Chương 21: Phan Khôi (1887–1959)

Chương 21: Phan Khôi (1887–1959)

(Phan Khôi, người được Phan Châu Trinh giao lại sứ
mệnh lịch sử nhưng tiếc thay ông đã sai lầm từ khởi đầu)

A- Sự chôn vùi Phan Khôi:

Sau Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, từ thập niên 1930 Phan Khôi tiếp tục xây dựng nền móng mới cho Việt học, bằng phương pháp độc đáo: phân tích, phê bình và phản biện, cổ võ phải viết lịch sử cho đúng, kể cả các chi tiết nhỏ. Phải viết tiếng Việt cho đúng từng câu, từng chữ, từng chữ cái, từng chấm, phẩy. Phải dùng từ Việt và từ Hán Việt cho thích hợp. Phải hiểu Khổng học cho đúng. Sự tìm hiểu nguồn gốc ngôn ngữ và triết học Tây phương đi từ Thánh Kinh. Nữ quyền bắt đầu với Võ Tắc Thiên. Phan Khôi luôn luôn tìm đến nguồn cội để giải thích vấn đề. Là một nhà báo, nhưng không phải nhà báo bình thường. Là một học giả, nhưng không phải học giả cổ điển chỉ biết nghiên cứu. Phan Khôi là khuôn mặt học giả phản biện duy nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX. Nhưng sự nghiệp văn học của Phan Khôi bị chôn vùi trong gần nửa thế kỷ[1].

a- Tạ Trọng Hiệp: Phan Khôi, người xa lạ :
Tạ Trọng Hiệp là người đầu tiên ở hải ngoại, đặt vấn đề nghiên cứu lại Phan Khôi trong buổi trả lời phỏng vấn RFI năm 1996[2] :
“…
Tôi gọi Phan Khôi là Người xa lạ, vì từ những năm 56, 57 trở đi, qua hiện tượng đấu tranh của nhóm NVGP, thì sau đó có một cuộc đàn áp ghê gớm của nhà cầm quyền Hà Nội. Và từ đó đến nay, đã có rất nhiều thay đổi về tình hình trong nước (…) đã gần như không còn chỉ thị cấm kỵ gì nữa. Nhưng hình như với riêng một số người –chứ không phải toàn bộ– cứng đầu nhất trong NVGP, trong đó có Phan Khôi, thì những cấm kỵ ấy vẫn còn, còn dưới nhiều hình thức lắm. Thứ nhất là không nói đến Phan Khôi. Không nói đến Phan Khôi, làm như là không có hiện tượng Phan Khôi. Phan Khôi không xuất hiện ở trên trái đất này.
Nhưng tìm nhiều thì thấy có một vài trường hợp không thể tránh khỏi, nên miễn cưỡng, họ phải làm ra một tiểu sử về Phan Khôi. Trong một cuốn sách ra cũng lâu lắm rồi, từ năm 1972, tập 2 bộ “Lược Truyện các Tác gia Việt Nam”, ở mục số 50, có một trang rưỡi dành cho Phan Khôi. Nội dung bài viết và phong cách câu văn làm ta sống lại những năm chung quanh vụ đàn áp NVGP, mà đỉnh cao là về sau, xuất hiện dưới hình thức một cuốn gọi là “Bọn ‘Nhân Văn Giai Phẩm’ trước tòa án dư luận”, in năm 1959 (…) Người nào có cuốn ấy thì thấy trong đó có ba, bốn bài gì đó, tập trung nện cụ Phan Khôi bằng đủ mọi cách, bằng những bịa đặt rất là bẩn thỉu, để chứng minh rằng ngay từ khi còn thiếu niên, Phan Khôi đã là người không ra gì. Và người viết không phải là người lơ tơ mơ đâu, đây là những người nổi tiếng có cá tính bướng bỉnh và có tinh thần phê phán rất ghê gớm như Nguyễn Công Hoan. Nếu tôi là con cháu Nguyễn Công Hoan, thì có lẽ lúc này tôi sẽ tìm những nơi nào có cuốn sách đó, đốt đi, để xóa một giai đoạn không tốt cho Nguyễn Công Hoan[3].
Còn riêng cá nhân tôi, Tạ Trọng Hiệp, thì tôi lại chủ trương ngược lại: Nhân dịp ta ra 1 hay 2 đặc san về Phan Khôi, thì cũng nên in lại vài bài, kiểu bài của Nguyễn Công Hoan hay là của một vài người khác đã viết về Phan Khôi, để ta nhớ lại, nhất là để giáo dục thanh niên ngày hôm nay, là đã có những thời gian mà trình độ văn hóa và đạo đức trong nước nó sa đọa đến một cái mức thấp mà không ai có thể ngờ được. Đây có tính cách giáo dục, mở đường cho tương lai. Ngày hôm nay thì những cấm kỵ, phần lớn đã được bỏ rồi. Nhưng mà người ta vừa bỏ cấm kỵ, vừa muốn cho chúng mình nghĩ rằng trong quá khứ có một vài sự hiểu lầm chứ chẳng bao giờ sa đọa đến nỗi bẩn thỉu như thế. Đấy là chuyện nó cắt nghĩa tại sao tôi muốn gọi cụ Phan Khôi là người xa lạ. (…) Tôi tiếp tục cái ý Phan Khôi, người xa lạ là người ta hình như cố tình xóa dấu vết về Phan Khôi”.
…”
Tạ Trọng Hiệp đưa ra bằng chứng về luận điểm này:
1/ Sự cố tình xoá tên Phan Khôi.

“Một bằng chứng rất gần đây là Phan Khôi trong những năm 30 có một số bài tranh biện với cụ Trần Trọng Kim (…) Những bài của cụ Kim đáp lại Phan Khôi được nhà xuất bản Tân Việt, khi in cuốn “Nho Giáo” lần thứ 3, cho vào phần Phụ lục.(…) Bây giờ, muốn xóa dấu vết Phan Khôi cho tốt, là ta bỏ phắt cái Phụ lục đi. Và quả nhiên, năm 1991, khi tái bản “Nho Giáo” ở Sài Gòn, người ta bỏ hẳn phần Phụ lục ấy. Ta có thể đọc hết cuốn “Nho Giáo”vẫn không biết là Phan Khôi đã giới thiệu, đã có công rất lớn để giúp cho cuốn “Nho Giáo” của Trần Trọng Kim được giới có học, tạm gọi là trí thức hồi đó, tìm đọc. Và nhờ những biện luận của Phan Khôi mà có một số điểm sai lầm trong “Nho Giáo” được sửa lại. Như vậy là riêng về một tác phẩm mà Phan Khôi có công, và cái công đó đã hoàn toàn bị xoá bỏ, khi người ta tước cái phần Phụ lục ấy đi”.

2/ Về nhà văn Sở Cuồng Lê Dư, em rể Phan Khôi :

“Ông Vũ Ngọc Phan, tác giả bất hủ của bộ “Nhà văn Hiện đại” mà tôi cũng như mọi người mang ơn rất nhiều trong thời còn trẻ (…) Những năm cuối đời, có đủ thì giờ, ông viết hồi ký rất tường tận. Đặc biệt ông dành riêng gần 100 trang để tả lại cái buổi ban đầu lưu luyến ấy, ông được gặp người yêu của ông và sau ông cưới làm vợ. Đó là cô Hằng Phương, người có quan hệ gia đình với Phan Khôi.
Tại sao tôi nhớ đến Vũ Ngọc Phan khi nói về Phan Khôi ? Tôi muốn đưa ra một minh họa, đố ai chối cãi, rằng người ta cố ý, hay là quá sợ, người ta không dám nói đến Phan Khôi: Ông Vũ Ngọc Phan, nhà anh hùng văn hóa này, ông anh hùng đến nỗi kể về cô gái đẹp như tiên, ông tả Hằng Phương tóc dài mượt. Cái gì cũng đẹp cả. Thế thì bố cô Hằng Phương là ai ? Đọc hết cả tập hồi ký của Vũ Ngọc Phan nhan đề “Những Năm Tháng Ấy” (…) cả thẩy 423 trang (…) vẫn không biết ông ấy tên là gì ! Ông bố của Hằng Phương là nhà văn Sở Cuồng, tên thật là Lê Dư !
Lê Dư, hồi trẻ, có một giai đoạn bồng bột, nghe theo tiếng gọi của nhiệt huyết yêu nước, xuất ngoại Đông Du.(…) Vì đói quá, ông chuồn về Việt Nam. Và lại gặp lúc mật thám Pháp đang tìm cách dụ những người trí thức chống đối, về làm việc với nó, vì nó đang muốn mở ra một lối thoát cho trí thức nho học duy tân: Các anh đi con đường chống chúng tôi thì chết; nhưng nếu các anh đừng chống chúng tôi, mà lại có một hoạt động văn hóa, có lợi cho cả các anh lẫn chúng tôi, thì các anh sống được. Tức là bằng sự mở tờ “Nam Phong”. Một người có tư tưởng ôn hòa như Phạm Quỳnh đứng chủ trương. Cụ Lê Dư về được bổ nhiệm làm Chủ bút, giữ phần Hán văn của “Nam Phong”[4]. Thì chỉ vì những năm đó mà về sau Lê Dư bị mang một nhãn hiệu –sau khi Cộng sản lên cầm quyền– gần như là một người phản cách mạng. Cho nên Lê Dư cũng bị một số phận –tuy không nặng bằng Phan Khôi, nhưng cũng gần như thế.(…)– là trong bộ sách quý báu mà tôi hay dùng, “Lược Truyện các Tác gia Việt Nam”, tập II, ở mục số 19, có một tiểu sử Lê Dư, mà người cán bộ viết sách đó, lúc đó đang sống ở Hà Nội, có con gái cụ Lê Dư là bà Hằng Phương, con rể cụ Lê Dư là ông Vũ Ngọc Phan, con gái út cụ Lê Dư là vợ Tướng Nguyễn Sơn, còn đang sống lúc bấy giờ ở giữa Hà Nội, mà họ dám viết tiểu sử Lê Dư bằng hai câu đầu như thế này: “Không biết năm sinh và năm mất ở đâu”. Lúc đó, cụ Lê Dư đang sống phây phây ở giữa Hà Nội (…) Vợ ông Lê Dư là em ruột Phan Khôi (…) tôi rất bất mãn khi ghi chép tiểu sử người ta, mà cứ giấu cái này, giấu cái kia. Nhất là cuốn “Hồi ký của Vũ Ngọc Phan”, là người tôi mến trọng ngày xưa bao nhiêu, thì sau khi đọc cuốn hồi ký, tôi mất đi nhiều thiện cảm với ông ấy, chỉ vì cái chuyện hèn nhát của ông ấy: Tên bố vợ không dám nói, chỉ nói ông cụ làm ở Bác Cổ (…) Suốt mấy chục trang nói về ông bố của người mà mình sắp đến xin cưới con gái, không dám nói đến tên ông cụ là Lê Dư !

3/ Về cụ Phan Trân, cha Phan Khôi :

“Điểm thứ ba, khi nói về tên ông ngoại của vợ mình là cụ Phan Trân. Trong suốt cả cuốn hồi ký, mỗi lần nhắc đến cụ thì cứ gọi cụ là cụ Phan Trần.(…) Ai có cuốn sách “Những Năm Tháng Ấy” của Vũ Ngọc Phan: Tên cụ là Phan TRÂN chứ không phải Phan TRẦN. Và qua sự chắp nối với một vài điều đọc ở chỗ khác, thì dần dần tôi thử phác họa Phan Khôi là con cái nhà ai, sinh năm nào ? Ở đâu ? Đấy, cái này đã bắt tôi bỏ ra nhiều thời gian tìm kiếm, nó là khía cạnh khiến tôi đi đến một quyết định là nếu viết bài, thì tôi đề tựa: Phan Khôi Người xa lạ ? Với một dấu hỏi rất lớn vì quả thật là gốc gác, lý lịch và dấu vết về đời cụ Phan Khôi ngày nay gần như bị xoá hết cả rồi[5].

Tạ Trọng Hiệp qua đời ba tháng sau khi nói những lời “thịnh nộ” này. Đó là năm 1996.
Năm 2010, Lê Hoài Nguyên[6] cho biết tình trạng chung như sau :

“Tại miền Bắc cuốn “Bọn ‘Nhân Văn Giai Phẩm’ trước tòa án dư luận” là tài liệu duy nhất tập hợp các bài tổng kết phê phán chính thống về NVGP. Một số người nghiên cứu do không có tư liệu, thường dựa viết theo cuốn này khi phải nói về giai đoạn 1954–1960 (…) Hầu như toàn bộ các thế hệ sau không biết mặt mũi các ấn phẩm NVGP là thế nào, người ta chỉ lặp lại các luận điệu chính thống mỗi khi nói về nó. (…) Ở một số cuốn hồi kí khi đến giai đoạn này người ta chỉ lướt qua một vài dòng, kể cả hồi kí của Đào Duy Anh, Vũ Đình Hoè, Gia đình Phan Khôi, Vũ Ngọc Phan, Tố Hữu… Nghĩa là việc nói lại một cách rành mạch về NVGP vẫn còn là một việc cấm kỵ hoặc ít ra là khó nói !”

Và ông kết luận :

“Trong một xã hội đã kéo dài hơn nửa thế kỷ về sự mê muội dân trí, về sự độc tài về chính trị, sự lừa dối, sự đầu độc để có sự đồng thuận về vụ NVGP và các nhân vật của nó thật khó như đáy bể mò kim… Nhưng trong đêm tối không phải không có những người đã nhìn thấy ánh sáng của chân lý. Sẽ có nhiều người phản đối tôi. Nhưng chẳng lẽ cứ im lặng mãi. Mỗi người chỉ là một góc của thế giới, và người ta bị thôi miên nữa, người ta cả tin. Tôi nghĩ đau khổ nhất của con người là đánh mất lý trí, là không hiểu, không thấy được thế giới thật đang ở bên mình. Họ đã sống và tàn sát đồng loại và tự biện minh bằng một cái mục đích hão huyền vô nhân tính. Vào những năm đầu đổi mới, tôi đã viết trong bài thơ “Thế giới đang tồn tại”:
“Bi kịch thay cho những dân tộc chỉ tin vào những thần tượng, những tín điều[7].

Đây là bài viết công khai đầu tiên của một người trong ngành công an, đã từng có trách nhiệm trong hơn 20 năm về hồ sơ NVGP. Một bài viết can đảm. Không những có những thông tin đúng đắn, những nhận định ngay thẳng, mà còn đòi hỏi sự sòng phẳng với quá khứ về mặt văn học và lịch sử.
Hoạ sĩ Trần Duy, trong bài “Tưởng niệm về Phan Khôi”, viết nhân dịp kỷ niệm 120 năm sinh Phan Khôi 6/10/1887–6/10/2007[8] viết: “Ông Phan Khôi không còn nữa, nỗi oan khuất của đời ông vẫn chưa có người giải ! (…) nỗi oan của Phan Khôi, cái mà ông quý nhất, gìn giữ nhất là phẩm giá, thì đã bị bôi nhọ, bị chà đạp. Ai là người minh giải ?”[9].

b- Đánh Phan Khôi, các văn bản ô nhục :
1/ Rồng Nam phun bạc
Trong cuốn “Lược truyện các Tác gia Việt nam”, quyển II, in năm 1972, của Trần Văn Giáp, Nguyễn Tường Phượng, Nguyễn Văn Phú, Tạ Phong Châu, mục từ số 50, có đoạn như sau :

“Phan Khôi đã được Mác-ty (Marty) gọi ra làm việc cạnh nó và viết báo “Nam Phong”. Trong phòng kín, Phan đã bí mật tố giác một số nhân sĩ yêu nước và bí mật hiến mưu dập tắt phong trào cách mạng”… Trong tạp chí “Nam Phong”, Phan đã viết những bài văn và bài thơ lừa dối, kêu gọi “dân An Nam” dốc túi ra lấy tiền để đánh đổ “Đức tặc” giúp đỡ nước “bảo hộ” Pha-lang-xa đã không quản trùng dương muôn dặm đem “văn minh” sang gieo rắc ở cái đất An-nam “hèn yếu hủ lậu này”… Phan đã tuyên truyền rầm rộ cho giặc dưới cái nhãn hiệu phỉnh nịnh là “Rồng Nam phun bạc”.

Những việc làm của Phan Khôi “đã đẹp lòng bọn mật thám Mác-ty nhưng chỉ đem lại cho sĩ phu hồi đó sự căm giận khinh bỉ. Phan Khôi là một nhà Nho không những không có sĩ khí văn phong gì, mà đã tụt xuống bại vong quốc nô vô sỉ (Xem bài “Một nhà nho ‘tiết tháo’: Phan Khôi” của Phùng Bảo Thạch, đăng trong tập “Bọn ‘Nhân Văn Giai Phẩm’ trước tòa án dư luận” Nhà xuất bản Sự Thật, 1969, trang 76, 78). (…) Nhóm phá hoại “Nhân Văn Giai Phẩm” đã bị vạch mặt và bị dư luận phê phán nghiêm khắc. Cuộc đời nhơ nhớp, phản bội cách mạng của Phan Khôi lần này được phơi bày ra ánh sáng. Hai năm sau, 1960, Phan Khôi chết ở Hà Nội”[10].
Đó là Phan Khôi, trong “Lược truyện các Tác gia Việt Nam”, 1972, hoàn toàn trích dẫn bài viết của Phùng Bảo Thạch. Ngày nay, “Từ điển Bách khoa”, mục từ Pháp-Việt đề huề, cũng vẫn chép lại câu của Phùng Bảo Thạch: “Báo ‘Nam Phong’ của Phạm Quỳnh đưa ra khẩu hiệu “Rồng Nam phun bạc đánh đổ Đức tặc”.
Trong số những bài đánh Phan Khôi, bài của Phùng Bảo Thạch tồi tệ nhất, nhưng lại có ảnh hưởng sâu rộng và dài lâu nhất, tại sao ? Vì bài này được in trong cuốn “Bọn ‘Nhân Văn Giai Phẩm’ trước tòa án dư luận” và đến 2010, theo Lê Hoài Nguyên, người ta vẫn còn dựa vào cuốn này khi phải viết về giai đoạn 1954–1960. Phùng Bảo Thạch là một trong ba người sáng lập báo “Đông Tây” (1929–1932)[11] mà Phan Khôi cộng tác năm 1930–1931, tức là “bạn đồng hành” của Phan Khôi thời trẻ, cho nên là người “có thầm quyền hơn cả” khi viết về Phan Khôi.
Chúng tôi tìm đọc “Nam Phong”, thấy bìa sau phần chữ Hán có hình một con rồng phun lên hai chữ “Nam Phong”; còn trong những bài tiếng Việt mà Phan Khôi viết trên “Nam Phong”, thì tuyệt nhiên không thấy khẩu hiệu “Rồng Nam phun bạc” và cũng không thấy bài văn, bài thơ nào kêu gọi “dân An Nam” dốc túi ra lấy tiền để đánh đổ “Đức tặc”. Tìm đọc những bài Phan Khôi viết trên báo khác, thì thấy một bài hài đàm có tên “Rồng Nam”, viết năm 1929 trên báo “Thần Chung”, trong đó Phan Khôi nói phiếm đại ý :

Cái tên nào có chữ Nam, hay bị xui. Không biết tay Lang-Sa nào xỏ lá, Siam thì nó gọi là Siamois; Cambodge là Cambodgien, chỉ có Annam thành Annamite. Vần “ite” sau chót chỉ dân bán khai. Vậy mà cũng không hẳn xui đâu, vì Phan nhớ lại hồi thế chiến “chánh phủ mở cuộc quốc trái ở nơi mấy cái cáo thị dán cùng đường, thì có con rồng, dưới lại đề chữ: ‘Rồng Nam phun bạc đánh đổ Đức tặc’. Đức bị đánh đổ không chưa biết, chớ rồng Nam lúc đó phun bạc thiệt nhiều !”[12]

Thì ra người ta đã lấy “cái cáo thị dán cùng đường, có con rồng, dưới lại đề chữ: ‘Rồng Nam phun bạc đánh đổ Đức tặc’ ”, đổ cho Phan Khôi và nhóm “Nam Phong”, để có cớ lôi Phan Khôi xuống bùn. Trong cuốn “Lược truyện các Tác gia Việt Nam”, có ba học giả bị kết án nặng nhất, nhưng Nguyễn Văn Vĩnh –mục từ 24– chỉ bị coi là thân Pháp. Phạm Quỳnh –mục từ 48– dù bị thủ tiêu, cũng chỉ bị coi là “tay sai đắc lực của đế quốc Pháp trong lãnh vực văn hóa và một tên Việt gian lợi hại chống cách mạng”.
Phan Khôi bị bôi nhọ một cách bỉ ổi hơn cả.
Như vậy, sự bôi nhọ Phan Khôi được chuẩn bị một cách hệ thống, chắc chắn phải do lệnh từ trên cao nhất của lãnh đạo. Hồ Chí Minh lúc ấy là Chủ tịch kiêm Tổng bí Thư. Trường Chinh đã từ chức từ tháng 10/1956 và Tố Hữu không đủ thẩm quyền để đánh Phan Khôi. Chiến dịch này dùng những học giả, nhà văn, nhà báo lão thành như Hồng Quảng, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Công Hoan, Phùng Bảo Thạch, Trần Văn Giáp…
Hồng Quảng là tên giả của một trong những học giả hàng đầu, là người chủ chốt. Bài “Tính chất Phan Khôi hay ngựa quen đường cũ” ký tên Hồng Quảng đăng trên “Văn Nghệ” số 11 tháng 4/1958, là bài chỉ đạo: trầm tĩnh, lịch sự tối thiểu, không mày tao, chi tớ, có lúc còn gọi Phan Khôi là tiên sinh, dù trong nghĩa mỉa mai, nhưng dần dần tiệm tiến “chứng minh” Phan Khôi là kẻ “phản quốc”. Lập luận chính: “Phan Khôi chỉ học mót của Hồ Thích chứ không có tư tưởng gì cả”.
Hồng Quảng là “Thủ trưởng” vụ đánh Phan Khôi, nhưng viết bài mà không dám ký tên thật luôn luôn là một hành động phức tạp: ở những kẻ có “tên tuổi”, đây là hành động “kẻ cả”, tỏ mình là “bề trên”, không nhúng tay vào những việc bẩn. Nhưng đồng thời cũng chứng tỏ tác giả không tin vào điều mình viết, thậm chí còn xấu hổ nữa, nên không dám ký tên thật. Là ai chăng nữa, thì việc ký tên giả luôn luôn chứng tỏ người viết là kẻ tráo trở hai mặt, ném đá giấu tay. Tên giả thường chỉ xuất hiện trong một “vụ việc” nào đó, rồi hết. Khác với việc nhà văn dùng nhiều bút hiệu để phân biệt lối viết và cách trình bày tư tưởng khác nhau của mình trên mặt báo.
Sự chỉ đạo của Hồng Quảng được Nguyễn Đổng Chi gián tiếp nói ra :

“Khi viết bài này, bạn Hồng Quảng ở tạp chí “Văn nghệ” (số 11) đã vạch cho ta thấy Phan Khôi “không phải độc lập sáng tạo” mà chỉ học mót lại những cái Hồ Thích đã nói từ lâu. Đúng thế. Phan Khôi là một tên học trò vụng về của Hồ Thích, mà Hồ Thích thì là một tên lính xung phong của thực nghiệm chủ nghĩa hay thực dụng chủ nghĩa của giai cấp tư sản phản động của đế quốc Mỹ do bọn Đi-uy (Dewey), Ram (James) và Mát (Mach) v.v… sáng tạo”[13]

Một chi tiết nhỏ trong lời của Nguyễn Đổng Chi: Hồng Quảng đã “vạch cho ta” chứng nhận tính cách chỉ đạo của Hồng Quảng và bài của Nguyễn Đổng Chi chỉ lập lại hai ý chính của Hồng Quảng: “Phan Khôi học mót của Hồ Thích” và “Phan Khôi có bộ óc dương nô” –nô lệ Tây Phương– của Hồng Quảng, để buộc Phan vào tội “vong bản, phản dân tộc”. Ngày nay, nếu có phương tiện, cũng nên xác định xem Hồng Quảng, kẻ chỉ đạo việc đánh Phan Khôi trong giới học giả là ai, để hoàn lại cho người viết, cái trách nhiệm văn bản của mình. Bởi người cầm bút luôn luôn phải chịu trách nhiệm về những điều mình viết.

2/ Phan Khôi có “học mót” của Hồ Thích không ?
Theo các “học giả” nói trên, thì những chủ đề Phan Khôi đưa ra trên báo, từ thời “Phụ nữ Tân văn” (1929) đến “Sông Hương” (1936) đều là “học mót” của Hồ Thích cả. Vậy chúng ta thử xem Phan Khôi viết gì về người thầy quý hóa này ?
1/ Trong bài “Lý với thế: Hồ Thích với Quốc dân Đảng”, năm 1929, Phan Khôi viết :

“Trong thời cuộc nước Tàu độ mười lăm năm trở lại đây, phải kể Hồ Thích là một người quan hệ lắm, quan hệ cả về mặt văn hóa và về mặt chánh trị. Thế mà mới ba năm gần đây, Hồ trở nên một người không hợp với thời cuộc, trái với dư luận, ấy là tại va gặp cái thế của Quốc dân Đảng.
Độ Dân quốc gây dựng được năm bảy năm chi đó, Hồ Thích bắt đầu xướng ra cái thuyết dùng bạch thoại thế cho văn ngôn, làm cho văn thể nước Tàu biến đổi ngay và từ đó tư tưởng người Tàu cũng phát đạt mau. Hồ là một tay Hán học uyên thâm mà lại đậu Tấn sĩ Văn khoa nước Mỹ, bấy giờ va chỉ viết báo mà cổ động sự cải cách văn thể chớ đích thân va thì còn ở bên nước Mỹ chưa về. Lúc đó bọn thanh niên nước Tàu trông va về lắm, trông va về để làm người lãnh tụ dìu dắt bọn thanh niên lên trong đường cải cách.
Khi va về, trường Đại học Bắc Kinh liền rước làm thầy giáo (professeur) dạy khoa Triết học. Ở đó vài năm, va làm được một cuốn “Trung Quốc triết học sử đại cương” là sách rất có giá trị trong học giới Tàu ngày nay”[14].

Phan Khôi gọi Hồ Thích bằng “va”. Trích đoạn này có 7 chữ “va”. “Va” là có ý coi thường. Không ai gọi thầy mình là “va” cả. Phan Khôi gọi Trần Quý Cáp là thầy tôi; Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của là đại sư; gọi Lương Khải Siêu, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh (kém Phan 5 tuổi), là tiên sanh.
Bài viết có giọng của một người đàn anh (Phan hơn Hồ 4 tuổi) khen người đàn em, tuy trẻ tuổi mà đã nổi đình đám lắm, nhưng cũng chê Hồ không ít. Phan viết về một bữa tiệc ở Thượng Hải :

“Hồ, chừng như cho mình là nhà Triết học ngôn luận phải khác chúng mới được, bèn đứng lên nói một cách sỗ sàng. Đại lược va nói rằng thành phố phải độc lập về đường chánh trị (…) Va nói như vậy có gì lạ đâu, chẳng qua theo cái phép đô thị tự trị thì phải như vậy. Mới rồi các ông hội đồng quản hạt ta nói về việc tự trị của thành phố Vũng Tàu cũng nói như vậy mà có ai cãi ? Cho nên khi Hồ nói xong thì có ý tự đắc”.

Không ai “nhận định” về “người thầy tư tưởng” của mình bằng một bài viết như thế.

(Trương Vĩnh Ký và “Gia Định báo”, được xem
là “ông tổ của nền báo chí Việt Nam”)


(Lương Khải Siêu) (Ngô Đức Kế)


(Huỳnh Thúc Kháng) (Trần Trọng Kim)

2/ Tóm lại, việc Phan Khôi viết văn tự nhiên và rành mạch, không phải do ông học mót của Hồ Thích việc dùng bạch thoại. Trong bài trả lời phỏng vấn Phan Thị Nga[15], Phan Khôi cho biết: nhờ nghiên cứu cái logique trong tiếng Pháp, nên từ khi viết cho “Đông Pháp Thời báo”, tức là từ 1925 trở đi, ông viết theo lối này.
Ngoài ra, từ 1922 trở đi, Phan giao du và chịu ảnh hưởng của nhóm trẻ Nguyễn An Ninh kém Phan 13 tuổi, Dejean de la Bâtie dạy Phan tiếng Pháp, Bùi Thế Mỹ cùng quê… là những người bạn làm báo, học trường Tây. Nhưng nguyên nhân sâu xa, có thể là Phan đã học lối viết hài đàm của Nguyễn Văn Vĩnh trên “Đăng Cổ Tùng Báo”, và ông đã áp dụng lối văn trong sáng này trong bản dịch “Kinh Thánh” từ năm 1920–1925 –chúng tôi sẽ phân tích văn bản Kinh Thánh ở phần dưới.

(“Đăng Cổ Tùng Báo”)

3/ Tại sao người ta lại chọn Hồ Thích để gán cho Phan Khôi ? Vì lý do chính trị: Hồ Thích (1891–1962) được đào tạo ở Mỹ. 1910, đi du học rồi đậu tiến sĩ Ph.D. 1918, về nước. 1938, làm đại sứ cho Tưởng Giới Thạch tại Mỹ.
Gán cho Phan Khôi “học mót” Hồ Thích, để đi đến kết luận: Phan Khôi phản quốc, trước làm bồi Tây, sau bồi Mỹ.
Việc triệt hạ Phan Khôi ở các học giả, nếu dùng chữ của Phan Khôi, thì đó là cách hạ độc thủ của “các bạn đồng chí, những người quân tử”.
Năm 1928, khi nói đến việc Hồ Thích bị bọn đồng chí trong Quốc dân Đảng hạ thủ, Phan Khôi viết: “Thà chịu cái độc thủ của kẻ cường quyền, của bọn tiểu nhân; không thà chịu cái chó má của bạn đồng chí, của người quân tử !”
Ba mươi năm sau, 1958, Phan Khôi bị rơi vào đúng trường hợp của Hồ Thích.

3/ Đặt tên con là Phan Lang Sa
Chiến dịch đánh Phan Khôi được tổ chức khá quy mô, sử dụng những người có tiếng hiền lành như Nguyễn Đổng Chi, Tế Hanh, vừa dễ sai bảo, vừa được quần chúng tin cậy. Tế Hanh là người được chọn đi cùng với Phan Khôi sang Trung Quốc nhân dịp kỷ niệm 100 năm Lỗ Tấn, 1956.
Tế Hanh đã làm những câu thơ như sau:
Chống Pháp lại đi ôm đít Pháp
Chửi vua rút cuộc liếm giầy vua
Há mồm lại nói nền dân chủ
Đạo đức ba que quả trái mùa[16]

Trong bài “tường trình” về chuyến đi Trung quốc, Tế Hanh kể rặt tội Phan Khôi trong suốt chuyến đi: lúc nào cũng tìm cách nói xấu đảng. Nhưng còn một việc tệ hơn nữa: Phan Khôi đặt tên con trai út là Phan Lang Sa, vì mong Pháp trở lại. Trong bài tự trào, gởi cho gia đình từ Việt Bắc, năm 1949, Phan viết:
Hai nhà cộng lại có mười con
Năm gái năm trai nhắm cũng giòn.
Gả cưới tạm yên nguyền một nửa
Sữa măng riêng mũi máu ba hòn
Tư trào thôi hẳn đành chia rẽ
Nhân cách còn mong được vẹn tròn
Bé nhất Lang Sa mới ba tuổi
Tên mầy ghi cái nhục sông non[17]

Bài này nói lên gia cảnh và ý chí của Phan Khôi: Hai vợ, mười con. Một nửa đã lập gia đình. Ba đứa con của vợ hai còn nhỏ. Vì theo tư trào –chỉ cách mạng– mà phải chia lìa. Mong giữ vẹn toàn nhân cách. Con bé nhất ba tuổi, đặt tên là Lang Sa –là nước Pháp để ghi “cái nhục sông núi” (mất nước). Tinh thần bài thơ đi đôi với lời Phan thường chỉ trích những hạng người “vong bổn”, mới đi Tây vài năm mà đã khoe là quên hết tiếng Việt; hoặc không biết tiếng Tây mà cũng đặt tên con là Trần thị Tờ roi, Trần văn Xết[18].

Nhưng Tế Hanh đã “thuật” lại rằng nhân dịp ghé Nam Ninh thăm người con học ở đây tên là Phan Lang Sa, Phan Khôi ”nói” với ông như sau : “Thằng này sinh ngày 9 tháng 3 năm 1945. Ngày Nhật đảo chính Pháp. Tôi đặt tên nó để cho những người nào vui mừng việc Nhật lật Pháp biết là Pháp sẽ trở lại cho coi”.
Và Tế Hanh kết tội: “Phan Khôi đã đáp lại lòng thù ghét của nhân dân ta đối với thực dân Pháp như thế. (…) Chỉ có một tâm hồn vong bản loại Phan Khôi mới mong Pháp trở lại mà thôi”[19].
Như vậy đủ biết sự xuyên tạc và vu khống, từ những ngòi bút có tiếng hiền lành, chân thực có tác động nguy hiểm như thế nào. Bao nhiêu kẻ khác đã chép lại giai thoại bịa ấy mà buộc Phan vào tội “phản quốc”. Đến con ông cũng phải đổi tên mình thành Phan An Sa.
Nguyễn Công Hoan làm thơ :
Nhắn bảo Phan Khôi khốn kiếp ơi
Thọ mi mi chúc chớ hòng ai
Văn chương ! Đù mẹ thằng cha bạc
Tiết tháo ! Tiên sư cái mẽ ngoài
Lô-gích, trước cam làm kiếp chó
“Nhân Văn”, nay lại hít gì voi
Sống dai thêm tuổi cho thêm nhục
Thêm nhục cơm trời chẳng biết gai[20].

Những lời “thơ” lỗ mãng luôn luôn là thứ gậy ông đập lưng ông. Nhưng đặc biệt thâm hiểm là bài “Hành động và tư tưởng phản động của Phan Khôi”, đăng trên “Văn Nghệ” số 12, tháng 5/1958, bản điện tử trên Talawas, mà Tạ Trọng Hiệp đã nói đến ở trên : Nguyễn Công Hoan là người biết nhiều về Phan Khôi hơn cả. Bài viết của ông có những chi tiết về ngày tháng khá rõ, có thể dùng được trong tiểu sử Phan Khôi. Dựa vào những sự kiện mình biết, Nguyễn Công Hoan thêm thắt, xuyên tạc, để “chứng minh” Phan Khôi là người bán nước, đã làm “chỉ điểm” cho Pháp trong suốt cuộc đời. Bài này với bài Phùng Bảo Thạch là hai “kiệt tác” về sự ô nhục của trí thức.

B- Tìm lại Cuộc đời Đích thực của Phan Khôi:

Hiện nay, một phần tác phẩm Phan Khôi đã được in lại, nhưng cuộc đời thực của ông vẫn chưa được soi tỏ. Hệ thống xuyên tạc và bôi nhọ Phan Khôi trong hơn nửa thế kỷ trong Từ điển và học đường đã “giáo dục” quần chúng không nhắc đến tên ông hoặc coi ông như một người phản quốc.
Chúng tôi cố gắng tìm lại cuộc đời đích thực của Phan Khôi, ưu tiên qua những điều do chính ông viết ra, lượm lặt trong các bài ký, truyện ngắn như: “Lịch sử tóc ngắn”, “Chuyện bà cố tôi”, “Bạch Thái công ty thơ ký viên”, “Đi học đi thi”, “Ông Bình Vôi”, “Ông Năm Chuột” và bài ông trả lời phỏng vấn “Lối tự học của những bậc đàn anh nước ta” do bà Phan Thị Nga viết lại năm 1936[21]. Những tài liệu gia đình như “Phan Khôi niên biểu” của Phan Cừ, Phan An[22], “Nhớ cha tôi”[23] của Phan Thị Mỹ Khanh, về niên biểu, cũng chỉ phỏng chừng, nhiều sự kiện trước sau lẫn lộn, có chỗ viết sai. Những bài đánh Phan Khôi của Nguyễn Công Hoan, Đào Vũ… dù nhơ bẩn, nhưng có một số chi tiết dùng được, bởi những người này đã có dịp gần Phan Khôi trong 9 năm kháng chiến nghe ông kể chuyện rồi xuyên tạc đi, để buộc tội ông phản quốc.

a- Tiểu sử Phan Khôi:
Sinh ngày 6/10/1887 tức ngày 20/8 năm Đinh Hợi tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Mất ngày 16/1/1959 tại Hà Nội. Ông nội: Phan Nhu. Cha: Phan Trân. Mẹ: Hoàng Thị Lệ, con gái Tổng đốc Hoàng Diệu. Phan Khôi chỉ có một người em gái –gia đình gọi là cô Ba, bà là vợ nhà văn Sở Cuồng Lê Dư và là mẹ của Hằng Phương, vợ Vũ Ngọc Phan, Hằng Phân, vợ Hoàng Văn Chí và Hằng Huân, vợ Tướng Nguyễn Sơn. Phan Khôi có người chú ruột là Phan Định, cha của Phan Thanh và Phan Bôi tức Hoàng Hữu Nam.
Bút hiệu : Chương Dân, Khải Minh Tử, Tân Việt chung với Diệp Văn Kỳ, Nguyễn Văn Bá; Thông Reo chung với Nguyễn An Ninh; Tú Sơn, phiên âm chữ “Tout Seul” (“Một Mình”) để nhại Tú Mỡ… Riêng trên báo “Sông Hương” 1936–1937, có hơn 10 tên khác nhau: Phan Khôi, Sông Hương, Ngự Sử, Phan Nhưng, Tú Vườn, Bê Ca, K, PK, TV, … chắc chắn là Phan Khôi; còn TT, TM, PTT… có thể cũng là Phan Khôi. Vì vậy, việc xác định văn bản Phan Khôi không dễ dàng.
– 1906, đỗ tú tài Hán học[24].
– 1906–1907: Bỏ khoa cử, học quốc ngữ và chữ Pháp với Lê Thành Tài. Hoạt động trong phong trào Duy Tân. Theo Phan Châu Trinh cắt tóc ngắn, làm bài “Vè cúp tóc”.
– 16/2/1908 ra Hà Nội học tiếng Pháp ở Đông Kinh Nghĩa thục, nhưng tới nơi, trường đã bị đóng cửa. Về Nam Định, học với Nguyễn Bá Học được 3 tháng thì bị bắt giải về Quảng Nam. Bị tù 3 năm. Trong tù, làm bài “Dân quạ đình công”, tự học tiếng Pháp, và học với thầy Ưng Điển[25].
– 1911, ra tù, vẫn tiếp tục hoạt động bí mật với nhóm Duy Tân và Đông Du Nam Ngãi. 1912, vào học trường Dòng Pellerin ở Huế được vài tháng, bà nội mất, trở về làng chịu tang, rồi ở lại quê.
– Năm 1913 kết hôn với Lương Thị Tuệ, quê huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, con nhà cách mạng Lương Thúc Kỳ[26]. Năm 1908, Lương Thúc Kỳ bị bắt, bị tù Côn Đảo tới 1917. Bà Lương Thị Tuệ có 8 con: Phan Thao, Phan Cừ, Phan Thị Hựu Khanh, Phan Thị Bang Khanh[27], một con trai chết năm 1935, lúc 10 tuổi, Phan Thị Mỹ Khanh, Phan Thị Tiểu Khanh, Phan Trản. Bà Nguyễn Thị Huệ, vợ thứ nhì, gặp tại Hà Nội, chung sống từ 1935, có ba con: Phan Nam Sinh, Phan Thị Thái, Phan Lang Sa, sau tự đổi tên thành Phan An Sa.
– 1913–1916, Phan Khôi mở lớp dạy học tại quê nhà.
– 1916, triều đình và chính quyền thuộc địa bỏ thi lối cũ[28]. Phan Khôi nghỉ dạy, trở lại trường học tiếng Pháp với thầy Lê Hiển[29] cùng với học trò. Được Thái Phiên rủ tham gia kháng chiến vua Duy Tân, nhưng Phan không nhận. Lý do: Một mặt, không tin tưởng vào cách mạng bạo động[30], chọn con đường hoạt động văn hóa. Một mặt, cha hết sức ngăn cản bởi ông là con trai duy nhất. (Nguyễn Công Hoan đã vin vào cớ ông không theo Thái Phiên để đổ tội ông làm mật thám cho Pháp ngay từ 1916).
– Từ 2/1918–5/1919, được Nguyễn Bá Trác giới thiệu vào “Nam Phong”, ông viết bài báo quốc ngữ đầu tiên đăng trên “Nam Phong” số 8, ra tháng 2/1918, khai trương mục “Nam Âm thi thoại”, diễn đàn phê bình thơ sớm nhất ở Việt Nam. Đi Huế với Phạm Quỳnh dự tế Nam Giao từ 19/3/1918 đến 3/4/1918.
Theo Phan Khôi, ông làm việc chưa đầy một năm với “Nam Phong” thì thấy “không thể đi cùng đường với hai vị Chủ bút” –tức là Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác– nên ông xin nghỉ trở về quê. Đầu năm 1919, ông Bùi Quang Chiêu từ Sài Gòn ra Hà Nội tìm trợ bút cho báo “Quốc dân Diễn đàn” của ông, Phạm Quỳnh giới thiệu Phan Khôi và đánh điện cho Phan Khôi ra Đà Nẵng xuống tàu gặp Bùi Quang Chiêu, nhờ vậy ông lại có dịp được đi ra khỏi làng.
– Tháng 6/1919, vào Sài Gòn viết cho “Quốc dân Diễn đàn”. Vẫn theo Phan Khôi, được độ một tháng, không biết Marty nói với Bùi Quang Chiêu thế nào, mà Bùi Quang Chiêu đổi ông sang làm báo “Lục tỉnh Tân văn” do Marty điều khiển. Làm được vài tháng, vì một chuyện gì đó, dường như ông viết một bài báo công kích một viên chức cao cấp Pháp sắp lên làm Toàn quyền, ông bị sa thải.

Những sự kiện trên đây cho thấy Phan Khôi dù ra khỏi “Nam Phong” nhưng vẫn giữ mối liên lạc khá chặt chẽ với Phạm Quỳnh và Marty.
– Tháng 9/1919, trở về quê Quảng Nam.
– Tháng 3/1920, ra Hải Phòng, làm Thư ký cho Bạch Thái Bưởi từ 1/5/1920 đến 31/12/1920.
– Cuối 1920, nhận việc dịch “Kinh Thánh” –dịch toàn bộ “Tân Ước” và 1/3 “Cựu Ước” trong 5 năm, từ 1920 đến 1925, từ bản Hán văn và Pháp văn ra Quốc ngữ.
– 1921–1922, viết “Thực nghiệp Dân báo và Hữu Thanh ở Hà Nội”.
– 1922, vào Nam, có thể đã liên lạc và hoạt động với nhóm Nguyễn An Ninh, Dejean de la Bâtie, khi Nguyễn An Ninh từ Pháp về lập báo “La Cloche fêlée” năm 1923.
– 1922–1925, xuống Cà Mau ẩn náu. Học tiếng Pháp qua thư từ với Dejean de la Bâtie. Tiếp tục dịch Kinh Thánh.
– 1925, Phan Châu Trinh từ Pháp về, giao cho Phan Khôi việc viết lại lịch sử đời ông.
– 24/3/1926, Phan Châu Trinh mất: Phan Khôi soạn bản “Hiệu triệu Quốc dân” đi dự đám tang Phan Châu Trinh và viết cuốn “Phan Châu Trinh”.
– 1926–1928, Phan Khôi viết các báo “Thần Chung”, “Đông Pháp Thời báo”, “Văn Học” ở Sài Gòn và “Đông Tây” ở Hà Nội. Tháng 5/1928, phê bình Trần Huy Liệu, đặt vấn đề “Viết sử cho đúng” trên “Đông Pháp Thời báo”.
– 1929–1932, thời kỳ hoạt động mạnh nhất, viết các báo “Thần Chung”, “Phụ nữ Tân văn”, “Trung Lập”, ở Sài Gòn; “Đông Tây”, “Phổ Thông”, ở Hà Nội, đặt những vấn đề:
▪ 1929, “Phê bình Khổng giáo” trên “Thần Chung”. “Nữ quyền”“Viết tiếng Việt cho đúng” trên “Phụ nữ Tân văn”.
▪ 1930, khai sinh thể loại bút chiến văn học với Phạm Quỳnh và Trần Trọng Kim trên “Phụ nữ Tân văn”.
▪ 1931, viết bài “Cái cười của con rồng cháu tiên” trên “Phụ nữ Tân văn”, phê bình cuốn “Cay đắng mùi đời” của Hồ Biểu Chánh: đây là bài phê bình văn học đầu tiên viết theo lối hiện đại.
▪ Đầu 1932, công bố bài “Một lối ‘thơ mới’ trình chánh giữa làng thơ” và bài thơ “Tình già”, cả hai được coi là bản tuyên ngôn của Thơ mới trên “Tập văn Mùa xuân”, báo “Đông Tây”, rồi “Phụ nữ Tân văn”.
– 1933 ra Hà Nội viết “Thực nghiệp”“Phụ nữ Thời đàm”.
– 1934 về Huế viết cho “Phụ nữ Tân văn” tái bản, rồi làm Chủ bút báo “Tràng An”. Phan Trân từ trần.
– 1936–1937, lập báo “Sông Hương” tại Huế từ 1/8/1936 đến 27/3/1937. Viết cho “Hà Nội báo”. Tập hợp những bài viết trong mục “Nam Âm thi thoại” in thành sách “Chương Dân thi thoại”, Đắc Lập, Huế, 1936.
– 1937–194, vào Sài Gòn dạy trường Chấn Thanh. Viết tiểu thuyết. In cuốn “Trở vỏ lửa ra”, Phổ thông Bán nguyệt San số 41, ra ngày 16/8/1939 tại Hà Nội.
– Viết báo “Tao Đàn” từ tháng 3/1939.
– 1940, viết cho “Dân báo”.
– 1941, Chấn Thanh đóng cửa. Phan Khôi về Quảng Nam ở đến 1946.
– 19/8/1945, Việt Minh cướp chính quyền.
– Ngày 2/3/46, thành lập Chính phủ Liên hiệp.
– Ngày 6/3/1946, Hồ Chí Minh ký Hiệp định sơ bộ với Pháp. Theo Nguyễn Công Hoan, tháng 6/1946, trong một buổi mít-tinh ở Quảng Nam, Phan Khôi lên diễn đàn đả phá Hiệp định sơ bộ. Phan Khôi được bầu làm Chủ nhiệm chi bộ Quảng Ngãi của Việt Nam Quốc dân Đảng.

(Hai tác phẩm nổi tiếng nhất của Phan Khôi)

Theo Hoàng Văn Chí, cán bộ địa phương định phá hủy nhà thờ Hoàng Diệu, Phan Khôi cực lực phản đối, họ toan bắt Phan Khôi, nhưng nể Phan Thao, con trai ông, là cán bộ cao cấp. Phan Khôi viết thư cho Huỳnh Thúc Kháng[31] nhờ can thiệp. Hồ Chí Minh giải quyết khéo léo: viết thư mời Phan Khôi ra Hà Nội, giao cho Phan Bôi[32] phụ trách việc quản thúc. Phan Khôi ra Hà Nội, nhưng không chịu ở nhà Phan Bôi, lên 80 Quan Thánh ở với Khái Hưng.
Theo Nguyễn Công Hoan, đêm 12/7/1946, công an bao vây nhà Khái Hưng, Phan Khôi bị bắt tại đây :

“Ở Quảng Nam ít lâu, hắn bèn ra Hà Nội, họp với Trung ương Đảng bộ Việt Nam Quốc dân Đảng của hắn để đề nghị một chương trình chống chính phủ. Chương trình của hắn là gây một cuộc rắc rối về ngoại giao giữa chính phủ Pháp, để dồn chính phủ đến một nước cờ bí, phải đi đến chỗ tự lật đổ, hoặc bị thực dân Pháp đánh bại.
Vừa lúc đó, Phan Khôi tiếp được giấy của Bộ Nội vụ tập hợp Hội nghị Văn hóa. Sau khi họp với bọn “đồng chí” ở Quảng Nam, đặt kế hoạch hoạt động trong thời gian hắn vắng mặt, hắn tạm rời tỉnh Quảng Nam. Đến thủ đô hắn xin vào yết kiến cụ Huỳnh Thúc Kháng khi ấy là Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Nhưng cụ Huỳnh đã rõ bộ mặt nhơ bẩn của hắn không thèm tiếp.
Đêm 12/7, trong khi hắn đương họp bàn với bọn đầu sỏ Quốc dân Đảng ở 80 đường Quan Thánh, thì xảy ra việc công an ta đến khám tòa báo Việt Nam của đảng ấy tại trụ sở ấy. Bọn phản động trong nhà nổ súng ra để chống cự. Tức thì công an buộc lòng phải bắt bớ người. Trong số những người bị bắt có Phan Khôi. Song Phan Khôi lại một lần nữa được chính phủ tha cho về suy nghĩ tội lỗi mà hối cải. Trong thời gian Phan Khôi ở Hà Nội, thì chi bộ Quốc dân Đảng ở Quảng Nam tiếp tục thực hiện chương trình hắn đã vạch ra (…) Thấy việc bán nước mỗi ngày một khó khăn hơn, Phan Khôi phải ở lại Hà Nội để bàn việc củng cố đảng hắn. Nhưng tối ngày 19 tháng 12, toàn quốc đứng dạy làm cuộc kháng chiến, Phan Khôi giật nẩy mình, muốn về Quảng Nam thì nghẽn đường, không đi được. Lại có một người em họ ở trong chính phủ bảo đảm cho, nên hắn được –hoặc bắt buộc– đi theo kháng chiến” [33].

Theo Phan Khôi, ngày 6/7/1946 ông ra đến Hà Nội, nhưng được người bạn thân báo tin cụ Huỳnh Thúc Kháng khuyên đừng gặp cụ. Ông quanh quẩn ở lại Hà Nội xem tình hình, ngày 12/7/46, ông dự buổi họp của Trung ương Quốc dân Đảng ở tòa báo Việt Nam.
Theo Hoàng Văn Chí, sau ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, Phan Bôi được lệnh đưa Phan Khôi lên Việt Bắc. Phan dịch sách và làm biên khảo.
Tổng kết các thông tin của Phan Khôi, Hoàng Văn Chí, Nguyễn Công Hoan, xin tạm hình dung bối cảnh này như sau :
Phan Khôi thấy có thể bị Việt Minh bắt ở Quảng Nam, nên ông viết thư cho Huỳnh Thúc Kháng, tìm cách chính thức ra Hà Nội. Cụ Huỳnh viết thư mời ông ra dự Hội nghị Văn hóa, nhưng ngại không tiếp ông sợ bị liên lụy, chắc bản thân cụ cũng không vững. Ở Hà Nội, Phan Khôi hội họp với Quốc dân Đảng, trụ sở 90 Quan Thánh, nhà Khái Hưng. Ông bị bắt tại đây, nhưng lại được thả ngay, vì lẽ gì ? Vì em họ Phan Bôi làm Bộ trưởng Nội vụ và con trai Phan Thao làm Chủ nhiệm báo “Nhân Dân” chăng ? Chưa chắc. Rất có thể vì Hồ Chí Minh không dám thẳng tay với Phan Khôi. Sau khi được tha, ông vẫn tiếp tục hội họp với Quốc dân Đảng, mặc dù ông đã chán nản vì thấy tổ chức này lỏng lẻo, chẳng có chính sách gì rõ ràng, có lúc ông muốn tìm đường ra ngoại quốc.
Theo Đào Vũ, nhà cửa, ruộng đất của gia đình Phan Khôi ở Điện Bàn bị tịch thu trong Cải cách Ruộng đất.

– 1954–55, về Hà Nội, gặp lại vợ con từ Quảng Nam ra. Ở số 51 Trần Hưng Đạo. In “Việt ngữ nghiên cứu”[34].
– 1956, Lãnh đạo tinh thần phong trào NVGP. Làm chủ nhiệm báo “Nhân Văn”.
– 1957, được cử đi Bắc Kinh dự Lễ kỷ niệm 100 năm sinh Lỗ Tấn, có Tế Hanh đi cùng.
– 1958, NVGP bị thanh trừng. Phan Khôi bị đuổi khỏi 51 Trần Hưng Đạo, dọn về 10 Nguyễn Thượng Hiền, rồi 73 phố Thuốc Bắc.
– Phan Khôi mất ngày 16/1/1959. Chôn ở nghĩa trang Hợp Thiện, phía đông Hà Nội. Trên mộ đề Chương Dân. Mộ phần bị “thất lạc” trong chiến tranh –theo gia đình.

Lại Nguyên Ân cho biết từ giữa năm 2000, ông bắt đầu sưu tầm tác phẩm Phan Khôi. Đến nay đã ra được 5 tập Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo, từ 1928 đến 1932 và cuốn “Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn”, do các nxb Đà Nẵng, Hội Nhà văn và Tri Thức in; riêng sưu tập 1932, khổ 16×24. Các sách này đã đưa lên website Lại Nguyên Ân: lainguyenan.free.fr[35]. Tổng cộng: 4.706 trang. Công trình này dành cho giới nghiên cứu, và là bước đầu tiến tới một tuyển tập Phan Khôi, ngắn gọn hơn, cho mọi từng lớp độc giả.
Năm 2009, Phạm Hồng Toàn in sưu tập “Sông Hương”, tuần báo ra ngày thứ Bảy (1/8/1936–27/3/1937), “Lao Động”“Đông Tây”, 2009, gồm 2 tập, khổ 19×26.
Hiện nay, chỉ còn những bài báo của Phan Khôi trong khoảng 1918–1928 và 1933–1942, chưa được in thành sách. Sưu tập của Thanh Lãng trước 1975 tại Sài Gòn, được xuất bản dưới tiêu đề “13 năm tranh luận văn học 1932–1945”, gồm 3 tập, Văn Học, Tp.HCM, 1995, trong đó có một số bài của Phan Khôi.
Bộ sách này so với bản ronéo của Thanh Lãng có chỗ bị cắt, không hoàn toàn trung thành với bản chính như việc làm của Lại Nguyên Ân.

b- Bà cố (1791–1864)[36] dựng nghiệp họ Phan ở Điện Bàn :
Năm 1791, trước khi Gia Long lên ngôi 11 năm, tại làng Hóa Quê gần cửa Hàn, một người con gái ra đời. Đó là bà cố của Phan Khôi, người dựng nghiệp họ Phan ở Điện Bàn. Phan Khôi viết: “Họ Phan chúng tôi, ông thỉ tổ nguyên ở Nghệ An vào lập làng tại Quảng Nam, kêu là Bảo An”[37]. Làng Bảo An do ba họ Nguyễn, Ngô và Phan lập ra. Họ Phan từ khởi thủy đến đời ông cố, vốn “nghèo hèn, dốt nát”.
1809, ông lấy bà cố, chung sống 15 năm, được 7 con, ông mất, người con út, Phan Nhu, ông nội Phan Khôi, mới 2 tuổi. Bà cố buôn gánh ở Hội An, nuôi con trong 6 năm. Rồi bà tái giá, làm kế một ông Đội khá giả ở làng Hội Vực, nhưng bà ra điều kiện: phải để cho bà về nhà chồng trước trông nom con cái. Theo lời những người già trong làng, bà thường cưỡi ngựa đi từ làng Hội Vực về Bảo An hay ngược lại, đồ vật chất đầy trên cổ ngựa, nhờ vậy mà các con bà được ăn học. Sáu năm sau, ông Đội mất, bà đem 2 con với ông Đội về nuôi cùng 7 con đời chồng trước.
Nhờ có vốn của chồng để lại, bà mở đại lý buôn đường với tàu buôn của người Hoa ở Hội An, trở thành người phụ nữ đầu tiên có hãng xuất cảng đường và thành “cự phú”. Hai con trai bà, Hương Đạo và Bá Đức cũng giàu có tiếng trong vùng. Người con út, Phan Nhu, đậu Cử nhân khoa Đinh Tỵ 1847, làm đến chức Án sát tỉnh Khánh Hòa thì bị cách chức.
Dù có công lớn với gia đình, nhưng vì tội tái giá, nên sau khi mất, ở tuổi 73, bà không được chôn ở đất công của làng. Vì vậy, Phan Khôi đòi kiện cái luật cổ hủ của xã hội thời ấy[38]. Từ bà cố, người phụ nữ độc lập, cưỡi ngựa nhảy qua hàng rào lễ giáo cổ hủ đầu thế kỷ XIX để xác định nữ quyền, nuôi chín con, lập sự nghiệp “tỷ phú”. Đến người cháu, học giả phản biện, lãnh đạo tinh thần phong trào “Nhân Văn Giai Phẩm”, là một dòng máu dân chủ và tự chủ nối dài.
Phan Khôi đấu tranh cho quyền làm người của phụ nữ, ngay từ thập niên 30 của thế kỷ trước, khi Simone de Beauvoir, mẹ đẻ nữ quyền thế giới, chưa xuất hiện trên văn đàn. Đó là đặc điểm của Phan Khôi: tiên phong và phản biện trong nhiều lãnh vực tư tưởng.

c- Phan Nhu và Phan Trân:
Ông nội Phan Khôi là Phan Nhu, đỗ Cử nhân khoa Đinh Tỵ, 1847, làm đến chức Án sát tỉnh Khánh Hòa thì bị cách chức. Cha là Phan Trân (1862–1934), đậu Phó bảng, làm Tri phủ Diên Khánh, có lần cãi nhau kịch liệt với viên Công sứ[39]. Năm 37 tuổi, 1899, ông cáo bệnh từ quan, lúc đó Phan Khôi 12 tuổi.
Nhờ loạt bài “Đi học đi thi”[40] mà chúng ta biết thêm về Phan Nhu, Phan Trân và Trần Quý Cáp. Trong bài ký này, Phan Khôi tức Tú Vườn dùng nhân vật lão Nho, ra đời khoảng 1875 thay thế cho mình, để mô tả lại bối cảnh gia đình họ Phan trước khi Phan ra đời năm 1887, đồng thời vẽ chân dung người thầy Trần Quý Cáp và trình bày hoàn cảnh u uất của giới sĩ phu khi nước mất và sự bất đồng tư tưởng trong gia đình họ Phan, từ đời ông, đời cha đến đời con, ba thế hệ.
Năm 1885, kinh thành thất thủ[41], vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, phong trào Cần Vương ở Quảng Nam nổi lên rầm rộ trong ba năm từ khi vua xuất bôn đến khi vua bị bắt, năm 1988[42]. Phan Nhu cũng muốn theo phong trào, nhưng Phan Trân khuyên cha không nên vì biết không thể chống nổi Tây: “Ông tôi ban đầu còn chưa chịu nghe, sau thầy tôi can mãi, nhiều khi đến nói mà vừa lạy vừa khóc, ông tôi mới thôi”. Nhưng thời ấy, không theo nghĩa quân, nghĩa đoàn, thì có thể bị hại, nên hai cha con phải đem nhau đi trốn :

“Có một lần, chúng tôi ở trong một chiếc ghe, đậu bên gành núi. Đương đêm, vừa mưa vừa gió, trời tối đen như mực, ông tôi thức dạy, đốt đèn ngồi một mình rồi không biết vì nghĩ thế nào mà ông tôi khóc òa lên, trong lúc khóc, ông tôi kể lể nhiều lắm: chốc lại kêu Hoàng Thượng, chốc lại kêu Phu Tử (…) Về sau, tôi mới đoán ra rằng lúc đó ông tôi kêu Hoàng Thượng là chỉ đức Hàm Nghi, còn Phu Tử là đức Khổng Tử”[43].

Phan Nhu, tuy bị cách chức nhưng vẫn một mực thờ vua và Khổng Tử, vẫn tiếp tục bắt con cháu phải học để ra làm quan trị dân giúp nước, theo đúng truyền thống sĩ phu dấn thân thời phong kiến. Phan Trân muốn theo con đường duy tân, nhưng không dám trái ý cha. “Sau khi loạn yên, thầy tôi “thưa đơn tòng chánh” và ra làm quan là cũng bởi cực chẳng đã mà phải vâng lời ông tôi, nếu không thì ông tôi giận”. Ra làm quan, tất phải đụng chạm với Pháp: “Lúc ở Hải Phòng, gặp Lê Bá Cử, ông ấy có kể cho tôi nghe khi ông làm Phán sự Tòa sứ Nha Trang, thầy tôi làm Tri phủ, có lần cãi nhau kịch liệt với viên Công sứ, chính ông đứng làm thông ngôn”[44].
Và sau cùng Phan Trân đã phải từ chức.
Sau này, trong khoảng từ 1911 đến 1917 –sau khi đi tù về– Phan Khôi cũng muốn bỏ nhà đi theo chí hướng của mình, nhưng cũng lại bị cha cản trở, và ông cũng phải vâng lời. Vì vậy, Phan viết: “Làm con khác với làm người. Nhiều khi làm con không phải làm người ! Thành thử trước mặt những người cha có học thức, chẳng cứ cái học thức ấy thế nào, thường thường cái tư cách làm người của những người con phải bị chôn đi. Thương hại cho thầy tôi, suốt đời ở vào cái hoàn cảnh đó !”[45].
Nếu Phan Trân phải chiều lòng cha, thì Phan Khôi cuối cùng, tìm cách thoát được, ông đã sống một cách tự do bằng ngòi bút, trong đời làm báo. Phải chăng vì bi kịch cha con trong gia đình Khổng Mạnh, mà sau này, Phan Khôi quyết liệt chống Tống Nho và ông để các con Phan Thao, Phan Cừ “tự do” theo Cộng sản, đi con đường trái ngược với tư tưởng của mình ? Sự bất đồng tư tưởng trong gia đình họ Phan kéo dài thêm một thế hệ nữa: ông, cha, con, cháu.

d- Tinh thần bất khuất từ nhỏ:
Thuở nhỏ Phan học chữ nho và chịu ảnh hưởng ông nội nhiều hơn cha. Năm lên bảy, mẹ qua đời. Khi cha phải đi nhậm chức Tri phủ Diên Khánh, gởi Phan về bên ngoại cho người cậu làm Tri phủ, là con cả Tổng đốc Hoàng Diệu trông nom. Ông phủ mướn thầy dạy học con trai và Phan Khôi, nhưng ít lâu sau, Phan xin cha cho đi học nơi khác. Tại sao ? Phan không nói rõ. Nhưng sau này qua lời ông Năm Chuột, Phan gián tiếp cho biết: “Ông ngoại hết sức thanh liêm, làm Tổng đốc mà không có tiền lợp lại mái nhà đã tróc ngói. Người cậu làm Tri phủ ba năm đã mua được mươi mẫu ruộng. Ông ngoại đánh Pháp, tuẫn tiết mà chết. Người cậu theo Pháp đàn áp nghĩa quân. Điều này chứng tỏ: từ lúc 8 tuổi, Phan đã nhìn rõ hành động của người cậu Tri phủ, và đó chính là lý do khiến Phan xin cha cho học chỗ khác”.

(Tổng đốc Hoàng Diệu giữ thành Hà Nội)

Phan Trân gởi con cho Trần Quý Cáp. Phan Khôi học Trần Quý Cáp 10 năm, từ 9 tuổi đến 19 tuổi. Phan Khôi viết: “Tôi từ nhỏ có tư bẩm thông minh lạ. Lên 13 tuổi đã “cụ thể tam trương”: Nghĩa là về lối văn khoa cử, kinh nghĩa ở trường nhất, thi phú trường nhì, văn sách trường ba tôi đều làm được cả trong tuổi ấy. Ông nội tôi và ông thân tôi đều để hy vọng vào tôi nhiều lắm. Ông nội tôi sống đến năm tôi 16 tuổi, đi thi khoa đầu, hỏng trường nhất, rồi người mới mất”[46].
– 16 tuổi, Phan Khôi đi thi lần đầu, khoa 1903, hỏng trường nhất.
– 19 tuổi, 1906, thi lần thứ nhì, chỉ đậu Tú tài. Phan Khôi tức giận lắm.
Bởi từ khoa Giáp Ngọ, 1894, trở đi, các học quan bắt đầu ăn đút lót, chấm gian, và đến khoa Bính Ngọ, 1906, thì bị kiện. Phan Khôi viết: “Tôi là một kẻ đứng đơn với bọn Dương Thưởng kiện sự “thủ sĩ bất công” hồi khoa Ngọ, tôi đã làm cho mấy ông quan trường bị giáng bị cách thì tôi còn sợ gì mà chối ?”
Vì vụ kiện này mà những kỳ thi sau, chính phủ bảo hộ phái người đến kiểm soát. Đó cũng là một trong những lý do tại sao Phan Khôi bỏ lối học khoa cử. Ngoài ra Phan còn cho biết :

“Nguyễn Bá Trác (1881–1945) đi thi năm Bính Ngọ 1906 không phải để đỗ, mà để làm bài thuê, kiếm tiền cho phong trào Đông Du, rút cục lại đỗ Cử nhân. Chính Nguyễn Bá Trác đã rủ Phan Khôi bỏ học. Phan học tiếng Pháp với Phan Thành Tài tại trường Diên Phong là trường đầu tiên của phong trào Duy Tân ở Quảng Nam. Sau Phan Thành Tài tham gia cuộc chính biến vua Duy Tân, 1916, bị xử tử”.

Năm 1906, đánh dấu ngõ quặt quan trọng trong cuộc cách mạng duy tân và cuộc đời Phan Khôi: bỏ nho học, theo Phan Châu Trinh cắt tóc ngắn, cổ động cắt tóc và làm bài “Vè cúp tóc”.

e- 1906–1908: Phong trào cắt tóc,
Lập Hội buôn – Trung Kỳ dân biến
:

Việc cắt tóc và mặc âu phục do Phan Châu Trinh phát động cuối năm 1906, và kéo dài suốt năm 1907, là một hành động duy tân và phản kháng : chống cổ hủ[47].
Hơn một năm sau, khi vụ biểu tình chống thuế Trung Kỳ dân biến xảy ra, chính quyền bèn kết hợp việc cúp tóc với việc biểu tình chống thuế, thành hành động nổi loạn, chống lại nhà cầm quyền.
Tuy Phan Khôi theo và cổ động phong trào hớt tóc ngắn, làm bài “Vè cúp tóc” nổi tiếng, nhưng không tham dự vào cuộc nổi dạy chống thuế ở Quảng Nam 1908, vì lúc đó ông đã lên đường ra Hà Nội. Sau này trong hai bài viết trên “Sông Hương”: “Địa vị của Thái Phiên và Trần Cao Vân trong cuộc biến ở Huế năm 1916”[48]“Mấy cuộc vận động quần chúng ở nước ta”[49], Phan Khôi nhắc lại sự thành công của đấu tranh bất bạo động trong đám tang Phan Châu Trinh năm 1926, trong Nam, và phê bình gay gắt sự thất bại của những cuộc bạo động ở miền Trung: Khởi nghĩa Văn Thân 1883 ở Huế; Trung Kỳ dân biến 1908 ở Quảng Nam và Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930–1931.
Phong trào Duy Tân phát triển mạnh từ cuối năm 1906, sau khi Phan Châu Trinh ở Nhật về, phát động phong trào Cắt tóc ngắn, kết hợp với Tiểu La Nguyễn Hàm –chủ trì khuynh hướng Phan Bội Châu– với nhóm Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn ở Nghệ An, Hà Tĩnh chủ trương việc lập Hội buôn và với Nguyễn Văn Vĩnh trong “Đông Dương” tạp chí, lập thành một lực lượng phản kháng đáng ngại. Công sứ Quảng Nam, Charles[50] viết :

“Hội buôn Quảng Nam mà các thành viên thường tự xưng là “những người cắt tóc” theo cách họ nhận biết nhau. Hội này tập hợp tất cả những phần tử đối lập với ảnh hưởng của Pháp, những viên quan trong đảng “Cần Vương” An Nam cũ, các nhà yêu nước khuynh hướng quốc gia kiểu Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu. Lúc này Hội ấy hoạt động ráo riết. Các thành viên đi khắp các làng, đề nghị dân chúng cắt tóc, mặc âu phục (!) và khuyên họ tự giải quyết mọi mâu thuẫn, không cần đến cửa quan hoặc các tòa Công sứ. Họ hoạt động cho sự tiến triển về tư tưởng mà tác giả của bài xã luận quan trọng đã đăng trong số ngày 15/10 của tạp chí bán công “Đông Dương” tạp chí (…) Hoạt động của Hội này thực hiện nhiều nhất ở hai phủ Thăng Bình và Tam Kỳ và đặc biệt ở vùng giáp giới giữa hai phủ này (…) Phan Châu Trinh đã đi ra Bắc Kỳ từ đầu tháng[51], theo người ta nói có đem theo các khoản đóng góp của hội viên (…)
Hội kín ở Quảng Nam tiếp tục công cuộc tuyên truyền chống Pháp và tư tưởng quốc gia. Trong hai phủ Thăng Bình và Tam Kỳ họ nắm các trường học và điều hành việc dạy học. Họ trao cho học sinh những tài liệu kích thích tinh thần yêu nước, hận thù quân xâm lược, xem thường cái chết. Mỗi người phải sẳn sàng hy sinh cho tổ quốc. Thật là những bài học tuyệt vời về chí khí, chỉ tiếc là chúng ta một ngày kia phải trả giá cho sự giáo dục ấy mà thôi[52].

Viên Công sứ Charles đã nhận định đúng vai trò của giáo dục. Mà Trần Quý Cáp lúc đó là Giáo thọ[53] phủ Tăng Bình giữ trách nhiệm hàng đầu. Điều này giải thích việc Khâm sứ Trung Kỳ Lévecque đổi Trần Quý Cáp vào Ninh Hòa, để phân tán lực lượng Duy Tân và giết Trần Quý Cáp. Bị đổi vào Ninh Hòa, Trần Quý Cáp vẫn tiếp tục công việc, Charles viết :

“Trần Quý Cáp đã thận trọng bổ dụng một số người hoàn toàn tin cẩn của y. Những người tích cực nhất trong việc xây dựng các trường học sẽ được thưởng bằng một chức quan: như thế là đủ để cho Giáo thọ có trách nhiệm trông nom các trường này có trong tay một công cụ tuyên truyền ghê gớm. May thay ngôi trường của chính Giáo thọ đã bị cháy, không còn nơi dạy nữa. Trần Quý Cáp đang ở nhà Tri huyện Hồ Sĩ Tạo cũng là Tiến sĩ như y, nhưng Hồ Sĩ Tạo có mẹ qua đời đã xin nghỉ về quê[54]cư tang. Trần Quý Cáp lợi dụng cơ hội đó chiếm hẳn nhà Hồ Sĩ Tạo và tại ngôi nhà này, y tiến hành tuyên truyền mạnh mẽ”[55].

Việc Phan Khôi ra Hà Nội năm 1908, được Phan Trân cho phép, nằm trong chương trình hành động của nhóm Duy Tân Quảng Nam, gởi 11 học trò: Lê Dư, Mai Dị, Nguyễn Bá Trác, Phan Khôi, Đặng Huyên, Lê Vỹ, Mai Luyện, Nguyễn Nhự, Võ Kiền, Lê Lượng và Lê Cơ, ra Bắc học tiếng Pháp ở trường Đông Kinh Nghĩa thục và có thể tìm đường sang Nhật du học. Phan Châu Trinh đã ra Bắc từ tháng 7/1907, mang theo tiền đóng góp thu được ở Quảng Nam. Trần Quý Cáp, tháng 2/1908, khi bị đổi đi Ninh Hòa đã cảm thấy nguy cơ sắp đến và cũng chuẩn bị ra Bắc. Ngày 16/2/1908, Phan Khôi đi Hà Nội. Hai thầy trò đã gặp nhau bàn bạc trước khi lên đường.
Trong bản hỏi cung, Trần Quý Cáp khai :

“Sau lúc ông ta (Phan Châu Trinh) đi, tôi có đến Tourane (Đà Nẵng) để xuống tàu thủy. Lúc đó tôi đã gặp một học trò cũ tên là Phan Khôi đỗ Tú tài, đang ở đó định sẽ đi tàu thủy ra Hà Nội và ở lại đó để học tiếng Pháp. Tôi đã nói vói anh ta là tôi nhiều lần nghe nói các năm trước tại Hà Nội, nhà nước bảo hộ có mở những văn phòng để sửa sách gọi là Tu thư, và lại có văn phòng của “Đại Việt tân báo”[56], tôi nhờ anh ta hỏi giúp tôi xem các văn phòng trên có nơi nào nhận tôi thì tôi sẽ xin từ chức Giáo thọ để xin làm việc ở đó nhằm có thể đủ tiền ăn tiêu hơn và có điều kiện mở rộng kiến văn”[57].

Trong bản hỏi cung số 24, phiên xử ngày 12/7/1908, Phan Khôi khai :

“Ngày 15 tháng 1 năm nay (16/2/1908), khi tôi xuống Đà Nẵng để ra Hà Nội học, tôi đã gặp thầy giáo cũ của tôi là ông Trần Quý Cáp (Giáo thọ) đang đi đến nhận nhiệm sở mới. Ông nhờ tôi nếu tôi gặp ông Phan Châu Trinh thì nói với ông ấy xem có thể tìm giúp cho ông một chỗ làm trong thư viện hay trong một tòa báo và viết thư báo cho ông ấy biết. Đến Hà Nội, tôi có gặp Phan Châu Trinh và tôi nhắc lại điều ông Trần Quý Cáp đã dặn. Sau đó, tôi nhờ ông nếu có viết thư cho ông Trần Quý Cáp thì xin ông ghi ở cuối thư rằng tôi đã tới Hà Nội an toàn. Sau đó, tôi đi Nam Định để học tiếng Pháp. Tôi không hề viết thư cho thầy giáo cũ của tôi, ông Trần Quý Cáp. Đoạn thư có liên quan tới tôi mà người ta thấy trong bức thư đó chắc hẳn là do ông Phan Châu Trinh viết. Vả chăng, từ khi tôi từ biệt ông để đi Nam Định, tôi không còn gặp ông nữa. Do đó, tôi không biết chính xác là ông có viết thư cho ông Trần Quý Cáp hay không”[58].

Khi Phan Khôi và các bạn ra đến Hà Nội thì Đông Kinh Nghĩa thục đã bị rút giấy phép.
Xin nhắc lại: Đông Kinh Nghĩa Thục khai giảng tháng 3/1907. Tháng 5/1907 mới chính thức được phép. Tháng 1/1908, giấy phép bị thu hồi. Ban giám đốc phải thủ tiêu hết sách vở chứng từ. Pháp bắt những người cầm đầu; bổ một số người ôn hòa vào ty giáo huấn, chức huấn đạo[59] hoặc đi Tri huyện, có người không nhận[60].
Việc đổi Trần Quý Cáp vào Khánh Hòa nằm trong chủ trương khủng bố của nhà cầm quyền cùng với việc đóng cửa Đông Kinh Nghĩa thục và Đăng cổ Tùng báo để phân tán lực lượng của tất cả những phong trào cách mạng và trừng trị những người chủ xướng.
Tháng 3/1908[61] mới bùng nổ vụ Trung Kỳ dân biến: cuộc biểu tình chống thuế bắt đầu ở huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam rồi lan rộng khắp miền Trung, hình thức bạo động, ảnh hưởng Phan Bội Châu nhiều hơn Phan Châu Trinh.
Huỳnh Thúc Kháng bị bắt ở Quảng Nam. Phan Châu Trinh bị bắt ngày 2/3/1908 tại Hà Nội. Ngô Đức Kế bị bắt từ 1907, đến 1908 bị đày Côn Đảo cùng với những người khác.
Trần Quý Cáp bị bắt ngày 16 hay 17/4/1908[62] tại Khánh Hòa, bị xử tử ngày 15/6/1908 tức là ngày 17/5 Mậu Thân[63]. Khâm sứ Trung Kỳ Lévecque không đưa Trần Quý Cáp về Kinh để xử, theo thông lệ đối với các Tiến sĩ, tại sao ? Phải chăng vì sợ Phủ Phụ chính, đặc biệt các quan Lê Trinh và Cao Xuân Dục sẽ chống lại bản án tử hình như trường hợp Phan Châu Trinh, cho nên Lévecque đã cho lệnh giết Trần Quý Cáp tại chỗ ?[64]

(Trần Quý Cáp, một nhà ái quốc cũng là người thầy của Phan Khôi)

f- Số phận Phan Khôi
và những học trò đi trốn hoặc bị bắt
:

Các thanh niên Quảng Nam được gởi ra Hà Nội học Đông Kinh Nghĩa thục tới nơi thì trường đã bị đóng cửa, bèn chạy về Nam Định, học tiếng Pháp với Nguyễn Bá Học. Phan Khôi bị bắt giải về Quảng Nam. Nguyễn Bá Trác trốn ở trong Nam một năm rồi chạy qua Thái Lan, Nhật và Tàu. Sở Cuồng Lê Dư có lẽ đã đi Nhật từ trước, sau sang Tàu…
1/ Bản án số 9, ngày 3/8 năm Duy Tân thứ hai, tức là ngày 29/8/1908, có đoạn như sau :

“Trương Huy, Lê Dư càn quấy diễn thuyết mỗi nơi chỉ trích, phỉ báng quan lại; Mai Dị, Nguyễn Bá Trác và Phan Khôi không xin phép, tự tiện đi Bắc Kỳ, dịch phục cải trang (mặc âu phục) (…) Xét tình đó, thì tự Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng xướng xuất, mà bọn này là phụ họa đấy thôi. (…) Lê Dư, Mai Dị, Nguyễn Bá Trác, Phan Khôi, Đặng Huyên, Lê Vỹ, Mai Luyện, Nguyễn Nhự, Võ Kiền, Lê Lượng và Lê Cơ, xin đều xử trượng 100, đồ 3 năm. Tựu trung Nguyễn Bá Trác tại đào, xin nên gia đẳng xử trượng 100, đày 2.000 dặm, chờ bắt được, chiếu án thi hành”[65].

2/ Phan Châu Trinh viết :

“Ông Cử nhân Nguyễn Bá Trác và Phan Khôi, Nguyễn Mai, cùng bạn học hơn 10 người ra Hà Nội học tập Pháp văn; sau vụ dân biến, đều đánh điện sức về hết. Bạn đồng học năm, sáu người tuân lệnh về làng; tức thì bị bắt làm án. Ông Cử nhân ấy sợ trốn ra ngoại quốc, nghe nói cha ông ta bị bắt giam, bức bách đủ cách, nhà ông trước cũng khá giàu, nay thì đã nghèo xơ xác, mà cái lệnh bắt bớ đến nay (1911) cũng chưa đình, như vậy thì không khác gì đẩy người ta ra ngoại quốc vậy.
Bà con của thân sĩ Quảng Nam và những người vô tội bị bắt giam đánh khảo, nhiều không kể siết, án tù khổ sai từ 2 tháng đến 3 năm ước hơn trăm[66].

3/ Về việc chạy trốn, Nguyễn Bá Trác viết :

“Ngày tháng Giêng năm 1908, tôi cùng mấy người bạn ra chơi Bắc Kỳ, định ở lại Nam Định mà học. Đến tháng 3 nhân việc ngăn trở[67] phải đáp tàu về Đà Nẵng (Tourane). Khi về đến nơi không tiện lên bờ, bèn chạy thẳng vào Quy Nhơn. Đến đấy đổ bộ đi xuyên sơn vào Phú Yên, lẩn lút trong chừng 8, 9 tháng. Ngày 24 tháng Chạp năm ấy, mới đáp mành vào Nam Kỳ. Từ cửa bể Xuân Đài mà ra khơi. Đến ngày 7 tháng giêng năm 1909, tới Mỹ Tho, lần vào Bến Tre, đến làng Tân Hướng tìm chỗ ngồi bảo trẻ. Ngày tháng Tư năm ấy, nhân theo bạn lên Sài Gòn mua sách vở. Đêm nằm nhà trọ nghe người một bên nói chuyện đi Xiêm, nghe lỏm được kỳ tàu và cách đi, bèn xuống tàu mà châm chước với một người thủy thủ. Được người ấy chịu lời rồi đêm mồng ba tháng Tư xuống tàu mà làm khách xuất dương từ đấy”[68].

“Hạn mạn du ký” là một áng văn hay, một tư liệu quý về số phận những thanh niên theo Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, như Lê Dư, Nguyễn Bá Trác, trong vụ khủng bố 1908 phải chạy trốn: sang Nhật. Nhật đuổi. Sang Tàu.
Cuối cùng, nhớ nước, phải quay về đầu thú.

4/ Kết toán các sự kiện về Phan Khôi: Phan Khôi ra Hà Nội giữa tháng 2, tháng 3 bùng nổ vụ Trung Kỳ dân biến, Phan Khôi cùng các bạn theo thầy Nguyễn Bá Học về Nam Định. Học được ba tháng thì bị bắt, khoảng tháng 6/1908 ở Nam Định. Theo bản án triều Duy Tân ngày 29/8/1908, Phan Khôi bị đánh 100 gậy và bị tù 3 năm, vì tội “tự tiện đi Bắc Kỳ không xin phép, và mặc đồ Tây”. Sau khi ra tù Phan Khôi còn bị quản thúc khá lâu: “Ra tù từ năm 1911, cho đến năm 1917, chẳng có cơ hội nào cho mình vượt khỏi cổng làng. Điều ấy, tự tôi lấy làm uất ức đã đành, mà tiên quân tôi, người lại còn lo cho tôi hơn nữa. Muốn ra đi, cái chí của tôi ở chỗ khác; nhưng thầy tôi thì chỉ mong làm sao cho tôi có đường xoay xở hầu mau thoát cái lốt tù”[69].
Về sự kiện này, Nguyễn Công Hoan đã xuyên tạc Phan Khôi bằng những dòng như sau: “Trong những người bị bắt, người thì bị tử hình, người thì bị chung thân khổ sai, hoặc hai mươi năm, mười năm, không rõ Phan Khôi đã khai báo như thế nào, hắn chỉ bị giam một thời gian ngắn”[70].

Ở tù ra, Phan Khôi vẫn tiếp tục bí mật hoạt động cách mạng một thời gian nữa. Nhưng lần này Phan Trân đổi ý, khuyên răn con, thậm chí van lơn con đừng làm cách mạng nữa, vì nhà con một. Đó cũng là một trong những lý do khiến Phan Khôi không tham gia khởi nghĩa Duy Tân, 1916, nên không bị bắt.

g- Nguời thầy đầu tiên Trần Quý Cáp:
Phan Khôi học Trần Quý Cáp 10 năm, từ 1896 đến 1906. Trần Quý Cáp (1870–1908), Tiến sĩ khoa Giáp Thìn, 1904, Huỳnh Thúc Kháng đậu Hoàng giáp cùng khoa, và Phan Châu Trinh đậu Phó bảng, 1901, là ba nhà lãnh đạo Duy Tân. Trong ba người, Trần Quý Cáp hay chữ và nguy hiểm hơn cả, bởi ông trực tiếp dạy học, hướng dẫn tư tưởng thanh thiếu niên. Học trò Trần Quý Cáp có đến nhiều ngàn người. Phan Khôi, sau khi mẹ mất, được cha gởi đi trọ học trường Trần Quý Cáp, thôn Thái La, làng Bất Nhị, trong 10 năm, từ 9 đến 19 tuổi. Phan tả lại cảnh trường như sau :

“Ở trong một xóm cuối làng, dân cư lơ thơ, nhà ở xen với những đám ruộng thổ, một nếp nhà tranh đôi khi ở trong rừng mía rậm, ấy là nhà của thầy tôi và cũng là trường học đó. (…) Thầy tôi là trang quân tử thanh bần, thiên hạ đều biết, quân trộm cướp cũng đã thấy mà chê rồi, nên dù ở đó cũng chẳng ngại chi. Còn một lẽ nữa là cái cảnh tĩnh mịch đìu hiu lại rất lợi cho sự học. Cái nhà ba gian hai chái, sườn bằng gỗ, rộng lòng căn. Trong nhà trừ ba gian bàn thờ và một cái buồng ở góc, còn thì liệt ván cả. Một bộ ván cao ở giữa là chỗ thầy ngồi; còn bao nhiêu ván thấp, cho học trò”[71].

Khoảng 1889–1896, học trò đông nhất, hàng ngày đến “nghe sách” có đến trăm rưởi, hai trăm. Người không đến nghe, chỉ nộp bài, cũng tám chục, một trăm. Mỗi kỳ khảo hạch, thầy phải chấm ba trăm quyển. Học trò đến từ các nơi, có khi cả Phú Yên, Bình Định nghe tiếng trường lớn cũng ra học. Phan Khôi viết :

“Thầy bước lên thì ngồi đó[72] quay mặt ra phía ghế xuân ý [73] coi rất nghiêm, vì bao giờ cũng khăn đen áo rộng.
Sách giảng hàng ngày là kinh, truyện, sử, mà cứ ngày chẵn ngày lẻ đổi khác nhau. Như ngày chẵn: Kinh thi, truyện Luận ngữ, sử Hán, thì ngày lẻ: Kinh dịch, truyện Mạnh tử, sử Đường. Rồi theo đó cứ luân lưu mà giảng tiếp.
Thầy ngồi yên rồi, dưới nầy một trò nào chẳng hạn, chiếu theo ngay mà mở ba cuốn sách, nhằm chỗ tiếp với hôm trước, theo thứ tự đè chồng lên nhau và đem đặt lên ghế xuân ý, trước mặt thầy.
Đọc đi ! Thầy truyền. (…) Rồi một người tốt giọng bắt đầu đọc. Đọc chậm rãi mà ngân ngợi. Được vài ba tờ, tới chỗ thầy bảo dứt thì dứt. Đến phiên thầy cắt nghĩa.”

Về “lương bổng” của thầy :

“Thầy đối với chúng tôi như chẳng thèm kể đến công dạy dỗ. Mỗi một năm hai lễ Tết, Đoan dương[74] và Chánh đán[75] trò nào đi bao nhiêu thì đi, thầy chẳng hề nói ít nhiều (…) Vì vậy nên một trường lớn như trường thầy tôi mà mỗi lễ Tết, thầy thâu vào không đầy trăm bạc”[76].

Năm 1906, Trần Quý Cáp được bổ chức Giáo thọ phủ Thăng Bình. Ban đầu ông không nhận, nhưng vì cảnh mẹ già, nghèo túng, và các bạn khuyên, ông nhận. Việc làm của ông tại phủ Thăng Bình đã đưa đến kết luận của Charles trong bản báo cáo đã trích dẫn ở trên. Huỳnh Thúc Kháng viết :

“Khi tới trường, tiên sinh mời thầy chữ Tây về dạy chữ Quốc ngữ và chữ Tây, làm cho phong khí tỉnh nhà được mở mới, như Diên Phong, Phú Lâm, Phước Bình. (…). Vì thế Tiên sinh thành ra tấm bia cho phái cựu học nhắm vào”[77].

Rồi Trần Quý Cáp viết bài “Sĩ phu tự trị luận” công kích đám “trung đẳng sĩ phu”.
Tháng 3/1908, bùng nổ vụ Trung Kỳ dân biến.

“Tiên sinh tuy đã vào miền Nam, nhưng vì cớ lãnh tụ phái tân học, lại đề xướng dân quyền tự do, cũng như cụ Tây Hồ vậy, làm cho nhà đương đạo Khánh Hòa chú mục, kiểm soát thư từ ra vào thấy có đôi câu cho là chủ động, kết án “Mạc tu hữu”[78]. Tiên sinh lên đoạn đầu đài, thật là thê thảm ! Trong lịch sử huyết lệ, Tiên sinh là người thứ nhất !

Huỳnh Thúc Kháng ghi rõ ngày 17/5 Mậu Thân, tức ngày 15/6/1908, Trần Quý Cáp bị xử tử tại Nha Trang.
Trần Quý Cáp là người hay chữ nhất trong ba vị lãnh tụ Duy Tân. Về văn bản, Huỳnh Thúc Kháng cho biết : “Về thi văn của Tiên sinh không lưu bản cảo, chỉ có đồng nhân cùng tôi còn nhớ đôi bài lượm lặt chép thành tập, gởi nơi Tiêu Đẩu Nguyễn Bá Trác”.
Phan Bội Châu viết :

“Nhớ khi ông ra tới trường chém, dao đã kề cổ, còn thung dung xin với quan giám trảm, cho đặt án đốt hương, áo mão nghiêm trang, bái tạ quốc dân ngũ bái, rồi khảng khái tựu hình, sắc mặt in như khi nhóm trò giảng sách.”[79]

Trần Quý Cáp bị xử chém. Cái chết thảm khốc của người thầy đã in dấu sâu đậm trong đời Phan Khôi và ảnh hưởng sâu xa đến đường lối văn hóa và sự tranh đấu bất bạo động của Phan Khôi sau này.

C- Con đường Văn hóa:

a- Ảnh hưởng Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh:
Người đầu tiên Phan Khôi chịu ảnh hưởng trong nghề báo là Nguyễn Văn Vĩnh. Bởi lối viết vừa đàm vừa luận của Nguyễn Văn Vĩnh trên “Đăng Cổ Tùng Bá”(1908) sau nầy thấy sống lại trong lối hài đàm của Phan Khôi.
Nhưng “Nam Phong” là nơi khởi sinh nghiệp bút, với mục bình thơ “Nam Âm thi thoại”. Bài đầu ít nhiều chịu ảnh hưởng bài “Thơ Ta thơ Tây” (có lẽ là bài lý thuyết thơ sớm nhất của Việt Nam) của Phạm Quỳnh viết năm 1917. “Nam Âm thi thoại” bình thơ theo lối Tàu, nhưng đã có những nhận thức mới về ngữ học, đặc cách Phan Khôi: trực bút, cô đọng, dùng chữ độc sáng, bất ngờ. Khi Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến viết thay, mục này không còn thú vị nữa.
Từ 1917, Phạm Quỳnh đã viết phê bình văn học, nhưng cách phê bình của ông –tóm lược tác phẩm, nói qua cái hay và cái dở– nay đã lỗi thời; ngược lại, tiểu luận, triết học, ngữ học, biên khảo và dịch thuật của Phạm Quỳnh có giá trị bất biến.


(Phạm Quỳnh) (Nguyễn Văn Vĩnh)

Phan Khôi viết phê bình văn học sau Phạm Quỳnh.
Bài “Cái cười của con rồng cháu tiên” trên “Phụ nữ Tân văn” số 84 ra ngày 28/5/1931, là một sáng tạo độc đáo: đọc “Cay đắng mùi đời” của Hồ Biểu Chánh, ông chú ý đến ý nghĩa trong cái cười của người Việt: tự nhận mình là con Rồng cháu Tiên, nhưng vô ý thức, gì cũng cười, cười cả sự tật nguyền của người khác, “cái cười vô nghĩa lý, vô ý thức, cái cười vừa ngu dại, vừa độc ác” ấy “đã thấm vào máu dân tộc nầy”. Đây là bài phê bình văn học theo lối xã hội học sớm nhất của văn chương Việt Nam. Bài này đã làm Tản Đà nổi giận, viết loạt bài “Bài trừ cái nạn Phan Khôi ở Nam Kỳ”[80], buộc tội Phan phỉ báng dân tộc và đòi “giết” Phan Khôi trên văn đàn.
Dù Phan Khôi chỉ cộng tác với “Nam Phong” trong hơn một năm, có bài in trên báo từ tháng 2/1918 đến tháng 5/1919, nhưng chịu ảnh hưởng Phạm Quỳnh khá rõ. Phan tiếc đã bỏ “Nam Phong” –có lẽ ngoài những lý do khác, còn có vấn đề hai cá tính độc đáo không thể ngồi chung, Phạm Quỳnh nhỏ hơn Phan Khôi năm tuổi, mà làm sếp, không dễ. Sau này, dù hai người có tranh luận, nhưng vẫn tương kính nhau. Thời kỳ “Nam Phong”, Phan Khôi đã học được tinh thần phê bình, óc lý luận của Phạm Quỳnh.

(Hồ Biểu Chánh với “Cay đắng mùi đời”)

(Tản Đà nổi giận vì bài viết “Cái cười của con rồng cháu tiên” của Phan
Khôi nên viết một loạt bài “Bài trừ cái nạn Phan Khôi ở Nam Kỳ”,
buộc tội phỉ báng dân tộc và đòi “giết” Phan Khôi trên văn đàn)


(Tạp chí “Nam Phong” và tuần báo “Phụ nữ Tân văn”)

b- Một đời tự học:
Phan Khôi học chữ Hán với ông nội, cha và 10 năm với Trần Quý Cáp, rồi tự học quốc ngữ và tiếng Pháp từ 1906; dịch “Kinh Thánh” trong 5 năm 1920–1925 : những “trường rèn luyện” ấy đã tạo nên nhà báo và học giả uyên thâm hai nền văn hóa Đông-Tây. Phan Thị Nga, dưới dạng phỏng vấn Phan Khôi và viết lại, ghi trên “Hà Nội báo” về việc ông học tiếng Pháp như sau :

“Ông xuống Nam Định học với ông Nguyễn Bá Học, gặp thầy hay, ông thấy sức học mình tấn tới, nhưng rủi mới học được ba tháng ông lại bị bắt giải về Quảng. Người ta kết án ông (ông Phan Thành Tài người Quảng Nam (Bảo An tây) trước làm Phán tòa sau về dạy học can vào việc vua Duy Tân, bị xử tử). Ba năm trong lao, ông tìm cách đưa sách vào học như “Lecture courante”, “Manuel” v.v… Đọc sách chỗ nào không hiểu ông lại lật tự vị ra tra. Hồi ấy, ông nghe nói có thầy Ưng Điển dạy giỏi, ông viết thư nhờ thầy Điển ra bài cho. Làm đâu được vài bài vừa bị ông án Trần Văn Thống khám xét thâu hết sách Tây-Ta, bút, giấy và nói một câu nghe rất ý vị: “Các anh còn học làm gì nữa vì có ai cho các anh thi nữa mà học !”
Mãn tù ông ra Huế xin học trường Dòng (…) ông vô học đứng chót đội sổ trong hai tháng, qua tháng thứ ba đến kỳ hạch ông trở nên đứng đầu. Gặp đại tang, ông thôi học, về quê mở lớp dạy chữ Nho và Quốc ngữ. Hai năm sau có nghị định bỏ thi, ông thôi dạy, bảo học trò: “Dạy các anh cho giỏi chữ Nho tôi vẫn dạy được, nhưng bây giờ các anh học giỏi ra chẳng làm gì được hãy học chữ Tây đi”.
Thôi dạy, ông lại cắp sách đến trường học thầy Lê Hiển, ông cùng học với học trò của ông. Qua năm sau, ông Nguyễn Bá Trác giới thiệu ông vào làm “Nam Phong”. Ông bước vào nghề báo từ lúc ấy (1918) viết được một năm, ông xuống Hải Phòng làm Thơ ký cho Bạch Thái Bưởi. Đơn từ bằng chữ Tây ngăn ngắn ông có thể xem được và viết được.
Thôi làm Thơ ký, ông lại vào Nam viết cho “Lục tỉnh Tân văn”. Làm được ít lâu, ông viết một bài kịch liệt quá, người ta buộc ông thôi, ông lại ra Bắc làm cho Hội Tin Lành. Ông chuyên dịch “Kinh Thánh” chữ Nho ra Quốc ngữ. (…). Ông sánh “Kinh Thánh” Tây với “Kinh Thánh” Tàu rồi dịch, chấm câu rất rành mạch. Làm được một năm ông lại thôi, vào Nam kiếm việc”[81].

Từ 1911 đến 1917, Phan Khôi tìm cách thoát ly khỏi cảnh bị quản thúc ở làng :

“Ra tù từ năm 1911, cho đến năm 1917, chẳng có cơ hội nào cho mình vượt khỏi cổng làng. Điều ấy, tôi tự lấy làm uất ức đã đành, mà tiên quân tôi, người lại còn lo cho tôi hơn nữa. Muốn ra đi, cái chí của tôi ở chỗ khác; nhưng thầy tôi thì chỉ mong làm sao cho tôi có đường xoay xở hầu mau thoát khỏi cái lốt tù. Vậy mà năm 1918 ra Hà Nội làm “Nam Phong” tạp chí nửa chừng lại bỏ mà về”[82].

Trong thời gian này, Phan Khôi vẫn liên lạc với những hoạt động yêu nước. Phan Thành Tài, thầy dạy Pháp văn của ông tham dự vào cuộc khởi nghĩa Duy Tân năm 1916, bị tử hình. Phan Khôi cũng được Thái Phiên rủ vào, nhưng ông từ chối. Vì cái chết của Trần Quý Cáp, nên Phan Khôi lựa chọn con đường văn hóa ? Vì ông không tin ở khả năng những người cầm đầu ? Hay vì sự cấm đoán nghiêm ngặt của cha ? Nguyễn Công Hoan sẽ vin vào cớ Phan Khôi từ chối Thái Phiên để xuyên tạc ông làm chỉ điểm cho Tây từ năm 1916.
Năm 1918, được Nguyễn Bá Trác mời vào “Nam Phong”. Đó là cơ hội tốt để vào nghề cầm bút. Nhưng chỉ được một năm, Phan Khôi bỏ “Nam Phong” vào Nam và tại Sài Gòn, ông lại gặp khó khăn với tờ “Lục tỉnh Tân văn” :

“Năm 1919 vào Sàigòn, trước làm cho “Quốc dân Diễn đàn”, sau làm cho “Lục tỉnh Tân văn”, không bao lâu bị giải chức. Những lúc ấy, về ở nhà, tôi đôi khi cũng nghĩ đến sự mình mà ân hận: Té ta tôi chẳng những là thằng người không biết chiều đời mà còn là thằng con không biết chiều cha.
Ở Sàigòn về nhà đầu mùa thu năm 1919, nằm khoèo cho đến mùa xuân năm sau, tôi thấy chán sự đeo đuổi theo đời, nhưng còn thấy chán hơn nữa là cái cảnh phẳng lì với vợ với con. Ấy thế mà mỗi khi bẩm mạng cùng thầy tôi xin lại đi nữa, thì người một hai ngăn trở không cho, lấy cớ rằng vận hạn của tôi còn xấu lắm, dẫu có đi cũng chưa làm gì được. Tôi biết làm sao có được tự do như (…) đây. Xin phép mà không được là phải chịu. Suốt một mùa đông tôi ngày nào cũng phải nốc rượu và thường thường ban đêm trốn đi đánh cờ đánh kiệu ở nhà hàng xóm”[83].

(Nguyễn Công Hoan sẽ vin vào cớ Phan Khôi từ chối Thái
Phiên để xuyên tạc ông làm chỉ điểm cho Tây từ năm 1916)

Những dòng tâm sự trên đây nói rõ nỗi khổ tâm của ông, trên đường lập thân. Tháng 3/1920, một cơ hội nữa giúp Phan Khôi thoát ly gia đình lần thứ nhì: người em họ là Phan Hạnh chết tại Thanh Hóa, Phan được người chú ủy thác ra Thanh lo mọi việc. Phan đưa hành lý của người đã khuất ra Hà Nội, định xuống Hải Phòng lấy tàu về Trung. Nhưng tại Hải Phòng, tình cờ kiếm được việc làm Thư ký cho Bạch Thái Bưởi, lương tháng 50 đồng. Được 8 tháng, 1/5/1920–31/12/1920, Phan Khôi xin nghỉ vì điều kiện làm việc quá vất vả. Trong bài “Bạch Thái Công Ty thơ ký viên”, ông có những lời chỉ trích sự bóc lột và khôn khéo của Bạch Thái Bưởi, nhưng vẫn ngụ ý khâm phục. Sau này trong một bài viết khác, ông xác định Bạch Thái Bưởi và Nguyễn Văn Vĩnh là hai nhân vật kỳ tài.

c- 1921–1925, dịch “Kinh Thánh”:
Sở dĩ Phan Khôi xin nghỉ việc, vì ông đã tìm được việc mới ở Hà Nội: dịch sách cho Hội Tin Lành của Mỹ, việc này vừa cao lương hơn vừa phù hợp với chí hướng của ông: trau dồi tiếng Pháp và tìm hiểu tư tưởng Tây phương —sau NVGP, người ta sẽ vin vào cớ này để buộc tội Phan Khôi làm việc cho Mỹ. Phan Khôi nghỉ việc với Bạch Thái Bưởi ngày 31/12/1920, và có viết thư bảo đảm báo trước một tháng. Như vậy có thể xác định: Phan Khôi đã nhận dịch “Kinh Thánh” vào khoảng tháng 11/1920.
Phan Khôi viết :

“Tôi đã từng dịch kinh điển đạo Cơ Đốc từ tiếng Pháp và tiếng Tàu ra tiếng Việt Nam. Hồi đó tôi làm việc ấy dưới quyền hai ông bà mục sư W. Cadman. Tuy họ coi tôi là người trọng yếu lắm trong việc dịch, nhưng dầu đến một câu trong đó họ cũng không để toàn quyền về tôi. Gặp câu nào nghĩa hơi khó một chút thì bà Cadman đem nhiều bổn sách ra mà đối chiếu –vì bà biết đến 13 thứ tiếng– để chọn lấy nghĩa nào đúng nhứt. Phần chúng tôi dịch chỉ có bộ “Tân ước” và một phần ba “Cựu ước” thôi, song mất đến 5 năm mới thành”[84].

Bà Phan Thị Nga ghi lại việc ông dịch “Kinh Thánh” như sau : “Ông chuyên dịch “Kinh Thánh” chữ Nho ra chữ Quốc ngữ, cứ theo nguyên văn bên chữ Hán mà dịch thì người mình xem Kinh không thể hiểu được, vì lối chấm câu chữ Hán không minh, ông sánh “Kinh Thánh” Tây với “Kinh Thánh” Tàu rồi dịch, chấm câu rất rành mạch”[85].

Trong bài “Giới thiệu và phê bình ‘Thánh Kinh Báo’ ”, có một câu Phan Khôi xác định thời gian dịch “Kinh Thánh”: “Sau hết, tôi xin có lời cảm ơn ông bà Mục sư Cadman đã gởi tặng tập báo nầy cho tôi. Vì tôi làm chung việc dịch “Kinh Thánh” với ông trong 5 năm (1920–1925), biết ông là người yêu lẽ thật, nên thấy trái thì nói, tôi chẳng lấy làm ngại chút nào”[86].
Phước Nguyên, trong bài viết “Quá trình phiên dịch ‘Kinh Thánh’ sang tiếng Việt”[87], cho biết :

Hội Công Giáo bắt đầu từ dịch “Kinh Thánh” từ 1872 và Hội Tin Lành dịch từ 1916. Ông tìm lại lịch sử những bản dịch xuất hiện từ 1892 đến 1919, và trong giai đoạn này, “Kinh Thánh” chỉ mới được dịch từng phần. Với sự đóng góp của Phan Khôi, bộ “Kinh Thánh” mới hoàn tất và được Hội Tin Lành in năm 1926”.

Phước Nguyên viết :

“1923, Thánh Kinh Hội Anh Quốc xuất bản “Kinh thánh Tân ước” tại Hà Nội. Toàn bộ “Kinh Thánh” được thực hiện xong vào năm 1925, và xuất bản năm 1926 tại Thượng Hải.
Bản dịch này do một nhóm học giả gồm có cụ Phan Khôi, ông bà giáo sĩ William C. Cadman, giáo sĩ John D. Olsen thực hiện với sự giúp đỡ của một số thành viên khác trong đó có cụ: Trần Văn Dõng, sinh viên trường Cao đẳng Đông Dương, cụ Tú Phúc và vài học giả khác. Tuy nhiên người phiên dịch chính là cụ Phan Khôi.
Trong suốt 70 năm qua, bản “Kinh Thánh” nầy được tục bản nhiều lần tại Anh Quốc, Hong Kong, Hoa Kỳ, Đức, Đại Hàn và Việt Nam. Đây là bản “Kinh Thánh” được ấn hành và sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Mặc dù chúng ta không có số liệu thống kê chính thức nhưng ước tính mỗi lần tái bản “Kinh Thánh” từ 5.000 đến 10.000 cuốn; trong suốt 70 năm qua, số “Kinh Thánh” phát hành đã được vài trăm ngàn cuốn. Có lẽ đây là cuốn sách Việt Ngữ được phát hành nhiều nhất từ trước đến nay”.

(Ông bà giáo sĩ William Charles Cadman, những người truyền giảng Tin
Lành đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam, biết nhiều thứ tiếng và rành tiếng
Việt, muốn tiếp nối công việc dịch thuật “Kinh Thánh” ra tiếng Việt cho
tín hữu Tin Lành vốn đã được bắt đầu từ năm 1916 nhưng chưa hoàn tất)

(Sách “Kinh Thánh” gồm Cựu ước và Tân ước được in lần thứ 8, tại
Saigon, do Thánh Thơ Công Hội vào năm 1963. Trong đó cũng có
phần đóng góp không nhỏ của Phan Khôi –bắt đầu từ năm 1920 đến
1925– trong số những người phiên dịch dưới sự lưu tâm và góp ý của
ông bà William Charles Cadman và được ấn hành vào năm 1926)

Sau đó Phước Nguyên liệt kê việc dịch, hiệu đính và in kinh thánh từ 1925 đến ngày nay ra chữ Quốc ngữ và chữ Nôm, và ông cho biết :

“Năm 1995, toàn bộ “Kinh Thánh” của Giáo Hội Tin Lành đã được tái bản tại Đà Nẵng (Việt Nam). Bộ “Kinh Thánh” tái bản lần này là bản “Kinh Thánh” 1926. Việc tái bản này do Hội Thánh Tin Lành Việt Nam thực hiện với sự hổ trợ của Thánh Kinh Hội liên Hiệp (UBS). Đây là bản “Kinh Thánh” đầu tiên được phép in và phát hành dưới chế độ Cộng sản Việt Nam”[88].

Bây giờ, thử so sánh đoạn Chúa giáng sinh, trong “Kinh Tân ước” qua hai bản Tin Lành và bản Công Giáo, để thấy cách dịch của Phan Khôi.
Phúc âm Matthieu (L’Évangile selon Saint Matthieu), bản Tin Lành dịch :
“…
Phúc âm Mã-Thi
Chúa giáng sinh
Sự giáng sinh của Chúa Cứu Thế Giê-xu diễn tiến như sau: Cô Ma-ri đã đính hôn với Giô-sép, nhưng khi còn là trinh nữ, nàng chịu thai do Thánh Linh. Giô-sép, vị hôn phu của Ma-ri là người ngay thẳng, quyết định kín đáo từ hôn, vì không nỡ để nàng bị sỉ nhục công khai.
Đang suy tính việc ấy, Giô-sép bỗng thấy một thiên sứ đến báo mộng: “Giô-sép, con cháu Đa-vít ! Đừng ngại cưới Ma-ri làm vợ ! Vì cô ấy chịu thai do Thánh Linh. Ma-ri sẽ sinh con trai, hãy đặt tên là Giê-xu vì Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi xiềng xích tội lỗi”[89].
…”
Bản Công giáo dịch :
Tin mừng theo thánh Mát-Thêu
Truyền tin cho ông Giu-se
Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô: bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng của Chúa Thánh Thần. Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng : “Này ông Giu-se, là con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ”[90].
…”
So sánh hai đoạn văn này, chúng ta thấy ngay tài dịch của Phan Khôi : đoạn trên ngắn hơn đoạn dưới hơn một dòng, lại rõ nghĩa và hay hơn. Ví dụ Évangile dịch là Phúc âm, Hán Việt, hay hơn Tin mừng, thuần Việt. Không kể sự vô lý ở đoạn dưới: chưa chung sống thì sao gọi là vợ chồng ? Bản tiếng Pháp phổ thông cũng ghi: “Marie, sa mère, était fiancée à Joseph” (Bà Marie, mẹ người, là vợ chưa cưới của Josep).
Tóm lại: Bản “Kinh Thánh” phổ biến hiện nay của Hội Tinh Lành, là do Phan Khôi, dịch giả chính đã dịch “Tân ước” và 1/3 “Cựu ước”. Ông đã làm trong 5 năm, 1921–1925 (đáng lý ra là 1920–1925, có thể tác giả viết lầm chăng ?).

Thời kỳ dịch “Kinh Thánh” là thời kỳ chủ chốt, đã rèn luyện ngòi bút Phan Khôi. Nhờ sự tiếp xúc sâu sắc với “Kinh Thánh”, ông hiểu văn minh Tây phương, từ nguồn cội. Ngoài ra, dịch là trường dạy ngôn ngữ, khiến sau này ở địa vị “Ngự sử Văn đàn”, không những Phan Khôi viết tiếng Việt đúng mà ông còn đòi hỏi những nhà văn khác phải viết tiếng Việt cho đúng.

(Bài báo “Người Việt Nam phải viết Quốc ngữ cho đúng” của Phan Khôi)

d- Ba năm ở ẩn Cà Mau 1922–1925:
Một dấu hỏi: Tại sao khoảng 1921–1922, Phan Khôi ở Hà Nội, có việc làm: dịch “Kinh Thánh” và viết báo “Hữu Thanh”[91]“Thực nghiệp Dân báo”, lại bỏ vào Sài Gòn ? Vậy Phan Khôi vào Sài Gòn là có “nhiệm vụ” gì, hay chỉ tình cờ ? Nhất là vào Sài Gòn rồi phải trốn xuống Cà Mau. Về việc này, Phan Thị Nga viết :

“Gặp hồi chưa có việc ông dùng thì giờ rỗi để học, ông ở tại đồn điền của một bạn ở Cà Mau, đồn điền ấy hẻo lánh quá, không có ai nói chuyện cho vui, ông vụt cầm bút viết bức thư thứ nhất, bức thư chữ Tây cho ông Dejean. Rất ngạc nhiên và khen bức thư của ông viết trôi chảy, ông Dejean bảo ông có thể dạy ông Phan trong 6 tháng, ông ta có thể viết được báo chữ Tây. Từ đó về sau ông Phan thường dịch các bài của ông Dejean viết ở các báo Tây.
Lối học của ông Phan hồi ấy là gặp chữ chi khó là hỏi, hỏi rồi tra tự vị lại cho chắc chắn và biên vào sổ con, gặp bài gì thích thì dịch”[92].

Phan An, Phan Cừ viết: “Do một sự việc gì đó, ông bị Pháp tình nghi và đe doạ, nên phải chạy về Cà Mau ẩn náu nơi nhà người bạn làm chủ đồn điền”[93].
Phan Thị Mỹ Khanh viết :

“Rồi nhân có một vụ việc gì đó xảy ra ở thành phố, ông bị mật thám tình nghi, đe dọa, phải chạy xuống Cà Mau tạm trú tại nhà một người quen thân làm chủ đồn điền tại đây. Thời gian ở ẩn ăn không ngồi rồi khá lâu, mất đến gần 3 năm, nhưng cha tôi biết tận dụng nó để làm một việc có ích là tiếp tục học tiếng Pháp bằng cách trao đổi thư từ, bài tập qua đường bưu điện với một nhà báo người Pháp ở Saigòn, tên là Dejean…”[94].

Những thông tin trên đây đưa đến một số câu hỏi :
1- Nếu không có nhiệm vụ gì, tại sao đang có việc ở Hà Nội, Phan Khôi lại vào Sài Gòn ?
2- Phan làm gì mà bị Pháp tình nghi, phải chạy xuống Cà Mau ở ẩn trong ba năm ?
3- Phan vào Nam, phải chăng vì đã nhận được thông điệp của Phan Châu Trinh từ Pháp ? Vào Nam để bắt liên lạc với Nguyễn An Ninh ? Người đầu tiên trong nhóm Ngũ Long vừa từ Paris về nước năm 1922, đang sửa soạn phát hành báo “La Cloche fêlée” ? Việc ở ẩn ba năm tại Cà Mau, trong bài Chỉnh huấn ông sẽ giấu chính quyền Cộng sản.
4- Việc Phan Khôi học tiếng Pháp với Dejean de La Bâtie, chứng tỏ ông có liên lạc với nhóm “Chuông Rè”[95].

Trong thời gian ở ẩn tại Cà Mau 1922–1925, không những Phan Khôi học tiếng Pháp hàm thụ với Dejean de la Bâtie mà còn tiếp tục việc dịch “Kinh Thánh”. Sau này, có thể người ta đã chắp nối hai sự kiện: quen với Tây (Dejean de la Bâtie) và làm việc cho Mỹ (dịch “Kinh Thánh” cho Hội Tin Lành) để xuyên tạc Phan Khôi làm bồi Tây, bồi Mỹ.

e- 1925, viết sách về Phan Châu Trinh:
Tài liệu 241 của sở mật thám Nam Kỳ, mật báo của P.Arnoux ngày 1/6/1926, gởi Thống đốc Nam Kỳ và Phủ Toàn quyền Hà Nội, ghi :

“Tú tài Phan Khôi mà tôi đã báo Ngài cách đây mấy tháng như là một đồ đệ của Phan Châu Trinh, đã viết một tác phẩm mang tên đơn giản là “Phan Châu Trinh” tôi đã có trong tay tập sách đó với 94 trang đánh máy (…) Kèm theo tiểu sử của Phan Châu Trinh, tác phẩm này chứa đựng các bình luận về đời sống chính trị, tư tưởng, các dự án và công việc tuyên truyền ở Đông Dương, ở Pháp và ở nước ngoài, những quan điểm chính trị của con người được dân An Nam coi là nhà đại ái quốc. Nếu được in ra, chắc chắn sách này sẽ được hoan nghênh và kích động những người An Nam đọc chống đối chính phủ bảo hộ (…)
Phan Châu Trinh đã cho gọi Tú tài Phan Khôi vào Nam Kỳ với ý đồ cho y viết tác phẩm này và nhiều tác phẩm chính trị khác. Nhưng tình hình sức khoẻ không cho ông ta thực hiện hoàn toàn ý đồ đó. Phan Khôi đang soạn thảo ra một tác phẩm theo dạng đó với những thông tin do các bạn cũ thân cận của Phan Châu Trinh cung cấp, trong đó có Huỳnh Thúc Kháng. Phan Khôi tính dựa vào nhà in Bảo tồn Thư xã, đang chuẩn bị ra đời để xuất bản tác phẩm của y (…) Phan Khôi ở nhà họa sĩ Ky, đường Martin des Pallières. Y quan hệ thường xuyên với Nguyễn Pho và Dejean de la Bâtie”[96].

Theo mật báo này, ý đồ tiếp tục sự nghiệp của Phan Châu Trinh khá rõ. Từ 1925 đến 1928, Phan Khôi viết cho “Thần Chung”, “Đông Pháp”, “Văn Học” ở Sài Gòn và gởi bài cho “Đông Tây” ở Hà Nội. Hiện nay chưa in sưu tập các bài Phan Khôi viết trong thời gian này. Đây là giai đoạn Pháp đã bình định nền cai trị, với những yếu tố quan trọng :
– Đám tang vĩ đại của Phan Châu Trinh, mà Phan Khôi đã tham gia tổ chức và viết bài “Hiệu triệu quốc dân”.
– Phan Bội Châu bị bắt, nhưng Pháp không áp dụng án tử hình, xử vắng mặt trước đó, chỉ đem về quản thúc tại Huế: về việc này, Nguyễn Thế Truyền đã góp phần quan trọng, cổ động trên báo “La Paria” và vận động Hội Nhân quyền tại Pháp.
– Sự tung hoành của ngòi bút Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường trên các báo “La cloche fêlée”“L’Annam”, tại Nam Kỳ.
– Sự vận động của Phạm Quỳnh qua các bài diễn thuyết tại các trường lớn, trong chuyến đi Pháp 1922 dẫn đến việc Pháp cải cách giáo dục: bỏ ý định Pháp hóa người Việt (thay chữ Hán bằng chữ Pháp). Lần đầu tiên mở cấp sơ học ở Trung và Bắc, năm 1924, dạy tiếng Việt cho học trò từ nhỏ –sẽ nói rõ hơn trong chương Vụ án “Nam Phong”.
Dường như những yếu tố quan trọng này đã khiến Phan Khôi thấy sức mạnh của ngòi bút, ông chuẩn bị bước vào giai đoạn nòng cốt: “Phụ nữ Tân văn”.

f- 1928–1932: Thời kỳ “Phụ nữ Tân văn”:
Từ năm 1928 đến 1932, ngòi bút Phan Khôi tả xung hữu đột trong tất cả các “mặt trận” tranh đấu xã hội và văn hóa. Hầu như ông chỉ ở trong Nam, thỉnh thoảng có viết bài cho báo Bắc, nhưng Nam Kỳ vẫn là đất chính. Lập luận đấu tranh dựa trên khí giới: phê bình.
– 1928: Phê bình Trần Huy Liệu trên báo “Đông Pháp”. Đặt vấn đề: Phải viết sử cho đúng.
– 1929: Phê bình Khổng Giáo ở “Thần Chung”. Tranh đấu nữ quyền và Đòi hỏi phải viết tiếng Việt cho đúng trên “Phụ nữ Tân văn”.
– 1930: Tranh luận với Phạm Quỳnh và Trần Trọng Kim trên Phụ nữ Tân văn”.
– 1931: Phê bình cuốn “Cay đắng mùi đời” của Hồ Biểu Chánh trong bài “Cái cười của con rồng cháu tiên” trên “Phụ nữ Tân văn”. Đây là bài phê bình văn học đầu tiên viết theo lối hiện đại.
– 1932: Công bố “Một lối ‘thơ mới’ trình chánh giữa làng thơ” và bài “Tình già”, cả hai được coi là bản tuyên ngôn của Thơ mới, trên “Tập văn Mùa xuân”, báo “Đông Tây”, rồi “Phụ nữ Tân văn”.
Tư tưởng và phong cách Phan Khôi được xác định trong thời kỳ “Phụ nữ Tân văn”, vừa cùng dòng chẩy với Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, trong việc dịch thuật, giới thiệu tư tưởng Tây phương và đặt nền móng Quốc ngữ bằng cách phát triển từ vựng, nghiên cứu tiếng Việt. Lại vừa đối lập với hai vị học giả này, trong cách đưa tinh thần phản biện vào triết học, sử học, văn học và xã hội học.

g- Phan Khôi và Cộng sản:
Khi lên án Phan Khôi, người ta thường dẫn chứng rằng ông đã nói hoặc viết câu này câu kia chống Đảng, chống Bác, là sai cả. Thực ra Phan Khôi chẳng coi Cộng sản ra cái gì, ông chống cái dốt, cái độc tài, cái thần tượng hóa, và cái ngu dân, từ trước khi có Bác và Đảng viết hoa. Ngay từ năm 1930, khi Cộng sản mới nhen nhúm ở Việt Nam, ông đã viết mấy bài về cái ngu và cái dốt của họ: như bài “Quân cách mạng đời nay”[97] nói về việc ông Tướng cách mạng Trần Đại Lộc, dơ tay lên trán đỡ đạn; bài “Quốc ngữ của bọn Cọng sản”[98] nói về việc Cộng sản muốn sửa chữ: “Pháp” viết là “Fáp”, “gì” viết là “zì”, “đ” viết là “d”. Ý ông: Nếu chỉ muốn thay đổi Quốc ngữ thì cũng chẳng sao, nhưng họ lại chủ trương Đấu tranh Giai cấp mới bậy.
Bình sinh, ngòi bút Phan Khôi không sợ ai bao giờ: Năm 1906, ông viết đơn kiện triều đình vì thi cử gian lận. Năm 1928, ông viết bài “Cái dốt của triều đình Huế”[99] đại ý nói: làm Hán Việt từ điển, mà không biết từ điển với tự điển khác nhau như thế nào[100].
Năm 1928, bàn về việc cấm sách, ông viết :

“Ở thế kỷ hai mươi, đâu đâu người ta cũng hô lớn nào tự do, nào tôn trọng quyền ngôn luận, quyền xuất bản, mà lại có cái chuyện cấm sách mới lạ. Vậy thì chúng tôi viết đây để làm chi ? (…) Một cuốn sách không cấm thì người ta coi như thường, không chú ý. Đến cấm đi một cái, thì hết thẩy ai nấy đều chú ý vào nó. Cấm đi, là muốn cho người ta đừng đọc, mà không ngờ lại làm cho người ta càng đọc ! (…) có nhiều cuốn sách hiển thánh rồi. “Việt nam vong Quốc sử”“Hải ngoại Huyết thư” đã hiển thánh hai mươi năm nay (…) Không có cái thú gì bằng cái thú trong lúc trời mưa, đóng cửa cho chặt lại, rồi… đọc sách cấm ! Cái thế lực của sách cấm là như vậy, còn cấm sách nữa thôi ?…[101].

Những lời này mà viết ngày nay thì bị coi là nói xấu Đảng, là phản động, chẳng tờ báo nào dám in. Nhưng sự thần tình của một tác giả lớn là tuy Phan nói phiếm về những việc dưới thời Pháp thuộc, cách đây 90 năm, mà lại rất trúng với việc thời nay. Trong thuật ngữ văn học, người ta gọi đó là một nhà văn có tính hiện đại.
Về chuyện cấm in, cấm sách, có một số bài của Phan Khôi, đăng trên báo “Trung Lập”, Sài Gòn, 1930, được Lại Nguyên Ân sưu tầm. Nhưng khi in thành sách, gia đình tự kiểm duyệt bỏ đi. Bản trên mạng lainguyenan.free.fr đầy đủ hơn.
Trong số những bài bị bỏ, có bài “Khoái cho ông Mussolini”[102] vì nội dung khen Mussolini nên bị loại, oan. Việc khen Mussolini, năm 1930, chẳng đáng xấu hổ, mà phải cắt, vì lúc ấy, bộ mặt trái của đảng Phát-xít chưa được thế giới biết đến. Phan khen cái gì ? Phan khen Mussolini đã cấm tiệt thói ăn mày: khi nước Ý có nơi bị động đất, gần 2.000 người chết, vậy mà Mussolini cấm không được lập hội này hội kia xin tiền. Gần đây nước Nhật vừa động đất, vừa sóng thần, vừa bể lò nguyên tử, mà họ có ngửa tay xin tiền ai đâu ? Mussolini chẳng được cái nết gì, nhưng ít ra cũng được cái nết dạy dân không đi ăn mày. Mà cái nết ấy, dân ta, hiện nay đến cả lãnh tụ, cũng còn đang cần phải dạy. Phan Khôi hiện đại là ở chỗ đó.
Bài “Hơn hai trăm năm còn thúi” cũng bị cắt, vì ông kể chuyện ngày 11/5/1930, “có một nhà nọ đào móng đặng xây nhà, trong khi đào, phát lộ ra một cái quan tài xưa coi bề ngoài còn chắc. Người ta bèn mở ra xem thấy thi thể đã nát rồi, chỉ còn có bộ xương và quần áo. Quần áo cái dáng vẫn tươi tốt, nhưng khi động tới liền hóa ra tro. (…) Thế nhưng lạ một điều là lúc dỡ ra, hơi hám xông lên vẫn còn thú nực thúi nồng (…) Vậy mới biết giống người ta là giống thúi hơn hết thẩy mọi loài (…) Cái thúi hai trăm năm còn chưa mấy chút; có cái thúi đến muôn năm, là kẻ “di xú vạn niên” kia”[103].
Bài này chẳng hề nói động đến ai, chỉ nói chuyện… đào mả, tuyệt không chạm húy, mà người ta cũng sợ “nhạy cảm” phải cắt đi. Ý Phan Khôi: những kẻ nhất thời “vàng ngọc dát đầy, tiền hô hậu ủng” nhưng chả biết mai sau thế nào, có “di xú vạn niên” chăng ? Ví như Tần Thủy Hoàng đốt sách ? Thời ấy có mấy ai đọc sách, mấy ai biết chuyện ? Nhưng bọn nhà văn thường nhớ dai và bênh nhau xuyên thế kỷ. Đụng đến sách vở, thì hậu quả khó lường.
Còn bài “Thúi thây” bị cắt là đúng lắm, vì Phan dám đụng tới thây ông Lê Ninh. Từ 1930, Phan đã chẳng coi ông thánh này ra gì :

“An Nam ta hay mắng những người biết ăn mà không biết làm là “đồ thúi thây”. Kỳ thiệt An Nam ta thuở nay có mấy ai mà thây bị thúi bao giờ. Duy thấy bây giờ, cái thây ông Lê Ninh nước Nga bị thúi đó thôi. Việc đời hay tréo nhau là vậy, ông Lê Ninh lại là người ăn ít mà làm nhiều !
Không biết hồi họ ướp xác ông thế nào mà ngày nay đến nỗi thúi ra. Cứ theo tin mới đây thì xác ấy không thể để được nữa mà phải thiêu ra tro. Nếu vậy thì ra khoa học ngày nay lại dở hơn ngày xưa.
Ai có tri thức khá một chút, há không biết bên Ai Cập đời xưa có cái thuật ướp xác để lâu kêu là “momie” hay sao ? (…) Xứ Nga lạnh hơn Ai Cập, sao xác ông Lê Ninh lại thúi ? (…) Đến như xứ An Nam mình, thuộc về ôn đới, khí hậu điều hòa, có lẽ giữ xác được lâu mà không thúi chăng ? Song ngặt vì An Nam ta lại không có cái xác nào đáng ướp hết; cái thây nào cũng đáng để cho thúi quách hết thẩy[104].

Bạn đọc ngày nay phải phục Phan Khôi là tiên tri !
Những việc ông viết cách đây hơn 80 năm mà cứ như bây giờ. Văn học gọi đó là tính hiện đại.

h- Phê Bình Lãnh đạo văn nghệ và “Nắng Chiều”:
Thời kỳ NVGP, bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” là tác phẩm tiêu biểu. Phan Khôi vẫn “ngựa quen đường cũ”, xử sự như dưới thời phong kiến, nghĩa là nghĩ sao viết vậy. Ông kê khai toạc hết những nét chính trong đời sống văn nghệ: kiểm duyệt lời nói, chữ viết, cấm phê bình, chỉ đạo sáng tác, đàn áp nhà văn, thánh hóa lãnh tụ, bè phái văn nghệ.
1- “Tôi muốn nói sự thực” –Nhưng người ta bảo: “Có những sự thực không nên nói”.
2- “Tôi muốn phê bình” –Nhưng người ta bảo: “Phê bình nội bộ thì được, không nên viết lên báo, bên địch chúng thấy chúng sẽ xuyên tạc”.
3- Về việc “giáo dục sáng tác”:
“Nhược bằng bắt hết mọi người viết, phải viết theo lối với mình thì rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết”.
“Đảng giáo dục Xuân Diệu làm cách mạng chứ có giáo dục Xuân Diệu làm thơ đâu !”
4- Về sự đàn áp nhà văn: “Hỏi độc tội một Trần Dần thôi là cái ngón chính trị tài tình lắm đấy, để cô lập Trần Dần và phân hóa những người trong ‘Giai Phẩm’, cái ngón ấy đã thành công”.
5- Về việc tôn sùng lãnh tụ :

“Tôi còn nhớ có vị bắt lỗi trong bài thơ Trần Dần có chữ Người viết hoa, lấy lẽ rằng chữ Người viết hoa chỉ để xưng Hồ Chủ tịch, thế mà Trần Dần lại viết hoa chữ Người không phải để xưng Hồ Chủ tịch. Tôi ngồi nghe mà tưởng như ở trong chiêm bao, chiêm bao thấy mình đứng ở một sân rồng nọ, ông Lê mỗ tố cáo ông Nguyễn mỗ trước ngai vàng:
“Trong phép viết chỉ có chữ nào thuộc về Hoàng thượng mới phải đai, thế mà tên Nguyễn mỗ viết thư cho bạn dám xài những chữ không phải thuộc về Hoàng thượng”.
Nhân may cho tôi, tôi tỉnh ngay ra là mình đang ngồi ở trong phòng họp Hội Văn nghệ”.

6- Về tính gian lận trong việc chấm giải thưởng văn học 54–55 :

“Cả ba ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh đều có tác phẩm dự thi mà đều ở trong ban chung khảo. Nếu ở trong ban chung khảo mà thôi còn khá, thử điều tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở ban sơ khảo nữa, sao lại có thể như thế ? Trường thi phong kiến xưa, tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn sạch tiếng. Một người nào có con em đi thi thì người ấy có được cắt cử cũng phải hồi tỵ, không được chấm trường. Bây giờ đến cả chính mình đi thi mà cũng không hồi tỵ, một lẽ là ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đã đổi mới, đã liêm chính cả rồi, một lẽ trắng trợn vì thấy mọi cái miệng đã bị vú lấp”.

Phê bình lãnh đạo văn nghệ trở thành kim chỉ nam cho các nhà văn trên con đường đòi tự do tư tưởng. Dưới cái tựa: “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”, Phan Khôi phê bình cả lãnh tụ tối cao Hồ Chí Minh, điều không thể chấp nhận được trong xã hội Cộng sản.
Còn một tác phẩm nữa, hầu như không ai biết, đã bị chôn vùi, đó là tập truyện ngắn “Nắng chiều”. Vào lúc “dầu sôi lửa bỏng”, toàn bộ NVGP đã bị đóng cửa được một năm, đang chờ lệnh của Đảng, Phan Khôi đem tập “Nắng chiều” đến Hội Nhà văn để in. Trong bài “Tư tưởng phản động trong sáng tác của Phan Khôi”, Đoàn Giỏi viết : “Tháng 12/1957, Phan Khôi đưa đến nhà xuất bản Hội Nhà văn một xấp bản thảo dầy, bên ngoài đề hai chữ “Nắng chiều”[105].
Mượn giọng đả kích, để công bố cho hậu thế biết nội dung tác phẩm cuối cùng của Phan Khôi, Đoàn Giỏi đã bị trừng phạt như một thành viên NVGP.
“Nắng chiều”, gồm những bài bút ký và tạp văn viết trong kháng chiến, và mấy bài viết sau 1954: “Cầm vịt”, “Tiếng Chim”, “Cây Cộng sản”, “Thái văn Thu”, “Chuyện ba ông vua Càn Long”, “Quang Trung và Chiêu Thống”, “Giới thiệu Nguyễn Trường Tộ”.
Đoàn Giỏi đã giới thiệu từng văn bản một :
Truyện “Thái văn Thu” chống lại bạo lực cách mạng và sự đàn áp NVGP. “Chuyện ba ông vua Càn Long” đả kích chế độ phong kiến ngày nay. Bài “Nguyễn Trường Tộ” so sánh chế độ hiện hành với những triều đại phong kiến trước. Riêng hai bài “Cầm vịt”“Tiếng chim”, Phan Khôi “đánh vào vấn đề căn bản của chủ nghĩa Mác-Lê Nin”, để xác định : Xã hội không có Đấu tranh Giai cấp. Của ai người nấy ăn. Vấn đề Đấu tranh Giai cấp chỉ là kiểu rình phần ăn của kẻ khác. Đoàn Giỏi trích một đoạn trong bài “Tiếng chim” của Phan Khôi :

“Một lần ở Cẩn Nhân, tôi ngồi nơi nhà sàn, thấy hai con quạ rình bắt con gà con, một con bắt được bay ra đứng ở bờ ruộng, xé con gà ra ăn; còn con kia bị gà mẹ chống cự, bắt không được, cũng bay ra đứng cạnh con quạ thứ nhất, nó nhìn sững và đi đi lại lại, rồi cũng bay đi tuốt, nó không hề nói: “Mầy phải cho tao với !” ”.

Đoàn Giỏi giải thích như sau :

“Vấn đề thứ nhất Phan Khôi đặt ra là không có người bóc lột người. Vấn đề thứ hai là của ai người ấy ăn. Cho đến thứ quạ kia còn biết giành giật cái miếng không phải của nó là không ổn, và không hề nói: “Mầy phải chia cho tao với” ”.

Bài thứ nhì “Cây Cộng sản” được giới thiệu khá kỹ, Đoàn Giỏi viết :

“… Cây Cộng sản, ngay câu đầu, Phan Khôi đã chỉ ngay vào Việt Bắc, quê hương cách mạng: “Có một thứ thực vật nữa cũng như sen Nhật bản, ở xứ ta trước kia không có mà bây giờ có rất nhiều. Đâu thì tôi chưa thấy, chỉ thấy trong mấy tỉnh Việt Bắc, không chỗ nào là không có”. Đầu tiên Phan Khôi thấy nó rải rác mấy nơi ở tỉnh Phú Thọ, và nhiều nhất là ở Thái Nguyên và Tuyên Quang. Nó mọc trên thị trấn bị ta phá hoại “như rừng, ken kít nhau”. Nơi gọi là Cỏ Bù-xít vì nó có mùi hôi như con bọ xít, nơi gọi là Cây Cứt lợn, nơi gọi là Cây chó đẻ. “Tên đều không nhã tí nào hết, thứ cây ấy những người có học không gọi bằng Cây Cứt lợn dại, mà gọi bằng Cây Cộng sản”.[106]”.

Rồi Đoàn Giỏi kể tiếp về gốc gác cái tên này :

“Phan Khôi bịa ra là trước kia xứ ta không có cây này, người Pháp đem đến giồng ở các đồn điền cà phê, cao su, rồi chẳng bao lâu nó lan ra, không diệt được, tình trạng này bắt đầu từ những năm 1930–31, cùng lúc Đông Dương Cộng sản Đảng bắt đầu hoạt động, “phong trào Cộng sản cũng lan tràn nhanh chóng như thứ cây ấy, cũng không trừ khử được như thứ cây ấy cho nên bọn Tây đồn điền đặt tên nó là “herbe communiste”, đáng lẽ dịch là cỏ Cộng sản, nhưng nhiều người gọi là Cây Cộng sản. Nó còn một tên nữa rất lạ…”

Tên này là gì ? Thì Phan Khôi lại bịa lời một ông già Thổ :

“Ông nói tên nó là “Cỏ cụ Hồ”. Thứ cỏ này trước kia ở đây không có, từ ngày cụ Hồ về đây lãnh đạo cách mạng, thì thứ cỏ ấy mọc lên, không mấy lúc mà đầy cả đường xá đồi đống, người ta không biết tên nó là gì, thấy nó cùng một lúc với cụ Hồ về thì gọi nó như vậy”.
Tại sao Phan Khôi đem Cây Cứt lợn, cũng gọi là Chó đẻ, là Bọ xít “toàn những tên không nhã tý nào nào hết” để gọi nó là Cây Cộng sản và Cỏ cụ Hồ ?[107]

Câu hỏi “ngây thơ” của Đoàn Giỏi chứng tỏ sự “đồng loã” của ông với tác giả “Nắng Chiều”. Và Đoàn Giỏi đã phải trả giá. Đây là lần cuối cùng Phan Khôi dùng ngòi bút châm biếm của mình để chống lại sự độc tài và dốt nát, mà ông đã mục kích và đả kích từ năm 1930.
Cũng về tập bản thảo “Nắng Chiều”, Chế Lan Viên lại một lần nữa hiện ra như một hung thần của trí thức và chữ nghĩa qua sự mô tả của Đào Vũ :

“Đồng chí Chế Lan Viên lúc ấy có đọc bản thảo kia. Đồng chí Chế Lan Viên lúc ấy có phân tích nhiều mặt về những ám ý xấu xa, phản động trong những “tìm tòi” ấy của Phan Khôi; và tỏ ý rất công phẫn. Chúng tôi cũng đồng tình”.

Vẫn theo Đào Vũ, khi “Phan Khôi nói với chị Chế Lan Viên nên về khuyên bảo anh ấy đừng đi theo lãnh đạo”, thì Đồng chí Chế Lan Viên “lên tận phòng của y cho một bữa nên thân. Những nào: Đừng cậy già mà nói láo, đây ba mươi năm nữa cũng già, đồ đốn mạt đồ hèn v.v…”[108].

i- Những ngày tháng cuối:
Gia đình Phan Khôi nhận hậu quả cuộc “Đấu tranh Giai cấp” khi ông đang ở Việt Bắc. Đào Vũ kể :

“Đồng chí cùng quê với Phan Khôi ôn lại chuyện nhân dân địa phương căm thù định đến tàn phá nhà Phan Khôi từ phong trào bình dân (1936) và cho biết, ý định ấy mãi đến sau cách mạng (sau 1945) mới thực hiện được: Những nương dâu phì nhiêu kia của Phan Khôi bà con nông dân đã giành lấy về tay chia nhau trồng trọt, tre nhà Phan Khôi, vì căm thù, bà con đốn không còn một gốc, nhà của Phan Khôi, bà con đập lấy gạch về xây bao nhiêu hầm khắp làng để che chở cho dân làng kháng chiến trường kỳ. Giữa Phan Khôi và nông dân địa phương từ bao lâu, đã diễn ra một cuộc Đấu tranh Giai cấp gay gắt”[109].

Sau “Nhân Văn”, Phan Khôi bị đuổi khỏi 51 Trần Hưng Đạo, Trần Duy viết :
“…
Cũng từ dạo ấy, tôi thấy sức khoẻ của ông Phan Khôi sa sút. Có lúc thấy ông đi không vững. Có lúc thấy ông khó thở. Ông nói với tôi ông bị sốt thường xuyên, xin được đi khám bệnh nhưng không ai ký giấy giới thiệu.
Một buổi chiều tôi đến 51 Trần Hưng Đạo thì gặp cảnh: Một quan chức có quyền lực quát đuổi vợ chồng ông ra khỏi số nhà 51 Trần Hưng Đạo.
Người này quát lớn:
“Tống cổ thằng già khốn nạn này ra khỏi đây !”
Vợ ông, bà Huệ ôm chăn màn, sách vở; ông Phan Khôi lảo đảo theo sau. Ra cổng gặp tôi, ông chào và nói:
“Thôi, anh về đi… Buồn không cần thiết !”[110]
…”
Bị đuổi khỏi 51 Trần Hưng Đạo, Phan Khôi dọn về số 10 Nguyễn Thượng Hiền, rồi 73 Phố Thuốc Bắc. Lâm Bích Thủy, con gái nhà thơ Yến Lan, viết về căn nhà cuối cùng này :
“…
Gia đình tôi ở phía dưới, giữa 5 gia đình khác, kề vách là gia đình cụ Khôi. Phía ngoài căn nhà cụ là chân cầu thang của hộ bà Cán, đến bể nước công cộng. Căn dành cho gia đình cụ là một cái buồng khép kín, rộng chừng 9 m2, bằng 3/4 gian nhà tôi, có thể đấy là nơi thờ cúng của chủ trước. Giữa nhà tôi và nhà cụ là một cửa sổ nhỏ, to bằng bàn cớ tướng. Tôi thường ngồi cạnh cửa sổ nhà cụ giặt giũ.
Ban đầu mới dọn về, tôi thấy ba tôi và các chú nhà thơ hay vào phòng cụ Khôi uống trà, bàn chuyện thời sự, bình luận những bài thơ vừa đăng báo; bọn trẻ chúng tôi chạy vô chạy ra nhà cụ để chơi với các anh các chị con cụ, mọi người đều thân thiện, cởi mở. Thế rồi, dần dần tôi thấy có một điều gì đó, lung lắm. Các cô các chú không xởi lởi như trước nữa. Trong cư xử tỏ ra dè dặt, dò xét. Nhà cụ Khôi cứ vắng dần bóng người lớn, vắng dần tiếng trẻ. Không khí trong ngôi nhà nặng nề, xét nét, xa lạ. Tôi hỏi má tôi: “Tại sao vậy ?”. Bà nói nhỏ sợ người khác nghe: “Ông Khôi đang bị coi là người cầm đầu nhóm ‘Nhân Văn Giai Phẩm’, con không nên vào nhà cụ, có người đang theo dõi nhà mình đấy…”. Tôi không hiểu “Nhân văn Giai phẩm” là tội gì, nặng đến mức nào mà ai cũng sợ liên lụy đến như thế. Tuy không nói ra nhưng ai cũng muốn chứng minh rằng mình không hề có quan hệ thân mật với gia đình cụ Khôi. Họ tránh nhà cụ như thể nhà có bệnh dịch lây lan. (…) Dường như gia đình cụ hiểu được điều băn khoăn của mọi người nên tế nhị lấy báo dán kín cửa sổ lại. Lâu lâu tôi thấy cụ ngang qua nhà, vẫn dáng người cao, nhưng gầy yếu hơn trong bộ đồ Tây màu vàng nhạt, tóc còn lơ thơ vài cọng bạc trắng, ẩn sau chiếc mũ phớt màu nâu. Trên tay cụ giờ có thêm chiếc ba-toong, gặp ai cụ không nhìn, mắt hướng thẳng phía trước như chưa hề biết họ.
Như trước đây, tôi vẫn ngồi giặt bên bể nước, cạnh cửa sổ nhà cụ. Tôi liếc nhìn cụ qua cửa sổ. Cụ ngồi trên giường, giờ cụ trầm ngâm, buồn buồn, mắt nhìn đâu đâu, tôi thương cụ quá chừng. Có lần tôi nghe cụ ngâm bằng giọng Quảng Nam: “Làm chi cũng chẳng làm chi / Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao / Làm sao cũng chẳng làm sao / Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi…”[111]
…”

j- Cái chết của Phan Khôi:
Phan Cừ, Phan An viết :

“Ông nằm quay mặt vào tường lặng lẽ trút hơi thở cuối cùng, trong sự túc trực chăm sóc của bà vợ Nguyễn Thị Huệ (…) Cỗ xe song mã màu đen quàn thi hài ông, đi sau là vợ con, cháu cùng một vài bạn hữu tiễn ông lần cuối đến nghĩa trang Hợp Thiện ở phía đông thành phố Hà Nội. Trong chiến tranh, phần mộ của ông bị thất lạc[112].

Phan Thị Thái viết :

“Mộ cha tôi được ghi dấu bằng tấm bia nhỏ mang tên: Chương Dân (…) Khoảng một năm trước khi mất, thầy tôi rất buồn. Mỗi dịp nghỉ hè về thăm thầy, tôi thường thấy người ngồi bàn viết lách hoặc đọc sách.
Có khi nằm đọc rồi ngủ quên nhưng hai tay vẫn giữ chặt quyển sách dày cộm, hầu hết là sách chữ Hán. Hầu như thầy tôi không có thì giờ rảnh. Sáng sáng đi vài ba đường quyền, ăn uống điểm tâm rồi ngồi vào bàn làm việc cho đến tối. Chỉ có một tuần trước khi mất, vì quá đuối sức, người đành phải lìa chiếc bàn và quyển sách. Gia tài lớn mà thầy tôi để lại cho chúng tôi là sách và rất nhiều các bài viết, các bài nghiên cứu về tiếng Việt và chữ Hán. Chúng tôi đã gìn giữ tất cả trước tác của thầy tôi trong nhiều năm và sau đó đã chuyển giao cho Viện Hán Nôm để các đồng nghiệp của ông tiếp tục công việc nghiên cứu, dịch thuật”[113].

Lâm Bích Thủy viết :

“Chở linh cữu cụ là một chiếc xe có hai con ngựa kéo bị che hai bên mắt, khoảng bảy hoặc tám người, kể cả người đánh xe ngựa và ba tôi –nhà thơ Yến Lan. Nhưng điều để lại sau đám tang là sự dè bỉu và mỉa mai đối với ba tôi mà người thời bấy giờ gọi là ”thằng”. Sáng hôm sau, ngoài phố, họ kháo nhau bằng những câu: “Nghe nói ngoài gia đình còn có thằng cha nhà thơ nào đó cả gan đưa đám lão Phan Khôi”. Giải thích điều này ba tôi nói: “Đó là đạo lý của người Việt Nam –Nghĩa tử là nghĩa tận”[114].

Theo Lại Nguyên Ân, nghĩa trang Hợp Thiện bị chiếm đất dần để xây nhà. Năm 1970, nghĩa trang này được chuyển lên Bất Bạt. Những ngôi mộ bị dời đi, có đánh số, nhưng sau gia đình không tìm lại được. Tất yếu của định mệnh ? Hay là vẫn cố tình xoá dấu Phan Khôi ?
Được biết những năm gần đây đã có ngôi mộ của Phan Khôi ở Điện Bàn, chúng tôi hỏi nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân về việc này, qua điện thư ngày 27/7/2012, ông cho biết :
“…
Chuyện mộ Phan Khôi, thì con trai ông là Phan An Sa kể cho tôi :
Năm 1959 ông mất, được chôn cất tại nghĩa trang Hợp Thiện, Hà Nội. Theo anh Sa thì mộ ở phía đông khu nghĩa trang. Khu nghĩa trang này, từ những năm 1960 bị lấn từng phần làm một số cơ quan, xí nghiệp như nhà máy mỳ kẹo Hải Châu, kho của mấy công ty thương mại quốc doanh, rồi phần giữa nghĩa trang cũng sớm bị dùng làm bãi chiếu bóng Mai Động, v.v… Đến đầu những năm 1970 chính quyền Tp. Hà Nội cho chuyển toàn bộ các ngôi mộ còn lại ở nghĩa trang Hợp Thiện lên nghĩa trang Yên Kỳ ở huyện Ba Vì (khi đó thuộc tỉnh Hà Tây), lấy đất xây thêm một nhà máy dệt.
Theo tôi hỏi một số viên chức làm ở Cty quản lý nghĩa trang Hà Nội, thì các ngôi mộ chuyển lên chỉ được đánh số chứ không gắn bia mộ họ tên, phần họ tên ở bia mộ cũ được ghi vào sổ lưu lại Cty quản lý nghĩa trang, gia đình nào cần tìm phải tới xem sổ lưu ấy để xác nhận lại vị trí mộ ở nơi mới Yên Kỳ.
Tuy vậy, các con ông Phan Khôi tìm đến vị trí mộ ở Hợp Thiện theo trí nhớ thì không thấy, đào cũng không thấy, hình như cũng không có hồi âm gì từ thông tin về số mộ đưa lên Yên Kỳ, cuối cùng đành bốc một ít đất ở nơi mà họ nhớ là nơi chôn lần đầu, đem về trong quê ở Quảng Nam chôn vào trong ngôi mộ trống, tất nhiên có khắc bia họ tên lên đấy.
…”
Điều mà Phan Khôi làm cho bà Cố cách đây hơn nửa thế kỷ, tức là kiện cái chế độ phong kiến, để mộ của bà cố được trở về chôn ở mảnh đất gia tiên, hiện chưa ai làm cho ông. Phan Khôi có mười con, bao nhiêu cháu ? Nếu ngày nay có một sự xám hối nào đó về phía chính quyền, hẳn không phải là những lễ kỷ niệm, với những bài ca tụng vô bổ, mà là việc tìm lại hài cốt Phan Khôi trong đám mộ ở Yên Kỳ, xác định ADN, để dựng lại ngôi mộ Phan Khôi, cho xứng đáng với địa vị của một trong những nhà văn, nhà trí thức và tư tưởng hàng đầu của Việt Nam trong thế kỷ XX.

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]
[16] [17] [18] [19] [20] [21] [22] [23] [24] [25] [26] [27] [28] [29]

===========================================

Phụ Chú :
[1] Phan Khôi bị cấm ở miền Bắc từ 1958 đến 1975 và sau 75, trên toàn thể đất nước. Khi chúng tôi đến gặp ông tại nhà, Tạ Trong Hiệp chỉ vào tập ronéo cao vài thước, và nói:

“Tôi đã xin được của Thanh Lãng, lúc đó còn là Giáo sư Đại học Văn khoa Sài Gòn đã sưu tầm những bài viết trên báo xưa, bỏ tiền thuê người đánh máy, cho sinh viên học, trong đó có khoảng 5, 6 trăm trang của Phan Khôi viết trên “Phụ nữ Tân văn”. Thế nào chúng ta cũng phải đọc và giới thiệu Phan Khôi với giới trẻ ngày nay trong nước, vì họ chẳng biết gì về ông này cả ! (…) Nếu tôi có can đảm viết, có thì giờ, và tôi không đau ốm quá, thì tôi sẽ viết về Phan Khôi, và sẽ đặt nhan đề là “Phan Khôi: Người Xa Lạ”. Năm 1995, sưu tập của Thanh Lãng được in lại dưới tiêu đề “13 năm tranh luận văn học” (Văn Học, Tp Hồ Chí Minh). 1996, cuốn “Chương Dân thi thoại”. 2001, cuốn “Nhớ cha tôi” của Phan Thị Mỹ Khanh; và 2003 Lại Nguyên Ân bắt đầu xuất bản loạt “Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1928”, tất cả do cố gắng của nxb Đà Nẵng.”

[2] Thu thanh 10/7/1996, phát trên RFI tháng 12/96 sau khi ông qua đời về bệnh ung thư ngày 25/10/1996 tại Paris.

[3] Bài của Nguyễn Công Hoan không đưa vào “Bọn ‘Nhân Văn Giai Phẩm’ trước tòa án dư luận”, Tạ Trọng Hiệp nhầm với bài “Một nhà nho ‘tiết tháo’ : Phan Khôi” của Phùng Bảo Thạch, được đưa vào, trang 75-81.

[4] Lúc đầu Nguyễn Bá Trác làm Chủ bút phần Hán Văn. Lê Dư cộng tác sau.
[5] Tạ Trọng Hiệp trả lời phỏng vấn RFI, phát thanh những ngày 15, 22 và 29/12/1996.

[6] Nhà thơ Lê Hoài Nguyên tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá Công an, trực thuộc A 25, đặc trách NVGP.

[7] Lê Hoài Nguyên, “Vụ Nhân Văn Giai Phẩm từ góc nhìn một trào lưu tư tưởng dân chủ, một cuộc cách mạng văn học không thành”, mạng nguyentrongtao tháng 8/2010.

[8] Bài của Trần Duy không được đọc trong buổi lễ.
[9] Trần Duy, “Tưởng niệm về Phan Khôi” đăng trên Talawas ngày 18/6/2008.
[10] “Lược truyện các Tác gia Việt nam”, quyển II, của Trần Văn Giáp, Nguyễn Tường Phượng, Nguyễn Văn Phú, Tạ Phong Châu, nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1972, mục từ Phan Khôi, số 50, trang 141.

[11] Cùng với Hoàng Tích Chu và Tạ Đình Bính, cha của Tạ Trọng Hiệp.
[12] Phan Khôi, “Rồng Nam”, “Thần Chung” số 38 (2/3/1929), sưu tập Lại Nguyên Ân.

[13] Nguyễn Đổng Chi, “Quan điểm phản động, phản khoa học của Phan Khôi phải chăng là học mót của Hồ Thích ?” Tập san nghiên cứu Văn Sử Địa, Hà Nội, số 41, tháng 6/1958, tài liệu Talawas.

[14] “Lý với thế: Hồ Thích với Quốc dân Đảng”, “Đông Pháp Thời báo”, Sài Gòn, số 807 (18/12/1928), “Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1928”, sưu tập Lại Nguyên Ân, trang 123–124.

[15] Phan Thị Nga (vợ Hoài Thanh), “Lối tự học của những bậc đàn anh nước ta”, “Hà Nội báo”, số 10 (11/3/1936). In lại trong “13 năm tranh luận văn học”, tập I, Văn Học tp Hồ Chí Minh, 1995, trang 255–159.

[16] Thơ họa “Con rùa đá” của Tế Hanh – 1957.
[17] Phan Thị Mỹ Khanh, “Nhớ cha tôi”, nxb Đà Nẵng, 2001, trang 161.
[18] Phan Khôi, “Cái thói nói tiếng Lang Sa”, “Đông Pháp Thời báo”, số 733 (19/6/1928).

[19] Báo “Độc Lập” số 357 (1/5/1958), in lại trong Bọn NVGP trước tòa án dư luận, trang 138–139.

[20] Thơ họa của Nguyễn Công Hoan – 1957.
[21] Phan Thị Nga, “Lối tự học của những bậc đàn anh nước ta”, “13 năm tranh luận văn học”, tập I, trang 255-159.

[22] Bài in trong cuốn “Chương Dân thi thoại”, nxb Đà Nẵng, 1996.
[23] Nxb Đà Nẵng, 2001.
[24] Nhiều chỗ ghi 1905, là sai, vì 1905 không có kỳ thi hương.
[25] Chúng tôi dùng bản Phan Thị Nga, năm 1936. Các con Phan Khôi sau này ghi là Ưng Diễn.

[26] Lương Thúc Kỳ, đỗ Cử nhân 1900, làm quan tại Huế, theo phong trào Duy Tân, sau có dạy trường Dục Thanh, trường đầu tiên của phong trào Duy Tân, mở năm 1905 ở Phan Thiết, được ít lâu thị bị bắt. Lương Thúc Kỳ mất năm 1947.

[27] Còn có tên là Phan Thị Yến, cùng chồng và con chết vì bom tháng 9/1952.
[28] Khoa thi hương cuối, ở Bắc: 1915 và ở Trung: 1918.
[29] Theo bản Phan Thị Nga. Các con ông ghi là Lê Hiên.
[30] Trong hai bài: “Địa vị của Thái Phiên và Trần Cao Vân trong cuộc biến ở Huế năm 1916” (“Sông Hương”, số 7-8-9 ra ngày 12/9-19/9 và 26/9/1936) và “Mấy cuộc vận động quần chúng ở nước ta” (“Sông Hương”, số 29-30-31 ra ngày 27/2–13/3 và 20/3/1937), sưu tập “Sông Hương” của Phạm Hồng Toàn; Phan Khôi nói rất rõ bối cảnh những cuộc cách mạng bạo lực và phân tích sự thất bại của những phong trào này.

[31] Là Bộ trưởng Nội vụ trong chính phủ Liên hiệp lúc bấy giờ.
[32] Là em họ Phan Khôi. Phan Bôi tức Hoàng Hữu Nam là Ủy viên Trung ương Đảng, thứ trưởng Bộ Nội vụ.

[33] Nguyễn Công Hoan, “Hành động và tư tưởng phản động của Phan Khôi cho đến thời ký toàn quốc kháng chiến”, “Văn Nghệ” số 12, tháng 5/1958.

[34] Do nhà xuất bản Văn Nghệ, Hoàng Cầm trách nhiệm, in tại Hà Nội, 1955.
[35] Bản điện tử có vài chỗ sửa lại chữ của Phan Khôi, ví dụ Tấn sĩ thành Tiến sĩ, có lẽ không nên.

[36] Theo “Chuyện bà cố tôi” của Phan Khôi, “Phụ nữ Tân văn”, số 25, 17/10/1929, in lại trong “Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1929”, Lại Nguyên Ân, trang 228–234.

[37] Phan Khôi, “Chuyện bà cố tôi”, bđd.
[38] Theo “Chuyện bà cố tôi”, bđd.
[39] Theo truyện ngắn “Ông Năm Chuột”, “Văn” số 36 (10/1/1958), in lại trong “Trăm Hoa đua nở trên đất Bắc” của Hoàng Văn Chí.

[40] “Bài Đi học đi thi” có tiểu tựa: “Ký ức lục của một vị lão Nho”, ký tên Tú Vườn, in trên “Sông Hương” từ số 23 (7/1) đến 30 (13/3/1937), sưu tập Phạm Hồng Toàn.

[41] Ngày 23/4 Ất Dậu, tức ngày 5/6/1885.
[42] Ngày 26/9 Mậu Tý tức ngày 30/10/1888.
[43] “Đi học đi thi”, bđd.
[44] “Ông Năm Chuột”, bđd.
[45] “Đi học đi thi”, bđd.
[46] “Đi học đi thi”, bđd.
[47] Trong bài tự truyện “Lịch sử tóc ngắn” đăng trên báo “Ngày Nay” năm 1939, Phan Khôi kể lại đầy đủ các chi tiết:
“…
Từ 1906 trở về trước, đàn ông Việt Nam vẫn để tóc dài rồi búi lại đằng sau ót thành một cái đùm. Ngoài Bắc thì đàn bà vấn tóc, còn từ Huế trở vào, đàn bà cũng búi tóc, thành thử nhìn sau lưng có thể lẫn lộn đàn bà với đàn ông. Giữa lúc toàn dân đang còn để tóc dài, thì vua Thành Thái đã cắt tóc ngắn, mặc đồ Tây và ông bắt cận thần phải cắt tóc. Năm 1905, vua ngự giá vào Quảng Nam, bị dân chúng chế nhạo. Năm sau, phong trào cắt tóc được Phan Châu Trinh phát động. Phan Khôi viết :
“Mùa đông năm 1906, thình lình ông Phan Châu Trinh đi với ông Nguyễn Bá Trác đến nhà tôi. Đã biết tin ông Phan mới ở Nhật về, tiên quân tôi chào mừng một cách thân mật với câu bông đùa này: “Cửu bất kiến quân, quân dĩ trọc !” Bấy giờ tôi có mặt ở đó, câu ấy khiến tôi phải chú ý xem ngay đầu ông Phan. Thấy không đến trọc, nhưng là một mớ tóc ngắn bờm xờm trong vành khăn nhiễu quấn.
Ở chơi nhà tôi ba hôm, lúc đi, ông Phan rủ tôi cùng đi sang làng Phong Thử, nơi hiệu buôn Diên Phong, là một cơ quan của các đồng chí chúng tôi lúc bấy giờ mới lập được mấy tháng. Tại đó, gặp thêm ông cử Mai Dị nữa, rồi bốn người chúng tôi cùng đi thuyền lên Gia Cốc, thăm ông Học Tổn (…) Giữa bữa cơm sáng đầu tiên, khi ai nấy đã có chén hoặc ít hoặc nhiều, ông Phan mở đầu câu chuyện, nói:
“Người đời, nhất là bọn nhà nho chúng ta, hay có tánh rụt rè, không dám làm việc. Mỗi khi có việc đáng làm, họ thường tìm cớ trách trút, có khi họ nói: việc nhỏ, không xứng đáng. Trong ý họ, đợi đến việc lớn kia. Nhưng nếu họ đã có ý không muốn làm thì đối với họ việc nào cũng sẽ là nhỏ cả, thành thử cả đời họ không có việc mà làm !…”
Ông Phan lúc đó gặp ai cũng hay diễn thuyết. Những câu chuyện luân lý khô khan như thế, mấy hôm nay ông đem nói với bọn tôi hoài, thành thử khi nghe mấy lời trên đó của ông, không ai để ý cho lắm, cứ tưởng là ông phiếm luận. Thong thả, ông nói tiếp:
“Nếu lấy bề ngoài mà đoán một người là khai thống hay hủ lậu thì trong đám chúng ta ngồi đây duy có ba anh –vừa nói ông vừa chỉ ông Trác, ông Dị và tôi– là hủ lậu hơn hết, vì ba anh còn có cái đùm tóc như đàn bà”.
Cả mâm đều cười hé môi. Ba chúng tôi bẽn lẽn. Ông Phan lại nói:
“Nào ! Thử “cúp” đi có được không ? Đừng nói là việc nhỏ; việc này mà các anh không làm được, tôi đố các anh còn làm được việc gì !
Câu sau đó, ông nói với giọng rất nghiêm, như muốn gây với chúng tôi vậy. Ông Mai Dị đỏ mặt tía tai :
“Ừ thì cúp chứ sợ chi !”
“Thì sợ chi !”
“Thì sợ chi !”
Ông Trác rồi đến tôi lần lượt phù họa theo (…) Ông Mai Dị được hớt trước rồi đến hai chúng tôi. Mỗi người đều đầy ý quả quyết và tin nhau lắm, chẳng hề sợ ai nửa chừng thoái thác (…) Ở Gia Cốc về, chúng tôi chưa về nhà vội, còn định trú lại Diên Phong mấy ngày. Ở đó, chúng tôi yêu cầu các ông Phan Thúc Duyện, Phan Thành Tài, Lê Dư cũng làm như chúng tôi; luôn với năm, sáu mươi vừa người làm công, vừa học trò, đều cúp trong một ngày. Rồi hễ có vị thân sĩ nào đến chơi là chúng tôi cao hứng lên diễn thuyết, cổ động, khuyến họ cúp thảy cả. Trong số đó có ông Tiến sĩ Trần Quý Cáp, thầy chúng tôi và các ông Tú Hữu, Tú Bân, Tú Nhự, còn nhiều không kể hết. Ít hôm sau, ông Huỳnh Thúc Kháng ở Hà Đông ra, cũng cúp tại đó, chính tay ông Lê Dư cầm kéo hớt cho ông Huỳnh dù ông Lê chưa hề biết qua nghề hớt là gì.
Hôm ở Diên Phong về nhà, tôi phải viện ông Lê Dư đi về với. Thấy hai chúng tôi, cả nhà ai nấy dửng dưng. Trước tôi mảng tưởng về nhà chắc bị quở dữ lắm, nhưng không, thầy tôi tảng lờ đi, bà tôi càng lạnh lùng hơn nữa, chỉ ba chặp lại nhìn cái đầu tôi mà chặc lưỡi. Dò xem ý bà tôi, hẳn cho rằng tôi đã ra như thế là quá lắm, không còn chỗ nói ! (…) Qua đầu năm 1907 giở đi, thôi thì cả tỉnh nơi nào cũng có những bạn đồng chí về việc ấy (…) Lúc này không còn phải cổ động nữa, mà hàng ngày có những người ở đâu không biết, mang cái búi tóc to tướng đến xin hớt cho mình. Bởi một ý đùa, tôi đặt một bài ca dao cho Đoan để mỗi khi hớt cho ai thì ca theo nhịp đó :
Tay trái cầm lược,
Tay mặt cầm kéo,
Cúp hè! Cúp hè !
Thẳng thẳng cho khéo !
Bỏ cái hèn mầy,
Bỏ cái dại mầy,
Cho khôn, cho mạnh,
Ở với ông Tây ! v.v…

Giữa lúc đó có lời phao đồn ở Diên Phong, chúng tôi hay cưỡng bách người ta hớt tóc, đến nỗi khuyên không nghe mà rồi đè xuống cắt đi, thì thật là thất thực, không hề có thế bao giờ. Sự cưỡng bách ấy nếu là có trong vụ “xin xâu” năm 1908, do những kẻ cầm đầu đoàn dân thi hành. Tôi vắng mặt trong vụ ấy, nhưng sau nghe nói lại rằng mỗi một đoàn dân kéo đi, giữa đường nếu có ai xin gia nhập thì đều buộc phải hớt tóc; hoặc khi đoàn dân nghỉ ở một cái chợ thì người cầm đầu đứng ra diễn thuyết, bắt đàn ông trong chợ đều phải hớt tóc rồi mới cho nhập bọn đi theo mình. Cũng nhờ vậy mà sau vụ này, thấy số người tóc ngắn tăng giá lên rất nhiều. Hớt tóc cũng là một cớ buộc tội trong vụ án năm 1908 ở mấy tỉnh Trung Kỳ. Làm người không có việc gì cả, chỉ đã hớt tóc mà cũng bị ghép vào mặt luật bất ưng vi trọng, phải 18 tháng tù. Lại, cuộc phiến loạn năm 1908 ấy, trong các ký tài của người Pháp cũng gọi là “cuộc phiến loạn của đảng hớt tóc” (“Révolte des cheveux tondus”). Xem đó đủ thấy hớt tóc ở thời đại ấy bị coi là nghiêm trọng dường nào”.
…”
(Trích “Lịch sử tóc ngắn”, Tự truyện của Phan Khôi, Ngày Nay số 149, 15/2/1939), in lại trong “13 năm tranh luận văn học”, tập III, trang 535-543).

[48] “Sông Hương” số 7-8-9 ra ngày 12/9-19/9 và 26/9/1936.
[49] “Sông Hương” số 29-30-31 ra ngày 27/2- 13/3 và 20/3/1937.
[50] Là người sẽ đuợc trao nhiệm vụ cha nuôi Hoàng tử Vĩnh Thụy, tại Pháp.
[51] Theo mạch văn của bài này thì Charles muốn nói: đầu tháng 11/1907, nhưng theo tài liệu của Lê Thị Kinh thì Phan ra Bắc từ tháng 7/1907.

[52] Trích báo cáo của Công sứ Quảng Nam Charles từ 9/1906 đến 3/1908 về Phan Châu Trinh và phong trào Duy Tân, Lê Thị Kinh, “Phan Châu Trinh trong những tài liệu mới”, Tập I, quyển I, trang 47–52.

[53] Quan coi việc học của một Phủ.
[54] Ở Bình Định, chú thích Lê Thị Kinh.
[55] Charles, bài đã dẫn.
[56] Là báo của Ernest Babut và Đào Nguyên Phổ, Phan Châu Trinh có cộng tác.
[57] Trích hồ sơ thẩm vấn Trần Quý Cáp, số 79, Lê Thị Kinh, “Phan Châu Trinh trong những tài liệu mới” Tập I, quyển 1, trang 118)

[58] Lê Thị Kinh, “Phan Châu Trinh trong những tài liệu mới” Tập I, quyển 1, trang 120.

[59] Quan coi việc dạy học một huyện.
[60] Theo Nguyễn Hiến Lê, “Đông Kinh Nghĩa thục”, chương XI.
[61] Nhiều nơi ghi tháng 2, vì không đổi ngày ta sang ngày Tây. Nguyễn Bá Trác ghi rõ tháng 3/1908.

[62] Theo lời khai của Đoàn Thoại, Lê Thị Kinh, “Phan Châu Trinh trong những tài liệu mới” Tập I, quyển 1, trang 53.

[63] Hầu hết các tài liệu đều ghi ngày xử Trần Quý Cáp là 17/5/1908. Chỉ có Huỳnh Thúc Kháng ghi rõ: ngày 17 tháng 5 năm Mậu Thân. Vậy người ta đã chép ngày ta của Huỳnh Thúc Kháng, và thêm năm Tây vào.

[64] Lê Thị Kinh cũng đưa ra giả thiết này, “Phan Châu Trinh trong những tài liệu mới” Tập I, quyển 1, trang 39.

[65] Trích châu bản số 9, triều Duy Tân, Nguyễn Thế Anh, “Cuộc kháng thuế miền Trung năm 1908 qua các châu bản triều Duy Tân”, Văn Vĩ dịch, Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh Niên xb tại Sài gòn 1973, in lại trong “Phong trào Duy Tân”, Nguyễn Q. Thắng, Văn Hóa Thông Tin, 2006, trang 671-674.

[66] “Phan Châu Trinh, Trung kỳ dân biến thỉ mạt ký”, bản dịch Nguyễn Q. Thắng và Lê Ấm, in trong “Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm”, “Văn Học”, 1992, trang 321-322.

[67] Ý nói vụ Trung Kỳ dân biến.
[68] Trích “Hạn mạn du ký” (“Bài ký của người đi chơi phiếm”) của Nguyễn Bá Trác, nguyên tác chữ Hán, bản dịch in trên Nam Phong, số 19 tháng 11/1919.

[69] “Bạch Thái Công Ty thơ ký viên”, Dân báo, Sàigòn, số 201, số Tết 1940, tài liệu Lại Nguyên Ân.

[70] Nguyễn Công Hoan, “Hành động và tư tưởng phản động của Phan Khôi cho đến thời kỳ toàn quốc kháng chiến”, “Văn Nghệ” số đặc biệt thứ hai chống NVGP, số 12, tháng 5/1958, trang 14.

[71] “Đi học đi thi”, bđd.
[72] Tức là thầy ngồi trên ván cao kê giữa nhà.
[73] Ghế để nghiên son bút son.
[74] Đoan ngọ.
[75] Nguyên đán.
[76] “Đi học đi thi”, bđd.
[77] Trích theo “Tiểu sử Trần Quý Cáp” của Huỳnh Thúc Kháng, tiểu sử này ghi viết ngày 20/2 Mậu Dần (21/3/1938), bản dịch của báo Minh Tân số 63, in năm 1959, in lại trong “Trần Quý Cáp” của Lam Giang, Đông A, Sài Gòn, 1971, trang 10–16.

[78] Xử tội chẳng cần án.
[79] Phan Bội Châu, “Văn khóc cụ nghè Trần Quý Cáp”, in trong “Thi văn quốc cấm”, Thái Bạch soạn, Sài Gòn, 1968, trang 390.

[80] “An Nam” tạp chí, Hà Nội từ số 26 (1/1932)
[81] Phan Thị Nga, “Lối tự học của những bậc đàn anh nước ta”, Hà Nội báo, số 10, 11/3/1936, trích đoạn này dùng bản Thanh Lãng soạn, tài liệu đánh máy, của Tạ Trọng Hiệp. Bản in trong 13 tranh luận văn học bị cắt mấy câu.

[82] “Bạch Thái Công ty thơ ký viên” –một tự truyện của Phan Khôi, Dân báo, Sài Gòn, số 201, số Tết, 1940, tài liệu của Lại Nguyên Ân.

[83] “Bạch Thái Công ty thơ ký viên”, bđd.
[84] “Bàn về việc dịch kinh Phật”, Trung Lập 5/9/1931, Phan Khôi 1931, Lại Nguyên Ân sưu tầm, trang 352.

[85] Phan Thị Nga, bđd.
[86] PNTV, số 74 (16/10/1930), Phan Khôi 1930, LNA, trang 568.
[87] Phước Nguyên, “Quá trình phiên dịch ‘Kinh Thánh’ sang tiếng Việt”, Báo Linh Lực, 1/1996, baolinhluc.org

[88] Phước Nguyên, bđd.
[89] “Thánh Kinh Cựu ước”“Tân ước” do Thánh Kinh Hội quốc tế xuất bản, Văn Phẩm Nguồn Sống phát hành, 1994, trích “Kinh Tân ước”, sách Phúc âm Mã-Thi, Chúa giáng sinh, trang 1.

[90] “Kinh Thánh Tân ước”, nxb Thành Phố Hồ Chí Minh, 2000, trang 68.
[91] “Hữu Thanh” là báo của Ngô Đức Kế, một trong những người lãnh đạo phong trong trào Đông Du và Duy Tân, vừa từ Côn Đảo trở về.

[92] Phan Thị Nga, bđd.
[93] “Phan Khôi niên biểu”, Chương dân thi thoại, Đà Nẵng, 1996, trang 157.
[94] “Nhớ cha tôi”, Đà Nẵng, 2001, trang 39.
[95] Xin nhắc lại: Dejean de La Bâtie, người Pháp lai, là đồng chí của Nguyễn An Ninh, từng làm Chủ nhiệm báo “La Cloche fêlée” (“Chuông rè”). Phan Văn Hùm trong “Ngồi tù khám lớn” (Bảo Tồn, Sài Gòn, 1929. Phan Tùng Mai (con Phan Văn Hùm) tái bản, Sài Gòn, 1957) cho biết: “Lần vào tù năm 1928, Dejean được giam cùng với người Pháp, còn Nguyễn An Ninh, thì các cai tù Pháp rất nể trọng, gọi là Monsieur”.

[96] Tài liệu của Lê Thị Kinh, in lại trong “Nhớ cha tôi”, trang 279-280.
[97] “Trung Lập” số 6151 (20/5/1930).
[98] “Trung Lập”, số 6235 (1/9/1930). Phan Khôi thường viết: cọng sản. Cả hai chữ cộng và cọng đều dùng được.

[99] “Đông Pháp”, số 717 (8/5/1928).
[100] Phan Khôi giải thích: Tự là chữ, mà từ là lời. Trong tự điển mỗi mục từ chỉ có một chữ. Trong từ điển mỗi mục từ có thể có nhiều chữ ghép lại. Nhưng không phải chữ ghép nào cũng được coi là từ để đem vào từ điển được. Ví dụ, thiên mã thì gọi là từ được, vì đó là một cách nói đặc biệt (expression), gần như một điển cố, chỉ việc vua Võ Đế nhà Hán có con ngựa hay lắm, vua đặt tên là thiên mã, tức là ngựa nhà trời. Còn tẫn mã (ngựa cái) hay dịch mã (ngựa trạm) thì không thể đem vào từ điển được, vì nếu cứ lấy những chữ ghép tràn như vậy, thì phải bao nhiêu từ điển cho đủ !

[101] Phan Khôi, “Cấm sách, sách cấm”, “Đông Pháp Thời báo”, số 763 (1/9/1928).

[102] “Khoái cho ông Mussolini”, Trung Lập, số 6207 (28/7/1930).
[103] “Hơn hai trăm năm còn thúi”, Trung Lập, số 6152 (21/5/1930).
[104] “Thúi thây”, Trung Lập, số 6216 (7/8/1930).
[105] Đoàn Giỏi, “Tư tưởng phản động trong sáng tác của Phan Khôi”, “Văn Nghệ” số 15, tháng 8/1958, in lại trong “Trăm hoa đua nở trên đất Bắc” của Hoàng Văn Chí.

[106] Đoàn Giỏi, bđd.
[107] Đoàn Giỏi, bđd.
[108] Đào Vũ, “Tính cách vô lại và bộ mặt chính trị nhơ nhớp của Phan Khôi ngày nay”, “Văn nghệ”, số 12, tháng 5/1958 – Số đặc biệt thứ hai chống NVGP.

[109] Đào Vũ, bđd.
[110] Trần Duy, “Tưởng niệm về Phan Khôi”, Talawas 18/6/2008.
[111] Lâm Bích Thuỷ, Thủy chung tình bạn sau linh cữu, tài liệu Talawas.
[112] Phan Cừ, Phan An, bđd.
[113] Phan Thị Thái, “Nhớ cha tôi, học giả Phan Khôi”. 19/12/1996, Kiến Thức Ngày Nay.

[114] Lâm Bích Thuỷ, bđd.

24 thoughts on “Chương 21: Phan Khôi (1887–1959)

  1. Pingback: Mục lục và Lời tựa cho “Nhân Văn Giai Phẩm” và vấn đề Nguyễn Ái Quốc |

  2. Pingback: Chương 29: Nói chuyện với họa sĩ Trần Duy (Hết) |

  3. Pingback: Chương 1: Tìm hiểu phong trào “Nhân Văn Giai Phẩm” |

  4. Pingback: Chương 02: Lịch trình “Nhân Văn Giai Phẩm” |

  5. Pingback: Chương 03: “Giai phẩm Mùa xuân” |

  6. Pingback: Chương 4: Nguyên nhân Đưa đến cuộc Cách Mạng Mùa Thu của Tư Tưởng |

  7. Pingback: Chương 5: Nội bộ báo “Nhân Văn” |

  8. Pingback: Chương 06: Trí thức và dân chủ tại Việt Nam trong thế kỷ XX |

  9. Pingback: Chương 07: Biện pháp Thanh trừng |

  10. Pingback: Chương 08: Thụy An (1916–1987) |

  11. Pingback: Chương 09: Nguyễn Hữu Đang (1913–2007) |

  12. Pingback: Chương 10: Lê Đạt (1929–2008) |

  13. Pingback: Chương 11: Trần Dần (1926–1997) |

  14. Pingback: Chương 15: Cuộc cách mạng Hiện đại đầu Thế kỷ XX |

  15. Pingback: Chương 16: Nguyễn Tất Thành |

  16. Pingback: Chương 17: Hội Đồng bào Thân ái – Phong trào Ái quốc Đầu tiên tại Pháp |

  17. Pingback: Chương 18: Nguyễn Ái Quốc lai lịch và Văn bản |

  18. Pingback: Chương 19: Khảo sát Văn bản Nguyễn Ái Quốc |

  19. Pingback: Chương 20: Vì sao Phan Châu Trinh phó thác “Đại sự” cho Phan Khôi ? |

  20. Pingback: Chương 22: Vụ án “Nam Phong” |

  21. Pingback: Chương 24: “Une Voix Dans la Nuit” – Cải cách Ruộng đất và Cải tạo Tư sản |

  22. Pingback: Chương 25: “Une Voix Dans la Nuit” – Vấn đề Trí thức và Độc tài Đảng trị |

  23. Pingback: Chương 26: Nói chuyện với Nhà cách mạng Nguyễn Hữu Đang |

  24. Pingback: Chương 28: Nói chuyện với nhà thơ Hoàng Cầm |

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s