Thiên II: Ve sầu Thoát xác, Thật giả Kiếp người

(trang bỏ trống)
p41

Thiên II: Ve sầu Thoát xác, Thật giả Kiếp người

1- Thời gian và vũ đài hoạt động trùng nhau:

Khoảng thời gian từ năm 1929 đến năm 1933, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tập Chương mỗi người có một công tác riêng tại vùng duyên hải đông nam Trung Quốc và Thailand, Malaysia, Singapore…, lần lượt thay nhau xuất hiện. Đặc biệt vào năm 1930, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tập Chương đã cùng ở trong Ban trừ Bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Mùa hè năm 1931, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tập Chương đồng thời bị bắt ở Hương Cảng và Quảng Châu. Những hoạt động qua lại của hai người rất không rõ ràng, cũng không được lưu trữ trong hồ sơ nên rất khó chứng minh. Năm 1934, Hồ Tập Chương được trao nhiệm vụ thay thế thân phận Nguyễn Ái Quốc đã bị chết vào tháng Tám năm 1932, tiếp tục hoạt động. Vì thế, toàn bộ sự tích cuộc đời Hồ Tập Chương sau nầy là phải bắt chước làm sao cho giống với phong cách sinh hoạt và làm việc thường ngày của Nguyễn Ái Quốc, nhằm ráp nối cho khớp, mà sự kiện đầu tiên là “Từ Hạ Môn đi Thượng Hải”.
Tuy nhiên từ tháng Tám năm 1932 đến đầu năm 1933, có nửa năm là thời gian khống, nên người ta đã ngụy tạo ra sự kiện Nguyễn “Ái Quốc lưu lại Hạ Môn nửa năm dưỡng bệnh”. Tiếp nữa là, đầu năm 1933, sau khi đã đến Thượng Hải, lại một lần nữa bắt người ta phải tin vào “giả thuyết Paul Vaillant Couturier” nhằm hóa giải cái chết của Nguyễn Ái Quốc. Tuy nhiên, ngụy tạo ra thời gian từ mùa xuân năm 1934 Nguyễn Ái Quốc đi Mạc Tư Khoa lại nảy sinh nhứng ý kiến khác nhau. Tóm lại, khoảng thời gian từ 1929 đến 1933, đem hành trạng của Nguyễn Ái Quốc và hành trạng của Hồ Tập Chương gộp vào cho một người, tất nhiên sẽ nảy sinh mâu thuẫn. Cho nên, bịa đặt ra những chuyện không có thật trong lịch sử, giống như cây kim bọc trong giẻ, đến một ngày nào đó, sự thật sẽ được phơi bày.

2- Cùng lên vũ đài, một ẩn một hiện:

Tháng Giêng năm 1949, tạp chí “Sinh hoạt Nội bộ” kỳ thứ 13 của Việt Nam có đăng tải một bài viết nhan đề “Đảng ta” do Hồ Chí Minh viết dưới bút danh Trần Thắng Lợi. Nhà xuất bản Chính trị Quôc gia đã đưa “Đảng ta” vào “Hồ Chí Minh Toàn tập”, tập 5, trang 547. Trong “Đảng ta” có một đoạn nói rất rõ ràng như sau:

Cuối năm 1929, đồng chí Nguyễn Ái Quốc trở lại Tàu, cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng. Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi, nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh và vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho Đảng và cho dân tộc lâu trước ngày Cách mạng Tháng Tám…”

(Tác giả nhận xét: nguyên Văn “Tản Anh” là viết tắt của Lê Tản Anh. Hồi ký cách mạng “Giọt nước trong Biển cả” của Hoàng Văn Hoan, trang 4 có đoạn viết về Lê Tản Anh là thành viên sáng lập nhóm “Tâm tâm xã”).
Đọc đến đoạn văn xác thực nầy, tôi như muốn nhảy dựng lên. Tại làm sao mà trong một tập san chính thức của nhà nước lại xuất hiện câu văn: “đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi”. Câu văn nầy há chẳng khẳng định, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh là hai người khác nhau đó sao ? Năm 1929, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh cùng tham gia tổ chức Hội nghị Hương Cảng ? Lúc mới đọc, tôi cho rằng có sự nhầm lẫn khi viết, sau đọc đó đọc đi đọc lại nhiều lần, rà soát cẩn thận từng chữ, và đi đến kết luận là hoàn toàn không có chuyện nhầm lẫn làm tôi đặc biệt quan tâm.

p42

Trở về tra xét lại thời kỳ 1929, 1930 trong bối cảnh thành lập Đảng Cộng sản, mới phát hiện ra sự thật là Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tập Chương là những người cùng tham gia thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Để tránh hiểu lầm chuyện trích dẫn, cắt xén, tôi xin dẫn nguyên văn từng câu, từng chữ của đoạn văn trên:

Năm 1929 (chính xác là ngày 19 tháng Giêng năm 1929), trong khi đồng chí Nguyễn Ái Quốc đi vắng, Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội khai Toàn quốc Đại hội ở Hương Cảng. Đại biểu Bắc Kỳ đề nghị tổ chức đảng Cộng sản, bị gạt đi, liền bỏ hội nghị ra về.
Sau đó, trong nước dần dần thành lập ba nhóm Cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.
Một nước mà ba đảng Cộng sản. Cả ba nhóm đều ngầm hiểu như thế là sai. Quần chúng đều hiểu rằng như thế là không đúng. Cả ba nhóm đều tìm cách để đi đến thống nhất. Nhưng bệnh hẹp hòi và cách làm không khéo, cho nên càng muốn gần nhau, lại càng xa nhau.
Cuối năm 1929, đồng chí Nguyễn Ái Quốc trở lại Tàu (chính xác là ngày 20 tháng Giêng năm 1930), cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng.
Trong 7, 8 đại biểu,(1) ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi, nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh và vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho Đảng và cho dân tộc lâu trước ngày Cách mạng Tháng Tám.
Để giữ bí mật, các đại biểu khai hội bên sân đá banh của người Tàu. Vừa giả xem đá banh, vừa bàn bạc về Đảng.
Sau cuộc bàn bạc sôi nổi, và sau lời giải thích rõ ràng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, mọi người đều tán thành thống nhất cả ba nhóm thành một đảng.
Thế là Đảng ta chân chính thành lập…”.

Câu văn “Ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi, nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh và vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho Đảng và cho dân tộc lâu trước ngày Cách mạng Tháng Tám” bao hàm ý nghĩa gì ? Vì sao Hồ Chí Minh lại viết câu nầy ? Qua nhiều lần suy nghĩ kết hợp với việc tra cứu hồ sơ, tài liệu “Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”, tôi mới hiểu, thực ra, lúc ấy Hồ Chí Minh chỉ kể lại một cách chân thật quá trình thành lập Đảng mà không hề có ẩn ý gì bên trong. Xét về mặt nội dung, câu văn trên biểu thị ba ý nghĩa sau:
1- Vào năm 1930, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh là 2 trong số 7, 8 đại biểu sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
2- Vào năm 1949 khi Hồ Chí Minh viết bài “Đảng ta”, về mặt công khai, ông còn chưa thừa nhận mình là Nguyễn Ái Quốc, vì thế, vô tình đã hạ bút viết “Nguyễn Ái Quốc và tôi”. Việc nầy trong “Truyện Hồ Chí Minh” của William J. Duiker, trang 449 đã viết rất rõ ràng:

“Sau hai mươi năm giấu giếm thân phận, hiện tại Hồ Chí Minh 67 tuổi, cuối cùng ông cũng thừa nhận mình là Nguyễn Ái Quốc, để rồi các phương tiện truyền thông chính thức của nhà nước ra sức ca ngợi ông như một người suốt đời hy sinh vì lý tưởng cách mạng, phục vụ tổ quốc”.

Tiếp đó, tác giả lại viết:

“Trước đây, Hồ Chí Minh chưa thừa nhận mình là Nguyễn Ái Quốc, vì vào năm 1946, khi triệu tập Hội nghị Quốc dân Đại hội, Bộ trưởng Lao động Nguyễn Văn Thái có đề nghị vinh danh Hồ Chí Minh là “công dân số một” của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

p43

Bởi lẽ, lúc ấy thân phận Hồ Chí Minh chưa được xác nhận là Nguyễn Ái Quốc. Hồ Chí Minh chính là Hoa kiều tại Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, phái viên “Quốc tế Cộng sản” được cử đến Việt Nam với nhiệm vụ thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quốc dân Đại hội biểu dương sự cống hiến của ông, đồng thời ban tặng danh hiệu “người công dân số một”.”

Nếu quả thật Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc cùng là người Việt Nam, liệu còn có động tác giấu đầu hở đuôi “người công dân số một” nầy không ?

3- Trước sau năm 1930, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh cùng làm việc ở Cục Phương Đông Thượng Hải thuộc Quốc tế Cộng sản. Hai người thường qua lại Hương Cảng và Thượng Hải. Lúc ấy Hồ Chí Minh là phái viên của Cục Phương Đông Quốc tế Cộng sản đến hoạt động ở Hương Cảng. Vậy thì người mang tên Hồ Chí Minh không phải Nguyễn Ái Quốc nầy là ai ? Ông ta chính là phái viên Quốc tế Cộng sản Hồ Tập Chương, thành viên tham gia Ban trừ Bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, được các yếu nhân của Trung cộng và Việt Cộng hết sức giữ bí mật. Nhân vật vào tháng Bảy năm 1931 bị Quốc dân Đảng bắt giam tại nhà lao Quảng Châu là Hồ Tập Chương, sau đó, đến năm 1934, ông được Quốc tế Cộng sản chỉ thị thay thế thân phận Nguyễn Ái Quốc.
=============
Chú thích:

(1): Bảy vị đại biểu tại Hội nghị gồm Hồ Tập Chương là phái viên liên lạc của Quốc tế Cộng sản, đương nhiên đứng đầu danh sách, tuy nhiên tài liệu ghi chép danh sách không thể tìm thấy, có khả năng đã bị sửa chữa hoặc giấu đi. Chỉ biết, sau khi thành lập Đảng, có 7 (bảy) vị Ủy viên Trung ương. Căn cứ vào các tư liệu lịch sử còn lại, bảy Ủy viên là: Nguyễn Ái Quốc, Hồ Tùng mậu, Trịnh Đình Cửu, Lê Tản Anh, Trần Văn Cung, Lê Hồng Sơn, và Hồ Tập Chương.
=============

3- Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam:

Từ ngày 1 đến 19 tháng Năm năm 1929, Đại hội Đại biểu Toàn quốc “Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội” do Lâm Đức Thụ khởi xướng tổ chức tại Hương Cảng. Mới vào hội nghị đã xảy ra xung đột nghiêm trọng giữa các phe phái. Các đại biểu Bắc Kỳ đề nghị thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương. Lâm Đức Thụ và Lê Hồng Sơn do chưa có kế hoạch chuẩn bị thành lập chính đảng nên đã cự tuyệt đổi tên “Đồng chí Hội”. Các đại biểu Bắc Kỳ là Trần Văn Cung, Nguyễn Tuấn, Ngô Gia Tự… giận dữ bỏ hội nghị về nước. Hôi nghị tuyên bố tan vỡ.

Ngày 17 tháng Sáu năm 1929, Bắc Kỳ tuyên bố thành lập “Đảng Cộng sản Đông Dương”. Sau khi Hồ Tùng Mậu và Hoàng Bộ Quân bị khai trừ khỏi “Đồng chí Hội”, tháng Mười cùng năm, Nam Kỳ thành lập “An Nam Cộng sản Đảng”. Tân Việt Đảng của Trung Kỳ cũng chuyển thành “Đông Dương Cộng sản Liên đoàn” vào tháng Giêng năm 1930.

Ngày 20 tháng Giêng năm 1930, Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm La về đến Quảng Châu. Hồ Tùng Mậu cử phái viên đón ở Hương Cảng. Sau khi bắt liên lạc được với Đảng Cộng sản Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đề nghị đại diện ba tổ chức Cộng sản đối lập ở Việt Nam đến Hương Cảng hợp nhất thành một chính đảng. Từ ngày 3 tháng Hai đến ngày 7 tháng Hai năm 1930, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị thống nhất các tổ chức Cộng sản tại một phòng nhỏ trong khu lao động Cửu Long, sau đó lại được chuyển xuống một căn hầm bên dưới trụ sở câu lạc bộ bóng đá. Các đại biểu nhận đều nhận thấy những bất đồng của ba tổ chức Cộng sản dẫn đến sự xung đột nghiêm trọng vừa qua, nên sau đó đã chấp hành chỉ lệnh của Quốc tế Cộng sản, hợp nhất ba tổ chức thành Đảng Cộng sản Việt Nam.

p44

4- Bệnh phổi trầm trọng, sức khỏe suy giảm:

Sau khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đang dự kiến thành lập “Liên đoàn Thanh niên Cách mạng” tại Quảng Châu thì bị bãi miễn. Sự kiện nầy chứng tỏ, sau khi tân chính đảng hình thành, Nguyễn Ái Quốc tỏ ra không có khả năng lãnh đạo phong trào cách mạng. Ý chí hăm hở tiêu tan dần theo năm tháng, địa vị lãnh đạo lung lay mà nguyên nhân chủ yếu là tình trạng sức khỏe. Lúc nầy Quốc tế Cộng sản cũng không còn xem Nguyễn Ái Quốc là lãnh đạo duy nhất. Những năm ấy, lưu học sinh Việt nam được Quốc tế Cộng sản dày công đào tạo tại Liên Xô, rất được chú trọng.

1- Đầu tháng Chín năm 1928, Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội đã có sự chuyển bến về tư tưởng sau Hội nghị VI Quốc tế Cộng sản. Lúc ấy, Nguyễn Ái Quốc ở Xiêm La, mắc bệnh lao phổi trầm trọng, gần như mất hẳn liên lạc với Quốc tế Cộng sản và Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Năm 1930, Nguyễn Ái Quốc thông báo với Ngô Đức Trị là ông ta đang ở Xiêm La, bị bệnh hơn một năm. Từ tháng Bảy đến tháng Chín, Nguyễn Ái Quốc viết 6 bức thư gởi Cục Viễn Đông, trong bức thư đề ngày 2 tháng Chín, ông giải thích, từ ngày 13 tháng Tám đã hoàn toàn suy sụp bởi bệnh lao phổi, thường xuyên ho ra máu. Nói cách khác, vì tình trạng sức khỏe không tốt, cứ mỗi ngày, Nguyễn Ái Quốc lại xa dần quyền lực.

2- Năm 1929, Quốc tế Cộng sản đã trì hoãn lâu ngày kế hoạch thành lập Đảng Cộng sản Đông Nam Á, chuyển sang quyết nghị thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương. Ngày 27 tháng Mười năm 1929, Quốc tế Cộng sản ra “Chỉ thị công tác Đông Nam Á”, giao cho nhóm lưu học sinh vừa tốt nghiệp Học viện Stalin là Trần Phú và Ngô Đức Trị trở lại Việt Nam thực hiện “Nhiệm vụ cấp bách của đảng viên Cộng sản Đông Nam Á”. Ở phần phụ lục “Vấn đề kỹ thuật” của “Chỉ thị công tác” đã ghi rõ: “Trong nhiệm vụ của Đông Nam Á, nhất định phải dưa đồng chí Trần Phú và đồng chí Ngô Đức Trị vào cương vị lãnh tụ. Đồng chí Trần Phú làm chủ tịch là phù hợp, ưu tiên đồng chí Ngô Đức Trị”.

3- Cuối tháng 12 năm 1930, vì nhiệm vụ và quyền hạn của Nguyễn Ái Quốc không được xác định, ông liền gởi một bức thư đến Quốc tế Cộng sản yêu cầu phải dược trao quyền lãnh đạo rõ ràng. Thư viết: “Hiện nay tôi không biết chức vụ của mình như thế nào. Tôi đang là Ủy viên Trung ương mà tự nhiên lại trở thành đảng viên thường. Phải chăng Quốc tế Cộng sản đã đình chỉ chức vụ, và giờ đay tôi chỉ là nhân viên của Cục Viễn Đông phải không ? Rất mong được các đồng chí giải thích”.

5- Cùng tên nên có sự nhầm lẫn:

Thời gian từ năm 1929 đến năm 1933, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tập Chương cùng hoạt động trên vũ đài chính trị, đặc biệt vào năm 1930 và nửa đầu năm 1931, hai người từng nhiều lần qua lại làm việc với nhau. Sở dĩ vào sau năm 1934, Quốc tế Cộng sản có ý đồ lấy Hồ Tập Chương thay thế thân phận Nguyễn Ái Quốc, là bởi vì vào những năm 1929 đến năm 1933, hầu hết những hoạt động của Hồ Tập Chương đều mang tên Hồ Chí Minh. Do đó mọi việc Hồ Tập Chương làm đều được hiểu một cách sai lầm là của Nguyễn Ái Quốc. Tuy nhiên, khi thẩm định kỹ các đoạn tư liệu ghi chép về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc, nếu không thật chú ý, sẽ rất khó làm rõ được chỗ nào là thuộc về Nguyễn Ái Quốc, chỗ nào thuộc về Hồ Tập Chương.

p45

Ví dụ như, vào tháng Sáu năm 1931, cảnh sát Hương Cảng bắt giữ Nguyễn Ái Quốc tại một căn phòng số nhà 186, phố Tam long, Hương Cảng, tìm được một tấm hộ chiếu dán ảnh Hồ Chí Minh. Bản hộ chiếu nầy đương nhiên không phải của Nguyễn Ái Quốc mà là của Hồ Chí Minh. Nếu không thì việc gì phải nói “hộ chiếu dán ảnh Hồ Chí Minh” mà là “tìm được một hộ chiếu dán ảnh Nguyễn Ái Quốc” chẳng phải là rõ ràng sao ? Huống hồ, bí danh Hồ Chí Minh nầy, mãi dến năm 1942 mới có. Rốt cuộc Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Tập Chương là Hồ Tập Chương, hai người hoàn toàn không phải là một. Nội dung đăng ký hộ chiếu càng nói rõ không thể là Nguyễn Ái Quốc. Tấm hộ chiếu ghi “công dân Trung Quốc, đến Thailand quan hệ công tác, thời hạn 6 tháng, do Lãnh sự quán Trung Quốc ký”.
Căn cứ vào tấm ảnh Hồ Chí Minh trong hộ chiếu, sẽ biết rõ vào khoảng trước, sau năm 1930, tất cả những gì Hồ Tập Chương viết và làm đều bị hiểu là của Nguyễn Ái Quốc. Từ năm 1929 đến năm 1931, Hồ Tập Chương là phái viên của Quốc tế Cộng sản tại Cục Phương Đông tham gia hoạt động thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam, Thailand, Malaysia cùng nhiệm vụ như Nguyễn Ái Quốc và hai người đã nhiều lần làm việc với nhau. Tuy nhiên, những tài liệu ghi chép về thời kỳ nầy lại chỉ ghi danh Hồ Chí Minh. Do vậy, công tác của Hồ Tập Chương bị cố ý ẩn giấu hoặc chuyển dịch sang cho Nguyễn Ái Quốc, vì thế, trong tất các hồ sơ còn lại đều không có tên Hồ Tập Chương.
Hiện nay, căn cứ theo Sophie Quinn-Judge trong “Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1911–1941”, chương 5, “Cao trào Cách mạng 1930–1931”, tham chiếu với những tài liệu có liên quan đến Hồ Chí Minh trong thời kỳ nầy, tôi đã tiến hành phân tích và tách được những ghi chép về hoạt động của Hồ Tập Chương, kết qủa cho thấy, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh không phải là một người. Hoạt động của họ, thời kỳ 1929–1933 là tương hỗ theo kiểu “râu ông nọ cắm cằm bà kia”(nguyên văn “mũ ông Trương, ông Lý đội”). Xin dẫn ra một số tài liệu dưới đây để so sánh, đối chiếu:

1- Mùa thu năm 1928, Bí thư thứ nhất Chi bộ Quốc tế Cộng sản Cục Viễn Đông tại Thượng Hải quyết định thành lập tổ chức “Liên minh các Dân tộc Phương Đông bị Áp bức”. Trụ sở Liên minh đặt tại Singapore, trực tiếp lãnh đạo các tổ chức Cộng sản Đông Nam Á và Bán Đảo Đông Dương. Malaysia, Indonesia, Myanmar, Thailand, và Việt Nam đều trực thuộc cơ quan nầy. (Dẫn từ William J. Duiker, trong “Truyện Hồ Chí Minh”, trang 161)

2- Ngày 12 tháng Mười Một năm 1929, tiến hành hội nghị thảo luận tái lập Đảng Cộng sản Nam Dương (Indonesia). Quốc tế Cộng sản hầu như không giải thích được khái niệm vị trí địa lý của vùng Nam Hải Trung Quốc (vùng biển phía nam Trung Quốc). Người châu Âu thuộc Cục Viễn Đông cho rằng Singapore nằm giữa Ấn Độ và Indonesia, thuộc quyền quản lý của Cục Trung Đông, cho nên Kuusinen (của Quốc tế Cộng sản) mới xem Singapore là khu vực Ấn Độ và Indonesia làm mục tiêu công tác.

(Tác giả nhận xét: Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội có một bản sơ đồ điều tra thực địa ngày 3 tháng Ba năm 1930, vẽ giản đồ vùng phụ cận giữa Singapore và bán đảo Mã lai kèm theo chú giải bằng tiếng Hoa và tiếng Anh, ký tên Mục Hàm. Căn cứ vào bút tích tiếng Anh cùng những chứng cứ tra cứu được, bản sơ đồ nầy, chính là do Hồ Tập Chương vẽ.
Lúc ấy, Nguyễn Ái Quốc đang ở Xiêm La chữa bệnh lao phổi, thời gian vừa đúng một năm. Hơn nữa, đây cũng là lúc giữa Nguyễn Ái Quốc và Quốc tế Cộng sản đã hoàn toàn mất liên lạc, chưa từng được Quốc tế Cộng sản giao nhiệm vụ công tác, nên không thể có khả năng qua lại vùng Bán đảo Mã Lai điều tra thực địa vẽ sơ đồ. Từ tấm sơ đồ có thẻ xác dịnh những dòng chữ tiếng Anh không phải bút tích Nguyễn Ái Quốc, cũng chưa bao giờ thấy ông ta có bí danh Mục Hàm ký trên các văn bản).

p46

=============
Chú thích:
Sophie Quinn-Judge trong “Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1911–1941”, trang 148. Phần phụ lục kèm theo sơ đồ Vùng phụ cận Bán đảo Mã Lai Á của Mục Hàm và thân bút bằng tiếng Anh của Nguyễn Ái Quốc –Hồ Chí Minh.

(Sơ đồ Vùng phụ cận Bán đảo Mã Lai Á của Mục Hàm)

(Và thân bút bằng tiếng Anh của Nguyễn Ái Quốc –Hồ Chí Minh)

=============
3- Đầu năm 1930, Rylski báo cáo, khu vực Nam Dương, Đông Nam Á của Cục Viễn Đông đang thiếu người liên lạc, hầu như chỉ trông chờ vào các đồng chí Trung Quốc mà không có biên chế riêng để phái đến Đông Dương chỉ đạo. Thibault và Quốc tế Cộng sản cũng đã mất liên lạc. Vì thế, chúng tôi quyết định cử đồng chí Hồ Chí Minh đảm nhiệm công tác liên lạc, đồng thời giao một số công việc, tiếp tục hoạt động ở trong nước. Hồ Chí Minh sẽ có phương pháp làm việc hiệu quả và rất có thể sẽ tìm được nguyên nhân Thibault bị mất liên lạc. Mặt khác Mạc Tư Khoa cử Ryski hay Eisler đều không biết Trung văn nên rất khó làm việc.

(Tác giả nhận xét: Vào năm 1930, trình độ Nguyễn Ái Quốc nghe, nói, đọc và viết Trung văn là kém, không thể làm công việc phiên dịch tiếng Trung. Nguồn dẫn từ Sophie Quinn-Judge trong “Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1911–1941”, trang 148 và 162).

4- Ngày 27 tháng Mười năm 1929, Quốc tế Cộng sản gởi một bức thư đến ban lãnh đạo An Nam Cộng sản đảng tại Hương Cảng, nói đến việc phái viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc đến truyền đạt chỉ thị. Ngày 16 tháng Mười Hai năm 1929, Hồ Tùng Mậu dẫn một phái viên Quốc tế Cộng sản đến Hương Cảng. Vị phái viên nầy thông báo, Đông Dương Cộng sản đảng, An Nam Cộng sản đảng và Đông Dương Cộng sản liên đoàn đều chưa chấp nhận thành lập Đảng Cộng sản, vì thế không được Quốc tế Cộng sản công nhận. Cho đến trước khi hợp nhất ba tổ chức Cộng sản, khu vực Đông Nam Á vẫn chỉ được coi là một đoàn thể của Chủ nghĩa Marx dưới sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản.

(Tác giả nhận xét: Vị đại biểu Trung Quốc, phái viên Quốc tế Cộng sản chính là Hồ Tập Chương. Thân phận Hồ Tập Chương lúc ấy, ngoài việc là phái viên Quốc tế Cộng sản được cử đến hoạt động ở Đông Dương, còn là đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nguồn dẫn từ: William J. Duiker, trong “Truyện Hồ Chí Minh”, trang 161).

5- Năm 1930, “Liên minh Mậu dịch Thái Bình Dương” tại Vladivostok lập ra một cơ quan chuyên trách. Hồ Chí Minh được Cục Viễn Đông tại Thượng Hải điều động đến công tác, mở một khóa huấn luyện tuyên truyền 3 tháng cho các Hoa kiều tại Việt nam là Lê Quảng Đạt, Hồ Tùng Mậu và vợ là Lý Phương Thuận.

(Tác giả nhận xét: Năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đã có thâm niên mười năm là đảng viên Cộng sản, vả lại, năm 1924, ông ta dã được học một khóa huấn luyện của Quốc tế Cộng sản ở Đại học Phương Đông Mạc Tư Khoa, nên không có nhu cầu giáo dục ngắn hạn. Trong khi ấy, Hồ Tập Chương mới đến công tác tại “Liên minh Mậu dịch Thái Bình Dương”, rất cần tham gia khóa học nầy. Nguồn dẫn từ Sophie Quinn-Judge trong “Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1911–1941”, trang 162).

p47

6- Tháng tư năm 1930, Cục Viễn Đông gởi đi một bức thư không ký tên, nói là sẽ có một đồng chí Trung Quốc “nhận chỉ thị của chúng tôi” đến Singapore tham gia Đại hội Đảng Cộng sản Malaysia. Tháng tư năm 1930, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Phương Nam lâm thời Ngô Gia Tự được biết, một vị đại biểu Trung Quốc thuộc Cục Viễn Đông, được được phái từ Thượng Hải đến Singapore, giữa đường đã ghé qua Sài Gòn. Vị đại biểu nầy cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam trực thuộc Cục Viễn Đông là không hợp lý. Đây chính là điều ông phản đối.

(Tác giả nhận xét: Nguyễn Ái Quốc rất tích cực chủ trương đảng Cộng sản trực tiếp chịu sự chỉ đạo của Cục Viễn Đông, trong khi ấy, vị phái viên Trung Quốc nầy lại chủ trương các đảng Cộng sản vùng Đông Nam Á lại trực thuộc Bí thư xứ Singapore. Rõ ràng hai quan điểm nầy là bất dồng. Vị đại biểu Trung Quốc ấy chính là Hồ Tập Chương. Nguồn dẫn từ Sophie Quinn-Judge trong “Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1911–1941”, trang 162, 164).

7- Tháng tư năm 1930, khai mạc lần thứ nhất “Hội nghị Liên minh Trung Quốc Phản đối Chủ nghĩa Đế quốc”. Các đại biểu gồm Ấn Độ, Hàn Quốc, Nam Dương, Đài Loan, Đông Nam Á, Trung Quốc. Liên minh sẽ đặt trụ sở ở Singapore. Hồ Chí Minh cũng có khả năng tham gia hội nghị nầy.

(Tác giả nhận xét: Ông Hồ Chí Minh nầy chính là Hồ Tập Chương. Nguồn dẫn từ Sophie Quinn-Judge trong “Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1911–1941”, trang 167).

8- Ngày 18 tháng năm năm 1930, Eisler và Bespalov gởi văn bản đến cơ quan bí thư Cục Phương Đông, nội dung là cử Hồ Chí Minh đến Singapore tham dự Hội nghi Malaysia cùng với việc lựa chọn đại biểu đi Mạc Tư Khoa tham gia “Hội nghị Quốc tế Lao động Đỏ” lần thứ V.

(Tác giả nhận xét: Hồ Chí Minh nầy chính là Hồ Tập Chương, phụ trách công tác liên lạc, tuyên truyền vận động giai cấp công nhân. Nguồn dẫn từ Sophie Quinn-Judge trong “Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1911–1941”, trang 168).

9- Tháng Sáu năm 1930, Ban Bí thư Cục Phương Đông cử một đại biểu đi Xiêm La thúc giục Xiêm La Ủy viên Hội (do các đảng viên Trung Quốc thành lập), kết hợp với số đảng viên Đông Bắc bộ Việt Nam thành một chi bộ đảng.

(Tác giả nhận xét: Vị phái viên mà Cục Phương Đông cử đến Xiêm la chính là Hồ Tập Chương mà không phải là Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc vào cuối tháng Ba năm 1930 đã đến Bangkok thông báo với kiều dân Việt Nam về việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời cũng theo dõi việc thành lập Đảng Cộng sản Thailand. Khoảng thời gian nầy, cả Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tập Chương đều được Quốc tế Cộng sản giao phó nhiệm vụ. Có một tài liệu nằm trong văn kiện “Nghiên cứu Lịch sử nước Nga Hiện đại” là “Báo cáo Tình hình Phổ biến của Xiêm La”, nguyên văn bằng tiếng Trung, không ký tên. Căn cứ vào nội dung mà phán đoán , thì bản báo cáo nầy do Hồ Tập Chương viết. Trước năm 1930, Nguyễn Ái Quốc chưa thể đủ trình độ để viết những báo cáo trường thiên đại luận bằng Hoa ngữ, cũng chưa từng thấy ông dùng Trung văn trong bất cứ văn kiện nào. Nguồn dẫn từ Sophie Quinn-Judge trong “Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1911–1941”, trang 169.)

10- Thời gian 1930–1931, căn cứ vào quyển thứ 3 trong “Hồ Chí Minh Toàn tập”, Các báo cảo gởi Quốc tế Cộng sản, nguyên văn bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Trung. Đối với văn kiện bằng tiếng Anh, những bài trường thiên đại luận, chính xác là đều do Hồ Tập Chương viết. Trong đó, hai bản báo cáo đề ngày 5 tháng Ba năm 1930 (liên quan đến tình hình vận động cách mạng ở Việt Nam), và ngày 20 tháng Chín năm 1930 (vận động cách mạng Đông Dương), cũng có thể khẳng định là do Hồ Tập Chương viết.

p48

Hãy lấy bản báo cáo liên quan đến tình hình vận động cách mạng ở Việt nam để chứng minh. Bản báo cáo nầy không ký tên (chữ ký hẳn đã bị Quốc tế Cộng sản xóa), nguyên văn bằng tiếng Anh, dùng ngôi thứ ba, gồm 8 trang, trình bày từ lúc thực dân Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam đến phong trào Cần vương, phong trào Đông du và quá trình vận động quần chúng Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ đấu tranh chống Pháp. Nội dung bài viết, bút pháp so sánh với Nguyễn Ái Quốc khác nhau rất xa. Đặc biệt, tác giả còn nhận định: “Các phần tử trí thức Việt Nam không ngừng vượt trùng dương theo tổ chức đảng do một vị Hoàng thân làm chủ tịch và một vị đại văn hào làm tổng thư ký, hy vọng sẽ được Nhật Bản giúp đỡ”. Đoạn văn nầy được ghi chép vô cùng kỳ lạ, rõ ràng không phải do Nguyễn Ái Quốc viết. “Hoàng thân” ở đây là chỉ thân vương Cường Để, còn “đại văn hào” chính là Phan Bội Châu, lúc ấy là thủ lĩnh của phong trào Đông du. Tuy nhiên, những danh từ “chủ tịch”, “tổng thư ký”, “đại văn hào”… vào thời điểm những năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đều không thể sử dụng, đơn giản là vì lúc ấy nó chưa phổ biến. Hơn nữa, không ít lần người viết dùng từ “An Nam” là một danh xưng khá miệt thị do thực dân Pháp gọi người Việt Nam.
Tôi đã nghiên cứu kỹ mới phát hiện ra, cách xưng hô nầy, lúc ấy là thông dụng đối với người Nhật Bản. Hồ Tập Chương là người Đài Loan, rất am hiểu văn hóa Nhật nên mới dùng nhân xưng ngôi thứ ba để viết báo cáo. Tuy nhiên, tôi dám chắc, bản báo cáo đã bị cắt xén. Nguyên văn ở sau hàng thứ ba xuất hiện một tiểu chú thích, lại là chú thích (7) mà không có chú thích (1) đến (6). Bản báo cáo có tất cả 13 tiểu chú nhưng không có nội dung kèm theo, từ đó, tác giả phán đoán, bản báo cáo không phải do Nguyễn Ái Quốc viết, mà người viết chính là Hồ Tập Chương, bút danh Mục Hàm.
Từ hai bản báo cáo trên, ta có thể thấy rõ, Hồ Tập Chương đã từng có mối quan hệ rất mật thiết với Đảng Cộng sản Việt Nam.

11- Tại Long Châu, Quảng Tây vào năm 2005, Nhà triển lãm Hồ Chí Minh tiếp tục mở cửa. Trên tường trái trước cửa là khối đá hoa cương màu hồng nhạt khắc những dòng chữ khải, giới thiệu tóm tắt địa chỉ cơ quan bí mật của Cách mạng Việt Nam tại Long Châu. Nội dung đặc biệt đề cập vào đầu năm 1931, các nhà cách mạng Việt Nam, lấy danh nghĩa buôn bán, đã thuê phòng thiết lập cơ quan Cách mạng Việt Nam bí mật. Những người thường xuyên làm việc ở đây chủ yếu là lãnh tụ Hồ Chí Minh và các Ủy viên Thường vụ Trung ương, trong đó có Hoàng Văn Thụ, Lý Như Đông…
Ngày 27 tháng Mười Hai năm 2006, nhật báo Quảng Tây đăng một bài viết của phóng viên Lý Vĩ Đông phỏng vấn Nông Nhị đại tẩu là vợ Nông Nhân Bảo. Nông Nhân Bảo từng là Hoa kiều tại Việt nam. Nhị đại tẩu là người Việt. Nội dung bài viết đề cập đến cuối năm 1930, tại nhà Nông Nhân Bảo, Hồ Chí Minh và Hoàng Văn Thụ lập cơ sở liên lạc Cách mạng Việt Nam. Lúc ấy Hồ Chí Minh đã có được điều kiện thuận lợi để triển khai hoạt động, lại được Nông Nhân Bảo giới thiệu đến làm việc tại một quán rượu ở đường Bạch Sa khoảng nửa năm. Sau khi Hồ Chí Minh rời Long Châu đến Hương Cảng, việc liên lạc ở đây đều do Hoàng Văn Thụ đảm nhiệm.
Một bài viết khác vào ngày 9 tháng Mười Hai năm 2006, phỏng vấn Tô Thúy Phúc là vợ Nông Kỳ Chấn. Bà Tô Thúy Phúc năm nay đã 99 tuổi nhưng vẫn hoàn toàn minh mẫn. Bà hướng về chúng tôi kể lại tình hình công tác lúc ấy của Hồ Chí Minh ở nhà mình:

“Năm 1930, khởi nghĩa Long Châu thành lập Hồng bát Quân, Nông Kỳ Chấn được cử làm Tiểu đội Trưởng Nông dân Xích vệ Quân. Không lâu, Hồng bát Quân rút khỏi Long Châu. Cấp trên thông báo là, Nông Kỳ Chấn tạm rút vào hoạt động bí mật, chờ đợi thời cơ. Một thời gian sau, ông ấy trở về làm hương trưởng Long Châu. Chức hương trưởng chỉ là cái vỏ bên ngoài, thực chất bên trong là liên lạc viên của Đảng Cộng sản.

p49

Năm ấy, sau khi trạm liên lạc bí mật được thành lập, Hồ Chí Minh lấy nhà Nông Kỳ Chấn làm điểm dừng chân. Để che mắt người ngoài, ông nói Hồ Chí Minh là người bà con từ quê ra giúp việc đồng áng. Hồ Chí Minh giỏi việc nhà nông, từ cho gà lợn ăn đến giã gạo, gánh lúa, cày bừa ruộng đều làm được”.

Theo những bài báo trên, rõ ràng cho thấy cuối năm 1930 đến tháng Sáu năm 1931, Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông đã hoạt động ở Long Châu thuộc khu vực biên giới Việt Trung. Vì thế, vị Hồ Chí Minh nầy không thể là Nguyễn Ái Quốc. Căn cứ theo thời gian hoạt động, địa bàn hoạt động, thì lúc ấy, Nguyễn Ái Quốc đang “chu du” ở Hương Cảng. Cũng vào thời kỳ nầy, Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai đang yêu nhau thắm thiết, cho nên, không thể bí mật hoạt động ở Quảng Tây.

6- Hồ sơ Hồ Tập Chương bị bắt ở Quảng Châu:

Vào lúc 2 giờ sáng ngày 6 tháng Sáu năm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Hương Cảng bắt giữ. Nguyên nhân bị bắt là, một đảng viên Cộng sản tên là Serge Lefrance của Ban bí thư Công hội Thái Bình Dương, đã tiết lộ bí mật Cục Viễn Đông có liên quan đến Nguyễn Ái Quốc. Việc Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hương Cảng đã trở thành một sự kiện quốc tế được báo chí đưa tin, sau nầy lại còn được làm thành phim, hầu hết công chúng đều biết. Thế nhưng, việc Hồ Tập Chương thì ngược lại, hoàn toàn bí mật. Vì có liên quan đến vụ Noulens nên các thành viên của tổ chức “Công hội Thái Bình Dương” trực thuộc Quốc tế Cộng sản, đều bị truy bắt, phải bỏ Thượng Hải chạy về Quảng Châu, cuối cùng Hồ Tập Chương bị đặc vụ Quốc dân Đảng bắt được vào mùa hè năm 1931.
Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hương Cảng và Hồ Tập Chương bị bắt ở Quảng Châu, về thời gian, địa điểm, nội dung sự việc rất giống nhau, rất dễ để liên kết từ hai thành một. Đương nhiên với sự ẩn giấu của Trung cộng, người đời chỉ biết sự kiện “Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hương Cảng” mà không hề biết đến “Hồ Tập Chương bị bắt ở Quảng Châu”, thậm chí còn đem hai sự kiện khác nhau gộp lại làm một. Như trên đã nói, liên quan đến việc Hồ Tập Chương bị bắt ở Quảng Châu, chưa từng thấy báo chí đưa tin, lại càng không được ghi chép ở bất cứ hồ sơ nào. Cho đến năm 2000, khi tập “Hồi ký Trịnh Siêu Lân” được xuất bản, độc giả mới biết đến sự kiện nầy:

“Mùa hè năm 1931, Phó Đại Khánh ở nhà giam Quảng Châu gặp Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh nhờ Phó Đại Khánh chuyển lời đề nghị Đảng Cộng sản Trung Quốc tìm cách giải cứu”.

(Xem thêm: “Lịch sử và hồi ức — Ghi chép Cuối đời của Trịnh Siêu Lân”, quyển 2 “Truyện Phó Đại Khánh”, hoặc tham khảo “Hồi ức Trịnh Siêu Lân”, trích yếu như phụ lục 2 của tác giả).

Sự kiện Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Châu, trước và sau Trịnh Siêu Lân (“Truyện Phó Đại Khánh”), chưa có bất cứ tờ báo nào đưa tin, thậm chí còn bị ngoa truyền lầm lẫn sang sự kiện Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hương Cảng. Tuy nhiên, gia đình chúng tôi lại biết khá rõ qua tin đồn. Ước khoảng vào năm 1932, Hồ Tập Chương có gởi người bạn một số tiền về Đài Loan giao cho người nhà, đồng thời thông báo để các bậc phụ huynh biết là ông đang bị giam giữ ở Quảng Châu. Nhiều năm sau, một người anh họ lại đưa cho tôi tấm ảnh Hồ Tập Chương rồi bảo: “bị trói gô cổ, chân xích, tay cùm” làm tôi vô cùng ghi nhớ. Nay đối chiếu với bài báo “Phía dưới Nam Sơn dằng dặc” có một thiên bình luận của Trịnh Siêu Lân trong “Truyện Phó Đại Khánh”, đã đủ để chứng minh Hồ Chí Minh quả thực đã bị bắt ở Quảng Châu. Chỉ vì người đời nhầm lẫn từ “Phùng Kinh” thành “Mã Lương” (tự dạng các chữ Hán phồn thể nầy khá giống nhau), nên đã đem Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc đồng nhất thành một người, rồi viết báo, viết tiểu sử, in ấn phát hành rộng rãi, khiến cho “Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hương Cảng” và “Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Châu” bị hiểu lầm thành cùng một sự kiện.

p50

7- Những ghi chép về sự kiện Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Châu:

Mùa hè năm 1931, Hồ Tập Chương bị bắt ở Quảng Châu, Đảng Cộng sản Trung Quốc tát nhiên biết rõ chuyện nầy. Tuy nhiên, vì có liên quan đến Nguyễn Ái Quốc, nên các hồ sơ của vụ nầy đều được giấu đi. Mặt khác, cũng có thể, hai sự kiện cùng xảy ra thời gian, tính chất khá giống nhau, nên bị coi là cùng một vụ việc mà không chú ý đến những khía cạnh khác.
Đối chiếu với “Mối tình Nồng thắm giữa Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan” của Lương Ích Tân, “Hồi ký Trịnh Siêu Lân”, cùng với “Đài Loan Nhật nhật Tân báo” ngày 12 tháng Mười Một năm 1938, thì thấy các tư liệu trong cả ba công trình nghiên cứu nầy đều khẳng định sự kiện Hồ Tập Chương bị bắt ở Quảng Châu là có thật, đồng thời cũng chứng minh ông là người thuộc sắc tộc Khách Gia quê quán Miêu Lật, Đài Loan: “Năm 1931, Hồ Tập Chương trốn đến Quảng Châu, bị bắt giam trong một thời gian ngắn”. Năm 1946, Ngô Trọc Lưu có xuất bản cuốn tiểu thuyết bằng tiếng Nhật “Hồ Chí Minh”, đã viết về sự kiện nầy như sau: “Vào nửa đêm, Hồ Chí Minh bị cảnh sát bắt đưa đến một gian phòng kín thẩm vấn, sau đó gán tội danh gián điệp và bị giam giữ”. Ngô Trọc Lưu miêu tả Hồ Chí Minh bị bắt giữ chính là Hồ Tập Chương. Biết tin nầy, người em ruột của ông là Hồ Tập Dưỡng đã thông báo cho gia tộc biết, Đó chính là người đến từ Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan, từng được truyền khẩu trong ký ức của gia đình chúng tôi.

8- Lương Ích Tân viết về sự kiện Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Châu:

“Mối tình Nồng thắm giữa Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan” của Lương Ích Tân, ở mục “Đảng sử Thiên địa”, đăng tải tại nguyệt san số 12, “Nhân Dân” văn trích, năm 2004. Trong thiên V nhan đề “Bài ca Buồn về Tình yêu và Hôn nhân”, tôi đã tường thuật tóm tắt những sự việc có liên quan đến mối tình của Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan.
Trong “Mối tình Nồng thắm giữa Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan”, Lương Ích Tân, ở phần “Lẩn trốn bị truy bắt ở Quảng Châu”, viết:

Đầu năm 1930, Tưởng Giới Thạch điều quân truy bắt Hồng Quân khu Giang Tây Tô, đồng thời ra mệnh lệnh các địa phương khẩn trương tìm bắt các phần tử Cộng sản. Dương Thành, Quảng Châu cũng không ngoại lệ. Thời kỳ nầy Hồ Chí Minh đã đến Quảng Châu, thông qua liên lạc viên, nhờ Tỉnh ủy Quảng Đông giúp đỡ. Tỉnh ủy bí mật Quảng Đông, do Đào Chú Làm bí thư, bố trí nữ đảng viên Lâm Y Lan đóng giả làm vợ để bảo vệ ông khỏi bị bắt”.

Tiếp theo mục “Lâm Y Lan chấp hành mệnh lệnh làm vợ”, tác giả tường thuật: “Lâm Y Lan làm công tác bảo vệ Hồ Chí Minh tại Quảng Đông, Hương Cảng, lấy danh nghĩa là vợ chăm sóc Hồ Chí Minh rất chu đáo. Không lâu sau, do bị phản bội, Hồ Chí Minh bị bắt”. Tiếp đến “Trong hoạn nạn biết tấm lòng thành”, đoạn văn kể: “Ba ngày sau, Hồ Chí Minh được ra khỏi nhà giam, Lâm Y Lan nhìn đăm đăm vào gương mặt hốc hác của Hồ Chí Minh nói: ‘ Chí Minh, huynh khổ sở quá ! Vì sao không đợi muội đến đón ?’ “. Theo những lời Lương Ích Tân kể trên, hẳn là đã quá rõ ràng, Hồ Chí Minh, vào mùa hè năm 1931, bị Quốc dân Đảng Quảng Châu bắt giữ.

p51

9- Ngô Trọc Lưu ở Đài Loan và trường thiên tiểu thuyết “Hồ Chí Minh”:

Ngô Trọc Lưu được vinh danh là “Người cha của nền văn nghệ Đài Loan”, vào năm 1946, “Đài Loan Quốc hoa Thư tịch” đã xuất bản bộ tiểu thuyết “Hồ Chí Minh” của ông bằng tiếng Nhật.
Nhan đề cuốn sách là “Hồ Chí Minh”, sau đó được đổi thành “Hồ Thái Minh”, khi được chuyển sang Trung văn lại đổi là “Đứa Con côi châu Á”. Bản “Hồ Chí Minh” bằng tiếng Nhật, Ngô Trọc Lưu đã viết lời nói đầu, trong đó có đoạn làm người ta tỉnh ngộ:

“Thế giới ngày nay lại biến thành màu xám, nếu như muốn tìm tòi tận gốc của nó, không nhất thiết phải sợ hãi những sự thật đã bị ẩn giấu. Chúng ta đòi hỏi lịch sử phải được minh bạch. Cần phải xem việc lẩn tránh sự thật chính là xuyên tạc lịch sử. Vì thế chúng ta nhất dịnh phải tìm hiểu sự thật trong quá khứ mới mong có được lời giải”.

(“Người cha của văn nghệ Đài Loan” Ngô Trọc Lưu, viết trường
thiên tiểu thuyết “Hồ Chí Minh” vào năm 1946, bản tiếng Nhật, do
“Đài Loan Quốc hoa Thư tịch” xuất bản, gồm 4 thiên; sau đó được
đổi thành “Hồ Thái Minh”, khi được chuyển sang Trung văn lại đổi
“Đứa Con côi châu Á”)

“Hồ Chí Minh” là bộ tiểu thuyêt được viết trong bối cảnh lịch sử Thế chiến thứ Hai, khởi thảo năm 1943, hoàn thành năm 1945, bối cảnh là thời kỳ Đài Loan bị Nhật chiếm đóng. Thời kỳ ấy, bất cứ nhà văn nào cũng không dám lấy hiện trạng lịch sử đương đại để viết tiểu thuyết, tuy nhiên, nếu chỉ dùng hình ảnh có tính ẩn dụ miêu tả thì vẫn được phép.
Ở bản Trung văn “Đứa Con côi châu Á”, thiên thứ ba có các chương: “Xuân lành”, “Giam cầm”, Vượt ngục” v.v… có chen lẫn những đoạn Hồ Chí Minh trốn khỏi Quảng Châu và Mối tình nồng thắm với Lâm Y Lan đều là những bằng chứng lịch sử. Viết tiểu thuyết “Hồ Chí Minh”, hẳn Ngô Trọc Lưu đặc biệt có ẩn ý là bảo tồn tư liệu lịch sử, chứng minh Hồ Tập Chương là người Đài Loan, cũng chính là Hồ Chí Minh. Trong “Hồ Chí Minh”, các chi tiết đan xen nhau mà phần lớn kể những chuyện cũ về gia tộc Hồ Tập Chương. Trước đây, Ngô Trọc Lưu và Hồ Tập Chương rất quan biết nhau, sau nầy ông cùng với em trai Hồ Tập Chương là Hồ Tập Dưỡng, cháu rể Hồ Tập Chương là La Lộc Xuân có mối quan hệ rất thân mật. Những người nầy, trước sau đều là bạn đồng học trường Đại học Sư phạm Đài Bắc. Vào khoảng năm 1943, sau khi Ngô Trọc Lưu biết tin Hồ Tập Chương đổi tên thành Hồ Chí Minh, trong đầu chợt nảy ra ý tưởng viết cuốn tiểu thuyết nầy để bảo tồn một thời kỳ bí mật của lịch sử.

10- Hồ Tập Chương bị bắt ở Hà Nam, giam tại nhà ngục “Nam Thạch Đầu”:

Ngày 12 tháng Mười Một năm 1938, “Đài Loan Nhật nhật Tân báo” đưa tin, Hồ Tập Chương bị bắt giam tại nhà lao Nam Thạch Đầu, Hà Nam. Rốt cuộc “Hà Nam” là địa phương nào ? Nam Thạch Đầu ngục ở đâu ? Căn cứ vào “Lịch sử tổ chức Đảng Cộng sản thành phố Quảng Châu”, “Hà Nam” ở phía nam sông Châu, còn nhà giam Nam Thạch Đầu ở phố Nam Thạch Đầu, khu Hải Châu, thành phố Quảng Châu gọi là “Trại trừng giới”. Sự kiện ngày 15 tháng tư năm 1927, Quốc dân Đảng mở cuộc càn quét bắt giữ hàng loạt đảng viên Cộng sản giam giữ tại đây. Liên quan đến sự kiện “Đài Loan Nhật nhật Tân báo” đưa tin Hồ Tập Chương bị giam tại nhà lao Nam Thạch Đầu, phải chăng có dính dáng đến việc đồng nhất thân phận Hồ Tập Chương với Hồ Chí Minh, khi Hồ Chí Minh vào tháng Mười Một đến tháng Mười Hai năm 1938 đột nhiên mất tích ở cơ quan Bát lộ Quân Quế Lâm, Quảng Tây ? Hồ Chí Minh bị giam ở Quảng Châu nhưng lại mất tích ở Quế Lâm nửa tháng đều thuộc tiểu sử Hồ Chí Minh chưa bao giờ được báo chí đưa tin, lại càng chứng thực Hồ Tập Chương chính là Hồ Chí Minh. Mối quan hệ nhân quả đặc biệt quan trọng nầy sẽ được trình bày cụ thể ở mục “Cơ quan Bát lộ Quân Quế Lâm” và “Đài Loan Nhật nhật Tân báo” trong Thiên IV.

p52

11- “Hồi ký Trịnh Siêu Lân”: Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Châu:

Trang mạng “Bách gia Tranh minh”, chuyên mục “Lĩnh Nam Di dân” có bài “Dưới Nam Sơn dằng dặc” đã đăng tải một thiên dẫn từ “Hồi ký Trịnh Siêu Lân” liên quan đến sự kiện Hồ Chí Minh bị bắt ở Long Châu. Cũng ở chuyên mục nầy, ngày 16 tháng Chín năm 2007, đã đăng một bài viết về Hồ Chí Minh bị bắt, nội dung như sau:

“Tôi đã nhiều lần đọc trên mạng thấy các bài viết của nữ sĩ Đới Tình dẫn ra hai thiên “Truyện Phó Đại Khánh” của Trịnh Siêu Lân. Trong đó, Trịnh tiên sinh đã đề cập đến Phó Đại Khánh (thân phụ của nữ sĩ Đới Tình), vào năm 1931, đã gặp Hồ Chí Minh ở phòng tạm giam Quảng Châu. Tại đây, Hồ Chí Minh đã nhờ Phó Đại Khánh chuyển tin đến Đảng Cộng sản Trung Quốc đề nghị giải cứu. Từ những điều tác giả viết, Hồ Chí Minh tại đất Trung Quốc đã hai lần bị bắt, lần đầu bị cảnh sát Hương Cảng bắt vào năm 1931, lần sau bị Quốc dân Đảng bắt vào tháng Tám năm 1942 ở huyện Đức Bảo, Quảng Tây. Sau khi đọc hai bài viết trên, tôi tiến hành điều tra các nguồn tư liệu tiếng Trung, tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Việt, nhưng không thấy bất cứ tài liệu nào nói đến việc Hồ Chí Minh bị bắt giam ở Quảng Châu vào năm 1931. Sau nầy, tôi cũng đã hỏi một người rất thông thạo lịch sử Việt Nam là giáo sư Nguyễn Thế Anh, ông trả lời là chưa bao giờ được nghe chuyện ấy. Lẽ nào các sử gia lại để sót sự kiện nầy ? Tôi bèn đọc lại “Hồi ký Trịnh Siêu Lân” và tạm thời đề xuất mấy khả năng có thể xảy ra như sau:

1- Căn cứ vào văn bản của Trịnh Siêu Lân, Phó Đại Khánh bị bắt tại Calcutta, Ấn Độ, giải về Nam Kinh thẩm vấn, giữa đường gặp Hồ Chí Minh ở Quảng Châu, tức là hành trình Calctta-Quảng Châu-Nam Kinh. Vậy vì sao Phó lại không đi đường Calcutta-Thượng Hải-Nam Kinh, há chẳng tiện hơn sao ? Có lẽ tuyến Thượng Hải-Quảng Châu và Calcutta, thuyền bè qua lại không nhiều, hoặc không có. Về mặt tư liệu và chứng cứ, chúng ta có thể phán đoán, giữa Hương Cảng và Calcutta các phương tiện giao thông rất thuận lợi, hai nơi nầy lại đều là thuộc địa Anh Quốc, nên có khả năng Phó và Hồ gặp nhau tại Hương Cảng. Trịnh lão tiên sinh, khi viết truyện nầy đã chín mươi tuổi, những vấn đề thuộc về ký ức rất có thể nhầm lẫn đem Hương Cảng đổi thành Quảng Châu. Rất tiếc tác giả đã qua đời nên không thể xác minh tường tận. Chỉ có một điểm, thời gian hai người gặp Hồ Chí Minh bị bắt tại Hương Cảng cũng tương đối gần nhau. Trịnh tiên sinh nói sự việc xảy ra vào giữa mùa xuân và mùa hè, mà thời gian chính xác Hồ bị cảnh sát Hương Cảng bắt vào ngày 6 tháng Sáu năm 1931.

2- Hương Cảng và Quảng Châu cách nhau hơn trăm dặm, sau khi Hồ Chí Minh bị bắt ở Hương Cảng, cũng có thể bị giải đến Quảng Châu, vậy vì sao không có bất cứ tờ báo nào của thực dân Anh đưa tin nầy ? Nếu phán đoàn và suy luận việc nầy là không có khả năng, như vậy, sự kiện Hồ Chí Minh từng đến Quảng Châu rồi bị bắt (hoạc bị tạm giam) sẽ là một chi tiết nhỏ trong tiểu sử Hồ Chí Minh mới được phát hiện.”

Ở phần trên, chúng ta đã biết đến sự kiện “Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Châu” của “Lĩnh Nam di dân”. “Lĩnh Nam di dân” là chuyên mục của nhóm người Việt gốc Hoa, đã có những nghiên cứu về lịch sử Việt Nam hiện đại.

p53

Ở trang web nầy, đã có nhiều bài nghiên cứu về Hồ Chí Minh rất đáng đọc. “Lĩnh Nam di dân” đề cập đến sự kiện “Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Châu” có tham vấn ý kiến giáo sư Nguyễn Thế Anh, là chuyên gia nghiên cứu lịch sử cận đại Việt Nam. Đối với Hồ Chí Minh, ông cũng có những phát hiện độc đáo, nhưng lại không hề biết về sự kiện “Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Châu”. Có thể thấy, vào những năm 1929 đến 1932, việc Hồ Tập Chương hoạt động ở Trung Quốc, được Trung cộng bảo mật khá tốt. Trong “Truyện Phó Đại Khánh”, Trịnh Siêu Lân tiên sinh viết có đoạn Phó Đại Khánh tham gia giải cứu Hồ Chí Minh. Độc giả có thể đọc trang mạng “Lĩnh Nam di dân” hoặc tham khảo “Lịch sử và Hồi ức” của Trịnh Siêu Lân (Sử sự dữ hồi ức, Trịnh Siêu Lân vãn niên văn tuyển đệ nhị quyển). Ngoài ra cũng có thể xem thêm “Quốc tế Cộng sản và Trung Quốc”, quyển 3, ghi chép các sự kiện trước sau năm 1930: “Phó Đai Khánh và Hồ Tập Chương nhiệt tình giúp đỡ nhau cùng tham gia hội nghị Malaysia ở Singapore”.

12- Bí mật “Hồ Tập Chương bị bắt ở Quảng Châu”:

Liên quan đến bí mật “Hồ Tập Chương bị bắt ở Quảng Châu”, gia đình ở Miêu Lật Đài Loan, cả hai lần đều được biết tin. Lần thứ nhất ước vào khoảng trước sau năm 1932, Hồ Tập Chương gởi tiền nhờ người bạn chuyển giúp. Người bạn nầy từ Đại Lục qua Nhật Bản rồi mới trở về Đài Loan, thông báo với người nhà: “Hồ Tập Chương là công chức trong ‘Liên minh Mậu dịch Thái Bình Dương’ tại Thượng Hải, vì làm công việc in ấn tài liệu, bị kiểm tra, niêm phong nhà, có thể bị bắt, nên phải bí mật đến Quảng Châu tránh nạn, sau đó chuyển dến Quảng Tây, Xiêm La dạy tiếng Nhật và khai khoáng làm kế sinh nhai”. Từ sau năm 1933, vì đã nhiều năm không có tin tức gì, gia dình cho rằng Hồ Tập Chương đã mất ở quê người.
Lần thứ hai, vào khoảng tháng Mười Một đến tháng Mười Hai năm 1938, tờ “Nhật nhật Tân báo” bằng tiếng Nhật ở Đài Loan đưa tin “Hồ Tập Chương, người Đài Loan, được Nhật Bản huấn luyện đặc vụ đưa đến Quảng Châu công tác, vì thân phận bại lộ, bị bắt giam tại nhà ngục Quảng Châu. Thời kỳ quân đội Nhật tiến đánh Quảng Châu, ông ta chạy thoát khỏi nhà giam, được giao nhiệm vụ thông dịch viên cho ‘Quân lệnh Bộ Quảng Đông’ ”. Năm ấy, Hồ Tập Chương có một người em út là Hồ Tập Dưỡng bị quân Nhật trưng binh đưa đến Hạm đội Hương Cảng làm phiên dịch, đọc “Nhật nhật Tân báo” mới biết tin về Hồ Tập Chương, liền đến Quảng Châu thăm anh. Sau đó Hồ Tập Dưỡng về Đài Loan thông báo với gia đình tình hình gần đây của Hồ Tập Chương, đồng thời đặc biệt chuyển lời của anh với gia tộc: “Sắp tới anh ấy sẽ đi Vân Nam chuyển đến Việt Nam để phát triển tổ chức, nếu không thành công sẽ không về nhà. Gia dình không cần phải đi tìm”.
Từ đấy về sau, Hồ Tập Chương không có bất cứ sự liên lạc nào với gia đình.

13- Tiểu sử giản lược Hồ Tập Chương :

1- Sinh năm 1901 (Minh Trị thứ 34), tức ngày 11 tháng Mười năm Tân Sửu tại trang Đồng La, quận Miêu Lật, tỉnh Đài Loan vào thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Đài Loan. Cha là Hồ Dần Lượng, mẹ là Lý Thị, đứng thứ 7 trong số 10 anh chị em. Cụ Hồ Dần Lượng vốn là tú tài (sinh đồ), mở nhà dạy học kiêm nghề bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Dân địa phương phục tài xưng là “Thánh nhân”.

2- Từ năm 1906 đến 1910, học với cha. Ngay từ buổi thiếu thời, Hồ Tập Chương đã được tiếp thụ nền giáo dục Hán học nghiên ngặt, thông thạo thi từ, viết chữ phỏng, tuy không tinh diệu, nhưng đến việc đọc, viết đều không thành vấn đề. Sau đó ông còn luyện tập viết chữ cho đến khi có khả năng thư pháp.

p54

3- Từ năm 1910 đến 1915, vào học trường phổ thông Đông La, tiếp thụ nền giáo dục mới của Nhật với 3 năm Hán văn và Nhật văn.

4- Từ năm 1916 đến năm 1921, học Khoa Hóa học ứng dụng trường Đại học Công nghiệp Đài Bắc số 1 cùng với các sinh viên Nhật Bản. Căn cứ vào lời người chú của tác giả, thì, lúc bấy giờ cả quận Miêu Lật chỉ có một người là Hồ Tập Chương được tuyển chọn. Năm 1921 đỗ tốt nghiệp cấp ưu tú. Sau năm 1921, Đại học Công nghiệp Đài Bắc số 1 và số 2 hợp nhất, đổi tên là Đại học Công nghiệp Châu lập Đài Bắc. Đến năm 1943, số sinh viên là 1.545, trong đó, Nhật Bản 1.105, như vậy Đài Loan chỉ có 429. Người Đài Loan lấy lý do chỉ có một nửa sinh viên so với Nhật nên đã phản đối sự thống trị của đế quốc Nhật, chủ trương giành độc lập cho Đài Loan.

5- Từ năm 1922 đến 1928, Hồ Tập Chương trở về Miêu Lật cùng với huynh trưởng mở xưởng nấu rượu và khai trương hiệu thuốc. Cùng với rượu và thuốc, Hồ Tập Chương còn kết hợp với một người bạn sản xuất xì dầu. Ông thường xuyên giao du, tụ tập bạn bè trao đổi tin tức chống Nhật, học thêm tiếng Anh và đọc các sách báo Cộng sản, có dủ điều kiện hoạt động chống Nhật nhưng chưa tham gia các tổ chức Cộng sản.
6- Năm 1926, kết hôn với người con gái cùng thôn là Lâm Quế.
7- năm 1928, Sinh con gái đầu lòng là Hồ Tố Mai.
8- Mùa thu năm 1929, Hồ Tập Chương có người anh thứ ba là Hồ Tập Phỉ cùng với em rể Lưu Anh Hán và một người bạn ở Trung Lịch, đến bến Cơ Long, xuống tàu Nhật đi Thượng Hải. Sau chuyến đi, người bạn trở lại Đài Loan thông báo, gia đình mới biết Hồ Tập Chương đi Thượng Hải tham gia “Tổ chức Lao động Thái Bình Dương” của Quốc tế Cộng sản. Trước khi rời Đài Loan, Hồ Tập Chương đã đốt hết sách báo tài liệu liên quan đến Cộng sản khiến người nhà không hiểu lý do, sau nầy mới rõ, ông làn thế là để tránh liên lụy đến gia đình.

9- Mùa xuân năm 1930, con trai trưởng Hồ Thự Quang ra đời nhưng không biết mặt cha. Tôi có hỏi về mối quan hệ giưa Hồ Chí Minh với gia đình qua những thông tin trên báo chí, Hồ Thự Quang vào năm 2005 đã 75 tuổi, bị trúng gió nhẹ, cặp mắt hơi lệch, nói câu được câu mất: “Lúc còn nhỏ, bác Ba (Hồ Tập Phỉ) từng nói với tôi: ‘Cha cháu làm nghề buôn bán ở Thượng Hải’. Khi tôi mười lăm, mười sáu, chú Út (Hồ Tập Dưỡng) lại bảo: ‘Cha cháu có khả năng là Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Nam’. Chú Thự Quang thở dài nặng nhọc, nói đứt quãng:

“Mấy chục năm nay đã nghe nhiều tin đồn, chẳng biết có dụng ý gì. Chú muốn hỏi thân mẫu nhưng bà đã qua đời. Từ lúc phụ tử phân ly, mỗi người một phương, chưa từng gặp mặt, cũng chẳng để lại một dòng lưu bút nào. Được tôn xưng là ‘Cha già Việt Nam’, nhưng chú chắc rằng, trong lòng ông lúc nào cũng thương cảm mà thôi”.

Nói rồi, ông đứng dậy, nghẹn ngào. Tôi vội vàng đỡ lấy, an ủi: “Thời tao loạn, tạo hóa trêu ngươi. Từ lúc chính phủ Quốc dân Đảng tiến nhập Đài Loan, ông không thể về, chứ không phải không muốn về. Tiểu thúc công chẳng đã từng nói, trên hành trình bôn ba, Người lấy tên Hồ Quang làm bí danh, đó chẳng phải là tình cảm của Người với gia đình sao ?”

10- Trước sau năm 1932, những người bạn thay nhau truyền tin về gia đình là, Hồ Tập Chương làm việc tại “Liên minh Mậu dịch Thái Bình Dương” Thượng Hải, khoảng thời gian giữa mùa hạ và mùa thu năm 1931, vì việc in ấn tài liệu mà bị bắt tạm giam nhưng đã trốn đến được đến Quảng Châu, sau đó lại bị bắt ở Quảng Châu, đến khi được giải cứu thì chuyển về vùng biên giới Việt Trung, Xiêm La hoạt động.

11- Năm 1932–1933, có tin Hồ Tập Chương đến vùng núi Quảng Tây khai thác quặng, giám dịnh ngọc quý rồi sau đó sang Xiêm La hoạt động, có nhờ một người bạn gởi tiền về cho gia đình. Từ năm 1933, sau nhiều năm không nhận được tin tức, người nhà cho rằng Hồ Tập Chương đã qua đời.

12- Từ tháng Mười Một đến tháng Mười Hai năm 1938, tờ báo Đài Loan bằng tiếng Nhật “Nhật nhật Tân báo” đưa tin: “Hồ Tập Chương trốn khỏi nhà giam, bí mật đến quân doanh Nhật ở Quảng Đông làm nhiệm vụ thông dịch cho quan chỉ huy ‘Quân lệnh Bộ Quảng Đông’ ”. Như chúng ta đã biết, Hồ Tập Chương vốn tinh thông nhiều ngoại ngữ như là một vốn quý nên bị các thế lực tranh thủ lôi kéo không có gì lạ. Đến đây người nhà mới biết tin về ông.

p55

13- Đầu năm 1939, người em út của Hồ Tập Chương là Hồ Tập Dưỡng, bị quân Nhật trưng binh đưa đến Hạm đội Hương Cảng làm phiên dịch đã tìm đến Quảng Châu gặp Hồ Tập Chương. Khi về Đài Loan, ông đã báo tin cho gia đình, đồng thời chuyển lời dặn của Hồ Tập Chương là: “Anh ấy sắp sửa sang Việt Nam hoạt động, nếu không thành công sẽ không về nhà, gia đình đừng tìm kiếm”.

14- Đầu năm 1939, Hồ Tập Chương rời quân đội Nhật, gia nhập cơ quan Bát lộ Quân Quế Lâm, Quảng Tây thì không gặp lại Hồ Tập Dưỡng nữa, đồng thời cũng không có bất cứ sự liên lạc nào với gia đình.

15- Năm 1946, Ngô Trọc Lưu ở “Đài Bắc Quốc hoa Thư tịch”, xuất bản 4 cuốn tiểu thuyết bằng tiếng Nhật, trong đó có cuốn “Hồ Chí Minh” nổi tiếng, có xen kẽ một số sự kiện Hồ Tập Chương hoạt động ở Thượng Hải, bị bắt giam, chính là đã truyền đạt ngầm một thông tin tối quan trọng về bí mật Hồ Chí Minh ở Việt Nam chính là Hồ Tập Chương đến từ Đài Loan. Sau nầy, tiểu thuyết “Hồ Chí Minh” chuyển ngữ sang Trung Văn được đổi tên thành “Đứa Con côi châu Á”, bởi lẽ, sau khi quân đội Quốc dân Đảng tiến ra Đài Loan, Hồ Tập Chương không thể trở về quê hương, cuối cùng trở thành “Đứa Con côi châu Á”.

14- Tiểu sử Nguyễn Ái Quốc:

1- Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19 tháng Năm năm 1890 tại thôn Kim Liên, xã Nam Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, Việt Nam. Tên hồi nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, đến năm 11 tuổi đổi thành Nguyễn Tất Thành. Năm 17 tuổi, lúc ấy ông đang ở Paris đổi thành Nguyễn Ái Quốc. Cha là Nguyễn Sinh Sắc, mẹ là Hoàng Thị Loan, là con thứ 3 trong số 4 anh chị em. Cụ Nguyễn Sinh Sắc đỗ phó bảng được bổ tri huyện, sau khi bị cách chức chuyển sang làm thầy lang, lưu lạc đến phương Nam, bị bệnh chết năm 1928.
2- từ năm 1900 đến 1904, theo học chữ Hán nhưng không liên tục, thời gian rất ngắn.
3- Năm 1905 đến 1908, vào học dự bị trường Quốc học Huế, học Pháp văn, Việt văn, thời gian không quá 4 năm.
4- Năm 1910 làm giáo viên trường tiểu họ Dục Thanh, giảng dạy môn thể dục, thời gian khoảng 1 học kỳ.
5- Năm 1911, khi mới đến Sài Gòn, tạm thời học nghề làm bếp, sau đó lên tàu Amiral Latouche Trevil xin làm phụ bếp. Ngày 6 tháng Năm, Nguyễn Tất Thành theo tàu đến Singapore rồi tiếp tục hành trình sang Pháp, bắt đầu cuộc đời phiêu bạt hoạt động cách mạng.
6- Năm 1913, tàu đến Marseille, sau khi bốc hàng, lại tiếp tục đến Tây Phi rồi đi Bắc Mỹ.
7- Thời gian từ 1914 đến 1917, tạm trú ở London, ban ngày làm nghề quét tuyết, buổi tối phụ bếp cho một quán ăn, học tiếng Anh, tham gia tổ chức Công nhân ngoại kiều phản đối Chủ nghĩa Thực dân. Sau nầy, do tàu thủy cần người làm việc, lại tiếp tục hành trình sang NewYork.
8- Cuối năm 1917, quay lại Paris, lấy tên Nguyễn Ái Quốc, kết giao thân thiết với các nhà cách mạng Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường v.v…
9- Năm 1919, làm quen với các chính khách Tả khuynh Pháp Marcel Cachin, Paul Vaillant Couturier, Léon Blum và gia nhập đảng Xã hội Pháp cùng với nhóm Phan Văn Trường, xuất bản tờ tuần san “Việt Nam hồn”. Từ đó tên tuổi Nguyễn Ái Quốc nổi tiếng ở Pháp, ảnh hưởng trở lại Việt Nam.

p56

10- Gởi bản kiến nghị 8 điểm đến Hội nghị hòa bình Versailles, ký tên Nguyễn Ái Quốc, đã có ảnh hưởng lớn đến cả hai nước Pháp, Việt.
11- Năm 1920, tham gia Đại hội Tour của đảng Xã hội Pháp, lên án tội ác của Chủ nghĩa Tư bản Pháp đối với nhân dân Việt Nam. Cũng ở Đại hội nầy, Nguyễn Ái Quốc gia nhập đảng Cộng sản, trở thành đảng viên sáng lập của đảng Cộng sản Pháp.

(Nguyễn Ái Quốc ??? tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng xã
Hội Pháp vào năm 1920 ở thành phố Tour)

12- Năm 1921, Đại hội Đại biểu Toàn quốc đảng Cộng sản Pháp cử hành tại Marseille, tích cực hoạt động tuyên truyền phản đối Chủ nghĩa Thực dân Pháp, trở thành chuyên gia về vấn đề “Chủ nghĩa Thực dân” của Đảng Cộng sản Pháp.

(Nguyễn Ái Quốc ???, đại biểu Bán đảo Đông dương tại
Đại hội Cộng sản Pháp ở Marseilles vào năm 1921)

13- Cùng một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp ở Bắc Phi và Madagasikara đang sống tại Paris thành lập “Hội Liên hiệp Thuộc địa” (L’Union Intercoloniale) và xuất bản tờ báo “Người cùng Khổ” (“Le Paria”), phát hành được 38 kỳ.
14- Tháng Sáu năm 1923 rời Paris, tháng Bảy đến Mạc Tư Khoa, được phân công làm việc tại Cục Viễn Đông của Quốc tế Cộng sản. Tháng Mười, tham gia Đại hội thành lập “Hội Nông dân Quốc tế”, sau đại hội được bầu vào Đoàn chủ tịch của tổ chức nầy. Tháng Mười Hai, vào học trường Đại học Lao động Phương đông, tiếp thụ khóa trình huấn luyện 7 tháng về Chủ nghĩa Marx-Lenin.
15- Tháng Sáu năm 1924, tham gia Hội nghị Quốc tế Cộng sản lần thứ V, tìm mọi cách tranh thủ mọi cơ hội lên án đế quốc Pháp xâm lược và Chủ nghĩa Thực dân. Đảng Cộng sản Pháp giới thiệu ra tranh cử dân biểu khu vực Paris, mở ra cho Nguyễn Ái Quốc chỗ đứng trong vai trò vận động các nhà lãnh đạo quốc gia đối với phong trào Cộng sản.

( Nguyễn Ái Quốc ??? ở Moscow vào năm 1924 để tham gia Hội nghị
Quốc tế Cộng sản lần thứ V. Theo như trong phần ghi chú trong ảnh :
vành tai trái có vết sẹo của anh ta mà qua đó cảnh sát Pháp dùng như là
một dấu hiệu quan trọng để nhận diện, hiện ra rõ ràng. Bức ảnh nầy
được sưu tập bởi Ngô Bá Dụng nhưng tác giả có nhiều nghi ngờ)

16- Tháng Mười năm 1924, rời Mạc Tư Khoa đến Vladivostok, từ đây, xuống tàu về Quảng Châu vào ngày 11 tháng Mười Một.
17- Năm 1925, tại Quảng Châu, tham gia thành lập tổ chức bí mật “Tâm tâm Xã”, sau đổi thành “Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội”, kết nạp 10 thành viên, trở thành nhóm đảng viên dự bị đầu tiên cho việc thành lập Đảng sau nầy, là tiếng kèn hiệu đưa Việt Nam vào quỹ đạo phong trào Cộng sản Thế giới. Từ tháng Sáu năm 1925 đến tháng năm năm 1930, tuần san “Thanh niên” bằng tiếng Việt đã phát hành 208 kỳ, phần lớn các bài xã luận là do Nguyễn Ái Quốc viết.

(Sau đại hội ở Moscow, Nguyễn Ái Quốc (theo tác giả nhìn nhận) vào
năm 1925, lúc về Quảng Châu tham gia cách mạng Trung Quốc, đồng
thời lo xây dựng phong trào cách mạng Việt Nam)

18- Năm 1926 tham dự Đại hội Đại biểu Toàn quốc Quốc dân Đảng lần thứ II tại Quảng Châu, gởi Đại hội một bức thư ngắn gọn bằng tiếng Trung (Tác giả nhận xét: Tôi nhận thấy, đây là lần thứ nhất và cũng là duy nhất, Nguyễn Ái Quốc công khai viết bằng tiếng Trung), trình bày Việt Nam bị thực dân Pháp áp bức thống khổ. Trong Đại hội, Nguyễn Ái Quốc phát biểu bằng tiếng Pháp được Lý Phú Xuân chuyển dịch sang tiếng Hoa. Được Trung cộng giúp đỡ, Nguyễn Ái Quốc tích cực vận động người Việt Nam gia nhập “Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội”.
19- Ngày 18 tháng Mười năm 1926, tại nhà hàng Thái Bình Dương, kết hôn với Tăng Tuyết Minh. Đặng Dĩnh Siêu và Thái Sướng là người giới thiệu và làm chứng. Borodin và Trương Thái Lôi cũng đến dự hôn lễ.
20- Năm 1927, vì có cuộc thanh trừng Cộng sản của Quốc dân Đảng nên phải bí mật rời đến Vũ Hán. Tháng Bảy, hợp tác Quốc-Cộng tan vỡ, rời Vũ Hán đến Mạc Tư Khoa.
21- Tháng Mười Một năm 1927, được lệnh đến Paris trợ giúp đảng Cộng sản Pháp xây dựng kế hoạch phát triển có hiệu quả cuộc vận động cách mạng Đông Nam Á. Đầu tháng Mươi Hai, được Quốc tế Cộng sản cử đến Bruxelles tham dự “Hội nghị Đồng minh Phản đối Đế quốc”, sau đó qua Thụy Sĩ, Ý, và Pháp khảo sát thực tế.

p57

22- Cuối tháng Sáu năm 1928, đi tàu thủy của hảng vận tải Nhật Bản đến Bangkok, Thailand vào tháng Bảy, kiểm tra các tổ chức cách mạng Việt kiều và thành lập “Xiêm La Cách mạng Đồng chí Hội”.
23- Năm 1929, tìm kiếm phương pháp chữa bệnh đông y để điều trị lao phổi. Sau nầy, ông có báo cáo với các đồng chí Việt Nam ở Hương Cảng là phải tạm thời dừng chân ở Xiêm chữa bệnh một năm, không thể tiếp tục công tác được.
24- Đầu năm 1930, rời Bangkok đến Quảng Châu. Ngày 3 tháng Hai, tại Hương Cảng, tiến hành Đại hội Đại biểu Toàn quốc Việt Nam Cách mạng Đảng do Nguyễn Ái Quốc điều hành. Ba tổ chức Cộng sản vốn mâu thuẫn với nhau, hợp nhất thành một đảng lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng Mười, chủ trị Hội nghị lần Thứ nhất Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, chấp hành chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, lại đổi thành Đảng Cộng sản Đông Dương.

(Nguyễn Ái Quốc vào năm 1930 trong nhà triển lãm ở Việt Nam. Bức
ảnh truyền thần của của Nguyễn Sinh Huy, thân phụ Nguyễn Ái Quốc)

(Bức hình nầy được cho là người cha của Nguyễn Sinh Huy
–Nguyễn Sinh Sắc)

25- Năm 1931, được cử làm đại biểu Quốc tế Cộng sản tại Hương Cảng, phụ trách Cục Nam Dương. Cục Viễn Đông Quốc tế Cộng sản bị khám xét. Ngày 6 tháng Sáu, chính quyền Hương Cảng gán cho tội danh là phần tử phá hoại. Nhà đương cục Pháp tại Việt Nam trước đó cũng đã truy tố các tội danh chống Pháp và phán quyết tử hình vắng mặt, yêu cầu chính quyền Hương Cảng dẫn độ về Việt Nam thụ hình. Tại Hương Cảng, Luật sư Loseby tìm mọi cách cứu Nguyễn Ái Quốc và bố trí cho ông đi Singapore.

(Nguyễn Ái Quốc ??? và Luật sư Francis (Frank) Henry Loseby
(1883–1967) gốc Anh Quốc vào khoảng năm 1932)

26- Đầu năm 1932, Nguyễn Ái Quốc bị thêm tội danh nhập cảnh trái phép do cảnh sát Singapore không cấp thị thực, buộc phải trở lại nhà giam Hương Cảng. Tại đây, Luật sư Loseby cùng với tình báo viên Anh Quốc Paul Draken đã bí mật giải cứu đưa lên một chiếc thủy phi cơ bay đến bến sông Hoàng Phố, sau đó được các đồng chí của ông đưa thuyền ra đón về Thượng Hải. Mùa thu năm 1932, từ Thượng Hải đi Mạc Tư Khoa, bệnh lao phổi tái phát nguy kịch, đã chết trên đường đi.
(Tác giả nhận xét: Có thể căn cứ vào những tấm ảnh đã chụp từ 10 đến 20 năm về trước để phân biệt được Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, đối với người Tây phương nhìn người Đông phương thì hoàn toàn không dễ. Khuôn mặt người ta qua thời gian có sự biến đổi, nhưng cái tai và nhất là vành tai, trái lại không dễ biến dạng. Tai và vành tai Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh không có nhiều những nét khác nhau để chứng minh sự bất đồng. Tấm ảnh Nguyễn Ái Quốc (trong hồ sơ), phía trên cùng bên phải, William J. Duiker không ghi chú thời gian. Tác giả Trung Quốc Tào Tấn Kiệt trong tác phẩm “Các lãnh đạo Quốc gia Nước ngoài trong Chiến tranh chống Nhật tại Trung Quốc”, ghi chú ảnh chụp vào mùa xuân năm 1925 tại Quảng Châu. Tấm ảnh nầy thường xuyên được lưu trong hồ sơ Hồ Tập Chương (ảnh 1) cùng thay nhau xuất hiện là có sự liên kết về diện mạo giữa Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh (Hồ Tập Chương). Như ảnh (1), (2), ảnh (1) là Nguyễn Ái Quốc, ảnh (2) là Hồ Chí Minh (Hồ Tập Chương). Tôi nhận ra tấm ảnh Nguyễn Ái Quốc nầy, cơ bản là ảnh giả, nhất là phía tai trái hiện ra rất rõ. Ý đồ là, dùng tấm ảnh Hồ Tập Chương chụp năm 1934 tại Mạc Tư Khoa làm ảnh Nguyễn Ái Quốc để hợp nhất hai người làm một. So sánh một loạt ảnh chụp của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh, có thể thấy, diện mạo của hai người có nhiều nét khác nhau).

p58

=============
Phụ lục 1: Ảnh của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh (Hồ Tập Chương) trong hồ sơ

A- Ảnh chụp trong hồ sơ Nguyễn Ái Quốc:

1/ Ảnh chụp năm 1923 tại Pháp trong “Truyện Hồ Chí Minh” của William J. Duiker là Nguyễn Ái Quốc. (Theo tác giả, tấm ảnh Nguyễn Ái Quốc nầy vào mùa xuân năm 1925 tại Quảng Châu, cơ bản là ảnh giả).
2/ Ảnh chụp năm 1923 tại Nga Xô trong “Truyện Hồ Chí Minh” của William J. Duiker là Nguyễn Ái Quốc. (Theo tác giả, tấm ảnh nầy là Hồ Tập Chương (Hồ Chí Minh) chụp vào năm 1934 tại Mạc Tư Khoa).

p59

3/ Ảnh Hồ Chí Minh không rõ xuất xứ và thời gian. Đây là tấm ảnh nghi vấn trong “Truyện Hồ Chí Minh” của William J. Duiker (mặc dù có dòng ghi chú bên dưới là vào năm 1924).
4/ Tấm ảnh nầy của Nguyễn Ái Quốc được chụp vào năm 1925 tại Nga Xô.


5/ Ảnh Nguyễn Ái Quốc trong nhà triển lãm ở Việt Nam. Bức ảnh truyền thần của Nguyễn Sinh Huy, thân phụ Nguyễn Ái Quốc.
6/ Tấm ảnh nầy chụp năm 1934 tại Liên Xô trong “Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1919–1941” của Sophie Quinn-Judge.

p60

B- Ảnh trong hồ sơ Hồ Tập Chương:

6/ Ảnh Hồ Chí Minh năm 1934 tại Mạc Tư Khoa trong “Truyện Hồ Chí Minh” của William J. Duiker. (Theo tác giả, đây là Hồ Tập Chương)
9/ Tấm ảnh nầy do Andred Roth chụp đăng trong “Tân Việt Nam” năm 1946 tại Việt Bắc.
=============

p61

Phụ lục 2:

“Hồi ức Trịnh Siêu Lân – Truyện Phó Đại Khánh”

Sau khi các lưu học sinh theo phái Troskism (Thác phái) từ Mạc Tư Khoa về, lần lượt tổ chức thành 3 nhóm:
1- Đầu tháng Giêng năm1928, Sử Đường (Thi Thúc Vân), Lương Cán Kiều, Trần Diệc Mưu thành lập “Trung Quốc Đệ nhất Thác phái” (Phái phản đối chủ nghĩa Bolshevik Lenin tại Trung Quốc).
2- Phái Troskism phản đối bí mật của lưu học sinh Trung Quốc tại Liên Xô, sau khi họ về nước, phia Liên Xô cung cấp danh tính, nên toàn bộ đã bị khai trừ hoặc tự ly khai Đảng. Vương Văn Nguyên, Lưu Nhân Tĩnh, Ngô Quý Nghiêm, Lê Thái Liên đều ở trong số đó. Tháng Giêng năm 1930, Lưu Nhân Tĩnh, Vương Văn Nguyên thành lập “Liên minh Cộng sản Phái Tả Trung Quốc” — “Thập nguyệt Xã”.
3- Nhóm Triệu Tế, Lưu Dân, Vương Bình gồm 7 người, sau khi từ Mạc Tư Khoa về, thành lập tổ chức “Chiến đấu Xã”.

Trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc, Trần Độc Tú, Doãn Khoan, Bành Thuật Chi, Trịnh Siêu Lân phát hiện Vương Bình trong nhóm lưu học sinh từ Mạc Tư Khoa về, chẳng những đã tiếp thu lý thuyết của Leon Trosky mà còn mang theo tài liệu nghiên cứu, đồng thời có ý kiến khác biệt đối với tiến trình cách mạng Trung Quốc. Từ đó, trong Đảng Cộng sản Trung Quốc đã hình thành phái Troskism do Trần Độc Tú cầm đầu. Thật ra, lúc ấy, Đảng Cộng sản Trung Quốc chưa có một tổ chức cụ thể mà chỉ tập hợp xung quanh Trần Độc Tú một số thành viên thường xuyên trao đổi với nhau về những vấn dè đề chính sách của Đảng mà thôi. Trong tình hình ấy, nhòm Trần Độc Tú đề nghị gia nhập nhóm “Đối thoại” nhưng nhiều lần bị cự tuyệt, đến tháng Chín năm 1929 thành lập “Đảng Cộng sản Trung Quốc phái Tả phản Đối phái”, xuất bản “Người vô Sản” được gọi là “Vô sản Giả xã”.
Bốn phái Troskism sau được thống nhất thành một tổ chức. Ngày 1 tháng Năm năm 1935, triển khai Đại hội gồm 17 đại biểu chính thức, 4 đại biểu dự thính, đại diện cho 482 đảng viên. Tại Đại hội, Trần Độc Tú đọc báo cáo cương lĩnh chính trị của “Đảng Cộng sản Trung Quốc phái Tả phản Đối phái” gồm 5 phần:
1- Nhiệm vụ thời kỳ quá độ của Phản đối Phái.
2- Bài học kinh nghiệm về sự thất bại của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
3- Chính sách của Đảng trong thời kỳ quá độ.
4- Tiền đồ cách mạng Trung Quốc.
5- Nhiệm vụ trước mắt của Phản đối Phái.

Cương lĩnh xác định, xã hội Trung Quốc thành phần Tư bản Chủ nghĩa chiếm ưu thế so với tư bản Chủ nghĩa Xã hội, do đó mà xuất hiện tính chất của cách mạng Trung Quốc là Cách mạng Xã hội Chủ nghĩa, giai cấp vô sản lãnh đạo nông dân lật đỏ chính quyền tư sản, “kiến lập giai cấp chuyên chính vô sản”. Trung Quốc phải hoàn thành nhiệm vụ Cách mạng Dân chủ Tư sản rồi mới tiếp tục tiến trình Cách mạng Vô sản, chuyên chính giai cấp. Nhiệm vu trước mắt là, triệt để thực hiện khẩu hiệu dân chủ theo hướng Cách mạng lần thứ ba (Sau nầy đề xuất lấy “Tổng tuyển cử Quốc dân Hội nghị” làm khẩu hiệu trung tâm đấu tranh đòi dân chủ, vận động quần chúng ủng hộ cách mạng), lạt đổ chính phủ Quốc dân Đảng. Đại hội thông qua dự thảo cương lĩnh, bầu ủy viên Trung ương, cử 5 người vào Ban Bí thư do Trần Độc Tú làm Tổng Bí thư, Trịnh Siêu Lân là Trưởng ban Tuyên truyền, Chủ nhiệm báo Đảng là Vương Văn Nguyên, Trưởng ban Thư ký là Tống Phùng Xuân. Đại hội biểu quyết thông qua tên đảng là “Đảng Cộng sản Trung Quốc phái Tả phản Đối phái” còn gọi là “Đảng Cộng sản Bolshevik-Lenin Trung Quốc”, là một phái riêng của những người Cộng sản Trung Quốc.

p62

Năm 1933, phái Troskism ly khai Đảng Cộng sản, tiến hành cải tổ đảng theo đương lối riêng. Năm 1935 chuẩn bị thành lập Quốc tế Cộng sản mới. Cũng trong năm nầy, Đại hội đại biểu phái Troskism tại Thượng Hải quyết định đổi tên thành “Liên minh Cộng sản Chủ nghĩa Trung Quốc”. Từ đó, phái Troskism Trung Quốc, một lần nữa không coi mình là một phái lệ thuộc Đảng Cộng sản và cũng không cùng là một chính đảng Cộng sản Chủ nghĩa của Đảng Cộng sản.
Trong một hoàn cảnh đặc biệt, tôi gặp được Phó Đại Khánh. Đó là thời gian vào giữa mùa hè và mua thu năm 1931. Khi ấy tôi đã bị Đảng Cộng sản khai trừ, vì hoạt động Troskism, bị Quốc dân Đảng bắt giam ở Bộ tư Lệnh Cảnh bị Long Hoa (Tác giả nhận xét: Địa điểm ở gần khuôn viên lăng liệt sĩ Long Hoa, đường Tào Khê, Thượng Hải), chờ đợi phán quyết. Tôi ở “Nhân tự Gian”, nơi có rất nhiều tù chính trị. Một hôm, cai ngục dẫn vào một phạm nhân đến từ Quảng Châu. Thoạt nhìn, tôi xuýt nữa tôi nhảy dựng lên bởi người nầy chính là Phó Đại Khánh. Phó Đại Khánh lướt nhìn hết lượt phạm nhân nhưng đều không nhận ra ai quen, bỗng trông thấy tôi, vội vàng chạy đến, khẽ bảo: “Có chút việc muốn báo về Trung ương”. Rõ ràng ông không biết tôi đã bị khai trừ, tuy nhiên lúc nầy cũng chẳng cần phải nói mình thuộc phái Troskism. Tôi đống ý, ông ấy bèn nói cho biết.
Nguyên là Phó Đại Khánh làm báo tiếng Anh ở Calcutta, Ấn Độ. Tờ báo bị đóng cửa, Phó bị bắt, dẫn độ về Nam Kinh thẩm vấn. Lúc bị giam ở nhà lao Quảng Châu, ông ta có gặp Hồ Chí Minh. Hồ nhờ ông ta thông báo đến Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc tìm cách giải cứu, vì thế ông ta mới đề nghị tôi giúp đỡ. Vì nghĩa không thể từ chối, hơn nữa, tôi và Hồ Chí Minh đã từng quen biết nhau, chỉ có điều, làm cách nào chuyển tin cho Đảng Cộng sản Trung Quốc đây ? Tôi suy nghĩ và dự đoán, ở nhà giam Long Hoa nhất định phải có chi bộ Đảng bí mật, có thể truyền đạt được tin nầy. Nhưng tôi lại không biết người phụ trách là ai. Trong số các chính trị phạm ở “Nhân tự Gian”, tôi chỉ biết hai người là Trần Vi Nhân và Quan Hướng Ứng. Đắn đo mãi, cuối cùng tôi tìm gặp Trần Vi Nhân, nói: “Phạm nhân Phó Đại Khánh bị bắt ở Ấn Độ, vừa được giải đến, sẽ được đưa về Nam Kinh. Ông ấy có một báo cáo quan trọng với Trung ương, nhờ tôi chuyển đến ông”. Trần Đạt Nhân lập tức đứng lên. Tôi đem lời Phó Đại Khánh nói không sai một chữ. Nghe xong, Trần Vi Nhân không nói một lời. Tôi hiểu mình đã đạt được mục đích. Ba ngày sau, Phó Đại Khánh bị giải đi.

===========================================
I II III IV V VI

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s