và tính chất tự nhiên của trường dạy bay, và được phong chức trong khi còn là một sinh viên ở đó, Trung úy John Bowman đến đất nước hết tháng nầy đến tháng khác sau khi những người bạn trong lớp học Trường Cơ bản của anh ta vốn đã trở thành những sĩ quan bộ binh, đã có thừa cơ hội để chết cho đất nước của họ. Nhiều người trong số họ đã mất, đặc biệt là kể từ khi hầu hết họ đã đến đó đúng lúc để tham gia vào trận chiến của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968. Những phi công mới được huấn luyện từ lớp học riêng biệt của anh Bowman tại Trường Cơ bản bắt đầu đến khu vực Đông Nam Á vào cuối năm 1968.

(Huy hiệu Trường Cơ bản của Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ)

Được giao như là một phi công trực thăng Seahorse (Ngựa biển) UH-34d với những “Thiên thần Xấu xí” của trực thăng hạng nặng HMM-362, đời sống đi bay của anh John tập trung trên việc vận chuyển những binh lính vào và ra khỏi những bãi đáp cả lúc sôi động nóng bỏng và yên lặng lạnh lùng, những sứ mệnh tải thương khẩn cấp, việc xông vào và rút ra những đội trinh sát, và chuyến bay đôi lúc đến nhiều nơi. Trong thời gian của nó, chiếc UH-34 là một chiếc trực thăng làm công việc con ngựa. Hiện thời, nó đang bị chiếm chỗ phần lớn và được thay thế bởi, chiếc trực thăng Sea Knight (Hiệp sĩ Biển cả) CH-46 mới, có nhiều khả năng hơn. Chiếc trực thăng Seahorse xưa cũ có khả năng mang theo đến năm người lính bộ binh được trang bị đầy đủ, tùy thuộc vào thời tiết và những điều kiện khí quyển. (Mật độ không khí gây tác động đến khả năng cất cánh lên.) Chiếc trực thăng to lớn CH-46 có thể mang nhiều hơn gắp ba lần trọng tải.

p525

Trên chiến hạm USS Kirk (số hiệu DE-1087)
Sáng sớm ngày 29 tháng Tư 1975

Vị Sĩ quan chưa Chính thức Khóa hai Jim Bongaard đã gia nhập Hải quân hai năm bên ngoài trường trung học vào năm 1971. Giống như rất nhiều thanh niên của nhóm tuổi mình, anh chàng ta đã gia nhập Hải quân chứ không phải là được nhập ngũ vào Quân đội. Được biết đến như tên là “Bon” đối với những người bạn thủy thủ của mình, anh chàng Jim đã tốt nghiệp trung học ở tiểu bang Florida và đi học hai năm tại trường cao đẳng cấp thấp ở quận Broward. Anh ta bắt buộc phải rời khỏi nhà trường sớm hơn vào năm 1971 khi Tổng thống Nixon chấm dứt những việc hoãn quân dịch ở đại học. Và giống như nhiều người trong số những thanh niên trong nhóm tuổi đó vốn là những người phục vụ trong vùng Đông Nam Á sau khi những cuộc rút quân to lớn của Mỹ đã diễn ra, họ sẽ cảm tạ được miễn khỏi cường độ của cuộc chiến đấu được trải nghiệm qua bởi những người bạn đó vốn là những người đã đi trước họ nhiều năm.
Sau trại huấn luyện quân sự ở thị trấn Orlando, tiểu bang Florida, anh chàng Jim đi học thêm để trở thành cái gì được gọi là “Chuyên gia Hoạt động.” Trên chiến hạm Kirk, nơi làm nhiệm vụ của anh chàng Bon giữ anh ta trong Trung tâm Thông tin Chiến đấu (Combat Information Center); được gọi là “CIC” cho ngắn. Mọi người đề cập đến CIC là “Chiến đấu.” “Chiến đấu” là trung tâm thần kinh cho tất cả những hoạt động tấn công và phòng thủ. Nơi bên trong của CIC luôn được giữ tối để cho nhóm các Chuyên gia Hoạt động vốn là những người cần giám sát những màn hình khác nhau về trên không và ra-đa trên mặt biển, sẽ cần có tính chất sắc bén tối đa về thị lực. Anh chàng Bon trải qua hầu hết thời gian của mình trong Trung tâm “Chiến đấu” theo dõi những màn hình nầy.
Đối với những người quen thuộc với những tài liệu xưa về “Cuộc chiến thắng trên biển” (“Victory at sea”) hoặc những cuốn phim chiến tranh về các hoạt động của Hải quân, những hành động trong Trung tâm CIC của chiến hạm Kirk sẽ có vẻ quen thuộc. Một khoảng không gian tương đối lớn được nhét đầy với những người đàn ông và vật dụng điện tử. Có những người, giống như anh chàng Bon, vốn liên tục theo dõi những màn hình ra-đa, và những anh chàng chưa có nhiều kinh hơn hơn vốn là những người đứng phía sau những màn hình thông tin bằng kiếng hợp chất đang truyền đi và tiếp nhận thông tin qua những dụng cụ nghe được đeo trên đầu có sức khuếch tán âm thanh mà họ được yêu cầu theo dõi, và với những cây viết chì mỡ viết chữ ngược lên trên những tấm kiếng có ô vuông trong suốt vì thế những người ra quyết định trên phần phía bên trong những màn hình bằng ống phóng có thể được cho biết một cách đúng đắn về tình hình trên không và biển mỗi lúc đang phát triển, và luôn luôn thay đổi.

p526

Và có những âm thanh liên tục của các thông điệp được truyền đi và nhận lại, của những mệnh lệnh được ban ra và thừa nhận. Trên chiến hạm Kirk, và hầu hết các con tàu trong hàng ngũ, Trung tâm “Chiến đấu” luôn luôn là nơi thú vị nhất là thế.

(Một hình ảnh trong Trung tâm Thông tin Chiến đấu trên tàu)

Chiến hạm USS Kirk đã bước vào phục vụ với đội tàu vào năm 1972 và anh chàng Bon là một trong những thành viên thuộc đội ban đầu của con tàu. Những thành viên của đội đầu tiên của con tàu được gọi là “những chủ ván tàu” (“plank owners”). Vào tháng Tư năm 1975, khoảng một nửa đội của chiến hạm Kirk vẫn là “những chủ ván tàu.”
Chiến hạm USS Kirk đã được đóng tại Xưỡng tàu Avondale ở tiểu bang Louisiana và được neo ở bến cảng nhà ở thành phố San Diego. Vai trò chính của con tàu như là một chiến sĩ trên mặt biển là sự bảo vệ cho hạm đội; được hiểu như là bảo vệ những chiếc hàng không mẫu hạm khỏi các mối đe dọa trên mặt biển và dưới mặt biển, chủ yếu là dưới mặt biển. Con tàu những khả năng chống máy bay bị hạn chế mà qua đó, trong trường hợp có những chiến sự, đã có thể được cung cấp bởi các loại tàu khác được sử dụng trong sự kết hợp hành động chung.
Đến năm 1973, Hải quân Mỹ đã quay trở lại mô hình trước khi có Chiến tranh Việt Nam về những cách dàn quân trương-cờ-phía-trước trong vùng phía tây Thái Bình Dương. Chiến hạm Kirk, giống như các tàu khác trong hàng ngũ, là một công cụ của chính sách đối ngoại của Mỹ; ở ngoài đó gần nhất với bất cứ nơi nào mà nhu cầu có thể nâng cao để bảo đảm hòa bình hoặc có mặt sẵn sàng cho chiến tranh.
Chuyến hành trình đầu tiên về phía tây Thái Bình Dương của hiến hạm Kirk, (Khu vực của sự quan tâm và việc tạo ảnh hưởng đối với “Vùng biển phía Tây Thái Bình Dương” (“Westpac”) bao phủ Ấn Độ Dương, và vùng phía bắc Thái Bình Dương vốn bao gồm Hàn Quốc, Nhật Bản và những khu vực tiếp giáp với Liên bang Sô-Viết, xuống phía nam thẳng một mạch qua Trung Quốc, Đài Loan, các Philippines, Việt Nam, và một điểm thắt lại rất quan trọng tại Eo biển Malacca.) luôn luôn được đề cập đến như là “Westpac” bởi các thủy thủ, những binh lính TQLC và những gia đình của họ, cho thấy con tàu rời khỏi San Diego ngay trước khi ngày Giáng sinh năm 1973. Từ thành phố San Diego, con tàu theo hướng đến cảng Trân Châu và sau đó ra ngoài đến khu vực Westpac. Trong suốt sáu tháng khai triển, ngoại trừ được thông tin vào qua những tin gởi của Hải quân, có một ít đến số không có mối quan tâm nào đối với các sự kiện ở Việt Nam. Chiến hạm Kirk ra đi là một phần của lực lượng đặc nhiệm cho hàng không mẩu hạm ra ngoài đến Ấn Độ Dương như là một việc cho thấy sự hỗ trợ dành cho Shah (i.e. theo tiếng Iran là Vua) xấu số của Iran. Họ làm những cú gọi thường xuyên vào bến cảng yên ổn ở Hồng Kông và những nơi khác. Đội của con tàu, đặc biệt là những người vốn chưa bao giờ thực hiện chuyến hành trình vào khu vực Westpac, bị choáng và kích thích quá mức bởi cách sinh hoạt hoàn toàn náo nhiệt và thiếu trật tự, dâm dục, trong vịnh Subic và những ngôi làng hiện đại Sodom và Gomorrah của Olongapo bên ngoài cổng chính của vịnh Subic. Chuyến du hành Westpac đầu tiên của họ, được kết thúc vào tháng Năm năm 1974, là một cuộc khai triển thành công, bình thường về cơ bản.

(Vị trí thành phố Olongapo trong quần đảo Philippines, nơi có vịnh Subic
nổi tiếng tiện dụng cho vấn đề quân sự, cũng là một nơi lý tưởng cho những
thủy thủ Mỹ thụ hưởng những giây phút ăn chơi mà qua đó gây tác động
trong việc nâng cao kinh tế vùng vịnh, như bất cứ nơi nào mà Mỹ có mặt)

p527

Trong chuyến hành trình Westpac thứ hai, chiến hạm Kirk được lèo lái bởi Thuyền trưởng chỉ huy Paul Jacobs. Ở số tuổi chín chắn 38, ông ta theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng là một “Lão Già.” Ngay cả những vị sĩ quan chỉ huy thâm niên, chưa vào ngạch, già nua nhất, sắc sảo nhất trông trẻ hơn ông ta. Vị thuyền trưởng luôn luôn cảm thấy hết sức ngạc nhiên, và một chút sợ hãi, về quyền lực và những trách nhiệm mà những vị chỉ huy và những đội thủy thủ trẻ của họ thường xuyên được giao cho. Trước khi bắt đầu cho tàu ra từ thành phố San Diego, ông ta đã kiểm tra tất cả các hồ sơ và số tuổi trung bình cho một đội khoảng 250 người của mình, những sĩ quan và những vị trưởng nhóm được bao gồm, thì chưa đầy 20 tuổi. Ông ta là “Lão Già” không sai; và đây là quyền chỉ huy lần thứ ba của ông ta.
Chiến hạm USS Kirk rời khỏi thành phố San Diego cho chuyến hành trình Westpac lần thứ hai vào cuối tháng Ba năm 1975. Các nhà hoạch định quân sự cao cấp của Mỹ đã xem xét từ lâu, ngay cả trước khi sự mất đi Việt Nam cho những người Cộng Sản là một điều chắc chắn, nhu cầu cho những kế hoạch di tản bất ngờ khỏi khu vực Đông Nam Á. Khi chiến hạm Kirk đi về hướng tây, nó được lệnh cặp sát với chiếc hàng không mẫu hạm USS Hancock (số hiệu CVA-19) và hộ tống chiếc hàng không mẫu hạm đáng tự hào tuy lão hóa hướng về Vùng biển Phía tây Thái Bình Dương (Westpac). Đối với những sĩ quan và thủy thủ đoàn của chiến hạm Kirk, việc vượt biển được thực hiện hào hứng hơn khi nhịp độ hoạt động tăng lên và các hành động như là những việc bổ sung thêm đang diễn ra đã được tiến hành ở những tốc độ cao hơn. Hancock, chiếc hàng không mẫu hạm thuộc lớp Essex xưa cũ từ những ngày vinh quang của Thế Chiến thứ II, đã từng đỗ ra những cách bay của nó và chất đầy một khối lượng gồm những chiếc trực thăng loại bốc hàng hạng nặng và trung bình của TQLC được sử dụng cho việc di tản còn đang chờ lệnh bốc đi những nhân viên Mỹ và những người khác từ và Cam-pu-chia và Việt Nam, nếu nhu cầu phát sinh.

(Hàng không mẩu hạm USS Hancock (CVA-19) đang trong vịnh Subic của
Philippines thuộc khu vực “WestPac” cùng những chiến hạm khác, như là
một cuộc di tản được tính toán trước đó khá lâu, ngay cả trước khi mất đi
miền Nam Việt Nam cho Cộng sản)

G- Hoạt động Eagle Pull (Cú Gắp Diều hâui) –cuộc triệt thối khỏi Cam-pu-chia :

Đến tháng Ba năm 1975, làn sóng Cộng sản xuất hiện như những bánh xe dẫm nát bất cứ ai trong cuộc rước Thánh lễ của Hồi giáo không thể ngăn cản, ít nhất là trong khu vực Đông Nam Á. Trong khi một số ít người Mỹ thực sự hiểu được bản chất của tình hình ở Việt Nam, trong những phần về sự độc ác cực độ, nước Cam-pu-chia thậm chí phí lý hơn. Một quốc gia cở kích thước tiểu bang Ohio có một thực tế không may là nằm tiếp giáp với Việt Nam và Lào. Nó có tầm quan trọng chiến lược đối với Việt Nam như Đường mòn Hồ Chí Minh đi theo hướng của nó qua những phần đất phía đông của đất nước nơi mà những cán binh Bắc Việt thường xuyên chiếm lấy làm nơi bất khả xâm phạm.

p528

Cuộc nổi dậy của Khmer Đỏ không biết thương xót, mà sự tàn nhẫn hoàn chỉnh của họ sẽ sớm được làm sáng tỏ, vượt xa hơn sự hiểu biết của những người Mỹ vốn là những người chỉ đơn giản muốn ra khỏi cơn ác mộng vốn là toàn bộ kinh nghiệm về Việt Nam.
Sự sụp đổ cuối cùng của Cam-pu-chia cho các lực lượng Cộng sản và cuộc di tản các nhân viên Mỹ, cùng với những người bạn đồng minh nào đó có thể thoát ra với họ, đã diễn ra vào giữa tháng Tư. Được biết đến như là Hoạt động Eagle Pull (Cú gắp Diều hâu), cuộc di tản ở thủ đô Phnom Penh bằng trực thăng xảy ra vào ngày 12 tháng Tư năm 1975. Những chiếc trực thăng của TQLC Hoa Kỳ và Không quân bốc ra khỏi chưa đầy 300 người Mỹ, Cam-pu-chia, và những người ngoại quốc khác đến một nhóm nhỏ gồm những chiếc tàu ngoài bờ biển trong Vịnh Thái Lan. Trong tầm thước và phạm vi, cuộc triệt thối khỏi thủ đô Phnom Penh thì khá đơn giản nhiều hơn so với cái gì chẳng bao lâu sẽ theo sau, nhưng là một cuộc tập huấn tốt cho những những lực lượng được tham gia đó.
John Bowman đã kết thúc chuyến quân vụ Việt Nam đầu tiên của mình vào tháng Mười Một năm 1969. Anh ta đã sống sót qua nhiều sứ mệnh ở những nơi mà một số lượng bạn bè thân yêu nhất của anh ta đã không thể. Lúc ở Việt Nam, những nhiệm vụ của anh ta nhiều hơn là theo sát với các hoạt động khá bình thường mà tất cả các sĩ quan TQLC được giao nhiệm vụ khi họ tiến triển theo trong sự nghiệp của họ và không phải ra chiến đấu một nơi nào đó.
Trong mùa xuân năm 1974, với việc trở lại công việc thường xuyên khai triển ở hải đảo Okinawa của Quân đoàn, anh ta được gởi đến vùng “Hòn Đá” cho chuyến quân vụ một năm; lần nầy là việc lái chiếc trực thăng tấn công Sea Cobra AH-1J mới.
Đại úy Bowman trải qua khoảng một tháng trên đảo Okinawa, Nhật, dần dà có bản lãnh xa hơn như là một người lái chiếc Cobra. Sau đó anh ta được bổ nhiệm cho một phi đội và đóng ở biển trên chiếc hàng không mẫu hạm loại trung USS New Orleans (số hiệu LPH-11). Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ, từ năm 1775, đã từng là một “lực lượng sẵn sàng” của Mỹ. Trong việc gìn giữ truyền thống đó, Quân đoàn hoàn toàn nghiêm túc nhận lấy nhu cầu đáp ứng cho một loạt rộng lớn của những việc cần đến về quân sự trong những tình huống bất thường nhất. Giống như những người anh em của họ trên bộ gần bên, những binh lính TQLC(pc 03) trong những cánh bay tổ chức những phi đội của họ cho những nhiệm vụ cụ thể. Trong những trường hợp bình thường, chẳng hạn như trong suốt quá trình những khai triển căn cứ, một phi đội sẽ được tạo nên bởi một loại máy bay duy nhất. Phi đội của anh John đi ra biển vào mùa xuân năm 1974, Đội Trực thăng Hạng nặng của TQLC HMH-462, thường được hoàn toàn tạo nên gồm những chiếc trực thăng bốc hàng nặng CH-53 (chữ “H” đầu tiên của chữ HMH thay thế cho chữ “Helicopter” (“trực thăng”), chữ “M” thay thế cho chữ “Marine,” (“TQLC”), và chữ “H” thứ hai thay thế cho chữ “Heavy” (“nặng”).)

p529

Khi họ đi ra biển với sứ mệnh của việc hỗ trợ TQLC trên bộ, phi đội được biết đến như là một “phi đội hỗn hợp” và “có tổ chức cho công việc”; (“có tổ chức cho công việc” có nghĩa là một đơn vị đã được tổ chức cho một sứ mệnh cụ thể hoặc một sự phân công nhiệm vụ) với một sự pha trộn không hạn chế của máy bay vận chuyển binh lính –những chiếc trực thăng hạng nặng CH-53 và những chiếc trực thăng sâu rợm khổng lồ CH-46, nhiều chiếc trực thăng chiến đấu AH-1J cho việc hộ tống và hỗ trợ hỏa lực, và một số ít trực thăng Huey UH-1 để phục vụ như là chiếc máy bay chỉ huy và kiểm soát. Khi những sứ mệnh bị thay đổi hoặc được phát triển, Quân đoàn TQLC thường xuyên sẽ thay đổi lại sự cấu thành của những lực lượng trên bộ và trực thăng đang trôi nổi trên tàu.
Trong suốt chiều hướng của năm tới, anh Bowman sẽ phục vụ trên hàng không mẫu hạm loại trung New Orleans và hàng không mẫu hạm loại trung USS Tripoli (số hiệu LPH-10) trước khi di chuyển đến hải đảo Okinawa, Nhật. Trong cùng giai đoạn đó, anh ta sẽ phục vụ một khoảng thời gian như là một thành viên của Đội Trực thăng Hạng trung của TQLC HMM-164; thông thường là một phi đội trực thăng sâu rợm khổng lồ CH-46. (chữ “M” thứ hai thay thế cho chữ “Medium” (“hạng trung”) như trong chữ “Medium Lift” (“bốc hàng hạng trung”). Đến tháng Tư năm 1975, sau khi đã nới thêm vượt xa hơn ngày xoay vòng luân phiên bình thường của anh ta khi anh ta chắc chắn rằng sẽ có một hoạt động mà anh ta được vinh hạnh tham gia vào đó, một lần nữa anh ta trở lại với Đội Trực thăng Hạng nặng của TQLC HMH-462.

Bên ngoài Toà Đại sứ Hoa Kỳ
Sài Gòn
Thứ Ba ngày 29 tháng Tư, 1975
Xế trưa

Đối với những người Việt Nam xấu số, sắp-mất-quyền-tự-do-của-mình vốn là những người đang tìm kiếm cách trốn thoát, cuộc di tản ở Sài Gòn bằng trực thăng của Mỹ thì giống như một trò chơi giành ghế theo tiếng nhạc quá số đông, độc ác, bằng mạng sống thật với rất ư quá ít chỗ ngồi có sẵn và tiếng nhạc vốn mới vừa sắp sửa bị tắt ngang –vĩnh viễn.

(Chiếc trực thăng duy nhất còn lại trên Tòa Đại sứ Hoa Kỳ trong ngày
cuối 29/04/1975 như một trò chơi giành ghế theo tiếng nhạc quá số đông)

Nếu một người nào đó lưu tâm về lịch sử, cách biểu diễn hoàn toàn không thích hợp, cực kỳ siêu thực và đầy ảo giác trong cuốn phim “White Christmas” (“Mùa Giáng sinh Trắng”) của Bing Crosby trên đài phát thanh Sài Gòn trong suốt buổi sáng muộn ngày thứ Ba 29 tây như là một tín hiệu được-biết-đến-bởi-tất-cả-mọi-người rằng cuộc di tản đã được chuẩn bị để bắt đầu, họ có thể đã nhớ lại cảnh từ cuốn phim “The Longest Day” (“Ngày dài Nhất”) nơi mà các thành viên của lực lượng đối kháng Ngầm dưới Đất của Pháp nhận được những thông điệp qua điện đài vô tuyến được mật mã hóa khó nghe hiểu nhưng rõ ràng cho họ biết về các cuộc đổ bộ vào Ngày-D sắp sửa đến. Sự khác biệt lớn nhất hiện giờ cho bên thua cuộc ở Sài Gòn là sẽ không có niềm vui nào, không có gì là giải phóng; chỉ là sự nô dịch hóa. Đối với những người dân Việt Nam vốn là những người yêu mến quyền tự do của họ, họ phải chuẩn bị để bắt đầu “Ngày dài Nhất” như địa ngục của riêng mình –hoặc theo một cách thích hợp hơn là đêm dài nhất của họ. Những người Cộng sản chinh phục, không đùa cợt sẽ không bao giờ một lần nữa cho phép công chúng chơi bài nhạc “Cờ bay Ta Trên Cổ thành Quảng Trị thân Yêu.”

(Cuốn phim nhạc-kịch “White Christmas” vào năm 1954, với
hai nam tài tử gạo cội là Bing Crosby và Danny Kaye, thời đó)

p530

Hầu hết những binh lính TQLC Hoa Kỳ trong thời gian ngắn đỗ bộ tại các địa điểm bốc đi được ấn định ở Sài Gòn không phải là những cựu chiến binh của cuộc chiến Việt Nam trước đây. Ngay cả nếu họ là, nhiệm vụ trong những ngày cuối cùng của nước cộng hòa đang hấp hối cảm ơn là nằm ngoài bất cứ việc gì mà họ đã từng trải nghiệm. Sự hoảng loạn và tuyệt vọng của những người dân bình thường trầm lặng và trong sự kiểm soát hoàn toàn những cảm xúc của mình, đã tạo một bầu không khí mà mọi người thở, thật kỳ lạ thậm chí người Mỹ trì độn nhất, nếu anh ta không được thông báo và chưa quen thuộc với hành động, vẫn có thể phân biệt được.
Những người tây phương chứng kiến sự vô vọng được bảo đảm khá chắc chắn cho một lối thoát ra ngoài, và có thể cảm ơn là trong khi những người xung quanh họ phải gánh chịu tất cả những căng thẳng của đất nước họ và cuộc sống như họ biết nó trong một nền văn hóa mà họ yêu mến, đang dần chết như một cái chết bi thảm, không vẻ vang. Một sự chấm dứt tồn tại. Địa hình thực thể và cơ sở hạ tầng sẽ vẫn còn. Những ngọn núi và những cánh đồng lúa và những con sông, ngay cả các ngôi mộ của tổ tiên, tất cả chúng vẫn còn đó; nhưng những người Việt Nam mà mọi người biết, chỉ đơn giản là sẽ biến mất; bị ngốn lấy bởi làn sóng độc tài toàn trị không thể thỏa mãn của Cộng sản.
Những người Mỹ, chủ yếu là những thường dân, vốn là những người vẫn ở đó, đang bỏ lại những công việc làm ăn và trong nhiều trường hợp là những người bạn, có lẽ là một vài kỷ niệm yêu dấu nào đó. Những người Việt Nam, những người hy vọng thoát ra được, đang bỏ lại tất cả những gì vốn quen thuộc với họ, trong nhiều trường hợp là tất cả hoặc một phần của những gia đình của họ, và vô số những thế hệ tổ tiên được chôn cất phải bỏ lại phía sau, mọi thứ vốn là thân thương và thiêng liêng, họ đang rời bỏ, trốn thoát để họ không phải sống trong nỗi sợ hãi. Đối với một số người Việt, những người vốn đã từng thoát khỏi miền Bắc vào năm 1954, đây là một cuộc di chuyển lớn thứ hai trong cuộc đời của họ. Những tổ tiên đã qua đời từ lâu của họ có thể không bao giờ hiểu được ý nghĩa của quá nhiều thay đổi chỉ trong một thế hệ.

Chuyến bay nội địa từ hàng không mẫu hạm hạng trung USS Okinawa
1500 giờ –khoảng đó

p531

Mệnh lệnh ban đầu để thực hiện và khởi động cái gì sẽ được biết đến như là Chọn lựa IV của Hoạt động Gió trường Kỳ (Option IV of Operation Frequent Wind) được ban hành lúc khoảng 1100 giờ địa phương vào ngày 29 tháng Tư. Mệnh lệnh để tung ra những binh lính TQLC và những chiếc trực thăng của họ tiến hành theo không bao lâu sau đó. Hàng ngàn và hàng ngàn giờ của con người được đầu tư trong việc hoạch định và phối hợp liên tục cho cái gì đó hiện thời sắp được thực hiện. Kế hoạch thật vô cùng phức tạp, qua việc đòi hỏi nỗ lực tối đa, tính chất chuyên nghiệp, tính linh hoạt, và kỹ năng từ tất cả những người được tham gia. Một chút may mắn cũng sẽ giúp ích được. Chiếc máy bay đầu tiên được gởi trên cao là những chiếc trực thăng hạng nặng CH-53 mang những binh lính TQLC vốn là những người sẽ tạo thành các lực lượng an ninh tại phạm vi quân đồn của Cục Phòng thủ Sát cánh (DAO = Defense Attache Office) tiếp giáp với phi trường Tân Sơn Nhứt, và sau đó tại Đại sứ quán Hoa Kỳ. Những chiếc trực thăng Cobra theo sau. Đại úy John Bowman và viên phi công phụ của anh ta, Trung úy Dave Androskaut không bao lâu sau đó có mặt trên bầu trời, trong dấu vết của những chiếc trực thăng vận chuyển quân lớn hơn nhiều.
Trong chuyến bay phi vụ đầu tiên trong ngày của mình, Đại úy Bowman và chiếc trực thăng “Trợ Cánh” của mình băng qua bờ biển Việt Nam về hướng nam Vũng Tàu. Một vài phút sau đó, ở phía trước mặt họ, bên ngoài trên chân trời phía tây, họ có thể nhìn thấy khói vốn xuất hiện, ở khoảng cách nầy, như là một lớp mây mù dầy đặc duy nhất bên trên thành phố đang hấp hối. Mãi cho đến lúc họ đến gần Sài Gòn mà qua đó họ có thể phân biệt được những cụm riêng lẽ khói đen, có mùi dầu, đang bốc lên từ bất cứ chuyện gì mà nó có thể là Quân Bắc Việt đang tiến công hoặc những đám người miền Nam Việt Nam hiện thời vô chính phủ đã đốt lên.
Trên hết, điều tốt duy nhất về việc bốc cháy là những cán binh thuộc đội phi đạn SA-7 của Quân Bắc Việt, nếu họ có ý bắn vào những binh lính TQLC, sẽ mất một thời gian khó khăn hơn khóa tọa độ nhắm trên máy bay Mỹ; khả năng theo dấu của phi đạn bị che tối bởi sự thiếu vắng một bầu trời trong sáng như là một nền trời chứa mục tiêu. Trong sự hoảng loạn và hỗn độn phía dưới, anh Bowman đã nghe trên làn truyền sóng vô tuyến khác nhau khi một số phi công báo cáo là đã bị bắn bởi những phi đạn Strela đe dọa (i.e. Strela là “mũi tên” theo nghĩa tiếng Nga, một tên gọi khác cho phi đạn SAM). Có lẽ đều đó xảy ra. Có lẽ là không. Đối với nhiều người trong số những phi công trẻ, hôm nay là hành động đầu tiên thực sự, sống động của họ dưới những điều kiện giống như cuộc chiến. Anh Bowman đã không tận mắt chứng kiến việc bắn ra của bất kỳ phi đạn SA-7 nào, nhưng anh ta sẽ chắc chắn rằng, trên chuyến phi vụ tiếp theo của mình vốn băng qua vùng bờ biển phía bắc Vũng Tàu, anh ta và chiếc trực thăng “Trợ Cánh” của mình đã từng bị bắn lên bởi những khẩu súng cao xạ 57 ly không-kém-chết-người mà Quân Bắc Việt rõ ràng đã mang theo với họ khi họ khép chặt vào phần thưởng của họ.

p532

Như là một phi công chiến đấu đang trở lại, Đại úy Bowman không cho phép chính mình quá nhiều thời gian cho sự phản ảnh nỗi buồn thảm hoặc sự xem xét nội tâm. Anh ta có công việc của mình phải làm, phải điều khiển chiếc máy bay của mình. Nhưng giống như nó luôn luôn có vẻ làm điều đó, thời gian có cách làm chậm lại khi mọi việc đang căng thẳng nhất, và hiện thời anh ta suy nghĩ bằng mức độ rõ ràng của một chiến binh.
Vẫn để tâm về hướng đi, tốc độ, độ cao, những mức nhiên liệu của mình, cùng mối đe dọa của đối phương ở một nơi nào đó bên dưới trên mặt đất, và mọi thứ khác, anh ta vẫn có thể ngẫm nghĩ về chiến tranh. Cuộc chiến tranh vốn chưa thực sự kết thúc, thì sắp kết thúc; ít nhất là từ quan điểm của đất nước của riêng anh ta.
Trong những giây phút kỳ lạ đó vốn thực sự chỉ là vài giây hồi tưởng, anh Bowman nhớ lại chuyến quân vụ của mình trước đó; hàng trăm sứ mệnh, những khuôn mặt và những cái tên của các phi công và những người trong nhóm phi hành mà anh ta đã từng bay với họ. Anh ta nghĩ đến những người bạn thân của mình lúc ở Quân đoàn Huấn luyện Sĩ quan Trừ bị (ROTC = The Reserve Officers’ Training Corps) thuộc Học viện Hải quân Princeton. Với sự hiểu biết là anh ta, vào ngày riêng biệt nầy, hiện thời là người duy nhất trong vùng Đông Nam Á. Anh ta nghĩ về người bạn của mình và là người bạn đại học cùng phòng tên Ed Keeble.
Trung úy Edwin A. Keeble thuộc Quân đoàn TQLC Trừ bị Hoa Kỳ, đã bị bắn hạ và thiệt mạng gần biên giới Lào trong suốt Chiến dịch Dewey Canyon (Thung lũng Dewey) vào tháng Hai năm 1969. Chiếc tàu bay Huey có súng của anh ta đã bị bắn trúng bởi hỏa lực của khẩu súng máy đại liên nòng lớn trên một sứ mệnh cứu lấy những binh lính TQLC(pc 03) bị thương nặng.
John Bowman không thể nhớ lại, sẽ không bao giờ có thể nhớ tất cả các thời gian tuyệt vời mà qua đó riêng biệt là nhóm đặc biệt gồm những thanh niên đã từng có mặt với nhau. Đối với một lý do kỳ nào đó, trong khi anh ta tiếp tục bay vào trong nơi nguy hiểm, anh ta nhớ rằng anh ta đã mượn đĩa nhạc “B.M.O.C.” chơi bởi ban nhạc Brothers Four của Ed Keeble (mà qua đó trong hàng chữ “B.M.O.C.” nầy thay thế cho “Best Music on/off Campus” (“Nhạc hay nhất ở trong/ngoài Khuôn viên Đại học”)). Anh ta có thể hình dung ra cái bìa đĩa nhạc ngay bây giờ và mặt sau của nó với chữ “Keeble” được in vào bên trên chữ “B” trong hàng chữ “B.M.O.C.” Đó là một album nóng bỏng vào năm 1960 và vẫn còn phổ biến khi họ đang ở Học viện Hải quân Princeton.
Những lời ca của bài “The Green Leaves of Summer” (“Những chiếc lá Xanh của Mùa hè”), bài nhạc đầu tiên trên Mặt B, có vẻ thích hợp đến kỳ quặc với buổi chiều hôm nay trong những vùng trời ngút khói ở bên trên Sài Gòn, “… một thời để gặt, một thời để gieo, những chiếc lá màu xanh của mùa hè đang gọi tôi về nhà…” (“… a time to be reapin’, a time to be sowin’, the green leaves of summer are callin’ me home…” Nó làm phiền John Bowman rằng dù là thế nào, anh ta đã không trả lại đĩa album nhạc cho người bạn của mình.

(Đĩa nhạc “B.M.O.C.” ăn khách nhất của ban nhạc The Brothers Four
vào năm 1961, với bài nhạc The Green Leaves of Summer
(xin bấm vào để nghe) được ưu chuộng cho đến nay)

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ VNCH : Việt Nam Cộng hòa.
pc 02_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 03_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 04_ Bài nhạc “The Green Leaves of Summer” của ban “The Brothers Four” vào năm 1961

Oooh ooh, oooh ooh…

A time to be reaping, a time to be sowing.
The green leaves of summer are calling me home.
It was good to be young then in the season of plenty.
When the catfish were jumping as high as the sky.


A time just for planting, and a time just for plowing.
A time to be courtin’, courtin’ a girl of your own.
T’was so good to be young then, to be close to the earth.
And to stand by your wife, at the moment of birth.
Oooh Ooh, Oooh Ooh.


T’was so good to be young then, to be close to the earth.
Now the green leaves of summer are calling me home.


T’was so good to be young then, to be close to the earth.
Now the green leaves of summer are calling me home.


Oooh, ooh, Oooh Ooh. Ooh…

One thought on “Phần 37: Hoạt động Frequent Wind (Gió trường Kỳ)

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s