Phần 35: “Một cuộc Ngưng bắn”

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p483

Phần 35: “Một cuộc Ngưng bắn”

Thiếu Tá Robert Sheridan
Những quan sát trước khi rời khỏi

Thiếu tá Bob Sheridan, vị cố vấn cao cấp TQLC Hoa Kỳ cho Lữ đoàn 369 và là ông sếp Mỹ của George Philip, đã được vào vị trí gần ngay cuộc giao chiến vào ngày 22 tháng Năm, gần bên ngoài một nơi được biết đến đối với nhiều người như là “Con đường Không có Niềm vui,” về hướng bắc một chút từ lằn ranh sông Mỹ Chánh, khi những lực lượng đồng minh ghi được công trạng tiêu diệt lần đầu tiên nhất của họ là một chiếc xe tăng của đối phương với phi đạn có sự hướng dẫn bằng dây điện, có hệ thống quang xạ theo dõi, được bắn đi bằng ống phóng (TOW = Tube-Launched, Optically-tracked, Wire-guided Missile). Trong cuộc hỗn chiến tay đôi xảy ra sau đó, những binh lính Thủy quân Lục chiến (TQLC) Việt Nam đã tiêu diệt một số lượng Quân Bắc Việt được ước tính khoảng 200 đến 300 và phá hủy thêm 13 chiếc xe tăng. Mười ba chiếc thiết giáp còn lại bị loại bỏ bằng những khẩu súng chống tăng loại nhẹ (LAAW = Light Anti-tankAssault Weapon) và bằng những khẩu đại bác 105 ly bắn ra theo cách bắn thẳng; ở những tầm tác xạ khoảng 150 mét hoặc ít hơn. Cuộc giao tranh rất gần và cá nhân nhưng chỉ có một mặt.

(“Con đường Không có Niềm vui” là Xa lộ Một từ Quảng trị ngược về
nam đến Huế, cũng được mang tên là “Đại lộ Kinh hoàng” với những
xác chết của thường dân nối dài suốt con đường khoảng 52 km do
những đợt pháo kích độc ác của Trung đoàn Pháo binh Bông Lau của
Quân Bắc Việt mà cho đến nay, 2013, những người Cộng sản vẫn
luôn luôn tìm cách chối bỏ như vụ thảm sát Huế)

(“Con đường Không có Niềm vui” (“Street Without Joy”) cũng là tác
phẩm của Bernard B. Fall vào năm 1961. Kể về những cuộc hành quân
của quân lính Pháp ở Việt Nam mà ông ta đã từng tham gia lúc 16 tuổi)

(Bernard B. Fall đang ăn trưa với binh lính Hoa Kỳ thuộc Tiểu đoàn 1,
TQLC 9, trước khi tử nạn vì dẫm phải bãi mìn của Việt Cộng cũng trên
“Con đường Không có Niềm vui” tại tỉnh Thừa Thiên, Huế, vào năm
1967, mặc dù ông ta ít nhiều có khuynh hướng thân cộng)

Vị cố vấn Mỹ dầy dạn quan sát thấy rằng hầu hết những người chết và tất cả các tù nhân bị bắt giữ hoặc là những thanh thiếu niên không quá 16 tuổi, hoặc những người đàn ông rất già; những người vốn có thể là những ông nội ông ngoại ở nhà. Anh ta chắc chắn rằng Quân Bắc Việt đã dùng cạn tinh hoa của giới trẻ, và gần tiêu hao hoàn toàn; một sự quan sát mà bất kỳ tay súng có kinh nghiệm khá nào cũng sẽ nhìn thấy. Sự đánh giá của anh ta về những khả năng của kẻ thù hiện thời chứng minh là đúng đắn. Quân Bắc Việt không bao giờ dám vi phạm Lằn ranh sông Mỹ Chánh. Khi anh ta đi theo Đại úy Philip về quê nhà khoảng một tháng sau đó, anh ta cũng tin rằng những người tốt đã có xung lực cần thiết để tiếp tục.1

(Đây là bằng chứng cho thấy một số không ít những người bị
Cộng sản bắt buộc cầm súng là những đứa bé vô tội nầy mà
hầu hết là những người trong nam hơn là ngoài bắc. Dù sao
chúng còn may mắn khi bị bắt hơn là phải bỏ thây)

p484

Cuộc đời Tiếp tục Trôi đi
Sân vận động Thre Rivers (Ba dòng sông)
Thành phố Pittsburgh, tiểu bang Pennsylvania
Ngày 30 tháng Chín năm 1972

Chưa đầy hai tuần sau khi những binh lính TQLC(pc 01) Việt Nam và những lực lượng Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) tái chiếm thành phố Quảng Trị từ những kẻ xâm lược Cộng sản, và một ngày sau khi Nhật Bản và Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc bình thường hóa những quan hệ, mà qua đó Chuck Goggin thuộc “Xung kích Quân của ông Ripley” trước đó đã ghi được điểm cho cú đánh trúng banh đầu tiên của mình như là một thành viên của liên đoàn chính trong lần đầu tiên của anh ta với cây đánh banh trong một trận đấu với đội bóng chày New York Mets. Goggin đã rời khỏi Quân đoàn hơn bốn năm trước đó để tiếp tục sự nghiệp bóng chày của mình. Cách làm việc hết mình và sự cống hiến chỉ có một mục đích duy nhất đang bắt đầu trả công. Chơi ở vị trí nền thứ hai, anh ta là người dẫn đầu trong trận đấu trên sân nhà trong ngày; cùng một trận đấu mà trong đó người bạn đồng đội Roberto Clemente ghi được cú đánh trúng banh lần thứ 3.000 và, thật bi thảm là, cuối cùng của anh ta. Đội bóng chày The Pirates đứng trên đội bóng chày Mets với tỷ số 5–0.

Doanh trại Sóng Thần
Bên ngoài Sài Gòn
Đầu tháng Mười năm 1972

Trung tá Bình thầm cảm tạ cho việc rời khỏi bệnh viện Lê Hữu Sanh. Đầy lòng cảm ơn như anh ta cảm thấy sắp được xuất viện sau hai tháng, việc gây đau đớn cho anh ta khi nhìn thấy nhiều khu đầy những người bạn và những người đồng ngũ; rất nhiều những binh lính TQLC rất trẻ bị cắt bớt trong tuổi thanh xuân của họ, trước khi họ đến được thời kỳ rực rỡ của cuộc đời mình. Đối với những ai vốn đã cho đi quá nhiều và những ai không còn có thể cho nhiều hơn nữa, anh Bình cảm thấy nghĩa vụ tiếp tục việc chiến đấu của mình chống lại những con Quỷ Đỏ tăng lên gấp đôi.
Tuy chưa hoàn toàn hồi phục từ những vết thương của mình, vẫn cảm thấy đau đớn nhiều hơn đối với Bình khi không làm gì cả. Khi anh ta báo cáo nhận nhiệm vụ như là một vị sĩ quan chỉ huy mới của chung cư căn cứ Sóng Thần nằm trải dài (ít nhất là theo những tiêu chuẩn Việt Nam) chỉ ngay bên ngoài Sài Gòn, anh ta vẫn cần đến những cái nạng để đi loanh quanh.
Việc chỉ huy căn cứ Sóng Thần không giống như việc dẫn dắt lực lượng Sói Biển yêu quý của anh ta. Đối với Sói Biển, chính là anh Bình và những binh lính TQLC của anh ta chống lại những phần tử Việt Cộng và những người Cộng sản quỷ quyệt. Tại căn cứ Sóng Thần, anh ta có những quan tâm và vấn đề khác để suy xét, và những người khác để trả lời.

p485

Sóng Thần là một căn cứ chính cho toàn bộ lực lượng TQLC. Trong phạm vi ranh giới của nó, một lực lượng nòng cốt của những giảng viên huấn tập điều hành trại huấn luyện quân sự nơi mà những chàng trai Việt Nam bình thường làm một sự biến đổi trạng thái độc đáo trở thành tính chất đàn ông của Binh chủng TQLC. Căn cứ Sóng Thần phục vụ như là nhà kho cung cấp chính yếu cho lực lượng TQLC. Nó cũng là chỗ nơi mà hầu hết gia đình của những quân nhân TQLC vốn đã kết hôn, sinh sống ở đó. Như là vị sĩ quan chỉ huy của căn cứ Sóng Thần, anh Bình đội những mũ khác nhau. Anh ta chịu trách nhiệm cho việc bảo đảm rằng tất cả những sứ mệnh khác nhau của những phân nhóm nhỏ đóng quân ở đó được hoàn thành. Anh ta chịu trách nhiệm cho việc bảo đảm sự phòng thủ căn cứ và sự an toàn của tất cả những người phụ thuộc đang sinh sống bên trong các bức tường và hàng rào của nó. Anh ta có vai trò của một vị chỉ huy, cảnh sát trưởng, và là thị trưởng được gộp chung trở thành một. Anh ta mong muốn thà được trở lại với Tiểu đoàn 3 nhiều hơn. Ít ra, anh ta được về nhà hầu hết mỗi đêm mà điều đó làm cho cô Cẩm cảm thấy hạnh phúc.

(Căn cứ Sóng Thần của Quân đoàn TQLC tại Thủ Đức)

Việc chiếm lại thành phố Quảng Trị là một đỉnh điểm lịch sử rất quan trọng đối với lực lượng QĐVNCH(pc 02) và TQLC.(pc 01) Trong những tháng theo sau, cuộc chiến đấu với Quân Bắc Việt vẫn tiếp tục khắp đất nước nhưng ở mức độ không có gì giống như cường độ trước đó. Trên phía bắc, những tuyến phòng trên cơ bản đã ổn định với kẻ thù phần lớn nắm quyền kiểm soát lãnh thổ phía bắc sông Cửa Việt của miền Nam Việt Nam đến Khu phi Quân sự và bên ngoài phía tây hướng về phía Lào.
Trong sự đối mặt với cuộc chiến đấu đang diễn ra và cuộc chiến trên không, những cuộc đàm phán giữa những người Mỹ và những người Bắc Việt ở Paris vẫn tiếp tục. Tại trung tâm của vấn đề, những người Bắc Việt thì vẫn tập trung trên việc chiến thắng, mà cuối cùng có nghĩa là sự thống trị miền Nam. Những người Mỹ đang tìm kiếm một lối thoát danh dự. Họ muốn có một hiệp ước mà qua đó bảo đảm chủ quyền của miền Nam, và họ muốn những tù binh chiến tranh của họ được trở về nhà. Tổng thống Thiệu và hầu hết trong chính phủ của mình, vốn là những người không được trực tiếp tham gia trong các cuộc đàm phán,(pc 03) không tin tưởng gì về những điều mà những người Cộng sản đang hứa hẹn.
Vào đầu tháng Mười năm 1972, với các cuộc tranh cử Tổng thống Hoa Kỳ đang hiện ra lờ mờ, những cuộc đàm phán giữa ngoại trưởng Henry Kissinger của Hoa Kỳ và Lê Đức Thọ của Bắc Việt dường như đạt được một bước đột phá. Những người cộng sản cảm nhận được rằng những người Mỹ đang nóng lòng muốn kết thúc vấn đề thương lượng trước khi cuộc tranh cử. Thậm chí lời đồn đại bị rò rỉ ra rằng một thỏa thuận hòa bình đang đến gần. Những người Cộng sản đưa ra ý muốn là họ sẽ sắp xếp cuộc ngưng bắn với những người Mỹ và để lại các vấn đề chính trị cho thời gian sau nầy được quyết định bởi những người Việt ở cả hai bên.(pc 04)

(Cuộc đàm phán… trên những đôi đũa giữa Zhou Enlai của Trung
Cộng và ngoại trưởng Henry Kissinger của Hoa Kỳ, vào năm 1971,
cho thấy tài du thuyết của nhà ngoại giao Hoa Kỳ dường như khó
hơn nổi tài nấu nướng của những đầu bếp Beijing)

(Và một trong những cuộc đàm phán không chính thức của ngoại
trưởng Henry Kissinger và Lê Đức Thọ trước và trong năm 1972)

p486

Trong nhiều năm, những người Cộng sản, như là một điều kiện cho hòa bình, đã từng nhấn mạnh vào việc loại bỏ của chính phủ của ông Thiệu. Trong một thương lượng thăm dò mới của họ, cách viết đó đã không được bao gồm. Dòng chữ cũng bỏ qua bất kỳ sự đề cập nào về việc những người Cộng Sản chuyển đi những cán binh của họ vốn vẫn còn ở miền Nam. Những người Mỹ đưa ra sự chấp thuận ngầm của họ. Một thỏa thuận được mau chóng soạn thảo mà qua đó kêu gọi một cuộc ngưng bắn, việc thả ra những tù binh chiến tranh, việc rút đi các lực lượng Hoa Kỳ và một tiến trình có quốc tế giám sát những cuộc bầu cử ở miền Nam.
Nguyễn Văn Thiệu không muốn dính dáng gì đến những cuộc đàm phán nầy mà qua đó trên cơ bản cho phép những lực lượng của Quân Bắc Việt, theo hiệp ước, vẫn còn ở miền Nam. Tình trạng thù hằn giữa ông Thiệu và ngoại trưởng Kissinger là một bí mật mà ai cũng biết. Ở Sài Gòn, vị Tổng tư lệnh Việt Nam đưa ra một bài diễn văn được truyền hình đến quốc gia, phát biểu rằng “sự liên hiệp với những người Cộng Sản có nghĩa là chết” và rằng nhằm mục đích có được hòa bình, những người Cộng sản sẽ phải “bị tiêu diệt đên người cuối cùng.”2
Những người Mỹ sắp sửa rời khỏi khu vực Đông Nam Á cho dù Tổng thống Thiệu thích điều đó hay không. Sự kiên nhẫn và lòng quảng đại của Mỹ, ít nhất là từ quan điểm của nhiều người Mỹ, đã được kéo dài ra đến một điểm nơi mà sự chấm dứt đang đến gần. Nước Mỹ đã thực sự mất hơn 50.000 người bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và đã trả thêm vào rất nhiều những thứ vô hình khác nhưng dù thế nào cũng gần như là những cách tốn kém. Có một giới hạn đang đến gần cái gì mà quốc gia sẽ tiếp tục gánh lấy khốn khổ để có được rất ít cái hữu hình. Như là một sự bảo đảm để khiến ông Thiệu chấp thuận với cái gì đang được đàm phán –mà không có sự đóng góp ngấm ngầm của ông Thiệu– Tổng thống Nixon tiếp tục hứa hẹn rằng một khi cuộc ngưng bắn vĩnh viễn hoặc một kế hoạch hòa bình có hiệu lực, sức mạnh của Không quân Mỹ sẽ có mặt ở đó để trừng phạt một cách dữ dội những người Cộng sản cho bất kỳ những vi phạm nào đối với hiếp ước.
Những cuộc đàm phán đang diễn ra kéo dài qua các cuộc tranh cử Tổng thống Hoa Kỳ, mà ông Nixon đã thắng cuộc bầu cử với đa số lá phiếu. Vị Tổng thống nhận được một ít an ủi từ chiến thắng đó. Ông ta sẽ phải đối mặt với đại đa số thành viên của đảng Dân chủ ở cả Thượng viện và Hạ viện, và những thách thức đối với tất cả việc tài trợ cho Việt Nam trong Năm Mới.

(Tình trạng thù hằn giữa Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và ngoại
trưởng Henry Kissinger là một bí mật mà ai cũng biết, chỉ vì ông Thiệu
không muốn nhượng bộ với Cộng sản như ý muốn của ông Henry)

p487

Henry Kissinger và Lê Đức Thọ sẽ gặp nhiều lần nữa trong tháng Mười Một và vào tháng Mười Hai trước khi các cuộc nói chuyện sẽ bị tan vỡ vào ngày 16 tháng Mười Hai trong sự thất vọng về những khác biệt mà không bên sẽ chịu thỏa hiệp. Đứng trước những thực tế chính trị đang đối mặt đất nước của mình, Nguyễn Văn Thiệu không cảm thấy phấn khởi gì về việc đàm phán cho sự chấm dứt cuộc chiến vốn quy định việc rút quân hoàn toàn những binh lính Mỹ và cho phép sự chấp nhận ngầm những lực lượng Cộng sản còn lại ở miền Nam Việt Nam. Sự phản ứng của Mỹ là bắt đầu Chiến dịch Linebacker II (i.e. Hàng phòng Thủ II) vào ngày 18 tháng Mười Hai.

(Lời phát biểu đanh thép của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vào năm
1971 trước ống kính thu hình, cũng là sự đáp trả cho ngoại trưởng
Kissinger: “sự liên hiệp với những người Cộng Sản có nghĩa là chết”
rằng nhằm mục đích có được hòa bình, những người Cộng sản sẽ phải
“bị tiêu diệt đên người cuối cùng.”)

“Những ngày Nghĩ phép Ngược”
Bunny Turley viếng thăm Sài Gòn
Giáng sinh năm 1972

Chuyến đến phi trường Tân Sơn Nhứt Sài Gòn của Bunny Turley, ngoại trừ niềm hân hoan, vui thích rất rõ ràng của chồng mình, phần lớn trôi qua không ai chú ý. Đến nhiều ngày sau khi sự khởi đầu của cái gì mà báo chí gọi là “Cuộc dội bom Giáng sinh,” Chiến dịch Linebacker II được thu nhỏ hơn ngay cả chiến dịch dội bom mở rộng từ đó đến nay –Chiến dịch Linebacker, hoặc hiện thời được đề cập đến như là Chiến dịch Linebacker I –từ cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh gần đây.
Chiến dịch Linebacker II là phản ứng của Tổng thống Nixon nhận thức được sự không khoan nhượng và lập lờ nước đôi của Cộng sản tại bàn đàm phán Paris. Điều đó cũng có nghĩa là một cách chứng tỏ giải pháp của Mỹ cho Tổng thống Thiệu thấy. Nỗ lực sẽ biến thành chiến dịch dội bom dữ dội nhất của toàn bộ cuộc chiến tranh. Như mọi khi, sức mạnh Không quân của Mỹ tuyệt đối bị cấm đánh trúng những mục tiêu dân sự ngoài những sứ mệnh rộng lớn hơn, thêm vào những mục tiêu được cho phép trước đó của những cuộc không kích lúc đầu của Chiến dịch Linebacker từ những tháng qua, bao gồm những đài phát thanh, nhà máy điện, công trường đường sắt, công trường đóng tàu, các cơ sở thông tin liên lạc, vị trí phòng không, và các địa điểm trung chuyển tiếp liệu.
Nếu Hoa Kỳ muốn gây thiệt hại tối đa mà không dùng đến những vũ khí hạt nhân, hệ thống chằng chịt của những bờ đê thủy lợi ở đồng bằng sông Hồng có thể dễ dàng bị phá hủy. Việc nhắm mục tiêu như thế được xét đoán, bởi những người Mỹ, như là điều không thể chấp nhận được và vô nhân đạo. Những người Mỹ đã từng duy trì quan điểm đó trong suốt toàn bộ cuộc chiến tranh. Trong khi những kẻ xâm lược Cộng sản đã buộc phải bám lấy không một tiêu chuẩn nào ở bất cứ nơi nào và bất cứ khi nào mà họ bắn khẩu pháo của họ hoặc gây kinh hoàng cho những thường dân ở miền Nam, chính phủ Hoa Kỳ khó tính kén chọn, đến điểm liều lĩnh và đánh mất những đội phi hành đoàn để bảo đảm điều đó, mà qua đó những cuộc không kích của họ giảm thiểu những thương vong dân sự.

p488

Những chiếc máy bay dội bom B-52 không làm tối đen những bầu trời bên trên miền Bắc, khi một dòng bất tận của những pháo đài bay B-17 đã được mô tả như đang thi hành sứ mệnh trên thủ đô Berlin chưa đầy 30 năm trước đó. Vẫn là những sứ mệnh 24/24 tiếng đồng hồ trong một khoảng thời gian 12 ngày từ ngày 18 đến 30 tháng Mười Hai, ngoại trừ khoảng thời gian nghỉ ngơi của Ngày Giáng sinh, đã báo hiệu một cường độ cao hơn của những cuộc tấn công so với mức độ đã từng được trải nghiệm bởi những người Cộng sản. Những người miền Bắc Việt Nam sẽ dùng hết hầu như toàn bộ tiếp liệu phi đạn chống máy bay SAM của họ, bắn hạ 15 chiếc trong số những máy bay thả bom dầy đặc trong tiền trình. Họ sắp sửa cạn kiệt những phi đạn trước khi những người Mỹ không còn những đội phi hành và máy bay nào.3 Khi chiến dịch kết thúc vào cuối tháng Mười Hai, những người Cộng sản đồng ý quay trở lại bàn đàm phán Paris vào đầu tháng Giêng năm 1973.

(Pháo đài bay B-17 từng tham chiến trong Thế Chiến thứ II, được đưa
vào trận chiến từ năm 1938, trước khi B-52 xuất hiện vào năm 1955)

Bunny Turley đã bay trong 24 tiếng đồng hồ với hai chặn dừng chuyển tiếp từ Phi trường Quốc tế Los Angeles đến Việt Nam nhằm mục đích trải qua mùa Giáng Sinh với chồng mình. Chỉ giống như họ đã làm vào năm 1959 trước khi cuộc khởi hành của Đại úy Gerry Turley cho chuyến quân vụ một năm của anh ta trên hải đảo Okinawa, và đó là lần cuối cùng mà hai người họ đã lấy thời gian đi nghỉ với nhau như là một cặp vợ chồng, cha mẹ của cô Bunny đã đi lên từ thành phố San Diego để chăm sóc bốn đứa cháu Turley nhỏ tuổi nhất. (Cô con gái Anne lớn tuổi nhất đang sống ở tiểu bang Wisconsin với chồng mình.) Lúc giữa cuộc chiến tranh, Sài Gòn chắc chắn là một nơi xa lạ cho tuần trăng mật lần thứ hai.
“Những ngày Nghĩ phép Ngược” là một chương trình mà Trung tá Turley tình cờ biết đến cách đây nhiều tháng. Một người bạn sĩ quan Hải quân mà anh ta gặp ở Sài Gòn vốn là người đã mang vợ anh ấy ra thăm, khiến anh ta nhận biết về chương trình đó. Ở giai đoạn cuối nầy của cuộc chiến tranh, với một số lượng những người Mỹ ởViệt Nam đang thu hẹp một cách mau chóng, không có rất nhiều phụ nữ biết lợi dụng cơ hội nầy; cũng không phải là cơ hội hiện có sẵn dành cho rất nhiều người vợ.
Đến Giáng sinh năm 1972, ngay cả với sự khởi đầu của Chiến dịch Linebacker II, anh Gerry tin là đủ an toàn cho cô dâu của mình kết hợp với anh ta ở Sài Gòn. Dù sao đi nữa, cô ta cũng chịu chơi. Bunny Turley đọ sức với ông chồng của mình từng ký lô gam một, từng săn-ti-mét một, với một cảm giác phiêu lưu và sẵn sàng trải nghiệm những điều mới mẻ. Đây là chuyến đi rất đầu tiên của cô ta ra bên ngoài nước Mỹ và cô ta cảm thấy nóng lòng muốn nhìn thấy cái gì đó mà cô ta có thể thấy về chốn nầy nơi mà người chồng của cô ta, rất nhiều bạn bè của họ, và đất nước của cô ta đã từng đầu tư rất nhiều máu và ngân khố và sự lo lắng đến đau tim.

p489

Anh Gerry gặp cô Bunny tại phi trường và lái xe đón cô ta vào trong thủ đô vĩnh-viễn-còn-sống-với-cuộc-giao-tranh, đóng vài trò hướng dẫn du lịch khi họ lái xe vào trong trung tâm thành phố. Sài Gòn chính là Sài Gòn; vẫn phần nhiều y là Hòn ngọc Viễn đông, và cô Bunny bị thu hút bởi sự hối hả và nhộn nhịp thường xuyên của sinh hoạt thương mại và sự thích nghi của người Việt đối với cuộc sống đang diễn ra khắp chung quanh họ.
Từ phi trường Tân Sơn Nhứt, anh Gerry chạy xe, theo đường quanh co để cho người vợ của mình có thể nhận được một cảm giác tốt hơn về việc bố trí vùng đất, đến căn phòng riêng thường ngụ của mình tại khách sạn Brinks. Kế bên khách sạn Continental đáng nể vốn có lịch sử từ cuối thế kỷ 19 và Quốc hội ở trung tâm thành phố Sài Gòn, khách sạn Brinks là một căn nhà tương đối an toàn dành cho những sĩ quan quân sự Mỹ và những người làm việc cho các cơ quan khác thuộc chính phủ. Khi cô Bunny không có bên cạnh anh ta, anh Gerry chia sẻ những gì bí mật biết được của mình với một người thanh lịch vốn làm việc cho Trung ương Tình báo Mỹ. Người thanh lịch đó đã ân cần sắp xếp chỗ ngủ trong khi cô Bunny đang đi phố.

(Khách sạn Brinks dành cho những sĩ quan quân sự Mỹ và những người
làm việc cho các cơ quan khác thuộc chính phủ. Cũng là nơi mà Việt
Cộng cấu kết với vài sĩ quan VNCH thân cộng gài bom khủng bố)

(Khách sạn Continental Sài Gòn có từ thời Pháp vào thế kỷ 19, dù
thành phố Sài Gòn bị đổi tên sau ngày cưỡng chiếm miền Nam,
30/04/1975 nhưng cái tên Sài Gòn vẫn được ưu ái dùng đến và nó vẫn
sẽ không được viết là “Hotel Continental Ho Chi Minh” vì nó hoàn
toàn không gợi lên ý nghĩa gì đối với những du khách ghé thăm)

(Quốc hội của miền Nam Việt Nam (bên phải), kế bên là khách
sạn Continental (ở giữa), xéo bên đường là khách sạn Brinks)

A- Đêm đầu tiên ở Sài Gòn:

Sau cuộc tái ngộ của họ và vì trạng thái còn trái giờ của cô Bunny, cặp vợ chồng hạnh phúc nghỉ ngơi trong buổi chiều tối trước nửa đêm. Cả hai người họ đều ngủ say khi anh Gerry bị khuấy động bởi những âm thanh từ xa của cái gì mà anh ta tin là một loại trao đổi tiếng đạn pháo nào đó. Loại chuyện nầy không phải là điều bất thường. Anh Gerry có thể biết được sự khác biệt, thậm chí từ một khoảng cách, giữa lúc đang bay ra và đi đến, giữa tiếng súng Liên Xô và Mỹ. Anh ta ngồi dậy và đặt đôi chân của mình trên nền tại mép giường, giữ đầu mình trong tay khi anh ta lắng nghe. Cô Bunny vẫn đang ngủ say. Có những ánh chớp lờ mờ, ngay lúc đó của những người trong cuộc chiến trên vùng trời của anh ta mà qua đó lập lòe dội vào phòng của họ trong một thoáng.
Đột nhiên, trong khoảnh khắc nào đó ắt hẳn là hai hoặc ba giây, toàn bộ đêm Sài Gòn trở thành ban ngày. Bóng tối bị gián đoạn bởi sự sáng chói của ánh sáng mạnh mẽ gần như mặt trời giữa trưa. Như thể là một người nào đó đã bật hàng loạt ánh sáng lên qua công-tắc điện, và sau đó, giống như thể là quấy rối mọi người trong tầm nhìn, ngay lập tức bật nó xuống trở lại.

p490

Nhiều giây sau ánh chớp là đến âm thanh ầm ầm vang to khủng khiếp của tiếng nổ mà qua đó đã tạo ra ánh sáng ban ngày. Anh Gerry biết cái gì như mong đợi tiếp theo và nhanh chóng được chứng minh là đúng. Một sức ép của áp suất quá tải, không giống như bất cứ cái gì mà anh ta đã từng trải nghiệm từ một khoảng cách, quét vào trong phòng. Cô Bunny vẫn còn đang ngủ.
Những mảnh rèm của sổ bằng kiếng của căn phòng của họ bị thổi bay vào bởi một lực giông bão nhiệt đới trong tít tắt trên áp suất. Nếu anh Gerry đã và đang đứng lên và đối mặt ra phía ngoài, thay vì vẫn phải cúi nhìn qua với cái đầu hạ xuống, anh ta sẽ có khả năng bị đập vào mặt và thân thể mình bởi những mảnh kiếng được gởi bay đi khắp hết phòng của họ.
Thật cảm tạ, cái máy điều hòa không khí đã được mở lên. Cô Bunny được rúc người dưới những tấm vải phủ. Bất cứ mảnh kiếng nào có ở đó đi ngang một cách vô hại qua hoặc trên giường của cô ta không gây thương tích nào cho cô ấy; và khó có bất kỳ thương tích nào cho người chồng mình. Cánh cửa từ căn phòng của họ, vốn dẫn đến hành lang, đã bị thổi mở toang bởi luồng hơi gió. Anh Gerry điếng cả người. Cô Bunny cuối cùng cựa mình và đưa ra lởi nhận xét, hầu như vẫn còn đang ngáy ngủ: “Cái gì thế ? Em tưởng chuyện nầy luôn luôn xảy ra liên tục.” Sau đó, cô trở mình và cố gắng ngủ lại trước khi người chồng bắt đầu nói với cô ấy về chuyện gì vừa mới xảy ra.
Họ sẽ sớm nhận ra rằng một trái đạn pháo may mắn của kẻ thù đã phát nổ bên trong bãi chứa đạn dược quan trọng ngoài kia ở Biên Hòa, có thể cách xa từ 13 đến 16 cây số, gây ra hàng ngàn tấn súng ống đạn được trong toàn bộ bãi chứa phát hỏa cùng một lúc. Lúc đó, chính là vụ nổ lớn nhất, duy nhất làm rung chuyển khu vực Sài Gòn lớn hơn. Theo phong cách người vợ đích thực thuộc Quân đoàn TQLC, Bunny Turley vẫn tìm cách đánh giấc ngon lành.
Chuyến đi đến Việt Nam của Bunny Turley không phải là một kỳ nghỉ ngơi hoàn toàn cho người chồng của mình. Trong khi được phép lấy chút thời gian nghĩ, anh ta vẫn được yêu cầu làm việc một ít giờ hầu như mỗi ngày. Bunny Turley là hòn đá đang lăn theo như câu chăm ngôn vốn là người không tích tụ rong rêu. Trong nhiều lần trong những ngày ở đó, cô ta được hướng dẫn đi loanh quanh bởi người vợ của một sĩ quan Mỹ ngụ ở đó. Họ dành thời gian ở một cô nhi viện nơi mà ngay khi họ bước vào, họ được trao tay những đứa trẻ sơ sinh để đút thức ăn và chăm sóc như thể là họ đang làm những bổn phận gần như của người mẹ. Thậm chí có một ngày khi mà, chỉ một mình, cô Bunny cuốc bộ đường dài vòng quanh Sài Gòn trải nghiệm tiếp xúc với những người dân, những địa điểm, những mùi vị, và mua sắm bất thường. Chỉ là sau khi cô ta trở về mà qua đó người chồng của cô ta đã sửng sốt khi biết về việc cô ta bước vào một khu vực chợ đen bị hạn chế.

p491

Cho dù cô ấy đã từng thực sự gặp rủi ro nguy hiểm hay không, cô Bunny không bao giờ cảm thấy không an toàn, và những thường dân Việt Nam mà cô ta gặp phải trên những cuộc đi dạo của mình, dường như luôn tử tế đối với người phụ nữ Mỹ nhỏ nhắn vốn là người làm tiêu tan sự nghi ngờ nơi tất cả họ bằng nụ cười của mình và sự lấp lánh trong đôi mắt của cô ta.

(“Hòn đá đang lăn không tích tụ rong rêu” (“A rolling stone gathers
no moss”) là câu châm ngôn được nhìn nhận là của Publius Syrus,
vào thế kỷ thứ 1, trước Công nguyên. Theo ngụ ý thời đại là “người
không bao giờ thiếu những ý tưởng mới hay sự sáng tạo”)

Cô Bunny và anh Gerry cùng nhau tham dự tiết mục Giáng sinh cuối cùng nhất được điều khiển bởi Bob Hope ở Việt Nam mà qua đó bao gồm một đoàn thiếu nữ quyến rủ, điển hình của ông Hope. Thời gian của họ với nhau thì hoàn hảo như nó có thể; có lẽ, được tạo nên hoàn hảo hơn bởi sự kiện thực tế là họ đang ở trong một nơi đẹp kỳ lạ như thế vào một thời gian bất thường như vậy. Họ nhớ đến những đứa con của mình và tuy thế, giữ lấy niềm vui trong những trường hợp đặc biệt mà họ được phép trải nghiệm.
Thời gian ở Sài Gòn của cô Bunny thực sự được gia hạn thêm một ít ngày bởi vì nỗ lực tiếp tục tiến trình rút giảm những người phục vụ trong quân đội Mỹ. Buộc đôn lên ra khỏi một số lượng những chuyến bay ra nước ngoài để cho những quân nhân có thể rời khỏi, không phải một trong hai vợ chồng Turleys phàn nàn, và cặp vợ chồng vẫn còn đang yêu rất nhiều hưởng được thêm thời gian có nhau của họ.
Ông bà Trung tá Gerry Turley tìm cách nhồi nhét rất nhiều chuyện vui thích và những kỷ niệm, bỏ ra ngoài cuộc tấn công Biên Hòa, vào trong khoảng thời gian hạnh phúc quá ngắn ngủi của họ ở Sài Gòn. Đối với cô Bunny, chuyến đi của cô ta là một chuyến quân vụ thành công, và từ Bob Hope cô có thể mượn dòng chữ ký của ông ta và nói “Cảm ơn cho những kỷ niệm.”

B- Bản Tóm lược cho năm 1972:

Có một ít con số xác tín dành cho Hoa Kỳ khi năm 1972 kết thúc. Trong cả năm, số lượng những người phục vụ trong quân đội Mỹ bị thiệt mạng ở Việt Nam tổng kết là 300 người, mức thấp nhất kể từ năm 1964. Đến tháng Mười Hai năm 1972, có ít hơn 30.000 người Mỹ vẫn còn ở trong nước; hầu hết trong số họ là những quân nhân phục vụ và hỗ trợ. Đối với lực lượng VNCH,(pc 05) điều tốt nhất mà các nhà phê bình Mỹ có thể nói, là những con số thương vong chắc chắn đã được “Việt Nam hóa chiến tranh.” Gần 40.000 trong số những lực lượng VNCH được gợp lại đã bị thiệt mạng trong nhiệm vụ vào năm 1972; một con số cao nhất của bất cứ năm nào từ trước đến nay. Tình báo của đồng minh ước tính rằng kẻ thù đã mất hơn 100.000 người bị thiệt mạng trong nhiệm vụ; hầu hết những người đó từ nỗ lực xâm lược trong cuộc Tổng tấn công Nguyễn Huệ của họ (i.e. theo cách nói của Quân Bắc Việt mà đó chính là cuộc Tỗng tấn công Mùa Phục Sinh).

p492

Không có việc đếm chính xác cho con số của những thường dân bị giết chết và di tản gây ra kết quả từ cuộc xâm lược của kẻ thù.4
Trong khi cô Bunny và Gerry Turley đang thụ hưởng khoảng thời gian hạnh phúc ngắn ngủi của họ ở Sài Gòn, hình ảnh lớn hơn trên vấn đề của việc đàm phán nghiêm túc đang chuẩn bị mở ra. Trong những năm tiếp theo, sẽ có những lập luận và phản lập luận như là về tính chất hiệu quả của chiến dịch dội bom 12 ngày được điều hành bởi những người Mỹ trong tháng Mười Hai năm 1972. Nhiều người sẽ cho rằng nó mang ý nghĩa là để chứng tỏ cho Tổng thống Thiệu rằng Hoa Kỳ sẽ sát cánh với ông ta trong trường hợp có khả năng xảy ra của những việc vi phạm hiệp ước, như Tổng thống Nixon đã từng và sẽ tiếp tục hứa hẹn. Một số người tin rằng điều đó đến gần việc phá vỡ ý chí của những người Cộng sản miền Bắc và nên tiếp tục, cùng với những sự đòi hỏi những nhượng bộ của Hoa Kỳ từ họ. Các nhà phê bình lên tiếng nhiều nhất về việc dội bom đã lên án những hành động như là dã man và vô nhân đạo, và khẳng định rằng kết quả duy nhất là giết chết những người vô tội. Trong bất kỳ trường hợp nào có thể xảy ra, những người Cộng sản đã thực sự đồng ý quay trở lại bàn đàm phán ở Paris vào đầu tháng Giêng năm 1973.5

C- “Hiệp định Chấm dứt Chiến tranh và Khôi phục nền Hòa bình ở Việt Nam”:

Các điều khoản và những điều kiện của các cuộc đàm phán cuối cùng được chấp thuận vào tháng Giêng năm 1973 thì không khác biệt gì trên nguyên bản so với những thứ gần như được đồng ý vào tháng Mười năm 1972. Văn bản hợp pháp, quá mức dài dòng, được soạn thảo một cách kỹ càng có chủ ý phát họa đại cương mọi khía cạnh và tình huống nhằm bảo đảm một nền hòa bình đầy ý nghĩa và khả thi. Nó sẽ, dĩ nhiên, trở thành một phương tiện cứu cánh mà qua đó những người Cộng sản và giới truyền thông có thể đo lường hoặc hạn chế sự phản ứng của Mỹ.

(Tổng thống Nixon đang hội ý với ngoại trưởng Henry A. Kissinger ở
New York vào ngày 25/11/1972, sau khi vị cố vấn Tổng thống trở lại
từ những cuộc thương lượng bí mất kéo dài 1 tuần lễ ở Paris với Lê
Đức Thọ, người đại diện ngoại giao của Bắc Việt)

(Bốn phái đoàn đại biểu gồm (từ ở giữa bên dưới theo chiều kim đồng hồ) :
Hoa Kỳ, Chính phủ Cách mạng Lâm thời của miền Nam Việt Nam, Bắc Việt,
và Nam Việt, trong bàn tròn hội nghị Paris vào ngày 27/01/1973. Chỉ là một
hình thức hợp pháp hóa những thương lượng ngấm ngầm, bí mật trước đó giữa
ngoại trưởng Kissinger và Lê Đức Thọ trong rất nhiều lần, cũng tại Paris. Và
đây chính là một cuộc mua bán hợp pháp hóa miền Nam Việt Nam)

Hiệp định kêu gọi cho một cuộc đình chiến hoàn toàn trên những vùng thù nghịch khắp Việt Nam lúc 2400 Giờ Trung gian Greenwich vào ngày 27 tháng Giêng năm 1973 (lúc 0800 giờ vào ngày 28 tháng Giêng ở Việt Nam). Hoa Kỳ đồng ý chấm dứt tất cả các hoạt động quân sự khắp khu vực cũng như bắt đầu việc tháo bỏ và gở ngòi nổ tất cả các bãi mìn mà họ đã đặt ở những bến cảng miền Bắc và những sông qua lại. Tất cả những hành động của lực lượng trên bộ, biển, và trên không đều bị cấm ngặt. Sẽ không có những hành vi khủng bố hay trả thù nào. Hoa Kỳ đồng ý rút đi những lực lượng của mình, ngoại trừ một số lượng rất ư là nhỏ của các nhân viên an ninh và hậu cần, khỏi Việt Nam trong vòng 60 ngày. Cũng sẽ có một cuộc trở lại nhanh chóng của những tù binh chiến tranh.

p493

Cả hai quốc gia Việt Nam được phép tái tiếp tế cho guồng máy mà họ đã có rồi. Không có một cơ chế nào để đo lường một cách hiệu quả những gì mà Quân Bắc Việt sở hữu, nhưng kể từ khi VNCH(pc 05) được tài trợ sự chấp thuận của Quốc hội, việc theo dõi những gì mà chúng được gởi đi hoặc không được gởi đi, trở thành thông tin rất công cộng.
Để giám sát và thực thi hiệp định ngưng bắn, một sự sắp xếp theo kiểu triều đại Byzantine (i.e. ám chỉ một guồng máy vững chắc) gồm nhiều ủy ban được thành lập. Trước tiên là Ủy ban Quân sự Bốn bên. Nó bao gồm các đại diện của những người miền Bắc Việt Nam và Việt Cộng cùng một phe, và miền Nam Việt Nam và Mỹ cùng một bên khác. Một ủy ban khác, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát (ICCS = International Commission of Control and Supervision), là một ủy ban có nghĩa là để thi hành và giám sát sự chuyển đổi đến hòa bình. Hai trong số các phe nhóm tham gia là từ thế giới Cộng sản và hai phe nhóm khác là từ thế giới phi-Cộng-sản. Bốn phe nhóm ban đầu là Hungary và Ba Lan, và Canada và Indonesia.*6
Những người Mỹ bây giờ có thể rời khỏi Việt Nam dưới sự che chở của hiệp định khó thắng lợi nầy. Tổng thống Nixon, vào ngày 23 tháng Giêng năm 1973, sẽ công bố “Hòa bình trong Danh dự” trong một bài nói chuyện được truyền hình cho thế giới. Không lâu, điều đó sẽ nhanh chóng trở nên rõ ràng rằng không có hòa bình gì hết, và chắc chắn là không có danh dự nào.

(Giới truyền thông của Mỹ hân hoan đón nhận tin cuộc ngưng chiến ở
Việt Nam sau ngày ký kết bản án hành quyết chính quyền VNCH trong
cuộc hợp thượng đỉnh ở Paris do chính Hoa Kỳ chủ xướng)

=============
* Tình trạng của người quan sát của các đảng viên Cộng sản đã nhanh chóng được nhìn nhận như là không có gì khác hơn một phương pháp có thẩm quyền do hiệp ước mà theo đó họ có thể di chuyển xung quanh những vị trí của Việt Nam theo ý muốn, qua việc vẽ bản đồ và chụp ảnh bất cứ cái gì mà họ muốn. Từ tháng Hai đến tháng Sáu năm 1973, những lực lượng VNCH(pc 05) theo dõi một cách bất lực khi những sĩ quan và hạ sĩ quan quân sự Hungary tiến hành việc dọ thám / thám thính trắng trợn của họ. Vào tháng Sáu, việc đó được chú ý là các tay đặc công của đối phương đã phá hủy ít nhất là hai cơ sở rất quan trọng –một khu vực lưu trữ nhiên liệu tại Doanh trại Evans và bãi chứa đạn dược ở Phú Bài– theo sau những chuyến viếng thăm của những người Cộng sản Hungary (Trung tướng Lâm Quang Thi, “Một thế kỷ Hai mươi Lăm năm,” trang 296–297).

(Cuốn sách “The Twenty-five Year Century” (“Một thế kỷ Hai mươi
Lăm năm”) của Trung Tướng Lâm Quang Thi, được ấn bản vào năm 2002)

=============

p494

Anh Turley trên phía bắc trong Ngày ngưng Bắn
Làng Hương Diện ven biển –phục vụ như là một trụ sở tiền phương
của Sư đoàn TQLC VNCH khoảng 55 km về phía nam của
Khu phi Quân sự và 20 km về phía đông bắc của thành phố Huế
Ngày 28 tháng Giêng năm 1973
0745 giờ địa phương

Có mười lăm phút còn lại trước khi cuộc ngưng bắn chính thức được công bố sâu rộng, cuộc đình chiến mà Vị Tổng thống Nixon đã mô tả như là một nền “Hòa bình trong Danh dự,” sắp trở nên hiệu lực. Những người Cộng sản xâm lược và những người lính miền Nam Việt Nam, cả hai tiếp tục cuộc đấu tranh của họ để kiểm soát phần nhiều lãnh thổ như họ có thể trước khi họ được giả định là chấm dứt những thù nghịch. Người ta ước tính rằng những người Cộng sản đã kiểm soát khoảng 15 đến 25% địa hình của đất nước và nhiều như 15% dân số, cùng với nhiều như 145.000 cán binh vẫn còn trong miền Nam.7 không có những lực lượng VNCH nào trong đất nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắt Việt). Không người công dân Việt Nam hữu lý nào mong đợi những người Cộng sản tuân theo hiệp định được đặt bút ký kết ở Paris, hoặc ở bất cứ nơi nào khác cho vấn đề đó.
Một sự việc trớ trêu nhỏ nhoi vào lúc đó không mất đi trong tâm trí của Trung tá Gerry Turley. Ở ngoài khơi, nằm ngoài trên tuyến pháo, là hai hoặc ba chiếc tàu khu trục còn lại của Mỹ chuyển đưa những cú gọi cuối cùng cho sự giúp đỡ của hỏa lực. Cho đến khi buổi chiều tối hôm trước, những chiếc tàu đã bắn tổng cộng 1.300 đạn pháo mỗi ngày. Đa số các đội tàu nhỏ của Hải quân đã thực sự rút đi khỏi khu vực rồi, đang theo hướng trở lại vịnh Subic ở Philippines nơi mà những chàng thủy thủ trẻ có thể đam mê trong những thứ mà những thanh niên mê thích.
Trong số các con tàu còn lại là chiến hạm USS Turner Joy (số hiệu là DD-951). Trường hợp mà hầu hết những người Mỹ bình thường có thể đã quên mất đi, anh Turley và tất cả những người khác có mặt lúc đó đều biết. Chiến hạm Turner Joy đã từng là một trong hai chiếc tàu của Hải quân Hoa Kỳ tham gia trong biến cố Vịnh Bắc Bộ vào tháng Tám năm 1964 vẫn còn gây tranh cãi, một hành động mà qua đó khiến sớm dẫn đến một cách hiệu quả sự tham gia cả nước Mỹ vào Việt Nam.** Trong vị thế hiện thời của anh ta, việc đó trội hoặc kém hơn đặc quyền của anh ta để gọi vào cái gì đó sẽ là một sứ mệnh cuối cùng của Hải pháo trước khi lệnh ngưng bắn trở thành hiệu lực. Điều đó dường như đối với anh Turley chỉ phù hợp là kể từ khi chiến hạm Turner Joy đã có mặt ở đó để bắt đầu tất cả việc đó, chiến hạm đó đáng lý ra là con tàu có được cơ hội cuối cùng. Khi anh ta gọi ra đến những con tàu, anh ta đặc biệt yêu cầu chiến hạm đó khai pháo cho sứ mệnh cuối cùng, mà qua đó con tàu đã làm với sự phô trương rất ít.

(Chiến hạm USS Turner Joy (DS-951) là một trong hai con tàu còn lại
ở ngoài khơi Việt Nam chuyển đưa những cú gọi cuối cùng cho sự giúp
đỡ của hỏa lực vì mặc dù cuộc ngưng bắn đã được công bố nhưng chiến
sự giữa hai lực lượng thù nghịch Bắc-Nam Việt Nam vẫn tiếp diễn)

=============
** Con tàu khác là chiến hạm USS Maddox (ký hiệu là DD-731). Chiến hạm Maddox đã ngưng hoạt động vào năm 1969 và sau đó được bán cho Đài Loan.

(Chiến hạm USS Maddox (DD-731) chính là con tàu thứ hai còn
lại ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam sau cuộc ngưng bắn)

=============

p495

Sáng hôm sau, Trung Tá Gerry Turley tìm thấy chính mình đơn độc với Chuẩn Tướng Bùi Thế Lân, vị Tổng tư lệnh Quân đoàn TQLC Việt Nam. Một sự im lặng, một sự thiếu vắng hoàn toàn tiếng đạn pháo đang đi ra hoặc đang bay vào, có vẻ là rất không thích hợp mà hầu như đang tạo ra sự sửng sờ, bối rối. Đồng thời, anh Gerry không thể không chú ý, chỉ giống như anh ta đã có trong ngày trước khi cuộc Tổng tấn công Mùa Phục Sinh đã được tung ra khi anh ta đã bay về phía bắc với Thiếu tá Joy Jim, qua việc quan sát tất cả cuộc sống hàng ngày đang tiếp tục diễn ra xung quanh mình, như thể không có cuộc chiến tranh nào cả. Sự kiên trì và khả năng phục hồi của những người dân Việt Nam bình thường tiếp tục gây ngạc nhiên cho anh Turley.
Đi bộ qua ngôi làng nhỏ mà qua đó, giống như vô số những ngôi làng khác trên khắp tỉnh Quảng Trị và tất cả những khu vực đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh, đang làm tất cả những gì mà họ có thể để lấy lại trạng thái bình thường từ một thuở nào đó trước đây, hai chiến binh cao cấp đi thong thả không có mục đích cụ thể hoặc điểm đến mà chỉ là để họ có thể trò chuyện như những người bạn mà họ đã trở thành hơn một ít tháng vừa qua. Anh Gerry cảm thấy một sự tôn trọng sâu sắc, thật sự đối với người đàn ông nầy với sức nặng của thế giới trên của đôi vai ông ta. Một số ít người trong kinh nghiệm lâu dài của anh Turley có phần nhiều cảm nhận hay niềm đam mê cho công việc đến nổi hiện thời vẫn còn mà những người Mỹ đang bỏ lại.
Đối với những người Mỹ, những vị cố vấn sắp rời khỏi, tâm trạng thường sôi nổi, hân hoan. Cuộc chiến tranh của họ đã kết thúc. Nếu họ bị giết chết bây giờ, điều đó sẽ chỉ là do lầm lẫn. Họ sắp sửa về quê nhà. Cách xa khỏi vùng phía bắc tỉnh Quảng Trị. Không có Quân Bắc Việt nào trong tiểu bang California hay Virginia hoặc tiểu bang Iowa hay Texas. Ngay cả mặc dù có những người dân phản đối chiến tranh, vốn là những người thậm chí có thể có sự táo bạo khi nói những điều không ác ý với họ, không một ai ở quê nhà đang cố gắng giết chết họ hoặc xâm lăng đất nước họ. Cuộc ngưng bắn hiện thời có hiệu lực đã thực sự cho phép những kẻ xâm lược giữ lấy những phần chia phía bắc của tỉnh tiếp giáp với Khu phi Quân sự và Lào, cũng như những phần đất khác của VNCH.(pc 05) Có phải chăng những người Mỹ đã sẽ nhượng lại một phần của tiểu bang Minnesota cho Canada hoặc thành phố San Diego cho Mexico không ? Đó là một viên thuốc đắng, rất đắng gắt cho vị Tổng tư lệnh Việt Nam và những binh lính TQLC của mình nuốt lấy.

p496

Những người Mỹ đã từng chiến đấu tận lực; từng đưa ra rất nhiều hơn so với cái gì mà hầu hết những người Việt Nam yêu chuộng tự do đã từng mong đợi. Cuộc chiến đấu mà họ đã thực hiện, bây giờ không còn là của họ, mặc dù họ sẽ vĩnh viễn bị thay đổi bởi việc phục vụ đó. Đối với các sĩ quan TQLC Mỹ hiện tại, sẽ có nhiệm vụ khác, những trọng trách khác ở những phần đất khác của thế giới; thứ công cụ cho “mỗi vùng và mỗi nơi,” những công việc nhằm mở rộng sự hiểu biết cho họ ra thêm, chuẩn bị cho họ thêm nhiều trách nhiệm hơn và quyền chỉ huy cao hơn, thời gian dành cho gia đình và kỳ nghỉ phép được mở rộng, những chuyến đi đến khu giải trí Disneyland hoặc Thung lũng Hùng vĩ (Grand Canyon). Đó là điều khác biệt đối với những quân nhân Việt Nam.
Người ta không cần phải là vị Tổng tư lệnh của lực lượng TQLC(pc 01) để biết rằng đối với những binh lính TQLC Việt Nam, sẽ chỉ có thêm nhiều cuộc chiến tranh hơn –nhưng hiện thời không có sức mạnh hỏa lực của Mỹ.
Anh Gerry và vị Tổng tư lệnh đi bộ dọc theo, xuyên qua một thôn rất nhỏ và xuống một con đường hẹp vốn dẫn về hướng nhiều hecta đồng ruộng lúa, và sau đó tiếp tục về hướng một ngôi làng khác nếu đã họ tiếp tục đi tới. Ở tại nơi nào đó sẽ là một giới hạn tự nhiên của việc đi tới của họ trước khi chuyển hướng cuốc bộ trở lại đến nơi mà những người khác, các sĩ quan Mỹ và Việt Nam, đang chờ đợi cho hai quay trở lại, chính là Tướng Lân vốn là người đưa ra lời phát biểu mạnh mẽ nhất sau khi những lời pha trò thanh lịch đã được trao đổi. Vị Tổng tư lệnh ghi nhận những đóng góp của những người bạn Mỹ của mình từ ngay lúc bắt đầu vào năm 1954. Quá nhiều những người rất ưu tú. Quá nhiều sự hy sinh cao thượng. Anh Turley đáp lại bằng cách mô tả những thành công ngày càng tăng của lực lượng TQLC và sự ghi chép của họ như là những chiến binh. Họ tiếp tục cuốc bộ.
Vị Tướng là một người hiện thực; ông ta hiểu kẻ thù của mình. Ông ta biết rằng hiệp định ngưng bắn chỉ là một mảnh giấy, có nghĩa là để làm thỏa mãn những người Mỹ háo-hức-cho-việc-giải-quyết. Họ dường như đối với ông ta giống như Neville Chamberlain vốn là người đã tuyên bố trước đây 34 năm một cách mạnh dạn nhưng ngây thơ là “Hòa bình trong thời đại của chúng ta.” Turley không thể không đồng ý.

(Arthur Neville Chamberlain, vị Thủ tướng Anh Quốc, đang hân hoan
đưa cao tờ giấy được ký kết giữa ông ta và Hitler –Hiệp định Munich
1938– qua chuyến trở về từ thủ đô Munich, Đức, tại phi trường Heston.
Và mạnh dạn tuyên bố “Hòa bình trong thời đại của chúng ta.”
Tên ông ta đứng đầu trong cuốn sách “Guilty Men” (“Những người
Có tội”) liệt kê 15 chính khách Anh Quốc đáng tội với nước Anh)

Đến đầu năm 1973, trong số một dân số tổng cộng vào khoảng 17 triệu công dân, lực lượng Việt Nam có hơn trên một triệu người được trang bị vũ khí. Trong số hơn triệu người Việt Nam đó, hiện thời có gần khoảng 15.000 binh lính TQLC. Họ đủ mạnh để tạo nên sự khác biệt, nhưng không đủ lớn để làm nên sự khác biệt cho tất cả. Giỏi như họ đã là, kiên trì như họ đã từng chiến đấu và sẽ tiếp tục chiến đấu, ông Lân biết rõ những thách thức phía trước.

p497

Họ sắp kết thúc cuộc đi dạo của họ, chỉ sau khi vị Tướng nói với người bạn của mình trong một phong cách thẳng thắn, chừng mực nhẹ nhàng, và không có sự buộc tội trả lại, qua việc đề cập đến sự chấm dứt tiếng súng Hải quân của Mỹ và sự hỗ trợ của Không quân: “Hôm nay chúng tôi đã mất đi cánh tay phải của chúng tôi.” Ông ta quá đúng, và anh Turley không thể nào đưa ra lời đáp lại. Một cách yên lặng họ cuốc bộ trở lại phân khu trụ sở chính của sư đoàn.
Theo đúng với những quy tắc được tuyên bố rất công khai về hiệp định ngưng bắn hiện thời trong hiệu lực, những quân nhân TQLC Mỹ ngay lập tức cần phải rời khỏi chiến trường. Trước khi bay ra khỏi, những người Mỹ và những chủ khách của họ hợp lại với nhau trong một lần cuối cùng như là một nhóm. Tướng Lân trao những tưởng thưởng cho tất cả những vị cố vấn, đích thân cám ơn mỗi người khi mỗi tưởng thưởng được gắn trên ngực áo. Có sự chúc mừng tốt đẹp và tình bạn hữu trong nhóm mà qua đó được hòa trộn với sự trang trọng và một chút sầu muộn. Sau đó trong ngày, tất cả các vị cố vấn, ngoại trừ anh Turley và bốn người khác, sẽ ở trên chiếc máy bay vận tải C-130 bên ngoài Phú Bài theo hướng đến Sài Gòn. Anh Gerry và nhóm nhỏ của mình sẽ còn ở lại thêm một ít ngày trước khi họ cũng sẽ theo hướng về phía nam và cuối cùng về quê nhà. Khi nhóm của anh ta rời khỏi, họ sẽ đóng lại mãi mãi, sau khi viết đoạn cuối cùng của một chương cuối về việc phục vụ TQLC Mỹ 18 năm trời với những “Cổ Áo Da” Việt Nam anh em của họ trong cuộc chiến tranh trên bộ mệt nhòi của khu vực Đông Nam Á.

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 02_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 03_ “Tổng thống Thiệu và hầu hết những người trong chính phủ của mình, vốn là những người không được trực tiếp tham gia trong các cuộc đàm phán… ” : điều nầy cho thấy rõ ràng là một sai lầm rất lớn của chính quyền Hoa Kỳ khi họ không muốn chính phủ đại diện cho miền Nam Việt Nam đứng ra đàm phán với phía bên kia là chính phủ đại diện cho miền Bắc Việt Nam. Trong khi chính Hoa Kỳ luôn cho rằng đó là cuộc một nội chiến giữa hai miền đất nước, và cuộc chiến nầy là của chính phủ miền Nam Việt Nam, thì lấy danh nghĩa gì mà Hoa Kỳ đứng ra đàm phán với phía bên kia ? Đó là điều thất thế quá rõ mà Hoa Kỳ biết chắc rằng những gì mà Hoa Kỳ đòi hỏi đó sẽ không được Hà Nội chấp thuận một cách dễ dàng; trừ khi nào chính Hoa Kỳ sẽ phải đưa ra những nhượng bộ khác.
Những nhượng bộ mà Hoa Kỳ không muốn chính quyền miền Nam Việt Nam nghe thấy trong lúc đàm phán. Vì vậy, Hoa Kỳ không muốn để chính quyền miền Nam Việt Nam tự đứng ra giải quyết. Hoa Kỳ luôn luôn lo lắng đến những lợi ích của riêng họ trước nhất và nhất là vấn đề mặt mũi trước thế giới khi nếu cần phải nhượng bộ cái gì đó cho Hà Nội. Và sự lo lắng nầy đã trở thành điểm yếu nhất mà bất kỳ ai có chút ít kiến thức cũng có thể nhìn thấy và hiểu rõ. Dĩ nhiên là Bắc Cộng không bao giờ bỏ qua cơ hội hiếm hoi đó.
Cái tài ba của nhà ngoại trưởng Henry Kissinger của Hoa Kỳ hóa ra lụn bại hoàn toàn trong sách lược trong những cuộc đàm phán dài nhằng, nhiều lần, lôi thôi, đầy vụng về của Hoa Kỳ khi họ tự cho đối phương thấy quá rõ thế yếu nhất của mình. Và cái thế không chính nghĩa của Hoa Kỳ trong cuộc Chiến tranh Việt Nam. Mà đáng lý ra, Hoa Kỳ chỉ nên đóng vai người tham dự hơn là chủ chốt trong vấn đề đám phán của Việt Nam. Mà đáng lý ra, Hoa Kỳ chỉ nên mở những cuộc ngoại giao bên ngoài với những nước khác hầu thu lấy sự ủng hộ thuận lợi cho cuộc đàm phán của chính quyền miền Nam Việt Nam hơn là chính họ lại mở những cuộc thương lượng ngầm, bí ẩn, len lút với Bắc Cộng, sau lưng chính quyền miền Nam Việt Nam –một chính quyền mà họ từng gọi là đồng minh trong cuộc chiến chống lại làn sóng Đỏ mà cũng là lợi ích phòng thủ cho chính nước Mỹ.

pc 04_ “Những người Cộng sản đưa ra ý muốn là họ sẽ sắp xếp một cuộc ngưng bắn với những người Mỹ và để lại các vấn đề chính trị cho thời gian sau nầy được quyết định bởi những người Việt ở cả hai bên.” : đây là một đòn chiến lược xảo trá, quỷ quyệt của Bắc Cộng để loại bỏ một địch thủ đáng ngại nhất về sức mạnh vũ khí trong sự hỗ trợ hỏa lực hơn là sức mạnh về tác chiến không đáng kể lắm. Và nhất là sức mạnh tác chiến đó đã biến mất trong năm 1972 khi mà cuộc rút quân ào ạt của những binh lính TQLC Hoa Kỳ sắp hoàn tất.
Không có sự hỗ trợ của Hải pháo và Không quân Hoa Kỳ, những lực lượng của QĐVHCH với những vũ khí kém cỏi, thiếu tân tiến, thiếu tiếp viện dồi dào để bổ sung và sửa chữa, với sự trải quân bao rộng phải nhờ vào những đội trực thăng vận chuyển mà phần lớn là do chính những phi công Hoa Kỳ mới được phép thực hiện, và với những hạn chế về số đông nhân lực phải trấn giữ những tiền đồn xa xôi nhưng quá phơi lộ, phải chống trả biển người tấn công của Quân Bắc Việt thường gấp ít nhất là 3 lần trở lên. Đó chính là khoảng trống của cánh cửa được mở toang bởi Hoa Kỳ cho Quân Bắc Việt dễ dàng tiến chiếm và bao phủ những vùng đất của miền Nam Việt Nam.
Có phải chăng Hoa Kỳ không nhìn thấy điều đó, trong khi Lầu Năm Góc chứa đựng những thiên tài quân sự của Bộ quốc phòng Hoa Kỳ ? Chắc chắn là không ! Họ biết và có thể cũng đã lường trước được ý muốn của Hà Nội trước khi đề nghị được đưa ra. Tuy nhiên, trong vấn đề chính trị luôn luôn ẩn chứa những gian xảo chực chờ vì lợi ích riêng trên hết.

pc 05_ VNCH : Việt Nam Cộng hòa.

One thought on “Phần 35: “Một cuộc Ngưng bắn”

  1. Pingback: Buổi Lễ Trình Chiếu Phim “Ride The Thunder” (Lý Văn Quý – Việt Thức) | Ngoclinhvugia's Blog

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s