Phần 36: Hoạt động Hồi hương

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p499

Phần 36: Hoạt động Hồi hương

Trong việc chấp nhận “Hiệp định Chấm dứt Chiến tranh và Khôi phục Hòa bình ở Việt Nam,” Hoa Kỳ đồng ý một số lượng những điều kiện. Tất cả ngoại trừ một số ít nhân viên quân sự Mỹ được yêu cầu rời khỏi Việt Nam trong vòng 60 ngày, và những bãi mìn đã kiềm giữ những bến cảng của miền Bắc, phải được dọn sạch ngay lập tức. Những tù binh chiến tranh Mỹ sẽ được trả lại. Về phần đó, tại một điểm nào đó sau nầy, Hoa Kỳ cũng sẽ bắt buộc cung cấp hàng tỷ đô-la trong sự viện trợ tài chính và vật liệu cho việc tái kiến thiết miền Bắc Việt Nam.
Rõ ràng từ Ngày Một là hiệp định hoà bình bị rạn nứt một cách khủng khiếp. Không ai cảm thấy ngạc nhiên bởi những vi phạm điều ước quá mức của những người Cộng sản. Trong khi cuộc chiến đấu thực sự trong phạm vi những vùng nhỏ hẹp của Việt Nam Cộng hòa (VNCH) suy giảm một cách rõ rệt ngay từ đầu, những người Cộng sản dùng đến việc đình chiến để tập trung vào việc xây dựng lại cơ sở hạ tầng hậu cần vốn sẽ hỗ trợ cuộc xâm lược miền Nam tiếp theo của họ. Với mối đe dọa của việc dội bom của Hoa Kỳ trên tất-cả-nhưng-được-loại-trừ, hệ thống Đường mòn Hồ Chí Minh đã được cải thiện đến mức mà nó hầu như trở thành một xa hộ được tráng nhựa. Nơi mà những sản phẩm dầu xăng và dầu lửa trước đây đã từng được vận chuyển không được hiệu quả trong những cái thùng trên những chiếc xe tải hoặc xe đẩy, những người Cộng sản bắt đầu việc xây dựng một đường ống dẫn kéo dài, theo đúng nghĩa đen, đến những vùng ngoại ô Sài Gòn.

(Những cán binh Bắc Cộng theo đường Mòn Hồ Chí Minh xâm lược
miền Nam Việt Nam bằng những tiếp liệu của Liên Xô và Trung Cộng)

(Những con đường mòn nầy càng lúc càng được cải tiến như những xa lộ được
tráng nhựa sau hiệp định đình chiến 1973, nhưng những phe nhóm trong Ủy
ban Quân sự Bốn bên hoặc Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát cứ phớt
lờ, vì thực chất là để kiểm soát và giám sát những hoạt động của QĐVNCH)

Nếu những người Mỹ biết suy nghĩ dừng lại để suy xét là những cuộc đàm phán hòa bình ở Việt Nam được thực hiện một cách hiệu quả bằng việc ít xen vào hoặc tham gia của chính phủ VNCH,(pc 01) họ đáng lý ra thông cảm với những nỗi lo ngại và thất vọng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Thiệu trên cơ bản đã bị bức hiếp trong việc chấp nhận những điều khoản mà những người Mỹ và Cộng sản cuối cùng đã đồng ý.

p500

Những thỏa thuận bao gồm sự cho phép ngấm ngầm những người Cộng sản giữ lại những lực lượng đáng kể trong đất nước VNCH. Nhằm mục đích bảo đảm phước lành hạn chế của ông ta qua hiệp định, Tổng thống Nixon đã đưa ra một lời hứa hẹn cá nhân của mình với Tổng thống Thiệu rằng sức mạnh Không quân của Mỹ sẽ chuyển đến sự phản ứng trả đũa ào ạt đối với bất kỳ những vi phạm điều ước nào của Cộng sản.1 Ông Thiệu không có sự lựa chọn nào có hiệu quả khác hơn là tin vào điều gì sẽ là những bảo đảm thoáng qua của ông Nixon.

(Tổng thống Nixon là một kịch sĩ tài giỏi trên bàn cờ chính trị quốc
tế nhưng đáng tiếc là hiện thực ngoài đời không phải là sân khấu để
diễn xuất, rồi chấm dứt khi hạ màn mà là những cái chết, và máu thật)

Mối quan tâm của công chúng Mỹ trong khu vực Đông Nam Á dịu đi một cách đáng kể khi việc rút đi những binh lính chiến đấu và sự hỗ trợ tiếp tục. Một lãnh vực quan tâm ngày càng tăng, một lãnh vực bao trùm vấn đề đối với một tỷ lệ phần trăm lớn của công dân được thông báo là sự trở lại nhanh chóng của một số lượng lớn những tù binh chiến tranh, hầu hết là những đội phi hành bị bắn rơi trên vùng đất Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) (Bắc Việt), một số họ bị giam giữa ở đó từ năm 1964, tồn tại trong những điều kiện cực kỳ độc ác và man rợ. Cuộc hồi hương khởi đầu của các tù binh chiến tranh Mỹ đầu tiên, bắt đầu vào tháng Hai năm 1973, làm bùng lên một luồng nhiệt tình yêu nước không từng được nhìn thấy trong suốt toàn bộ khoảng thời gian của cuộc chiến tranh. Khi các tù binh chiến tranh trở về nhà, họ được đón nhận một cách nồng nhiệt. Nước Mỹ hiện ra cho họ gần như thể để làm dịu tội lỗi tập thề của nó cho việc đã bỏ qua hàng trăm hàng ngàn chiến binh khác vốn là những người phục vụ và trở về, nhưng không nhận được những cuộc diễn hành náo nhiệt chúc mừng hồi hương. Trong khi cuộc vui chơi là chân thật và chân thành, và những câu chuyện của những tù binh chiến tranh về lòng dũng cảm, sự khốn khổ, và lòng trung thành thì khó khăn cho một công dân bình thường hiểu thấu, có vẻ là, trong số những nhóm nào đó, phần nhiều như một cuộc chúc mừng tình trạng nạn nhân của các tù binh chiến tranh hơn là tính chất anh hùng của họ.

(Sự hân hoan của những tù binh chiến tranh Mỹ khi chiếc máy bay C-141
trong lần đầu tiên cất cánh rời khỏi Hà Nội vào ngày 28/03/1973 theo
hướng về quê nhà. Nhưng cũng là nổi đau ngấm ngầm, cay đắng của
những binh lính VNCH trước quốc nạn mà họ biết chắc sẽ phải đến)

A- Anh Lương được Giải ngũ theo Tình trạng Trị liệu:

Tiến trình mà qua đó cha mẹ và người bạn gái của anh Lương được thông báo về tình trạng bị thương của anh ta và việc đến bệnh viện Lê Hữu Sanh như là một bệnh nhân, không phải là một trường hợp điển hình. Một người bạn thân thời thơ ấu xa xưa từ khu láng giềng của anh ta ở Biên Hòa, bây giờ cũng là một Trung úy TQLC nhưng không phục vụ với Tiểu đoàn 3, tình cờ đã nằm trên giường bên cạnh anh ta cũng đang chữa trị những vết thương chiến đấu. Sau khi đến đó sớm hơn so với anh Lương, anh ấy được thành lập hồ sô và nhận được những chuyến thăm thường xuyên. Khi anh Lương xuất hiện, cha mẹ của người bạn anh ta ngay lập tức chuyển lời trở về gia đình anh Lương, không cần đến nhu cầu cho việc thông báo chính thức.

p501

Giai đoạn phục hồi, từ thời điểm của việc phẩu thuật cắt bỏ chân anh ta, việc trị liệu, và việc làm quen cách sử dụng bộ phận giả mất khoảng tám tháng. Anh Lương được giải ngũ khỏi Quân đoàn Thủy quân Lục chiến (TQLC) Việt Nam vào tháng Giêng năm 1973. Thất vọng như anh ta cảm thấy khi không còn có thể phục vụ, anh Lương cảm tạ là anh vẫn còn cả một người, về thể chất có khả năng gần như mọi thứ ngoại trừ việc dẫn dắt những binh lính TQLC trong trận chiến.
Những phúc lợi dành cho những người tàn tật của một cựu chiến binh thì không đáng kể. Chính phủ VNCH(pc 01) trả cho một cựu Trung úy khoản trợ cấp 105.000 đồng theo quý-3-tháng một lần –vào khoảng 260 đô-la(pc 02) theo tỷ giá hối xuất chính thức hiện hành. Thêm vào đó, bất kỳ đứa trẻ nào mà anh Lương có thể làm cha, sẽ được bảo đảm những chỗ trong các trường học tốt.
May mắn cho anh Lương, nền tảng học vấn của anh ta mạnh mẽ về khoa học và kỹ thuật tạo cho anh ta có khả năng cạnh tranh trong việc săn tìm một công việc. Anh ta có ơn lành gấp đôi là người đàn ông vốn nhận anh ta làm việc như là một nhân viên điều hành hệ thống cho Nhà máy Điện Biên Hòa là một trong những thầy giáo cũ của anh ta vốn là người biết đạo đức làm việc của anh ta và thực sự thích anh ấy. Tiền lương hàng tháng của anh ta tại nhà máy điện gấp đôi tiền trợ cấp của chính phủ, cho phép anh ta sống trong thực chất nho nhỏ của sự tiện nghi. Anh ta và người bạn gái lâu năm của mình, người yêu thời trung học của anh ta, bắt đầu tiến trình di chuyển về phía trước với những kế hoạch kết hôn.

B- Tự lo một Mình: Những lực lượng VNCH trong Thế quân Bình:

Như là một phần nỗ lực của Mỹ để chuẩn bị cho đồng minh Việt Nam của nó tự lo mình, một sự chuyển giao dụng cụ chính yếu và nỗ lực hậu cần đã diễn ra trước ngày ngưng bắn chính thức. Không lực Việt Nam, gần như qua một đêm, trở thành lực lượng Không quân đứng hạng thứ tư lớn nhất trên thế giới. Hàng trăm và hàng trăm máy bay mới chưa sử dụng và được sử dụng qua được đặt ở nơi những hàng tồn kho của nó. Những con số phần trăm lớn nhất là những chiếc trực thăng.
Cái không có trong mớ hỗn hợp máy bay là việc truyền thụ kiến thức hữu dụng nhất. Ngay cả với tất cả dụng cụ mới của nó, những người Việt Nam thiếu sự bảo trì và cơ sở hạ tầng hỗ trợ rất quan trọng để cho các lực lượng của họ một lực đẩy và thực chất mà họ càng lúc đã quen thuộc từ sức mạnh Không quân của Mỹ. Không có những chiếc máy bay dội bom B-52. Không có những chiếc máy bay vừa dội bom vừa chiến đấu đạt hiệu suất cao như F-111, F-4, hoặc F-105. Không có máy bay có hệ thống chống sự đo lường (i.e. của radar) bằng điện tử (ECM = Electronic Counter-Measure) như EB-66 hoặc EA-6.

p502

Quân Bắc Việt không từ bỏ thứ gì và ngày càng được tiếp tế với những thứ mới nhất trong loại vũ khí chống máy bay của Sô-Viết và mang tất cả nó đến bờ tiền phương của bất cứ chiến trường nào họ chọn để chiến đấu. Điều nầy và sự hiện diện ở khắp nơi của những phi đạn SA-7 Strela sẽ trút sự tàn phá cho hả giận vào trực thăng của Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) và sự hỗ trợ chặt chẽ của Không quân.
Câu chuyện về Hải quân Việt Nam thì tương tự chuyện của Không quân Việt Nam. Những binh lính của QĐVNCH đang hoạt động gần bờ biển của đất nước họ đã càng lúc quen thuộc với loạt hỏa lực chính xác, dữ dội được cung cấp bởi những con tàu của Hải quân Mỹ ở ngoài khơi. Đơn giản là không có cách nào Hải quân Việt Nam có thể chuyển đi phẩm lượng của những đợt pháo mà những người Mỹ đã thường xuyên đặt trên mục tiêu.
Nỗ lực tái tiếp tế của Mỹ cũng bị ngăn cấm bởi bản chất công khai của thỏa thuận ngưng bắn. Bất kỳ cố gắng nào thay thế dụng cụ cũng không được cho phép, hoặc nỗ lực nào sử dụng máy bay được lái bởi người Mỹ trong sự hỗ trợ trực tiếp các lực lượng VNCH đã sẽ được tường thuật trên báo chí một cách tài tình. Những người cộng sản không phải chịu cùng một loại kiểm soát kỹ lưỡng nào cả, và khi họ thường xuyên vi phạm hiệp ước hòa bình, không có sự phản đối kịch liệt hay giận dữ trong giới truyền thông cho họ ngưng lại và chừa bỏ.
Việc tháo gở vấn đề VNCH(pc 01) vẫn không là một việc đã xong vào đầu năm 1973. Thật ra, có lý do để tin rằng nền cộng hòa non trẻ chỉ mới có thể làm nên điều đó. Cuộc xâm lăng của Cộng sản vào năm 1972 đã bị đánh trả. Trong khi những người bảo vệ đã nhận lấy những thương vong to lớn, những kẻ xâm lược một lần nữa đã phải trả một cái giá cao hơn nữa. Những điều kiện chính trị ở miền Bắc là như thế đến nổi Tướng Võ Nguyên Giáp, người đứng hạng thứ hai từ trước cho đến nay chỉ trong danh nghĩa giống như thần thánh đối với Hồ Chí Minh, bị ném qua một bên cho việc đứng đầu những mất mát to lớn phải nhận lãnh.
Chỉ giống như John Ripley, George Philip, và Bob Sheridan đã quan sát từ những địa điểm thuận lợi riêng biệt của riêng họ khi họ đã rời khỏi, Trung tá Gerry Turley cảm thấy một cách tương tự vào tháng Hai năm 1973 rằng những người tốt đang chiến thắng. Khi anh ta bước lên chuyến bay Con chim Tự do trước tiên theo hướng đến hải đảo Okinawa, Nhật, trước khi mang anh ta đến tiểu bang California, sự đánh giá của anh ta là những người Việt Nam có một cơ hội tốt, một cơ hội rất tốt, làm nên điều đó –miễn là Hoa Kỳ tiếp tục cung cấp cho họ.

p503

C- Thời gian Còn lại của năm 1973:

Đến mùa xuân năm 1973, sự quan tâm của công chúng Mỹ đến Việt Nam bắt đầu phai mờ đi một cách đáng kể, đặc biệt là sau công cuộc hồi hương của những tù binh chiến tranh của các ông. Sự tập trung của Mỹ vào những trách nhiệm và nghĩa vụ vượt ra ngoài khu vực Đông Nam Á một cách nhanh chóng lấp đầy bất cứ chính sách đối ngoại nào làm mất hiệu lực việc rút quân khỏi Việt Nam tạo ra.
Ở Việt Nam, những hành động vi phạm hiệp ước của Quân Bắc Việt bắt đầu vào ngày đầu tiên của cuộc ngưng bắn chính thức và vẫn tiếp tục –mà không có phản ứng nào của Mỹ. Những người Cộng sản vẫn còn tập trung duy nhất vào sự chiến thắng, nhưng trong hầu hết các lực lượng VNCH của năm 1973 bám giữ vùng đất của riêng họ, tiếp tục giữ lại vùng đất chưa bị tái chiếm từ cuộc xâm lược năm 1972 của đối phương. Đối với những công dân vẫn còn tự do của VNCH, năm 1973 sẽ trở thành một năm khi mà sự tự do đó ngày càng sẽ bị tổn hại thêm bởi các sự kiện bên ngoài đất nước của họ và vượt ra ngoài những khả năng của mình để tạo ảnh hưởng hơn là bởi cách làm việc tốt như thế nào mà những lực lượng của họ thực hiện chống lại kẻ thù của họ trên chiến trường.
Bất cứ những cảm giác tích tụ nào về niềm vui và lòng biết ơn được cảm thấy bởi những người Mỹ từ việc có những tù binh chiến tranh trở về quê nhà và những quân nhân Mỹ còn lại ra khỏi Việt Nam, đến tháng Năm năm 1973, chúng bắt đầu nhanh chóng tiêu tan. Những tiết lộ về vấn đề che đậy Watergate là tin tức trên trang nhất mỗi ngày và sự tập trung của Tổng thống Nixon nhất thiết phải chuyển từ việc cứu lấy thế giới dân chủ sang việc cứu lấy nhiệm kỳ tổng thống của mình. Đồng thời, những đối thủ chống chiến tranh trong Quốc hội tiếp tục chiến đấu chống lại nỗ lực của ông ta hỗ trợ chính phủ của ông Thiệu, vẫn được hiểu rất rộng rãi như là một chính quyền bất hợp pháp, tàn ác, và tham nhũng.
Có hay không một tâm trạng quốc gia trong số một nhóm công dân như là hắc ám và không khoan dung đối với những người miền Nam Việt Nam vẫn-còn-tự-do-bên-ngoài-cái-gông-Cộng-sản như điều đó được phơi bày theo một số phần trăm kha khá của những thành viên của Quốc hội, không thể nào đo lường được. Điều đó thực sự không thành vấn đề. Những người đại diện được chọn lựa của dân khởi đầu vào mùa hè năm 1973 đòi lại đặc quyền nào đó dành cho việc ban phát quyền lực chiến tranh mà nhiều người tin rằng dần dần đã bị chiếm đoạt từ Quốc hội bắt đầu với Tổng thống Franklin Roosevelt. Rằng Richard Nixon không được ưa chuộng lắm với rất nhiều điều không giúp được gì. Có lẽ cú đòn duy nhất, lớn nhất đánh vào những công dân của nước VNCH đang vất vả đấu tranh, gây tác động nhiều hơn những cuộc tấn công của Cộng sản năm vào năm 1968 hoặc 1972, đến với việc thông qua Luật Bổ sung Fulbright-Aiken(pc 03) vào ngày 1 tháng Bảy năm 1973.

p504

Được tiến hành đưa vào hiệu lực vào tháng sau, nhiều hơn bất cứ điều gì khác, nó báo hiệu cho những người Cộng sản Việt Nam tinh ranh về chính trị ở miền Bắc rằng Hoa Kỳ sẽ không bao giờ trở lại khu vực Đông Nam Á như là một đồng minh chiến đấu.

(James William Fulbright, nghị viên của đảng Dân chủ, là nhân vật chủ
chốt đưa ra Luật Bổ sung Fulbright-Aiken vào năm 1973 nhằm cắt giảm
mạnh mẽ mọi viện trợ của Hoa Kỳ cho chính phủ miền Nam Việt Nam)

(George David Aiken, nghị viên thuộc đảng Cộng hòa là nhân vật
thứ hai đứng sau Luật Bổ sung Fulbright-Aiken. Gián tiếp đưa lên
bản ản hành quyết chính quyền miền Nam Việt Nam một cách
không thương xót và gây họa thảm khốc với hàng trăm ngàn cái
chết từ Lào, Cam-pu-chia đến miền Nam Việt Nam sau khi làn
sóng đỏ được Hoa Kỳ mở đập ngăn chận bằng Luật Bổ sung đó)

Một đoạn văn ngắn có hiệu nghiệm vô hiệu hóa tất cả bảo đảm mà Tổng thống Nixon đã công khai và riêng tư đưa ra cho những người Việt Nam rằng nước Mỹ sẽ đứng và đáp trả quân sự trong sự kiện của những vi phạm hiệp ước:

“Bất kể điều khoản nào khác của pháp luật, vào ngày hoặc sau ngày 15 tháng Tám năm 1973, không có ngân quỹ nào trong vấn đề nầy hoặc từ trước đến nay được dành riêng có thể bị cưỡng bức hoặc mở rộng để tài trợ trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động chiến đấu của các lực lượng quân sự Hoa Kỳ trong, hoặc trên, hoặc từ ngoài khơi những bờ biển của miền Bắc Việt Nam, miền Nam Việt Nam, Lào, và Cam Bốt.”2

Trừ khi ông Nixon, hoặc bất cứ vị Tổng thống kế tiếp nào, hiện thời đang vui lòng phá vỡ pháp luật một cách trằng trợn để đưa đến việc viện trợ những người Việt Nam, những người Cộng sản ở miền Bắc trên cơ bản được ban cho vé qua cửa tự do cho một cuộc xâm lược khác. Điều đó thực sự đang xảy ra.
Chính nghĩa Việt Nam ở Mỹ là không có một nguồn gốc hay bất kỳ loại nhóm cử tri hoạt động nào. Những người Việt Nam, ít nhất là những người ở miền Nam, có rất ít bạn bè là người Mỹ với cái tát về chính trị vẫn sẵn sàng bênh vực dùm họ. Khi những sự kiện phát triển ở vùng Trung Đông trong suốt mùa thu năm 1973, việc thiếu sự hỗ trợ được thực hiện thậm chí còn rõ ràng hơn. Những hậu quả không lường trước được về cái gì trở nên được biết đến với thế giới như là cuộc Chiến tranh Yom Kippur (i.e. Chiến tranh Ngày xức Dầu thánh) và những sự tăng giá dầu theo đó được xúi giục bởi Tổ chức của những Quốc gia Xuất cảng Dầu hỏa (OPEC = Organization of the Petroleum Exporting Countries) sẽ cuối cùng đẫn đến việc có một tác động có hại riêng biệt trên nỗ lực giữ lấy tự do của VNCH.

(Chiến tranh Yom Kippur của Do Thái chống lại Ai Cập (hướng tây)
và Syria (hướng đông bắc) cùng binh lính Cuba. Dù lực lượng Do Thái
kém hơn dưới 1/2 cả về nhân lực và chiến cụ, nhưng đạt được chiến
thắng cuối cùng với sự tổn thất ít hơn 7 lần so với địch quân)

Công tác kế tiếp của Trung tá Gerry Turley không mang ý nghĩa nào là gần với sự kích thích như nhiệm vụ mà anh ta vừa đến từ nó. Danh hiệu thì đủ đích thực –“Sĩ quan Hoạch định Kết hợp”– và anh ta làm việc văn phòng tại Trụ sở Quân đoàn TQLC. Cái phần “Kết hợp” trong danh hiệu có nghĩa là Trung tá Turley phải làm việc với bất cứ việc gì mà anh ta được phân công để làm với ba nhân viên quân sự Hoa Kỳ khác khi được điều hành bởi Tham mưu Trưởng Liên quân hoặc Bộ trưởng Quốc phòng. Với việc thối lui khỏi Việt Nam, gần như mọi mọi thứ hướng về phía trước là dành cho các hoạt động huấn luyện và những việc bất ngờ trong trường hợp xung đột trong tương lai. Thứ công việc loại nầy từ tám giờ đến năm giờ hoặc lâu hơn một chút vào một vài ngày trong suốt thời bình.

p505

D- Trong khi đó, Một nơi Khác ở châu Á :

Phần lớn bị cuốn hút bởi bất cứ cái gì mà họ sau đó được tham gia vào một cách trực tiếp, rất nhiều người Mỹ kể từ khi kết thúc Thế Chiến thứ II đã càng lúc quen thuộc nhìn thấy đất nước của họ như là một nước lãnh đạo và là cảnh sát của thế giới tự do. Đối với quá nhiều vấn đề, tầm nhìn duy ngã của họ về thế giới là như thế đến nổi vũ trụ bên ngoài Hoa Kỳ chỉ tồn tại nếu và khi họ xem xét hoặc được trực tiếp tham gia vào nó. Những nguời Mỹ cuối cùng tin rằng, mà không thực sự suy nghĩ về điều đó, tự do tuy là một khái niệm duy nhất của Mỹ, và không phải là sự khao khát tự nhiên của tinh thần con người. Nhiều người xem thế giới như bị phân chia với Mỹ, những đồng minh Tây phương của nó, và Nhật Bản ở một góc chống lại một khối Sô-Viết đang bùng lên, hung hăng, không thể cưỡng lại mà qua đó bao gồm một trục của những nhóm người tụ tập khắp châu Á, châu Phi, trung tâm châu Âu, và mọi nơi khác mà người dân có thể được thuyết phục rằng họ bị áp bức.
Một dòng chữ được cho là của Chủ tịch Mao viết rằng “quyền lực chính trị phát triển ra khỏi nòng súng,” làm chận đứng nhiều người dân khó mà cảm nhận được từ sự hiểu biết về một khái niệm rất rõ ràng là tất cả người dân ở mọi nơi muốn được tự do. Giả như đưa ra sự lựa chọn, họ thích được nhiều về nó hơn là ít; và nếu giả như đưa ra một cơ hội để làm việc cho các phước lành của nó, họ sẽ. Khoảng giai đoạn về việc xem xét cảm tính quá đáng và việc tự-phê phán tập thể được thúc đẩy trên nước Mỹ trong thập niên 1960s bởi rất nhiều trong số những người phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam và vấn đề về “chủ nghĩa đế quốc” Mỹ làm mù quáng những người ở phương Tây đối với những lực tự nhiên của bản chất con người; câu nói “một bàn tay hoặc những bàn tay vô hình của thị trường tự do,” của Adam Smith thực nghiệm ở mọi nơi nhằm phá hoại ngầm những kiềm chế rất không tự nhiên của Chủ nghĩa Cộng sản đối với điều kiện con người. Tất cả điều nầy tự tìm cách xảy ra mà không có sự tham gia bất chính hoặc trợ giúp nào của Trung ương Tình báo Mỹ.

(Adam Smith (5/06/1723–17/07/1790), nhà triết học về đạo đức và
là nhà kinh tế–chính trị học tiên phong, người Anh gốc Tô Cách Lan)

Trong số giới ưu tú Vùng phương Đông, không bao giờ lịch sự khi nhắc đến một việc hiển nhiên và rồi sao đó chỉ ra rằng có một ít, nếu có, những cố gắng ghi nhận được thực hiện bởi những người không phải là điên rồ dám mạo hiểm mạng sống và chân tay để đột nhập vào trong bất kỳ những thiên đường độc tài toàn trị nào. Với hơn năm mươi ngàn thanh niên của nó bị giết chết, hàng chục tỷ đô la thuộc tài sản quốc gia dường như bị lãng phí, cơ cấu của xã hội bị kéo dài ra và trong một vài trường hợp bị rách bươm, quan điểm của Mỹ về chiến tranh thì xa khỏi điều xác thực khi được giới hạn chỉ đối với kinh nghiệm của Mỹ.

p506

Tuy nhiên khắp châu Á, có những điều cho thấy, những ám chỉ, những dấu hiệu nho nhỏ của quyền tự do chớm nở và chủ nghĩa tư bản phôi thai, tuy không hoàn hảo, vốn đang bắt đầu nở rộ. Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á, được biết đến bởi chữ viết tắt ASEAN, bước vào hiện thực vào năm 1967.3 Nguyên thủy bao gồm những nước Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia, và Philippines, ASEAN được trù định là một “hiệp hội của các quốc gia tham gia vào việc xây dựng đất nước.” ASEAN mang ý nghĩa là nhằm thúc đẩy nền hòa bình, sự tăng trưởng về kinh tế, và sự hòa hợp xã hội theo những cách không có sự thống trị của Cộng sản và ảnh hưởng không mong muốn từ bên ngoài bất cứ những biên giới nào của quốc gia thành viên.
Trong thực tế, khắp châu Á, từ Cộng hòa Triều Tiên và Nhật Bản ở phía bắc, tiếp tục về phía nam đến Đài Loan và xuyên qua các quốc gia thuộc ASEAN, chủ nghĩa tư bản đang bám giữ mãnh liệt, thường là trong sự đối mặt chỉ gần đây với những lần đánh bại những lực lượng Cộng sản địa phương, nổi dậy. Những người Mỹ sẽ nhớ lại cuộc chiến đẫm máu cho Hàn Quốc trong khoảng thời gian 1950–1953 cùng với việc trú đóng vĩnh viễn theo sau của các lực lượng ở đó nhằm bảo đảm một nền hòa bình mong manh. Nhật Bản, đến đầu thập niên 1960s, đang thuận lợi trên con đường đi đến sự thịnh vượng. Chỉ những người học rộng nhất sẽ nhớ lại rằng gần đây cũng đã từng có những sự gia tăng đáng kể được thực hiện chống lại những người Cộng sản ở Indonesia, Malaysia và Philippines. Trong khi nỗ lực của Mỹ dường như mang lại hầu hết là một vụ thu hoạch cay đắng ở Việt Nam, khắp mọi vùng, trên những vùng ngoại biên phía đông và phía nam của Liên bang Sô-Viết và Trung Quốc, những người Cộng Sản không có được ảnh hưởng.

E- Chiến tranh Á-Rập–Israel vào năm 1973 và những Thách thức Khác :

Có thể điều thương xót cho Hoa Kỳ là nó không còn bị lôi cuốn về quân sự ở Việt Nam đến tháng Mười năm 1973. Trong khi vẫn phải đáp ứng các cam kết toàn cầu của nó và cung cấp sự ngăn chặn chống lại Liên bang Sô-Viết, quân đội Mỹ đang vất vả đấu tranh với việc tìm ra cách nào tốt nhất để giải quyết những thách thức nội bộ về chủng tộc và ma túy. Về vấn đề trong nước, Tổng thống Nixon, chính quyền của ông ta, và quốc gia đang dần dà hoàn toàn bị héo hon bởi vụ bê bối Watergate. Vào ngày 10 tháng Mười, Phó Tổng thống Spiro Agnew buộc phải từ chức; sau đó được thay thế bởi Gerald Ford.

p507

Khi Hoa Kỳ cố gắng tự thoát khỏi tình trạng sa lầy vốn là sự vướng mắc ở Việt Nam, một sự vướng víu khác được sinh ra với những thù nghịch giữa Israel và toàn bộ thế giới Á Rập. Tình trạng hận thù đang xảy ra giữa Á Rập–Israel, được biết đến với phần hồi bùng nổ năm 1973 của nó như là cuộc Chiến tranh Yom Kippur, không phải là một lặp lại của một chiến thắng mau chóng được hưởng bởi những người dân Israel vào năm 1967. Trong khi kết quả của cuộc chiến tranh sẽ thực sự thúc đẩy vị thế của Mỹ ở Trung Đông đối đầu trực diện với những người Liên Xô, những thu hoạch đó đòi hỏi ở mức giá cao. Sức mạnh mới của Tổ chức của những Quốc gia Dầu hỏa, với sự nắm giữ của nó trên phần chia sẻ công bằng của việc sản xuất dầu hỏa trên thế giới cùng với một sự chán ghét mạnh mẽ đối với nước Israel, được thể hiện bằng cách áp đặt một mức tăng 400 % trong giá vàng đen (i.e. ám chỉ dầu hỏa). Kích thước của mức gia tăng gây ra sự ngạc nhiên làm choáng váng số đông người đối với nền kinh tế thế giới, qua việc tạo ra nạn lạm phát dữ dội và sự suy thoái kinh tế toàn cầu.
Không giống như cuộc Chiến tranh Sáu-Ngày năm 1967 khi lực lượng Israel đánh úp những kẻ thù Á Rập của họ bằng sự bất ngờ, tình thế một phần nào bị đổi ngược vào năm 1973. Những sự thù nghịch bắt đầu vào ngày 6 tháng Mười năm 1973: Ngày xức Dầu thánh, Yom Kippur. Được cho biết rằng Yom Kippur là ngày thiêng liêng nhất theo lịch Do Thái, bằng cách tấn công sau đó, những người Á Rập khiến kẻ thù của họ phần lớn không ngờ. Thương vong ban đầu của lực lượng Israel thì cao với việc gây ra sự mất mát lãnh thổ và dụng cụ. Vào lúc khởi đầu, mọi việc rất hiểm nguy cho dân Israel mà qua đó thậm chí có một ám chỉ rằng họ có thể cần đến việc sử dụng các vũ khí hạt nhân mà họ quyết liệt phủ nhận là có nhưng qua đó mọi người dường như biết rằng họ có.
Sự đáp ứng hậu cần của Hoa Kỳ đối với những tiếng khóc than của dân Israel cho sự trợ giúp, vào lúc đầu khá nhẹ và thờ ơ. Điều đó không lâu sẽ trở thành một dòng chảy, một bộ sưu tập đủ loại quân dụng Mỹ thuộc loại tốt nhất và hàng hóa tái tiếp tế. Như là một phần nỗ lực của Hoa Kỳ để có được cách giải quyết trên tình hình quân sự, vị Bộ trưởng Quốc phòng, vào ngày 12 tháng Mười, cử đi một nhóm tuyển sĩ quan từ bốn binh chủng để đánh giá tốt hơn về chuyện gì đã xảy ra và điều gì có thể được thực hiện để trợ giúp. Từ công tác làm việc văn phòng của mình tại Trụ sở Quân đoàn TQLC,(pc 04) Trung tá Gerry Turley được chọn là một phần của nhóm nhỏ nầy gồm những chuyên gia. Trong số mười lăm sĩ quan tổng cộng –năm người từ Không quân, năm người từ Quân đội và bốn người từ Hải quân –anh Gerry là quân nhân TQLC duy nhất và là một sĩ quan bộ binh duy nhất. Những người khác được gởi đi để giải quyết chủ yếu với những vấn đề hàng không và hậu cần. Anh Turley, với kinh nghiệm gần đây của anh ta đối mặt với thiết giáp địch quân ở vùng phía bắc tỉnh Quảng Trị, có điều kiện nhiều thích hợp để phục vụ trong quyền hạn cho thời gian ngắn hạn mà anh ta được giao nhiệm vụ.

p508

Nơi mà Gerry Turley đã thực sự phát triển một mối quan hệ và tình bạn thẳng thắn với rất nhiều những người bạn đồng minh Việt Nam của mình, anh chàng quân nhân TQLC Mỹ không làm bạn mới với ai trên chuyến đi nầy. Điều quan trọng đối với những người dân Israel là họ đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng tức thời và mối đe dọa tiềm năng của sự hủy diệt. Mối quan tâm của họ là sự sống còn, và mục đích đầu tiên của họ là nhận lấy được phần nhiều nhất từ những nhà hảo tâm Mỹ của họ như có thể. Những người Israel cũng có lòng tự tin trong việc biết rằng đội quân của họ mạnh mẽ và giàu có, và trong việc chính quyền Mỹ sẽ không khi nào làm cho họ thất vọng. Sự khác biệt giữa sự hỗ trợ của Mỹ cho Israel với bề rộng đáng kinh ngạc của những người liên hiệp trong Quốc hội và sự hỗ trợ đó cho Việt Nam, được thực hiện rõ ràng trong vòng vài ngày. Trong một khung thời gian ba tuần, chính quyền Israel được cho 2.1 $ tỷ đô-la trong phần viện trợ trực tiếp về quân sự so với 2.2 $ tỷ đô-la cho Việt Nam trong cả Năm Tài chính 1973. Một tổng số của 40 chiếc phi cơ chiến đấu F-4 Phantom (Bóng ma) mới tinh được chuyển giao cho Không Lực Israel.4 Những chiếc Phantom nầy sẽ bay lên chống lại cùng loại vũ khí chống máy bay tinh xảo của Sô-Viết mà những người lính Việt Nam hàng ngày đang đối mặt hầu hết là bằng máy bay được khởi động bằng cánh quạt và những chiếc trực thăng.
Đội người Mỹ gồm những nhà quan sát và chuyên gia đến Israel vào ngày 12 tháng Mười năm 1973. Những chủ khách thuộc Lực lượng Phòng thủ Israel (IDF = Israel Defense Force) của họ vội vàng và chiếu lệ chở họ đến những chiến trường khác nhau để chứng kiến cảnh tàn sát và sự phá hủy. Nhiều ngày trong cuộc chiến tranh, lực lượng Israel đã thực sự mất đi hàng trăm chiếc xe tăng; một sự kiện thực tế mà họ không vui vẻ để chia sẻ khác hơn là sử dụng những mất mát to lớn của họ như là một lời kêu gọi để có được thêm viện trợ ngay lập tức và đáng kể hơn.
Hầu hết các quan sát viên Mỹ hài lòng ở lại trong xe mình và chỉ lái xe ngang qua bất cứ cái gì có ở đó để nhìn. Gerry Turley thì không. Từng là một vị sĩ quan bộ binh có kinh nghiệm, anh ta khiến cho người lái xe và người chủ khách ngừng lại ở chỗ nầy đến chỗ khác để cho anh ta có thể đi bộ trên mặt đất nhằm mục đích có được một cảm giác tốt hơn về cái gì đã diễn ra. Được trang bị với cả máy chụp hình và máy quay phim, Trung tá Turley chụp hết cuộn phim nầy đến cuộn phim khác, băng phim nầy đến băng phim khác đến độ làm buồn nản đau khổ cho mọi nhân viên cận vệ chuyên biệt, có ý thức về an ninh thuộc Lực lượng Phòng thủ Israel.

p509

Những người chủ khách của anh Gerry không tế nhị trong việc giấu kín sự không hài lòng của họ đối với những câu hỏi thăm dò và việc chụp hình liên tục của anh chàng TQLC Mỹ. Họ cảm thấy không có nghĩa vụ hợp tác với tính kỹ lưởng dò hỏi của anh ta. Nhiều lần họ đã hỏi anh ta, thực sự yêu cầu, rằng anh ta chấm dứt những nỗ lực như quay phim điện ảnh của anh ta; khuyên anh ta giao cuốn phim cho họ. Anh Turley không dễ bị đe dọa, và chỉ như là thẳng thắn nói với họ nơi nào đặt nó vào. Lực lượng Phòng thủ Israel không nằm trong chuỗi chỉ huy của anh ta, và vì thế anh ta tiếp tục ép mạnh. Những người chủ khách của anh ta trở nên khó chịu hơn, nóng nảy hơn. Anh Turley vẫn không bị đe dọa. Sự căng thẳng có thể cảm nhận được. Anh ta không quan tâm, và tiếp tục làm điều gì mà anh ta đã được phân công bởi Bộ trưởng Quốc phòng.
Chính là giờ ăn trưa vào ngày thứ ba của cuộc hành trình của anh Gerry Turley với những người hướng dẫn của anh ta thuộc Lực lượng Phòng thủ Israel. Họ vừa mới dừng lại ở cuối phía bắc của Kênh đào Suez gần biển Địa Trung Hải. Khi mọi người đang xếp hàng để đi qua hàng thức ăn, một trong những sĩ quan Israel mời anh chàng TQLC Mỹ đi trước. “Ở đây nè, Trung tá Turley, chỗ nầy là dành cho anh bạn…” Anh Gerry đã không chú ý lắm. Thường thường, những sĩ quan thuộc Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ ăn sau những binh lính của họ. Người chủ khách cố nài nỉ. Anh Turley nhượng bộ, suy nghĩ “khi ở La Mã…” (i.e. đây là câu châm ngôn, mà nguyên câu là “Khi ở La Mã, nên làm như những người La Mã làm” (“When in Romes, do as the Romans do.”))
Bữa ăn là một loại bánh mì kẹp gà tây nào đó. Anh Turley đã từng ăn thức ăn quân đội trong gần 1/4 thế kỷ. Anh ta chắc chắn đã ăn những bữa tồi tệ hơn, và không biết trước điều đó sẽ đến. Anh ta đáng lý ra biết được, hoặc anh ta cũng sẽ suy nghĩ, qua việc quở trách thậm tệ chính mình chưa đầy một giờ sau đó khi mà bất cứ cái gì nằm trong lát bánh mì kẹp thịt đó khiến cho anh ta tăng gấp đôi lên trong sự đau đớn. Giữa những đợt tiêu chảy và ói mửa thay phiên nhau, anh Turley trở thành một thương binh không còn khả năng làm việc quan sát mà anh ta cần quan sát.
Không hoàn toàn 100% chắc chắn là những người lính Israel đã không muốn giết chết anh ta hơn là làm cho anh ta bệnh nặng, anh Gerry không còn có giá trị hơn nữa trên chiến trường. Anh ta được đưa trở về khách sạn của mình trong suốt khoảng thời gian còn lại ở Israel để cho anh ta có thể nôn mửa và chuyển bụng đi cầu ở nơi riêng tư của căn phòng mình. Ghi được một điểm cho Lực lượng Phòng thủ Israel.
Gerry Turley sẽ cất tiếng cười vang cuối cùng. Trong ba ngày tới, trong suốt những khoảnh khắc tỉnh táo của mình giữa lúc ngồi trên bồn cầu hoặc nghiêng mình trên đó trong phòng khách sạn của mình, anh ta viết ra những ghi nhận tỉ mỉ về tất cả điều mà anh ta đã quan sát; một cái gì đó mà anh sẽ không bao giờ có thời gian hoặc nơi riêng tư để làm nếu anh ta vẫn còn ở trong chiến trường. Để bảo đảm rằng những ghi chú đó và những cuộn phim chưa rửa ra được an toàn trở lại Hoa Kỳ

p510

–anh ta nghĩ ra rằng những người bạn thuộc Lực lượng Phòng thủ Israel của anh ta sẽ bằng cách nào đó khám xét đồ đạt cá nhân của anh ta hoặc tịch thu chúng lúc khởi hành– anh ta đưa chúng cho một liên lạc đáng tin cậy tại Đại sứ quán Mỹ với những lời hướng dẫn rất đơn giản: “Hãy chuyển những cái nầy đến vị Tổng tư lệnh Quân đoàn TQLC.”
Khi anh Turley trở về thủ đô Washington, anh ta là một món hàng nóng. Người đàn ông vốn đã đến gần việc buộc phải hy sinh cho hành vi được hiểu như là một sự điên rồ nơi đường biên giới ở tỉnh Quảng Trị, hiện thời đang báo cáo cho Tham mưu Trưởng liên Quân, Bộ trưởng Quốc phòng, Bộ trưởng Ngoại giao và Phó Tổng thống Ford. Khi anh Gerry báo cáo cho Henry Kissinger, Bộ trưởng Ngoại giao, vốn là người không biết anh Turley là ai cả, lần đầu tiên nhìn vào những tấm hình mà anh ta đã chụp và hỏi anh ta là ai và anh ta làm gì. Sau khi anh Gerry giải thích, ông Kissinger đã cho anh ta một lời khen được giảm nhẹ. “Trung tá Turley, những tấm hình nầy rất tốt, tôi nghĩ có lẽ bạn là một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp.”
Đối với một mức độ mà qua đó thực sự có một sự kinh hãi vô định hình, rộng lớn đang quét qua nước Mỹ với sự biến động xã hội liên tục từ giữa thập niên 1960s, cùng với sự phỉ báng toàn diện về truyền thống và sự tôn trọng chính quyền, mối bất hòa về kinh tế có thể được đo lường một cách thực tiển hơn. Arthur Okun, một vị cố vấn về kinh tế cho Tổng thống Johnson đã phát triển một cái gì đó mà ông ta gọi là “Chỉ số Nghèo khổ của Hoa Kỳ.” Chỉ số của ông Okun chỉ đơn giản là con số tổng cộng của tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp.5 Trong lịch năm 1973, Chỉ số Nghèo khổ cho con số ghi nhận cao nhất kể của nó từ năm 1951 là 11.02. Cái gì mà con số đó tiêu biểu, thêm vào việc làm sáng tỏ vai trò Tổng thống của ông Nixon, và sự kiện thực tế là Mức trung Bình giá Cổ phiếu về Kỹ nghệ mất hơn 13% giá trị của nó như là kết quả của cuộc khủng hoảng dầu hỏa, khiến nhiều người Mỹ có một tâm trạng chua chát.

Căn cứ Sóng Thần
Tháng Mười Hai năm 1973

Hầu hết cuộc chiến đấu trong năm 1973, được thực hiện sau cuộc ngưng bắn giả mạo, không phải trên quy mô hoặc mức độ của những cuộc chạm súng to lớn trong suốt cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh. Tuy thế, không thiếu mất cuộc chiến đấu và những số lượng thương vong phản ảnh hành động liên tục đó. Trong khi các lực lượng VNCH vẫn chiếm ưu thế trên chiến trường, họ đã làm như thế với sự tiêu hao đáng kể.

p511

Trong tất cả những lực lượng VNCH(pc 01) vào năm 1973 gánh chịu 27.901 người bị thiệt mạng; chỉ đứng phía sau năm 1972 và 1968 trong tổng số người bị thiệt mạng trong nhiệm vụ.6 Những con số thương vong đó, tuy thế, vẽ ra một bức tranh rất thiếu sót.
Những vấn đề lớn hơn, tích lũy về sự di dời dân cư và nạn lạm phát kinh niên hiện thời là nguyên nhân cho sự thất vọng toàn diện vốn bắt đầu bò vào trong tâm lý quốc gia. Cơ sở hạ tầng thực thể vẫn còn thô thiển của đất nước đang bị kéo dài ra vượt quá khả năng giới hạn của nó. Khi những người tị nạn càng lúc càng nhiều hơn bị đẩy vào trong các thành phố, nạn thất nghiệp, tội phạm và sự bất ổn xã hội gia tăng. Chính phủ Thiệu, từ trước đến nay quan tâm chủ yếu đến việc đánh bại những kẻ xâm lược Cộng sản, sẽ nhất thiết bắt đầu chuyển hướng các nguồn tài lực để đối phó với những thách thức khác ngày càng nghiêm trọng nầy. Nếu đã có thể có một chỉ số nghèo khổ tương tự cho VNCH, nó sẽ là gấp 5 đến 10 lần điều đó của Hoa Kỳ.
So sánh với tất cả những gì mà anh Bình đã trải nghiệm trong khi dẫn dắt Tiểu đoàn 3, nhiệm vụ như là vị sĩ quan chỉ huy của căn cứ Sóng Thần thì tương đối yên tĩnh, mặc dù chắc chắn là không yên ổn. Đối với anh Bình, công cuộc chiến đấu mà anh ta trực tiếp chịu trách nhiệm cho việc dẫn dắt, thì an ninh ở trong và xung quanh căn cứ Sóng Thần. Lực lượng Việt Cộng địa phương không muốn tự sát và thường thường tránh xa những binh lính TQLC ở đó. Điều nầy cho phép anh Bình tập trung năng lực của mình trên những nhiệm vụ và trách nhiệm khác của anh ta. Tin tốt nhất cho anh Bình và cô Cẩm khi họ bước vào cuối năm là cô Cẩm mang thai đứa con đầu tiên của họ và được dự kiến sẽ khai nở vào thời điểm nào đó trong cuối tháng Sáu hoặc đầu tháng Bảy năm 1974.

F- Việc chuẩn bị cho sự Chấm dứt:

Vào khoảng thời gian rời khỏi Việt Nam của anh Turley, Quân đoàn TQLC(pc 04) Hoa Kỳ bắt đầu đầu tư những nguồn tài lực về việc lên kế hoạch và huấn luyện đáng kể cho cái gì sẽ là cuộc di tản cuối cùng ra khỏi thủ đô Phnom Penh và Sài Gòn nếu tình hình trở nên tồi tệ đến thời điểm nầy. Việc thông qua Luật Bổ sung Fulbright-Aiken vào cuối mùa hè năm 1973, ngoại trừ việc báo hiệu vai trò lãnh đạo của Cộng sản ở miền Bắc đẩy mạnh về phía trước với những kế hoạch xa hơn cho cuộc xâm lược, là một báo hiệu cho các nhà lãnh đạo quân sự Mỹ và những người chịu trách nhiệm cho việc lên kế hoạch dự phòng mà qua đó những cơ hội của những kế hoạch đó cuối cùng cần phải được thực hiện, sẽ trở thành hiện thực.

p512

Từ giữa năm 1973 qua đầu năm 1975, nhiều đợt xoay vòng của các sĩ quan trung cấp và cao cấp vốn là những người hoàn tất phục vụ được phân công của họ trên hải đảo Okinawa, Nhật, đã từng làm việc với các đối tác chị em phục vụ của họ để tạo nên những kế hoạch, xem xét lại những kế hoạch đó, và sau đó sửa đổi chúng một lần nữa trước khi cuối cùng tìm ra cách tốt nhất bốc đi những người Mỹ và những đồng minh thân thiện nào đó mà họ không thể thoát ra vốn là những người có thể cần đến việc cứu vớt khỏi các lực lượng Cộng sản đang tiến bước. Những Tiểu đoàn Bộ binh đóng trên hải đảo Okinawa, Nhật và các phi đội trực thăng vốn hỗ trợ họ diễn tập những sứ mệnh được mong đợi của họ, đã được đặt vào báo động cho những nhiệm vụ đó, và trải qua thời gian trên biển lên tàu cho việc vận chuyển cuộc đổ bộ chờ đợi cú gọi cho những sứ mệnh đó.
Đối với những người Cộng sản nhất quyết nuốt lấy miền Nam với bất cứ giá nào, thời gian và một chiều hướng lạ lùng nhất của những hoàn cảnh khắp thế giới tiếp tục tạo nên lợi thế cho họ. Việc làm sáng tỏ của vai trò Tổng thống của ông Nixon từ cuối năm 1973 và bước vào năm 1974 hạn chế rất nhiều khả năng của Tổng thống giữ danh dự cho những lời cam kết cá nhân mà ông ta đã hứa với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Quốc hội đang cảm thấy không có chuyện từ thiện gì hết khi nó bàn đến việc cho phép viện trợ cho Việt Nam. Từ 2.2 $ tỷ đô-la được đưa ra trong năm tài chính 1973, sự viện trợ bị cắt giảm đến 1.5 $ tỷ đô-la trong năm tài chính 1974.7 Sự giảm xuống của tỷ lệ phần trăm thực sự gây tổn hại rất nhiều hơn hơn 32% cắt giảm từ năm tài chính 1973. Giá nhiên liệu tăng lên 400%. Chi phí đạn dược và những thứ cần thiết khác cho việc chiến đấu cuộc chiến tranh đã tăng vọt tương tự như thế. Sức mua bán thực sự của sự viện trợ cho VNCH đã bị thu hẹp một cách cực kỳ mau chóng. Khả năng của các lực lượng VNCH hoạt động trong chiến trường bắt đầu bị suy giảm một cách nghiêm trọng.8
Đồng thời, những người Sô-Viết, vốn là những người đã từng bị từ chối tư cách Tối huệ Quốc qua cách đối đải của họ với các nhà bất đồng chính kiến Do Thái, loại bỏ khỏi Hà Nội những hạn chế mà họ trước đó đã đặt để trong một nỗ lực dàn xếp với những người Mỹ. Trong trường hợp sự hỗ trợ cho VNCH bị cắt giảm nhiều hơn một nửa, sự viện trợ cho VNDCCH(pc 05) (i.e. Bắc Việt) được đẩy lên một cách đáng kể, có lẽ thậm chí tăng lên gấp đôi.
Trong sự đối mặt với, và thêm vào đó, tất cả tin tức xấu đến từ thủ đô Washington, ban lãnh đạo VNCH thất bại điều chỉnh những thực tế về hậu cần mới được áp đặt một cách cay nghiệt. Tổng Thống Thiệu và nhiều người xung quanh ông ta không có thể, hoặc bác bỏ, hiểu rõ rằng Hoa Kỳ không còn có ý định xông vào giải cứu hoặc tiếp tục mở những cổng điều chỉnh dòng chảy của sự hỗ trợ vật chất.

p513

Trong một khoảng thời gian rất dài, ông Thiệu tiếp tục cố gắng và chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh như thể là không có gì thay đổi. Sự không khoan nhượng và thiếu uyển chuyển của ông Thiệu được điều lệ hóa ngoại biên trở thành một cái gì đó được đề cập đến như là “Bốn Không” Chúng bao gồm: không có những cuộc đàm phán nào với kẻ thù, không có hoạt động nào của Cộng sản bên trong VNCH, không có chính phủ liên minh, và –quan trọng nhất– không nhường lãnh thổ cho kẻ thù.9
Viẹc khăng khăng của Tổng thống Thiệu giữ tất cả các lãnh thổ trong phạm vi biên giới của đất nước VNCH không có sự kiểm soát hoặc ảnh hưởng của Cộng sản cuối cùng sẽ là sự tháo mở đất nước mình; hoặc ít nhất ra thúc đẩy nhanh tiến trình. Trong khi các vị tướng lãnh của ông ta làm mọi cố gắng để tuân theo những mệnh lệnh của ông ta, sự nhấn mạnh của ông Thiệu vào việc bảo vệ mọi nơi, thậm chí vùng lãnh thổ xa xôi nhất và không đáng kể về chiến lược, một lần nữa nhường thế chủ động trên chiến trường luôn luôn đối với một dòng tuôn ra của Quân Bắc Việt với dụng cụ Liên Xô. Bị kéo dài mỏng ra và bị cản trở một cách nghiêm trọng bởi những hạn chế hậu cần của riêng họ, nhằm bảo vệ mọi nơi trong thực tế có nghĩa là mất đi hầu hết mọi nơi.

G- Anh Bình và Văn hóa của Quân đoàn TQLC Việt Nam :

Về một điều duy nhất mà Lê Bá Bình thực sự cảm kích trong công tác của mình cho căn cứ Sóng Thần đó là anh ta có mặt trong sự ra đời của đứa con gái mình vào ngày 4 tháng Bảy năm 1974. Lê Mộng Ngọc được sinh ra tại một bệnh viện tư ở Gia Định, gần nhà cha mẹ của anh Bình. Trong việc giữ lấy truyền thống Việt Nam, anh Bình và mẹ vợ của anh ta có mặt với cô Cẩm trong lúc khai nở. Ngọc là một bé gái khỏe mạnh, và cha mẹ của bé, cả hai đều cảm tạ cho sự xuất hiện của bé.
Trong công việc của anh ta như là vị sĩ quan chỉ huy của căn cứ Sóng Thần, anh Bình trải nghiệm một sự thất vọng và cảm giác lo lắng mà anh ta chưa bao giờ biết đến trong khi còn phục vụ với Tiểu đoàn 3. Tại căn cứ Sóng Thần, những nhiểm vụ tạp nhạp khác nhau của anh ta, mà qua đó ít có gì liên quan đến việc trực tiếp trừ khử đối phương, bắt anh ta phải cố gắng trong nhiều cách mà việc dẫn dắt những binh lính TQLC(pc 04) trong cuộc chiến đã không phải như thế. Anh ta hiểu rằng anh ta phải thích ứng, mà qua đó những sứ mệnh mà họ thực hiện ở đó hoàn toàn rất quan trọng, và làm hết mình. Tuy thế, anh ta tin rằng sức mạnh và sự đóng góp lớn nhất của anh ta cho đất nước mình là dẫn dắt những binh lính TQLC chống lại những con quỷ đỏ.

p514

Qua năm 1974 và bước vào năm 1975, khi sự viện trợ của Hoa Kỳ về tài chính và vật chất tuy thế một lần nữa bị cắt giảm gần 50%, Quân đoàn TQLC Việt Nam hầu như vẫn còn tránh được những vấn đề khó khăn đặc hữu đối với QĐVNCH.(pc 06) Từ vị Tổng tư lệnh trở xuống, toàn bộ tổ chức vẫn còn sốt sắng trong việc chăm sóc gia đình của những binh lính TQLC để cho các chiến binh có thể tập trung vào việc chiến đấu với kẻ thù quỷ quyệt và xảo trá của họ. Điều đó được hiểu bởi tất cả mọi người là khi một quân nhân TQLC biết rằng vợ con mình được an toàn và được nuôi dưỡng đầy đủ, như họ ở tại căn cứ Sóng Thần, anh ta có thể chiến đấu với một trái tim vui vẻ. Nếu những người vợ của binh lính TQLC cất tiếng phản đối ầm ĩ, và những lời than phiền là hợp pháp, một hành động nhanh chóng sẽ được thực hiện. Ban lãnh đạo TQLC tha không cần đến nỗ lực nào để bảo đảm rằng các gia đình ở căn cứ Sóng Thần có những nguồn cung cấp thực phẩm dồi dào và rằng căn cứ phần nhiều là một nơi trú như nó có thể được tạo nên là thế. Anh Bình cảm thấy hài lòng là anh ta có thể giúp đỡ cung cấp một nơi an toàn cho các gia đình của tất cả những binh lính TQLC. Anh ta vẫn cảm thấy tốt hơn nhiều nếu được dẫn dắt những binh lính TQLC lên phía bắc.
Hệ thống tái tiếp tế mới hơn trong thế giới “hậu-Mỹ” của QĐVNCH thì khác biệt đối với những binh lính TQLC Việt Nam hơn là đối với QĐVNCH lớn hơn nhiều. Bởi vì phần nhiều họ được xem như là những chiến binh bởi tất cả mọi người trong quyền lực chính trị, Quân đoàn TQLC Việt Nam được miễn nhiều nhất khi xảy đến việc cắt bớt những cung cấp tiếp liệu chiến đấu trên nhiệm vụ. Ngoài ra, lực lượng TQLC vẫn còn khoảng 15.000 người mạnh mẽ, được cung cấp lương thực trực tiếp bởi Hải quân Hoa Kỳ mà không đi qua bất cứ những bàn tay tham nhũng, bội bạc nào hiện đang xảy ra trong Sài Gòn. Với sự nhỏ nhoi đó của một tổ chức, nỗ lực về hậu cần thì khá hiệu quả. Có một số ít vấn đề hơn về việc chuyển tất cả công cụ cho những đơn vị có nhu cầu nhất.
Như là một tổ chức lớn hơn nhiều nhưng không nơi nào bì được sự đồng nhất trong chất lượng như lực lượng TQLC, những thách thức về hậu cần của QĐVNCH(pc 01) trở thành một chủ đề lớn cho những bài tường thuật của giới truyền thông Tây phương. Với sự gia tăng trong hoạt động của đối phương từ cuối năm 1974 bước vào năm 1975, những câu chuyện về sự tham nhũng và sự phản bội trắng trợn, những câu chuyện về những binh lính phải trả tiền cho sự hỗ hỏa lực hoặc cuộc tải thương bằng trực thăng của riêng họ được tạo nên có vẻ phổ biến. Những câu chuyện được kể lại về các hành vi tai tiếng của những vị tướng lãnh vô lương tâm và những quan chức dân sự bán đi những hàng tiếp liệu rất quan trọng trên thị trường chợ đen bên cạnh, sự thật là việc thiếu hụt thực sự về nhiên liệu, những phụ tùng thay thế, và sự bảo trì thích hợp đang khiến cho những chiếc máy bay không thể bay lên, những chiếc xe không thể di chuyển, và những vũ khí không thể bắn ra. Quân Bắc Việt dường như có nhiều hỏa lực sức mạnh hỏa lực hoặc thêm sức mạnh phá hủy hơn bao giờ hết, và sẵn sàng như đã từng để sử dụng nó chống lại bất kỳ và tất cả các mục tiêu, quân sự hay dân sự.

p515

Quả thật, chính là một tình huống hiếm hoi khi các đơn vị TQLC sắp cạn kiệt số đạn dược rất quan trọng, hoặc các phụ tùng thay thế, như ban lãnh đạo chính trị và quân sự ở mọi cấp biết rằng những nguồn tiếp liệu đó được dành riêng cho việc sử dụng bởi những binh lính TQLC sẽ không bao giờ bị lãng phí. Vấn đề duy nhất đối với lực lượng TQLC, và một số ít đơn vị thực sự đáng tin cậy khác của QĐVNCH, đó là không có đủ những người đó để đủ sức làm nên một sự khác biệt trong kết quả cuối cùng của cuộc chiến tranh, đơn giản là thế; mà qua đó vẫn không hoàn toàn chắc chắn đối với mọi người, đặc biệt là Tổng thống Thiệu, ở miền Nam lúc sắp vào cuối năm 1974 vốn là những người đã tin rằng Hoa Kỳ vẫn có thể, bằng cách nào đó, tìm cách xông vào giải cứu.
Vào tháng Mười năm 1974, anh Bình cuối cùng có được sự mong ước của mình quay trở lại cuộc giao chiến. Để lại cô Cẩm và bé Ngọc ở Sài Gòn, anh ta được ban cho quyền chỉ huy Tiểu đoàn 6, được biết đến như là “Thần Ưng,” mà qua đó được dịch đại khái như là “Sacred Bird” (“Chim Thần”), và đang trở lại tỉnh Quảng Trị dẫn dắt những binh lính TQLC trong cuộc chiến đấu. Anh ta sẽ ở lại với Tiểu đoàn 6 cho đến trưa ngày 30 tháng Tư năm 1975.

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ VNCH : Việt Nam Cộng hòa.
pc 02_ “Chính phủ VNCH trả cho một cựu Trung úy khoản trợ cấp 105.000 đồng theo quý-3-tháng một lần –vào khoảng 260 đô-la…” : dù biết rằng tình hình đất nước thời chiến tranh ở miền Nam Việt Nam trong giai đoạn tập trung nhiều vào quân sự hơn là kinh tế, vì thế tiền lương của một người lính VNCH (nếu có gia đình, vợ con, đều được phụ cấp thêm) đều phục thuộc rất nhiều vào sự viện trợ tài chánh của Hoa Kỳ. Bởi thế, càng không thể đem so sánh giữa hai mức lương của người lính Mỹ và Việt. Tuy nhiên, thử nhìn qua sự ưu đải của chính phủ Hoa Kỳ dành cho những người lính Mỹ trên nước người.
Một trường hợp chung cho những binh lính Mỹ –không cấp bậc– vào năm 1969. Trong thời gian huấn thụ bên Mỹ, một người lính tương lai nhận được 90 đô-la một tháng theo mức lương E-1 (Binh nhì). Sau khi mãn khóa, được lên mức lương E-2, và khi đến Việt Nam là mức lương E-3 của một người lính Binh nhất ở nước ngoài, bao gồm 200 đô-la (lương cơ bản cho Binh Nhất), 65 đô-la (lương phụ cấp ở nước ngoài), và 30 đô-la (lương phụ cấp chiến đấu).
Tổng cộng là 295 đô-la cho một tháng lương của người lính Binh nhất Hoa Kỳ. Theo thời giá vào năm 1969 ở Việt Nam, một gói thuốc lá Mỹ khoảng 60 xu tiền Mỹ, một lít xăng vào khoảng 13 xu tiền Mỹ.
Như vậy, tiền lương trợ cấp cho một cựu Trung úy tàn tật Việt Nam vì chiến đấu (260 đô-la trong 3 tháng, là khoảng 87 đô-la một tháng). Nếu giả như tiền lương thương bịnh binh của một cựu Trung úy Việt Nam là 60% tổng số lương một tháng, thì tiền lương thực sự là vào khoảng 145 đô-la một tháng vào năm 1972, cũng chưa bằng tiền lương của người lính Binh nhất Hoa Kỳ là 295 đô-la một tháng vào năm 1969, trước đó 3 năm.
Trong khi đó, lương tháng của một người lính Binh nhất Việt Nam vào khoảng 40 đô-la một tháng (và đến năm 1975, giảm xuống còn khoảng 19 đô-la), kém hơn những 7 lần mức lương của người lính Mỹ. Dù thế, người lính VNCH vẫn chiến đấu như người lính Mỹ. Tuy mức lương chỉ vừa đủ sống, ngoài việc người lính VNCH cũng ráng tiết kiệm chi tiêu hoang phí để gởi lại cho gia đình riêng, anh ta cũng có được cách sinh hoạt riêng tương đối thích hợp với mình trong xã hội.

pc 03_ Luật Bổ sung Fulbright-Aiken : Ra đời do hai nhân vật trong Quốc hội Hoa Kỳ đề ra vào năm 1973. Đó là James William Fulbright (thuộc đảng Dân chủ, Thống đốc tiểu bang Arkansas) và George David Aiken (thuộc đảng Cộng hòa, Thống đốc tiểu bang Vermont).
Sau cuộc Điều trần Fulbright vào năm 1971 mà Nghị viên Fulbright với vài trò là Chủ tịch Ủy ban Đối Ngoại với 16 thành viên đã từng đưa ra ít nhất là 7 kiến nghị lập pháp về Chiến tranh Việt Nam sau 22 cuộc điều trần trước Quốc hội. Và đến năm 1973, sau Hoạt động Hồi hương của Hoa Kỳ đối với những tù binh chiến tranh, Quốc hội âm thầm thông qua Luật Bổ sung Fulbright-Aiken vào ngày 1 tháng Bảy năm 1973 mà qua đó phát biểu rằng:
“Bất kể điều khoản nào khác của pháp luật, vào ngày hoặc sau ngày 15 tháng Tám năm 1973, không có ngân quỹ nào trong vấn đề nầy hoặc từ trước đến nay được dành riêng có thể bị cưỡng bức hoặc mở rộng để tài trợ trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động chiến đấu của các lực lượng quân sự Hoa Kỳ trong, hoặc trên, hoặc từ ngoài khơi những bờ biển của miền Bắc Việt Nam, miền Nam Việt Nam, Lào, và Cam Bốt.”
Đó là Luật Bổ sung nhằm mục đích cắt giảm ngân quỹ tài trợ cho miền Nam Việt Nam một cách tàn nhẩn và dứt khoát trong cuộc đấu tranh với Quân Bắc Việt. Mà dân biểu Jeff Miler đã từng nhận xét là một trong hai Luật Bổ sung què quặt nhất trong Chiến tranh Việt Nam mà trước đó là Luật Bổ sung của Nghị viên John Sherman Cooper (thuộc đảng Cộng hòa, tiểu bang Kentucky) vào năm 1969 nhằm cấm ngặt binh lính trên bộ của Hoa Kỳ xâm nhập vào Lào, Cam-pu-chia, và Thái Lan. Trong khi, Quân Bắc Việt luôn luôn hoạt động mạnh trong những vùng biên giới Lào, và Cam-pu-chia, nhưng không có một nghị viên nào của Hoa Kỳ lên tiếng phản đối dù đó là mối đe dọa rất lớn cho miền Nam Việt Nam và cũng là đầu mối cho phép Quân Bắc Việt tạo ra đường Mòn Hồ Chí Minh. Và đường Mòn đó càng được cải thiện hơn nhờ có thêm một Luật Bổ sung khác vào năm 1973.

pc 03_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 04_ VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).
pc 05_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.

One thought on “Phần 36: Hoạt động Hồi hương

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s