Thiên I: Hài kịch Tráo rồng Đổi phượng

(trang bỏ trống)
p13

Thiên I: Hài kịch Tráo rồng Đổi phượng

A- Màn một: Sự thật về cái chết của Nguyễn Ái Quốc :

1- Những ẩn số về con người Hồ Chí Minh :

Trong tiểu sử Hồ Chí Minh, một câu hỏi luôn được đặt ra, ông là Nguyễn Ái Quốc, người Việt Nam hay là Hồ Tập Chương đến từ Đài Loan ? Đây là vấn đề vô cùng quan trọng. Phải chăng Nguyễn Ái Quốc đã chết vào năm 1932 ? Người tiếp tục đóng vai ông liệu có phải là Hồ Tập Chương ? Các tác giả viết truyện ký về Hồ Chí Minh vào thời điểm 1932 đều khá mơ hồ, thậm chí còn tỏ ra không ít nghi ngờ. Vì vậy không có cách nào chứng thực được cái chết của Nguyễn Ái Quốc, nơi mai táng di thể cũng như thân phận của Hồ Tập Chương tiếp tục vai trò của ông. Vì thế, các học giả nghiên cứu về Hồ Chí Minh, cho đến nay, chỉ sử dụng những tư liệu chính thống do nhà nước Việt Nam biên soạn như “Truyện Hồ Chí Minh” hoặc “Hồ Chí Minh và Vấn đề Văn hóa” v.v… nhằm ngoa truyền Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc. Nhân đó khẳng định thân phận chân chính Hồ Chí Minh cùng những chi tiết thật giả lẫn lộn không thể phân biệt, để lại cho hậu thế một nhân vật nhuốm màu thần bí.
Nghiên cứu kỹ những ghi chép về hoạt động của Hồ Chí Minh từ năm 1933 đến năm 1945, ta sẽ thấy một số không nhỏ những điều vô lý được sử dụng qua hàng loạt chứng cứ ngụy tạo. Có thể dẫn chứng, người mà năm 1933 từ Hạ Môn đến Thượng Hải để đi Mạc Tư Khoa tuyệt đối không phải Nguyễn Ái Quốc mà là một người khác. Tình yêu và hôn nhân của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh cũng hoàn toàn khác nhau. “Nhật ký trong Tù” không phải do Nguyễn Ái Quốc sáng tác. Tất cả đều là những vấn đề lớn còn tồn tại nhiều mâu thuẫn. Vì thế phải làm rõ một điều, Hồ Chí Minh là Hồ Chí Minh, Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn Ái Quốc, hai người nầy không thể là một. Từ đó mới có thể xác định Nguyễn Ái Quốc đã chết vào năm 1932. Chết mà sống lại khiến người ta nghĩ đến trò chơi “mượn xác hoàn hồn”, “dời hoa tiếp cây”.

2- Nguyễn Ái Quốc chết thật hay chết giả ?:

Nguyễn Ái Quốc nhiều năm đã mắc chứng lao phổi, tháng 6 năm 1931 bị cảnh sát Hương Cảng bắt, được chuyển đến bệnh xá nhà giam điều trị, đầu năm 1932 mất tích, đến khoảng giữa tháng 7 và tháng 8 thì các báo đưa tin chết vì bệnh lao phổi. Cũng thời gian nầy các báo Hương Cảng, Anh Quốc, Pháp Quốc và Nga Xô đều viết, sau khi Nguyễn Ái Quốc từ Singapore trở lại Hương Cảng, không rõ lý do mất tích, sau đó bị bệnh qua đời. Thời gian nầy, nhóm lưu học sinh Việt Nam tại trường Đại học Phương Đông, Mạc Tư Khoa đã cử hành lễ truy điệu. Phái viên Quốc tế Cộng sản đến thăm hỏi chia buồn.

p14

Hồ sơ Nguyễn Ái Quốc của cảnh sát Pháp năm 1933 cũng ghi chú Nguyễn Ái Quốc đã chết. Thế nhưng, mãi đến mười năm sau, một nhân viên tình báo Pháp lại gởi báo cáo về Paris khẳng định Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở vùng biên giới Việt–Trung. Chính phủ Pháp gởi điện trả lời: “Vô lý, chắc anh bị bệnh tâm thần nên mới chuyển về nước tin tức vớ vẩn nầy. Nguyễn Ái Quốc đã chết ở Hương Cảng vào đầu những năm 1930”. Những tài liệu gốc nằm trong hồ sơ Nguyễn Ái Quốc được nhắc đến từng đăng tải trên báo chí đều là những tư liệu lịch sử từ năm 1932 đến năm 1941 đáng tin cậy. Trong khoảng mười năm, Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn biệt vô âm tín, không có bất cứ ghi chép nào về hoạt động của ông, nhưng lại có một người khác, xưng danh là Nguyễn Ái Quốc, tiếp tục sự nghiệp của ông. Đó là Hồ Tập Chương. Thế thân Nguyễn Ái Quốc, Hồ Tập Chương phủ nhận cái chết vì bệnh phổi với lý do, vì có nhiệm vụ quan trọng phải rời Hương Cảng nên đã tung tin cái chết giả với báo chí. Quốc tế Cộng sản và các yếu nhân Trung cộng đều ra sức che dấu những hoạt động của Hồ Chí Minh (Hồ Tập Chương) từ năm 1929 đến năm 1933, mặt khác lại không ngừng dùng báo chí tuyên truyền khẳng định Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc vẫn hoạt động trên vũ đài chính trị. Ví như năm 1933, người ta đã tạo ra một hình ảnh Nguyễn Ái Quốc giả gặp người bạn Pháp là Vaillant Couturier tại Thượng Hải rồi tung lên các báo với ý đồ, làm cho người đời tin rằng, từ năm 1933, Nguyễn Ái Quốc vẫn hoạt động tại Thượng Hải, để đạt được mục đích “dời hoa tiếp cây”. Gần mười năm sau khi Nguyễn Ái Quốc chết, ngày 6 tháng Sáu năm 1941, lần đầu tiên Hồ Chí Minh công khai danh tính Nguyễn Ái Quốc trong bài “Thư gởi Đồng bào Toàn quốc” kêu gọi nhân dân Việt Nam đứng lên làm cách mạng, giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước.
Theo những mẩu chuyện tự kể về cuộc đời Hồ Chí Minh, những năm tháng sau khi Nguyễn Ái Quốc chết, rồi được làm cho sống lại từ màn kịch “dời hoa tiếp cây”, nói rằng: “Mùa xuân năm 1932, Nguyễn Ái Quốc bí mật đến Hạ Môn chữa bệnh nửa năm, đầu năm 1933, từ Hạ Môn đến Thượng Hải, sau đó từ Thượng Hải đi Mạc Tư Khoa”. Đó chính là trò chơi “ve sầu thoát xác” tạo nên một Hồ Chí Minh từ xác chết Nguyễn Ái Quốc được phù phép cho sống lại.
Sự thật về cái chết của Nguyễn Ái Quốc rất rõ ràng, nhưng lịch sử bị bóp méo, ngụy tạo ra cách giải thích, ông phải chạy trốn sang Pháp do bị đặc vụ săn đuổi. Tất cả những việc làm trên đều thực hiện bởi bàn tay Quốc tế Cộng sản cùng giới lãnh đạo chóp bu Trung cộng, Việt cộng, chỉ nhằm một mục đích, bắt buộc người ta phải thừa nhận Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc.

3- Báo chí đưa tin Nguyễn Ái Quốc chết bởi bệnh lao phổi :

Sophi Quinn-Judge trong tác phẩm “Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1919–1941”, đặc biệt tại chương 6, đã trực tiếp lấy việc Hồ Chí Minh “chết ở Hương Cảng, mai táng ở Mạc Tư Khoa” làm tiêu đề, đã nhận thấy có cái gì đó mù mờ trong chuyện sinh tử nầy. Sự nghi ngờ của Quinn-Judge phải chăng căn cứ từ các bài báo đương thời nhưng không có những tư liệu đáng tin cậy làm cơ sở pháp lý. Tuy nhiên, trong năm ấy, báo chí Cộng sản lại lần lượt đưa tin Nguyễn Ái Quốc chết do bị lao phổi. Ví như tờ “Sự thật” của đảng Cộng sản Liên Xô, tờ “Nhân đạo” của đảng Cộng sản Pháp, tờ “Lao động” của đảng Cộng sản Anh, đặc biệt, nhóm lưu học sinh Việt Nam tại Đại học Phương Đông, Mạc Tư Khoa đã cử hành lễ truy điệu Nguyễn Ái Quốc, Quốc tế Cộng sản cũng phái đại biểu đến chia buồn.

p15

1- Trong tác phẩm “Hồ Chí Minh ở Trung Quốc”, giáo sư sử học Đài Loan, Tưởng Vĩnh Kính, trang 74–75, đã viết:

Đầu năm 1932, Nguyễn Ái Quốc sang Singapore nhưng bị cảnh sát bắt quay lại Hương Cảng, sau đó thì mất tích, nhưng phía Anh Quốc cũng không công bố việc nầy. Sau khi Nguyễn Ái Quốc mất tích, các báo đều đưa tin ông bị ho lao nặng và qua đời trong nhà giam. Những báo nầy bao gồm cả của nhà đương cục Pháp-Việt thực dân cho đến của các đảng Cộng sản như tờ “Lao động” của đảng Cộng sản Anh, tờ “Nhân đạo” của đảng Cộng sản Pháp, đến các báo của Nga Xô đều đăng tải tin Nguyễn Ái Quốc bị bệnh lao phổi chết. Nhóm lưu học sinh Việt Nam tại Đại học Phương Đông, Mạc Tư Khoa cử hành tang lễ, phái viên Quốc tế Cộng sản đễn viếng và chia buồn. Hồ sơ của cảnh sát Pháp năm 1933 đã ghi chép về sự kiện nầy và chú thích “Nguyễn Ái Quốc đã chết tại Hương Cảng”.

(Tác giả nhận xét: Báo chí Nga Xô cụ thể là tờ “Sự thật” (Pravda), xem cuốn “Chủ tịch nước Việt Nam”, Lý Gia Trung biên dịch, trang 224)”

Những ghi chép của Tưởng giáo sư cùng các bài báo có liên quan đến cái chết của Nguyễn Ái Quốc dẫn từ “Bác Hồ” của Hoài Thanh, Thanh Tịnh, NXB Ngoại văn, 1962 và “Hoang Van Chi, From Colonialism to Communism” Ferederick A. Praeger, inc.,1965 二書. (Hoàng Văn Chí, “Từ Chủ nghĩa Thực dân đến Chủ nghĩa Cộng sản” Ferederick A. Praeger, inc.,1965, 2 quyển).

2- Trong cuốn “Truyện Hồ Chí Minh”, trang 209 và 212, William J. Duiker viết:

“Vào ngày 11 tháng 8 năm 1932, tờ nhật báo “Công nhân” của Quốc tế Cộng sản phát hành tại London, đăng tin Nguyễn Ái Quốc chết trong nhà giam. Nhóm lưu học sinh Việt Nam tại trường Đại học Stalin sớm đã biết tin Nguyễn Ái Quốc qua đời vì bệnh lao phổi nặng và tổ chức lễ truy điệu, cũng như trước đó, vào năm 1931, họ đã tổ chức lễ truy điệu Tổng bí thư Trần Phú chết ở nhà tù thực dân Pháp tại Việt Nam.”

Những ghi chép của William J. Duiker thật ra không rõ ràng vì không dẫn được tư liệu gốc có tính thuyết phục. Những nghiên cứu của giáo sư Tưởng Vĩnh Kính, về đại thể là giống nhau, chỉ khác về tiểu sự nếu đem so sánh với các tư liệu viết về Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Bác Hồ” của Hoài Thanh và Thanh Tịnh do NXB Ngoại văn ấn hành năm 1962.

3- Sophie Quinn-Judge trong “Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1919- 1941”, trang 194 đã viết:

Tháng 9 năm 1930, Nguyễn Ái Quốc thừa nhận mình bị lao phổi. Trong một bức thư gởi Bộ Ngoại giao năm 1932, Tổng Lãnh sự Pháp tại Hương cảng Soulange Teissier cũng chứng thực Nguyễn Ái Quốc bị nhiễm lao mạn tính. Mùa hè năm 1932, lần đầu tiên một tờ báo viết: “Người (Nguyễn Ái Quốc) bị bệnh lao, thân thể suy nhược nầy chính là một lãnh đạo quan trọng của Việt Nam”. Các báo Cộng sản tháng 8 năm 1932 đều đồng loạt đưa tin Nguyễn Ái Quốc qua đời bởi bệnh phế kết hạch (bệnh lao phổi).”

4- Bí mật về cái chết của Nguyễn Ái Quốc :

Tin Nguyễn Ái Quốc bị bệnh qua đời vì sao chỉ có các báo Cộng sản đăng tải ? Vì sao lưu học sinh Việt Nam tại Mạc Tư Khoa tổ chức tang lễ ? Lại vì sao đến mười năm sau Hồ Chí Minh mới giải thích việc mình chết rồi sống lại chính là một màn kịch để trốn khỏi Hương Cảng ?
Đầu năm 1932, Nguyễn Ái Quốc mất tích từ Hương Cảng, bí mật đến Thượng Hải để đi Mạc Tư Khoa. Kế hoạch nầy nầy là do Quốc tế Cộng sản đạo diễn, vì thế chỉ có báo chí Cộng sản đưa tin. Có thể thấy, thời gian sau khi Nguyễn Ái Quốc chết, Quốc tế Cộng sản vẫn chưa có ý định “cấy” Hồ Chí Minh thay thế ông ta, cho nên báo chí Cộng sản mới đưa tin Nguyễn Ái Quốc chết vì bệnh lao phổi và lưu học sinh Việt Nam tại Mạc Tư Khoa mới tổ chức lễ truy điệu.

p16

Về cái chết của Nguyễn Ái Quốc, sau khi các báo đưa tin, tất cả đều im lặng, tuyệt nhiên không thấy Quốc tế Cộng sản có bất cứ động thái gì. Trong khi ấy, liên lạc viên Cục Viễn Đông của Quốc tế Cộng sản là Hồ Tập Chương, từ Thượng Hải đã đến Mạc Tư Khoa vào năm 1933. Hồ Tập Chương đã nhiều lần cùng làm việc với Nguyễn Ái Quốc, đặc biệt đã tham gia Ban trừ Bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, lúc nầy, Quốc tế Cộng sản yêu cầu Hồ Tập Chương thay thế thân phận Nguyễn Ái Quốc, tiếp tục tham gia phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hồ Tập Chương (bí danh P.C.Lin), qua 5 năm, được sự giáo dục, cải tạo của Quốc tế Cộng sản, lại đổi tên là Hồ Quang, Hồ Chí Minh hoạt động tại vùng biên giớ Việt Trung. Cố nhiên, đây mới là chỉ dấu ban đầu nghi ngờ về cái chết của Nguyễn Ái Quốc và thân phận thực của Hồ Chí Minh sau khi đã đồng nhất với Nguyễn Ái Quốc.
Phải chăng, Nguyễn Ái Quốc đã chết vào mùa thu năm 1932 bởi bệnh lao phổi ? Căn cứ vào hoàn cảnh lúc ấy mà suy đoán thì hầu như có thể khẳng định đó là sự thật. Theo hồi ức Lưu Đức Phương, một đảng viên Cộng sản Việt Nam, thì từ năm 1925 đến năm 1927, Nguyễn Ái Quốc nỗ lực hoạt động vượt bậc. Chín trăm ngày đêm, công việc chồng chất như núi, ông phải làm việc thâu đêm, thân thể suy nhược, và nhất là ho rất nhiều, có lúc khạc ra máu. Từ tháng Bảy đến tháng Chín năm 1930, Nguyễn Ái Quốc viết 6 bức thư gởi Cục Viễn Đông, trình bày về việc mình bị bệnh lao phổi nặng, thường ho ra máu, thân thể suy nhược. Cuối tháng Mười Một năm 1931, Nguyễn Ái Quốc viết thư gởi đồng chí Lâm Đức Thụ của “Liên minh Thanh niên Cách mạng”: “Tình trạng sức khỏe của tôi hiện rất nguy kịch, bệnh cũ tái phát, thường xuyên ho ra máu, rất đáng lo ngại, sợ rằng có thể chết trong ngục bất cứ lúc nào”. Năm 1932, tình báo viên Anh Quốc là Paul Draken, dùng thủy phi cơ đưa Nguyên Ái Quốc rời Hương Cảng đã nhìn thấy “Nguyễn Ái Quốc quá mệt mỏi, ho liên tục, gần như không còn sức để nói”.*
Như trên đã trình bày, Từ khi rời Hương Cảng trốn đến Thượng Hải, tình trạng bệnh tật Nguyễn Ái Quốc đã khá trầm trọng, lại trải qua chặng đường dài vô cùng vất vả, vì thủy phi cơ rất xóc càng làm tổn hại sức khỏe. Huống nữa, sau khi lên bờ, đặc vụ Quốc dân Đảng, cảnh sát tô giới Anh, với cặp mắt nhà nghế, luôn theo dõi nhất cử nhất động của những người Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đâu dám công khai tìm thầy thuốc chữa bệnh mà chỉ cố chịu đựng để nhanh chóng đến được Mạc Tư Khoa. Cho nên ông bị chết ở Mạc Tư Khoa là hoàn toàn có thể xảy ra. Chính vì vậy, báo chí Cộng sản từ tờ “Sự thật” của Nga Xô đưa tin đầu tiên, sau đó đến tờ “Nhân đạo” của Đảng Cộng sản Pháp, tờ “Lao động” của Đảng Cộng sản Anh lần lượt đăng tải tin Nguyễn Ái Quốc chết vào tháng 7 và tháng 8 năm 1932. Cùng thời gian nầy, nhóm lưu học sinh Việt Nam tại Đại học Phương Đông đã tổ chức tang lễ cho Nguyễn Ái Quốc. Từ đó suy ra, Nguyễn Ái Quốc đã qua đời trên đường đến Mạc Tư Khoa, chôn cất tại Mạc Tư Khoa là sự thật, tuyệt đối không phải như Hồ Chí Minh tự thuật sau nầy nói về cái chết giả để tránh bị cảnh sát truy đuổi.
=============
* Dẫn từ: Paul Draken “Nhật ký Paul Draken — Ghi chép về Nguyễn Ái Quốc”. “Nhật ký Paul Draken” chính là cuốn hồi ký mà nội dung trong đó có nhật ký của thân phụ ông là Nam tước Draken chưa kịp xuất bản. Nhật ký thuật lại chuyến đi mạo hiểm của Nam tước Draken từ năm 1900. Đầu năm 2000, “Nhật ký Paul Draken” có kèm theo tranh ảnh được chuyển cho ngài Diêu Khai Dương thuộc Viện Bảo tàng Trung Quốc toàn quyền xử lý. Sau nầy Diêu Khai Dương viết thư xin ý kiến Paul Draken trao bản quyền cho tập đoàn YAO xuất bản và phát hành. “Nhật ký Paul Draken” có thiên thứ ba “Trân châu Trung Quốc” (1929–1932), chương 12, lấy tên Nguyễn Ái Quốc làm nhan đề chia ra hai phần “thượng”, “hạ” ước khoảng ba nghìn chữ, kể lại việc ông tham gia vào kế hoạch giải cứu Nguyễn Ái Quốc. “Ghi chép về Nguyễn Ái Quốc” kể lại quá trình xây dựng kế hoạch và thực hiện giải cứu Nguyễn Ái Quốc là tác phẩm vô cùng quý giá, rất đáng đọc và suy ngẫm.
=============

p17

5- Sai lầm của Hồ Chí Minh về việc tự nhận “mình đã bị chết”:

Liệu rằng Hồ Chí Minh có sự lật lọng khi nói đi nói lại nhiều lần “mình đã bị chết” ? Lúc thì ông bảo, đây chỉ là tin giả do nhà đương cục Pháp công bố, lúc thì lại nói, luật sư Frank Loseby cố ý tung tin Nguyễn Ái Quốc chết, tạo điều kiện thuận lợi để ông trốn khỏi Hương Cảng. Lại nữa, trong các bản tiếng Việt như “Truyện Hồ Chí Minh” hay “Hồ Chí Minh Biên niên Tùng thư”, trước sau đã nhiều lần nhắc đến việc nầy, khiến người ta rất khó tin là, Hồ Chí Minh “tự tuyên bố cái chết của mình với báo chí, mục đích giữ an toàn khi rời khỏi Hương Cảng”. Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Việc công bố cái chết của Nguyễn Ái Quốc là do nhà đương cục Pháp cố ý bịa đặt nhằm mục dịch làm nhục ý chí đấu tranh của nhân dân Việt Nam”. Cách giải thích như thế xem ra không đủ sức thuyết phục. Tin Nguyễn Ái Quốc chết bởi bệnh lao phổi, lần đầu tiên được báo chí đăng vào mùa thu năm 1932. Trong khi đó, Hồ Chí Minh lại tuyên bố mình trốn khỏi Hương Cảng đến Hạ Môn vào tháng Giêng năm 1933. Khoảng thời gian sai số cách nhau gần nửa năm rất không phù hợp với thực tế. Công bằng mà nói, nếu đã tung màn khói cái chết giả để tiện lợi cho sự trốn chạy, tất yếu phải tạo ra một thời gian tương ứng phù hợp. Thế nhưng, ở đây lại có sự tiền hậu bất nhất những nửa năm, làm người đọc hoàn toàn có quyền nghi ngờ. Hơn thế nừa, mãi sau nửa năm mới nói mình sống lại, chỉ với mục đích duy nhất là muốn làm sáng tỏ lời tuyên bố về “cái chết” từ mười năm trước.
Một mặt nói là mình không chết, mặt khác lại nói mình chết để cho các đồng chí phải vất vả lo liệu tang lễ sau khi vừa tổ chức lễ truy điệu Tổng Bí thư Trần Phú. Câu chuyện hoang đường đầy chất hoạt kê nầy rất bất hợp lý chẳng khác gì kiều “gậy ông lại đập lưng ông”, chẳng qua đó chỉ là màn kịch nhằm mục đích “mượn xác hoàn hồn”, “dời hoa tiếp cây” được dàn dựng kỹ lưỡng mà thôi.

6- Hồ sơ bệnh án Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh :

Đoàn Chủ tịch Trung ương Việt Nam đặc biệt thông báo: “Chủ tịch Hồ Chí Minh bị bệnh tim nặng đã từ trần hồi 9 giờ 47 phút năm 1969″. Đây là một sự dối trá. Nguyễn Ái Quốc chết vào tháng 8 năm 1932 do bệnh lao phổi, trong khi ấy, Hồ Chí Minh, sau 37 năm, chưa từng thấy có ghi chép về việc chữa trị bệnh lao phổi trong hồ sơ, mà lại chết bởi bệnh tim. Hãy cứ lấy năm 1933 làm điểm mốc trước sau để so sánh, quan sát, sẽ dễ dàng phát hiện ra tình trạng bệnh lý rất khác nhau trong cùng một con người. Đây là vấn đề rất quan trọng, xin cung cấp để bạn đọc tham khảo.

7- Hồ sơ bệnh lao phổi Nguyễn Ái Quốc :

1- Tháng Giêng năm 1920, một đặc vụ Pháp là Eduard mang bí danh Phúc Bắc (Phu bay) báo cáo: “Nguyễn Ái Quốc, Phan Chu Trinh là những người mắc chứng viêm phế quản hoặc bệnh lao phổi. Họ không có điều kiện giữ gìn sức khỏe, nên nói chung sinh hoạt khó khăn.” (“Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1919–1941”, Sophie Quinn-Judge, trang 28).

p18

2- Tháng Bảy năm 1920, Nguyễn Ái Quốc thay (…) viết bài, tháng Tám phải nhập viện đã gây trở ngại cho kế hoạch hoạt động. Lúc ấy, vai phải Nguyễn Ái Quốc lở loét mưng mủ phải điều trị. Phải chăng đây là dấu hiệu của căn bệnh lao ? (“Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1919–1941”, Sophie Quinn-Judge, trang 30).

3- Đầu năm 1921, sau Hội nghị Tours, Nguyễn Ái Quốc từng nói, ông chẳng cần quan tâm đến sự thành bại của cách mạng thế giới mà việc cấp bách trước mắt là vận mệnh dân tộc. Hai tháng sau đó, Nguyễn Ái Quốc bị nghi là mắc bệnh viêm phế quản, phải vào bệnh viện điều trị sau một trận ốm. (“Truyện Hồ Chí Minh”, William J. Duiker, trang 173).

4- Trước sau tháng Chín năm 1924, Nguyễn Ái Quốc được Quốc tế Cộng sản tạm thời giao nhiệm vụ soạn thảo một bài về tình hình Đông Nam Á để đăng trong chuyên san “Tin tức châu Á”. Lúc ấy chưa xác định được Nguyễn Ái Quốc mắc bệnh gì, Quốc tế Cộng sản đưa ông đến Crime bên bờ Hắc Hải nghỉ điều dưỡng khôi phục sức khỏe. (“Truyện Hồ Chí Minh”, William J. Duiker, trang 147).

5- Ngày 25 tháng Chín năm 1924, Nguyễn Ái Quốc gởi một bức thư cho Voitinsky, trong đó có nói đến việc sẽ đi Trung Quốc để tăng cường sức khỏe. Ngày 5 tháng Chín, ông đến viện điều dưỡng điều trị một thời gian dài chứng bệnh lao phổi. (“Truyện Hồ Chí Minh”, William J. Duiker, trang 598).

6- Từ năm 1925 đến năm 1927, gần chín trăm ngày đêm, công việc của Hồ Chí Minh chất đầy như núi. Ông phải làm việc kiệt lực mới giải quyết xong “tòa núi” ấy. Hồi ức Lý Đức Phương viết: “Lúc ấy Bác Hồ thường dậy từ canh năm làm việc đến canh hai mới nghỉ, thân thể suy nhược, ho nhiều, có lúc khạc ra máu”. Sau khi thoát hiểm đến Mạc Tư Khoa, ông không thể không đến bệnh viện chữa trị. (“Chủ tịch nước Việt Nam Hồ Chí Minh”, Lý Gia Trung, cựu Đại sứ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam, trang 123).

7- Cuối năm 1927, tôi nhận được chỉ thị của Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương thuộc Quốc tế Cộng sản, nhưng lúc ấy đang lâm bệnh ở Thailand hơn một năm, vì thế, không thực hiện được bất cứ nhiệm vụ nào. (“Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1919–1941”, Sophie Quinn-Judge, trang 163).

8- Nửa sau năm 1928, hồi ký Đặng Văn Chi viết: “Có một thời gian Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu Đông y, hy vọng có thể tìm ra phương pháp chữa bệnh lao phổi, vì vậy, sau nầy có báo cáo với một đồng chí Việt Nam ở Hương Cảng, trình bày lý do ông ở Thailand hơn một năm mà không làm được việc gì”. (“Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1919–1941”, Sophie Quinn-Judge, trang 129, 163).

9- Năm 1929, căn cứ vào lời kể của Lâm Đức Thụ, có tin nói rằng, Nguyễn Ái Quốc ở nước Đức, sức khỏe không tốt. (“Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1919–1941”, Sophie Quinn-Judge, trang 143).

10- Trong khoảng thời gian từ ngày 3 tháng Bảy đến ngày 2 tháng Chín năm 1930, Nguyễn Ái Quốc viết 6 bức thư gởi Cục Viến Đông. Trong thư đề ngày 2 tháng Chín, ông thú nhận từ ngày 13 tháng Tám, sức khỏe đã suy sụp vì bệnh lao phổi, chứng cớ là thở rất khó khăn, thỉnh thoảng lại thổ huyết, cơ thể vô cùng mệt mỏi. (“Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1919–1941”, Sophie Quinn-Judge, trang 177).

11- Tháng Chín năm 1930, Nguyễn Ái Quốc chính thức công bố mình bị lao phổi nặng. Tổng Lãnh sự Pháp Soulange Teissier, trong một bức thư viết vào năm 1932 gởi Bộ Ngoại giao cũng xác nhận, Nguyễn Ái Quốc mắc chứng lao phổi mạn tính rất nặng. (“Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1919–1941”, Sophie Quinn-Judge, trang 194).

12- Trước sau trung tuần tháng Sáu năm 1931, phu nhân luật sư Frank Loseby tiếp tục vào thăm Nguyễn Ái Quốc, nhìn thấy thân thể nhà cách mạng tiều tụy, đã nói với chồng, trước mắt đề nghị nhà đương cục đưa ông vào bệnh viện điều trị. (“Chủ tịch nước Việt Nam Hồ Chí Minh”, Lý Gia Trung, cựu Đại sứ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam, trang 200).

p19

13- Cuối tháng Mười Một năm 1931, Nguyễn Ái Quốc viết thư gởi cho Ủy viên Liên minh Thanh niên Cách mạng, Lâm Đức Thụ: “Hiện tại sức khỏe của tôi rất nguy kịch, hơn nữa bệnh thổ huyết lại tái phát, tình hình nầy, rất có khả năng chết ở trong ngục. Chỉ trách ông trời không cho tôi sống để tiếp tục thực hiện lý tưởng cách mạng”. (“Truyện Hồ Chí Minh”, William J. Duiker, trang 206).

14- Cuối năm 1931, Nguyễn Ái Quốc được đưa tới bệnh viện điều trị dưới sự canh gác nghiêm ngặt của cảnh sát. Cuối tháng Mười Hai, Hoàng thân Cường Để gởi một bức thư tỏ thái độ trân trọng và lo lắng về tình trạng bệnh tật của Nguyễn Ái Quốc. Ông cũng gởi kèm theo 300 đồng để Nguyễn Ái Quốc mua thuốc chữa trị, đồng thời đề nghị phải giữ gìn sức khỏe để phụng sự đất nước. (“Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1919–1941”, Sophie Quinn-Judge, trang 194).

15- Đầu năm 1932, Viện khu Mật Hoàng gia Anh Quốc mở phiên tòa xử vụ Tống Văn Sơ tức Nguyễn Ái Quốc. Kết thúc phiên xử, Tòa tuyên án phóng thích Nguyễn Ái Quốc. Tin vui đến Hương Cảng. Lúc ấy Tống Văn Sơ vẫn còn đang điều trị tại bệnh viện. Sau chín lần ra tòa (1/8/1931–19/9/1931), sức khỏe Tống Văn Sơ đã quá suy nhược.(“Chủ tịch nước Việt Nam Hồ Chí Minh”, Lý Gia Trung, cựu Đại sứ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam, trang 217).

16- Năm 1932, đại diện Bộ Ngoại giao Anh Quốc là Paul Draken đến Hương Cảng gặp Nguyễn Ái Quốc. Paul Draken nói: “Tôi được cử đến đây giúp ngài xuất cảnh, xin hỏi, ngài muốn đến nơi nào ?”. Nguyễn Ái Quốc bảo: “Tôi muốn đến Liên Xô”. “Tốt nhất là ngài nên qua đường Thượng Hải”, Paul gợi ý, “Tôi sẽ tháp tùng ngài đi Thượng Hải, sau đó, ngài sẽ quyết định nên đến nơi nào”. (“Nhật ký Paul Draken — Ghi chép về Nguyễn Ái Quốc”).

17- Năm 1932, Hồ Chí Minh (Nguyễn Ái Quốc) mất tích tại Hương Cảng, các báo đều đưa tin sau khi Hồ Chí Minh bị cảnh sát Hương Cảng bắt đã chết trong tù vì bệnh lao phổi. Các báo nầy bao gồm cả của chính quyền Pháp lẫn các Đảng Cộng sản, như tờ “Lao động” của Đảng Cộng sản Anh, tờ “Nhân đạo” của Đảng Cộng sản Pháp cùng các báo chí Liên Xô. (“Hồ Chí Minh ở Trung Quốc”, Tưởng Vĩnh Kính, trang 74–75).

18- Trước đó, nhóm lưu học sinh Việt Nam tại học viện Stalin đã biết Nguyễn Ái Quốc chết bởi bệnh lao phổi và đã lo tổ chức tang lễ, như trước đó đã tổ chức tang lễ Tổng Bí thư Trần Phú chết trong nhà tù thực dân Pháp tại Việt Nam. (“Truyện Hồ Chí Minh”, William J. Duiker, trang 212).

19- Năm 1933, thời kỳ Hồ đến Mạc Tư Khoa, tình trạng sức khỏe đã rất kém, lại bị lao phổi, thân thể gầy yếu, hai má hóp xám bệch, chốc chốc lại ho, đờm dính máu. Trước đây không có điều kiện chữa trị bằng các loại thuốc đặc hiệu, Hồ nghĩ ra cách điều trị riêng của mình: Sinh hoạt theo kỷ luật khắt khe, tuyệt đối tuân thủ các chế độ đã đặt ra. Mỗi sáng sau khi thức dậy, ông thường xuyên tập thể dục. Trong phòng luôn có quả tạ, dụng cụ luyện tập làm nở lồng ngực. (“Hồ Chí Minh ở Trung Quốc”, Tưởng Vĩnh Kính, trang 182).

20- Cuối năm 1944, thiếu úy Shaw đề nghị Hồ Chí Minh cùng đến Côn Minh. Hồ Chí Minh và hai đồng chí thanh niên đi trước, trên đường qua Di Lương bị cảm mạo do nhiễm lạnh phải nghỉ lại vài ngày. Sau khi Hồ Chí Minh phục hồi sức khỏe, mọi người lại tiếp tục lên đường. (“Truyện Hồ Chí Minh”, William J. Duiker, trang 287).

21- Cuối tháng Ba năm 1945, sau chuyến công tác tại địa khu Đông Khê, chúng tôi chuyển đến Xuân Sơn tổ chức mấy cuộc phát động quần chúng, chính là lúc gặp Hồ Chủ Tịch từ Bắc Pha đi xuống. Tôi đi cùng Chủ Tịch một đoạn.

p20

Trên đường Hồ Chí Minh lại lên cơ sốt rét (hoặc nhiễm ngược tật, chợt nóng chợt lạnh. Khi nóng, nhiệt độ tăng cao, toàn thân hầm hập. Khi lạnh, hàm răng run cầm cập, gọi là sốt rét). Đồng chí Phạm Việt Tử phải dùng bơm tiêm ký ninh vào tĩnh mạch, nói rằng, loại thuốc nầy có hiệu quả cắt cơn ngay tức khắc. Năm 1946, tôi công tác ở địa khu Tứ Liên bị một trận sốt rét. Y tá cũng dùng ký ninh tiêm tĩnh mạch. Mũi kim vừa rút khỏi tay, tôi liền ngất đi, may có các đồng chí xung quanh xúm vào cứu chữa, hồi lâu mới tỉnh lại. Sau đó hỏi bác sĩ tôi mới biết, tiêm ký ninh vào tĩnh mạch vô cùng nguy hiểm. Trước đó, Phạm Việt Tử tiêm tĩnh mạch Hồ Chí Minh mà không xảy ra sự cố, quả là đại hạnh cho toàn dân Việt Nam. (“Hạt thóc trên Biển cả”, Hoàng Văn Hoan, trang 180–181, NXB Giải phóng Quân, Trung Quốc, 1987).

22- Tháng Bảy năm 1945, Võ Nguyên Giáp kể: “Trên đường từ Tĩnh Khê (Trung Quốc) về Việt Nam, bệnh cũ Hồ Chí Minh tái phát, nhiều ngày liền sốt cao, hôn mê bất tỉnh. Chúng tôi tìm được một thày lang người dân tộc Đại biết cách điều chế môn thuốc hạ nhiệt cho Bác uống mỗi ngày hai ba lần, cuối cùng bệnh cũng thuyên giảm, sau đó mới tiếp tục công việc”. Thế nhưng về phía Hoa Kỳ, những ghi chép sự kiện nầy lại không đúng như vậy. Một y sĩ thuộc Trung tâm chiến lược Hoa Kỳ (nhóm nhảy dù) chẩn đoán, Hồ Chí Minh ngoài bệnh sốt rết còn mắc thêm chứng kiết lỵ. (“Truyện Hồ Chí Minh”, William J. Duiker, trang 301–302).

23- Vào năm 1950, sau khi Trung cộng chiếm được Trung Quốc, báo chí Đại lục phần lớn đều đưa tin Hồ Chí Minh đến Trung Quốc chữa bệnh, tuyệt nhiên không nói đến việc điều trị chứng lao phổi.

8- Tổng hợp các tư liệu về bệnh tình Hồ Chí Minh (Nguyễn Ái Quốc):

Năm 1933, hồ sơ ghi chếp về bệnh sử Hồ Chí Minh đều liên quan mật thiết đến chứng lao phổi, hoàn toàn phù hợp với căn bệnh lao phổi của Nguyễn Ái Quốc năm 1932. Vậy mà sau năm 1933, hầu như không nói đến bệnh nầy trong hồ sơ bệnh án Hồ Chí Minh. Cuối cùng, vào tháng 9 năm 1969, khi ông qua đời, căn bệnh được công bố chính thức lại là bệnh tim. Trong khi ấy, nhiều hồ sơ ghi chép về Hồ Chí Minh vào năm 1933, khi mới đến Mạc Tư Khoa, đều khẳng định sức khỏe của ông rất tệ hại bởi bệnh lao phổi, thỉnh thoảng lại ho ra máu. Điều nầy, đã được giáo sư Nguyễn Khánh Toàn kể lại trong hồi ký. Vậy mục đích của họ là gì ? Câu trả lời là: để tạo điều kiện thuận lợi cho Hồ Chí Minh tiếp tục sự nghiệp cách mạng, đấu tranh giải phóng dân tộc, cố ý giấu đi cái chết vì bệnh phổi của Nguyễn Ái Quốc, dùng thân phận Hồ Chí Minh thay thế, tạo ra sự lẫn lộn trong bệnh sử của hai người.

B- Màn hai: Tiết mục Nguyễn Ái Quốc “Chết rồi Sống lại”:

Căn cứ vào hồi ký của tình báo viên Anh Quốc Paul Draken, khi ông nầy tham gia vào vụ giải cứu Nguyễn Ái Quốc chạy thoát khỏi Hương cảng thì: “Vào đầu năm 1932, Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hương Cảng bằng thủy phi cơ đến bến sông Hoàng Phố, Thượng Hải”. Trong khi đó, các tác giả viết truyện ký về Hồ Chí Minh lại dẫn dựng những tư liệu sau nầy về Hồ Chí Minh: “Đầu năm 1933, Nguyễn Ái Quốc rời Hương Cảng bằng thuyền đến Hạ Môn.

p21

Hai tư liệu đương nhiên là không thống nhất, bởi thời gian nầy còn dính dáng đến mùa thu năm 1932 báo chí đưa tin Nguyễn ái Quốc bị bệnh chết. Vì thế, xác định được, thực chất Nguyễn Ái Quốc rời Hương Cảng vào thời gian nào là vấn đề vô cùng quan trọng.
Điều cần nói là, việc Nguyễn Ái Quốc chết có phải là sự thật ? Và Hồ Chí Minh có phải đã chơi trò ú tim chết rồi sống lại ? Vì thế, nhất định phải tìm được chứng cứ gốc, cẩn trọng so sánh, đối chứng các tài liệu thật giả mới có thể xác định được sự kiện Nguyễn Ái Quốc bị bắt, bị thẩm vấn, bị mất tích, và, cuối cùng là tử vong để trả lại công bằng cho lịch sử.

1- Vụ án “Nguyễn Ái Quốc bị bắt tại HươngCảng”:

Vào lúc 2 giờ sáng ngày 6 tháng Sáu năm 1931, tại số nhà 186 phố Tam Long, Hương Cảng, cảnh sát Hương Cảng bắt Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc bị bắt liên quan đến vụ Hilaire Noulens chấn động Trung Quốc một thời. (Hilaire Noulens tên thật là Jakov Rudink, sinh năm 1894 tại Ukraine, liên lạc viên của Quốc tế Cộng sản tại Cục Viễn Đông). Bắt đầu là cảnh sát Anh Quốc cùng với mật thám Pháp phối hợp, vào tháng Sáu năm 1931, bắt được Joseph Ducroix. vốn là đảng viên Cộng sản Pháp đang giữ chức Bí thư Công hội Quốc tế Cộng sản. Joseph Ducroix tên thật là Serge Lefrance, khai ra những bí mật của Cục Viễn Đông đã cử Hilaire Noulens và Nguyễn Ái Quốc chia nhau đến Thượng Hải và Hương Cảng, vì thế cảnh sát Anh đón lõng bắt được. Lúc ấy Serge Lefrance đăng ký địa chỉ tại số nhà 186, phố Tam Long, Hương Cảng.

2- Vụ án “Tòa Hương Cảng thẩm vấn Nguyễn Ái Quốc”:

Sau khi Nguyễn Ái Quốc bị bắt, chính quyền Pháp yêu cầu nhà cầm quyền Hương Cảng dẫn độ về Hà Nội. Lúc nầy Quốc tế Cộng sản thông qua “Hội cứu Tế đỏ” đề nghị có biện pháp cứu giúp bằng cách mời luật sư nổi tiếng người Anh là Frank Loseby biện hộ cho Tống Văn Sơ. (Tống Văn Sơ là bí danh của Nguyễn Ái Quốc ở Hương Cảng). Tòa án Hương Cảng đã có chín phiên xử công khai thẩm vấn Nguyễn Ái Quốc, tạo thành một sự kiện quốc tế, khiến cả thế giới phải quan tâm.*
– Phiên thứ nhất mở ngày 1 tháng Tám, chánh tòa Hương Cảng phán quyết tội danh Tống Văn Sơ như sau: “Tống Văn Sơ tức Nguyễn Ái Quốc, là tay sai của Nga Xô, phái viên Đệ tam Quốc tế, đến Hương Cảng hoạt động phá hoại, vì thế, đợi đến ngày 18 tháng 8 sẽ trục xuất khỏi Hương Cảng, áp giải về Việt Nam trên chiếc tàu Algiers của Pháp”. Vừa nghe chánh tòa tuyên án, trợ lý của luật sư Loseby là luật sư J.C đã kịch liệt lên án việc bắt người trái phép và giam trong ngục 14 ngày mà không trả tự do cho thân chủ của ông ta. Sau một hồi tranh biện, pháp quan rung chuông tuyên bố Tòa tạm nghỉ.
– Phiên thứ hai mở ngày 15 tháng Tám, tranh luận và thẩm vấn 7 điểm qua các chứng cứ có tính hợp pháp của đương sự. Cuối phiên, Tòa phải thừa nhận sai lầm và rung chuông tạm nghỉ.
– Phiên thứ ba mở ngày 17 tháng Tám. Thẩm phán trưởng tuyên bố, nếu như tòa án không có khả năng giải quyết những vấn đề đã nêu ra…, nếu không chấp nhận đưa lên tàu Algiers về Việt Nam thì sẽ đưa lên tàu “梅當埃將軍” (Mai Đương Ai Tướng Quân), để đến ngày 1 tháng Chín rời khỏi Hương Cảng.
– Phiên xử thứ tư vào chiều ngày 17 tháng Tám. Bắt đầu phiên tòa, thẩm phán trưởng nói: “Lệnh trục xuất Tống Văn Sơ đã được ký, đề nghị không tiếp tục xử nữa”.

p22

Luật sư J.C trong lòng mừng thầm, đồng ý với thẩm phán trưởng và đề nghị, phiên xử cuối cùng vào thứ Năm ngày 20 tháng Tám. Như vậy, nhà đương cục Hương Cảng không thể thực hiện lời hứa với chính quyền Pháp là trục xuất Tống Văn Sơ vào ngày 18 tháng Tám.
– Buổi sáng và buổi chiều ngày 20 tháng Tám là ngày xử phiên thứ năm và thứ Sáu. Không khí phiên tòa rất căng thẳng. Luật sư J.C đã đề nghị ngày 12 tháng Tám sẽ có lệnh trục xuất của Thẩm phán trưởng tại Tòa, vì sao mãi đến ngày 15 tháng Tám, trong phiên xử thứ hai mới có ? Ông yêu cầu chuyển ý kiến của ông đến Toàn quyền và Ủy viên Hành chính Hương Cảng đối chất. Đến đây chánh án tuyên bố Tòa tạm nghỉ, mời luật sư J.C bàn bạc. Phiên xử tiếp tục, pháp đình đề xuất lý do 2 điểm trục xuất Tống Văn Sơ như sau:
1- Tống Văn Sơ tức Lý Thụy, cũng là Nguyễn Ái Quốc, là phần tử Cộng sản, đặc phái viên của Đệ tam quốc tế, đã tuyên truyền những điều có hại đối với an ninh Hương Cảng.
2- Quê quán của Nguyễn Ái Quốc tại Đông Dương (An Nam), từ năm 1929 đã bị tuyên án tử hình vắng mặt, chính quyền Đông Dương yêu cầu chính quyền Hương Cảng dẫn độ về Đông Dương quy án.

– Ngày 25 tháng Tám, phiên tòa thứ bảy khai mạc, luật sư J.C có bài có bài thuyết trình về vấn đề chính trị phạm. Tống Văn Sơ vì nền độc lập dân tộc, tham gia vận động cách mạng, vì vậy không thuộc diện trục xuất mà pháp luật Hương Cảng đề cập tới. Luật sư chỉ trích Thẩm phán Trưởng, Công tố viên, Pháp quan, Toàn quyền và Toàn quyền Ủy viên Hội đều chấp pháp sai lầm trong vụ án Tống Văn Sơ. Tuy nhiên nhưng lời biện hộ đó chưa làm cho nhà đương cục Hương Cảng thay đổi thái độ.
– Phiên thứ tám mở vào ngày 2 tháng Chín năm 1931. Tại phiên xử nầy Chánh tòa Hương Cảng buộc phải thừa nhận:
– Bắt giữ Tống Văn Sơ là một sai lầm.
– Giam giữ Tống Văn Sơ trong ngục cũng là một sai lầm.
– Hỏi cung không phù hợp với trình tự tố tụng.
– Nhà đương cục Hương Cảng ngụy tạo lời khai của đương sự.

Tuy vậy, tại phiên xử thứ chín ngày 19 tháng Chín năm 1931, Tòa án vẫn cưỡng ép phán quyết trục xuất Tống Văn Sơ về Đông Dương. Luật sư J.C cực lực phản đối. Ông tuyên bố sẽ gởi kháng nghị lên Viện khu Mật Hoàng gia London, Anh Quốc.
=============
* Sự việc có liên quan đến tòa án Hương Cảng thẩm tra, có thể xem Dennis Ducanson “Hồ Chí Minh ở Hương Cảng, 1931–932”; Nguyễn Việt Hồng 1996 “Sự kiện 1931 ở Hương Cảng”; Dennis J. Duncanson “Trung Quốc Quý san”, (tháng 1 đến 3 năm 1974), là tài liệu viết tay Nguyễn Việt Hồng dẫn dụng từ hồ sơ đã giải mật của Anh Quốc (“Hoàng gia đáng Án quán”, năm 1931 Z225C, HEIII,VOLIII/40 – 1240 hiệu quyển tông đích tư liệu).
=============

3- Viện khu Mật Hoàng gia London xét xử –Chống án :

Luật sư Loseby đã dự đoán, Tòa án Hương Cảng sẽ phán quyết trục xuất Nguyễn Ái Quốc về Việt Nam, lập tức viết đơn kháng cáo lên Viện khu Mật Hoàng gia Anh Quốc. Tòa Hương Cảng nhận đơn kháng án để chuyển về London với ba điều kiện như sau:
1- Trong vòng 14 ngày đương sự phải đệ trình đơn kháng cáo.
2- Trong vòng 90 ngày phải chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án về Viện khu Mật.
3- Nộp 500 dollars lệ phí.

p23

Cả ba điều kiện nầy luật sư Loseby đều chấp nhận.
Do đơn kháng án phải qua thời gian mấy tháng thẩm định mà Nguyễn Ái Quốc lại bị lao phổi trầm trọng, thân thể suy nhược nên ông được chuyển từ nhà tù Victoria đến bệnh xá trại giam Bảo Vân Đạo điều trị.
Người biện hộ cho Nguyễn Ái Quốc là luật sư P.N.Pritt, biện hộ cho nhà đương cục Hương Cảng là luật sư S.Cripps. Hai vị nầy đều là bạn của luật sư Frank Loseby. Luật sư P.N.Pritt là con trai nghị viên cánh tả, Huân tước Palme. Luật sư Pritt đã thu thập đầy đủ thông tin vụ án từ luật sư Loseby. Sau khi thống nhất kế hoạch trong nhóm, ông mời luật sư Cripps đề xuất kế hoạch Tống Văn Sơ sẽ thắng trong phiên xử, hy vọng luật sư Cripps, vì tình bạn bè và lương tâm nghề nghiệp, đứng ra bảo vệ công lý, bảo vệ chính nghĩa. Hai ông đã thống nhất phương án giải quyết, tìm mọi cách buộc chính quyền Hương Cảng trả tự do cho Tống Văn Sơ mà không mất thể diện.
Đầu năm 1932, Viện khu Mật Hoàng gia Anh Quốc mở phiên tòa. Luật sư P.N.Pritt và luật sư S.Cipps trình bày tóm tắt nội dung vụ án và phát biểu ý kiến cá nhân sau đó đề xuất biện pháp giải quyết:
1- Trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc.
2- Nguyễn Ái Quốc chỉ cần rời khỏi Hương Cảng, sau đó có thể đi đến bất cứ nơi nào mình muốn.
3- Lúc ra đi và sử dụng phương tiện giao thông nào đều do tự mình quyết định.

Viện khu Mật Hoàng gia Anh Quốc đồng ý với kiến nghị trên, đồng thời yêu cầu chính quyền Hương Cảng thông báo quyết định nầy. Cuối cùng, ngày 27 tháng Sáu năm 1932, luật sư hai bên đã có được kết quả chung, đề nghị Viện khu Mật kết thúc vụ án. Nhà cầm quyền Hương Cảng chấp hành án quyết, trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc và cấp cho ông 400 dollars làm lộ phí.**
=============
** London (“Hoàng gia Viện khu Mật –Thẩm thượng tố án”), xem thêm Denis Duncanson “Hồ Chí Minh ở Hương Cảng, năm 1931 đến năm 1932”; Nguyễn Việt Hồng, 1936 “Sự kiện Hương Cảng năm 1931”; và “Truyện Hồ Chí Minh” của William J, Duiker, trang 205–207, nội dung dẫn từ bức thư của Burton ngày 6 tháng tháng 10 năm 1932 gởi Bushe; bức thư của Cowell ngày 30 tháng 12 năm 1931 và của Howard Smith ngày 15 tháng 10 năm 1931 gởi chính phủ thực dân Shuck Burgh đều còn lưu giữ tại chính quyền Hương Cảng. Sophie Quinn-Judge trong “Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1911–1941”, trang 193 viết, nội dung dẫn từ bức điện báo từ Hà Nội gởi đến Sài Gòn ngày 24 tháng 8 năm 1931 và ngày 31 tháng 12 năm 1931 do Cowell gởi (PRO CO 129/535/3 trang 27).
=============

4- Vụ án “Nguyễn Ái Quốc đến Singapore bị buộc phải quay lại Hương Cảng”:

Đầu năm 1932, Viện khu Mật Hoàng gia Anh Quốc mở phiên tòa với phán quyết trả lại tự do cho Nguyễn Ái Quốc. Do sự sắp xếp của luật sư Loseby, ngày 6 tháng Giêng năm 1932, Nguyễn Ái Quốc rời Hương Cảng đến Singapore. Tuy nhiên cảnh sát Singapore không cho nhập cảnh mà bắt ông phải quay lại. Cảnh sát Hương Cảng buộc phải tiếp nhận Nguyễn Ái Quốc và hứa sẽ đăng ký hộ khẩu. Ngày 19 tháng Giêng năm 1932, cảnh sát Hương Cảng lại bắt Nguyễn Ái Quốc. Nhà đương cục Hương Cảng chẳng cần để ý đến bản chất sự việc mà tuyên bố Nguyễn Ái Quốc xuất cảnh trái phép, đến ngày 22 tháng Giêng lại phóng xuất ông với mệnh lệnh, nội trong 3 ngày phải rời khỏi Hương Cảng. Từ đấy Nguyễn Ái Quốc mất tích.

p24

Tường thuật sự kiện “Nguyễn Ái Quốc đến Singapore nhưng lại buộc phải trở về Hương Cảng”, các chuyên gia nghiên cứu đều có quan điểm thống nhất về nội dung nhưng lại không nhất trí được với nhau về thời gian. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nầy là bởi đầu năm 1932, Nguyễn Ái Quốc tự nhiên mất tích mà không có bất cứ tờ báo nào đưa tin. Sau nầy người ta chỉ được nghe một câu chuyện có tính chất ngụy tạo về Hồ Chí Minh, là đầu năm 1933, Nguyễn Ái Quốc rời Hương Cảng đến Hạ Môn, nảy sinh một khoảng thời gian gián đoạn. Liên kết thời gian “rời Hương Cảng” với “đến Hạ Môn” cùng sự thật trước và sau khi đã xảy ra, các chuyên gia, học giả rất dễ mắc sai lầm khi đem thời gian “rời Hương Cảng” từ đầu năm 1932 kéo dài tới đầu năm 1933 tạo ra sự sai lệch vừa tròn 1 năm.
Giáo sư Tưởng Vĩnh Kính trong “Hồ Chí Minh ở Trung Quốc”, trang 74, cũng giống như Paul Draken trong “Nguyễn Ái Quốc” cùng nói về thời gian Nguyễn Ái Quốc đến Singapore vào đầu năm 1932. Cựu Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Lý Gia Trung, trong “Chủ tịch nước Việt Nam Hồ Chí Minh”, trang 217 viết khá tối nghĩa: “Thời gian đến Singapore không thấy có ghi chép, chỉ nói thời gian đầu năm 1933 rất vội vàng đến Hạ Môn”. Thời gian mà William J. Duiker cũng như Sophie Quinn-Judge ghi chép đều vào ngày 6 tháng Giêng năm 1933 Nguyễn Ái Quốc đến Singapore. Như vậy, những ghi chép của các nhà nghiên cứu chia thành hai phe rất không trùng khớp với nhau là “đầu năm 1932” và “đầu năm 1933”. Về lý mà nói, các học giả hữu quan đều thống nhất nhận định đầu năm 1932, theo phán quyết của Viện khu Mật Hoàng gia Anh Quốc, là đồng ý với đề nghị của luật sư hai bên, trả lại tự do cho Nguyễn Ái Quốc, trong thời hạn 21 ngày phải rời khỏi Hương Cảng, vậy thì làm sao có thể trì hoãn đến đầu năm 1933 ? Hơn thế, từ Hương Cảng đến Hạ Môn, đường đi cũng chỉ mất một đến hai ngày, chẳng có lý do gì hành trình kéo dài những 1 năm. Lại nữa, trong những hồ sơ liên quan đến Nguyên Ái Quốc, không tìm thấy bất cứ tài liệu nào ghi chép về chuyến đi dài, ngày nầy. Vì thế, nói rằng “có chuyến đi Singapore vào đầu năm 1933” thật sự là vô lý.
William J. Duiker và Sophie Quinn-Judge đề dẫn tư liệu từ “Hồ sơ Quân đội Viễn chinh Pháp Quốc thuộc Bộ phận Hải ngoại”, số hiệu 369 và của Dennis J. Duncanson trong “Hồ Chí Minh ở Hương Cảng, năm 1931–1932”, vậy làm sao có khả năng mãi đến đầu năm 1933 mới đi Singapore ? Rất khó giải thích. Và, nếu quả là vào đầu năm 1933, Nguyễn Ái Quốc mới đi Singapore thì rõ ràng mâu thuẫn với phần tiếp sau (thời gian Nguyễn Ái Quốc từ Hạ Môn đến Thượng Hải).
William J.Duiker và Sophie Quinn-Judge đều là những học giả chuyên nghiệp, làm việc nghiêm cẩn, thực tế không thể mắc sai lầm trong việc xác định thời gian. Sở dĩ có tình trạng nầy là bởi các vị vẫn cho rằng Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc chỉ là một người, mà không biết rằng, còn có một nhân vật khác ngoài Nguyễn Ái Quốc tham gia vào vở kịch nầy. Đó là lý do để người ta đem thời gian từ ngày 6 tháng Giêng năm 1932, Nguyễn Ái Quốc đi Singapore, kéo dài đến ngày 6 tháng Giêng năm 1933, Nguyễn ÁI Quốc đi Hạ Môn liên kết thành một chỉnh thể, để tạo ra sự ngộ nhận lịch sử.
Sự kiện “Nguyễn Ái Quốc đi Singapore bị buộc trở lại Hương Cảng”, cần xem thêm “Hồ Chí Minh ở Hương Cảng, năm 1931–1932” của Dennis J. Duncanson và “Sự kiện Hương Cảng năm 1931” của Nguyễn Việt Hồng. Giáo sư Tưởng Vĩnh Kính trong “Hồ Chí Minh ở Trung Quốc”, trang 74, nội dung dẫn từ Bernard B. Fall, “Le Vietminh 31” ( Librarie Armand Colin, 1960, xem Hoàng Văn Chí, trang 50).
William J. Duiker trong “Truyện Hồ Chí Minh”, trang 208–209, nội dung dẫn từ Dennis J. Duncanson “Hồ Chí Minh ở Hương Cảng, năm 1931–1932”, trang 99.

p25

“Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1919–1941”, Sophie Quinn-Judge, trang 193, nội dung dẫn từ “Hồ sơ Quân đội Viễn chinh Pháp Quốc thuộc Bộ phận Hải ngoại”, số hòm 369″.
“Nhật ký Paul Draken, Ghi chép về Nguyễn Ái Quốc” của Paul Draken.

5- Sự kiện Nguyễn Ái Quốc mất tích ở Hương Cảng :

Đầu năm 1932 Nguyễn Ái Quốc đi Singapore, như vậy, thời gian từ Singapore trở lại Hương Cảng cũng trong tháng Giêng năm 1932, không thể nào kéo mãi sang năm 1933. Hơn thế, trong năm 1933 không có bất cứ tờ báo nào đưa tin Nguyễn Ái Quốc mất tích. Chuyện Nguyễn Ái Quốc trốn khỏi Hương Cảng đến Hạ Môn đều là lời kể 16 năm sau của Hồ Chí Minh, bút danh Trần Dân Tiên trong cuốn sách “Những mẩu Chuyện về Đời hoạt Động của Hồ Chủ Tịch”. Nói cách khác, sau khi Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hương Cảng vào đầu năm 1932, không một ai biết ông đi đâu, hành tung thật sự bí hiểm, vì thế mới thành sự kiện “mất tích ở Hương Cảng”. Mười sáu năm sau Hồ Chí Minh nói ngược lại: “Sau khi trốn khỏi Hương Cảng, tôi đi Hạ Môn”, việc nầy đích thị là trò bịp bợm.

1- William J. Duiker trong “Truyện Hồ Chí Minh”, trang 209 viết:

“Sau khi Nguyễn Ái Quốc bị buộc quay trở lại, nhà cầm quyền Hương Cảng không thèm để ý đến bản chất sự việc, mà cho rằng ông ta xuất cảnh trái phép, chẳng quan tâm đến kháng nghị của cảnh sát địa phương, tuy nhiên, ngày 22 tháng Giêng năm 1932, lại phóng thích ông, đồng thời ra lệnh trong vòng ba ngày phải rời khỏi Hương Cảng. Vợ chồng luật sư Frank Loseby lần nầy lại sắp xếp cho Nguyễn Ái Quốc ở một nơi bí mật, sau đó tìm cách để ông rời khỏi Hương Cảng. Kế hoạch được đặt ra là, Nguyễn Ái Quốc sẽ ra đi bằng tàu thủy đến Hạ Môn vào ngày 25 tháng Giêng trong vai một nhân viên phiên dịch. Để tránh con mắt lực lượng bảo an Pháp, Nguyễn Ái Quốc đợi trời tối, được cảnh sát mặc thường phục hộ tống xuống thuyền, rồi lại dùng xuồng máy của chính phủ Hương Cảng đưa ra ngoài eo biển Lý Ngư là nơi tàu đậu đón khách.”

2- Sophie Quinn-Judge trong “Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1919–1941”, trang 195 viết:

“Nguyễn Ái Quốc buộc phải trở về Hương Cảng, sau đó bị bắt lại vào ngày 19 tháng Giêng. Toàn quyền Hương Cảng William Peel ra quyết định (không cần biết lý do) bắt giam Nguyễn Ái Quốc (là di dân trái phép) tống giam thời hạn 1 năm theo quy định của luật pháp hiện hành, đồng thời cự tuyệt yêu cầu của lãnh sự Pháp Teyssières. Sau đó Hồ Chí Minh rời khỏi Hương Cảng. Lần nầy Frank Loseby thuyết phục đươc nhà cầm quyền Hương Cảng để ông tự chọn nơi đến. Toàn quyền Peel giải thích bằng công văn, cuối ngày 22 tháng Giêng sẽ sắp xếp cho Hồ Chí Minh lên một chiếc thuyền (không phải của chính phủ Hương Cảng) chở đến chiếc tàu “An Huy Châu Tế” đậu ngoài bến Hương Cảng.”

3- Lý Gia Trung, cựu Đại sứ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam, trong “Chủ tịch nước Việt Nam Hồ Chí Minh”, trang 218 viết:

“Sau khi Nguyễn Ái Quốc buộc phải trở lại Hương Cảng, bị giam trong ngục, có nhờ một cai ngục chuyền mảnh giấy thông báo tình hình đến luật sư Frank Loseby. Loseby lập tức đến gặp Toàn quyền William Peel. Ông nầy đồng ý lập tức trả lại tự do cho Nguyễn Ái Quốc và giao phạm nhân cho Loseby xử lý. Lúc nầy Nguyễn Ái Quốc được bố trí ở tạm trong gian phòng bí mật một nhà thờ Thiên chúa giáo. Phu nhân luật sư làm nhiệm vụ người đưa cơm hàng ngày.

p26

Theo lời dặn của Loseby, thư ký của ông là Long tiên sinh đem đến cho Nguyễn Ái Quốc một chiếc áo lông, một áo khoác ngoài rộng tay, một chiếc quần dài sang trọng và một túi xách trong để tờ giấy đã viết sẵn mấy chữ. Vào lúc hoàng hôn, một người trong trang phục giáo sư, thản nhiên bước ra khỏi ký túc xá, qua cửa lớn rồi lên một chiếc kiệu. Bên cạnh kiệu là một người châu Âu mang kính trắng, tay cầm cây bút. Người đàn ông châu Âu đó chính là luật sư Frank Loseby, còn vị giáo sư chính là Nguyễn Ái Quốc. Luật sư mời Nguyễn Ái Quốc lên xe sau khi liếc mắt nhìn trước nhìn sau không thấy có dấu hiệu mật thám, liền quay xe về phía nhà mình. Vợ chồng Loseby cùng Phó Toàn quyền bàn bạc. Ông ta đồng ý gặp Toàn quyền William Peel đề nghị giúp đỡ và được Toàn quyền chấp thuận.”

4- Paul Draken trong “Nhật ký Long Bảo La” viết về Nguyễn Ái Quốc như sau:

“Tôi và Nguyễn Ái Quốc gặp nhau trong căn hầm của Tổng bộ Cảnh sát. Ông ta là một người trung niên thân hình ốm yếu, mắc bệnh phổi, xem ra tình hình sức khỏe không tốt. Nguyễn Ái Quốc biết tiếng Hoa và tiếng Pháp nên chúng tôi có thể nói chuyện được với nhau: “Tôi là Paul Draken, đại diện Bộ Ngoại giao Anh Quốc , được cử đến đây giúp đỡ tiên sinh xuất cảnh, xin hỏi, ngài định đến nơi nào ?”. Nguyễn Ái Quốc uể oải trả lời trong khi vẫn không dứt cơn ho: “Tôi muốn đến Liên Xô”.
“Liên Xô ? Vậy tốt nhất là nên qua lối Thượng Hải, như vậy tôi sẽ có hân hạnh được tháp tùng ngài, đến Thượng Hải sẽ tùy ngài quyết định đi đâu”. Tuy nhiên luật sư Loseby tỏ ra lo lắng: “Tôi chỉ sợ mật thám Pháp đã ngầm cử sát thủ đến Hương Cảng, vậy phải làm thế nào để bảo đảm cho Nguyễn tiên sinh an toàn xuất cảnh ?”. Lúc nầy, cả hai chúng tôi đều ngẩng lên nhìn Cảnh sát Trưởng. Cảnh sát Trưởng cáo già khôn khéo xua tay thoái thác: “Tôi đã biết ý các ngài. Chúng tôi có thể bố trí tóm được đám sát thủ Pháp, nhưng việc nầy phải tuyệt đối giữ bí mật, nếu để lộ ra, chính phủ Anh Quốc sẽ khó ăn nói với người Pháp”. Ngẫm nghĩ một lúc, ông ta nói tiếp: “Chỉ cần các ngài đề xuất biện pháp xuất cảnh an toàn, tôi sẽ rất vui được “thuận nước giong thuyền”, có điều phải nói trước, vạn nhất, sự việc bị vỡ lở, tôi sẽ không thừa nhận, đến lúc đó sẽ đắc tội với chính quyền địa phương, mong nhị vị thông cảm”.
Ra khỏi Tổng bộ Cảnh sát, Loseby lớn tiếng chửi Cảnh sát Trưởng là một gã xảo trá. Bất chợt, tôi nảy ra một kế. Loseby vốn rất quen thân với Toàn quyền Hương Cảng, nếu được ông ta đứng ra giải quyết vụ nầy, có thể xem đấy như một là bùa hộ mệnh, tránh được thất bại do Cảnh sát Trưởng có ý đồ phản thùng. Tuy nhiên, cách làm hơi mạo hiểm là đóng giả làm khách của Toàn quyền William Peel ra thăm bến cảng, sau đó chuyển lên chiếc thủy phi cơ “Trân châu Trung Quốc” bay đi Thượng Hải. Nghĩ vậy, tôi bèn đem ý tưởng nầy bàn với Loseby. Luật sư cảm thấy có thể thành công liền phân công nhau chuẩn bị hành động.”

a- Phân tích về sai lầm và sự thật :
Ghi chép về sự kiện Nguyễn Ái Quốc mất tích tại Hương Cảng nhất dịnh phải làm rõ hai vấn đề quan trọng:
a- Thời gian rời Hương Cảng và nơi đã đi qua ?
b- Sau khi rời Hương Cảng thì đến nơi nào ?

Về cơ bản, các chuyên gia nghiên cứu sự kiện “mất tích” của Nguyễn Ái Quốc tại Hương cảng là khá thống nhất về thơi gian và nơi đi qua, được xem là khả tín. Đặc biệt, Đại sứ Lý Gia Trung, trong bài viết của mình, đã trích dẫn “Sự kiện Hương Cảng năm 1931” của Nguyễn Việt Hồng dẫn từ nguồn tư liệu Hồ sơ Hoàng gia Anh Quốc mới được giải mật. “Ghi chép về Nguyễn Ái Quốc”, Paul Draken, trong hồi ký của mình đã viết, ông từng tham gia giải cứu Nguyễn Ái Quốc.

p27

Hai tác phẩm trên đều đưa ra những thông tin tương đối giống nhau về sự kiện Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hương Cảng, thậm chí còn nói rõ cả việc Toàn quyền Hương Cảng William Peel cũng tham dự vào việc xây dựng kế hoạch chuẩn bị cho Nguyễn Ái Quốc đào thoát. Khách quan mà nói, những tư liệu trên đều có độ tin cậy cao. Tuy nhiên, đến đoạn tường thuật về quá trình rời khỏi Hương Cảng và sau khi đã rời khỏi Hương Cảng thì độ tin cậy thấp, bởi phần nầy do Hồ Chí Minh tự mình kể lại cùng những tư liệu của báo chí Cộng sản Việt Nam. Nói cách khác, các ông trình nghiên cứu sự kiện Nguyễn Ái Quốc trốn khỏi Hương Cảng, phần đầu diễn ra đúng với sự thực lịch sử, nhưng phần sau thì tất cả các bài viết đều cùng một giọng, nói rằng: “Sau khi rời Hương Cảng, Nguyễn Ái Quốc đến Hạ Môn”. Thực ra đây chính là cái bẫy của trò đánh tráo “dời hoa tiếp cây” của Hồ Chí Minh.
Kiến giải về việc Hồ Chí Minh từ Hương Cảng đến Hạ Môn, thời gian là không liên tục. Các tình tiết trong quá trình nầy là rất bất hợp lý. Duy chỉ có Paul Draken “Ghi chép về Nguyễn Ái Quốc” trong nhật ký của mình là cung cấp thông tin ngược lại. Ông viết: “Sau khi xuống thuyền nhỏ rời cảng, Nguyễn Ái Quốc được đưa lên chiếc thủy phi cơ “Trân Châu Trung Quốc” bay đến Thượng Hải, hạ cánh xuống bến sông Hoàng Phố”. Đây là thông tin hợp lý, có thể tin cậy, bởi nó đã giải thích được nguyên nhân Nguyễn Ái Quốc mất tích ở Hương Cảng.

b- Giải thích nguyên nhân Nguyễn Ái Quốc mất tích ở Hương Cảng :
Sau chuyến Nguyễn Ái Quốc đi Singapore bị buộc trở về Hương Cảng, lập tức có tin truyền ra là “mất tích”. Cái gọi là “mất tích” chẳng qua là do nhà cầm quyền hương Cảng tung hỏa mù để giấu kín thông tin. Sự thật thì, Toàn quyền Hương Cảng cũng tham dự vào vụ đưa Nguyễn Ái Quốc rời Hương Cảng. Chẳng những thế, chính phủ Anh Quốc còn cử nhân viên tình báo đến chỉ đạo công việc, chứng tỏ, nhà đương cục Hương Cảng đặc biệt quan tâm đến vụ việc nầy. Việc loan truyền tin Nguyễn Ái Quốc mất tích xuất phát từ mấy nguyên nhân sau:
a/ Tránh được sự tranh chấp giữa chính quyền Hương Cảng và Cục cảnh sát di dân (tước đoạt mất tiền thưởng của Cảnh sát Trưởng), nên đã bí mật hành động.
b/ Chính quyền Hương Cảng muốn tránh cặp mắt nhòm ngó của lãnh sự Pháp và mật thám Pháp nên phải rất thận trọng khi đưa Nguyễn Ái Quốc ra khỏi Hương Cảng.
c/ Giữ được uy tín của chính phủ Hoàng gia Anh Quốc mà vẫn không ảnh hưởng đến quan hệ bang giao hai nước, nên đã phái tình báo viên đến xây dựng kế hoạch, bí mật đưa Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hương Cảng.

c- Sự thật về việc Nguyễn Ái Quốc trốn khỏi Hương Cảng :
Như trên đã nói, Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hương Cảng thuận lợi là bởi chính phủ Anh cử tình báo viên xây dựng kế hoạch cùng với sự tham gia bí mật của Toàn quyền William Peel. Sự kiện nầy đã được Paul Draken viết trong hồi ký của mình.
Nếu đem “Ghi chép về Nguyễn Ái Quốc” trong hồi ký của Paul Draken đối chiếu với William J. Duiker, Sophie Quinn-Judge, cùng cuốn sách “Chủ tịch nước Việt Nam Hồ Chí Minh” của Lý Gia Trung, cựu Đại sứ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam, có dẫn dụng cả “Sự kiện Hương Cảng năm 1931” của Nguyễn Việt Hồng, thì quá trình rời khỏi Hương Cảng của Nguyễn Ái Quốc hầu như hoàn toàn nhất trí. Có thể xem đây chính là sự thật lịch sử. Từ đó suy luận tiếp theo: “Cuối tháng Giêng năm 1932, Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hương Cảng cùng với bạn của Paul Draken là cô Anne Kennedy, người có chiếc thủy phi cơ ‘Trân Châu Trung Quốc’, bay đến bến sông Hoàng Phố, sau đó một đồng chí chèo con thuyền nhỏ đón Nguyễn Ái Quốc về Thượng Hải”. (Anne Kennedy là chị họ của tổng thống Hoa Kỳ thứ 35 John Kennedy, thân phụ là trùm dầu mỏ Hoa Kỳ, giáo phụ hắc bang Thượng Hải Hoàng Kim Vinh là cha nuôi).

p28

6- Nguyễn Ái Quốc trên đường từ Hương Cảng đến Hạ Môn :

Đầu năm 1933, liệu có phải Nguyễn Ái Quốc đã từ Hương Cảng đến Hạ Môn ? Theo đó, vào năm 1932 có đúng là, trên thực tế Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi ? Còn Nguyễn Ái Quốc đến Hạ Môn đầu năm 1933 chính là Hồ Chí Minh ? Đây được xem là văn bản sớm nhất nói về sự kiện nầy. Sau đó, qua thời gian, người ta đã nhiều lần thêm thắt, sửa chữa. Vì vậy, so với những ghi chép ở nhật ký Paul Draken trong chiến dịch giải cứu Nguyễn Ái Quốc đến Thượng Hải thì hoàn toàn khác nhau. Hai quan điểm nầy khác nhau về thời gian, địa diểm đến và cả về lịch trình hành động. Vậy quan điểm nào là đúng ? Chúng ta hãy tham khảo những đánh giá của các chuyên gia, học giả sau đây:
1- Giáo sư Tưởng Vĩnh Kính trong tác phẩm “Hồ Chí Minh ở Trung Quốc” đã viết:

“Đầu năm 1932, Hồ được phóng thích và buộc phải rời khỏi Hương Cảng, căn cứ vào lời tự kể thì ông đã đến Thượng Hải. Để tránh tai mắt mật thám, một luật sư ở Hương Cảng đã sắp xếp cho ông ta cải trang thành nhà buôn Trung Quốc, lên tàu thủy ra khỏi Hương Cảng an toàn. Sau khi đến Hạ Môn, Hồ ở lại đây nửa năm rồi mới đi Thượng Hải“.

Nội dung tường thuật của Tưởng Vĩnh Kính dẫn từ cuôn sách “Bác Hồ” của Hoài Thanh và Thanh Tịnh, NXB Ngoại văn Hà Nội, Việt Nam, 1962).

2- Trong tác phẩm “Truyện Hồ Chí Minh”, trang 209, tác giả William J. Duiker viết (Giáo sư William J. Duiker dẫn từ nguồn: “Hồ sơ Quân đội Viễn chinh Pháp Quốc thuộc Bộ phận Hải ngoại”, số hiệu 369 và “Hồ sơ thông tin 1932”):

“Nguyễn Ái Quốc được vợ chồng F.Loseby bố trí đi theo một nhân viên phiên dịch, chuẩn bị vào ngày 25 tháng Giêng sẽ lên tàu đến Hạ Môn. Sáng sớm hôm sau ngày đến Hạ Môn, Nguyễn Ái Quốc và người phiên dịch xuống thuyền tìm đến quán trọ thanh niên Trung Quốc và ở đấy qua tiết lập xuân. Sau mấy tuần, cảm thấy chẳng những mất an toàn mà lại còn không biết tình hình bên ngoài ra sao, nên khi nhận được tiền bạn bè quyên góp gởi vào giúp đỡ từ luật sư Loseby, ông cũng được đưa xuống tàu thủy đi Thượng Hải“.

Trong phần chú giải ở trang 619, giáo sư William J. Duiker viết:

“Nguyên nhân Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hạ Môn rất không rõ ràng, có khả năng trốn chạy đến Singapore rồi bị cảnh sát bắt giữ. Sự thật mối quan hệ giữa Đại sứ quán Pháp tại Hương Cảng và cảnh sát Anh rất tốt. Cuối tháng Giêng, nhà đương cục Pháp có thông báo cho Singapore biết Nguyễn Ái Quốc đã trốn khỏi Hương Cảng. Như thế có thể cảnh sát Pháp ở Thượng Hải nhận định, nguyên nhân là Nguyễn Ái Quốc đang lẩn tránh ở trung tâm thành phố.”

Lại căn cứ vào một tài liệu gốc Việt Nam là “Hồ Chí Minh Biên niên Tùng thư”, quyển 2, trang 42, và Trần Đạt Nhân “Vừa đi Đường vừa Kể chuyện”, trang 43, ta dễ dàng nhận thấy, Nguyễn Ái Quốc mới đi khỏi Hạ Môn vào tháng Bảy, chứng tỏ ông đã ở Hạ Môn 6 tháng.

Giải thích về sai lầm và sự thật:
Theo phân tích của giáo sư William J. Duiker, trang 209 cùng với phần chú giải bổ sung trang 619, rõ ràng ở thời gian trên, phần trước và phần sau mâu thuẫn với nhau.

p29

William J. Duiker cho rằng, ngày 25 tháng Giêng Nguyễn Ái Quốc rời Hương Cảng, ngày 26 đến Hạ Môn và ở Hạ Môn qua tiết lập xuân mới đi Thượng Hải. Mặt khác, ông lại dẫn chứng những lời biện giải từ tác phẩm “Vừa đi đường vừa Kể chuyện” của Trần Đạt Nhân, thì đến tháng Bảy Nguyễn Ái Quốc mới rời Hạ Môn, chứng tỏ ông ta lưu lại Hạ Môn 6 tháng. Giải thích sự việc nầy hiển nhiên là để hợp lý hóa thời gian cho chuyến đi từ Hương Cảng đến Hạ Môn, sau đó là từ Hạ Môn đến Thượng Hải. Đem ba địa danh Hương Cảng, Hạ Môn, Thượng Hải gộp lại với nhau chính là nhằm mục đích định vị thời gian vào cuối tháng Giêng năm 1933, có điều đến tháng Bảy mới rời Hạ môn mà nói rằng lưu lại Hạ Môn 6 tháng là không hợp lý, rất khó khó có thể vo tròn cho kín kẽ.

3- Sophie Quinn-Judge trong “Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1919–1941”, trang 169, 195, và 197 viết:

“William Loseby thuyết phục Toàn quyền Hương Cảng William Peel trợ giúp Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hương Cảng. Trong công văn, William Peel giải thích, ông đã bố trí cho Hồ Chí Minh vào buổi chiều ngày 22 tháng Giêng xuống một chiếc thuyền nhỏ của tư nhân, không do chính quyền Hương Cảng quản lý, ra ngoài bến cảng, sau đó lên tàu “An Huy Châu Tế”. Hồ Chí Minh cải trang thành một phú thương Trung Quốc cùng thư lý của William Loseby là Long tiên sinh đến Sán Đầu.(3)
Một người Thailand mật báo, vào tháng Giêng năm 1935 đã chính mắt nhìn thấy Hồ Chí Minh lẩn trốn tại tỉnh Nakhon Phanom (Thailand), tuy vậy về sau tin nầy được kiếm chứng là không chính xác.(4)
Tháng Chín năm 1933, một người Pháp cũng đã cáo giác, chính mắt nhìn thấy Hồ Chí Minh cùng một đám người Việt ở Nam Ninh. Nữ thám viên Maria nói, trong số 4 thanh niên trú tại số nhà 78, phố Tùng Khải, có một người rất giống tấm ảnh chụp Hồ Chí Minh. Một người họ Tuyến nhìn thấy trong nhà có 3 phụ nữ, 3 cô bé và một cậu bé. Ông ta nói, Hồ Chí Minh dùng tên giả là Lý Tín Sơn.(5)
Vào tháng Sáu năm 1931, Cục cảnh sát Anh Quốc bắt giữ một người khả nghi được xem là Nguyễn Ái Quốc thu một hộ chiếu dán ảnh Hồ Chí Minh .Hộ chiếu có thời hạn 6 tháng do Tổng lãnh sự Trung Quốc cấp, nội dung ghi “một công dân Trung Quốc đến công tác Xiêm La”.(6)

=============
Chú thích:
(3): Nguồn dẫn từ PRO,CO 129/535/ trang 2,3, và 4, ngày 31 tháng Giêng năm 1933, thư Toàn quyền William Peel gởi Cunliffe-Lister.

(4): Nguồn dẫn từ: “Hồ sơ Quân đội Viễn chinh Pháp Quốc thuộc Bộ phận Hải ngoại”, số hiệu 369, hồ sơ liên quan đến Hồ Chí Minh tại Liêu Quốc.

(5): Nguồn dẫn từ “Hồ sơ Quân đội Viễn chinh Pháp Quốc thuộc Bộ phận Hải ngoại”, số hiệu 383, ngày 5 tháng Chín năm 1933, do Barthouet ký.

(6): Nguồn dẫn từ: “Hồ sơ Quân đội Viễn chinh Pháp Quốc thuộc Bộ phận Hải ngoại” (Sự kiện bắt Hồ Chí Minh).
=============

Giải thích về sai lầm và sự thật:
Sophie Quinn-Judge viết về sự kiện Nguyễn Ái Quốc đến Hạ Môn: “Hồ Chí Minh cải trang thành một phú thương Trung Quốc cùng thư ký của Loseby là Long tiên sinh đến Sán Đầu. Phần chủ giải nói Long tiên sinh là Long Đình Chương. Dennis J. Duncanson đi theo Long Đình Chương nên được biết thêm một số chi tiết”. Đoạn tự thuật nầy không khỏi làm cho người ta nghi ngờ. Tạm thời chưa đi sâu tìm hiểu về giai đoạn đến Sán Đầu, phải chăng việc đi Hạ Môn là do tác giả viết nhầm ? Tự nhiên lại nảy ra một cái tên Long Đình Chương.

p30

“Dennis J. Duncanson đi theo Long Đình Chương nên được biết thêm một số chi tiết” (!?) là rất đáng ngờ. Dennis J. Duncanson trong “Hồ Chí Minh ở Hương Cảng, năm 1931–1932” đã ghi chép những sự kiện xảy ra trong hai năm 1931–1932, vậy làm sao Nguyễn Ái Quốc lại có thể xuất hiện ở Hạ Môn ?
William J. Duiker trong phần nhận định về Nguyễn Ái Quốc đi Hạ Môn có dẫn ra 3 tư liệu:

“Một người Thailand mật báo, vào tháng Giêng năm 1935 đã chính mắt nhìn thấy Hồ Chí Minh lẩn trốn tại tỉnh Nakhon Phanom (Thailand), tuy vậy về sau tin nầy được kiếm chứng là không chính xác.
Tháng Chín năm 1933, một người Pháp cũng đã cáo giác, chính mắt nhìn thấy Hồ Chí Minh cùng một đám người Việt ở Nam Ninh. Nữ thám viên Maria nói, trong số 4 thanh niên trú tại số nhà 78, phố Tùng Khải, có một người rất giống tấm ảnh chụp Hồ Chí Minh. Một người họ Tuyến nhìn thấy trong nhà có 3 phụ nữ, 3 cô bé và một cậu bé. Ông ta nói, Hồ Chí Minh dùng tên giả là Lý Tín Sơn.
Vào tháng Sáu năm 1931, Cục cảnh sát Anh Quốc bắt giữ một người khả nghi được xem là Nguyễn Ái Quốc thu một hộ chiếu dán ảnh Hồ Chí Minh. Hộ chiếu có thời hạn 6 tháng do Tổng lãnh sự Trung Quốc cấp, nội dung ghi “một công dân Trung Quốc đến công tác Xiêm La”.

Ba tư liệu đã dẫn chỉ là sự nhầm lẫn hay là đúng với đặc điểm nhân vật ? Chúng tôi đã nghiên cứu kỹ và đi đến kết luận, người ở trong cả 3 tư liệu trên đều không phải là Nguyễn Ái Quốc. Người nầy thật ra đã bị Hồ Chí Minh thay thế theo kiểu “dời hoa tiếp cây” vốn là Hồ Tập Chương, đến từ Đài Loan. Năm 1931, Hồ Tập Chương đổi tên là Hồ Chí Minh, vì vậy mà hộ chiếu mang tên Hồ Chí Minh, và danh xưng nầy đến sau năm 1942 thì được dùng thường xuyên. Do đó, tấm ảnh chụp năm 1931, hiển nhiên là của Hồ Tập Chương, bởi vì năm 1931, ông là phái viên của Quốc tế Cộng sản, được cử đến Thailand, Singapore tham gia Đại hội Đảng Malaysia (xem Thiên II “Ve sầu Thoát xác, Thật giả Kiếp người”).
Kiến giải về việc nhận nhầm người: Lấy ảnh Hồ Tập Chương (Hồ Chí Minh) đem so sánh với Nguyễn Ái Quốc, tự nhiên sẽ nhận ra sự nhầm lẫn, đến mức mật thám Pháp vào tháng Chín năm 1933 đã từng nhìn thấy Hồ Chí Minh cùng 4 thanh niên tại Nam Ninh, trong đó có một người rất giống với tấm ảnh chụp Hồ Chí Minh. Căn cứ vào sự kiểm tra các hạng mục tư liệu, 4 thanh niên Việt Nam ấy là Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Phùng Thế (Chí) Kiên và Hoàng Văn Hoan. Hồ Chí Minh đổi tên thành Lý Tín Sơn chính thực là Hồ Tập Chương. Vào mùa hè năm 1932, nhóm người nầy đang tạm trú ở Long Châu, Quảng Tây để chuẩn bị thành lập Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động hải ngoại sau nầy.
Ý kiến tận mắt nhìn thấy Hồ Chí Minh ở Nam Ninh vào tháng Chín năm 1933, William J. Duiker dẫn từ nguồn “Ghi chép về các Hồ sơ” theo trình tự thời gian nhưng chưa phát hiện ra thời gian cư trú tại Nam Ninh của Hồ Chí Minh. Cho nên, cần phải xác định được thời gian trước tháng Giêng năm 1933, ông ta ở đâu, làm gì ? mới có câu trả lời chính xác.

4- Trong tác phẩm “Chủ tịch nước Việt Nam Hồ Chí Minh”, Lý Gia Trung, cựu Đại sứ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam, trang 220 đến 222, viết:

“Cuối tháng Giêng năm 1933, một chiếc tàu biển cập bến Hương Cảng, chuẩn bị đi Hạ Môn, Thượng Hải và Nhật Bản. Luật sư Loseby đã mua sẵn 2 tấm vé đứng đợi khách ở đầu tàu. Đó là một ngày cuối tháng chạp âm lịch, con tàu nhổ neo rời Hương Cảng tiếp tục hanh trình. Cùng lúc ấy, Toàn quyền Hương Cảng cử một chiếc ca nô cắm cờ chạy đến bến Tây Hoàng. Thuyền trưởng được lệnh đón một vị khách ở đây rồi chạy thẳng ra cảng, đuổi theo con tàu vừa khởi hành.

p31

Chẳng bao lâu ca nô cập bến Hạ Môn. Cửa khẩu lúc nầy rất vắng, vì nơi đây đang chuẩn bị đón tết Nguyên đán, chốc chốc lại rộn lên tiếng pháo. Long tiên sinh chính là người của luật sư Loseby có nhiệm vụ hộ tống Nguyễn Ái Quốc. Hai người thuê xe tìm đến nhà trọ. Vào phòng rồi, Nguyễn Ái Quốc nhìn ra ngoài cửa nhớ lại những ngày qua, bất giác hình dung những ngày sắp tới của kẻ tha hương. Long tiên sinh nói: “Hôm nầy là ngày ba mươi tết, rất tiếc giờ đã muộn, không thể kiếm được hoa đào hay hoa mai”.

a- Sự nhầm lẫn trong sự kiện Nguyễn Ái Quốc đi Hạ Môn :
Trong đoạn ghi chép về sự kiện Nguyễn Ái Quốc đến Hạ Môn có mấy điểm sai lầm:
a/ Đầu năm 1932, Nguyễn Ái Quốc mất tích ở Hương Cảng, đến Hạ Môn vào đầu năm 1933 là bất hợp lý. Hành trình từ Hương Cảng đến Hạ Môn chỉ vài ngày, nhưng ở đây lại mất đúng một năm, rõ ràng là trái sự hợp lý.
b/ Ý kiến cho rằng Nguyễn Ái Quốc ở Hạ Môn là quan điểm thống nhất theo cách biện giải của báo chí và các công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh ở Việt Nam. Rõ ràng cách nói “dưỡng bệnh nửa năm” ở Hạ Môn, đối với họ, không ngoài mục đích giải thích cho việc Nguyễn Ái Quốc đã chết đầu năm 1932, đến mùa xuân năm 1933, Hồ Chí Minh xuất hiện ở Hạ Môn, ngụy tạo nửa năm dưỡng bệnh, chính là để tiếp nối với cái “tin đã chết”. Hành động trên chính là tạo tiền đề cho việc viết tiểu sử Nguyễn Ái Quốc, nghĩa là, vào thời kỳ đầu năm 1933, tiếp tục đến Hạ Môn, sau đó đi Thượng Hải, nên mới bịa ra chi tiết, trước khi đến Thượng Hải, “Nguyễn Ái Quốc ở lại Hạ Môn một số ngày”.
c/ Biết được sự kiện Nguyễn Ái Quốc trốn khỏi Hương Cảng là do Long tiên sinh, người cùng đi với ông ta. Long tiên sinh có thể là Paul Draken, tuy nhiên, theo “Nhật ký Paul Draken”, thì về căn bản, Paul Draken (Long Bảo La) không cùng đi với Nguyễn Ái Quốc đến Hạ Môn. Rõ ràng, ý kiến cho rằng Nguyễn Ái Quốc đến Hạ Môn chính là Hồ Chí Minh đã tìm hết cách mượn cái tên Paul Draken để liên kết, thuyết phục mọi người Nguyễn Ái Quốc đích thực đã trốn khỏi Hương Cảng đến Hạ Môn.
(Tác giả nhận xét: Trong năm 1932, chỉ biết có một người là Long tiên sinh mà không thấy có người tên là Paul Draken (Bảo La Đức Nhuế Khẳng, Long Bảo La), vì thế, nói rằng Nguyễn Ái Quốc đến Hạ Môn hoàn toàn do Hồ Chí Minh hư cấu).

b- Long tiên sinh là Long Đình Chương hay Long Bảo La (Paul Draken) ?:
Cả William J. Duiker và cựu Đại sứ Lý Gia Trung đều viết là “Long tiên sinh cùng Nguyễn Ái Quốc đến Hạ Môn”, vậy Long tiên sinh và Long Bảo La (Paul Draken) trong thời gian nầy có mối quan hệ như thế nào ? Phải chăng họ chỉ là một người ? Sự kiện năm 1932 Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hương Cảng là vô cùng bí mật, vì thế thân phận đích thực của Long Bảo la (Paul Draken) không thể nào được công khai.
Hiện nay, hồ sơ “Sự kiện Hương Cảng” của Nguyễn Ái Quốc đã được giải mật. “Nhật ký Long Bảo La” (Paul Draken–Nguyễn Ái Quốc) đã được xuất bản. Đối chiếu toàn bộ đầu cuối “Sự kiện Hương Cảng”, sẽ rất khó giải thích rõ ràng việc Long Bảo La (Paul Draken) là người trực tiếp đưa Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hương Cảng. Long tiên sinh tức Long Bảo La, tức tình báo viên Anh Quốc Paul Draken.
Rất đáng tiếc, trước khi hoàn thành công trình lớn của mình, William J. Duiker chưa biết đến “Nhật ký Long Bảo La–Nguyễn Ái Quốc”, chưa sử dụng sự kiện Long Bảo La tham gia giải cứu Nguyễn Ái Quốc để chứng minh sự thật là, Nguyễn Ái Quốc rời Hương Cảng bằng thủy phi cơ đến Thượng Hải, mặc cho Hồ Chí Minh tự bịa ra câu chuyện hoang đường “từ Hương Cảng đến Hạ Môn”.

p32

Từ khi Loseby nhận làm luật sư bào chữa vụ Nguyễn Ái Quốc, Tòa Hương Cảng đã trải qua chín phiên xử. Viện khu Mật Hoàng gia London đã thẩm định đơn kháng cáo của đương sự và đình chỉ vụ án, chưa từng nghe thấy văn phòng luật sư có một thư ký họ Long, cũng không biết tên của người họ Long là gì. Vậy mà, đột nhiên vào thời điểm Nguyễn Ái Quốc rời Hương Cảng đi Hạ Môn lại xuất hiện một Long tiên sinh và Long Bảo la. Cách nói tình báo viên “Long Bảo la” và “Long tiên sinh” hình như khớp nhau để tạo ra sự thật là cùng tham gia giải cứu Nguyễn Ái Quốc đào thoát Hương Cảng. Sự kiện Long tiên sinh cùng Nguyễn Ái Quốc đến Hạ Môn và sự kiện Long Bảo La cùng Nguyễn Ái Quốc đến Thượng Hải, người sắm vai chính của hai trường hợp nầy, một là Nguyễn Ái Quốc và Long tiên sinh, một là Nguyễn Ái Quốc và Long Bảo La. Tính chất của hai sự kiện là khớp nhau, chỉ có tên người là không giống nhau mà thôi. Việc nầy giải thích rất dễ, Long tiên sinh chính là tình báo viên Anh Quốc Paul Draken (Bảo La Đức Nhuế Khẳng), cũng chính là Long Bảo La. Từ đó suy ra, Long Bảo La cùng đi với Nguyễn Ái Quốc bằng chiếc thủy phi cơ bay đến Thượng Hải, hạ cánh ở bến sông Hoàng Phố là hoàn toàn đúng với sự thật lịch sử, còn nói rằng, Long tiên sinh cùng Nguyễn Ái Quốc đến Hạ Môn là hoàn toàn bịa đặt.

7- Sự kiện Hồ Chí Minh từ Hạ Môn đến Thượng Hải :

Đại bộ phận chuyên gia, học giả đều trình bày và phân tích: “Đầu năm 1933, Hồ Chí Minh từ Hạ Môn đến Thượng Hải”, chỉ có hồi ký của Long Bảo La là viết: “Đầu năm 1932, Nguyễn Ái Quốc đi chiếc thủy phi cơ nhãn hiệu “Trân Châu Trung Quốc” từ Hương Cảng bay đến bến sông Hoàng Phố rồi về Thượng Hải trên con thuyền nhỏ”.
Hai đoạn văn nầy, thời gian, nhân vật và lịch trình đều khác nhau. Một phía là Nguyễn Ái Quốc đầu năm 1932 trực tiếp từ Hương Cảng đến Thượng Hải, phía kia là Hồ Chí Minh, đầu năm 1933, từ Hạ Môn đến Thượng Hải. Trong khoảng thời gian nầy, vấn đề mấu chốt là, thực chất có phải Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh phổi vào mùa thu năm 1932 ? Và, người từ Hạ Môn đến Thượng Hải vào đầu năm 1933 là Nguyễn Ái Quốc hay Hồ Tập Chương ? Rất mong quý vị cao minh tường giải.
1- Trong tác phẩm “Hồ Chí Minh ở Trung Quốc”, trang 75, 76, giáo sư Tưởng Vĩnh Kính viết:

Đầu năm 1933, Hồ Chí Minh từ Hạ Môn đến Hương Cảng. Lúc nầy tình hình ở Thượng Hải so với thời giam năm 1930 (khi mà ông ta ở đó) hoàn toàn không giống nhau. Tổ chức bí mật của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở đây được thành lập từ mùa hè năm 1931 đã bị đánh phá tan tác, do đó, vào lúc Hồ đến Thượng Hải thì không làm cách nào liên lạc được với họ. Vừa lúc Ủy viên Trung ương đảng Cộng sản Pháp là Paul Vaillant Couturier đến Thượng Hải, Hồ lập tức viết thư nhờ Tống Khánh Linh chuyển giúp. Vì phải lẩn tránh các nhân viên trị an nên Hồ Chí Minh đóng vai một công tử hào hoa, thuê hẳn chiếc xe hơi sang trọng, tận tay gởi vào hòm thư gia đình Tôn phu nhân. Mấy ngày sau, Hồ Chí Minh gặp Paul Vaillant Couturier, hai người đi theo một liên lạc viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Sau đó, người nầy bố trí cho Hồ Chí Minh xuống một chiếc tàu thủy Nga Xô, rời Thượng Hải đi VladiVostok để đến Mạc Tư Khoa.”

Nội dung tác phẩm “Hồ Chí Minh ở Trung Quốc” của giáo sư Tưởng Vĩnh Kính đều dẫn nguồn từ cuốn sách “Bác Hồ” trang 67 của Hoài Thanh và Thanh Tịnh do NXB Ngoại văn Hà Nội ấn hành năm 1962.

p33

2- Giáo sư Hoàng Tranh trong tác phẩm “Hồ Chí Minh và Trung Quốc”, trang 51, 52 đã viết:

“Đầu năm 1933, Nguyễn Ái Quốc cải trang thành một thương nhân xuống tàu thủy rời Hạ Môn đi Thượng Hải. Lần đến Thượng Hải nầy, so với 2 năm trước đây, tình hình rất khác nhau, mà trước hết là, không có cách nào liên lạc được với các tổ chức của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Một ngày kia, Hồ Chí Minh đọc được bản tin trên báo nói rằng, Đoàn đại biểu chống chiến tranh của phe Đồng Minh sẽ đến Thượng Hải, bèn viết một bức thư gởi người bạn Pháp là Paul Vaillant Couturier nhờ Tống Khánh Linh chuyển giúp. Hồ Chí Minh sắm vai một công tử hào hoa, thuê chiếc xe hơi sang trọng, đến số nhà 29, đường Molière, là nơi cư ngụ của Tống Khánh Linh, tự tay bỏ thư vào hòm thư gia đình. Mấy ngày sau, Hồ Chí Minh và Paul Vaillant Couturier liên lạc được với nhau. Nhờ Paul Vaillant Couturier, Hồ Chí Minh liên lạc được với tổ chức của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Thượng Hải. Họ bố trí cho ông ta xuống một chiếc tàu thủy Liên Xô đi Vladivostok, sau đó chuyển sang xe lửa về Mạc Tư Khoa.”

Nội dung ghi chép của giáo sư Hoàng Tranh đều dẫn từ bài báo “Tống Khánh Linh giúp đỡ đồng chí Hồ Chí Minh liên lạc với tổ chức Đảng” (“Nhân dân Nhật báo”, số ra ngày 6 tháng 9 năm 1981).

3- William J. Duiker trong “Truyện Hồ Chí Minh”, trang 210, 211 viết:

“Sau khi Nguyễn Ái Quốc được Loseby gởi tiền do các bạn Trung Quốc bên ngoài quyên góp, cuối cùng xuống một chiếc tàu thủy rời Hạ Môn đến Thượng Hải. Vì để tránh con mắt các nhân viên bảo an khu tô giới Pháp, Nguyễn Ái Quốc cải trang thành một phú thương, ở trong một khách sạn sang trọng. Một người bạn nhắc Nguyễn Ái Quốc phải đề cao cảnh giác, vì Cục Bảo an cũng có thể đặt lại vấn đề về cái chết năm 1931 mà báo chí đã loan tin, và cho rằng, hiện tại ông ta đang ở Thượng Hải. Trong khi ấy, cảnh sát Pháp khu tô giới ráo riết truy tìm nơi lẩn trốn của Nguyễn Ái Quốc , đồng thời treo giải thưởng cho người cung cấp thông tin. Từ năm 1927, chính quyền Tưởng Giới Thạch tiến hành đại khủng bố Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Thượng Hải. Đến năm 1931, Pháp và Anh cũng mở chiến dịch quy mô truy bắt các phần tử Cộng sản. Lúc nầy Đảng Cộng sản Trung Quốc đã rút vào hoạt động bí mật, vì thế, Nguyễn Ái Quốc muốn tìm sự giúp đỡ về tài chính từ các đồng chí ở Thượng Hải thì không dễ dàng.

Thật may, Nguyễn Ái Quốc tìm được người bạn Ủy viên Trung ương đảng Cộng sản Pháp Paul Vaillant Couturier vừa đến Thượng Hải tham gia “Hội nghị Thế giới Đồng minh Bảo vệ Nhân quyền” do do quả phụ của Tôn Trung Sơn là Tống Khánh Linh hiệu triệu, liền quyết định lợi dụng dịp nầy, gởi một bức thư cho Tôn phu nhân. Quả nhiên, sau đó không lâu, Nguyễn Ái Quốc gặp được Paul Vaillant Couturier thông qua một liên lạc viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nguyễn Ái Quốc cải trang thành một phú thương, Paul Vaillant Couturier bố trí cho ông ta xuống một con tàu Nga Xô đi Vladivostok.(7) Vào một ngày xuân năm 1934, Nguyễn Ái Quốc từ Vladivostok đáp xe lửa băng qua vùng lãnh nguyên Siberi giá lạnh đến Mạc Tư Khoa.”(8)

=============
Chú thích:
(7): Xem Trần Đạt Nhân “Vừa đi đường vừa Kể chuyện”, trang 51, và của Nguyễn Lương Bằng trong “Chủ tịch Hồ Chí Minh của Chúng ta”.

(8): Dẫn từ “Hồ Chí Minh Kỷ niệm Văn vật” trong “Cùng Hồ thúc thúc ở Liên xô” của Nguyễn Canh Thác.
=============

p34

4- Sophie Quinn-Judge, trong “Những năm tháng Mất tích của Hồ Chí Minh, 1919–1941”, trang 197, viết:

“Nếu quả thật Hồ Chí Minh ẩn náu ở Nam Ninh, ta có thể suy đoán ông ta ra đi vào tháng Chín, bởi vì, tháng Chín năm 1933, một Ủy viên Trung ương đảng Cộng sản Pháp là Paul Vaillant Couturie đến Thượng Hải dự “Đại hội châu Á Phản đối Chiến tranh”. Hồ Chí Minh nói rằng, khi ấy đúng là Paul Vaillant Couturier đã giúp ông ta bắt được liên lạc với tổ chức Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Thượng Hải rồi sắp xếp cho mình đi Mạc Tư Khoa.”

Nội dung Sophie Quinn-Judge tường thuật ở trên được dẫn từ “Một ngày của Bác Hồ” của Nguyễn Lương Bằng, NXB Ngoại văn, 1961, trang 81.

5- Lý Gia Trung, cựu Đại sứ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam, trong “Chủ tịch nước Việt Nam Hồ Chí Minh”, trang 222 đến 224, viết:

“Hồ Chủ Tịch ở lại Hạ Môn không lâu, sau đó xuống thuyền đi Thượng Hải. Một hôm, Nguyễn Ái Quốc được biết, có một đoàn đại biểu châu Âu đến thăm vùng Viễn Đông sẽ đến Thượng Hải truyên truyền chống chiến tranh đế quốc. Trong đoàn có một người bạn Pháp là đồng chí Paul Vaillant Couturier. Thế là, Nguyễn Ái Quốc thuê một chiếc xe hơi sang trọng đến biệt thự của Tống Khánh Linh ở đường Molière nhờ gia nhân chuyển đến Paul Vaillant Couturier, đề nghị giúp đỡ để sang Liên Xô. Một ngày đầu năm 1934, một chiêc ca nô chạy đến gần con tàu Liên Xô đang đậu ở bến cảng Thượng Hải. Hồ Chí Minh lên tàu trở lại quê hương Lenin, cảm động nói: “Lưu lạc quê người ba năm chẵn, trở lại gia đình đại công nông” (Lưu lạc tha hương tam niên chỉnh, hồi đáo công nông đại gia đình).”

6- Bảo La Đức Nhuế Khằng “Nhật ký Long Bảo La — Ghi chép về Nguyễn Ái Quốc”.

“Tôi lên tàu, vào buồng lái tìm thuyền trưởng, chỉ vào hải đồ, ra lệnh cho ông ta cho tàu đến một tọa độ ngoài biển. Từ xa đã nhìn thấy chiếc “Trân Châu Hương Cảng”, tôi liếc nhìn đồng hồ, vừa đúng giờ, liền dùng ánh đèn làm hiệu. Anne Kennedy cũng dùng đèn hiệu đáp lại. Tôi cùng Nguyễn Ái Quốc chia tay với vợ chồng luật sư Loseby và Phó Toàn quyền phu nhân. Trước khi chia tay, phu nhân Loseby còn đặt trên bàn một gói điểm tâm cho tôi và Anne dùng trên đường đi. Rời tàu, tôi và Nguyễn Ái Quốc trèo lên chiếc thủy phi cơ. Anne lập tức khởi động máy cho phi cơ cất cánh vế hướng Thượng Hải. Không lâu sau máy bay đậu xuống bến sông Hoàng Phố, tai đây đã có một đồng chí của Nguyễn Ái Quốc chèo thuyền đón ông ta vào thành phố.”

Giải thích về sai lầm và sự thật:
a/ Thời gian từ Hạ Môn đến Thượng Hải, phần lớn các nhà nghiên cứu đều ghi chép là đầu năm 1933, nhưng William J. Duiker thì cho rằng, mãi đến sau tháng Chín năm 1933 Nguyễn Ái Quốc mới đến Thượng Hải căn cứ vào hai điểm sau:
– Tháng Chín năm 1933, Hồ Chí Minh ẩn náu ở Nam Ninh.
– Tháng Chín năm 1933, Paul Vaillant Couturier đến Thượng Hải tham gia “Đại hội châu Á Phản dối Chiến tranh”.

Ý kiến của William J. Duiker dẫn từ nguồn “Hồ sơ Quân đội Viễn chinh Pháp Quốc thuộc Bộ phận Hải ngoại”, ngày 5 tháng Chín năm 1933, do Ba Tùng Uy(1) ký, số hiệu 394. William J. Duiker đã lấy thời gian ký vào hồ sơ làm cơ sở suy luận, vậy thì chính xác phải là trước tháng Giêng năm 1933. Còn giả thiết, tháng Chín năm 1933, Nguyễn Ái Quốc được Paul Vaillant Couturier giúp đỡ để rời Thượng Hải chỉ là câu chuyện hư cấu.

p35

Từ các nguồn tư liệu trên, có thể phán đoán, Hồ Chí Minh đầu năm 1933 từ Hạ Môn đến Thượng Hải không phải nhầm lẫn, có điều ông Hồ nầy tuyệt đối không phải là Nguyễn Ái Quốc.
b/ Cứ coi Hồ Chí Minh tức là Nguyễn Ái Quốc mà nói, hành trình của Nguyễn Ái Quốc từ Hương Cảng qua Hạ Môn để đến Thượng Hải rồi đi Mạc Tư Khoa sẽ phát sinh mâu thuẫn về thời gian.
– Vì cớ gì Nguyễn Ái Quốc không trực tiếp từ Hương Cảng đi Thượng Hải, liệu có phải ông ta đang mắc bệnh trầm trọng ? Vì sao lại phải chịu đựng trăm cay ngàn đắng cả một năm rồi mới đến Hạ Môn ? Vì sao lại phải ngụy tạo ra nửa năm dưỡng bệnh ở Hạ Môn làm cho sự việc trở nên rắc rối ?
– Nguyễn Ái Quốc chẳng đã tuyên bố tại Thượng Hải là vô cùng túng bấn, vì sao vẫn lưu lại một năm ? Có phải đơn giản chỉ là đợi Paul Vaillant Couturier đến giải cứu ? Một năm ở Thượng Hải, Nguyễn Ái Quốc làm gì ? Vì sao kéo dài đến mãi đầu năm 1934 mới rời Thượng Hải ? Những lý do được ngụy tạo để giải thích là rất khiên cưỡng, khó thuyết phục người đọc. Chỉ có một khả năng giải thích là, cuộc hội kiến với Paul Vaillant Couturier chính là để liên kết giữa Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc, nhằm hóa giải nghi án về cái chết của ông ta, chứng minh là người năm 1933 có mặt tại Thượng Hải chính là Nguyễn Ái Quốc. Cho nên, đã trót ngụy tạo ra chuyện hoang đường, đến lúc có nguy cơ bị bóc trần, bất đắc dĩ người ta lại phải hư cấu ra một chuyện hoang đường khác, tuy nhiên, cuối cùng sự thật vẫn bị bóc trần.
– Nếu nói Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương, thì nguyên nhân Hồ Tập Chương trở lại Thượng Hải rất không đơn giản là chỉ có một mục đích. Mùa hè năm 1931, nhân vụ việc Noulens, sau khi rời khỏi Hương Cảng, qua gần hai năm sống lưu vong cùng khổ, sau nầy, thấy tình hình yên ắng, Hồ Tập Chương mới trở lại làm việc trong “Công hội Thái Bình Dương Thượng Hải”.
Trở lại sự kiện sau khi đến Thượng Hải hai năm, Hồ Tập Chương phát hiện ra, tổ chức Quốc tế Cộng sản nơi nầy đã hoàn toàn tan rã. Các cơ quan của Trung Cộng đều rút vào hoạt động bí mật. Ông ta trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan, không thể trở về cơ quan công tác cũ mà cũng chẳng bắt liên lạc được với Đảng Cộng sản Trung Quốc nên đã nảy ra ý định đi Mạc Tư Khoa. Chính vì thế Hồ Tập Chương phải nhờ đến Tống Khánh Linh. Để giữ bí mật, Hồ thuê một chiếc xe hơi sang trọng đến tư dinh Tống phu nhân, số nhà 29, đường Molière, gởi một phong thư vào hòm thư gia đình, hy vọng Tống Khánh Linh giúp đỡ sẽ liên lạc được với Đảng Cộng sản Trung Quốc để đi Mạc Tư Khoa. Còn như việc nhờ làm trung gian để gặp Paul Vaillant Couturier chỉ là sự bịa đặt.

c/ Sự kiện Paul Vaillant Couturier có liên quan đến thời gian Hồ Chí Minh rời khỏi Hương Cảng, vì thế, sẽ là một bước tiến làm sáng tỏ vụ việc. Để hoàn thành vở kịch “dời hoa tiếp cây”, người ta đã ngụy tạo ra sự kiện Hồ Chí Minh gặp mặt Paul Vaillant Couturier nhằm đạt hai mục đích:
– Chứng thực người ở Thượng Hải vào năm 1933 là Nguyễn Ái Quốc.
– Xóa bỏ thông tin chết do bệnh lao phổi vào mùa thu năm 1932.

Chỉ có điều cố tình kéo dài thời gian đến khi trở lại Mạc Tư Khoa là hoàn toàn mâu thuẫn. Bởi lẽ, vào mùa xuân năm 1933, Hồ Tập Chương đã đi Mạc Tư Khoa, làm sao có thể hội kiến với người bạn Pháp Paul Vaillant Couturier ? Rõ ràng việc ngụy tạo đến tháng Chín năm 1933, Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) mới rời khỏi Thượng Hải là không phù hợp về thời gian. Paul Vaillant Couturier đến Thượng Hải tham gia “Hội nghị Thế giới yêu Hòa bình, Phản đối Chiến tranh” vào ngày 30 tháng Chín năm 1933 (xem: “Tống Khánh Linh truyện”, quyển thượng, Istaael Epstein viết, Thẩm Tô Nho dịch, trang 373).

p36

Về phía Hồ Tập Chương mà nói, lúc ấy không hề quen biết Paul Vaillant Couturier, vì thế cũng không thể có cuộc gặp mặt giữa hai người. Sự việc ông ta thuê xe đến nhà Tống Khánh Linh với việc Paul Vaillant Couturier đến Thượng Hải dự hội nghị chẳng liên quan gì với nhau. Mùa hè năm 1931, Hồ Tập Chương vì bị liên quan đến vụ Noulens nên phải trốn khỏi Hương Cảng đến Quảng Châu, từng bị Quốc dân Đảng truy đuổi đã lẩn trốn ở Quế lâm, Điền Châu vùng biên giới Thailand, đến mùa xuân năm 1933 mới từ Thailand qua Hạ Môn về Hương Cảng (xem Thiên III “Sự kiện Hồ Tập Chương bị Truy đuổi ở Quảng Châu”). Ở lại Hạ Môn một thời gian, biết được Tống Khánh Linh đang vận động thành lập “Hội bảo vệ Nhân quyền Trung Quốc” để nỗ lực giải cứu vợ chồng Noulens và các tù nhân chính trị Trung Quốc, Hồ bèn đến Thượng Hải. Nhưng tại đây, ông ta không làm cách nào trở về được nơi công tác cũ, cho nên phải cần đến sự giúp đỡ của “Hội bảo vệ nhân quyền…” thông qua Tống Khánh Linh để về Cục Phương Đông Quốc tế Cộng sản ở Mạc Tư Khoa.
Vì thế, sự thật được phơi bày. “Hồ Chí Minh về căn bản không yêu cầu sự trợ giúp của Paul Vaillant Couturier”. Vào đầu năm 1933, ông ta rời khỏi Thượng Hải đến Mạc Tư Khoa. Dự đoán thời gian Hồ Tập Chương đến Mạc Tư Khoa là vào mùa hè năm 1933.

8- Bộ phim “Nguyễn Ái Quốc thoát hiểm ở Hương Cảng” :

Lần đầu tiên hai nước Trung-Việt hợp tác sản xuất bộ phim về Nguyễn Ái Quốc. Tên phía Trung Quốc đặt là “Thoát hiểm ở Hương Cảng” còn Việt Nam gọi là “Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong” do Hội Điện ảnh Việt Nam và Công ty liên hợp Điện ảnh Châu Giang hợp tác sản xuất, phát hành. Phim được khởi quay vào cuối năm 2002, đến ngày 1 tháng Chín năm 2003 chiếu duyệt lần đầu tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia Việt Nam. Giá thành phim là 15 tỷ đồng Việt Nam (ước khoảng 8 triệu NDT), phát hành bằng tiếng Việt, tiếng Trung, và tiếng Anh.
Nội dung phim miêu tả đầu những năm ba mươi của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc bị bắt giữ, bị thẩm vấn rồi được giải cứu khỏi nhà giam. Phim có nhiều đoạn cao trào, gay cấn, sinh động. “Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong” khắc họa Nguyễn Ái Quốc vào những năm 1931–1932 như một nhân vật thần bí, có những đoạn quá cường điệu, nhất là cảnh các đặc công ẩn trong lòng đất, tiến hành giải cứu vô cùng thông minh, quả cảm. Với mục đích tuyên truyền, họ đã đẩy câu chuyện đến mức bất chấp sự thật lịch sử. Các nam nữ diễn viên và những pha tình cảm luyến ái chẳng qua là để làm trò câu khách. Rốt cuộc, những chuyện tình ái mùi mẫn do các nhà biên kịch, đạo diễn hư cấu không phải là sự thực trong tình yêu và hôn nhân của Nguyễn Ái Quốc. Ngược lại, sự kiện Nguyễn Ái Quốc bị trọng bệnh tử vong đã được báo chí dưa tin, lại bị các nhà làm phim ỉm đi. Rõ ràng bộ phim Việt-Trung hợp tác sản xuất nầy chỉ nhằm hướng tới mục đích chính trị, hoàn toàn không phải đi tìm sự thật lịch sử.
Từ bộ phim “Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong”, nhìn lại hiện thực lịch sử qua vụ án Nguyễn Ái Quốc, tôi đề xuất một bản kết luận giản lược như sau:
(1)- Vào lúc 2 giờ sáng ngày 6 tháng Sáu năm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Hương Cảng bắt.
(2)- Từ ngày 1 tháng Tám năm 1931 đến ngày 19 tháng Chín năm 1931, trải qua chín phiên xử, tòa án Hương Cảng phán quyết giải Nguyễn Ái Quốc về Việt Nam.
(3)- Ngày 12 tháng Mười Hai năm 1931, luật sư Loseby gởi đơn kháng cáo lên Viện khu Mật Hoàng gia London, Anh Quốc.
(4)- Cuối năm 1931, luật sư hai bên hoàn thành một thỏa hiệp, Viện khu Mật Hoàng gia London, Anh Quốc quyết định trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc.

p37

(5)- Ngày 28 tháng Mười Hai năm 1931, Nguyễn Ái Quốc được chính phủ Hương Cảng phóng thích và hứa để tự do xuất cảnh.
(6)- Ngày 6 tháng Giêng năm 1932, Nguyễn Ái Quốc xuống tàu di Singapore nhưng không được nhập cảnh, phải trở lại Hương Cảng.
(7)- Ngày 19 tháng Giêng năm 1932, Nguyễn Ái Quốc buộc phải quay lại Hương Cảng, bị cáo buộc vi phạm điều lệ nhập cảnh, lại bị câu lưu.
(8)- Ngày 22 tháng Giêng năm 1932, nhà cầm quyền bất chấp điều lệ nhập cảnh, hạn trong 3 ngày, Nguyễn Ái Quốc phải rời khỏi Hương Cảng.
(9)- Ngày 25 tháng Giêng năm 1932, Nguyễn Ái Quốc lên chiếc thủy phi cơ đi Thượng Hải, sau đó mất dấu vết.
(10)- Mùa thu năm 1932, báo chí Cộng sản lần lượt đưa tin Nguyễn Ái Quốc chết vì bệnh lao phổi.
(11)- Đầu năm 1933, Hồ Tập Chương từ Thailand về Hạ Môn rồi đi Thượng Hải.
(12)- Mùa xuân năm 1933, Hồ Tập Chương từ Thượng Hải đi Mạc Tư Khoa.
(13)- Đầu năm 1934, Vera Vasilieva, thuộc Quốc tế Cộng sản phụ trách các vấn đề Việt Nam, yêu cầu Hồ Tập Chương thay thế thân phận Nguyễn Ái Quốc tiếp tục thực hiện cuộc vận động cách mạng Việt Nam, buộc Hồ Tập Chương phải thực hiện chương trình giáo dục cải tạo 5 năm tại Mạc Tư Khoa. Như vậy, cùng với lãnh đạo chóp bu Trung Cộng và Việt Cộng, Mạc Tư Khoa đã phối hợp, từng bước đạo diễn vở kịch “Nguyễn Ái Quốc chết mà sống lại” thực hiện âm mưu xảo trá “tráo rồng đổi phượng”, “dời hoa tiếp cây”.
=============
Phụ lục:

“Nhật ký Long Bảo La” (trích đoạn):

“Tôi rất biết ngài có đủ kinh nghiệm”. Tiên sinh M. trong bức điện báo cuối cùng đã viết thêm một câu như vậy. Tôi nghĩ lại, đại khái là vào năm 1924 đã cùng Trương đại soái ra Thanh Đảo, tận mắt nhìn thấy ông ta ra đi, và năm 1928, có tham gia vào vụ giúp công chúa Anna Anastasia trốn thoát đến nước Mỹ. Quả thật là đã làm phiền. Tôi đọc bức điện báo mà… chảy nước bọt, vì lúc ấy, ông ta đã được phía London đồng ý, chỉ đợi tôi trực tiếp ra lệnh, do đó tôi tìm mọi cách, trong một thời gian ngắn phải đến được Hương Cảng. Lúc nầy, tàu thuyền các công ty đều không thể phối hợp, ngoại trừ chiếc thủy phi cơ “Trân Châu Trung Quốc”. Tôi đã gởi điện tín hỏi Anne, vừa lúc cô ta rất vui khi biết sẽ cùng tôi đồng hành. Buổi sáng ngày thứ Hai, chúng tôi bay đến Hương Cảng. Tại đây, việc đầu tiên là phải tìm gặp ngay tổ tình báo để nắm rõ tình hình, phát hiện Nguyễn Ái Quốc thực tế đã được Tòa án Hương Cảng xếp vào loại chính trị phạm, đã tuyên án nhưng không phải dẫn độ về An Nam. Ông ta hiện chỉ lưu lại Hương Cảng một thời gian ngắn, rồi lập tức bị buộc xuất cảnh. Sau đó, Nguyễn Ái Quốc lên một chiêc tàu khách Anh Quốc để rời Hương Cảng nhưng bị phía Singapore buộc phải quay lại. Có tin chính phủ Pháp đã cử sát thủ đến Hương Cảng nên cảnh sát không thể không giam Nguyễn Ái Quốc vào ngục.
Cảnh sát Hương Cảng rất cần một người có khả năng bí mật để đưa Nguyễn Ái Quốc xuất cảnh an toàn, vì thế họ nhờ MI6 giúp đỡ. Thời kỳ ấy cảnh sát và MI5 cùng thuộc hệ thống nội chính, có quan hệ với nhau mật thiết, còn chúng tôi thuộc bộ phận ngoại giao của MI6, trái lại, thường có mâu thuẫn. Năm trước, khi bắt giữ Nguyễn Ái Quốc, nói thẳng ra là cảnh sát tham công, đã không biết nhìn sự việc xa hơn, tự tiện hành động, đến nỗi xảy ra sự cố “nướng khoai bỏng tay”, bây giờ mới quay về tìm MI6. Vì thế, các điệp viên của tình báo Hương Cảng rất không muốn tham gia vào vụ nầy.

p38

Tuy nhiên, đây cũng là lúc tôi được lệnh của tiên sinh M. từ Thượng Hải đến Hương Cảng xử lý công việc. Rốt cuộc nhiệm vụ lại rơi xuống đầu tôi. Thật là tự mình đâm đầu vào tròng. Nghĩ tới những tình huống phức tạp nầy, trong đầu tôi mới lờ mờ nghĩ đến mối quan hệ giữa tiên sinh M. và Toàn quyền Hương Cảng. Tuy vậy lại không có bất cứ đầu mối nào nên tôi phải tự mình thăm dò Nguyễn Ái Quốc. Việc nầy không đơn giản. Ông ta bị giam giữ ở một nơi cực kỳ bí mật mà ngay cả các luật sư biện hộ cũng không được gặp mặt thân chủ, bởi lẽ, về lý mà nói, ông ta đã bị trục xuất khỏi Hương Cảng, không còn liên quan gì đến chính quyền sở tại. Yêu cầu cảnh sát giúp đỡ việc nầy là vô nghĩa. Thông qua một nguồn tin riêng, cuối cùng tôi cũng đến được nơi giam giữ Nguyễn Ái Quốc, thậm chí còn kéo được cả luật sư Loseby đi cùng.
Biện hộ cho Nguyễn Ái Quốc là luật sư Loseby, chủ tịch Công hội Luật sư Hương Cảng, rất có năng lực và kinh nghiệm. Ông ta thu thập chứng cứ, biện giải đanh thép, nên qua chín phiên xử, Tòa án Hương Cảng phải chấp nhận luận điểm Nguyễn Ái Quốc là một phần tử bất đồng chính kiến, mà không bị dẫn độ về An Nam chịu mức án tử hình. Tôi và Nguyễn Ái Quốc gặp nhau trong căn hầm của Tổng bộ Cảnh sát. Ông ta là một người trung niên thân hình ốm yếu, mắc bệnh phổi, xem tình hình sức khỏe không tốt. Nguyễn Ái Quốc biết tiếng Hoa và tiếng Pháp nên chúng tôi có thể nói chuyện được với nhau: “Tôi là Paul Draken, đại diện Bộ Ngoại giao Anh Quốc” –tôi nghĩ, chẳng cần để lộ mối quan hệ của tôi với MI6 nên nói tiếp– “được cử đến đây giúp đỡ tiên sinh xuất cảnh, xin hỏi, ngài định đi đến nơi nào ?”. Nguyễn Ái Quốc uể oải trả lời trong khi vẫn không dứt cơn ho: “Tôi muốn đến Liên Xô”. “Liên Xô ? Vậy thì tốt nhất ngài nên qua lối Thượng Hải”, tôi nói tiếp, “tôi sẽ cùng đi Thượng Hải với tiên sinh, đến đó ngài sẽ tự quyết định nơi đi tiếp”. Luật sư Loseby lo lắng hỏi: “Ngưới Pháp đã cử sát thủ đến Hương Cảng, vậy làm sao có thể bảo đảm an toàn cho Nguyễn tiên sinh xuất cảnh ?”. Cả hai chúng tôi đều liếc mắt về phía Cảnh sát Trưởng. Ông ta bảo: “Tôi đã biết ý tứ của các ngài. Chúng tôi có thể bắt giữ sát thủ Pháp, chỉ ngại chẳng may bí mật bị lộ, chính phủ làm sao giải thích được với nước Pháp ? –Cảnh sát Trưởng vốn là tay cáo già, lõi đời xua tay thoái thác– “Chỉ đề nghị các ngài tìm được biện pháp xuất cảnh an toàn, tôi sẽ rất vui được thuận nước giong thuyền, tuy nhiên, phải nói trước, vạn nhất sự việc vỡ lở, tôi sẽ không thừa nhận, lúc đó sẽ đắc tội với chính quyền địa phương, mong các ngài thông cảm”.
Ra khỏi trụ sở Tổng bộ Cảnh sát, Loseby lớn tiếng chửi Cảnh sát Trưởng là tên xảo trá, tôi chợt nảy ra một kế hoạch khác. Loseby vốn rất quen thân với Toàn quyền Hương Cảng, nếu được ông ta đứng ra giải quyết vụ nầy, có thể xem đấy là lá bùa hộ mệnh, sẽ tránh được sự thất bại do ý đồ phản thùng của Cảnh sát Trưởng. Nghĩ vậy, tôi bèn đóng giả làm khách của Toàn quyền William Peel, sau đó sẽ sử dụng chiếc thủy phi cơ “Trân Châu Hương Cảng” (China Pearl) của Anne Kennedy bay đến Thượng Hải. Tôi đem ý kiến nầy trình bày với Loseby. Ông cảm thấy có thẻ thành công bèn phân công nhau chuẩn bị hành động.
Anne Kennedy và phu nhân Loseby mới gặp nhau mà đã như quen biết từ lâu. Hai người hẹn nhau đi dạo và uống trà vào buổi trưa. Tôi tranh thủ đến bên Anne, nói là có một nhiệm vụ bí mật cần cô giúp đỡ. Nghe xong, Anne vô cùng thích thú. Quen biết Anne đã nhiều năm, đây là lần đầu tiên tôi đề nghị cô tham gia vào một nhiệm vụ mạo hiểm. Tôi cũng nói vài lời để Anne yên tâm rồi thông báo thời gian, địa điểm và ám hiệu, hẹn giữa trưa ngày thứ Hai cho máy bay đến đợi sẵn ngoài biển.
Loseby cũng mời Phó Toàn quyền phu nhân xuống ca nô uống trà sau 12 giờ trưa. Hiện tại chỉ còn một việc là làm thế nào đưa được Nguyễn Ái Quốc từ nhà giam ra một cách an toàn. Tôi đồ rằng, thời điểm nầy, các sát thủ Pháp đã lảng vảng khắp nơi, vì vậy, vào lúc giữa trưa, tôi ăn mặc như một giáo sư đại học bước vào Tổng bộ Cảnh sát.

p39

Nội vụ đã được Cảnh sát Trưởng thỏa thuận. Ông ta nói không cản trở nhưng cũng không giúp đỡ. Tôi đến ngay phòng giam đề nghị Nguyễn Ái Quốc nhanh chóng thay trang phục. Tôi cũng mặc quần áo đã chuẩn bị sẵn từ trước, cùng ông ta thong thả bước ra khỏi cửa chính Tổng bộ Cảnh sát. Lúc ấy Loseby đã bố trí một chiếc xe cùng đội bảo vệ đến đón. Chúng tôi lại thay đổi y phục. Lần nầy, Nguyễn Ái Quốc mặc bộ lễ phục sang trọng, còn tôi đóng bộ đồ Trung úy Hải quân trong vai phó quan, cùng lên chiếc xe hơi sang trọng ra bến cảng rồi xuống tàu.
Hành trình hết sức thuận lợi, tuy rằng lúc ấy mọi việc phải thật khẩn trương. Loseby phu nhân và Phó Toàn quyền phu nhân vốn quen nhau từ trước, nên cuộc gặp mặt hết sức vui vẻ. Bàn trà được bày sẵn trên boong. Loseby nhanh chóng cùng Nguyễn Ái Quốc xống khoang tàu. Tôi đến buồng máy gặp Thuyền trưởng và chỉ vào hải đồ ra lệnh cho tàu chạy đến tọa độ X ngoài biển. Từ xa đã nhìn thấy “China Pearl” đậu tại vị trí dự định. Tôi nhìn dồng hồ, thấy đã đến giờ bèn dùng đèn đánh tín hiệu. Anne cũng dùng ánh đèn đáp lại. Chiếc xuồng được hạ thủy. Chúng tôi chia tay vợ chồng Loseby và Phó Toàn quyền phu nhân. Bà Lose by còn gởi theo gói đồ điểm tâm cho ba người. Chúng tôi vừa bước lên “China Pearl” thì Anne đã cho máy bay chạy trên biển rồi bay vụt lên. Trên đường đi tôi đã thử nói chuyện với Nguyễn Ái Quốc nhưng có vẻ như ông ta không muốn đáp lời. Đối với người Anh, hình như ông ta không mấy thiện cảm, cho dù chúng tôi đã làm hết cách để cứu tính mệnh ông ta, nhưng vẫn không làm thay đổi được quan niệm của người An Nam nầy coi chúng tôi là tay sai của chủ nghĩa đế quốc phương Tây.
Chiếc thủy phi cơ “China Pearl” hạ cánh xuống bãi sông Hoàng Phố, tại đây những đồng chí của Nguyễn Ái Quốc đưa thuyền ra đón ông ta. Nhiệm vụ của tôi đến đây là xong. Nghe nói sau nầy, Nguyễn Ái Quốc đi Mạc Tư Khoa vào học ở trường Đại học Lenin với mục tiêu về nước tuyên truyền Chủ nghĩa Cộng sản, vận động nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc. Tôi có cảm giác quá trình hoạt động nầy có thấp thoáng hình bóng của M. tiên sinh…
=============

I II III IV V VI

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s