Một đêm Khủng khiếp ở xã Thanh Phong

Một đêm Khủng khiếp ở xã Thanh Phong

(One Awful Night in Thanh Phong)

Của Gregory L. Vistica(pc 01)
Được ấn hành: ngày 25 tháng Tư, 2001

Hai bàn tay của vị Thượng Nghị sĩ Bob Kerrey hơi run lên khi ông ta bắt đầu đọc sáu trang tài liệu vốn vừa mới được trao cho ông ta. Lúc đó là vào cuối năm 1998; những tờ giấy thì gần như 30 củ kỷ. Trong sự đối mặt với vấn đề đó, những tờ giấy là những báo cáo thường lệ “sau khi hành động” trong cuộc chiến đấu về loại chiến trường nào đó bởi hàng ngàn người trong suốt Chiến tranh Việt Nam. Nhưng ông Kerrey biết rằng những trang giấy đó giữ lấy một bí mật cá nhân –về một sự kiện rất đau thương mà ông ta cho rằng có lần nó xui khiến những suy nghĩ tự tử thoáng qua.
Kéo những tờ tài liệu đến trong phạm vi đôi mắt mình, ông ta đọc một cách chăm chú về thời gian của mình khi còn là một thành viên của lực lượng Seals Hải quân và về sứ mệnh vào năm 1969 mà qua đó tuy nhiên đã xảy ra một cách sai lầm khủng khiếp. Như là một vị Thiếu úy 25 tuổi, chưa có kinh nghiệm, ông Kerrey dẫn dắt một đội biệt kích trong một cuộc đột kích vào một thôn quê cách biệt được gọi là Thanh Phong ở vùng phía đông Đồng bằng Cửu Long thuộc Việt Nam. Trong khi những nhân chứng và những hồ sơ chính thức đưa ra những lời tường thuật khác nhau về chuyện gì xảy ra một cách chính xác, một điều chắc chắn là: khoảng nửa đêm vào ngày 25 tháng Hai năm 1969, ông Kerrey và những người lính của mình giết chết ít nhất là 13 phụ nữ và trẻ em không vũ trang. Một chiến dịch tàn bạo; trong nhiều tháng sau sự kiện đó, ông Kerrey nói, ông ta sợ rơi vào trong giấc ngủ bởi vì những cơn ác mộng khủng khiếp vốn ám ảnh ông ta.
Những đêm thao thức hầu hết nằm ở phía sau ông ta hiện thời, những giấc mơ của ông ta về Việt Nam phản ảnh nhiều hơn. Một trong những giấc mơ đó, mà ông ta nói, trở lại rất thường xuyên, là về một người chú vốn là người đã mất tích trong nhiệm vụ trong suốt Thế Chiến thứ II. “Trong giấc mơ của mình, tôi sắp sửa đến Việt Nam,” ông Kerrey đã viết trong một nhắn tin qua e-mail vào cuối tháng Mười Hai. “Ông chú cảnh giác tôi rằng sự nguy hiểm to lớn nhất của chiến tranh không phải là mất đi sinh mạng của con, nhưng là lấy đi những mạng sống của người khác, và rằng sự dã man của con người là một con dốc rất trơn.”
Ông Kerrey –vốn là người đã rời khỏi vai trò Thượng nghị Sĩ vào tháng Giêng và bây giờ là Hiệu trưởng Đại học New School (Trường Mới) ở New York– nói rằng ông ta đã từng trải qua ba thập kỷ vừa qua tự hỏi nếu ông ta đã có thể làm một cái gì đó khác hơn vào đêm đó ở xã Thanh Phong. “Đó là điều hơn hẳn một cảm giác tội lỗi,” ông ta đã nói vào buỗi sáng hôm đó trong năm 1998. “Đó là điều hổ thẹn. Bạn có thể không bao giờ, không bao giờ có thể thoát khỏi nó. Nó làm tối đen một ngày của bạn. Tôi đã nghĩ rằng việc chết đi cho đất nước của bạn là một điều tồi tệ nhất vốn có thể xảy ra cho bạn, và tôi không nghĩ rằng nó là thế. Tôi nghĩ rằng việc giết người vì đất nước của bạn có thể tồi tệ hơn nhiều. Bởi vì đó là ký ức vốn sẽ ám ảnh bạn.”

(Joseph Robert “Bob” Kerrey, từng là Thống đốc tiểu bang Nebraska
(1983–1987), Thượng nghị Sĩ Hoa Kỳ từ Nebraska (1989–2001), và là
Hiệu trưởng Đại học New School ở thành phố New York (2001–2010))

Ông Kerrey đặt những tài liệu xuống. Ông ta rõ ràng chưa được bình tỉnh không phải chỉ bởi những nội dung của chúng mà còn bởi sự nhận thức rằng bốn thành viên của đội Seals của ông ta đã thực sự nói về sứ mệnh đó rồi. Tôi đã nghe nói về xã Thanh Phong một cách gián tiếp từ một trong những người đó, Gerhard Klann. Ông Klann, một thành viên giàu kinh nghiệm nhất của tiểu đội Seals của ông Kerrey, đã từng rất băn khoăn bởi những ký ức của mình về cái đêm mà ông ta đặt tin tưởng vào vị chỉ huy vốn là người, nhiều năm sau đó, kể lại câu chuyện với tôi. Mà qua đó thúc đẩy việc tìm kiếm các tài liệu. Những tài liệu đó được tìm thấy sau một cuộc kiểm tra ba-tháng hàng ngàn trang báo cáo và những thông báo của lực lượng Seals được xem là hồ sơ mật và hồ sơ phát tán vốn đã được bỏ vào hộp trong kho lưu trữ của Hải quân kể từ khi cuộc chiến tranh.
Những báo cáo sau-khi-hành-động cung cấp bằng chứng cụ thể đầu tiên về những sự kiện khủng khiếp, mà ông Kerrey khó mà phát biểu ngay cả trong cuộc trò chuyện riêng, và ông ta phản ứng một cách cau có khi được hỏi về điều đó. “Có một phần trong tôi vốn muốn nói cho anh bạn tất cả những ký ức mà tôi đã có, là những điều ghi nhớ của tôi, và tôi sẽ không nói về chúng,” ông ta cho biết. “Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ đến đó để chiến đấu cho dân Mỹ. Chúng tôi trở lại, chúng tôi phát hiện ra rằng dân Mỹ không muốn chúng tôi làm điều đó. Và kể từ thời điểm đó, chúng tôi đã bị châm chọc, bị xoi mói, bị ép phải tuân theo, bị đâm xiên trên con suốt, bị cắt xẻo, và tôi không thích điều đó. Một phần của việc sống với ký ức, một số trong những ký ức đó, là để quên chúng đi. Tôi từng có quyền nói với anh bạn rằng chuyện đó không ăn nhậu gì đến anh bạn. Tôi mang những ký ức về những gì tôi đã làm, và tôi tồn tại và sống được dựa trên nhiều cơ chế khác nhau.”
Cuộc gặp gỡ đầu tiên nầy xảy ra vào một thời điểm phức tạp đối với ông Kerrey, vốn là người chỉ còn không nhiều ngày từ việc công bố liệu ông ta sẽ ra tranh cử lần thứ hai cho chức vụ tổng thống và thách thức Phó Tổng thống Al Gore cho việc đề cử của đảng Dân chủ năm 2000. Đẹp trai và quyến rũ, một chính trị gia xảo quyệt với một trí tuệ sắc sảo, ông Kerrey được hầu hết mọi người xem như là một ứng cử viên đầy thu hút. Ông ta là một đảng viên Dân chủ được đại diện lên tiếng nói với một sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với phe độc lập. Có một sự quyến rũ về chuyện tình yêu của ông ta phần nhiều được biết đến công khai trong khi còn là vị Thống đốc của tiểu bang Nebraska, với Debra Winger, một nữ diễn viên. Và ông ta là một vị anh hùng trong chiến tranh. Mặc dù ông ta hiếm khi mang nó, ông ta là người nhận Huân chương Danh dự –được tưởng thưởng cho ông ta sau khi ông ta bị mất đi một phần chân trong suốt sứ mệnh cuối cùng của mình ở Việt Nam.

(Trưởng đội Seals Hải quân, Bob Kerrey đang được
nhận Huân chương Danh dự từ Tổng thống Nixon)

Ông Kerrey biết rằng một cuộc đua tranh cử đối lại một người đương nhiệm như là ông Gore sẽ là một cuộc đấu tranh khó khăn như leo dốc, gây khó chịu. Hầu như sự kiện thực tế nầy, ông ta nói, và những nghi ngờ về sự dốc lòng của mình để tiến hành một cuộc vận động khó khăn như thế, mà qua đó thúc đẩy ông ta phải bỏ cuộc, mà ông ta đã làm ngay trước khi dịp lễ Giáng sinh. Hơn một ít năm sau đó, ông ta sẽ làm giật mình thậm chí những người bạn của mình bằng sự tuyên bố rằng ông ta sẽ không tìm kiếm một nhiệm kỳ thứ ba trong Thượng viện, mặc dù những con số bình chọn thuận lợi một cách tràn đầy.

Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng Giêng, ông Kerrey nói rằng những hành động của mình ở Việt Nam không có mang lấy ảnh hưởng nào trên quyết định của ông ta bỏ ngang cuộc đua chính trị bầu cử, tổng thống hay cái gì khác. Ông ta nói rằng ông ta rời khỏi chính trị đơn giản chỉ vì ông ta muốn theo đuổi những thách thức khác –riêng biệt là trong giáo dục– trong khi ông ta vẫn còn tương đối trẻ.
Hơn hai năm rưỡi qua, ông Kerrey đã từng nói rất nhiều trong ba cuộc phỏng vấn riêng biệt –cũng như trong rất nhiều cuộc gọi điện thoại và nhiều tin gởi qua e-mail và trên những bữa ăn tối giao tiếp– về những gì đã xảy ra ở xã Thanh Phong. Sau sự ngập ngừng ban đầu của mình, ông ta đã sẵn sàng nói chuyện, và có những lần gần như thú tội, về những sự kiện của ngày 25 tháng Hai năm 1969. Ông ta đã làm như thế “không phải bởi vì sự giải thích công khai sẽ giúp tôi,” ông ta viết trong tin gởi qua e-mail vào tháng Mười Hai, “nhưng bởi vì nó chỉ có thể giúp đỡ người nào khác.”
Điều đó trở nên rõ ràng khi ông ta nói rằng ông ta vẫn còn đang vật lộn với những sự kiện của đêm đó, đang chiến đấu chống lại những thay đổi bất thường của ký ức để tái tạo những gì đã xảy ra ở xã Thanh Phong và điều gì ông ta có thể làm để ngăn chận nó. Ông ta đã nói chuyện với rất ít người về biến cố đó. Khi sự phát hành bài viết nầy đến gần, ông ta bắt đầu nói chuyện với những người khác, và lần đầu tiên nói một cách công khai qua phiên bản của mình về sự việc đó 11 ngày trước đây trong một bài phát biểu trước những sinh viên sĩ quan tại Học viện Quân sự Virginia. Ông ta nói rằng những người trong đội Seals của ông ta chỉ mới bắt đầu thảo luận về vấn đề xã Thanh Phong với nhau.
Ông Kerrey nói rằng ông ta không lo ngại khi chấp nhận trách nhiệm về sự việc hoặc nhận lấy vai trò của mình trong đó. “Nỗi sợ hãi thúc đẩy duy nhất mà tôi có, là một ngày nào đó tôi sẽ phải đối mặt với Thượng Đế của tôi. Ý kiến của những người khác là quan trọng, nhưng nó càng ít thúc đẩy tôi càng tốt hơn.” Ông ta không phải chịu ảo tưởng nào về những tác động ngược lại của sự việc. “Đó sẽ điều rất thú vị để xem những phản ứng đối với câu chuyện. Tôi muốn nói là, bởi vì trên cơ bản, anh bạn đang nói về một người đàn ông vốn là người giết hại những thường dân vô tội.”

Vào mùa đông năm 1969, một vài ngày sau khi đội bóng cầu dục New York Jets giành được cúp Super Bowl, một chiếc máy bay quân sự cất cánh từ phi trường ở Trạm Không lưu Hải quân Bắc Đảo đang nằm dài ra ở thành phố nghĩ mát Coronado, thuộc tiểu bang California. Được nhét đầy bên trong là anh chàng Kerrey và một đội súng hăng hái của anh ta, trên đường của họ để tham gia trận chiến ở Việt Nam.
Những biệt kích Seals (là cái tên tượng trưng cho những chữ SEa-Air-Land unitS (những đơn vị chiến đấu trên Biển, trên Không, trên Bộ) bắt đầu như là những đội phá hoại dưới nước trong Thế Chiến thứ II. Trong suốt thời kỳ Việt Nam, họ tiến triển trở thành những đơn vị lực lượng đặc biệt, được huấn luyện để hoạt động phía sau những tuyến phòng địch, thu thập thông tin tình báo và tiến hành những việc ám sát. Theo chính thức, nhóm của anh Kerrey được gọi là Trung đội Delta, thuộc Đội Một Seals, thuộc Đội Hỏa lực Bravo. Không chính thức, họ sẽ được gọi là Những Xung kích Quân của ông Kerrey, trong sự dinh vanh cho vị sĩ quan chỉ huy nhiệt tình của họ, vốn là người sẵn sàng đảm nhiệm đánh vào Hà Nội, như anh ta đã từng nói nhiều lần, với “một con dao trong răng của tôi.” Chỉ có hai người trong số những người lính đó, Mike Ambrose và Gerhard Klann, có kinh nghiệm trước đây về những đội Seals ở Việt Nam. Những người khác –William H. Tucker III, Gene Peterson, Rick Knepper, một quân y sĩ có tên là Lloyd Schreier, và bản thân anh Kerrey– đang bay vào trong một nơi không ai biết đến.

(Thiếu úy Joseph (Bob) R. Kerrey thuộc lực lượng Trừ bị Hải quân Hoa
Kỳ, trong nhóm lực lượng Seals, trong thời gian huấn luyện cách phá hoại
dưới nước vào thập niên 1960s, là vị trung đội trưởng Seals 6-người )

(Anh Kerrey (bên trái), và anh Klann (ở giữa) lúc còn ở căn cứ tại Việt Nam)

(William Tucker và Gerhard Klann, hai biệt kích quân có kinh
nghiệm nhất trong đội Seals của anh Kerrey)

((từ trái qua phải) Tucker, Klann, và Ambrose trước lúc đột kích. Sau
cuộc đột kích, anh Tucker nói với trung đội trưởng Kerrey: “Tôi không
thích thứ việc nầy.”
Anh Kerrey trả lời, “Tôi cũng không thích việc đó.”)

Trung đội Delta được phân công cho Lực lượng Đặc nhiệm 115 Hải quân, có căn cứ tại vịnh Cam Ranh và dưới sự chỉ huy bởi Đại úy Roy Hoffmann, một nhân vật yêu thích của Đô đốc Elmo Zumwalt Jr., người đàn ông hàng đầu của Hải quân ở Việt Nam. Ông Hoffmann là một vị sĩ quan nhai xì gà xàm xạp vốn là người vung vẩy khẩu súng trường công kích M-16 và mang một khẩu súng lục khi ông ta đến thăm những binh sĩ trong chiến trường. “Ông ấy là một gã đếm thi thể loại cổ điển,” ông Kerrey nói. “Những hầm trú bị phá hủy, những căn nhà lá bị phá hủy, loại người luôn muốn ghi được số điểm.”
Trong nhiều tuần, anh Kerrey và nhóm của anh ta hoạt động ở vùng xung quanh tương đối an toàn của vịnh Cam Ranh, một căn cứ lớn nhất của Hải quân Mỹ ở nơi mà sau đó thuộc về miền Nam Việt Nam, vào khoảng giữa đường đi lên bờ biển. Sau đó, họ bắt đầu tìm kiếm một sứ mệnh chiến tranh thực sự. Họ di chuyển về phía nam đến vùng Cát Lộ, một quân đồn chỉ huy khu vực thuộc Hải quân nơi mà một người trong số những người được ủy quyền có chức vụ cao của ông Hoffmann, Paul Connolly, sẽ giám sát những sứ mệnh của họ. Hải quân giữ một đội tàu “tốc đỉnh” cách đó vài cây số, ở bến cảng Vũng Tàu –những chiếc tàu nhỏ gọn dài khoảng 15 thước, có bộc vỏ ngoài bằng nhôm, được trang bị với hai khẩu súng máy cỡ nòng 0,50 ly và cặp đôi động cơ chạy bằng dầu cặn hiệu Detroit có 480 mã lực– mà qua đó di chuyển tiểu đội của anh Kerrey trên sứ mệnh ở Đồng bằng Cửu Long.

(Đại úy Roy Hoffmann (ở giữa) vị chỉ huy giám sát gián tiếp trung đội Delta)

(Đội tàu tốc đỉnh đang ở bến cảng Vũng Tàu mà tiểu đội trưởng
Kerrey đã dùng đến một trong những chiếc đó để chuyển quân
đến mục tiêu, trước khi lội bộ dọc theo những con đê nhỏ tiến
vào xã Thanh Phong lúc trời tối)

Vũng Tàu là một địa điểm khởi hành cho các hoạt động trong “Mật khu Thạnh Phú,” một vùng xa xôi của Đồng bằng Cửu Long, khoảng 121 km về phía đông nam Sài Gòn. Một vùng nhiệt đới, tươi tốt của những cây cao và chuối, của những đồng lúa và những bãi đầm cây đước, nó được xem là một trong những phần đất nguy hiểm nhất của Việt Nam. Năm trong số tám ngôi làng của nó –bao gồm xã Thanh Phong– được cho biết là nằm dưới quyền kiểm soát của các lực lượng Việt Cộng nổi dậy, theo David Marion, sau đó là một vị Đại úy Quân đội vốn là người đã chiếm đóng một trong những quân đồn nhạy cảm hơn trong vùng.
Ông Marion là vị cố vấn quân sự cao cấp của Mỹ cho Tiết Lân Đức, như một vị quận trưởng Thạnh Phú, vốn là nhân viên hành chánh hàng đầu của Việt Nam trong khu vực. Ông Đức, một vị sĩ quan quân đội 45 tuổi, được huấn luyện tại Quân đồn Bragg ở Bắc Carolina, đến đây ba tháng trước khi anh Kerrey có mặt, cương quyết tống đi lực lượng Việt Cộng bằng hầu hết bất cứ phương cách nào. Ông Marion nói rằng ông Đức, mà những người tiền nhiệm của ông ta đã từng thảnh thơi rất nhiều hơn, đi đến nơi đó với một thái độ: ‘Nếu anh bạn là người bạn của tôi, anh bạn sẽ không sao cả. Anh bạn ủng hộ tôi và chính phủ Việt Nam, chúng ta làm bạn với nhau thì được. Nếu anh bạn không theo cùng với chúng tôi, anh bạn là Việt Cộng, anh bạn phải chết.’ Và những điều đó là quy tắc.”

(Vị trí xã Thanh Phong nằm trong Mật khu Thạnh Phú, tỉnh Bến
tre thuộc Đồng bằng Cửu Long, là một trong những khu vực xa xôi
hoàn toàn bị Việt Cộng lây nhiễm, nằm trong những địa điểm ưu thích
nhất của những chuyến ghe hàng vũ khí từ miền Bắc tấp vào)

Ông Đức không phải là một người duy nhất vốn là người muốn trở nên ương ngạnh đối với Việt Cộng. Vào mùa hè năm 1968, ông Hoffmann phàn nàn với những cấp trên của mình ở cảng Trân Châu rằng các quy định hiện hành của việc tham chiến quá khắc khe. “Đây là cuộc chiến tranh,” ông Hoffmann cho biết trong một cuộc phỏng vấn vào tháng trước. “Đây không phải là Lớp học Đạo ngày Chúa nhật.” Ông ta làm điều gì mà ông ta nói là một yêu cầu theo đúng quy thức cho những quy định lỏng lẻo hơn, mà qua đó được chấp nhận.
Trước đây, ông Hoffmann cho biết, một nhân viên quân sự đã không được phép bắn trừ khi họ bị bắn vào. Theo quy định mới, ông ta cho biết, họ có thể tấn công nếu họ cảm thấy bị đe dọa. “Tôi bảo họ rằng anh bạn không chỉ có quyền, tôi cũng mong một cuộc giao chiến chết tiệt đó,” ông Hoffmann nhớ lại. “Nếu có những người đàn ông ở đó và những binh lính không giết họ hoặc bắt giữ họ, anh bạn nên nghe tôi.”

Ông Đức cũng tái lập phần lớn quận Thạnh Phú như là một “khu tự-do-bắn,” mà qua đó phép những phi công chiến đấu và những tàu chiến Hải quân tấn công vào bất cứ “những mục tiêu may rủi nào,” bao gồm cả những người dân và làng mạc, không cần có thẩm quyền ra mệnh lệnh trước. Những người nông dân trong những khu tự-do-bắn được thuyết phục hết lòng để chuyển nơi ở đến các trung tâm tị nạn của chính phủ, được gọi là “những ấp chiến lược.” Chính là một nhiệm vụ khó khăn, ông Marion cho biết vào tháng trước, bởi vì “họ đã từng ở đó trong nhiều thế hệ. Họ sẽ không rời khỏi, và trên cơ bản là họ không quan tâm ai là người nắm quyền.”(pc 02) Những người không di chuyển đến những ấp chiến lược bị dán nhãn như là Việt Cộng hoặc như là những người cảm thông với đối phương.
Cụ thể là, lực lượng Seals Hải quân tiến hành những sứ mệnh bắt cóc hoặc ám sát, qua việc tìm kiếm để loại trừ những tay lãnh đạo Việt Cộng ra khỏi trong số dân cư địa phương. Những sứ mệnh nầy được gọi là “trừ khử,” ông Marion cho biết, như trong câu nói, “hãy đi ra ngoài với tôi, hoặc mầy chết.” Trong vòng nhiều tuần của chuyến đi đến Cát Lộ của anh Kerrey, tình báo Mỹ và Việt Nam báo cáo rằng tay lãnh đạo Việt Cộng cao cấp đang ở xã Thanh Phong, một “bí thư làng,” đang lên kế hoạch cho một cuộc họp trong khu vực. Một cách hiệu quả là vị xã trưởng, bí thư làng là một mục tiêu chính yếu, và tiểu đội của anh Kerrey bắt đầu lên kế hoạch cho một sứ mệnh “trừ khử” –là một hoạt động đầu tiên, thực sự của họ.

Thanh Phong là một ngôi làng của khoảng từ 75 đến 150 người trên Biển Đông. Quá nhỏ để có một tâm điểm được xác định rõ ràng, hoặc ngay cả một trường học, nó bao gồm những nhóm của bốn hoặc năm căn nhà lá nhỏ, đơn sơ –những túp lều tranh mà những nông dân sống trong đó– được kết thành chuỗi ra ngoài hơn khoảng 1/3 cây số bờ biển. Vào ngày 13 tháng Hai năm 1969, theo những báo cáo sau-khi-hành-động của lực lượng Seals, đội của ông Kerrey bước vào một vùng nhỏ của xã Thanh Phong, lục lọi hai căn nhà lá nhỏ và “thẩm vấn 14 phụ nữ và những trẻ nhỏ,” tìm kiếm tên bí thư làng. Họ khởi hành trên một chiếc tốc đỉnh vào ngày hôm sau, sau đó trở lại khu vực chung muộn hơn vào đêm đó chỉ phải từ bỏ cuộtc đột kích bởi vì một điện đài vô tuyến không làm việc.

Trong những cuộc phỏng vấn năm nay (i.e. là vào năm 2001), ông Kerrey nói rằng ông ta không thể nào nhớ lại việc đi đến xã Thanh Phong trong lần đầu tiên đó, vào khoảng hai tuần trước khi đêm của những vụ sát hại. Tuy nhiên, những báo cáo sau-khi-hành-động từ hai chuyến thăm viếng nầy có tên của ông Kerrey, ngày tháng năm và địa điểm. Và trong một cuộc trò chuyện vào năm 1998 (i.e. khi ông ta đang là Thượng nghị Sĩ), ông Kerrey rõ ràng nhớ lại sứ mệnh nầy đến xã Thanh Phong trước đó, khi đội Seals của ông ta tìm thấy những người dân làng “đang ngủ mà không có những người đàn ông nào trong khu vực.” Nếu những báo cáo và những hồi ức đầu tiên của ông Kerrey là đúng, như thế họ ắt hẳn đã có một ý tưởng khá tốt về tình hình mà họ sẽ phải đối mặt khi họ quay trở lại.(pc 03)
Tiểu đội của anh Kerrey sẽ không trở lại cho đến ngày 25 tháng Hai, khi những nguồn tin tình báo một lần nữa chỉ ra rằng tên bí thư làng sẽ tổ chức một cuộc họp, lần nầy với một tay lãnh đạo quân sự của Việt Cộng. Một hoặc hai ngày trước khi sứ mệnh nguy hiểm, ông Kerrey nói, ông ta bay qua xã Thanh Phong với một sĩ quan tình báo Hải quân và nhìn thấy không có những phụ nữ và trẻ em nào.
Vào ngày 25, vị quận trưởng, Tiết Lân Đức, đã đưa ra sự cảnh cáo thẳng thừng cho những người dân làng thuộc khu vực đó. Điều nầy nằm trong sự phản ứng đối với một hành động hung bạo, ông Marion nói, mà trong đó hai tên Việt Cộng được cho là đã từng ném một quả lựu đạn vào trong một căn nhà lá nhỏ lúc 02:00 giờ, giết chết một em bé 5 tuổi và làm bị thương một số lượng người khác. Đọc từ một bản ghi nhận chính thức hàng ngày mà ông ta phụ trách trong khi còn ở Việt Nam, ông Marion trích dẫn lời của ông Đức nói như sau: “Chúng tôi muốn những người dân thuộc về chính phủ Việt Nam. Hãy bước ra đến với chúng tôi, và chúng tôi sẽ đưa khu vực nầy trở lại. Nếu đồng bào nào không bước ra, chúng tôi sẽ xem người đó là Việt Cộng. Người đó là kẻ thù. Người đó sẽ chết.”
Việc dựng lại chính xác về những sự kiện xung quanh sứ mệnh của ông Kerrey vào đêm đó, 32 năm sau một sự kiện thực tế, có thể không hoàn toàn có thể được. Những ký ức có thể là mơ hồ, và vết thương trong lòng của một hồi kịch mãnh liệt đến như thế có thể khiến cho tâm trí không để thoát ra hoặc thay đổi những chi tiết quan trọng. “Hoàn toàn có thể là tôi đang làm phai mờ rất nhiều về sự việc,” ông Kerrey nói trong một cuộc phỏng vấn trong tháng nầy (i.e tháng Tư năm 2001). Mặc dù vậy, những hồ sơ chính thức của Hải quân, những bản ghi nhận mỗi ngày qua liên lạc vô tuyến của Quân đội được tìm thấy tại những Văn khố Quốc gia và các cuộc phỏng vấn với một số người trong những thành viên trong đội của ông Kerrey không còn gì nghi ngờ là vào một thời gian nào đó gần nửa đêm vào ngày 25 tháng Hai năm 1969, một thôn làng bé nhỏ Thanh Phong được viếng thăm bằng sự giết hại khủng khiếp và bừa bãi bởi Đội Hỏa lực Bravo.
Có những phiên bản khác hẳn những gì đã xảy ra qua cuộc đột kích. Theo phiên bản của ông Kerrey, những vụ giết hại là bởi và phần lớn được tiến hành trong việc tự vệ. Theo sự cho phép của riêng của ông ta, tuy nhiên, ký ức của ông ta bị trục trặc. “Xin hãy hiểu là,” ông ta nói trong một tin gởi qua e-mail vào cuối tháng Mười Hai, “ký ức của tôi về sự kiện nầy bị che khuất bởi sương mù của buổi chiều tối, tuổi tác và ước muốn.”
Một phiên bản khác, được đưa ra bởi một quân nhân biệt kích giàu kinh nghiệm nhất của ông Kerrey, Gerhard Klann, thì đáng lo ngại hơn rất nhiều. Nó phù hợp với những lời tường thuật được đưa ra trong các cuộc phỏng vấn với một phụ nữ Việt Nam vốn là người khẳng định đã từng chứng kiến toàn bộ thảm kịch và với hai người vốn là những người nói rằng họ là những người thân của các nạn nhân. Các cuộc phỏng vấn ở Việt Nam được tiến hành bởi các nhà sản xuất cho chương trình truyền hình “60 Phút II.”

Mike Ambrose, hôm nay là một người điều hành với một công ty lặn-sâu-dưới-biển ở tiểu bang Texas, cung cấp một cuộc tường thuật khác, một cuộc tường thuật vốn hỗ trợ ông Kerrey và ông Klann theo cách thay đổi (ông Klann hiện đang sống ở tiểu bang Pennsylvania, nơi mà ông ta làm việc trong một nhà máy thép). Không ai trong số những người khác trong đội sẽ nói vào thêm bất kỳ chi tiết nào về biến cố đó. Gene Peterson, vốn là người về hưu từ Cục Cảnh sát Los Angeles, nơi mà ông ta đã là một thám tử, và Lloyd Schreier, vốn là người điều hành một trang trại ở phía đông tiểu bang Oregon, nói đơn giản là họ không làm gì sai cả. William Tucker, vốn là người làm việc trong một nhóm dưới đất cho hảng Hàng không America ở thị trấn Dallas, cũng không muốn nói chuyện. Ông ta đã thực sự nói rằng khi họ đang rời khỏi xã Thanh Phong trên con tàu tốc đỉnh sau các vụ giết hại, ông ta đã quay sang ông Kerrey và nói: “Tôi không thích thứ việc nầy.” Ông Kerrey, theo ông Tucker cho biết, đã đáp lại: “Tôi cũng không thích việc đó.” Rick Knepper, vốn là người đã về hưu sau 30 năm với lực lượng Seals, cũng từ chối bình luận, nói rằng: “Thời gian của tôi ở Việt Nam thật quá khó để nói về nó. Hãy để cho tôi yên.”
Ông Kerrey nói rằng đó là một đêm không trăng khi những xung kích quân của ông ta đã lặng lẽ chiếm lấy những vị trí trên bờ biển không xa từ xã Thanh Phong. Sau khi được thả xuống bằng con tàu tốc đỉnh, họ đã ngồi bất động trong một lúc, điều chỉnh thích ứng đối với bóng đêm và lắng nghe những tay chiến đấu của đối phương có thể có. Bóng tối của đêm đã cho họ một sự che phủ tốt.
Khi họ di chuyển ra ngoài, ông Kerrey nói, họ đã theo thói thường ngày của công việc tuần tra thường xuyên của họ. Anh Ambrose, như là “người đi đầu mở đường,” đã đi trước, với anh Schreier, anh Kerrey và anh Klann sát phía sau, được theo sau bởi anh Knepper và anh Peterson. Anh Tucker đưa lên phía sau. Họ đã được trang bị với những khẩu súng trường M-16, những loại vũ khí bên hông 9-ly, những con dao, những trái lựu đạn lân tinh, những khẩu súng phóng hỏa tiển dùng một lần và một khẩu súng máy hạng nặng mà anh Klann đã vác theo, được gọi là một Máy ném đá (Stoner).
Họ đang khép chặt vào ngôi làng khi họ tiến đến gặp phải một căn nhà lá nhỏ mà qua đó đã không chỉ rõ trên những báo cáo tình báo của họ. Ông Kerrey nói rằng ông ta nhớ là anh Ambrose và anh Klann quay trở lại ông ta và một người trong họ nói rằng, “Chúng tôi đã bắt gặp một số đàn ông ở đây, chúng tôi phải thanh toán họ.”
Trong một cuộc phỏng vấn trong tháng nầy, ông Kerrey, trong khi chịu trách nhiệm về các vụ giết hại, nói rằng ông ta đã không cụ thể ra lệnh cho họ. “Phương cách hoạt động theo tiêu chuẩn là loại bỏ những người mà chúng tôi thực hiện cuộc chạm súng với họ,” ông ta nói. “Giết những người mà chúng tôi thực hiện cuộc chạm súng với họ, hoặc chúng tôi phải hủy bỏ sứ mệnh.” Ông Kerrey nói rằng ông ta xem những người Việt Nam, vốn là những người mà ông ta nghĩ là những người đàn ông, như là “vấn đề an ninh, như là những tiền đồn. Điều đó không hiệu quả nếu chỉ đơn thuần là trói buộc và bịt miệng người ta, bởi vì họ sẽ thoát đi.” Họ đã sử dụng những con dao, ông Kerrey nói, một cách rõ ràng là để tránh việc phát hiện sự hiện diện của họ bằng những tiếng súng nổ. Ông Kerrey nói rằng ông ta chưa bao giờ nhìn thấy ai ở bên trong căn nhà lá nhỏ và bản thân ông ta từ chối cách làm bất cứ việc giết hại nào. Ông ta cũng không nhớ lại việc tìm kiếm bất kỳ những vũ khí nào.
Với căn nhà lá nhỏ đầu tiên được giải quyết, đội Seals kế đó bắt đầu di chuyển dọc theo một con đê mà qua đó sẽ đưa họ vào trong xã Thanh Phong. Họ đi rón rén theo nhau trong khoảng 15 phút cho đến khi họ đến một nhóm gồm bốn hoặc năm căn nhà lá nhỏ, ông Kerrey nói, có thể nhận diện chỉ bởi ánh sáng vàng nhạt đang nhấp nháy bên trong.

Tại điểm nầy, ông Kerrey đã nói trong cuộc phỏng vấn vào năm 1998, “chúng tôi đã nhận lấy hỏa lực từ mục tiêu.” Một báo cáo sau-khi-hành-động cho biết là đội Seals “nhận lấy nhiều đợt đạn từ khoảng 100 mét.” Cuộc nói chuyện trong tháng nầy, ông Kerrey nói là ông ta đã không thể hoàn toàn chắc chắn rằng những lằn đạn đã được bắn ra. “Tôi không biết nếu đó là tiếng ồn,” ông ta nói. “Thật ra, có một cuộc giao tranh nào đó. Anh Ambrose chắc chắn là chúng tôi đã nhận lấy hỏa lực.” Và trong sương mù của cuộc chiến tranh, thường khi khó biết điều gì đang xảy ra. “Tôi đang suy nghĩ rằng có một ngàn tên ở đó,” ông ta đã nói vào tháng Giêng. “Tôi biết điều gì ? Điều đầu tiên mà tôi làm là, ra chỉ thị cho anh Knepper bắn trả bằng khẩu súng Phóng lựu,” một loại súng phóng đạn, dùng một lần được thiết kế để bắn những trái hỏa tiển vốn có thể xuyên qua giáp sắt và phát nổ. Sau đó, ông Kerrey nói, ông ta đã ra lệnh cho những người của mình nổ súng khi họ tiến đến những căn nhà lá nhỏ. Trước khi cuộc bắn xé ngưng lại, theo một trong những báo cáo sau-khi-hành-động của lực lượng Seals, những biệt kích quân đã tiêu hết 1.200 viên đạn.
Hàng rào đạn yểm trợ kéo dài chỉ một vài phút khi họ tìm đường vào trong một cụm gồm những nhà lá nhỏ. “Điều mà tôi sẽ nhớ cho đến ngày tôi chết là, bước vào trong và tìm thấy, tôi không biết rõ, 14 người, hay là như thế, tôi thậm chí không biết con số là bao nhiêu, những phụ nữ và trẻ em vốn là những người đã chết,” ông Kerrey đã nói vào năm 1998. “Tôi đang kỳ vọng tìm thấy những cán binh Việt Cộng với những vũ khí, nằm chết. Thay vào đó, tôi tìm thấy những phụ nữ và trẻ em.” Một thời gian nào đó sau nầy, ông Kerrey nói, họ đã nhìn thấy nhiều người chạy đang chạy khỏi và cũng đã loại họ ra; theo một báo cáo sau-khi-hành-động, có bảy bị giết chết. Trong bóng tối, họ không thể nhìn thấy nếu những người chết là đàn ông hay phụ nữ.

Điều đó không phải chỉ là một cảnh rùng rợn nhưng còn là một điều khó hiểu. Không phải là điều bí mật gì ở Việt Nam mà qua đó những căn nhà lá nhỏ có những hầm trú bằng đất nằm phía dưới họ hoặc gần đó. Lúc có dấu hiệu đầu tiên của sự rắc rối, những người nông dân sẽ lăn vào trong những hầm trú và ẩn kín. Thường thường, họ sẽ chỉ ngủ trong đó.

Ông Kerrey nhớ việc tìm thấy những thi thể trong một nhóm, mặc dù ông ta không biết lý do tại sao họ đã bị gom lại với nhau. Có lẽ, ông ta đưa ra ý kiến, ai đó đã gom tròn họ lại thành nhóm. “Có thể, có những tên ở trong đó vốn khiến cho họ trở thành vị trí đó, sau đó đã tự mình lẻn ra,” ông Kerrey nói. “Nhưng tôi không biết. Điều đáng kể là không có những người đàn ông nào trong làng. Điều đó không phải là một tiết mục nhỏ.”
Nếu câu chuyện ông Kerrey là chính xác, kế đó một người nào đó đã sẽ phải đánh thức những phụ nữ và trẻ em, tập hợp chúng trở thành một nhóm ở giữa làng, rút lui đến nơi an toàn và sau đó bắn một vài phát đạn vào tiểu đội của ông Kerrey. Một khả năng khác là khi nghe tiếng súng trường, những người dân làng không chui vào trong những hầm trú của họ –như họ được huấn luyện làm như thế– nhưng vì một lý do nào đó chạy vào trong khoảng đất trống và tụ tập với nhau trong một nhóm.
Trong cả hai trường hợp, rất khó để tưởng tượng rằng tiếng súng từ khoảng cách 100 m –không cần biết mãnh liệt như thế nào– có thể giết chết mỗi một thành viên của nhóm gồm 14 hoặc 15 người. Một số người sẽ được dự kiến sống sót, riêng biệt là khi tiểu đội đang bắn ra trong bóng tối và trong sự hoảng loạn rõ ràng.
Nhưng, như ông Kerrey nói, ký ức luôn luôn là một kẻ nói dối. Đó là điều gì đã xảy ra vào ngày 25 tháng Hai năm 1969, khi ông ta nhớ đến nó.

Erhard Klann kể một câu chuyện nhiều khác biệt. Ông Klann từ lâu đã bị ám ảnh bởi những ký ức về đêm đó và tâm sự với một vị Đại úy trước đây của lực lượng Seals vào những năm 1980s với những hy vọng trút bỏ những việc giết hại ra khỏi ngực mình. Nhưng ông Klann đã ngần ngại thảo luận về biến cố với tôi, bỏ qua hai bức thư và nhiều cuộc gọi điện thoại trên một khoảng thời gian khoảng sáu tháng. Sau khi tôi lái xe ra ngoài đến nhà của ông ta ở vùng phía tây tiểu bang Pennsylvania, tuy nhiên, ông ta đã động lòng và bắt đầu kể câu chuyện của mình, cung cấp thông tin quan trọng vốn giúp ích khai quật các tài liệu trong những kho lưu trữ Hải quân.
Ông Klann, vốn là người nhập cư vào đất nước nầy từ nước Đức khi còn là một cậu bé, đến từ một dòng tộc lâu đời của những người thuộc quân đội Đức. Ông ta nói rằng hiện thời ông ta đã từng bước về phía trước để “làm sạch linh hồn mình” về một hành vi vốn đi ngược lại “tính tình đạo đức” của mình như là một người lính. Ông ta đã phục vụ với sự xuất sắc trong một sự nghiệp quân nhân 20 năm thuộc lực lượng Seals và là trong số những người đầu tiên được chọn lựa cẩn thận cho đội tinh nhuệ chống khủng bố như là Đội 6 Seals, vốn được thành lập vào năm 1980 trong khi những người dân Mỹ đang bị bắt giữ làm con tin ở Iran.
Ông Klann đã được biết đến như là một loại người ưa cãi lộn đánh nhau ầm ĩ, nghiện rượu nặng –ông ta bị giáng chức một lần vì đánh lộn. (Sự phân hạng trước đây của ông ta sau đó đã được phục hồi.) Những người vốn biết ông ta nói rằng họ chưa từng bao giờ phát hiện bất kỳ động cơ nào đối với ông Kerrey, và ông ta liên tục được mô tả bởi những người làm việc chung trong những phần tốt đẹp, mặc dù có hai người đã thực sự nhắc đến chuyện uống rượu. “Ông ta đối phó với ký ức của đêm đó bằng việc uống rượu quá mức,” vị sĩ quan chỉ huy trước đây của ông ta cho biết, vốn là người nói thêm: “Tôi chưa bao giờ nhìn thấy rượu làm cản trở nhiệm vụ của anh Gerhard.”
Vào năm 1999 ông Klann bị chận lại bởi một quân nhân vì những lý do liên quan đến rượu, mà ông Klann nói là một sự việc riêng lẻ theo sau cái chết của người bạn thân. Ông Klann phản đối một cách kịch liệt đối với việc phát tán sự kiện nầy của tờ báo The Times, mà qua đó nằm trong hồ sơ công cộng. Trong cơn giận dữ, ông Klann nói rằng nếu nó được xuất bản, ông ta sẽ phủ nhận phiên bản của ông ta về những vụ giết hại ở xã Thanh Phong, bất chấp việc mô tả của ông ta về việc đó trước đây trong nhiều cuộc phỏng vấn với tờ báo The Times và với chương trình truyền hình “60 Phút II.”
Phiên bản của ông Klann về những sự kiện ở xã Thanh Phong đã được hỗ trợ một cách độc lập bởi cuộc phỏng vấn với một phụ nữ Việt Nam, Phạm Thị Lành, vốn được thực hiện bởi một người quay phim của chương trình “60 Phút II” vốn là người không quen thuộc gì với lời tường thuật của ông Klann.(pc 04) Ông Klann và bà Lành –vốn là người lặp đi lặp lại lời tường thuật của mình trong những cuộc phỏng vấn sau đó với các nhà sản xuất cho chương trình “60 Phút II”— kể một câu chuyện mà qua đó trùng hợp trên diễn biến trình tự cơ bản của các sự kiện và nhiều chi tiết rất quan trọng. Sự khác lệch từ lời tường thuật của ông Kerrey bắt đầu với căn nhà lá nhỏ đầu tiên, căn nhà mà đã không thấy chỉ ra trên những báo cáo tình báo.

(Bà Phạm Thị Lành, là vợ của một cán bộ Việt Cộng, là người tuyên bố
là nhân chứng nhìn thấy tận mắt sự việc ở xã Thanh Phong lúc đó khoảng
30 tuổi, và “nhớ rất rõ” nhiều chi tiết. Trong cuộc phỏng vấn với chương
trình “60 Phút II” của đài CBS vào năm 2001, lúc đó bà Lành khoảng 62
tuổi. Nhưng sau đó, cũng chính bà ta nói với phóng viên của “60 Phút II”
khi trở lại lần nữa, là bà ta chỉ nghe hơn là nhìn thấy tận mắt)

Ông Klan nói rằng tại căn nhà lá nhỏ đầu tiên –nơi mà, theo hồi ức của ông Kerrey, ông ta được cho biết là chỉ có những người đàn ông– là một người đàn ông lớn tuổi hơn, một phụ nữ vào khoảng tuổi ông ta (i.e. lúc bấy giờ ông Kerrey khoảng 26 tuổi) và ba đứa trẻ dưới 12 tuổi. Ông Ambrose nói rằng ông ta đã nhìn thấy một người đàn ông lớn tuổi hơn (i.e so với ông Ambrose lúc đó) nằm gần lối vào và hai người phụ nữ và hai người đàn ông bên trong. “Tôi ra hiệu cho anh Klann mang ông ta ra ngoài,” ông Ambrose nói về người đàn ông lớn tuổi. Ông Klann, trong một cuộc phỏng vấn với chương trình “60 Phút II,” nói rằng ông Kerrey ra lệnh thanh toán.
Ông Klann nói rằng ông ta chụp lấy người đàn ông, đặt bàn tay của mình trên miệng của ông ta và mang ông ta xa khỏi những đứa trẻ như thế chúng không thể nhìn thấy điều gì mà ông ta sắp làm. “Tôi lụi ông ấy ở đây,” ông ta nói, chỉ vào một điểm ngay dưới khung xương sườn của mình. “Sau đó, tôi đã làm việc đó một lần nữa,” chỉ vào phần lưng ở phía trên mình. Người đàn ông quay lại và nắm lấy cánh tay của ông Klann, cánh tay có con dao, và đẩy nó ra xa. “Ông ấy sẽ không chết. Ông ta tiếp tục cử động, chống chọi lại.” Ông Klann nói rằng ông ta ra hiệu cho sự trợ giúp và, khi đó anh Ambrose đứng nhìn, anh Kerrey đã bước đến và giúp đẩy người đàn ông xuống đất. Anh Kerrey đặt đầu gối của mình trên ngực của người đàn ông, ông Klann nói, khi đó ông Klann kéo con dao của mình ngang cổ ông ấy.
Ông Klann nói rằng ông ta không nhớ một cách chính xác những gì xảy ra tiếp theo. Ông ta nói rằng trong khi ông ta đang loại bỏ người đàn ông, một vài người trong số những thành viên khác của tiểu đội đã thủ tiêu những người còn lại –một phụ nữ và ba đứa trẻ.

Ông Kerrey, trong tất cả các cuộc phỏng vấn của mình cho đến tháng nầy (i.e. tháng Tư năm 2009), đã nói rằng ông ta không có ký ức nào bất cứ là chuyện gì về việc giết chết ông già. Nhưng khi nói về những hồi ức của ông Klann và ông Ambrose, ông Kerrey thêm vào lởi tường thuật của mình. Ông ta lúc bấy giờ nói rằng ông ta nhớ anh Klann có sự rắc rối với một người nào đó nhưng khẳng định rằng ông ta không có vai trò nào trong cái chết bạo lực đó. “Anh ta đang gặp khó khăn trong việc giết chết một trong những người mà anh ta đang cố gắng thủ tiêu.”
Ông Kerrey nói rằng ông ta nghĩ là ông ta biết ai đã đến cho sự trợ giúp anh Klann nhưng từ chối “chỉ tay vào” người đó. “Tất cả chúng tôi đang ở gần căn nhà lá nhỏ đầu tiên, nhưng tôi không giết chết những người nầy. Tôi dám chắc chắn 100 phần trăm,” ông Kerrey nói trong cuộc phỏng vấn vào tháng nầy. “Tôi không muốn phơi bất cứ điều gì ra trên bất cứ người nào. Tôi là một vị Trung úy phụ trách cho trung đội nầy, và tôi chịu trách nhiệm.”
Ông Klann khăng khăng rằng rằng chính là ông Kerrey vốn là người đã giữ ông già xuống; và ông Ambrose, trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1998, cũng khẳng định về điều đó. Nhưng vào tháng nầy (i.e. tháng Tư năm 2009), ông Ambrose đã nghĩ lại. “Có thể, chính là ông Bob,” lúc bấy giờ ông ta nói.
Như đối với việc bốn người khác bị thiệt mạng vào đêm đó tại căn nhà lá nhỏ đầu tiên, ông Kerrey nói rằng chính là anh Klann và anh Ambrose vốn là những người đã làm việc thủ tiêu. Phần còn lại của những người lính “đã trở lại với tôi,” ông ta nói trong một cuộc gọi điện thoại vào tháng nầy. Ông Ambrose đã từ chối gọi lại những cú điện thoại được lặp đi lặp lại cho lời bình luận trên khía cạnh nầy của lời tường thuất của ông Kerrey.

Một người phụ nữ Việt Nam, Phạm Thị Lành, nói rằng bà ta đã chứng kiến tất cả các vụ giết hại. Lúc đó, bà ta khoảng 30 tuổi và là vợ của một chiến binh Việt Cộng, bà ta nói rằng bà ta nhanh chóng lẻn lên trên hiện trường tại căn nhà lá nhỏ đầu tiên sau khi nghe những tiếng kêu. “Tôi đang núp phía sau một cây chuối, và tôi nhìn thấy họ cắt cổ một người đàn ông, đầu tiên ở đây và sau đó ở chỗ kia,” bà ta nói. “Đầu ông ta chỉ còn hơi dính lại ở phía sau.” Bà ta nói rằng bà ta cũng nhìn thấy những lính biệt kích giết chết cái gì mà bà ta nhớ ra như là một phụ nữ và ba đứa trẻ bằng những con dao của họ.
Bà Lành nói rằng người đàn ông ta và phụ nữ là những ông bà của ba đứa trẻ nhỏ. Một phụ nữ tự xưng là thân nhân của những nạn nhân nầy đã đưa những nhà sản xuất của chương trình “60 Phút II” đến một nghĩa trang nơi mà một người đàn ông ta tên là Bùi Văn Vật, vợ ông ấy là, Lưu Thị Cảnh, và, trong ba ngôi mộ nhỏ, những đứa cháu của họ –hai bé gái và một cậu bé– được chôn cất. Ngày tháng trên những bia mộ của những người lớn, vốn được dựng lên 10 năm sau sự kiện thực tế, là ngày 24 tháng Hai năm 1969. (Không có một bằng chứng nào thêm nữa cho thấy rằng năm người nầy quả thật bị giết chết bởi tiểu đội của ông Kerrey.)

Khi việc giết hại trong căn nhà lá nhỏ đầu tiên đã được làm xong, ông Ambrose nói, “tôi, anh Klann và anh Bob nói. ‘ Chúng ta hủy bỏ sứ mệnh hay chúng ta tiếp tục ? ‘ Có rất nhiều tiếng ồn trong vị trí đầu tiên. Tôi cảm thấy bị tổn hại.” Tiếng ồn, rõ ràng, là tiếng la hét của các nạn nhân. ông Ambrose nói rằng ông ta đề nghị quay trở lại địa điểm bốc quân nhưng đã bị bác bỏ bởi những thành viên khác trong đội, vốn là những người muốn tóm được tên bí thư làng.
Khoảng 15 phút sau, đội Seals đến một cụm gồm những căn nhà lá nhỏ. Nhưng ở đây, một lần nữa, những phiên bản của ông Klann và ông Kerrey lệch hướng một cách rõ rệt. Ông Kerrey nói rằng họ đã bị bắn vào và đã bắn trả từ một khoảng cách 100 m hoặc xa hơn nữa. Nhưng ông Klann nói rằng tiểu đội gom tròn lại những phụ nữ và trẻ em từ một nhóm của những căn nhà lá nhỏ trên những bìa làng. Ông Klann nói rằng họ thẩm vấn những người đó về những nơi nào của tên bí thư làng. Một cuộc lục soát nhanh chóng những căn nhà là nhỏ vỡ ra không có gì cả.
Ông Klann nói rằng những biệt kích quân đang ở trong một tình thế khó xử trên những người bị bắt giữ của họ. Họ đang ở sâu trong lãnh thổ của đối phương với 15 hoặc khoảng đó người mà họ cảm thấy họ không thể bắt làm tù binh. Tuy vậy, nếu họ để cho những người nầy đi, những người đó có thể báo động cho những quân địch. “Những cơ hội của chúng tôi đã sẽ rất mỏng manh đến không còn cái gì để thoát ra còn sống,” ông Klann nói.
Họ tranh luận trên những chọn lựa khác của mình, ông Klann nói, và cuối cùng quyết định “tiêu diệt những người đó và ra khỏi nơi đó.” Bà Lành, vốn là người lúc bấy giờ đang kiểm soát để biết rằng những đứa con của mình được an toàn, nói rằng bà ta đã bò đến đủ gần để chứng kiến những gì xảy ra kế tiếp. Ông Klann nói rằng ông Kerrey đã ra lệnh và tiểu đội, đang đứng cách xa từ 2 đến 3 mét, bắt đầu nổ súng –cào xới nhóm người bằng hỏa lực của những loại vũ khí tự động– trong khoảng 30 giây. Họ nghe những tiếng rên rỉ, ông Klann nói, và bắt đầu bắn một lần nữa, trong 30 giây khác.
Có một tiếng kêu cuối cùng, từ một em bé. “Em bé là người cuối cùng còn sống,” ông Klann nói, vừa cưỡng lại những giọt nước mắt. “Có máu và ruột tung toé mọi nơi.” Ông Klann không nhớ lại được những người lính bắn vào những người, theo ký ức của ông Kerrey và những báo cáo sau-khi-hành-động, vốn cố gắng chạy khỏi sau màn thảm sát ban đầu.
Ông Klann, một người đàn ông to lớn với chiều cao là 1.9 m và khoảng 113 kg, tạm ngừng trong chốt lát, một lần nữa trở lại việc hồi tưởng đến các sự kiện của đêm đó. Chỉ vào trái tim mình, ông ta nói: “Tôi phải sống với điều nầy nơi đây. Tôi vẫn không thể tống nó ra khỏi tâm trí mình. Tôi sẽ làm lại nếu tôi có thể, mọi người sẽ làm thế.”
Trong khi phiên bản của ông Klann giải thích lý do tại sao những phụ nữ và trẻ em đã chết trong một nhóm, nó, cũng, chịu khốn đốn từ những mâu thuẫn. Nó không rõ ràng, thí dụ, tại sao tiểu đội đã nghĩ rằng việc bắn hạ một cách ồn ào 13 người trong một khu vực định cư sẽ cải thiện những triển vọng của việc thực hiện cuộc rút lui của họ không bị phát hiện. Nó cũng không rõ ràng tại sao, sau khi thẩm vấn những người dân làng hai tuần trước, thả họ ra, và rút lui mà không có biến cố nào, họ lần nầy cảm thấy rằng việc thả ra những người bị bắt sẽ tạo ra nguy hiểm.
Ông Klann cung cấp một đầu mối đối với cách suy nghĩ các đội Seals về điểm thứ hai. Lần đầu tiên ở xã Thanh Phong, họ chỉ chất vấn những câu hỏi. Trong chuyến thăm lần thứ hai, họ đã thực sự giết chết những người dân tại căn nhà lá nhỏ đầu tiên và có thể đã quan tâm về việc để lại những nhân chứng vốn là những người có thể đặt họ trong trong sự quan hệ gần gủi đêm đó. “Chúng tôi đã thực sự gây tổn hại bản thân mình bằng cách giết chết những người khác,” ông Klann nói.

Khi được hỏi vào năm 1998 về lời tường thuật của ông Klann qua các sự kiện của đêm đó, ông Kerrey nói: “Điều đó không nằm trong hồi ức của tôi về việc sự kiện đã xảy ra như thế.” Nhưng, ông ta nói thêm: “Tôi sẽ không làm cho việc nầy tồi tệ hơn bằng cách chất vấn ký ức của một người nào khác về nó. Nhưng bạn sẽ hoạt động một cách độc lập trong loại tình huống nầy. Tôi muốn nói là, điều đó sẽ không gây ngạc nhiên cho tôi nếu những việc đang tiếp tục đi xa khỏi tầm nhìn của tôi mà qua đó khác biệt hơn so với điều gì tôi đang làm.”
Khi được hỏi một lần nữa vào đầu tháng nầy, và sau khi đánh giá lại những ký ức của mình, ông Kerrey bắt đầu tạo phẩm lượng cho câu chuyện nguyên bản của mình. “Có thể là một phiên bản hơi khác về điều đó đã xảy ra,” ông Kerrey nói, qua việc phản ứng đối với lời tường thuật của ông Klann. “Có thể là việc nhả đạn thêm vào nào đó đã xảy ra sau khi cuộc khải hỏa chính yếu. Vâng, điều đó có thể là vậy. Nhưng, khổ thân tôi, điều đó không phải là ký ức của tôi về nó.”
(Sau nầy, sau cuộc phỏng vấn đó và khi chúng tôi rời khỏi, ông Kerrey tấn công uy tín của ông Klann. Ông ta nói rằng ông Klann tức giận là ông Kerrey đã không giúp cho ông ấy có được một Huy chương Danh dự cho sứ mệnh của mình ở Iran. “Bây giờ, chính là mỗi người vì bản thân,” ông Kerrey nói. Ông Klann, vốn là người nói rằng ông ta không nuôi dưỡng ác ý nào, nói rằng ông Kerrey khuyên ông ta trong tháng nầy không nên nói về chuyện Thanh Phong. Ông Kerrey phủ nhận điều đó.)

Ông Ambrose, trong một cuộc phỏng vấn gần đây, “hết lòng” phủ nhận cuộc tranh cãi của ông Klann rằng đội lính vây bắt những dân làng và tàn sát họ. Mặc dù ông ta nói rằng ký ức của mình về đêm đó đã phai mờ, ông ta nhớ đến việc xông vào trong một trong những căn nhà lá nhỏ để tìm thấy chỉ là những phụ nữ. Khi ông ta rời khỏi căn nhà lá nhỏ đó, ông ta nói rằng ông ta nhớ là “chúng tôi nhận lấy một đợt đạn từ một nơi nào đó gần phía sau của ông Knepper và Peterson. Ai đó hét lên ‘ đang đến đó.’ Một khi chúng tôi nhận lấy hỏa lực, chúng tôi ngay lập tức bắn trả.”
Sau đó, ông ta nói, mọi thứ bấn loạn lên. “Điều đó trở nên phi lý khá nhiều một khi những khẩu súng tiếp tục nhả đạn. Tôi ở trong tư thế sinh tồn. Trời tối, bạn không nhìn thấy nhiều ngoại trừ sự di chuyển và những cái bóng. Bạn không thể biết được họ là những phụ nữ hay đàn ông.” Ông ta nói rằng họ đang bắn từ khoảng cách 6 đến 15 mét, và khi họ ngưng lại, ông ta nhận ra rằng những người chết là phụ nữ và trẻ em.

Một khi tiểu đội đã được bốc ra khỏi xã Thanh Phong, William Garlow cho biết, vị chỉ huy con tàu tốc đỉnh, ông ta và một người trong tiểu đội, có thể là anh Kerrey, mỗi người gọi điện cho việc báo cáo sau-khi-hành-động đến ông Connolly, vị chỉ huy hoạt động của họ ở vùng Cát Lộ. Thông điệp từ tiểu đội của anh Kerrey được thực hiện không hề đề cập đến những thường dân, chỉ nói rằng họ đã giết chết 21 Việt Cộng. Bản báo cáo nầy đã được gởi đến ông Hoffmann và đến các vị chỉ huy khác nhau. Trong vòng một ngày của sứ mệnh nầy, tuy thế, những báo cáo từ những dân làng về “những hành động tàn bạo bị cáo buộc” ở xã Thanh Phong bắt đầu lộ diện trên những cuộc viễn thông vô tuyến tại trụ sở Quân đội của ông cố vấn Marion, và văn phòng của ông Marion bắt đầu một cuộc điều tra sơ bộ.
Những bản ghi nhận vô tuyến mỗi ngày của Quân đội được tìm thấy tại Văn khố Quốc gia bao gồm một cuộc truyền tin từ 8 giờ tối ngày 27 tháng Hai năm 1969: “Xin lưu ý, một ông già từ xã Thanh Phong tự hiện diện ở trụ sở chính của quận trưởng với những tuyên bố cho việc trả đủa đối với những hành động tàn bạo bị cáo buộc được thực hiện vào đêm 25 và 26 tháng Hai năm 1969. Như thế cho đến nay, dường như có đến 24 người bị thiệt mạng. 13 người là những phụ nữ và trẻ em và một ông già. 11 người thì không nhận dạng được và được xem là những VC (i.e. Việt Cộng). Lực lượng Seals Hải quân đang hoạt động trong khu vực đó. Việc điều tra đang tiếp tục.” Đây chỉ là một bản tin, không phải là một báo cáo chính thức, vì vậy con số người chết khác biệt từ những tổng số khác.

Ông Connolly nói rằng ông ta đã trả lời cho những yêu cầu của Quân đội rằng các vụ giết hại là tai nạn, rằng đội lính của ông Kerrey đã bắn những người vốn đang chạy khỏi và rằng họ không phân biệt giới tính hay tuổi tác trong bóng tối. Tuy nhiên, Ông Connolly nói rằng ông ta không bao giờ hỏi anh Kerrey về các vụ giết hại. Phản ứng của ông ta, ông ta cho biết, được dựa trên những cuộc trò chuyện với những nhân viên Hải quân khác nhau, mặc dù ông ta không thể nhớ lại là ai.
Đến lúc những tin gởi đầu tiên của Quân đội về một cái gì đó thảm khốc xảy ra ở xã Thanh Phong, ông Kerrey và đội Seals của mình đã cách xa hàng trăm dặm rồi. Con tàu nhỏ của ông Garlow đã chuyển họ đến con tàu Tuần duyên chính thức loại Point Comfort, mà qua đó vun vút đưa họ ra khỏi khu vực và lui vào bờ biển đến trụ sở chính của ông Hoffmann.

(Con tàu Tuần duyên Hoa Kỳ (USCG) loại Point Comfort,
ở vùng Cát Lộ vào năm 1969)

Mặc dù ông Hoffmann đã gởi những báo cáo về biến cố cho những ông sếp của mình, ông ta nói rằng ông ta không thể nhớ lại bất cứ điều gì về những gì đã xảy ra hoặc thậm chí là nó đã xảy đến ở một nơi và thời gian cụ thể. Những văn tự gởi đi của ông ta, tuy nhiên, tạo ra một bức thư chúc mừng “cừ khôi lắm” cho những Xung kích Quân của ông Kerrey từ một vị sĩ quan Hải quân cao cấp. Rõ ràng là, vấn đề đã kết thúc ở đó, mà không có những cuộc điều tra xa hơn nữa. Đối với sứ mệnh nầy, Hải quân đã tặng thưởng cho ông Kerrey một Ngôi sao Đồng. “Tôi chắc chắn chưa từng bao giờ khoe khoang rằng tôi giành được một Ngôi sao Đồng vào buỗi chiều tối hôm đó,” ông Kerrey nói. “Tôi không cảm thấy giống như tôi đã làm bất cứ điều gì là anh hùng vào buỗi chiều tối hôm đó. Hoàn toàn là một sự trái ngược.”

Chín tháng sau đó, tin tức nổ ra về việc tàn sát ít nhất là 350 người dân làng vô tội ở Mỹ Lai bởi những hỏa lực dưới quyền chỉ huy của Trung úy William L. Calley Jr Calley, cuối cùng vốn là người sẽ bị kết tội giết người có chủ tâm suy tính trước 22 thường dân không vũ trang, đã bị kết án chung thân lao động vất vả nhưng chỉ phải chịu ba năm quản thúc tại gia ở Quân đồn Benning. Mỹ Lai là một bước ngoặt, một sự kiện mà cuối cùng đã thuyết phục những thành phần phân rẽ to lớn của công chúng Mỹ rằng cuộc Chiến tranh Việt Nam là vô đạo đức, nếu không nói là không thể thắng được. Và trong tháng Hai năm 1970, vào khoảng một năm sau vụ Thanh Phong, một toán tuần tra TQLC gồm 5 người bước vào xã Sơn Thắng, vào khoảng 32 km dặm về phía nam của thành phố Đà Nẵng, và giết chết 16 phụ nữ và trẻ em. Những binh lính Thủy quân Lục chiến đã bị buộc tội giết người và bị truy tố. Hai người trong số những bị cáo, bao gồm người dẫn đầu, đã được tha bổng; một người đã được ban miễn tố và hai người đã bị kết tội giết người. Không người nào phải chịu hơn 10 tháng trong tù.

(Trung úy William L. Calley Jr., trong bức hình được chụp vào ngày 23
tháng Tư năm 1971, trong suốt cuộc xét xử của anh ta bởi tòa án quân sự
tại Quân đồn Benning, tiểu bang Georgia. Anh ta đã bị kết tội về việc giết
hại 22 thường dân trong một ngôi làng Việt Nam, Mỹ Lai, vào năm 1968.
Sau 40 năm im lặng, ông Calley đã lên tiếng xin lỗi vào ngày 21/8/2009)

(Là cờ vàng sọc đỏ của miền Nam Việt Nam đang bay trên ngôi làng
Mỹ Lai vào tháng Mười Một năm 1969. Khoảng 500 người dân làng bị
tàn sát theo cáo buộc bởi những binh lính Hoa Kỳ vào ngày 16 tháng Ba
năm 1968. Tuy nhiên, quả thật là ngôi làng nầy cũng bị nhiễm nặng nề
bởi Việt Cộng, nơi mà chỉ còn lại những người già, phụ nữ, trẻ em, làm
việc đồng án nhưng che chỡ, nuôi duỡng, bảo vệ những thành phần Việt
Cộng vốn là những thân nhân của họ, như trường hợp ở xã Thanh Phong)

Gary Solis, một chuyên gia về những tội phạm chiến tranh tại Học viện Quân sự Hoa Kỳ ở phố Cao nguyên West Point, thuộc thị trấn Orange, tiểu bang New York, vốn là người đã viết một cuốn sách về sự kiện Sơn Thắng, nói rằng những hành động tàn bạo thì phổ biến hơn ở Việt Nam so với những gì chúng tôi biết. Trong khi có 122 vụ kết án về những tội phạm chiến tranh ở Việt Nam, ông ta nói, “Theo quan điểm của tôi, những tội ác chiến tranh đã xảy ra vốn không bao giờ được báo cáo.”

(Gary D. Solis dạy về “luật lệ của cuộc xung đột vũ trang” như là
vị Giáo sư Phụ trội cho Trung tâm Luật Georgetown và Trường
Luật George Washington)

(Cuốn sách “Sơn Thắng” của Gary D. Solis, một chuyên gia
về những tội phạm chiến tranh tại Học viện Quân sự Hoa Kỳ)

Có phải chăng ông Kerrey và những người của ông ta đã phạm những tội trong chiến tranh, hoặc họ chỉ đang áp dụng các quy tắc cơ bản của một cuộc chiến tranh bẩn thỉu theo cách tốt nhất mà họ hiểu về chúng ? “Hãy để những người khác phán xét liệu có hay không điều gì mà tôi đã làm, về mặt quân sự có thể được cho phép hoặc về theo đúng nguyên tắc xử thế theo đạo đức hoặc bên trong các quy tắt của cuộc chiến tranh,” ông Kerrey nói. “Hãy để họ tìm hiểu ra điều đó. Tôi muốn nói là, tôi có thể tạo nên một trường hợp mà nó là thế.”

Cuốn sách tay về Chiến trường của Quân đội thì rất hiển nhiên. Mặc dù nó là sự hướng dẫn về Quân đội, nó tượng trưng cho chính sách của Hoa Kỳ liên quan đến luật lệ của cuộc xung đột vũ trang và có thể được áp dụng cho tất cả những binh chủng phục vụ. Theo cuốn sách tay hướng dẫn: “Một vị chỉ huy có thể không để những tù nhân của mình đến cái chết bởi vì sự hiện diện của họ làm chậm đi những sự di chuyển của ông ta hoặc làm giảm sức mạnh đối kháng của ông ta bởi việc đòi hỏi cần thiết một sự canh chừng to lớn, hoặc bởi lý do về những cung cấp lương thực tiêu thụ của họ, hoặc bởi vì điều đó dường như chắc chắn rằng họ sẽ lấy lại được sự tự do của họ qua sự thành công sắp xảy ra của những lực lượng của mình. Đó là điều, theo một cách khác hơn, bất hợp pháp đối với một vị chỉ huy giết chết những tù nhân của mình trên cơ sở tự bảo toàn, ngay cả trong trường hợp của những hoạt động của biệt kích dù hoặc biệt động quân, mặc dù những hoàn cảnh của hoạt động có thể thực hiện sự giám sát chặt chẽ, cần thiết và sự kiềm chế làm chậm đi trên việc di chuyển của những tù binh chiến tranh.”

(Cuốn sách “Luật lệ của cuộc Xung đột Vũ trang của
Gary D. Solis được xuất bản vào năm 2001)

Trong khi có thể có một số khoảng trống nào đó dành cho việc thể hiện làm sáng tỏ trong chính sách, Walter Rockler, một luật sư làm việc theo bán-thời-gian-nghĩ-hưu ở thủ đô Washington vốn là một công tố viên tại thành phố Nuremberg, nước Đức, nói rằng: “Quy tắt cơ bản là trong vùng lãnh thổ của đối phương, bạn không giết những thường dân, đặc biệt là những thường dân không vũ trang.”
Ông Kerrey khẳng định rằng không thành vấn đề phiên bản nào là chính xác, những hành động của tiểu đội mình đáng lý ra được cho phép theo các quy tắt có hiệu lực nào đó. “Theo những quy định bất thành văn của Việt Nam, chúng tôi đã sẽ được biện hộ nếu chúng tôi đã không bị bắn vào,” ông ta đã nói vào năm 1998. “Bạn được quyền giết hại nếu bạn nghĩ rằng điều đó sẽ tốt hơn. Nếu bạn nghĩ rằng điều đó sẽ tốt hơn khi loại họ ra ngoài, bạn được phép trừ khử họ.” Vào tháng nầy, ông Kerrey nói thẳng thừng: “Chúng tôi được hướng dẫn không bắt làm tù nhân.”
“Phương thức hoạt động theo tiêu chuẩn” được hiểu một cách rộng rãi có ý nghĩa là, trong một vùng tự-do-bắn, bất kỳ người đàn ông nào cũng được xem là một “mục tiêu may rủi” và có thể bị giết. Tuy nhiên, có những cân nhắc khác. “Đó là điều khá rõ ràng về điều gì ông ấy muốn,” ông Kerrey nói về vị sĩ quan chỉ huy của mình, ông Hoffmann. “Ông ấy muốn những căn nhà lá nhỏ bị phá hủy và những người đó bị giết.” Ông Hoffmann đồng ý nhưng nói rằng ông ta không bao giờ có ý định là muốn những người của mình giết chết những phụ nữ hoặc trẻ em vô tội. Nhưng ở Việt Nam, ông ta nói thêm, thật khó để phân biệt giữa những du kích quân và những người không tham gia chiến đấu. Ông Kerrey nhấn mạnh điểm đó. “Có những người trên bức tường,” ông ta nói, đề cập đến Đài tưởng Niệm Việt Nam tại thủ đô Washington, mà trong đó liệt kê những cái tên của tất cả những người Mỹ vốn đã bị thiệt mạng ở Việt Nam, “bởi vì họ đã không nhận biết được một người phụ nữ hoặc trẻ em có thể được mang theo một khẩu súng.”
Ông Kerrey đã nói lên tiếng nói chung về các vấn đề thực tế mà những sĩ quan phải đối mặt trong những tình huống nầy. Sự xét đoán đầu tiên của một vị chỉ huy, ông ta nói, là sự an toàn của những người của mình. “Với bảy người đang hoạt động, một người bị gục và bạn đã phải cần đến hai người khiên anh ta,” ông ta nói. “Điều đó không mất quá nhiều thời gian trong cách của những thương vong để đặt bạn trong một nguy cơ đáng kể mất đi tất cả mọi người.”

Nhiều sĩ quan, thậm chí một vài người dưới quyền chỉ huy của ông Hoffmann, nói rằng những quy tắt nào đó có hiệu lực cho phép quá nhiều bạo lực. William Garlow nói rằng ông ta và các người bạn chỉ huy tàu tốc đỉnh của ông ta được lệnh bắn lên những ngôi làng gần như theo cách ngẫu nhiên. “Chúng tôi đốt cháy những căn nhà lá nhỏ của họ và giết chết những gia súc của họ,” ông ta nói. Thậm chí, một người trong số những vị chỉ huy cao cấp của ông Hoffmann ở vùng Cát Lộ nói rằng việc giết hại đã trở thành bừa bãi. “Tôi ghét điều đó,” vị cựu sĩ quan nói, vốn là người yêu cầu giấu tên.
Rõ ràng là, những quy tắc chính thức về chiến tranh thật trừu tượng đối với một tiểu đội Seals bị gây kinh hãi đang hoạt động trong một tình trạng hỗn loạn của cuộc Chiến tranh Việt Nam. Chúng tôi “đã được cho cả khối rất nhiều quyền rộng rải hơn chúng tôi đáng ra cần có…” ông Kerrey đã nói vào năm 1998. “Thông thường người ta tin rằng bạn làm điều gì bạn phải làm để bảo vệ những người của mình. Chúng tôi trên cơ bản đang viết lên những quy tắc khi chúng tôi tiếp tục đi tới trước. Niềm hy vọng của tôi đang chợt đến là mọi việc là một trò chơi công bằng. Đang chợt thoát đi là tôi không tin điều đó.”

Bob Kerrey đã là một vị chỉ huy thận trọng hơn khi anh ta tiếp tục đến với sự hoạt động to lớn tiếp theo của mình. Vào ngày 14 tháng Ba năm 1969, những Xung kích Quân của ông Kerrey đã được tiếp tục gởi đi trên một nhiệm vụ bắt cóc khác, lần nầy là chụp bắt một nhóm nhỏ Việt Cộng trên hòn đảo Hòn Tằm trong vịnh Cam Ranh. Ông Kerrey nói rằng ông ta đã thực sự quyết định rằng bất kỳ người nào mà họ gặp phải, sẽ bị bắt làm tù binh. Sau khi leo lên một vách đá khoảng 91 mét, gần như thẳng đứng, những người lính chuẩn bị cuộc tấn công của họ. Nhưng mọi thứ đã xảy ra không như tính toán gần như từ lúc bắt đầu, một phần bởi vì sự quyết tâm của anh Kerrey tránh né một tình huống mà trong đó anh ta sẽ phải lựa chọn giữa việc thủ tiêu và bắt làm tù binh. Cuối cùng, Việt Cộng nhận biết lực lượng Seals đang tiến sát vào và đã khải hỏa. Trong trận chiến dữ dội xảy ra sau đó, một quả lựu đạn đã phát nổ ngay chân của anh Kerrey.
Lloyd Schreier, viên quân y của lực lượng Seals, đã băng bó những vết thương của anh Kerrey theo cách tốt nhất mà anh ta có thể và đã bơm vào anh Kerrey hết liều thuốc tê. Anh Kerrey sau đó đã được bốc lên bằng trực thăng đến Bệnh viện 26 Chiến trường tại vịnh Cam Ranh, sau đó tiếp tục được đến một bệnh viện Hải quân ở thành phố Philadelphia, thuộc tiểu bang Pennsylvania.
Khi Bob Kerrey tỉnh dậy từ cuộc giải phẫu, anh ta đã nhìn thấy cha mẹ mình đang ngồi ở cuối giường. Các bác sĩ phẫu thuật đã loại bỏ phần phía dưới hơn của chân phải anh ta bên dưới đầu gối. Anh Kerrey đã từng gia nhập lực lượng Seals Hải quân, một quân đoàn ưu tú vốn đòi hỏi sức mạnh về thể lực không thể từ khước. Bây giờ anh ta đã bị vô hiệu hóa, về thể chất và tình cảm. Và anh ta mất tự chủ, bối rối và tức giận với đất nước của mình.
Anh ta đã kể câu chuyện cứ dằn dặt lòng mình về sự kiện Thanh Phong cho người mẹ của anh ta, kế đó cho vị truyền giáo Tin Lành và, sau nầy, cho người vợ đầu tiên của anh ta. Mẹ anh ta đã khóc khi bà ta ôm lấy đứa con trai của mình, bảo anh ta rằng anh ta sẽ không sao. Và cuối cùng là ông ta sẽ không sao. Tuy thế, “tôi không thể là cái gì mà tôi có lần đã là,” ông ta nói. “Không lo lằng, không có những cơn ác mộng nào, không đau đớn, không hối hận, không có những hối tiếc nào, cảm thấy trong một nhà thờ giống như Thiên Chúa đang mỉm cười nồng ấm nhìn xuống trên tôi như thể tôi là môt vật đặc biệt nhất trên trái đất. Đó là điều gì mà nó đã là trước đây, và bây giờ, điều đó không phải là như thế.”
Khi anh Kerrey biết được rằng anh ta sẽ được tưởng thưởng Huân chương Danh dự, ông ta nói rằng ông ta có những do dự dữ dội về việc chấp nhận nó. Anh ta không nghĩ rằng anh ta ta xứng đáng với nó, ông ta nói, và anh ta cảm thấy giống như một con tốt trong cuộc chiến tranh của ông Nixon. “Cái huân chương đã được ban cho tôi trong vòng những ngày của cuộc xâm lấn Cam-pu-chia… Tôi cảm thấy giống như tôi đã được tận dụng,… bị cấm cờ báo hiệu. Anh bạn biết không, để làm giảm đi những ảnh hưởng của những kinh nghiệm khủng khiếp.” Nhưng ông ta đã chấp nhận nó, ông ta nói, vì lợi ích của tất cả các thành viên của lực lượng Seals.
Sau khi hồi phục từ những vết thương của mình, anh ta trôi dạt trong một thời gian ở tiểu bang California, lấy những khóa học tại trường Đại học Berkeley. Trong vòng một năm, anh ta ở nhà trong tiểu bang Nebraska, tham gia vào những cuộc biểu tình chống chiến tranh. Anh ta lập gia đình, có hai đứa con, thử bắt tay vào cộng việc kinh doanh nhà hàng và, sau đó, đã mở ra một câu lạc bộ thể dục. Chẳng bao lâu, anh ta trở thành một người đàn ông giàu có. Sau đó, ông ta làm ngạc nhiên hầu hết mọi người bởi việc ra tranh cử cho chức vụ Thống đốc tiểu bang Nebraska. Vào năm 1982, như là một người tập sự về chính trị vốn là người ủng hộ quyền đồng tình luyến ái ở tiểu bang Nebraska bảo thủ, ông ta đã đánh bại trong gang tấc người đương nhiệm, Thống đốc Charles Thone. Nhưng vào năm 1985, với những số lượng thăm dò ý kiến của mình trên 70 %, ông ta quyết định bước xuống sau một nhiệm kỳ.
Ông ta trở lại tiểu bang California và trợ giúp Walter Capps, một người bạn cùng tiểu bang Nebraska vốn là người đang dạy một khóa học về cuộc Chiến tranh Việt Nam tại Đại học California ở thành phố Santa Barbara. Khóa học đã trở thành một chỗ tập hợp nơi mà những cựu chiến binh nổi bật sẽ đến để nói về cuộc chiến tranh. Ông Kerrey vẫn còn cay đắng về Việt Nam và bị ám ảnh bởi sự kiện Thanh Phong. Trong một bài nói chuyện mà ông Kerrey đã cho lớp học mà sau đó đã được xuất bản trong một cuốn sách mà ông Capps xuất bản, ông Kerrey đã so sánhh cuộc sống ở nông trại đối với những hành động của mình ở Việt Nam. “Xung quanh nông trại, có một hoạt động mà không ai thích làm. Tuy thế, đôi khi đó là điều cần thiết. Khi một con mèo sinh ra những con mèo con vốn không cần đến, những con mèo con phải bị tiêu diệt. Và có một khoảnh khắc khi mà bạn đang nắm giữ con mèo con dưới nước khi đó bạn biết rằng nếu bạn mang con mèo con đó trở lại bên trên mặt nước, nó sẽ sống, và nếu bạn không mang nó trở lại bên trên trong thời khắc đó, con mèo con sẽ chết. Điều nầy, đối với tôi, là một ẩn dụ hoàn hảo cho những khoảnh khắc đáng sợ trong cuộc chiến tranh khi bạn hoàn toàn không làm điều gì mà trước đây bạn đã nghĩ rằng bạn sẽ làm.”
Ở thành phố Santa Barbara, ông Kerrey thực hiện một quyết định khác theo kiểu thúc-đẩy-của-thời-điểm, lần nầy nhằm ra tranh cử cho chức vụ trong Thượng viện Mỹ từ tiểu bang Nebraska. Vị đương nhiệm đã qua đời, để lại ghế trống thách thức vào tháng Mười Một năm 1988. Ông Kerrey sắp xếp chung với nhau một loạt những thương mại quảng cáo về lòng yêu nước, phong cách kiểu ông Reagan, loại vận động quảng cáo trên truyền hình của câu đầu bài diễn văn buỗi-sáng-ở-nước-Mỹ và bám chặt với những chủ đề tích cực. Ông ta đã giành được chiến thắng một cách dễ dàng.
Ở Thượng viện, ông Kerrey đã có một tiếng tăm như là một người hoạt động chính trị độc lập vốn là người mà một số ít những đồng nghiệp của ông ta thực sự hiểu được. Đối với toàn bộ sự nghiệp chính trị của ông ta, ông ta giữ lấy sự bí mật của mình. Ở văn phòng của tòa nhà Quốc hội Capitol Hill, ông ta giữ một cái giá vẽ nơi mà ông ta đôi khi làm những hình nghệ thuật bằng cách cắt dán qua việc dùng những bức ảnh trong báo chí về những người trong tình cảnh thống khổ. Ông ta đã làm thơ và vẽ bằng màu nước. Ở trung tâm của một phong cảnh màu nước, ông Kerrey đã viết bằng cây viết to đầu màu đen những chữ của nhà văn nữ Emily Dickinson.

Hối hận là Ký ức thức tỉnh,
Những người bạn đồng hành của cô ta xôn xao trở dậy, —
Một sự hiện diện của những hành động rời khỏi
Tại khung cửa sổ và tại cánh cửa.

Quá khứ của nó được đặt ra trước linh hồn,
Và được thắp sáng bằng một que diêm,
Việc nhìn kỹ để tạo nên điều kiện
Cho việc gởi đi niềm cô động của nó.

Hối hận thì không chữa được, –một cơn bệnh
Không ngay cả Thiên Chúa có thể chữa được;
Vì chính là thần trí của Ngài, —
Phần bổ sung của Địa ngục.

(Remorse is Memory awake,
Her companies astir, —
A presence of departed acts
At window and at door.

Its past set down before the soul,
And lighted with a match,
Perusal to facilitate
Of its condensed despatch.

Remorse is cureless, –the disease
Not even God can heal;
For ’tis His institution, —
The complement of Hell.)

(Tòa nhà Quốc Hội Hoa Kỳ Capitol Hill)

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Gregory L. Vistica đã dành ra gần ba năm nghiên cứu và cuối cùng đã phá vỡ câu chuyện về Bob Kerrey và một đêm khủng khiếp ở xã Thanh Phong. Ông ta là tác giả của “Fall From Glory: The Men Who Sank the U.S. Navy” (“Sự sụp đổ từ Thanh danh: Những người làm Chìm Hải quân Hoa Kỳ”), một cuốn sách được dựa trên việc tường trình đoạt giải thưởng của mình về vụ bê bối Tailhook, mà qua đó dẫn đến những cải cách lịch sử trong quân đội. Ông ta cũng đã từng là phóng viên an ninh quốc gia cho tạp chí Newsweek. Ông ta đang hợp tác sản xuất một phần về Bob Kerrey và sự kiện Thanh Phong cho chương trình “60 Phút II.” Tạp chí New York Times và chương trình “60 Phút II” của CBS đã phối hợp việc tường trình những nỗ lực về câu chuyện nầy. Chương trình “60 Phút II” có kế hoạch phát sóng một phần của nó vào ngày 1 tháng Năm năm 2009.
Ông Vistica là người nhận được Giải thưởng Peabody, Giải thưởng George Polk, và là người được vào chung kết cho Giải thưởng Pulitzer.

pc 02_ “họ đã từng ở đó trong nhiều thế hệ. Họ sẽ không rời khỏi, và trên cơ bản là họ không quan tâm ai là người nắm quyền. : đây là một nhận xét không sai của vị cố vấn cao cấp, David Mario, khá am hiểu về tình hình miền Nam Việt Nam ở những nơi xa xôi như thôn Thanh Phong. Cũng có thể ông ra học hỏi được qua những kinh nghiệm của vị Đại úy huyện trưởng Tiết Lân Đức.
Và chắc chắn rằng ông ta cũng thừa hiểu, những cán bộ Cộng sản được gài lại sau năm 1945 đang cố gắng bắt rễ vào những người nông dân nầy. Những liên hệ của họ với những cán bộ Cộng sản, cũng có thể là tình thâm như vợ chồng, thân thuộc gia đình, bà con dòng họ đã có từ trước hoặc được tạo nên thêm sau nầy dù muốn hay không những người nông dân đó cũng bị cưỡng bức phải chấp nhận làm vợ chồng dưới họng súng hoặc thanh mã tấu của Việt Cộng. Từ đó, điều mà những người nông dân đó biết đến chỉ là hành động theo phản ứng tình thâm như dung dưỡng, trợ giúp, bảo vệ những người Cộng sản, trong khi họ hoàn toàn không có một chút ý thức tối thiểu nào về cái gì là chủ nghĩa Cộng sản, cái gì là Việt Minh, cái gì là Quốc gia, cái gì là chính nghĩa hay không chính nghĩa.
Với hình thức ẩn nấp phía sau những người dân chân chất đó, Việt Cộng luôn đưa những người dân nầy ra làm những bức bình phong che đạn cho họ. Những bức bình phong đó là những người già, trẻ con, phụ nữ, mà cũng có thể đa phần là những vợ con, thân nhân của cán bộ Cộng sản. Những cán bộ Cộng sản cố tình gieo những hạt giống đỏ khắp nơi mà không cần biết đến sự tồn tại của nó –cứ mặc tự chúng nẩy nở, như những mầm trứng ruồi nhặng được gieo vào bắt cứ nơi nào có thể– Vì vậy, việc sử dụng những tấm bình phong đó để tẩu thoát rất hiệu quả mà chính họ không bao giờ cảm thấy là một việc bất nhân. Đối với những người Cộng sản, vấn đề gia đình liên hệ là một điều ủy mỵ, cần phải hy sinh, cần phải được sử dụng sao cho có ích lợi vì ngày nào họ còn sống thì vẫn có khả năng gây dựng lại một gia đình riêng khác hay nhiều gia đình riêng khác. Rồi sau đó, sử dụng chính những gia đình đó như là những bức bình phong lần nữa.
Bởi thế, đó là lý lẽ đúng nhtấ để giải thích tại sao có một số khá nhiều những gia đình thuộc miền thôn quê xa xôi kham khổ, nhưng họ vẫn một hai cố bám lấy vùng đất đang sống với viện lý do là đất ông bà tổ tiên, trong khi chính những vùng đất đó luôn luôn mất an ninh, luôn luôn có nhiều chiến sự xảy ra. Vì chính họ là những thân nhân của những người theo Việt Cộng. Họ chính là những người luôn luôn chống đối chính sách “ấp chiến lược” và cũng chính họ là những người sau nầy lén lút đưa Việt Cộng vào những ấp chiến lược để phá hoại. Đối với họ, rất đơn giản, họ chỉ cần biết những Việt Cộng đó là thân nhân của mình. Thế thôi. Họ không cần biết cái gì là Quốc gia hay Cộng sản, ngoại trừ những hình ảnh binh lính Hoa Kỳ –trong cái nhìn của họ– đang tấn công, tàn phá những gì mà họ muốn bám lấy để che chở cho những người thân Việt Cộng của họ.
Tuy nhiên, điều nầy khó có thể hiểu được đối với những người dân Mỹ ở quê nhà, ngay cả một số nhiều phóng viên chiến trường ngắn hạn, chợt thoáng chợt đi và giới truyền thông Mỹ ngụ yên ổn ở Sài Gòn, chỉ thỉnh thoảng có mặt tại chiến trường sau khi tình hình đã ổn định. Họ hoàn toàn không bao giờ hiểu được hay cố tình không muốn hiểu vì cho là một sự bịa đặt của binh lính sau khi mở cuộc hành quân vào thôn làng. Trên thực tế, Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến hoàn toàn khác lạ đối với dân Mỹ; có những điều mà họ không thể ngờ đến hay dám tin là thật. Ngoại trừ chính những chiến binh Mỹ đã từng rơi vào trong những tình huống đó.

pc 03_ “Nếu những báo cáo và những hồi ức đầu tiên của ông Kerrey là đúng, như thế họ ắt hẳn đã có một ý tưởng khá tốt về tình hình mà họ sẽ phải đối mặt khi họ quay trở lại.” : theo nhận định của tác giả Gregory L. Vistica của bài viết “Một đêm khủng khiếp ở làng Thanh Phong” (“One Awful Night in Thanh Phong”) chỉ đơn giản là thế, như người ta đến một siêu thị và nhìn thấy món hàng mình muốn tìm trên kệ thì sẽ tin chắc rằng ngày hôm sau khi trở lại nó sẽ còn đó với nhiều hy vọng vẫn không gì thay đổi. Như thể khi người ta đến chơi nhưng thấy gia đình gia chủ còn ngủ và cũng sẽ hy vọng họ sẽ gặp lại chỉ từng ấy số người.
Tuy nhiên, trong cuộc chiến tranh sống chết kề nhau, một lỗi lầm nhỏ cũng đủ lấy đi sinh mạng con người một cách dễ dàng; vì vậy sự cẩn trọng luôn luôn là điều tiên quyết, nhất là đối với Việt Cộng là những người luôn luôn phải tìm cách tránh né sự đối mặt với lực lượng Hoa Kỳ hay Việt Nam Cộng hòa trước những cuộc thanh trảo đột kích hoặc hành quân hầu bảo toàn lực lượng và những hầm vũ khí bí mật của họ. Có nghĩa là, khi một tay lãnh đạo Việt Cộng nào đó có mặt trong một khu vực, luôn luôn sẽ có sự bố trí canh chừng từ khoảng cách xa thường là do chính những người dân địa phương có cảm tình với họ. Cũng có nghĩa là, hình ảnh mà đội Seals của anh Kerrey nhìn thấy là “những người dân đang ngủ mà không những người đàn ông nào trong khu vực” trong lần thứ nhất đến đó, đáng lý ra là một câu hỏi cần phải lưu ý rất nhiều hơn là theo như tác giả nghĩ là “đã có một ý tưởng khá tốt về tình hình khi họ quay trở lại.”
Một làng về nghề nông thì không thể nào không có vài người đàn ông để đảm đương những công việc cực nhọc nhất. Sự vắng mặt của họ là một điều rất bất thường, và càng bất thường hơn khi đó là giờ ngủ tối. Tại sao họ không có mặt lúc đó ? Có thể dễ dàng hiểu rằng, họ, một số người đàn ông ở vùng thôn quê xa xôi đó, chính là những cán bộ Cộng sản, hoặc cũng có khả năng ít hơn là những người theo Việt Cộng sau nầy, đã được báo động từ trước để họ biến mất dưới hầm đất bí mật nào đó hoặc tạm thời rút sâu hơn xa khỏi thôn làng. Cũng có nghĩa là “cái ý tưởng khá tốt đó” của tác giả rất là ngu ngơ, cũng là những cái ngu ngơ của binh lính Mỹ phải tử nạn một cách không đáng khi họ bước vào khu vực thôn làng Việt Cộng nhưng họ không hề hay biết hay nghi ngờ gì khi nhìn thấy những người dân quê mà đa phần toàn là ông bà già, phụ nữ, trẻ con mà không hề đặt lấy một câu hỏi. Và cuối cùng là “cái ý tưởng khá tốt đó” cũng có khả năng đưa đến cái chết cho những binh lính đột kích vì họ sẽ bất cẩn hơn trước cái vẻ rất “bình lặng” đó.

pc 04_ Phạm Thị Lành, vốn được thực hiện bởi một người quay phim của chương trình “60 Phút II” vốn là người không quen thuộc gì với lời tường thuật của ông Klann : tuy nhiên, điều đáng lưu ý là cuộc phỏng vấn của chương trình “60 Phút II” được thực hiện với ông Erhard Klann vào khoảng năm 2001 và trước đó có nhiều cuộc phỏng vấn khác nhau với ông Bob Kerrey từ lúc năm 1998. Có một điều chắc chắn rằng, chương trình “60 Phút II” thực hiện cuộc phỏng vấn với bà Phạm Thị Lành ở một vùng quê xa xôi của Việt Nam, ắt hẳn được tiến hành sau cuộc phỏng vấn với ông Erhard Klann.
Điều nầy không thể nào bảo đảm là hai lời tường thuật có vài điểm giống nhau –từ ông Klann và sau đó là bà Lành– mà không có sự rò rỉ tin tức ra ngoài hoặc bản tin của cuộc phỏng vấn với ông Klann được phát hành trước khi có cuộc phỏng vấn với bà Lành mà nhà cầm quyền Việt Nam biết được từ trước. Vì chính bà Lành, trước đây trong cuộc phỏng vấn lần đầu tiên luôn luôn khẳng định là người chứng kiến tận mắt những sự việc giết hại ở xã Than Phong và kể lại một cách rất chi tiết; tuy nhiên sau đó, trong chuyến trở lại lần thứ hai của nhóm phóng viên “60 Phút II,” bà Lành sửa đổi lại là bà ta “chỉ nghe” hơn là nhìn thấy tận mắt những sự việc xảy ra.
Nhưng không ai đặt ra thêm câu hỏi là bà ta “nghe thấy” như là một nhân chứng có mặt tại hiện trường hay chỉ là “nghe kể” lại sau nầy từ nhà cầm quyền Việt Nam trong những thủ đoạn tuyên truyền thêm thắt sự việc của Cộng sản. Và thủ đoạn nầy sẽ được chứng minh rõ hơn ở những phần sau của sự việc qua chính sự mâu thuẩn của những lời tường thuật của bà Lành, lời tuyên bố của nhà cầm quyền Việt Nam, ngay cả những lời tường thuật –được xem là đáng tin cậy– của ông Klann (chỉ đơn giàn là vì nó có vài điều được cho là gần như trùng hợp với lời tường thuật của bà Lành).

Advertisements

4 thoughts on “Một đêm Khủng khiếp ở xã Thanh Phong

  1. Pingback: Nhóm Hành Khất – Cuộc chiến không cần súng đạn | CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA – HOA KỲ

  2. Pingback: Cuộc chiến không cần súng đạn | CHÂU XUÂN NGUYỄN

  3. Pingback: Cuộc chiến không cần súng đạn | ÁO TRẮNG ƠI

  4. Pingback: Dấu nhắc dở dang | Tâm Ngã

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s